CÔNG DỤNG TÀU Tàu vận tải tàu hàng Cargo Ship Tàu chuyên ngành tàu công trình Công trình nổi Thượng tầng ở trên buồng máy để dành không gian chứa hàng Tàu chở trên 12 khách SOLAS
Trang 1Số tín chỉ: 3 Học kỳ II Năm học 2014-2015
KHOA KỸ THUẬT GIAO THÔNG
BỘ MÔN KỸ THUẬT TÀU THỦY
Trang 2HIỆU QUẢ KINH TẾ
ĐẢM BẢO
AN TOÀN
TÍNH NỔI
CHỐNG CHÌM TÍNH ỔN ĐỊNH
ĐIỀU KHIỂN LẮC TÀU TỐC ĐỘ
Công trình kỹ thuật phức tạp,
nổi và chạy trên mặt nước
Chủ đề 1 Kiến thức chung về tàu thủy
1.1 Tổng quan về tàu thủy
Trang 31.2 ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ HÌNH DẠNG VÀ KẾT CẤU
1.2.1.Đặc điểm hình dạng
- Hình dạng quyết định đến tính năng
1.2.2.Đặc điểm kết cấu
Dạng vỏ mỏng gồm hai phần :
- Phần tơn bao bên ngồi
- Phần gia cường bên trong
- Dạng thân trụ rỗng phần giữa, thuơn về hai đầu
Trang 4VÙNG HOẠT ĐỘNG
Vùng không hạn chế
(Sea going Ship) Vùng hạn chế Vùng đặc biệt
Vùng hoạt động
cách bờ trên 200 hl
Vùng hạn chế I (Vùng xa bờ)
Vùng hạn chế II (Vùng cận hải) Vùng hạn chế III
Do điều kiện làm việc
phức tạp nên yêu cầu
cầu KC tương đối cao
Vùng ven biển, sông hồ, vịnh Cách xa bờ hoặc
nơi trú ẩn cuối cùng dưới 200 hl
Cách xa bờ hoặc nơi trú ẩn cuối cùng dưới 50 hl
Cách xa bờ hoặc nơi trú ẩn cuối cùng dưới 20 hl
Gồm cả tàu pha sông biển hay tàu pha biển sông 1.3 PHÂN LOẠI TÀU THỦY
1.3.1 Phân loại tàu thủy theo vùng hoạt động
Trang 5VẬT LIỆU VỎ TÀU
Tàu vỏ kim loại Tàu vỏ phi kim loại
Thép hợp kim và
nhôm
Tàu vỏ gỗ Tàu vỏ nhựa
(Tàu vỏ Composite) Tàu ximăng cốt thép Xuất hiện lâu đời nhất,
có kích thước nhỏ (L < 60 m, D < 500 tấn)
Xuất hiện trên 50 năm, chủ yếu là loại vỏ nhựa cốt sợi thuỷ tinh (FRP)
Vỏ ximăng lưới thép, bêtông cốt thép hoặc dùng bọc vỏ tàu thép
Phổ biến nhất
là thép đóng tàu
Dùng cho đa số tàu
nhất là các loại tàu
cỡ trung và cỡ lớn
Chủ yếu để đánh cá ven biển, vận chuyển tuyến đường ngắn
Tàu cở nhỏ như tàu cá, tàu quân sự, tàu du lịch, xuồng cứu sinh
Tàu kéo chạy sông, tàu khách , sà lan nội địa cầu tàu nổi, ụï nổi … 1.3.2 Phân loại tàu thủy theo vật liệu vỏ tàu
Trang 6CÔNG DỤNG TÀU
Tàu vận tải (tàu hàng)
(Cargo Ship)
Tàu chuyên ngành (tàu công trình) Công trình nổi
Thượng tầng ở trên
buồng máy để dành
không gian chứa hàng
Tàu chở trên 12 khách (SOLAS)
Chiếm 5% tải trọng đội tàu
Phục vụ cứu hộ và lĩnh vực riêng Yêu cầu cao về
cứu sinh, cứu hoả, chống chìm …
Đánh cá hoặc là
cơ sở chế biến và bảo quản cá
Kết cấu thật vững và máy mạnh để
hđ ở mọi điều kiện
Hoạt động như các tàu cỡ lớn Rất ít di chuyển hoặc di chuyển tốc độ thấp
Xuất hiện sớm nhất,
1.3.3 Phân loại tàu thủy theo cơng dụng tàu
Trang 7TÀU VẬN TẢI
Trang 8 Xuất hiện sớm nhất và được gọi bằng tên chung nhất là tàu chở hàng 1.Tàu vận tải (Cargo Ship)
Đa dạng và phát triển rất nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải biển
Thượng tầng thường được bố trí trên buồng máy để dành không gian bố trí các khoang hàng và nơi thao tác bốc dỡ hàng hóa trên tàu
Trang 9Bố trí nhiều khoang hàng và cần trục điện hay thủy lực để chở nhiều loại hàng
2.Tàu chở hàng tổng hợp hay tàu chở hàng khô (Cargo Ship)
Chiếm hơn 50% số lượng tàu vận tải
Sức chở thấp (4.000 đến 10.000 tdw), lớn nhất 20.000 tdw, tốc độ 15 – 18 hl/h
Các mẫu chở hàng khô từ đơn giản đến hiện đại có đặc trưng là mũi thượng tầng thẳng đứng, đuôi vát Transom (T), bánh lái treo, mũi quả lê
Trang 10Xuất hiện cuối những năm 60 từ nhóm tàu chở hàng khô để chở các Container
là thùng chở hàng có kích thước cố định, chứa nhiều loại hàng không cần bao gói, đồng thời có thể vận chuyển bằng những phương tiện vận tải khác nhau
(a) Xếp và dỡ Container vào khoang hàng (b) Tàu xếp hai lớp Container trên boong (c) Cầu xếp và sơ đồ xếp hàng từ tàu hỏa hay ôtô lên tàu
Ưu điểm là rút ngắn thời gian xếp dỡ hàng và tận dụng dung tích khoang hàng
nhờ thùng Container tiêu chuẩn 20x8x8 ft và 40x8x8 ft
3.Tàu Container hay tàu chở hàng thùng (Container Ship)
Sức chở 10.000 đến trên 25.000 tấn, tốc độ 20 - 25 hl/giờ
Trang 11Chở sà lan không tự hành có sức chở từ 370 đến 850 tdw, ở đó sàlan được đưa lên tàu, chở đến vùng làm việc và thả xuống nước để tàu kéo đưa vào bờ
4.Tàu chở sà lan (Barge Carrier)
Trang 12Căn cứ cách bố trí phương tiện bốc dỡ để di chuyển sàlan trên tàu, chia thành ba hệ thống chính
- Hệ thống LASH (Lichter Abroad Ship) ra đời sớm nhất và được sử dụng phổ biến hiện nay, trong đó sử dụng hệ thống cần cẩu di động sức nâng 500T cẩu thẳng sà lan chứa hàng từ nước lên, sau đó di chuyển sà lan dọc theo tàu và hạ xuống vị trí quy định (hình 1.7 a)
- Hệ thống Sea Bee hoạt động theo nguyên lý tàu mẹ tự chìm đến các mức nước khác nhau để các sà lan bơi trong lòng tàu để đến nơi chỉ định theo nguyên tắc vào trước ra sau (hình 1.7 b)
- Hệ thống tàu Dock sử dụng cần cẩu đặt cố định ở phía đuôi tàu để nâng hạ những sà lan, còn việc di chuyển dọc tàu đã có các tời dọc (hình 1.7 c)
Trang 135.Tàu Ro - Ro (Ro – Ro Ve ssel)
Tàu Ro-Ro bao gồm các loại tàu cho phép bốc dỡ hàng theo phương thức di chuyển ngang, gần giống động tác lăn hàng vào hoặc lăn ra nên có tên tiếng Anh là Roll on Roll off (hình 1.11) Sức chở của các tàu nhóm này thường chênh lệch nhau khá nhiều tùy thuộc vào kích thước tàu, trong đó loại nhỏ có trọng tải khoảng từ 1.000 - 3.000 tdw chạy với tốc độ khoảng từ 13 - 15 hl/h, loại lớn dùng cho giao thông trên biển có trọng tải 15.000 - 20.000 tdw và tốc độ từ 20 - 25 hl/h
Trang 156.Tàu chở hàng rời (Bulk Carrier)
Tàu chở hàng rời thường được chuyên nghiệp hóa để vận chuyển các loại hàng rời như quặng, than đá, khoáng sản, vật liệu xây dựng hoặc là các loại hàng rời không thể đóng gói được v v… với sức chở khá lớn, từ 100.000 - 150.000 tấn hoặc hơn và tốc độ khai thác khoảng 14 - 16
hl/giờ Tuy nhóm này được gọi tên chung là tàu chở hàng rời nhưng tùy theo đặc tính hàng
chuyên chở, có thể được phân biệt thành tàu chở hàng rời tổng hợp, tàu chở hàng rời nhẹ, tàu chở hàng nặng Một số tàu kết hợp chở hai, ba loại hàng khác nhau (Combind carrier) và gọi tên theo nhiệm vụ như tàu OO (Ore-Oil ) gồm các tàu có thể chuyên chở quặng lúc đi và chở dầu lúc quay trở về, tàu OBO (Ore-Bulk-Oil) kết hợp chở quặng - hàng rời - dầu mỏ hoặc tàu OSO (Ore- Slurry-Oil) Hình 1.15 là bố trí chung của một tàu chở hàng rời điển hình
Trang 167.Tàu chở hàng lỏng
Nhóm các tàu loại này được sử dụng chủ yếu để chuyên chở các loại chất lỏng khác nhau như dầu mỏ và các sản phẩm của dầu mỏ, dầu thực vật, rượu, khí hóa lỏng, các loại hóa chất v v… Tương ứng loại hàng lỏng chuyên chở, tàu chở hàng lỏng gồm các loại tàu sau
Tàu dầu (Tanker) : các tàu chở sản phẩm dầu chạy sông hay biển được gọi chung là tàu chở dầu Các tàu chở dầu chiếm một tỷ trọng đáng kể, khoảng 3,5% trọng tải của đội tàu biển trên thế giới và thường luôn là các con tàu dẫn đầu về sức chở và kích thước trong nhóm các tàu chở hàng lỏng Sức chở nhóm tàu này rất đa dạng, có tàu nhỏ chở 1.000 tấn nhưng cũng có các tàu dầu khổng lồ đạt sức chở 30.0000 hoặc trên 540.000 tấn đã được đưa vào dùng hàng chục năm nay (hình 1.11)
Trang 17- Tàu chở khí hóa lỏng (LNG Carrier)
Tàu chở khí hoá lỏng có thể là tàu được dùng để chở khí hóa lỏng (Liquefied Gas Carrier),
tàu chở hoá chất (Chemical carrier) hay các chất lỏng dùng trong công nghiệp chế biến thực phẩm
Khí hóa lỏng bao gồm các khí thiên nhiên LNG (Liquid Nature Gas) và các sản phẩm khí có từ khai thác dầu khí LPG (Liquid Petroleum Gas) như mêtan, propan, butan, amoniac v v… được nén và làm lạnh đến – 161,5 oC để chứa trong bình chịu áp suất khi vận chuyển (hình 1.19 và 1.20)
Trang 188 Tàu chở khách (Passenger Vessel)
Theo quy định của Công ước quốc tế về bảo vệ cuộc sống con người đi trên biển (SOLAS) những tàu có trên 12 hành khách đều được xem là tàu chở khách và cũng theo công ước này thì trang thiết bị phục vụ công tác cứu sinh, cứu hỏa, chống chìm v v… đều cao hơn tàu chở hàng Tàu khách có thể là tàu chở người hay chở người cùng hàng gọi là tàu hàng - khách (hình 1.21)
Trang 19Tùy theo công dụng, có thể phân biệt tàu chở khách thành các nhóm sau
1.Tàu phà (Ferry Car) : tàu phà được sử dụng để chuyên chở người và hàng hóa qua lại trên các tuyến đường ngắn
Trang 202.Tàu du lịch : gồm các tàu chở khách trên các tuyến ngắn với số lượng khách không đông lắm khoảng 200 đến 400 khách Trong nhóm tàu này có thể kể cả tàu cánh ngầm, tàu đệm khí v v…
Trang 213.Tàu hoạt động trên tuyến cố định (Liner) : thường có kích thước lớn, trang bị tiện nghi đầy đủ, sức chở khá lớn từ 50.000 - 70.000 tấn, lượng khách trên tàu có thể đạt 1.500 đến 2.000 người Hình 1.18 là tàu khách Bremer Vulkan được chế tạo với đầy đủ trang thiết bị như khách sạn nổi
Trang 229 Tàu đánh bắt và chế biến cá
Các tàu đánh cá chiếm đến 5% tải trọng của đội tàu trên toàn thế giới và được chia ra hai nhóm 1.Tàu cá (Fishing boat) : gồm các tàu làm nghề đánh cá như tàu lưới kéo, lưới vây, lưới rê … Hình 1.25 là tàu câu cá ngừ đại dương do Trung tâm tàu cá Trường Đại học Nha Trang thiết kết và chế tạo
2.Tàu chế biến : là các tàu làm nhiệm vụ của cơ sở sản xuất chế biến và bảo quản cá trên biển hoặc kiêm luôn chức năng đánh bắt
Trang 2310 Tàu chuyên ngành
Nhóm tàu chuyên ngành còn được gọi là tàu công trình hoạt động trên biển hoặc trên cảng nhằm mục đích phục vụ công tác cứu hộ hoặc phục vụ cho một số lĩnh vực kỹ thuật riêng biệt Đặc điểm chung của các tàu thuộc nhóm này là cần phải có kết cấu thân tàu thật cứng vững, đồng thời có trang bị động lực mạnh để tàu có thể hoạt động được trong mọi điều kiện thời tiết Hình 1.29 là một trong những dạng tàu công trình hoạt động trên biển
Trang 24Nhóm các tàu chuyên ngành rất phong phú và đa dạng và gồm nhiều loại tàu khác nhau như : tàu kéo (tug), tàu cứu hộ (salvage vessel), tàu thả phao đảm bảo an toàn hàng hải (buoy
vessel) tàu đặt cáp ngầm (cable layer), tàu hút hay tàu cuốc bùn (dredger) dùng để nạo vét luồng lạch, tàu hoa tiêu (pilot craft), tàu hải quan (custom boat), tàu kiểm ngư (fisheries patrol boat) v v…, tàu chuyên dùng khai thác và phục vụ khai thác dầu khí ở thềm lục địa (Offshore Vessel) như : các tàu cung ứng dịch vụ (supply ship), tàu đặt ống dưới biển (pipe layer), tàu khoan (drill ship), tàu nghiên cứu khí tượng thủy văn và địa chất học trang bị như phòng thí nghiệm nổi trên biển nghiên cứu biển và thời tiết biển, xử lý điều kiện thời tiết, nghiên cứu độ sâu, dòng xoáy … Hình 1.28 là hai tàu chuyên dụng, trong đó hình a là tàu kéo dùng để kéo hay lai dắt các loại tàu bè và hình b là tàu phá băng (Ice Breaker), sử dụng lực ở mũi tàu để phá băng
Trang 2511.Công trình nổi
Trong thực tế, các công trình nổi hoạt động như một tàu cỡ lớn nhưng điểm khác biệt cơ bản là các công trình nổi rất ít khi di chuyển và nếu có di chuyển thì cũng chỉ chạy với vận tốc rất nhỏ Có thể kể tên một số dạng công trình nổi có kết cấu gần tương tự với kết cấu tàu
1.Giàn khoan bán chìm (semi
submersible) : được chế tạo
nhằm phục vụ việc thăm dò và
khoan khai thác dầu khí, có thể
làm việc tại những vùng biển có
chiều sâu mặt nước lên đến
1.000 m Kết cấu đặc trưng của
các công trình nổi dạng này
thường gồm hai ponton nằm
chìm trong nước đỡ toàn bộ hệ
thống giàn khoan nằm phía trên
bằng các cột chống đặt lên trên
hai ponton này Phần nổi trên
mặt nước của giàn khoan được
bố trí như một tàu công trình
hiện đại, cỡ lớn với phòng sinh
hoạt, thiết bị khai thác, xử lý,
thiết bị nâng hạ, sân bay lên
thẳng v v…
Trang 262.Giàn khoan tự nâng (Jack up Self hoặc Elevating Platform) : kết cấu thép với 3, 4 chân có thể trượt trong các lỗ xuyên qua thân giàn, còn thân giàn được bố trí nằm phía trên các chân đế Khi làm việc, giàn tựa lên các chân, còn các chân giàn lại được tựa trên nền đáy biển nâng thân giàn cao dần lên, tách khỏi mặt nước và sau đó đưa thân giàn lên hẳn phía trên mặt nước Khi không làm việc, các chân giàn được rút lên trên cao và giàn nổi như một tàu thông thường thượng tầng chứa thiết bị, máy móc, phòng sinh hoạt, phân xưởng sản xuất, sàn hạ máy bay … Hình 1.30 là hình ảnh bố trí của một giàn khoan tự nâng đang hoạt động
Trang 273.Tàu khoan (drillship)
Đội tàu khoan phục vụ công việc khoan thăm dò trên biển hiện nay lên đến trên trăm chiếc Những tàu khoan có hình dáng rất giống các tàu vận tải, ngoại trừ điểm khác biệt là trên tàu có tháp khoan bố trí hệ thống thiết bị khoan thường đặt giữa tàu và vươn lên rất cao khi làm việc Hình 1.31 giới thiệu bố trí chung tàu khoan
Trang 284.Cần cẩu nổi (crane barge)
Các cần cẩu nổi dùng trong công nghiệp khai thác dầu khí có kích thước và sức nâng rất lớn, từ vài trăm đến hàng ngàn tấn Hình 1.32 là cần cẩu mang tên SAIPEM có trang bị hai cẩu, mỗi cần cẩu sức nâng 7.000 tấn, móc cẩu phụ chịu được tải trọng 2.400 tấn, bán kính tâm quay khi cẩu hàng nặng lên đến 74 m, bán kính lớn nhất cẩu có thể vươn lên đến 150 m
Trang 29Ngoài các công trình nổi nói
trên, tại những khu vực khai
thác dầu khí còn bố trí các kho
chứa và cấp dầu không bến
FPSO (Floating Production
Storage and Offloading Unit)
(hình 1.33)
Từ nhóm FPSO còn có một loại tàu chỉ làm nhiệm vụ chứa dầu mà không chế biến dầu (FSO) Hình 1.30 là trạm chứa dầu không bến
Trang 30NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC
Theo nguyên lý của
CAB (Capture Air Bubble Vehicle)
Hoạt động nhờ lực nâng của cánh
Tàu cánh ngầm (Hydrofoi Craft)
Lực nổi cân bằng
trọng lượng
ACV (Air Cushion Vehicle)
Tàu lướt (Planing Craft)
Tàu hai thân
(Catamaran)
Tàu ba thân (Tritamaran)
1.3.4 Phân loại tàu thủy theo nguyên lý làm việc
Trang 331.4.1.Khái niệm
Đặc điểm hình học, chủ yếu là đặc điểm hình dạng của phần dưới nước và kích thước hình học ảnh hưởng lớn đến tính năng tàu, do đó trước tiên cần ra đặt vấn đề mô tả hình dạng bề mặt vỏ tàu
Do bề mặt vỏ tàu là mặt cong không gian phức tạp nên thường tìm cách rời rạc hóa bề mặt vỏ và
mô tả lại gần đúng dưới dạng công thức toán hoặc là tập hợp tọa độ các điểm của đường cong
Bản vẽ đường hình là bản vẽ biểu diễn hình dáng hình học bên ngoài của bề mặt vỏ tàu
Do hình dáng phần vỏ tàu dưới nước có ảnh hưởng lớn đến tính năng hàng hải của tàu nên bản vẽ đường hình chính là công cụ mô tả, thông tin và tính toán các tính năng hàng hải của tàu
Tương tự như biểu diễn vật thể hình học bằng phương pháp chiếu, hình dáng bề mặt vỏ tàu cũng được mô tả trên bản vẽ bằng cách chiếu thẳng góc lên các mặt phẳng chiếu cơ bản
Tuy nhiên, cách làm phổ biến nhất là chiếu bề mặt vỏ tàu lên các mặt phẳng vuông góc nhau
và mô tả dưới dạng các đường cong trên bản vẽ 2D, gọi là bản vẽ đường hình lý thuyết tàu
1.4 BẢN VẼ ĐƯỜNG HÌNH LÝ THUYẾT TÀU
Trang 341.4.2.Các mặt phẳng chiếu cơ bản
- Mặt cắt dọc giữa tàu : mặt phẳng thẳng đứng đặt tại vị trí đường tâm dọc giữa tàu,
chia tàu thành hai phần đối xứng là mạn phải và mạn trái
- Mặt cắt ngang giữa tàu : mặt phẳng thẳng đứng, vuông góc với mặt phẳng dọc giữa tàu,
đi qua điểm giữa chiều dài thiết kế, chia tàu thành phần mũi và đuôi
- Mặt phẳng mặt đường nước : mặt phẳng nằm ngang nằm trùng mặt đường nước thiết kế,
chia tàu thành hai phần là phần nổi và phần chìm
Hình 1 : Các mặt phẳng chiếu cơ bản
Mặt cắt dọc giữa tàu Mặt cắt ngang giữa tàu
Mặt phẳng MĐN
Trang 351.4.3.Các hệ thống hình chiếu
Do bề mặt vỏ tàu là mặt cong phức tạp nên để mô tả hết hình dáng vỏ tàu phải dùng hệ thống các mặt cắt phụ song song các mặt phẳng chiếu cơ bản, tạo thành ba hệ thống hình chiếu trên bản vẽ đường hình tàu
1.Hệ thống mặt cắt dọc
Gồm các giao tuyến của bề mặt vỏ tàu với các mặt cắt phụ song song mặt cắt dọc giữa tàu, chủ yếu
để mô tả độ cong dọc bề mặt vỏ tàu, hình dáng mũi, đuôi v v…
Trang 362.Hệ thống mặt cắt ngang giữa tàu
Gồm các giao tuyến của bề mặt vỏ tàu với các mặt cắt phụ song song với mặt cắt ngang giữa tàu, chủ yếu để mô tả hình dáng các sườn ngang, độ cong ngang boong v v…
Các mặt cắt ngang (còn gọi là sườn ngang) thường được bố trí cách đều với số lượng 11 hoặc 21, phụ thuộc chủ yếu chiều dài tàu và được đánh số theo thứ tự là 0, 1, 2 …, tính từ mũi đến đuôi
Do tính chất đối xứng nên chỉ biểu diễn nửa mặt cắt ngang, bên trái bố trí các mặt cắt ngang mũi và bên phải bố trí các mặt cắt ngang đuôi
Do vỏ tàu tại mút mũi và đuôi thay đổi nhiều nên để biểu diễn chính xác sườn khu vực này dùng thêm các mặt cắt giữa các mặt cắt chính và ký hiệu thêm 1/2, ví dụ 1 1/2 (đuôi) hoặc 91/2, 101/2 (mũi)
Trang 38Theo nguyên tắc chiếu, mỗi điểm trên bề mặt vỏ tàu sẽ được thể hiện trên cả ba hình chiếu nên giữa
ba hệ thống hình chiếu của bản vẽ đường hình lý thuyết tàu phải phải tương ứng phù hợp lẫn nhau Các hình chiếu chỉ thể hiện hình dáng thật của tàu trên các mặt phẳng chiếu song song với chính nó, còn trên hai hình chiếu còn lại sẽ chuyển thành các đường thẳng, tạo thành lưới chữ nhật của bản vẽ
Hình 1.3 : Sự phù hợp của bản vẽ đường hình
CD0
CD I CDI I
0 1/2 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
ĐN0 ĐN2 ĐN4
CD0
CDI
CDII
Trang 40-425 530 645 933