Được sự giao phó và chỉ dẫn của các thầy giáo trong bộ môn Hàng Hải thuộc Khoa Khai Thác Hàng Hải trường Đại học Nha Trang, tôi đã về huyện Vạn Ninh để thực hiện đồ án: “Điều tra hiện tr
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đồ án này là do quá trình tích luỹ kiến thức, nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu thực tế sản xuất
Các số liệu sử dụng vào việc nghiên cứu, phân tích đưa đến kết luận của
đồ án dựa trên nguồn số liệu, các chuyến nghiên cứu thực nghiệm hoàn toàn trung thực của đề tài nghiên cứu cấp trường về lĩnh vực các khu neo đậu, cơ sở
hạ tầng phục vụ tàu cá chọn lọc mà tôi được phép sử dụng
Phương pháp xử lý số liệu và kết luận của đề tài do tôi thực hiện chưa có
ai công bố ở bất kỳ tài liệu nào
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 TỔNG QUAN NGHỀ CÁ TỈNH KHÁNH HOÀ… 1
1.1.1 Giới thiệu chung về tỉnh Khánh Hoà……… 1
1.1.2 Phân bố dân cư theo đơn vị hành chính……… 3
1.1.3 Năng lực tàu thuyền nghề cá tỉnh Khánh Hoà……… 5
1.1.4 Ngư trường hoạt động tỉnh Khánh Hoà……… 7
1.1.5 Sản lượng khai thác tỉnh Khánh Hoà……… 7
1.1.6 Chủ trương, chính sách, định hướng phát triển nghề cá của địa phương…8 1.1.7 Lực lượng lao động……… 12
1.2 CÁC VĂN BẢN QUY ĐỊNH……… 13
1.3 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NEO ĐẬU……….… 15
1.3.1 Thực trạng khu vực neo đậu, cơ sở hạ tầng phục vụ tàu cá Việt Nam… 15 1.3 2 Tổng quan tình hình khu vực neo đậu tàu thuyền nghề cá tỉnh … … 16
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……….… 20
2.1 Nội dung của đề tài nghiên cứu những vấn đề……… .20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.3.Tiêu chí để đánh giá lựa… 20
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG……… 27
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA ĐỊA PHƯƠNG 27
3.1.1.Vị trí địa lý……… 27
3.1.2 Đặc điểm đường biển 28
3.1.3 Độ sâu chất đáy ……… 29
3.1.4 Độ trong……… 29
3.1.5 Đặc điểm khí tượng thủy văn……… 29
3.1.6 Đặc điểm địa hình che chắn các khu vực neo thi xã Cam Ranh… .32
3.2 CÁC KHU VỰC NEO 35
Trang 33.3 KHU VỰC NEO CẢNG CÁ ĐÁ BẠC……… 35
3.3.1 Đặc điểm khu vực neo về phạm vi giới hạn 35
3.3.2 Khu nước của cảng……… 36
3.3.3 Địa hình 36
3.3.4 Địa chất 37
3.3.5 Diện tích theo từng độ sâu 37
3.3.6 Thực trạng tàu neo đậu tại cảng cá Đá Bạc 38
3.3.7 Những văn bản pháp quy 39
3.3.8 Bộ máy phục vụ công tác neo đậu, cơ sở hạ tầng, dich vụ nghề cá 40
3.3.9 Hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá 43
3.4 BẾN CÁ LĂNG ÔNG 50
3.4.1 Thực trạng neo đậu tại bến cá Lăng Ông 50
3.4.2 Phạm vi giới hạn 51
3.4.3 Diện tích theo từng độ sâu 51
3.4.4 Số lượng tàu thuyền neo đậu trong mùa bão 51
3.4.5 Những văn bản pháp quy về công t ác neo đậu, C ơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá .52
3.4.6 Bộ máy phục vụ công tác neo đậu, cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá 52
3.4.7 Hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá 52
3.5 KHU VỰC NEO CẦU BÀ THƯƠNG VÀ CẦU ÔNG HƯỞNG 54
3.5.1 Thực trạng tàu neo đậu 54
3.5.2 Phạm vi giới hạn 54
3.5.3 Diện tích theo từng độ sâu 54
3.5.4 Số lượng tàu thuyền neo đậu trong mùa bão 54
3.5.5 Những văn bản pháp quy 55
3.5.6 B ộ máy phục vụ công tác neo đậu tàu, cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá 55
3.5.7 Hệ thống Cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá 55
3.6 KHU VỰC NEO BẾN CÁ ĐÁ DƠI 56
3.6.1 Thực trạng tàu neo đậu 56
3.6.2 Phạm vi giới hạn 56
3.6.3 Diện tích theo từng độ sâu 56
Trang 43.6.4 Chất đáy 56
3.6.5 Số lượng tàu thuyền neo đậu trong mùa bão 56
3.6.6 Những văn bản pháp quy 56
3.6.7 Bộ máy phục vụ công tác neo đậu, cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá 56
3.6.8 Hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá 57
3.6 PHÂN TÍCH NGUY CƠ TIỀM ẨN NHIỀU TAI NẠN 57
3.6.1 Cảng Đá Bạc 57
3.6.2 Bến cá Lăng Ông 62
3.6.3 Khu vực neo Cầu Ông Hưởng và Cầu Bà Thương 64
3.6.4 Khu vực neo bến cá Đá Dơi 65
3.7 ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT 67
3.7.1 Đánh giá ưu nhược điểm tại khu vực neo lựa chọn: cảng Đá Bạc 67
3.7.2 Đề xuất 69
KẾT LUẬN 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, Chính Phủ đang đầu tư mạnh vào ngành Khai Thác Thủy Sản, nhất
là đầu tư đóng mới đội tàu đánh bắt xa bờ nhằm bảo vệ nguồn lợi ven bờ đang dần cạn kiệt Khánh Hòa là tỉnh nằm ở miền duyên hải Nam Trung Bộ, gần với ngư trường đánh bắt, với số lượng tàu thuyền liên tục tăng trong những năm gần đây (hiện trong tỉnh đã có gần 6000 tàu chưa kể tàu ở những nơi khác đến làm ăn) nên Khánh Hòa cũng nằm trong diện đầu tư mạnh của Chính Phủ Với đội tàu càng hùng hậu thì các khu neo đậu, cơ sở hạ tầng phục vụ cho nghề cá cần phải được đầu tư xây dựng để đảm bảo:
- Tạo thuận lợi trong cung cấp dịch vụ hậu cần cho đội tàu đánh bắt cá trong tỉnh: lên hàng, tiếp nhận lương thực, nhiên liệu, đá cây, sửa chữa…
- Đảm bảo vệ sinh môi trường trong hoạt động nghề cá ở trong tỉnh
- Nơi neo đậu trú bão an toàn cho phương tiện đánh bắt hải sản của ngư dân Được sự giao phó và chỉ dẫn của các thầy giáo trong bộ môn Hàng Hải thuộc Khoa Khai Thác Hàng Hải trường Đại học Nha Trang, tôi đã về huyện Vạn Ninh
để thực hiện đồ án: “Điều tra hiện trạng các khu neo đậu, cơ sở hạ tầng phục vụ tàu thuyền nghề cá huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa”
Qua thời gian ba tháng thực tập, tôi đã hoàn thành và tập trung thể hiện các vấn đề sau:
- Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
- Nội dung và phương pháp nghiên cứu
- Kết quả điều tra thực trạng của từng khu vực neo đậu về: đặc điểm khu vực neo, đặc điểm địa hình che chắn, số lượng tàu thuyền, cơ sở hạ tầng dịch vụ nghề cá, …trong từng khu vực neo thuộc huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa
- Phân tích nguy cơ tiềm ẩn tai nạn
- Đánh giá và đề xuất ý kiến
Với nội dung nghiên cứu trên nó đã mang một ý nghĩa thực tiễn rất lớn cho nghề cá Đồ án cung cấp đầy đủ và chi tiết các dữ liệu thực tế của từng khu neo đậu trong huyện Vạn Ninh Mặt khác, tôi cũng đã tiến hành đánh giá và đề xuất
Trang 6và chọn lựa khu vực neo đậu tốt nhất trong huyện Vạn Ninh mang tính chủ quan của tôi, trên cơ sở thực tế nghiên cứu Từ đó hy vọng các cơ quan chức năng sẽ tìm ra hướng giải quyết và chọn lựa để xây dựng các khu vực neo đậu cho tàu thuyền nghề cá để đảm bảo an toàn cho tàu thuyền khi neo đậu trong các bến, bãi
Nha Trang, Tháng 11 năm 2007
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Văn Tiên
Trang 7CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Khánh Hòa có nhiều đảo ven bờ đặc biệt có đảo lớn nhất là đảo Hòn Tre với diện tích là 36 km2, các đảo Hòn Miếu, Hòn Tằm, Hòn Mun đều lớn trên 1
Km2 Trong 70 đảo nằm trong các đầm vịnh có 26 đảo có diện tích từ 0,05Km2 Đảo lớn nhất nằm trong Vịnh là Hòn Lớn (ở vịnh Vân Phong) có diện tích 44
Km2 Khánh Hòa có nhiều bán đảo lớn, bán đảo Hòn Hèo có diện tích 146 km2,
Hình 1.1 Bản đồ tỉnh Khánh Hòa
Trang 8bán đảo Cam Ranh: 106 Km2, bán đảo Hòn Gốm: 83 Km2 Ngoài ra có các vịnh
và đầm lớn như vịnh Vân Phong – Bến Gỏi, có diện tích 503 km2, độ sâu dưới 30m, Vịnh Bình Cang Nha Trang, độ sâu hơn 16m và vịnh Cam Ranh có diện tích 185 Km2 độ sâu khoảng 25m
Khánh Hòa có 2 sông có trữ lượng nước phong phú nhất là: Sông Cái ở Nha Trang có lưu vực khoảng 1800 km2 và sông Dinh ở Ninh Hòa có lưu vực
800 Km2 Lưu vực của toàn bộ các sông, suối ở Khánh Hòa tới 3000 Km2 Đây là những yếu tố hết sức thuận lợi cho sự phát triển nghề cá trong tỉnh
1.1.2 Phân bố dân cư nghề cá theo đơn vị hành chính:
Với vị trí địa lý thuận lợi, từ lâu nhiều làng cá đã được hình thành như : Đại Lãnh, Đầm Môn, Khải Lương, Hòn Khói, Tân Thủy, Ngọc Diêm, Lương Sơn, Cù Lao, Bãi Miếu, Bình Tân…
Theo số liệu thống kê của sở Thủy sản Khánh Hòa, cụm dân cư nghề cá tỉnh Khánh Hòa được phân bố ở các khu vực Thành Phố và các Huyện, Thị Xã
có mặt giáp biển được thể hiện qua bảng tổng hợp sau:
Bảng 1.1 Cụm dân cư nghề cá tỉnh Khánh Hoà
STT Thành phố
Nha Trang
Thị xã Cam Ranh
Huyện Vạn Ninh
Huyện Ninh Hòa
1 Phường
Vĩnh Thọ
Xã Cam Bình
Xã Đại Lãnh
Xã Ninh Hải
2 Phường
Vĩnh Phước
Phường Cam Linh
Xã Vạn Thọ Xã Ninh Diêm
3 Phường
Xương Huân
Phường Cam Lợi
Xã Vạn Long Xã Ninh Thuỷ
5 Phường
Vĩnh Trường
Phường Cam Thuận
Xã Vạn Thắng
Xã Ninh Vân
Trang 96 Xã
Phước Đồng
Xã Cam Phú
Thị trấn Vạn Giã
Xã Ninh Ích
Vĩnh Lương
Xã Cam Phúc Bắc Xã Vạn Hưng
Xã Ninh Lộc
Xã Ninh Hà
Cam Hải Đông Xã Vạn Thạnh
Xã Ninh Phú
Bắc
Cam Lập
1.1.3 Năng lực tàu thuyền nghề cá:
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Khánh
Hòa đối với hoạt động đánh bắt xa bờ, gần đây ngư dân Khánh Hòa đã mạnh
dạng đóng mới tàu thuyền có công suất lớn từ 45CV trở lên Số lượng tàu thuyền
có công suất từ 90CV trở lên ở Khánh Hòa cũng tăng một cách đáng kể và trở
nên phổ biến Vì thế, năng lực tàu thuyền khai thác thuỷ sản của tỉnh Khánh Hoà
tăng lên đáng kể và theo hướng phát triển nhanh về thuyền máy có công suất lớn
và giảm dần số lượng tàu thuyền có công suất nhỏ Theo số liệu thống kê của chi cục bảo vệ nguồn lợi Thủy sản tỉnh Khánh
Hòa, năng lực tàu thuyền của tỉnh được thể hiện ở bảng sau:
Trang 10Bảng 1.2 Thống kê năng lực tàu thuyền tỉnh Khánh Hoà từ năm 2001-2006
Bảng 1.3 Phân loại năng lực tàu thuyền theo công suất tại tỉnh Khánh Hoà từ năm 2002-2007
Số lượng thuyền máy chiếc 3.312 3.401 3.444 3.495 5.417 5.517 Tổng công suất CV 110.578 123.900 132.602 127.260 216.775 224.775
Trang 11Bảng 1.4 Thống kê năng lực tàu thuyền phân theo từng huyện đến tháng 6 năm 2007
Phân chia công suất (cv) Nghề khai thác
Địa
phương
Tổng tàu(chiếc)
Tổng công suất(cv)
<20 20<75 75<90 ≤90 Giả Cản
cước
câu Mành, trủ,vây
Nghề khác
500 1000 1500 2000 2500 3000 3500
Ninh Hòa Vạn Ninh Cam
Trang 12Nhận xét:
Qua bảng 1.2, bảng 1.3 và hình 1.2 ta thấy tổng lượng tàu thuyền của tỉnh Khánh Hòa trong những năm từ 2001 đến năm 2006 ngày càng được đầu tư đóng mới ngày càng nhiều nhất là phục vụ cho khai thác hải sản xa bờ, tạo nguồn nguyên liệu đủ tiêu chuẩn để phục vụ cho xuất khẩu thuỷ sản và hơn nữa là giữ được lượng tàu thuyền khai thác ở vùng gần bờ không tăng cao, nhờ vậy mà áp
lực đối với nguồn lợi gần bờ cũng có xu hướng giảm
Với số lượng tàu thuyền và công suất như trên, Khánh Hòa đã hình thành đội tàu khai thác xa bờ hàng trăm chiếc, chủ yếu làm nghề cản khơi và nghề câu cá ngừ đại dương Nghề câu cá ngừ đại dương đang phát triển rất mạnh bởi nhu cầu tiêu dùng rất lớn của người dân Nhật Bản, Mỹ…
1.1.4 Ngư trường của tỉnh Khánh Hòa :
Độ sâu ngư trường trong tỉnh lớn nên tàu chủ yếu khai thác vùng ven bờ, đầm Vịnh và vùng lộng Tàu thuyền công suất từ 90CV trở lên mới khai thác vùng khơi và vùng biển phía Tây và Nam Trung Bộ, trong đó nhiều thuyền nghề hoạt động xa bờ như nghề lưới kéo (ngư trường chính từ Ninh Thuận đến Bà Rịa – Vũng Tàu), nghề lưới cản (ngư trường chính ở Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiên Giang, Cà Mau), nghề vây (ngư trường chính ở Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận), và nghề câu cá ngừ đại dương (kéo dài từ quần đảo Hoàng Sa đến quần đảo Trường Sa)
Vùng biển Khánh Hòa có 3 ngư trường truyền thống gồm:
- Ngư trường Bắc Khánh Hòa từ vĩ tuyến 12030’N trở lên
Nghề truyền thống: giã đơn, vây rút chì, rê lộng, đăng, trũ bao ánh sáng, giã đôi, pha xúc, vó mành, lưới cước…
- Ngư trường Nha Trang nằm trong phạm vi từ vĩ tuyến 12000’N đến 12030’N
Nghề truyền thống: giã đơn, trũ rút ánh sáng, đăng, vó mành ánh sáng, pha xúc, vây rút chì, câu, lưới cản, lưới chồng, lưới hai, giả đôi…
- Ngư trường Nam Khánh Hòa từ vĩ tuyến 120 00’N trở xuống phía Nam
Nghề truyền thống: giã đơn, trủ rút, pha xúc, vây rút chì, giả đôi…
Trang 131.1.5 Sản lượng của toàn tỉnh tính theo từng năm:
Theo số liệu thống kê của sở thủy sản Khánh Hòa, sản lượng khai thác của tỉnh thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.5 Sản lượng đánh bắt của toàn tỉnh Khánh Hoà theo năm
Năm Sốlượng thuyền
bị suy giảm Vì thế, đòi hỏi các ngành các cấp trong tỉnh Khánh Hòa hoạt động ở lĩnh vực thủy sản cần quan tâm đến nguồn lợi ven bờ như khuyến khích bà con ngư dân đóng tàu lớn vươn ra đánh bắt xa bờ và nghiêm cấm những nghề cá đánh bắt mang tính chất hủy diệt có biện pháp bảo vệ nguồn lợi ven bờ
1.1.6 Lao động nghề khai thác hải sản theo nghề, tuổi, học vấn:
Hiện có khoảng 20.500 lao động làm nghề khai thác hải sản trong tổng số khoảng 64.000 lao động nghề cá, chiếm khoảng 32% tổng số lao động làm việc ở các lĩnh vực khác trong ngành Thủy sản Nhìn chung năng lực lao động khai thác
Trang 14hải sản chiếm tỷ trọng lớn về số lượng song về trình độ thì còn hạn chế và thấp hơn so với các lĩnh vực khác, trong đó đại đa số ngư dân chỉ đạt trình độ biết đọc, biết viết và chưa tốt nghiệp phổ thông cơ sở ( cấp 2)
Trình độ nghề nghiệp phần lớn được đào tạo theo phương thức "cha truyền con nối", bằng thực tế kinh nghiệm đi biển, không qua trường lớp Đội ngũ thuyền trưởng, máy trưởng hầu hết thiếu các kiến thức cơ bản để có thể phát huy
có hiệu quả các thiết bị máy móc hàng hải, thiết bị khai thác; các kiến thức về luật hàng hải còn hạn chế đã ảnh hưởng đến hoạt động khai thác ở những ngư trường xa bờ Theo số liệu thống kê của sở thủy sản tỉnh Khánh Hòa, số liệu lao động trong ngành khai thác thủy sản thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.6 Thống kê số lượng lao động trong ngành khai thác thủy sản từ năm
Trang 15Mục tiêu cụ thể:
- Khai thác hải sản Khánh Hoà đến năm 2010 phấn đấu đạt các chỉ tiêu sau:
- Tổng sản lượng thủy hải sản: 103.409 tấn, trong đó:
Sản lượng khai thác hải sản: 72.330 tấn
Khai thác và nuôi trồng nội địa: 31.079 tấn
Giá trị kim ngạch xuất khẩu: 297,438 triệu USD
1.1.7.2 Nội dung thực hiện chiến lược:
Điều chỉnh cơ cấu nghề khai thác hải sản ven bờ, xa bờ một cách hợp lý trên
cơ sở bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản
Mục tiêu:
- Sắp xếp và cơ cấu lại tàu thuyền, cơ cấu nghề khai thác một cách hợp lý, phù hợp với khả năng nguồn lợi, trên cơ sở ưu tiên phát triển tàu có công suất lớn khai thác xa bờ; có kế hoạch giảm dần số lượng tàu nhỏ khai thác ven bờ đảm bảo hài hoà giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, chuyển đổi nghề nghiệp đối với ngư dân ven bờ bị dư thừa
- Bảo vệ và duy trì tốt nguồn lợi, tăng hiệu quả khai thác đảm bảo nâng cao mức sống cho ngư dân
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn lợi thuỷ sản, trên cơ sở đó xây dựng
kế hoạch phát triển ngành thuỷ sản hàng năm; 5 năm; 10 năm
Biện pháp triển khai:
- Thống kê, đánh giá thực trạng nghề cá gần bờ và xa bờ về các mặt: số lượng tàu thuyền, cơ cấu nghề nghiệp, cơ sở hạ tầng và các vấn đề kinh tế xã hội của cộng đồng ngư dân ven biển tỉnh Khánh Hòa
- Triển khai tốt công tác đăng ký, đăng kiểm tàu cá, thực hiện việc cấp, và thu hồi giấy phép khai thác thuỷ sản cho tàu thuyền đánh cá nhằm điều tiết cường lực khai thác hợp lý, quản lý được mật độ khai thác tàu thuyền tại ngư trường trong tỉnh
Trang 16- Đề xuất các cơ chế chính sách phù hợp trong quản lý nhằm sắp xếp lại cơ cấu nghề nghiệp và giảm cường lực khai thác vùng gần bờ, phát triển khai thác hải sản xa bờ trên cơ sở sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn lợi
- Thiết lập các khu vực hạn chế đánh bắt, cấm đánh bắt; phát triển và quản lý
có hiệu quả các khu bảo tồn biển trong tỉnh
- Triển khai các mô hình quản lý dựa vào cộng đồng và các biện pháp quản lý nghề cá phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nghề cá từng địa phương trong tỉnh góp phần quản lý tốt nghề cá, bảo vệ nguồn lợi, nâng cao đời sống ngư dân và giải quyết các vấn đề môi trường sinh thái
- Phối hợp với các lực lượng Biên phòng, Hải quân, Cảnh Sát biển trong việc triển khai tốt công tác cứu hộ, cứu nạn cho ngư dân khi gặp tai nạn rủi ro trên biển , đồng thời ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm phạm trái phép của tàu thuyền nước ngoài, bảo đảm chủ quyền, quyền chủ quyền của nước ta
- Xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu nguồn lợi thuỷ sản
Xây dựng cơ sở hậu cần, dịch vụ, chế biến và tiêu thụ sản phẩm khai thác Mục tiêu
- Xây dựng hệ thống hậu cần dịch vụ nghề cá phù hợp với yêu cầu phát triển
tàu thuyền khai thác hải sản trong tỉnh
- Tạo sự liên kết giữa khai thác với các cơ sở chế biến, tiêu thụ sản phẩm
Biện pháp triển khai
- Đầu tư và nâng cấp các cơ sở hậu cần nghề cá, các bến cá, chợ cá, điểm tránh trú bão đảm bảo đủ số lượng tàu thuyền cập bến tiêu thụ sản phẩm, nhận nhiên vật liệu và đảm bảo vệ sinh công nghiệp, xây dựng và ban hành qui chế quản lý
sử dụng các công trình thủy sản như cảng cá, bến cá, cơ sở hậu cần dịch vụ nghề cá
- Từng bước hình thành hệ thống chợ cá bán đấu giá, mở rộng hình thức ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm giữa đơn vị khai thác và đơn vị tiêu thụ
- Nghiên cứu xây dựng mô hình khai thác hải sản xa bờ có hiệu quả, thành lập các tổ hợp tác để hỗ trợ giúp nhau trong quá trình khai thác và tiêu thụ sản
Trang 17phẩm, tạo sự liên hoàn giữa các tàu khai thác, dịch vụ, thu mua trên biển, hệ thống tiêu thụ và chế biến cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nghề, từng địa phương
- Tăng cường công tác thông tin thị trường, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại để mở rộng thị trường xuất khẩu cho các doanh nghiệp, tuyên truyền khuyến khích tiêu thụ các sản phẩm hải sản tại thị trường nội địa Khuyến khích phát triển các hình thức liên kết liên doanh, tăng cường tiêu thụ sản phẩm thông qua ký kết các hợp đồng giữa đơn vị tiêu thụ sản phẩm với đơn
vị khai thác hải sản
Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nghề khai thác thuỷ sản
Mục tiêu: Đào tạo tốt nguồn nhân lực cho nghề khai thác thuỷ sản bao gồm
cán bộ quản lý, kỹ thuật và đội ngũ công nhân có tay nghề giỏi, trong đó chú trọng việc đào tạo, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho ngư dân trực tiếp
lao động trên biển
Biện pháp triển khai:
- Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ nghiên cứu có chuyên môn sâu đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác quản lý, công tác nghiên cứu khoa học phục vụ quản lý phát triển nghề khai thác hải sản trong tỉnh
- Đào tạo lực lượng thuyền trưởng, thuyền viên có đủ kiến thức chuyên môn về
kỹ thuật hàng hải, kỹ thuật khai thác, đáp ứng nhu cầu về lao động có kỹ thuật cao phục vụ cho khai thác hải sản, nhất là nghề khai thác xa bờ
- Tăng cường công tác khuyến ngư với các hình thức như tập huấn, hội thảo, triển khai các mô hình trình diễn, tham quan học tập… Nhằm trang bị cho ngư dân những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong các lĩnh vực khai thác thuỷ sản
- Cần có sự phối hợp, hợp tác với nước ngoài như thuê tàu trần, thuê chuyên gia… để nâng cao tay nghề của ngư dân, đàm phán với các nước trong và ngoài khu vực để ký kết các hiệp định hợp tác đánh cá, từng bước đưa tàu của nước ta đi khai thác hải sản ở vùng biển các nước khác
Trang 18Áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào nghề cá của tỉnh
Mục tiêu: Ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện thực tế của ngư dân trong tỉnh
Biện pháp triển khai
- Phối hợp với các trường, các viện và các cơ quan nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành thuỷ sản thực hiện các đề tài nghiên cứu liên quan đến điều tra nguồn lợi, dự báo ngư trường và chuyển giao các kết quả nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn, chủ động thực hiện một số đề tài điều tra nguồn lợi một số đối tượng quan trọng tại địa phương từ đó có chính sách điều chỉnh cơ cấu cường lực khai thác thuỷ sản phù hợp với nguồn lợi hải sản hiện có tại địa phương
- Tăng cường du nhập những nghề khai thác thuỷ sản tiến bộ, khai thác thuỷ sản có chọn lọc, ứng dụng công nghệ và trang thiết bị ngư cụ tiên tiến của các nước phù hợp với nghề cá địa phương nhằm tăng hiệu quả khai thác, giảm bớt cường độ lao động và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản
- Ứng dụng công nghệ vật liệu mới trong việc xây dựng các khu rạn nhân tạo
để tập trung các loài thuỷ sản chủ động trong việc khai thác, giảm thiểu chi phí nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm phục vụ du lịch tạo nên các nguồn thu nhập thay thế khác
- Triển khai tốt các chương trình khuyến ngư trong đó chú trọng đến nội dung chuyển giao các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ khai thác mới, công tác kỹ thuật bảo quản sản phẩm sau khai thác, kiến thức sử dụng các thiết bị điện tử hàng hải và thông tin liên lạc hiện đại… nhằm nâng cao hiệu quả khai thác cho ngư dân
1.1.7.3 Định hướng phát triển khai thác thủy sản đến 2020:
- Chấm dứt tình trạng khai thác thuỷ sản bằng các nghề cấm mang tính huỷ diệt nguồn lợi và môi trường sống của các loài thuỷ sản trên vùng biển Khánh Hoà Hình thành và quản lý có hiệu quả hệ thống các khu vực: cấm khai thác, hạn chế khai thác, khu bảo tồn biển nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên vùng biển Khánh Hòa
Trang 19- Xây dựng quy hoạch, chương trình khai thác hải sản phù hợp với quy hoạch phát triển ngành theo hướng cơ khí hoá hiện đại hoá Hợp tác, du nhập các công nghệ và trang bị kỹ thuật của các nước tiên tiến trên thế giới tiến tới tổ chức được các đội tàu đủ mạnh có thể tiến hành hợp tác đánh cá viễn dương
- Có giải pháp hạn chế đóng tàu cá loại nhỏ, tiến tới cấm đóng mới các loại tàu khai thác thuỷ sản có công suất < 90 CV vào năm 2020, khuyến khích đầu tư đóng mới tàu vỏ thép, vỏ compozic, loaị tàu có công suất >150 CV cùng với việc đầu tư đồng bộ cho nghề khai thác hải sản xa bờ
- Bảo vệ và mở rộng diện tích các hệ sinh thái quan trọng đối với phát triển thuỷ sản; tiến hành phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái; Bổ sung, tái tạo nguồn giống hải sản “ nhân tạo” cho vùng biển, kể cả đối với các loài bản địa-đối tượng khai thác từ bao đời của người dân ven biển
- Giáo dục cộng đồng để mọi người dân khi tham gia hoạt động nghề cá đều có
ý thức chấp hành tốt Luật Thuỷ sản, Luật biển và các công ước quốc tế cũng
như luật pháp Việt Nam
1.2 Tình hình các vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:
Đã có rất nhiều tai nạn xảy ra trên biển nói chung và trong khu vực neo đậu nói riêng Vì thế, để khắc phục những rủi ro và đảm bảo an toàn cho người
và tài sản trên biển, trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu sau:
Tháng 2 năm 1948 tại Giơnevơ (Thụy Sĩ) Tổ chức tư vấn hàng hải liên Chính Phủ ra đời (viết tắt là IMCO) với mục đích chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn trên biển, đảm bảo cơ cấu hợp tác trong lĩnh vực hàng hải thương mại, bảo
vệ môi trường biển
Năm 1982 IMCO đổi tên thành tổ chức hàng hải Quốc tế viết tắt là IMO,
có trụ sở tại London
Năm 1914 công ước Solas đầu tiên ra đời nhằm mục đích đảm bảo an toàn sinh mạng trên biển
Trang 20Năm 1929 Solas được bổ sung thêm những điều khoản mới để phù hợp với tình hình mới của hàng hải thế giới Năm 1948 SoLas được bổ sung thêm lần nữa nhằm đáp ứng yêu cầu mới của hàng hải thế giới
Năm 1974 Hội nghị quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển đã họp tại London với sự góp mặt của 74 quốc gia, hội nghị đã phê chuẩn công ước Solas
1974 – Công ước về an toàn sinh mạng trên biển
Công ước phòng ngừa va chạm trên tàu thuyền trên biển 1972
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
“Kết quả nghiên cứu một vài tiêu chuẩn an toàn hàng hải của tàu thuyền nghề cá Việt Nam” của tiến sĩ Phan Trọng Huyến
Năm 1990 Thạc sĩ Phan Trọng Huyến thực hiện đề tài nghiên cứu “ điều tra tai nạn tàu thuyền nghề cá Việt Nam 1980 – 1989” nhằm mục đích thống kê tình hình tai nạn tàu cá trên tàu biển Việt Nam
“Một số vấn đề thực trạng an toàn lao động của một số nghề khai thác Thủy sản ở Khánh Hòa” của Thạc sĩ Nguyễn Đức Sĩ năm 2001 Bước đầu nghiên cứu thực trạng an toàn lao động của tàu thuyền nghề cá lưới kéo, lưới vây, lưới rê
ở tỉnh Khánh Hòa
Trên báo VietNamnet có đề cập đến bài tường thuật của phóng viên Thanh niên Trần Lê từ tâm bão Phú Quý Cơn bão số 9 này xảy ra vào ngày 5 tháng 12 năm 2006 đã làm hơn 200 chiếc thuyền đang neo đạu tại cữa biển Lạch Chùa của
xã Tam Thanh thuộc tỉnh Ninh Thuận bị đánh tan tành theo sóng biển
Năm 2006 sở Thủy sản tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành khảo sát khu vực Đại Lãnh để tiến hành xây dựng khu neo đậu tránh bão cho tàu thuyền và bến cá Đại Lãnh- Đầm Môn
Trang 211.3 Các văn bản quy định về khu vực neo đậu, cơ sở hạ tầng phục vụ tàu thuyền
1.3.1 Văn bản Trung ương:
Quyết định số 27/2005/QĐ-BTS ngày 01 tháng 09 năm 2005 của bộ thủy sản về việc quy định các tiêu chí neo đậu trú bão cho tàu cá
Quy chế quản lý cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh bão cho tàu cá (ban hành kèm theo quyết định số 20/2006/QĐ-BTS ngày 01 tháng 12 năm 2006 của
bộ trưởng bộ thủy sản)
Quyết định số 20/2006/QĐ-BTS về việc ban hành quy chế quản lý cảng
cá, bến cá, khu neo đậu trú bão cho tàu cá của Bộ Thủy Sản ngày 01 tháng 12 năm 2006
Nghị định số 66/2005/NĐ-CP về đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản
Quyết định số 288/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
Quyết định 128/2005/NĐ-CP của thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 11/10/2005 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản
1.3.2 Văn bản địa phương:
Thông tư số 491/2004/TB-UB của UBND tỉnh Khánh Hòa ban hành ngày 30/09/2004 về việc ban hành khu vực neo đậu giành cho tàu thuyền trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Dự án đầu tư xây dựng khu neo đậu tránh trú bão cho tàu thuyền và bến cá Đại Lãnh – Đầm Môn của Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Khánh Hòa
Quyết định số 35/2006/QĐ-UBND ngày 24 tháng 5 năm 2006 của Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Khánh Hòa về việc quy định danh mục các khu neo đậu tàu, thuyền trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Trang 221.4 Tổng quan về khu vực neo đậu, cơ sở hạ tầng phục vụ nghề cá:
1.4.1 Việt Nam:
Theo thống kê của bộ thủy sản: cả nước có 115 Cảng và bến cá, với số lượng tàu cá khoảng 50.000 tàu Số lượng Cảng cá đạt tiêu chuẩn rất ít, đa số là những Cảng và bến cá chưa đáp ứng được yêu cầu về công tác neo đậu trú bão Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng và dịch vụ nghề cá chưa đáp ứng được yêu cầu của lượng tàu cá tại Cảng Đặc biệt là cầu cảng chưa đáp ứng được cho việc cập cầu để lấy nhiên liệu, đá, lấy cá… Vì vậy xuất hiện tình trạng chờ đợi cập cầu làm tổn phí nhiều thời gian và chi phí Ngoài ra, còn rất nhiều các bến cá phát triển theo kiểu tự phát, mamh mún neo đậu chủ yếu dựa vào địa hình che chắn, ở những lưu vực sông, theo kinh nghiệm của ngư dân Hầu như những khu vực này chưa được nghiên cứu một cách khoa học và chưa có bộ máy tổ chức quản lý Trong những khu neo đậu này về cơ sở hạ tầng như đê chắn sóng, ngăn sa bồi, luồng lạch, các trụ neo tàu, hệ thống phao tiêu, báo hiệu và thông tin liên lạc, cơ
sở dịch vụ hậu cần khu tránh trú bão gồm có các cơ sở cung ứng dịch vụ thiết yếu phục vụ ngư dân của những bến cá tự phát còn thiếu, chưa được chú trọng nhiều
Trong những năm gần đây nghề đánh bắt xa bờ phát triển nhưng bến bãi,
cơ sở hạ tầng dịch vụ nghề cá ở gần ngư trường đánh bắt phục vụ cho nghề đánh bắt xa bờ chưa có Vì vậy, tàu đánh bắt xa bờ phải chi phí nhiên liệu rất nhiều vì sau mỗi chuyến biển phải trở về bến bãi để thực hiện việc lấy nhiên liệu và đưa
cá vào đất liền
Gần đây Nhà nước đã có những chính sách ngày một chú trọng hơn đến quy hoạch và xây dựng các khu neo đậu trú tránh bão cho các tàu thuyền trú ẩn trong mùa mưa bão Nhà nước đã quy hoạch các khu neo đậu trú bão sau:
Quy hoạch theo tiêu chí:
Giai đoạn 2006 - 2010: có 75 khu neo đậu tránh trú bão Trong đó: có 13 khu neo đậu cấp vùng, có 62 khu neo đậu
Định hướng đến năm 2020: tổng số có 98 khu neo đậu tránh trú bão Trong đó: có 13 khu neo đậu cấp vùng, 85 khu neo đậu cấp tỉnh
Trang 23Quy hoạch theo vùng biển:
Vùng biển vịnh Bắc Bộ: có 28 khu neo đậu, trong đó có 25 khu neo đậu ven
bờ và 3 khu neo đậu ở đảo (Cô Tô - Thanh Lân, Cát Bà và B ạch Long Vỹ)
Vùng biển miền Trung: có 39 khu neo đ ậu, trong đó có 34 khu neo đậu ven bờ
và 5 khu neo đậu ở đảo (Cồn Cỏ, C ù Lao Chàm Lý Sơn, Đá Tây, Phú Quý)
Vùng biển Đông Nam Bộ: có 19 khu neo đậu, trong đó có 17 khu neo đậu ven bờ và 2 khu neo đậu ở đảo (Côn Đảo và Hòn Khoai)
Vùng biển Tây Nam Bộ: có 12 khu neo đậu, trong đó có 7 khu neo đậu ven bờ và khu neo đậu ở đảo (Nam Du, Hòn Tre và 3 khu ở Phú Quốc: An Thới, Mũi Gành Dầu, Vũng Trâu Nằm)
Các dự án ưu tiên: trong giai đoạn 2006 - 2010: ưu tiên đầu tư xây dựng các
khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng và các dự án đang đầu tư dở dang, có tính
cấp thiết
Giới thiệu một số khu vực neo đậu ở địa phương khác:
Cảng công ty hải sản Trường Sa:
- Địa chỉ: số 1451, đường 30/4, P11 –Thành phố Vũng Tàu
Trang 24Cảng cá Cát Lở Vũng Tàu:
Giới thiệu chung về cảng:
- Địa chỉ: số 1007/24, đường 30/4, phường 11, Thành phố Vũng Tàu
- Loại cảng: Cảng cá kết hợp thực hiện dịch vụ xếp, dỡ hàng hóa
- Tọa độ: 10024/54//N - 107007/33// E
- Chế độ thủy triều: bán nhật triều không đều
- Độ sâu luồng tính đến mực nước số “0 Hải Đồ” là 4,5 m
- Độ sâu luồng tính đến đến mực nước số “0 Hải Đồ” là 3,5 m
Trang 251.4.2 Khánh Hòa: Tổng quan tình hình khu vực neo đậu tàu thuyền, cơ sở hạ tầng dịch vụ nghề cá: cũng như tình hình chung của cả nước, ở Khánh Hòa ngoại trừ các cảng như Hòn Rớ, cảng Đá Bạc ở Cam Ranh, cảng cá Vĩnh Trường có cơ sở hạ tầng dịch vụ nghề cá tương đối đáp ứng được yêu cầu cho tàu cá còn lại là những bến
cá mang tính tự phát, manh mún, cơ sở hạ tầng dịch vụ nghề cá còn thiếu và yếu Theo quyết định số 154/QĐ-UB ngày 16 tháng 01 năm 2002, trong tỉnh có 11 vị trí neo đậu đã được Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Khánh Hòa có văn bản hướng dẫn có
vị trí sau:
Khu Vũng Rô:
Vị trí địa lý: 12051/52//N - 109025/24//E
Diện tích khu neo đậu 500ha
Khoảng cách từ Đại Lãnh đến Vũng Rô là 10 km
Trang 26Diện tích khu vực 150 ha
Diện tích khu vực 300 ha
Theo quyết định số 35/2006/QĐ-UBND ngày 24 tháng 05 năm 2006, tỉnh Khánh
Hòa đã có quyết định về việc phê duyệt quy hoạch các khu neo đậu tàu thuyền
tỉnh Khánh Hòa đến năm 2010 được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.7 Danh sách các vị trí neo đậu tàu thuyền toàn tỉnh Khánh Hòa
300 chiếc/100CV
Thả 15 bến phao neo
20 bến phao neo, 20 trụ liền bờ và tường kề 250m
5 bến phao neo, 10 trụ
7.000.000
500.000 3.500.000
Trang 275 bến phao neo, 10 trụ bờ,150m tường kè
1000.000
1.000.000
1.000.000
2 Huyện Ninh Hòa
-Bình Tây ( theo quy
hoạch trung ương ) xã
Ninh Hải
-Hệ thống báo bão và
trạm cứu hộ
300 chiếc/300CV
-10 trụ nối bờ
- 15 trụ phao độc lập, đèn báo hiệu
500 chiếc/300CV và tàu vỏ thép
100 chiếc/66CV
700 chiếc/300CV
20 bến phao neo
50 bến phao neo
10 trụ bờ và 200m tường kè
-10 trụ nối bờ -30 trụ phao độc lập, đèn báo hiệu
-Nạo vét lường lạch
10.500.000 500.000
Trang 28-Bình Ba
- Bình Hưng
-Ba Ngòi vịnh Cam
Ranh (theo quy hoạch
của Trung ương )
5 trụ nối bờ
20 trụ phao độc lập và nạo vét cục bộ
Đối với Trung ương cũng như địa phương, có nhiều văn bản pháp quy,
quy phạm tiêu chuẩn về khu vực neo đậu, cơ sở hạ tầng dịch vụ tàu thuyền nghề
cá Điều này chứng tỏ các cơ quan chức năng có quan tâm đến công tác neo đậu
tránh trú bão của tàu thuyền nghề cá
Việc Nhà nước quy hoạch rất nhiều các cảng và bến cá là rất hợp lý Nó sẽ
giúp cho tàu cá tránh trú bão nhanh an toàn vì đã được khảo sát và việc quy
hoạch xây dựng hợp lý các khu neo đậu sẽ giúp cho tàu thuyền nghề cá có thể
bốc cá, tiếp nhận lương thực, thực phẩm nhanh, dễ dàng, và giảm được ô nhiễm
môi trường cũng như những nguy cơ có thể xảy ra tai nạn Vì số lượng tàu cá
ngày càng nhiều, nhưng số lượng cảng cá ít chưa đáp ứng yêu cầu cho việc neo
đậu tránh trú bão cũng như cơ sở hạ tầng dịch vụ nghề cá còn thiếu
Việc Nhà nước ban hành nhiều văn bản pháp quy, các tiêu chuẩn sẽ góp
phần hướng dẫn cho các tàu cá neo đậu có tổ chức hơn tránh được những tai nạn
đáng tiết trong vùng neo đậu
Trang 29Ở Tỉnh Khánh Hòa, mặc dù tỉnh đã có những văn bản pháp quy quy định các khu vực neo đậu tránh bão nhưng thực tế chưa có một cuộc nghiên cứu hay
đề tài nào đi sâu về từng huyện, xã để nghiên cứu điều tra hiện trạng của từng khu vực neo đậu, cơ sở hạ tầng phục tàu thuyền nghề cá nói chung và nghề câu
cá ngừ nói riêng Vì thực tế trong những năm gần đây số lượng tàu cá trong huyện Vạn Ninh của tỉnh Khánh Hòa liên tục tăng mà bến đậu cũng như cơ sở hạ tầng phục vụ tàu thuyền nghề cá chưa được nghiên cứu kỹ, đa số những bến bãi này chỉ mang tính chất tự phát, neo đậu theo thói quen, chưa có bộ máy tổ chức hướng dẫn công tác neo đậu dẫn đến xuất hiện nhiều nguy cơ tiềm ẩn tai nạn trong khu vực neo đậu Những hình ảnh sau thể hiện những nguy cơ tiềm ẩn tai nạn trong khu vực neo:
Trang 31Chính vì những lý do trên, đề tài của tôi đi sâu vào “Điều tra hiện trạng các khu vực neo đậu, cơ sở hạ tầng phục vụ tàu thuyền nghề cá huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa” Đề tài của tôi đi sâu điều tra thực trạng các khu vực neo đậu như là: số lượng tàu thuyền, khí tượng thủy văn, địa hình che chắn, cơ sở hạ tầng dịch vụ nghề cá, hệ thống bộ máy phục vụ công tác neo đậu ở các khu vực neo đậu trong huyện Vạn Ninh Từ thực trạng đó, tôi tiến hành phân tích để tìm ra những nguy cơ tiềm ẩn tai nạn trong từng khu neo đậu và đưa ra những đề xuất
về việc, chọn lựa quy hoạch các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu, trên cơ sở lợi dụng tối đa các địa điểm có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đảm bảo an toàn cho người và tàu cá, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do bão gây ra, đồng thời có khả năng kết hợp với việc cung cấp dịch vụ cho tàu cá ở những nơi có điều kiện, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tôi khu vực neo đậu, cơ sở hạ tầng dịch vụ nghề cá bao gồm:
- Khu neo đậu tránh trú bão là khu vực chuyên giành cho tàu cá neo đậu tránh trú bão Khu vực chuyên giành cho tàu cá neo đậu tránh trú bão bao gồm cơ sở hạ tầng khu tránh trú bão, Cơ sở dịch vụ hậu cần của khu tránh trú bão, vùng nước đậu tàu, luồn vào khu tránh trú bão và khu hành chính
- Cơ sở hạ tầng khu tránh trú bão bao gồm đê chắn sóng, ngăn sa bồi, luồng lạch, các trụ neo tàu, hệ thống phao tiêu, báo hiệu và thông tin liên lạc
- Cơ sở dịch vụ hậu cần khu tránh trú bão gồm có các cơ sở cung ứng dịch
vụ thiết yếu phục vụ ngư dân và tàu cá (nước ngọt, lương thực thực phẩm, thông tin liên lạc, y tế …) tối thiểu đảm bảo giải quyết các yêu cầu cấp thiết
và sự cố tai nạn
Trang 32CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu của đề tài:
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu tìm hiểu những kết quả, tình hình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến khu vực neo đậu, cơ sở hạ tầng dịch vụ tàu thuyền nghề cá
Tìm hiểu các văn bản pháp quy, các quy phạm tiêu chuẩn về khu vực neo đậu, cơ sở hạ tầng phục vụ tàu thuyền nghề cá nói chung và nghề câu cá ngừ nói riêng
Tìm hiểu tổng quan về khu vực neo đậu trong nước và của Khánh Hòa Điều tra cụ thể từng khu vực neo đậu để tìm hiểu:
- Đặc điểm khí tượng thủy văn theo mùa, tháng, năm
- Đặc điểm địa hình che chắn của khu vực neo đậu
- Số lượng tàu thuyền theo nghề, cỡ, loại trong khu vực neo đậu
- Những văn bản pháp quy về công tác neo đậu tàu trong khu vực
- Tìm hiểu cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá
- Tìm hiểu cách bố trí neo đậu
- Tìm hiểu tai nạn và những nguy cơ dẫn đến tai nạn trong khu vực neo Tiến hành phân tích các nguy cơ tiềm ẩn tai nạn, phân tích ưu nhược điểm của từng khu vực neo đậu
2.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Các khu neo đậu tàu cá trong huyện Vạn Ninh
Đặc điểm tự nhiên, khí tượng thủy văn các khu vực neo đậu trong huyện Vạn Ninh
Cơ sở hạ tầng dịch vụ nghề cá trong huyện Vạn Ninh
Nghiên cứu thực tế công tác tổ chức neo đậu
Các văn bản pháp quy liên quan đến vùng neo đậu tàu
Trang 332.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Thời gian thực hiện đồ án tôt nghiệp từ ngày 30 tháng 08 đến ngày 31 tháng 10 năm 2007
Địa điểm nghiên cứu là các khu vực neo đậu tại Huyện Vạn Ninh
2.4 Phương pháp nghiên cứu:
2.4.1 Phương pháp điều tra số liệu:
Để có được những thông tin như độ sâu, chất đáy, dòng chảy, thủy triều… tôi đã tìm hiểu tại huyện Vạn Ninh, tìm hiểu những tài liệu nói về khí tượng thủy văn tỉnh Khánh Hòa đồng thời tiến hành điều tra phỏng vấn trực tiếp các ngư dân
Trực tiếp điều tra phỏng vấn các ngư dân và chụp ảnh tại các khu vực neo đậu
Cụ thể thực hiện:
Đầu tiên tôi đã đến phòng kinh tế huyện Vạn Ninh để tìm hiểu những khu vực neo đậu tránh bão, số lượng tàu neo đậu trong từng khu vực của toàn huyện, điều kiện khí tượng thủy văn trong huyện và những thông tin có liên quan đến khu vực neo đậu
Tiếp theo tôi đến các Ủy Ban Nhân xã quản lý các khu vực neo đậu để được hướng dẫn về vị trí của khu neo đậu, tìm hiểu số lượng tàu thường xuyên neo đậu trong khu vực đó
Trang 34Để nắm bắt số liệu một cách thực tế nhất, tôi đã đến từng khu vực neo đậu trực tiếp quan sát địa hình che chắn, cách thức neo đậu, sông suối tại khu vực neo đậu, cơ sở hạ tầng trong khu vực neo đậu… Phỏng vấn một số chủ tàu trong khu vực neo đậu bằng cách đặt ra những câu hỏi phỏng vấn để nắm bắt những thông tin về tàu đó và vùng neo đậu, những câu hỏi được tôi phỏng vấn là: tên khu vực neo đậu, độ sâu, chất đáy, hướng gió, sức gió, vận tốc dòng chảy, hướng dòng chảy, vận tốc dòng chảy, số lượng neo thả, chiều dài lĩn neo, khi có bão thì tránh
ở đâu, neo như thế nào, có những chướng ngại vật gì trong khu vực neo đậu?…những thông tin này đươc ghi vào phiếu điều tra
Địa điểm khu neo đậu tránh trú bão:
Đối với khu tránh bão cấp vùng, phải lựa chọn ở những nơi:
Gần ngư trường trọng điểm
Điều kiện tự nhiên thuận lợi cho tránh trú bão
Thời gian di chuyển của tàu cá vào tránh bão nhanh
Có thể neo đậu được nhiều tàu cá, kể cả các tàu cá cỡ lớn :
- Số lượng tàu thuyền có thể neo đậu từ 800 chiếc trở lên
- Cỡ tàu lớn nhất đến 1000 CV có thể ra vào được
Trang 35Tàu cá nước ngoài có thể ra vào (đối với những vùng đã có cam kết quốc
tế) Điều kiện đầu tư thuận lợi, có thể tận dụng tối đa các điều kiện tự
nhiên, tiết kiệm kinh phí đầu tư
Đối với khu tránh bão cấp tỉnh, Thành Phố trực thuộc trung ương, được lựa chọn
ở những nơi:
Gần ngư trường truyền thống hoặc các tụ điểm nghề cá lớn của địa
phương
Điều kiện tự nhiên, địa hình thuận lợi cho neo đậu tránh trú bão, bảo đảm
an toàn cho tàu cá vào trú bão
Lợi dụng chủ yếu địa hình tự nhiên, với hạng mục đầu tư và kinh phí đầu
tư thấp hơn so với khu tránh trú bão cấp vùng
Đáp ứng cho việc tránh trú bão của tàu cá địa phương: số lượng tàu cá có
thể tránh trú bão đến 800 chiếc
Yêu cầu kỹ thuật đối với khu tránh trú bão:
Vùng nước đậu tàu:
Vùng nước đậu tàu tương đối lặng sóng, kín gió, được che chắn tối thiểu
là 3 phía khỏi sóng biển, tốt nhất là nằm sâu trong các vịnh kín hoặc cửa sông
cách ly với sóng biển
Vùng nước đậu tàu phải đủ rộng, có độ sâu phù hợp (độ sâu tối thiểu từ
1,1 - 1,5 mớn nước của tàu lớn nhất ra vào khu tránh trú bão kể từ mực nước thấp
nhất) và có điều kiện địa chất đáy thuận lợi cho việc tránh trú bão bằng chính neo
tàu
Trường hợp diện tích tự nhiên vùng tránh trú bão hẹp, điều kiện địa hình
chất đáy không đảm bảo giữ neo, cần bố trí các trụ neo, phao neo độc lập để hỗ
trợ và tổ chức việc neo đậu tàu
Luồng vào khu vực Cảng:
Luồng vào đủ rộng và sâu để loại tàu cá cỡ trung bình có thể ra vào đồng
thời (luồng hai chiều), loại tàu cá cỡ lớn nhất ra vào an toàn theo tiêu chuẩn
luồng một chiều
Trang 36Chiều rộng tối thiểu của luồng bằng 8 lần chiều rộng của tàu cá cỡ trung bình hoặc 4 - 5 chiều rộng của tàu cá cỡ lớn nhất ra vào khu tránh trú bão
Chiều sâu luồng tối thiểu bằng 1,1 - 1,5 mớn nước của tàu cá cỡ lớn nhất
ra vào khu tránh trú bão kể từ mực nước thấp nhất tuỳ thuộc địa chất đáy
Trên luồng phải có đèn báo cửa và hệ thống báo hiệu dẫn đường đảm bảo cho tàu ra vào an toàn cả ngày lẫn đêm
Điều kiện khí tượng, thuỷ văn trên luồng bảo đảm chạy tàu an toàn
Cơ sở dịch vụ hậu cần của khu tránh trú bão:
Trên vùng đất của khu tránh trú bão cần có các cơ sở cung ứng dịch vụ thiết yếu phục vụ ngư dân và tàu cá (nước ngọt, lương thực thực phẩm, thông tin liên lạc, y tế…) tối thiểu đảm bảo giải quyết các yêu cầu cấp thiết và sự cố tai nạn
Phương tiện, trang thiết bị thông tin báo hiệu hỗ trợ cứu hộ cứu nạn … đủ
để chủ động ứng phó và phối hợp với các lực lượng phòng chống lụt bão, cứu hộ cứu nạn trên biển của Trung ương và địa phương
Yêu cầu về địa điểm: Cảng cá phải được xây dựng ở những nơi đáp ứng các yêu cầu sau đây:
- Có vị trí địa lý thuận tiện; có nguồn nước, nguồn điện đảm bảo cho yêu cầu sản xuất và sinh hoạt
- Cách xa các nguồn gây nhiễm cho thuỷ sản
- Những nơi không bị không ngập nước
Yêu cầu về bố trí mặt bằng:
Việc bố trí mặt bằng cảng cá phải đảm bảo tránh được khả năng gây ô nhiễm cho thuỷ sản Các khu vực bốc dỡ, xử lý, bảo quản và hệ thống đường giao thông vận chuyển nguyên liệu thuỷ sản phải tách biệt với các khu vực dịch
vụ hậu cần khác tại cảng cá
Các công trình tại cảng cá phải được bố trí hợp lý, thuận tiện cho các hoạt động cần thiết, đảm bảo không để ảnh hưởng đến chất lượng thuỷ sản
Trang 37Yêu cầu về kết cấu công trình:
Các đường ống dẫn dầu, dẫn nước, dẫn điện đặt ở cầu tàu phải được bố trí gọn, an toàn
Đường giao thông:
Hệ thống đường giao thông trong khu vực cảng phải được thiết kế và xây
dựng đảm bảo thuận tiện và an toàn cho hoạt động của cảng cá
Có bề mặt cứng, phẳng, không trơn
Có hệ thống thoát nước phù hợp
Khu tiếp nhận xử lý nguyên liệu:
Có mái che chắn
Có nền cứng, không thấm nước, không trơn, dễ làm sạch, dễ khử trùng, có
độ nghiêng phù hợp cho việc thoát nước và có hệ thống thoát nước thải hợp vệ sinh
Có hệ thống vòi nước, bồn chứa nước phù hợp đặt ở những nơi cần thiết, thuận tiện cho việc xử lý thuỷ sản
Được trang bị đủ số lượng vòi nước, bồn rửa tay cần thiết theo qui mô sản xuất của cảng Tại bồn rửa phải có xà phòng rửa tay cho công nhân
Được trang bị các thùng chứa phế thải có nắp đậy kín, làm bằng vật liệu không thấm, không gỉ, dễ làm vệ sinh
Hệ thống thoát nước:
Hệ thống cống rãnh thoát nước phải có kích thước, số lượng, vị trí, độ nghiêng phù hợp để đảm bảo thoát nước tốt
Trang 38Được thiết kế, xây dựng đảm bảo dễ làm vệ sinh và không tạo ra nơi ẩn náu của chuột bọ, côn trùng
Bãi đỗ xe:
Cảng cá phải có bãi đỗ xe được bố trí ở nơi thích hợp
Bãi đỗ xe phải có diện tích đủ rộng, có nền cứng, phẳng, thoát nước tốt
Hệ thống chiếu sáng:
Hệ thống đèn chiếu sáng trong cảng cá phải được bố trí ở nơi cần thiết và
đủ sáng, đảm bảo đáp ứng cho mọi hoạt động tại cảng
Đèn chiếu sáng phải có chụp bảo hiểm an toàn
Hệ thống cung cấp xăng dầu:
Kho chứa xăng dầu phải bố trí xa và tách biệt với khu vực có nguyên liệu
thủy sản
Bồn chứa và hệ thống đường ống dẫn xăng dầu phải hoàn toàn kín, bền và được bố trí đảm bảo không gây nhiễm cho sản phẩm
Việc xuất xăng dầu phải đảm bảo an toàn, thuận tiện và hợp vệ sinh
Về yêu cầu trang thiết bị và dụng cụ:
Dụng cụ chứa đựng phải đảm bảo:
Làm bằng vật liệu không tạo ra mùi lạ, không độc
Không ngấm nước, không gỉ, không bị ăn mòn
Có bề mặt nhẵn và có kết cấu dễ làm vệ sinh
Phương tiện vận chuyển thủy sản:
Thủy sản phải được vận chuyển trong các phương tiện chuyên dùng
Trang 39Phương tiện vận chuyển thuỷ sản phải được thiết kế và trang bị để duy trì nhiệt độ lạnh cần thiết trong thời gian vận chuyển Bề mặt tiếp xúc với thuỷ sản của phương tiện phải nhẵn, phẳng, dễ làm vệ sinh và khử trùng Nếu dùng nước
đá để làm lạnh sản phẩm phải có lỗ thoát nước đá tan
Yêu cầu vệ sinh công nhân:
Người có bệnh truyền nhiễm không được làm việc hoặc đến khu vực có thuỷ sản
Công làm việc tại khu vực tiếp xúc với thuỷ sản phải được khám sức khoẻ khi tuyển dụng và định kỳ kiểm tra sức khoẻ hàng năm
Cán bộ quản lý cảng cá, công nhân tiếp xúc với sản phẩm phải được đào tạo về vệ sinh thực phẩm và vệ sinh cá nhân
Khi đang xử lý sản phẩm hoặc ở những nơi xử lý và bảo quản thuỷ sản, công nhân không được hút thuốc, khạc nhổ, ăn uống
Công nhân phải rửa tay bằng xà phòng sát trùng trước khi tiến hành xử lý thuỷ sản và ngay sau khi đi vệ sinh
Công nhân phải được trang bị quần áo bảo hộ lao động khi làm việc ở các khu vực bốc dỡ, vận chuyển, tiếp nhận, phân phối và kho bảo quản thuỷ sản
Yêu cầu về bốc dỡ, vận chuyển, phân phối thủy sản:
Trước khi bốc dỡ sản phẩm, cảng cá phải chuẩn bị đầy đủ nhân lực, phương tiện, dụng cụ phù hợp để làm việc
Khi bốc dỡ và vận chuyển thuỷ sản lên bờ, phải tránh nắng và tránh nhiễm bẩn thuỷ sản Quá trình bốc dỡ vận chuyển phân phối thuỷ sản phải đảm bảo để:
Tiến hành nhanh chóng, đúng yêu cầu kỹ thuật tránh làm dập nát nguyên liệu;
Thủy sản phải được làm lạnh hoặc ướp nước đá để hạ nhiệt độ xuống từ -1 đến +40C Thuỷ sản phải được bảo quản lạnh trong suốt thời gian vận chuyển, lưu giữ và phân phối
Trang 40Cảng cá phải có người chịu trách nhiệm chính về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm Mỗi người làm việc tại cảng cá phải nắm vững các biện pháp phòng tránh nhiễm bẩn hoặc những nguyên nhân làm hư hại đến thuỷ sản trong quá trình tiếp nhận, xử lý, bảo quản, bốc dỡ và vận chuyển