1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tập bài giảng nhập môn ngôn ngữ học

90 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngôn ngữ học chỉ quan tâm tới cao độ tương đối, tức là sự khác nhau về cao độ giữa các bộ phận, các đơn vị ngữ âm, bởi lẽ chính điều đó mới tạo nên sự phân biệtgiữa các đơn vị ấy với nha

Trang 1



TẬP BÀI GIẢNGNHẬP MÔN NGÔN NGỮ HỌC

Trang 2

MỤC LỤC

Lời nói đầu

Chương I: MỞ ĐẦU……….……… 1

I Ngôn ngữ, đối tượng và nhiệm vụ của ngôn ngữ học……… 1

1 Ngôn ngữ và ngôn ngữ học……….….1

2 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của ngôn ngữ học……… …… ……2

II.Các ngành nghiên cứu của ngôn ngữ học……… … 2

1 Ngôn ngữ học đại cương và ngôn ngữ học cụ thể……… …… 2

2 Các mặt nghiên cứu của ngôn ngữ học……… ………… 2

3 Các bộ môn của ngôn ngữ học……… 3

III.Vài nét về quá trình hình thành ngôn ngữ học……….3

Chương II: NGỮ ÂM VÀ CHỮ VIẾT……….………7

A Ngữ âm……….7

I.Âm tố……… 7

1 Âm tố- đơn vị nhỏ nhất của ngữ âm……….7

2 Các đặc trưng chung của âm tố……….7

II Phân loại âm tố……… …………10

1 Phân biệt nguyên âm và phụ âm……….………10

2 Miêu tả nguyên âm……….…11

3 Miêu tả phụ âm……… ….13

III Âm vị và biến thế âm vị……… ……… 14

1 Âm vị ………….……… 14

2 Biến thể âm vị……….15

IV Âm vị siêu đoạn tính……….……15

1 Âm vị đoạn tính và âm vị siêu đoạn tính………16

2 Âm tiết……… …….16

3 Ngôn điệu và các loại âm vị siêu đoạn tính………17

V Sự biến đổi ngữ âm……… ….18

Trang 3

1 Tại sao có sự biến đổi ngữ âm………18

2 Các kiểu biến đổi ngữ âm ……… …………18

B Chữ viết ……….…20

1 Khái quát về chữ viết……… …… 20

2 Các kiểu chữ viết……… 20

Chương III: TỪ VỰNG ……… ……….23

I Hình vị Từ Từ vựng……… ………23

1 Hình vị - đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa……….23

2 Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ……….…….23

3 Các đơn vị tương đương với từ……… ……25

4 Từ vựng là gì? ……….………… 25

II Cấu tạo của từ……….…26

1 Đơn vị cấu tạo từ……….………26

2 Phân tích cấu tạo hình vị của từ……….……….26

3 Hệ thống cấu tạo từ ……….… 26

4 Các phương thức cấu tạo từ……….……… 27

III Nghĩa của từ……….…27

1 Khái quát về nghĩa của từ……… … …………27

2 Các thành phần ý nghĩa của từ………28

3 Sự biến đổi ý nghĩa của từ……… ………32

4 Các loại nghĩa trong từ nhiều nghĩa……….… 35

IV Các nhóm từ và lớp từ ……….36

1 Các nhóm từ………36

2 Các lớp từ……… ………….39

V Từ vựng và từ điển……….39

1 Một số hiểu biết chung về việc biên soạn từ điển……… 39

2 Các loại từ điển……… 39

Chương IV: NGỮ PHÁP……… ……….….….44

I Khái quát ngữ pháp và ngữ pháp học……… 44

Trang 4

1 Ngữ pháp………44

2 Ngữ pháp học……….……44

II Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp trong từ……… 45

1 Phân biệt ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp trong từ……….….….45

2 Các loại ý nghĩa ngữ pháp và phương tiện biểu hiện chúng……….… 46

III Phương thức ngữ pháp……….….47

1.Khái niệm về phương thức ngữ pháp………,….…….…47

2 Các loại phương thức ngữ pháp……….….49

IV Phạm trù ngữ pháp………49

1 Khái niệm về phạm trù ngữ pháp………49

2 Các phạm trù ngữ pháp phổ biến……… ….50

V Quan hệ ngữ pháp……… 50

1 Khái niệm về quan hệ ngữ phá……… 50

2 Miêu tả các quan hệ ngữ pháp trong câu bằng sơ đồ……….…….…52

VI Đơn vị ngữ pháp……… 53

1 Khái niệm về đơn vị ngữ pháp……… 53

2 Các loại đơn vị ngữ pháp………53

VII Từ loại….………54

1 Cơ sở phân loại……… 54

2 Các từ loại của ngôn ngữ……… 54

Chương V: NGUỒN GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÔN NGỮ 56

1 Nguồn gốc của ngôn ngữ………56

2 Sự phát triển của ngôn ngữ……….59

3 Tính hệ thống của ngôn ngữ……… 63

Chương VI: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA NGÔN NGỮ……….… 68

I Bản chất của ngôn ngữ………68

1 Ngôn ngữ là một hiện tượng có bản chất xã hội……….68

2 Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt………….……… …72

Trang 5

3 Bản chất tín hiệu (ký hiệu) của ngôn ngữ ………74

II Chức năng của ngôn ngữ……….……….77

1 Khái quát về chức năng……… … 77

2 Các loại chức năng của ngôn ngữ……….……77

Tài liệu tham khảo……….……….82

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Nhập môn ngôn ngữ học là một học phần tự chọn rất cần thiết đối với sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ Anh bởi lẽ học phần này giúp củng

cố thêm cho sinh viên những kiến thức cơ bản về ngôn ngữ để từ đó giúp các em có thể sử dụng tốt hơn ngôn ngữ Anh và ngôn ngữ tiếng Việt trong học tập và giao tiếp.

Thực tế qua giảng dạy học phần Nhập môn ngôn ngữ học, tôi thấy chưa có tài liệu chính thức cho việc giảng dạy và học học phần này Trong quá trình giảng dạy, giảng viên thường phải tham khảo nhiều tài liệu khác nhau, bởi vậy gặp không ít khó khăn trong việc soạn, giảng Về phía sinh viên, lại là sinh viên không chuyên ngữ văn, việc không có tài liệu chính thức để học là một khó khăn rất lớn trong việc tiếp cận tri thức về ngôn ngữ.

Từ thực tế đó, tôi biên soạn tập bài giảng môn Nhập môn ngôn ngữ học (4 ĐVHT) với mong muốn có một tài liệu chính thức để phục vụ cho việc dạy, học học phần này được thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn.

Tập bài giảng Nhập môn ngôn ngữ học hoàn thiện sẽ khắc phục được khó khăn về tài liệu dạy, học học phần này cho giảng viên và sinh viên.

Nội dung tập bài giảng được biên soạn dựa trên cơ sở đề cương chi tiết của học phần và sát với trình độ nhận thức của sinh viên (không chuyên ngữ văn) sẽ là nguồn tài liệu hữu ích góp phần giúp sinh viên sử dụng tốt hơn ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp.

Viết tập bài giảng Nhập môn ngôn ngữ học cũng là cơ hội để rèn luyện thêm về khả năng nghiên cứu, tập hợp hệ thống kiến thức lý thuyết

Trang 7

về ngôn ngữ, từ đó góp phần nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho bản thân mình.

Tập bài giảng có cấu trúc gồm: mục lục, lời nói đầu, nội dung cụ thể

và danh mục các tài liệu tham khảo.

Nội dung cụ thể của tập bài giảng gồm 6 chương:

Chương I: Mở đầu: Đề cập đến các vấn đề về đối tượng và nhiệm

vụ của ngôn ngữ học, các ngành nghiên cứu của ngôn ngữ học và đôi nét

về quá trình hình thành ngôn ngữ học.

Chương II: Ngữ âm – chữ viết: Trong phần Ngữ âm sẽ nghiên cứu

cụ thể về âm tố, âm vị và biến thể của âm vị, âm vị siêu đoạn tính và về hiện tượng biến đổi ngữ âm, và nghiên cứu về chữ viết.

Chương III: Từ vựng: Chương này gồm những nội dung cơ bản về

từ vựng như: các đơn vị từ vựng, nghĩa của từ, các lớp từ vựng, vấn đề hệ thống hóa từ vựng trong từ điển.

Chương IV: Ngữ pháp: Một vài điều khái quát về ngữ pháp và ngữ

pháp học sẽ được tập trung nghiên cứu, các phương thức ngữ pháp, phạm trù ngữ pháp, quan hệ ngữ pháp và đơn vị ngữ pháp.

Chương V: Nguồn gốc và sự phát triển của ngôn ngữ: Nội dung

chủ yếu của chương này sẽ tập trung vào tìm hiểu các vấn đề về nguồn gốc

và sự phát triển của ngôn ngữ.

Chương VI: Một số vấn đề về bản chất và chức năng ngôn ngữ:

Ở chương này, bản chất xã hội và bản chất tín hiệu của ngôn ngữ sẽ được tập trung nghiên cứu Về chức năng của ngôn ngữ, chức năng làm phương tiện giao tiếp, tư duy và một vài chức năng khác sẽ được giới thiệu.

Trang 8

Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc biên soạn, tập bài giảng Nhập môn ngôn ngữ học chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, chúng tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của đồng nghiệp và sinh viên.

Trang 9

Chương I

MỞ ĐẦU

Chương này đề cập tới những vấn đề lý luận cơ bản về ngôn ngữ và ngôn ngữ họcnhư: Đối tượng, nhiệm vụ của ngôn ngữ học, các ngành nghiên cứu của ngôn ngữ học,một vài nét về quá trình hình thành và phát triển của ngôn ngữ học

I Ngôn ngữ, đối tượng và nhiệm vụ của ngôn ngữ học

1 Ngôn ngữ và ngôn ngữ học

1.1 Khái niệm ngôn ngữ

1.1.1 Phân biệt ngôn ngữ và lời nói:

Để dễ dàng phân biệt ngôn ngữ và lời nói, ta đi từ ví dụ sau:

- Có một số đơn vị ngôn ngữ (từ) như: Lấp lóe, lóng lánh, sao, cánh buồm, lửa chài, mây,hiện ra, bay…

- Một số quy tắc kết hợp các đơn vị này thành cụm từ, thành câu:danh tính, động tính,danh-động tính, C-V…

Những đơn vị và những quy tắc ngữ pháp này có sẵn trong óc mỗi người nói tiếngViệt Chúng có thể xuất hiện nhiều lần trong những câu nói ở nghiều người, song tùycách sử dụng ở những người khác nhau trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà chúngtạo ra nhiều câu nói đa dạng, chẳng hạn, có thể có những câu nói sau:

Sao lóng lánh hiện ra, lửa chài lấp lóe, mây bay xa Xa Xa hiện ra những cánh buồm lónglánh Lửa chài lấp lóe, sao lóng lánh…

Trần Đăng Khoa với trí tưởng tượng bay bổng, với cách dùng từ khéo léo đã tạo ra câuthơ thú vị:

“Lấp lóe lửa chài - sao hiện raMây bay lóng lánh- cánh buồm xa”

Qua ví dụ trên, ta có thể rút ra nhận xét: Tùy theo từng hoàn cảnh giao tiếp, từngnội dung thông báo hay thái độ của người nói, cách nói, bằng một số từ và một số quy tắcngữ pháp người ta có thể tạo ra nhiều câu nói cụ thể khác nhau Dù muốn hay không, mỗingười đều buộc phải sử dụng những đơn vị ngôn ngữ và những quy tắc ngữ pháp chung

để tạo ra những câu nói cụ thể mới có thể làm người khác nghe và hiểu được ý mình.Những đơn vị và những quy tắc này chính là ngôn ngữ Nó có tính chất khái quát, có tính

xã hội thống nhất và bắt buộc đối với mọi người trong cùng một cộng đồng sử dụngchung một ngôn ngữ

1.1.2 Định nghĩa về ngôn ngữ:

Trang 10

Ngôn ngữ là hệ thống các đơn vị (âm vị, hình vị, từ, câu) và những quy tắc kết hợpcác đơn vị này để tạo thành lời nói trong giao tiếp Những đơn vị ngôn ngữ và các quy tắcnày được phản ánh trong ý thức của cộng đồng và trừu tượng hóa khỏi bất kì một tưtưởng, một cảm xúc và ước muốn cụ thể nào.

1.2.Khái niệm ngôn ngữ học

Ngôn ngữ học là ngành khoa học nghiên cứu các ngôn ngữ (ngôn ngữ của cả nhânloại và ngôn ngữ của từng dân tộc) và những hình thức tồn tại sinh động của nó (bao gồm

cả lời nói và hoạt động lời nói)

2 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của ngôn ngữ học

2.1.Đối tượng

Là ngôn ngữ với những quy luật hoạt động và những hình thức tồn tại của nó Đốitượng của ngôn ngữ học được cụ thể hóa như sau:

- Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là ngôn ngữ

- Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là các dạng của lời nói: Lời nói là một chuỗiliên tục các đơn vị ngôn ngữ được xây dựng theo những quy tắc nhất định ứng với nhucầu biểu hiện những tư tưởng tình cảm của con người

- Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học còn là các quy tắc hoạt động của ngôn ngữ

2.2.Nhiệm vụ

Ngôn ngữ học có hai nhiệm vụ chính là:

- Phải miêu tả và làm lịch sử cho tất cả các ngôn ngữ, các dân tộc mà nó với tới được(ngôn ngữ học cụ thể)

- Phải tìm ra được các quy luật tác động thường xuyên và phổ biến trong các ngôn ngữ, rút rađược những quy luật khái quát có thể giải thích được tất cả những hiện tượng cá biệt trong từngngôn ngữ (ngôn ngữ học chung)

II.Các ngành nghiên cứu của ngôn ngữ học

1 Ngôn ngữ học đại cương và ngôn ngữ học cụ thể

Ngôn ngữ học phân biệt hai ngành nghiên cứu chủ yếu là ngôn ngữ học đại cương(miêu tả) và ngôn ngữ học lịch sử Ngôn ngữ học lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ trong sựphát triển lịch sử của nó, còn ngôn ngữ học miêu tả nghiên cứu một trạng thái nào đó củangôn ngữ

2 Các mặt nghiên cứu của ngôn ngữ học

Việc nghiên cứu ngôn ngữ có thể đi theo hai hướng khác nhau và nhằm vào haimục đích khác nhau: Đồng đại và lịch đại Nghiên cứu về mặt đồng đại là nghiên cứu nó

ở một thời điểm nhất định, không để ý đến nguồn gốc và sự phát triển lịch sử của nó

Trang 11

(ngôn ngữ học miêu tả); Nghiên cứu về mặt lịch đại là nghiên cứu nó trong trạng tháiđộng, trong sự phát triển lịch sử của nó (ngôn ngữ học lịch sử).

- Ngôn ngữ học miêu tả có nhiệm vụ miêu tả tình trạng của một ngôn ngữ ở một giaiđoạn nào đó, nhằm xác định hệ thống ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp… của nó ở thời điểmđó

- Ngôn ngữ học lịch sử nghiên cứu sự phát triển của một ngôn ngữ, nhằm tìm ra nhữngthay đổi của nó qua các thời đại khác nhau Mục đích cuối cùng của nó là tìm ra nhữngquy luật phát triển ngôn ngữ

3 Các bộ môn của ngôn ngữ học

Ngôn ngữ bao gồm 3 bộ phận chính là ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp trên cơ sở đó

mà hình thành 3 bộ môn ngôn ngữ học là ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp học

- Ngữ âm học là bộ môn nghiên cứu mặt âm thanh của ngôn ngữ

- Từ vựng học: là bộ môn nghiên cứu về hệ thống từ vựng của ngôn ngữ

- Ngữ pháp học: nghiên cứu hệ thống các phương tiện ngôn ngữ và các quy tắc dùng để

tổ hợp các đơn vị từ vựng thành những đơn vị lớn hơn (cụm từ và câu)

Ngoài ra còn một bộ phận ngôn ngữ học có liên quan đến cả ba bộ phận kể trên đó

là phong cách học Nhiệm vụ của phong cách học là:

1 Nghiên cứu tất cả các phong cách khác nhau bao gồm cả phong cách cá nhân lẫnphong cách thể loại

2 Nghiên cứu các quy luật, các thuộc tính biểu cảm của các phương tiện ngôn ngữ cả ởtrong hệ thống lẫn trong quá trình sử dụng ở các phạm vi giao tiếp khác nhau

III.Vài nét về quá trình hình thành ngôn ngữ học

Cho đến ngày nay, khoa học về ngôn ngữ đã rất phát triển và khá hoàn thiện Nó

đã trải qua hơn hai thế kỷ phát triển liên tục và không ngừng

Cần phải nhận thức rằng, lịch sử ngôn ngữ học không tách rời sự phát triển nội tạicủa bản thân ngôn ngữ, đồng thời cũng không thể tách rời sự phát triển của các ngànhkhoa học khác cũng như sự tiến hoá chung của nhân loại Mặt khác, trong lịch sử pháttriển của ngôn ngữ học, sự xuất hiện những lý thuyết mới, những giả thuyết mới chính làhình thức để giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình nghiên cứu mà các thời

kỳ trước đó chưa nhận thức, khám phá được Do đó, các khuynh hướng, trường phái ngônngữ học ra đời cũng có thể coi là các thành tựu đánh dấu các giai đoạn các thời kỳ trưởngthành và phát triển của ngôn ngữ học Sau đây là các giai đoạn chính của lịch sử ngônngữ học:

Thời kỳ ngữ văn cổ đại đến ngôn ngữ học thế kỷ XVIII Những tài liệu ngôn ngữhọc cổ nhất được tìm thấy ở Ấn Độ, Hy Lạp và Ả rập Ngôn ngữ học ra đời do những nhu

Trang 12

cầu thực tiễn đặt ra trong đời sống con người Nhìn chung ngôn ngữ học cổ đại gắn liềnvới những tìm tòi về triết học và ngữ văn thời cổ đại.

Thời cổ Ấn Độ, Kinh Vệ Đà (vê đa) rất được tôn kính Ngôn ngữ kinh Vệ Đà làtiếng Phạn (ngôn ngữ cổ của người Ấn Độ), trừ tiếng Xan – xcrit được coi là thứ ngônngữ thiêng liêng và mẫu mực Do nó chỉ được dùng trong các buổi tế lễ nên hầu nhưkhông bị biến đổi Trong khi đó, ngôn ngữ hàng ngày của người dân Ấn Độ(tiếng Ấn) lạibiến đổi không ngừng và liên tục, làm cho những bản kinh Vệ Đà ngày càng trở lên khóhiểu Để hiểu được thứ ngôn ngữ linh thiêng đó và để giữ cho các bản kinh Vệ Đà khỏi bịđọc sai trong các buổi lễ, người ta biên soạn các sách ngữ pháp tiếng Xan-xcrit mà côngtrình nổi tiếng nhất là cuốn “Ngữ pháp” của Panini khoảng thế kỷ IV tr.CN, nó miêu tảmột cách khá chính xác và tỷ mỉ về tiếng Xanxcrit cả về ngữ âm và ngữ pháp

Ở Hy Lạp ngôn ngữ học ra đời do nhu cầu cần bảo tồn và giải thích ngôn ngữ củacác tác phẩm văn học cổ đại lớn là “Iliat” và “Ôdixê” Sau khi ra đời, cùng với sự xuấthiện chữ viết và nhu cầu truyền giáo, ngôn ngữ học Hy Lạp được truyền bá rộng rãi ởchâu Âu và sau này nó phát triển thành khuynh hướng “ngữ pháp đại cương và duy lý”vào thế kỷ XVIII Cốt lõi của ngôn ngữ Hy Lạp gắn liền với những tìm tòi về triết họctrong các lĩnh vực rộng lớn có tư duy và thực tế Trong một thời gian khá dài, các nhàtriết học cổ Hy Lạp là Pla ton, A-ri-xtot (384 – 322 tr.CN) đã tranh luận về bản chất của

từ, mối quan hệ của từ với các sự vật và tư tưởng Về sau môn ngữ pháp học đã dần dầntách khỏi áp lực của triết học để trở thành một khoa học độc lập với các tác giả như A-rit-xtot, Đi–ô-ni-xi, A-pô-lô-ni, Đi-xcô-lơ Sau đó, người la Mã đã cải tiến sớm ngữ phápcủa người Hy Lạp, đem áp dụng vào ngôn ngữ của mình Và trong một thời gian dài, ngữpháp La Mã vẫn được coi là mẫu mực và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngữ pháp học thờitrung đại ở Tây Âu

Người Ả Rập đã tiếp thu được những thành tựu ngữ pháp của người Ấn Độ và HyLạp vào khoảng từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ X sau CN và họ đã mô tả tiếng Ả rậpkhá tỷ mỷ, chính xác và hệ thống về ngữ âm,có những tìm tòi đáng chú ý về ngữ pháp,đặc biệt có nhiều thành tựu về từ điển học

Đáng tiếc là những thành tựu rực rỡ của ngôn ngữ thời cổ đại nói trên trong suốtthời kỳ trung đại đã không tiến thêm được bao nhiều bởi hệ giáo lý và triết học kinh việnsuốt thời kỳ trung cổ đã đè nặng lên khoa học nói chung và ngôn ngữ học nói riêng Phảiđến thế kỷ ánh sáng (từ thế kỷ thứ XV trở đi) ngôn ngữ học mới được phục hưng trở lại

- Ngôn ngữ học so sánh và triết học ngôn ngữ:

Từ cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX do sự phát triển mạnh mẽ của ngànhhàng hải, thương mại, và kỹ thuật, địa lý thiên văn, vật lý và văn học cùng với việc phátminh ra máy in, đặc biệt là cùng với các cuộc xâm lược và truyền bá đạo Cơ đốc ra ngoàiphạm vi châu Âu đã buộc người Âu phải tiếp xúc với rất nhìêu ngôn ngữ xa lạ ở châu Á,

Trang 13

Phi, Mỹ - la tinh Nhu cầu thực tế và bức xúc đã buộc ngôn ngữ học thời ấy phải vượt rangoài những sơ đồ hệ thống và quy tắc phổ quát bất biến của ngữ pháp Latin, các nhà báchọc lúc đó đặt ra cho mình những nhiệm vụ thực tiễn là biên soạn các cuốn từ điển vàmiêu tả các từ vựng và ngữ pháp của các ngôn ngữ khác nhau Chính điều ấy đã đặt nềnmóng cho ngôn ngữ học so sánh và lịch sử ra đời vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIXvới các đại biểu như Phơ-gan-xơ- Bốp (1791 – 1867) người Đức, Rat-mu-xơ Ra-xca(1787 – 1832) người Đan Mạch, I-a-cốp Grim (1785 – 1863) người Đức, A – le –xan-drVa-xto-cop (1781 – 1864) người Nga.

Ngôn ngữ học so sánh lịch sử thừa nhận ngôn ngữ là một trong những bằng chứngcủa lịch sử dân tộc, thừa nhận sự biến đổi của ngôn ngữ theo thời gian và lấy phươngpháp lịch sử là phương pháp chủ yếu trong nghiên cứu ngôn ngữ Nó xác lập và thừanhận tính họ hàng của các ngôn ngữ,.Thừa nhận khả năng cũng như sự cần thiết phảinghiên cứu ngược trở lại quá khứ xa xôi của các ngôn ngữ cho tới tận thời kỳ mà người tagiả thuyết rằng có một ngôn ngữ nào đó làm cơ sở

Về sau khuynh hướng ngôn ngữ học so sánh lịch sử xuất hiện một số trường pháinhư trường phái tự nhiên, trường phái logic ngữ pháp, trường phái ngữ pháp hình thức,trường phái tâm lý Trong đó, trường phái tự nhiên áp dụng học thuyết Đác–uyn vàongôn ngữ, coi ngôn ngữ là một biểu hiện đặc tính sinh vật của con người Trường pháitâm lý coi ngôn ngữ là một trong những hoạt động tinh thần của con người nên gắn liềnnghiên cứu ngôn ngữ với việc nghiên cứu tâm lý cá nhân, tâm lý dân tộc Còn trườngphái logic ngữ pháp thì đồng nhất ngôn ngữ với logic, nên chủ trương giải thích cơ cấungữ pháp dựa trên cơ sở giải thích cơ cấu của thao tác tư duy logic, đưa các quy luật của

tư duy áp dụng vào giải thích ngôn ngữ

- Khuynh hướng ngữ pháp trẻ: xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX, goi là ngữ pháp trẻ vì nó

được đề xướng bởi nhà ngôn ngữ học trẻ người Đức là F.Xác-kơ-ne Phái này chỉ đặc biệtchú ý tới các sự kiện của hoạt động lời nói với cá nhân và tiếng địa phương, họ chỉ chú ýtới các sự kiện ngôn ngữ được ghi lại trên các văn bản chứ không tin vào các giải thuyếtphán đoán nhằm phục hồi ngôn ngữ cổ Ngữ pháp trẻ nghiên cứu các sự kiện ngôn ngữmột cách rời rạc, riêng lẻ theo kiểu nguyên tử luận

- Ngôn ngữ xã hội học: xuất hiện đầu thế kỹ XX với những người đứng đầu là F.de

Saussure (1857 – 1913) An–toan Mây–ê (1866 – 1936, Giô – dep Van-dri-et (1875 –1960) Khuynh hướng này coi ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, thừa nhận sự tác độngcủa xã hội đối với sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ, coi trọng việc nghiên cứu sinhngữ và các tiếng địa phương

- Ngôn ngữ học cấu trúc: là khuynh hướng ngôn ngữ mạnh nhất từ đầu thế kỷ XX kéo dài

cho tới tận ngày nay Xuất phát điểm là từ học thuyết của F.de Saussure được trình bàytrong cuốn “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” của Ông Tư tưởng cơ bản của trạng thái

Trang 14

cấu trúc là coi ngôn ngữ như một kết cấu, một chỉnh thể toàn vẹn, chặt chẽ của các yếu tố

có quan hệ quy định lẫn nhau Nhiệm vụ hàng đầu của ngôn ngữ học cấu trúc là nghiêncứu chính bản thân hệ thống - cấu trúc ngôn ngữ, mà quan trọng nhất là các mối quan hệgiữa các yếu tố ngôn ngữ Muốn vậy, ngôn ngữ học cấu trúc phân biệt rạch ròi ngôn ngữlời nói, yếu tố bên trong và bên ngoài ngôn ngữ, đồng đại và lịch đại, thể chất và cấu trúcnhằm tách ra chỉnh thể cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ Nhiều phương pháp nghiên cứumới và độc đáo đã được áp dụng như: phân tích thành thành tố trực tiếp, phép phân bố,phép độc lập, phép thay thế… đồng thời vận dụng cả thành tựu của khoa học chính xáckhác Ngày nay ngôn ngữ học cấu trúc xuất hiện thêm các khuynh hướng mới nữa nhưnhân chủng học – ngôn ngữ, ngôn ngữ khu vực, tâm lý ngôn ngữ

- Ngôn ngữ học văn bản: ngôn ngữ học văn bản thực chất mới xuất hiện vào khoảng

những năm 60 lại đây nhưng có sức mạnh nhất từ trường phái ngôn ngữ học Pra-ha vàngôn ngữ học chức năng Ngôn ngữ học văn bản lấy hoạt động ngôn ngữ làm phục vụmục đích giao tiếp làm đối tượng khảo sát nghiên cứu cũng là mục đích hướng tới Để đạtmục đích ấy, ngôn ngữ học văn bản vượt khỏi giới hạn câu của ngôn ngữ học cấu trúc đểnghiên cứu các đơn vị trên câu nhằm tạo thành chỉnh thể giao tiếp trọn vẹn Tuy mới rađời nhưng ngữ pháp văn bản đã đạt được những thành tựu rực rỡ, mở ra những chân trờirộng lớn cho nghiên cứu và ứng dụng ngôn ngữ mà những lý luận trước đó đã bộ lộ nhiềuhạn chế tưởng chừng như không thể vượt qua nổi

Câu hỏi ôn tập

1 Đối tượng và nhiệm vụ của ngôn ngữ học là gì?

2 Phân biệt ngôn ngữ học đại cương và ngôn ngữ học cụ thể Hãy kể tên các ngànhnghiên cứu của ngôn ngữ học

3 Nêu sự hiểu biết về quá trình hình thành ngôn ngữ học?

Trang 15

Chương II

NGỮ ÂM VÀ CHỮ VIẾT

Chương này tập trung tìm hiểu về các vấn đề: Khái niệm ngữ âm, các đơn vị ngữ

âm (âm tố, âm vị), sự biến đổi ngữ âm; Khái niệm chữ viết và các kiểu chữ viết

âm thanh được ghi lại bằng một loạt ký hiệu tượng hình là chữ viết

I.Âm tố

1 Âm tố- đơn vị nhỏ nhất của ngữ âm

Đặc tính của âm thanh ngôn ngữ là có tính phân tiết Tức là, trong một chuỗi lờinói, người ta có thể phân chia được chúng thành những đơn vị nhỏ hơn Bước đầu tiên

của sự phân chia đó, ta được các âm tiết Chẳng hạn: Quân đội nhân dân có 4 âm tiết.

Tuy nhiên, về mặt thính giác, người ta thấy ngay rằng trong một âm tiết cũng cóthể thấy ngay nó bao gồm những yếu tố không đồng nhất, không cùng độ cao, khôngcùng độ dài, âm sắc… Nhờ đặc điểm ấy, người ta có thể tiếp tục chia âm tiết thành nhữngđơn vị nhỏ nhất, tận cùng của sự phân chia Chẳng hạn âm tiết “hoá” có thể phân chia rađược bốn yếu tố nhỏ nhất khác nhau là h, o, a và thanh sắc Về mặt cấu âm, người ta cũngthấy rằng các yếu tố nói trên được cấu tạo tại các vị trí cấu âm khác nhau theo nhữngcách thức khác nhau Mỗi yếu tố tận cùng cùa sự phân tiết trong chuỗi lời nói như vậyđược gọi là một âm tố

Vậy âm tố là một đơn vị thuộc bình diện lời nói, nó là đơn vị cấu âm – thính giác nhỏ nhất của chuỗi lời nói trong quá trình phân tiết.

Người ta dùng ký hiệu chữ cái La tinh đặt trong móc vuông để ghi lại âm tố Ví dụ: [a]

2 Các đặc trưng chung của âm tố

2.1 Các đặc trưng âm học (mặt vật lý của ngữ âm)

Âm thanh ngôn ngữ cũng giống như các âm thanh khác trong thế giới quanh ta, về mặtbản chất vật chất đều là những sóng âm lan truyền trong một môi trường nhất định (chủyếu là không khí).Những thuộc tính âm học sau đây là những đại lượng thường đượckhảo sát khi nghiên cứu ngữ âm

Trang 16

2.1.1 Cao độ:

Cao độ là độ cao thấp của âm và được đo bằng đơn vị gọi là tần số dao động của

âm thanh Tần số là những chu kỳ giao động của sóng âm được thực hiện trong một giây.Tần số lớn thì giọng phát ra cao và ngược lại Đơn vị đo tần số là Hz (Hertez) Nhìnchung giọng của phụ nữ và trẻ em có tần số cao hơn nam giới nên âm thanh cũng bổnghơn, còn âm thanh tiếng nói của nam giới thì trầm hơn và đục hơn Nhưng dù bổng haytrầm, trong hay đục thì độ lớn cũng ở trong phạm vi từ 26 – 2500Hz thì tai người mớinghe được

Ngôn ngữ học phân biệt cao độ tương đối và cao độ tuyệt đối Sự khác nhau vềcao độ của giọng nói giữa người này với người khác, giữa các cá nhân với nhau gọi là cao

độ tuyệt đối; điều này hoàn toàn không có ý nghĩa gì vì nó không tạo ra một giá trị khubiệt nào cả Ngôn ngữ học chỉ quan tâm tới cao độ tương đối, tức là sự khác nhau về cao

độ giữa các bộ phận, các đơn vị ngữ âm, bởi lẽ chính điều đó mới tạo nên sự phân biệtgiữa các đơn vị ấy với nhau và mới tạo ra sự khu biệt về ý nghĩa của các đơn vị ngữ âm.Cao độ tương đối cũng là yếu tố cơ bản để tạo ra những hiện tượng ngữ âm thanh điệu,ngữ điệu và trọng âm

2.1.2 Cường độ:

Cường độ là độ mạnh yếu của âm thanh, yếu tố quyết định cường độ lời nói là độchấn động (độ rung) mạnh hay yếu của dây thanh Đơn vị đo cường độ là dB (decibel).Cũng như cao độ, trong ngữ âm học thì cường độ tương đối mới là điều quan trọng, nó làyếu tố cùng với độ cao tương đối tạo nên các hiện tượng ngữ âm như thanh điệu, ngữđiệu trọng âm nói trên

2.1.4 Âm sắc:

Âm sắc là sắc thái riêng của âm thanh, âm thanh lời nói cũng giống như mọi âmthanh khác trong tự nhiên, là một phức hợp âm thanh bao gồm một âm trầm nhất đượcgọi là âm cơ bản và một loạt âm cao hơn bao quanh nó được gọi là hoạ âm Chính mốitương quan giữa âm cơ bản và các âm cao hơn (hoạ âm) về mặt cao độ và cường độ sẽtạo nên những âm khác nhau của âm Trong giọng nói của con người âm được tạo nênbởi sự rung động hoặc sự căng lên của dây thanh phát ra từ cổ họng gọi là âm cơ bản Khi

đi qua các khoang cấu âm, một mặt nó được các khoang cấu âm cộng hưởng cho to lên,

Trang 17

mặt khác sự cộng hưởng của miệng, mũi cũng tạo ra các hoạ âm Do sự khác nhau về hoạ

âm mà âm sắc của các âm cũng có sự khác nhau

Nhìn chung âm cơ bản trong giọng nói của mọi người gần giống nhau nhưng dohộp cộng hưởng và cấu trúc các bộ phận cấu âm trong khoang cộng hưởng của mỗi người

có khác nhau mà âm sắc giọng nói của người này cũng khác người kia Có thể so sánh âmsắc giọng nói của các cá nhân với âm thanh tiếng đàn Mọi loại đàn đều có 6 nốt nhạc cơbản là: đồ, rê, mi, pha, son, la, xi nhưng do chất liệu và cấu trúc hộp cộng hưởng của cácloại đàn khác nhau mà âm sắc của chúng cũng khác nhau

2.2 Các đặc trưng cấu âm (mặt sinh lý của ngữ âm)

Vì âm thanh tiếng nói là do con người phát ra nên nó không chỉ được nghiên cứu

từ các đặc trưng âm học mà nó còn được nghiên cứu từ những đặc trưng cấu âm, tức làcác đặc trưng sinh lý học nhằm chỉ ra các cơ chế cấu tạo đối với các bộ phận âm thanhkhác nhau của lời nói Dưới đây là một số vấn đề có liên quan đến phương diện nghiêncứu này

Bộ máy phát âm của con người:

2.2.1 Dây thanh: Đó là hai cơ mỏng nằm song song nhau theo chiều dọc của thanh hầu

nằm trong phía trên khí quản Thanh hầu được cấu tạo bằng một hộp sụn nhô ra phíatrước (người Châu Âu gọi là quả táo ông Ađam và người Lào gọi là Cổ ốc) Dây thanhkhi mở ra, khép lại hay căng nên đều tạo ra sóng âm Đây là bộ phận cấu âm đầu tiên biếnluồng hơi từ phổi thành âm thanh tiếng nói

2.2.2 Các khoang cộng hưởng phía trên thanh hầu: Bao gồm các khoang như: khoang

yết hầu và phần tiếp giáp với thanh hầu, khoang miệng và khoang mũi, giữa khoangmiệng và khoang mũi ngăn cách nhau bởi vòm miệng gọi là ngạc Ngạc chia làm 3 bộphận: phía trước gần răng gọi là ngạc cứng, phía gần họng gọi là ngạc mềm, phía giữatrên vòm họng đựơc gọi là mạc Khoang yết hầu ngăn cách với khoang miệng bởi tiểuthiệt còn gọi là nắp họng Mỗi lần dao động, dây thanh tạo ra một âm cơ bản với một âmsắc tương ứng với các khoang cộng hưởng ở phía trên Trong mỗi khoang cộng hưởng cócác bộ phận cấu âm khác nhau góp phần làm thay đổi các hoạ âm Đây là cơ sở để miêu

tả đối với các nguyên âm và phụ âm

2 Răng cửa hàm trên 10 Răng cửa hàm dưới

5 Khoang mũi 13 Gốc lưỡi

6 Khoang miệng 14 Yết hầu

Trang 18

- Các kiểu tạo âm:

+ Xét theo luồng hơi có 3 kiểu tạo âm:

1 Kiểu tạo âm lấy nguồn hơi từ phổi là kiểu tạo âm phổ biến và quen thuộc trong nhiềungôn ngữ, trong đó có tiếng Việt, ở kiểu tạo âm này, những phụ âm tắc như [b], [d]…gọi là “âm nổ” để phân biệt với phụ âm tắc trong các kiểu tạo âm khác không sử dụngnguồn hơi ở phổi

2 Kiểu dùng nguồn hơi ở họng chỉ gặp ở một số ít ngôn ngữ ở kiểu này có 2 trườnghợp: Một là: khi khe thanh hay thanh môn đóng lại, khối không khí ở phía trên thanhmôn được đẩy ra ngoài nhưng bị chặn lại ở một vị trí nào đó (chẳng hạn ở môi hoặc ởrăng, hoặc giữa đầu lưỡi và lợi) làm cho không khí ở đó tăng lên đến mức phải phá vỡ sựcản trở ấy tạo thành tiếng bật mạnh gọi là âm bật Người ta dùng ký hiệu dấu “ ’” đặt ởphía trên, sau ký hiệu ghi âm để ghi âm bật Ví dụ: [t’], [k’] Hai là thanh môn khôngđóng hẳn mà khi đó thanh hầu hạ xuống thấp xuống làm cho không khí ở họng không đi

ra mà lại đi vào Những âm được tạo ra theo kiểu này gọi là âm đóng và người ta dùng

ký hiệu là một móc vòng phía trên đầu ký hiệu ghi âm Ví dụ: [b] [d] là âm [b] đóng và

âm [d] đóng

3 Kiểu phát âm lấy luồng hơi từ vòm họng (mạc) là kiểu rất phổ biến, chỉ thấy ở một sốngôn ngữ thổ dân châu Phi Kiểu này giống như người Việt chậc lưỡi miễn cưỡng hoặcgọi gà Âm tạo ra theo cách này gọi là âm mút Ký hiệu dùng để ghi lại âm mút này làchữ ‘t’ lộn ngược, còn âm mút ngạc là chữ ‘e’ hoa vuông [e]

+ Xét theo sự khép mở của dây thanh: Khi phát âm, hai dây thanh khép vào mở ra dưới

sự điều khiển của hai sụn hình chóp Nếu khi hai dây thanh khép vào mở ra liên tục thì

sẽ tạo ra các âm gọi là hữu thanh Còn khi hai dây thanh căng lên thanh môn mở rộng,không khí đi ra tự do thì sẽ tạo ra các âm không có chút thanh nào mà chỉ có tiếng động,được gọi là âm vô thanh Còn khi thanh môn mở không rộng lắm, hai dây thanh tuy căng

ở xa nhau nhưng có một chút rung động nhẹ, ta sẽ được một phụ âm giọng mở hoặctiếng thì thào, ký hiệu là một dấu ngang đặt trên ký hiệu ghi âm ví dụ [h-] Trong trườnghợp hai sụn hình chóp giáp lại kẹt chặt lấy dây thanh, làm cho dây thanh chỉ rung độngđược ở một phía bên kia thanh âm, âm dược tạo ra trong trường hợp này gọi là âm giọngkẹt và người ta dùng ký hiệu là dấu phảy đặt trước ký hiệu ghi âm của âm đó Ví dụ [‘y]

II Phân loại âm tố

1 Phân biệt nguyên âm và phụ âm

Khi quan sát các âm tố trong chuỗi lời nói, người ta thấy rằng mỗi âm tố có nhữngđặc trưng về mặt cấu âm và thính giác (âm học) khác nhau Chẳng hạn trường đo độ dàihay ngắn, âm được phát ra theo phương thức tắc hay sát hoặc rung, vị trí cấu âm của âm

đó là ở bộ phận nào trên bộ máy phát âm Dựa trên các cơ sở về cấu âm và âm học như

Trang 19

vậy, người ta quy các âm tố về hai loại là nguyên âm và phụ âm Có thể thấy được sựkhác nhau giữa các âm tố nguyên âm và các âm tố phụ âm qua bảng so sánh sau đây:

- Khi phát âm hai dây thanh căng đều,

nắp họng mở ra, luồng hơi đi ra tự do

không bị cản trở bởi bất kỳ bộ phận nào

trên các khoang cộng hưởng nên được

gọi là nguyên âm

- Sau khi chấn động của dây thanh nắphọng đóng lại, luồng hơi từ đó thoátmạnh ra ngoài và bị cản trở ở khoangcấu âm, bị các bộ phận cấu âm chặn lại

Âm tạo ra chủ yếu do sức đẩy củakhông khí thắng sự cản trở nói trên nêngọi là phụ âm

- Do luồng hơi đi ra tự do nên cường độ

của âm yếu Khi phát âm, toàn thể cơ

quan phát âm đều căng lên

- Do luồng hơi đi ra bị cản trở nên đểthoát được ra ngoài ở vị trí cấu âu phảitạo ra một lực mạnh thắng được sự cảntrở ấy Do vậy mà cường độ của âmmạnh, cơ quan cấu âm căng cục bộ

- Các tiêu chí cấu âm được xét là độ mở

miệng (rộng hay hẹp) hình dáng của

môi (tròn hay không tròn) độ nâng cảu

lưỡi (cao hay thấp) vì khi phát âm

không khí đi ra tự do nên không xác

định được các điểm cấu âm cụ thể

- Các tiêu chí cấu âm được xét chủ yếu

là tại các điểm không khí bị cản trở,điểm đó được gọi là các vị trí cấu âm vàcác âm tạo ra sẽ được gọi tên theo các

vị trí cấu âm đó như: môi- môi, đầu lưỡi– răng, đầu lưỡi - ngạc

2 Miêu tả nguyên âm

- Cơ sở và các tiêu chuẩn: Để phân biệt được các nguyên âm, đương nhiên là không thểcăn cứ vào vị trí cấu âm (vì luồng hơi không bị cản trở tại bất kỳ vị trí cấu âm nào) màphải căn cứ vào âm sắc của chúng, âm sắc của nguyên âm lại phụ thuộc vào các khoangcộng hưởng Vì thế, miêu tả các nguyên âm để xác định chúng thực chất là miêu tả cáckhoang cộng hưởng, xem với mỗi nguyên âm thì các khoang cộng hưởng khác nhau rasao

Các khoang cộng hưởng được miêu tả với 3 tiêu chuẩn:

1 Độ mở của miệng: có 4 mức là rộng, hơi rộng, hơi hẹp và hẹp.

2 Vị trí của lưỡi ở phhía trước hay thụt về phía sau: có ba vị trí của lưỡi là: hàng

trước, hang giữa, hàng sau

3.Hình dáng của môi: tròn môi hay không tròn môi (dẹt) Ba tiểu chuẩn đó là cần

và đủ để xác định khả năng cộng hưởng của mỗi khoang rỗng (khoang miệng) vì nó nóilên được thể tích, hình dáng và lối thoát không khí của khoang cộng hưởng đó

Trang 20

- Hình thang nguyên âm quốc tế: Tất cả các nguyên âm được miêu tả theo ba tiêu

chuẩn trên đây đều là các âm chuẩn hay là các nguyên âm tiêu biểu Người ta dùng mộtloại biểu đồ có thể miêu tả và trình bày tất cả các nguyên âm chuẩn của một ngôn ngữnào đó, gọi là sơ đồ hình thang nguyên âm quốc tế sơ đồ này được xây dựng với nhữngquy ước sau:

+ Ba vạch đứng từ trái qua phải là 3 hàng nguyên âm: trước, giữa, sau

+ Bên trái mỗi vạch đứng dành để ghi các nguyên âm không tròn môi Bên phải cácnguyên âm tròn môi

+ Trên mỗi vạch đứng từ trên xuống dành để ghi các nguyên âm theo độ mở của miệngvới 4 mức từ hẹp đến rộng

- Ký hiệu phiên âm đối với một số nguyên âm chuẩn tiêu biểu,

Để ghi lại lời nói người ta dùng chữ viết, song có những thứ tiếng lại không ghi âm trựctiếp mà sử dụng loại chữ ghi ý (như chữ Trung Quốc) hoặc có loại chữ ghi âm nhưng ghi

cả âm tiết nên những chữ viết ấy không thể ghi lại chính các âm thanh của ngôn ngữ ấy.Mặt khác, ngay trong các loại văn tự ghi âm tố thì quan hệ giữa âm và chữ cũng có nhiềutrường hợp không nhất quán, thường có những hiện tượng xảy ra như sau: Hoặc là mộtchữ ghi nhiều âm như chữ a của tiếng Anh ghi cả những âm [a] dài và âm [a] ngắn thậmchí có thể ghi tới 8 âm: a, c, â, ơ,… Hoặc là một âm nhưng lại dược ghi bằng nhiều conchữ như trong tiếng Việt, một âm [k] được ghi bằng 3 con chữ khác nhau: k, c, q Do đó,

để có một hệ thống ký hiệu thống nhất dùng trong mọi trường hợp, ghi lại mọi âm trongcác ngôn ngữ khác nhau Hội ngữ âm học quốc tế đã đề nghị mộ bộ ký hiệu phiên âm.Các ký hiệu phiên âm trong hệ thống này phần lớn giống với các chữ cái Latinh nhưngđôi khi cũng có thay đổi chút ít như chữ cái bị đảo ngược, ví dụ chữ ‘c’ đổi thành chữ ‘c’lộn ngước về bên trái để để ghi âm ‘o’ dùng ‘∂’ để ghi âm ‘â’ có trường hợp dùng thêmchữ cái Hy Lạp như “ép – xi-lon” “ε” để ghi âm “e” hoặc sử dụng triệt để các dạng khácnhau của cùng một chữ cái để ghi các âm khác nhau như A, a, hoặc a viết thường và aviết thường lộn ngược để ghi các dạng nguyên âm [a] Ngoài ra người ta còn dùng thêmmột số dấu phụ như : [~] dùng để ghi nguyên âm bị mã hoá

Dưới đây là một số nguyên âm chuẩn thường gặp:

[i]: trong ‘đi’ tiếng Việt “Seat” [si:i] (chỗ ngồi) tiếng Anh; “Si” [si] (nên) tiếng Pháp[I] trong “Sit” [sit] (ngồi, động từ) tiếng Anh

[e] trong ‘bê’ tiếng Việt , ‘bed’ (giường) tiếng Anh, fee (fe) (tiếc) tiếng Pháp

[ε ] trong ‘xe’ tiếng Việt, fête [fεt ] (tết) tiếng Pháp

[A ] a hàng sau như trong “an” tiếng Việt, “hard” [ha:d] (cứng) tiếng Anh

[ ] a hàng trước như trong “qua” tiếng Việt, “patte” [pat] (chân) tiếng Pháp

[o] a tròn môi gần như o trong “hot” [hot] (nóng) tiếng Anh, “dog’’ [dog] (chó) tiếngAnh

Trang 21

[o] trong “cô” tiếng Việt “mode” [mod] (mốt) tiếng Pháp

[u] không tròn môi hơi mở hơn bình thường như “good” [gu:d] (tốt) tiếng Anh

[Y] tròn môi như “tu” [tY] (mày, anh) tiếng Pháp

[oe] tương ứng với [ε ] nh ưng dẹt hơn

[^] trong ‘but’ [b^t ] (nh ưng) tiếng anh

[∂] trong ‘m ở c ờ’’ tiếng Việt

Ngoài ra còn có một số ký hiệu ghi bán nguyên âm Bán nguyên âm những nguyên âmkhông ở đỉnh âm tiết, khi phát âm thường bị lướt đi vào tiếng xát nhẹ Để ghi những âm

ấy, người ta dùng 3 ký hiệu là [j] [w] [Y] [j] trong tiếng Việt khi đứng sau nguyên âmchính: ‘đa” [daj] trong tiếng Anh khi đứng trước nguyên âm chính như “yes” [jes] (vâng)trong tiếng Pháp cũng vậy: “pied” [Pje] (bàn chân)

[w] nhưng dẹt hơn gần như “uy” tiếng Việt hoặc như “we” [wi] chúng tôi trong tiếngAnh, “oui” [wwi] (vâng) trong tiếng Pháp “oan” (wan) trong tiếng Việt

[Y] nhưng chỉ có trong tiếng Pháp như “nyit” (đêm)

*Các nguyên âm đôi: Khi hai nguyên âm đứng với nhau mà không có âm nào bị đọc

lướt đi mà có xu hướng hoà thành tổ hợp để tạo thành âm tiết chung thì gọi là nguyên âmđôi là “ươ-ưa” “uô-ua”, “iê-ia” trong tiếng Anh có cặp “ow” trong How [hau] (sao thế,nào) Nhưng cũng có những ngôn ngữ không có hiện tượng nguyên âm đôi nói trên

3 Miêu tả phụ âm

3.1 Cơ sở và tiêu chuẩn: Các phụ âm được cấu tạo do sự cản trở không khí trên lối thoát

của nó Có nhiều cách cản trở khác nhau gọi là các phương thức cấu âm, còn cản trở ở vịtrí nào của bộ máy phát âm thì được gọi là vị trí cấu âm Do đó, miêu tả phụ âm tức làxác định phụ âm theo 2 tiêu chuẩn: phương thức cấu âm và vị trí cấu âm

Về phương thức cấu âm thì có 3 phương thức: tắc, xát, rung.

Về vị trí cấu âm thì nếu tính từ ngoài vào trong có các nhóm phụ âm: môi –

môi, môi – răng, đầu lưỡi – răng, đầu lưỡi - lợi, đầu lưỡi - ngạc, quặt lưỡi, mặt lưỡi, ngạccứng, âm yết hầu, âm thanh hầu…

3.2 Các ký hiệu phụ âm: Theo phương thức tắc, có các phụ âm thuộc các nhóm sau:

+ Phụ âm tắc điển hình [b, d, p,k,t], (b, đ, p, k, q, c, t)

+ Phụ âm tắc bật hơi: [t’, p’, k’] (th, ph, kh)

+ Phụ âm tắc mũi: [m, n] (m, n)

+ Phụ âm tắc xát: [t’] (ch)

3.2.1 Theo phương thức xát: Khi phát âm, luồng hơi không bị cản trở hoàn toàn mà

nách qua một khe hở hẹp do hai bộ phận cấu âm tạo ra và cọ sát với thành cửa khe hẹp đó

mà tạo ra tiếng xát hay âm xát Có 2 nhóm:

+ Phụ âm xát điển hình ờ, v, z, s, t’] (ph, v, d, r, s, th)

Trang 22

+ Phụ âm xát bên: [I] (i)

3.2.2 Theo vị trí cấu âm có các nhóm phụ âm sau:

+ Hai môi: [b, p,m]

+ Môi răng: [f, v]

+ Giữa răng: đầu lưỡi để giữa răng cửa hàm trên và hàm dưới [η]

+ Đầu lưỡi – răng: đầu lưỡi và răng của hàm trên [t, d] vô thanh

+ Đầu lưỡi - lợi: [t,d, s, z, n]

+ Quặt lưỡi: [tr, s]

+ Đầu lưỡi ngạc cứng: [k, p]

+ Gốc lưỡi: [h]

3.2.3 Cấu âm bổ sung: Những phụ âm miêu tả trên đây là những phụ âm điển hình và bị

cô lập khỏi hoàn cảnh ngữ âm cụ thể Nhưng trong thực tế lời nói thì hầu như không cóhiện tượng cô lập hoàn toàn như vậy nên ngoài những đặc trưng cấu âm vốn có, chúngcòn mang thêm những cách cấu âm khác nữa gọi là cấu âm bổ sung hoặc cấu âm phụ Có

4 loại cấu âm phụ quan trọng như sau:

+ Ngạc hoá: là hiện tượng lưỡi nâng cao thêm một chút khi phát âm so với trường hợpbình thường Ký hiệu là thêm vào chữ “j” bên trên ký hiệu phiên âm chính Ví dụ [Kj ]+ Môi hoá: là hiện tượng thêm vào tính chất tròn môi so với bình thường Ký hiệu: thêmvào bên trên ký hiệu phiên âm chữ “o” hoặc “w” như: [tw] hoặc [to]

+ Mạc hoá” : là hiện tượng khi phát âm lưỡi thích về phái mạc hơn so với bình thường.Khi ghi âm thường dùng thêm dấu ngã vào phía trên ký hiệu phiên âm Ví dụ “milk”[mĩlk] (sữa)

+ Yết hầu hoá: Là hiện tượng thêm vào động tác co yết hầu so với bình thường Ký hiệuthêm dấu “α”bên ký hiệu phiên âm như [mα]

III Âm vị và biến thế âm vị

1 Âm vị

Khi phân tích âm tố, đơn vị cấu âm – thính giác nhỏ nhất, người ta xác nhận đượccác đại lượng đặc trưng về âm học và cấu âm tiêu biểu của từng âm Đó là những đặctrưng thoả đáng mà nhờ nó, không những có thể phân biệt được về ý nghĩa của các đơn vịngôn ngữ do chúng tạo nên mà còn phân biệt được các âm tố với nhau trong cùng mộtchuỗi âm thanh Chẳng hạn [t] có các đặc trưng: tắc, không bật hơi, đầu lưỡi - lợi có thểphân biệt với [t’] có các đặc trưng: tắt, bật hơi, đầu lưỡi - lợi Đó là các đặc trưng có tínhbắt buộc ở mỗi lần phát âm Mọi lần hát âm [t] đều phải theo phương thức tắc, không bậthơi và đặt đầu lưỡi vào lợi hàm trên Tổng thể các đặc trưng thoả đáng xuất hiện đồngthời trong tất cả moi lần phát âm được gọi là âm vị Ký hiệu âm vị là âm tố đặt trong haivạch chéo Ví dụ /t/

Trang 23

Martinet định nghĩa âm vị như sau: “âm vị là một tổng thể các đặc trưng thoả

đáng xuất hiện đồng thời dùng cho mọi lần phát âm.

Âm vị là tổng thể các nét khu biệt được thể hiện đồng thời của cùng một loại âm tố

và có chức năng phân biệt các đơn vị ngôn ngữ

Như vậy, âm vị là một đơn vị trừu tượng, làm cơ sở cho mọi lần phát âm Trong việcsản sinh ra lời nói phục vụ giao tiếp, mỗi lần phát âm là một âm vị được thực hiện hoáthành âm tố Các âm tố này trên thực tế không hoàn toàn giống hệt nhau trong tất cả cáclần phát âm Mọi người không thể đặt lưỡi, để môi,mở miệng hay khép miệng y nhưnhau Ngay trong một cá nhân thì mọi lần phát âm cũng không thể giống nhau hoàn toàn

Do đó, mỗi lần phát âm sẽ tạo ra một biến thể của âm vị Biến thể đó chính là các âm tố,

là sự hiện thực hoá của âm vị trong mỗi lần phát âm Như thế, một âm vị sẽ có thể có vô

số các âm tố, tức là có vô số các biến thể

Nếu đối lập ngôn ngữ và lời nói thì có thể coi âm vị thuộc bình diện ngôn ngữ, còn âm tốthuộc bình diện lời nói

+ Còn biến thể bắt buộc là những biến thể do bối cảnh ngữ âm quy định và cònđược gọi là biến thể kết hợp chẳng hạn [t] khi đi kèm với một nguyên âm tròn môi nên

nó cũng bị tròn môi hoá thành [t0] ví dụ trong từ two trong tiếng Anh, từ tu, to trongtiếng Việt Tuy nhiên, nói biến thể tự do cũng không phải là tự do hoàn toàn mà chỉ được

tự do trong khuôn khổ xã hội chấp nhận được Mỗi các nhân có thể phát âm theo cách củamình trong một phạm vi nào đó, quá phạm vi đó sẽ bị coi là sai Chẳng hạn, nếu mộtngười Việt phát âm [d] thành [t] như kiểu đồng chí thành tổng chí thì sẽ bị coi là sai;nhưng lời lẽ thành nhời nhẽ lại có thể chấp nhận được Trong vô vàn các biến thể, mộtcộng đồng ngôn ngữ bao giờ cũng lấy những biến thể trong một phạm vi nào đó và coi làchuẩn và chấp nhận được Người học ngoại ngữ cần biết điều này để tránh hai thái cực:hoặc là quá câu nệ phải bắt chước cho kỳ được giọng nói của người bản ngữ (điều này tốtnhưng không thật cần thiết bởi vì cho dù giọng đó có hay đến bao nhiêu cũng chỉ là mộtdạng biến thể mà thôi); hoặc phát âm tuỳ tiện, không chịu rèn luyện những cách phát âm

cơ bản và hợp với quy định, tạo ra một giọng ngoại lai không được người bản ngữ chấpnhận

IV Âm vị siêu đoạn tính

Trang 24

1 Âm vị đoạn tính và âm vị siêu đoạn tính

Khi phát âm một âm tiết, nếu theo dõi trên trục thời gian tuyến tính thì sẽ thấy, trongmột âm tiết thường xảy ra hai loại sự kiện Một loại sự kiện có thể phân đoạn được vềmặt thính giác và cấu âm theo trình tự thời gian như các nguyên âm và phụ âm Người tagọi loại sự kiện này là sự kiện đoạn tính, chẳng hạn khi phát âm “nhân” thì rõ ràng cácnguyên âm và phụ âm phải lần lượt được xuất hiện theo trình tự nh – a – n Loại sự kiệnthứ hai không thể phân biệt được về cấu âm và thính giác trên trục trình tự thời gian nhưngữ điệu, thanh điệu, trọng âm, và chúng được gọi là các sự kiện siêu đoạn tính

2 Âm tiết

2.1 Vấn đề định nghĩa âm tiết: Âm tiết là một đơn vị phát âm nhỏ nhất, mỗi âm tiết

tương đương với một lần phát âm Tuy thế định nghĩa về âm tiết lại thật không đơn giản.Nguyên nhân là định nghĩa đó khó có thể thích ứng với tất cả các ngôn ngữ được Vì thếchỉ có thể chấp nhận các định nghĩa khác nhau tuỳ theo đặc điểm của một nhóm ngônngữ nào đó Sau đây là một số cách định nghĩa

2.1.1 Định nghĩa theo chức năng: Âm tiết là một đoạn âm thanh được cấu tạo bởi một

hạt nhân là nguyên âm, ngoài ra còn có thể có các phụ âm bao quanh Theo cách địnhnghĩa này, tên gọi nguyên âm là có ngụ ý chỉ một loại âm mà tự nó có thể làm âm tiếtđược hoặc làm hạt nhân trọng tâm của âm tiết Còn phụ âm là loại âm phải kết hợp vớicác nguyên âm khác thì mới có thể tạo thành âm tiết được Đây là cách quan niệm âm tiết

và gọi tên âm tiết theo chức năng Cách này chỉ phù hợp với các ngôn ngữ đơn lập là loạingôn ngữ có cấu trúc âm tiết theo kiểu VC, CVC, CV, V+ thanh điện (C=phụ âm, V=nguyên âm) như tiếng Việt, tiếng Hán Còn ở một số ngôn ngữ khác, tình hình khôngphải đúng như vậy Bởi ở các ngôn ngữ đó, không phải nguyên âm mà phụ âm đóng vaitrò hạt nhân âm tiết Chẳng hạn trong tiếng Tiệp: ‘vek’ [vlk] (chó sói) hoặc trong tiếngAnh “bottle” [botl] (cái chai) thì các phụ âm như b, l, t đóng vi trò hạt nhân âm tiết Do

đó, quan niệm âm tiết theo chức năng cũng không thể phổ quát cho mọi ngôn ngữ được

2.1.2 Định nghĩa theo độ vang: Ol-to-Jes-per-sen nhận thấy rằng, các âm tạo thành âm

tiết có xu hướng tập hợp theo độ vang lớn nhất mà trong đại đa số các trường hợp độvang lớn nhất của âm tiết là nguyên âm, chỉ có một số trường hợp là phụ âm Theo sựquan sát của ông, các âm được ông sắp xếp theo độ vang từ thấp đến cao là:

Với phụ âm: Tắc vô thanh - tắc hữu thanh – xát – mũi – rung phân được về mặt thính giác

và cấu âm theo trình tự thời gian như các nguyên âm và phụ âm Người ta gọi loại sự kiệnnày là các sự kiện đoạn tính chẳng hạn khi phát âm “nhân” thì rõ ràng cá nguyên âm vàphụ âm phải lần lượt được xuất hiện theo trình tự nh –a - n Loại sự kiện thứ hai không thểphân biệt được về cấu âm và thính giác trên trục trình tự thời gian như ngữ điệu, thanhđiệu, trọng âm, và chúng được gọi là các sự kiện siêu đoạn tính

Trang 25

Học thuyết này tỏ ra phù hợp trong phần lớn các trường hợp, tuy thế có nhiều trường hợpcũng không hoàn toàn thật chính xác Chẳng hạn, âm tiết ‘ p–rin-zm” (lăng kính) có [m]

là phụ âm cuối mà lại có độ vang cao hơn z [s] đi trên nó thành ra âm tiết này có 2 đỉnh

về độ vang Vì vậy nên theo định nghĩa trên, nó phải có 2 âm tiết Tương tự như vậy

“spa” vốn là một âm tiết nhưng có 2 đỉnh về độ vang, nếu theo định nghĩa nó phải là 2 âmtiết

2.1.3 Định nghĩa theo độ căng cơ: Đây là cách định nghĩa dựa trên cơ sở sinh lý học do

M.Gam – mtrt, P,Fou-ché và L.V Sher-ba chủ trương Quan điểm này cho rằng khi phát

âm bao giờ cũng có hiện tượng các cơ căng ở đầu âm tiết và chùng với cuối âm tiết Địnhnghĩa này đạt được tính phổ quát cao nhất và được chứng minh bằng các thành tựu củalĩnh vực âm học Song khó khăn là ở chỗ, khi vận dụng vào các trường hợp nghiên cứu

cụ thể, việc sử dụng các máy móc chính xác để theo dõi độ căng, cùng của các cơ là hếtsức khó khăn và không phổ biến rộng rãi, không đơn giản và tiện lợi được

2.2 Phân loại âm tiết: âm tiết thường được phân loại theo kết thúc âm tiết Âm tiết được

kết thúc bằng nguyên âm được gọi là âm tiết mở Ví dụ: ta, cha, sơ hử, đê mê… âm tiếtđược kết thúc bằng phụ âm gọi là âm tiết khép Ví dụ: bát, bác

3 Ngôn điệu và các loại âm vị siêu đoạn tính

3.1 Ngôn điệu

Trong các ngôn ngữ có những hiện tượng ngữ âm không được thể hiện riêng rẽtrên tuyến thời gian mà được thể hiện đồng thời với các hiện tượng ngữ âm khác (âmtiết, cụm âm tiết ) và do đó không thể xác định được khoảng thời gian kéo dài của chúngnhư là những khúc đoạn trên dòng thời gian Người ta gọi chung đây là những hiện tượngngôn điệu

Các hiện tượng ngôn điệu có thể được dùng để khu biệt các đơn vị ngôn ngữ vàkhi ấy chúng sẽ được coi là những âm vị, tức là những âm vị siêu đoạn tính

3.2 Các loại âm vị siêu đoạn tính

Trang 26

‘import’ đọc: [im’p:t] nhập khẩu (động từ)

Trọng âm được đặt vào đơn vị ngôn ngữ nào thì gọi tên trọng âm theo đơn vị ngôn ngữ

ấy như: trọng âm từ, trọng âm ngữ đoạn, trọng âm câu

3.2.3 Ngữ điệu:

Ngữ điệu là sự biến đổi của giọng nói diễn ra trong một chuỗi âm thanh lớn hơn

từ Ngữ điệu có thể đảm nhận các chức năng khác nhau như: 1 Chức năng cú pháp, nhờ

nó mà người ta phân biệt được các loại câu, các hành động ngôn ngữ như hỏi, khẳngđịnh, phủ định, cảm thán, mệnh lệnh 2 Chức năng biểu thị các loại ý nghĩa khác nhautrong cùng một câu có các thành tố cấu tạo và cấu trúc ngữ pháp như nhau 3 Chức năngbiểu cảm 4 Chức năng đặc trưng cho từng ngôn ngữ: Mỗi thứ tiếng có một đặc trưngngữ điệu riêng nên nhờ ngữ điệu mà người ta có thể nhận ra đấy là một ngôn ngữ nào đó

V Sự biến đổi ngữ âm

1 Tại sao có sự biến đổi ngữ âm

Tất cả các hiện tượng ngữ âm kể cả hiện tượng đoạn tính lẫn các hiện tượng siêuđoạn tính được xét và miêu tả như trên đây là những hiện tượng được xem xét trong sựđộc lập tương đối tách biệt với ngữ cảnh và từng trường hợp phát âm Trên thực tế,cáchiện tượng ngữ âm nằm trong các dòng ngữ lưu cụ thể, hay nói cách khác, đều thuộc bìnhdiện lời nói, do vậy chúng thường chịu những tác động của môi trường ngữ âm mà bịbiến đổi đi

Nguyên nhân của sự biến đổi ngữ âm thì có nhiều, song có thể quy về 3 loạinguyên nhân chính sau: 1 Những nguyên nhân ngôn ngữ học, tức là các nguyên nhânbiến âm xuất phát từ chính cơ chế vận động nội tại của bản thân các yếu tố ngữ âm 2.Những nguyên nhân tâm lý xã hội, tức là các biến âm xảy ra dưới tác động của các hiệntượng thuộc về tâm lý xã hội của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ 3 Nguyên nhân tiết kiệm

2 Các kiểu biến đổi ngữ âm

2.1 Biến âm trong ngữ lưu tức là những biến âm xảy ra do bản thân sự phát âm Loại

này gồm có các hiện tượng:

2.1.1 Hiện tượng thích nghi: Là hiện tượng xảy ra khi có sự kết hợp giữa một nguyên

âm và một phụ âm trong đó một âm sẽ bị biến dổi đi để phù hợp với âm bên cạnh bằngcách thêm vào các cấu âm bổ sung vốn có hoặc đặc trưng cấu âm của âm bên cạnh nó Ví

dụ [t] trong tiếng Việt không tròn môi nhưng do nó đi với các nguyên âm tròn môi như

‘u’, ‘o’ mà có thêm hiện tượng tròn môi trong các âm tiết tu, to

2.1.2 Hiện tượng đồng hoá: Đồng hoá cũng là hiện tượng thích nghi nhưng xảy ra với

hai âm tố cùng loại Tức là khi hai nguyên âm hoặc hai phụ âm còn lại Chẳng hạn, trongtiếng Việt tít mắt thường bị nói thành típ mắt là do trong phát âm [t] là một phụ âm tắc -đầu lưỡi răng nên khi đi liền với phụ âm [m] là một phụ âm môi – môi khó phát âm, do

Trang 27

đó có sự biến đổi từ [t] thành[p] cho giống với [m] để dễ phát âm hơn Hoặc như trongtiếng Anh is she nguyên phải phát âm là [izsi] nhưng trong thực tế nó đã được biến đổithành [issi] tức là từ [z] biến thành [s] cho dễ phát âm hơn.

2.1.3 Hiện tượng dị hoá: là hiện tượng ngược với đồng hoá, tức là khi có hai âm hoàn

toàn giống nhau, đứng cạnh nhau thì một âm phải biến đổi cho khác đi so với hình thứcngữ âm ban đầu của nó Ví dụ trong tiếng Việt: nhỏ nhỏ thành nho nhỏ, tức tức thànhtưng tức…

2.1.4 Thêm âm: Là hiện tượng thêm vào một vài âm với trạng thái ban đầu để cho dễ

phát âm Ví dụ trong tiếng Pháp “Va il?” (nó đi à?) bị biến đổi thành : “Va – t – il?” hoặctrong tiếng Việt: ai ấy thành ai nấy, người nào người ấy thành người nào người nấy

2.1.5 Bớt âm: Là hiện tượng bớt đi một hoặc một số âm so với trạng thái ban đầu để cho

dễ phát âm Ví dụ trong tiếng Anh: I am thành I’m: do not thành don’t Trong tiếng Việtcũng có rất nhiều hiện tượng bớt âm như: nghỉ vì đẻ thành nghỉ đẻ, nghỉ để họp thànhnghỉ họp… Cũng có hiện tượng vừa bớt âm vừa kết hợp với biến âm Chẳng hạn: ông ấythành ổng, bà ấy thành bả, ba mươi mốt thành băm mốt, phải không thành phỏng…

2.2 Biến âm lịch sử: Là những hiện tượng biến đổi ngữ âm có tính quy luật của các ngôn

ngữ, diễn ra trong một thời kỳ lịch sử dài Ví du: blời thành giời, trời, blăng thành giăng,trăng, mlẽ thành nhẽ, lẽ trong tiếng Việt

2.3 Biến âm văn hoá: có thể chia các biến âm văn hoá theo các nguyên nhân văn hoá xã

hội cụ thể như sau:

2.3.1 Biến âm do nhu cầu trang nhã: Trong ngôn ngữ có những trường hợp hình thức

ngữ âm có thể gợi lên những cảm giác ghê rợn, bẩn thỉu nên khi nói người ta thường đọcchênh lệch đi để tránh cảm giác đó Ví dụ trong tiếng Việt: bãi thây ma thành bãi tha ma;

mả thànhmồ, mộ; hủi thành cùi, phong Trong tiếng Lào cũng có những hiện tượng tương

tự như: Pàxak (rừng xác chết, rừng thây) thành pà xá (rừng chậm)

2.3.2 Biến âm do kiêng kỵ: kiêng kỵ là tục lệ của một số dân tộc trong những thời điểm

nào đó Chẳng hạn, ở Việt Nam thời phong kiến người ta kiêng gọi tên tục nên các sự vậthiện tượng trùng với tên tục thì đều bị đọc trệch đi Ví dụ: Hồng thành hường, thì thànhthời, mạng thành mệnh

2.3.3 Biến âm do hàm ý chê bai, chậm chọc, trào lộng: là hiện tượng ngược lại với

hiện tượng trang nhã, khi người ta muốn tạo ra những âm gợi hiện tượng xấu hoặc cảmgiác ghê rợn hay tạo ra ý hài hước, trào lộng trong hình thức ngữ âm của từ Ví dụ, trongtiếng Việt: nhiếp ảnh thành nháy, ca sĩ thành ca sỡi, nghệ sĩ ưu tú thành nghệ sĩ ưu tí,danh ngôn thành ranh ngôn

2.3.4 Biến âm, để tạo ra tiếng lóng: Đây là hiện tượng người nói muốn tạo ra một hình

thức ngữ âm mới cho từ nhằm giữ bí mật thông tin giữa những người cùng giao tiếp Vídụ: Chích thành choác, trấn cướp thành tróc v.v…

Trang 28

B Chữ viết

1 Khái quát về chữ viết

Chữ viết là hệ thống tín hiệu thị giác dùng để ghi lại âm thanh ngôn ngữ vốn là các tínhiệu thính giác Chữ viết có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ nhưng không phải là ngônngữ Do đó, không nên đồng nhất chữ viết với ngôn ngữ Người ta có thể không biết chữnhưng vẫn có ngôn ngữ, vẫn sử dụng tốt ngôn ngữ và ngược lại Chữ viết cũng khôngphải là ngữ âm mà chỉ là một loại tín hiệu đồ hình để biểu thị ngữ âm mà thôi Việc biểuthị đó có thể trực tiếp như loại chữ ghi âm, cũng có thể gián tiếp như loại chữ ghi ý Mặtkhác, việc biểu thị đó cũng có thể chính xác mà cũng có thể chỉ gần đúng (vẫn còn nhữngsai lệch, không tương ứng giữa âm và chữ)

Về mặt lịch sử, ngôn ngữ xuất hiện cùng với ý thức xã hội và sự hình thành xã hộiloài người nhưng chỉ đến giai đoạn phát triển cao của xã hội thì mới có chữ viết Thậmchí, có những dân tộc, những bộ lạc cho đến nay vẫn chưa có chữ viết mặc dù vẫn cóngôn ngữ riêng

Chữ viết có vai trò cực kỳ to lớn đối với xã hội loài người Có thể nói,việc sáng tạo rachữ viết đã nâng cao vai trò không có gì có thể thay thế được của phương tiện giao tiếpngôn ngữ Bởi lẽ, chính nó đã làm cho ngôn ngữ có thêm một thể chất thứ hai là thể chấtthị giác bên cạnh thể chất vốn có từ trước của nó là thính giác Chẳng hạn, thể chất thínhgiác của ngôn ngữ dù sao cũng có những hạn chế nhất định như bị cản trở bởi không gian

và thời gian: Không nghe được từ quá xa, không thể lưu giữ được, nói xong là mất liền

“lời nói gió bay”, có độ dư lớn vì nhiều yếu tố thừa do phải nói đi nói lại, lặp đi lặp lại, dễ

bị nhiễu v.v… chữ viết đã góp phần khắc phục được những hạn chế ấy, vì nó là thể chấtthị giác nên có thể lưu giữ được chính xác và lâu dài qua thời gian, có thể chuyển quamọi khoảng cách không gian, không bị nhiễu, do đó có điều kiện rèn dũa được mặt vănchương của ngôn ngữ, giúp bộ nhớ của não ghi nhớ một cách chính xác mọi nội dunggiao tiếp cũng như tư tưởng, kết quả tư duy của con người, v.v…

Chữ viết có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội và sự phát triển của nhân loại Conngười chỉ có lịch sử đích thực từ khi có chữ viết, còn trước đó dù hàng triệu năm vẫn chỉđược coi là dã sử Cũng vậy nền văn minh hiện nay của xã hội hiện đại chỉ có thể dựatrên những tri thức, kinh nghiệm khoa học mấy ngàn năm của nhân loại từ khi có chữviết, còn trước đó mặc dù có thể đã hàng chục triệu năm và đã có thể có một nền vănminh hơn ngày nay, thì điều đó cũng hoàn toàn vô nghĩa vì nó chẳng còn lưu giữ lại đượcdấu vết gì cả, bởi chưa có chữ viết

Trang 29

từ mà nó ghi lại Chữ ghi ý có hai giai đoạn phát triển là giai đoạn chữ hình vẽ và giaiđoạn chữ tượng hình.

2.1.1 Chữ hình vẽ: Đây là loại chữ mà hình chữ vốn là những hình vẽ đơn giản và cách

điệu về sự vật, hiện tượng mà từ biểu thị Nó là sự phát triển và kế thừa hình thức giaotiếp bằng hình vẽ vốn đã tồn tại từ trước đó Ví dụ về một số kiểu chữ hình vẽ ở giai đoạnphát triển sau dưới đây còn lưu giữ lại trên các bức tường thành cổ, các bức tượng cổ khaiquật được hoặc trên các vách đá ở vùng Ai Cập, Lưỡng Hà và Trung Quốc:

Hình chữ Nghĩa Hình chữ Nghĩa Hình chữ Nghĩa

2.1.2 Chữ tượng hình:

Chữ tượng hình là giai đoạn phát triển sau của chữ hình vẽ, nhưng các hình chữ đãđược đơn giản hoá rất nhiều, đến mức phần lớn các hình chữ không còn liên hệ gì đếnhình ảnh thực tế của sự vật, hiện tượng mà nó biểu đạt Do đó, cho đến ngày nay thì chữghi ý đã trở thành các ký hiệu hoàn toàn có tính chất quy ước và võ đoán

Chẳng hạn, chữ Sume ở vùng Lưỡng Hà cách đây 6000 năm là loại chữ được vẽtrên những tấm đất sét rồi đem phơi nắng hoặc nung khô, về sau biến thành các nét chữnhư những chum didinh hoặc hình tam giác, các sách nghiên cứu ở Tây Âu gọi là chữhình góc Còn chữ Hán, từ hình chữ thành các nét và các bộ chữ như bộ thuỷ, bộ mộc, bộkhẩu, bộ tài gảy… Càng ngày chữ ghi ý càng lược bỏ bớt các nét để đơn giản hoá đi

2.2 Chữ ghi âm:

Chữ ghi âm là loại chữ không biểu thị nội dung ý nghĩa của từ mà tái hiện chuỗi âmthanh nối tiếp trong từ Chữ ghi âm thực chất đã nảy sinh trong lòng chữ ghi ý nên chắcchắn phải xuất hiện sau chữ ghi ý bởi vì, trong chữ ghi ý, mỗi chữ biểu thị một nội dung

ý nghĩa của từ nên thực chất cũng là ký hiệu ghi lại vỏ ngữ âm của từ Mặt khác, các tênriêng của chữ ghi ý không biểu thị khái niệm mà chỉ để gọi tên và phân biệt với nhaubằng âm hưởng (ngữ âm) nên các chữ ghi ý biểu thị tên riêng thực chất cũng là chữ ghi

Trang 30

âm của từ Trong chữ ghi ý, các từ đồng nghĩa thường cấu tạo bằng cách dùng một chữchung về nghĩa kết hợp với một bộ phận biểu thị ngữ âm Phần biểu thị ngữ âm này chính

là ký hiệu ghi âm

Chữ ghi âm cũng phải trải qua 2 giai đoạn, hình thành 2 kiểu chữ ghi âm là chữ ghi

âm tiết và chữ ghi âm tố

2.2.1 Chữ ghi âm tiết: là kiểu chữ mà mỗi chữ biểu thị một âm tiết ở trong từ Đó là chữ

Sume (hình góc) khoảng 2000 năm tr.CN, chữ Triều Tiên và Nhật Bản hiện nay So vớichữ ghi ý, chữ ghi âm tiết đã khá thuận lợi, bởi vì về số lưọng đã giảm đi rất nhiều, nótương ứng với số lượng âm tiết có trong ngôn ngữ mà số lượng âm tiết thì bao giờ cũngnhỏ hơn số lượng các từ của một ngôn ngữ

2.2.2 Chữ ghi âm tố: Là loại chữ mà mỗi chữ biểu thị một âm tố trong âm tiết Trong

chữ ghi âm tố có 2 loại, một loại chữ chỉ ghi phụ âm, còn các nguyên âm được biểu thịbằng các dấu phụ chứ không phải bằng các chữ - chữ Ả Rập, chữ Thái Lan, chữ Lào.Loại thứ 2 là loại chữ dùng chữ cái đó ghi cả nguyên âm và phụ âm như chữ Latin, chữViệt, chữ Anh, chữ Pháp So với chữ ghi ý, chữ ghi âm, đặc biệt là chữ ghi âm tố cónhững ưu hơn hản, bởi vì:

+ Số lượng ký hiệu trong chữ ghi âm, nhất là chữ ghi âm tố giảm xuống hàng trăm lần, do

đó tiết kiện được thời gian và công sức khi học tập cũng như sử dụng

+ Hình chữ đơn giản, tiện lợi, dễ học, dễ viết hơn

+ Chữ ghi âm có khả năng ghi lại chính xác và chặt chẽ câu nói từ hình thức đến nộidung, thể hiện được đầy đủ các cấp độ kết cấu âm tiết và từ, các yếu tố hình thái của từ,các đặc điểm ngữ pháp của từ, các đặc điểm cú pháp của câu và văn bản Nhờ đó, ngườiđọc có thể nắm được đầy đủ các nội dung lẫn hình thức của lời nói

Câu hỏi ôn tập

1 Ngữ âm là gì? Các phương diện nghiên cứu âm thanh ngôn ngữ? Tại sao ngữ âm lạiđược nghiên cứu từ hai phương diện tự nhiên và xã hội?

2 Âm tố là gì? Sự phân biệt nguyên âm và phụ âm dựa trên những cơ sở nào? Nêu cáctiêu chí phân biệt nguyên âm và phụ âm

3 Trình bày cơ sở, cách thức miêu tả nguyên âm và phụ âm Lấy ví dụ minh họa

4 Khái niệm âm vị, các biến thể của âm vị?

5 Khái niệm âm tiết, sự phân loại âm tiết?

5 Nêu khái niệm chữ viết Trong các ngôn ngữ thế giớ có mấy loại chữ viết? hãy miêu tảchúng

_

Trang 31

1 Hình vị - đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa

Khi phân tích từ, người ta thấy có thể phân xuất được các yếu tố nhỏ nhất bao gồm

cả hai mặt là âm và nghĩa Các đơn vị âm, nghĩa đó kết hợp với nhau theo một nguyên tắcnhất định tạo thành từ Ví dụ: đẹp đẽ = đẹp + đẽ, teacher = teach + er Các yếu tố đẹp, đẽ,teach, er gọ là từ tố hay hình vị

Vậy có thể định nghĩa hình vị như sau: hình vị là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa và có

giá trị ngữ pháp

Hay: Hình vị (từ tố) là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, chúng tồn tại bằngcách lặp đi lặp lại dưới cùng một dạng hoặc dưới dạng tương đối giống nhau trong các từ

2 Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ

Từ là đơn vị tồn tại hiển nhiên, sẵn có của ngôn ngữ Ai cũng có thể cảm thấy cái gọi

là từ trong ngôn ngữ Do tính chất hiển nhiên, sẵn có và dễ thấy của các từ ngữ mà ngônngữ của loài người được coi là ngôn ngữ của các từ Từ luôn ám ảnh chúng ta như mộtđơn vị trung tâm của kết cấu ngôn ngữ Rất nhiều ngôn ngữ dùng khái niệm từ để đồng

thời chỉ ngôn ngữ hoặc lời nói Ví dụ word trong tiếng Anh, parole trong tiếng Pháp, vừa

có nghĩa là từ, vừa có nghĩa là ngôn ngữ, lời nói Trong tiếng Lào và tiếng Thái Lan,

khăm cũng vừa có nghĩa là từ vừa có nghĩa là lời, là ngôn từ, lời nói… Khi nói đến ngữ

pháp của ngôn ngữ thì trong quan niệm ban đầu cũng chỉ là nói đến ngữ pháp của các từnhư cấu tạo từ, sự kết hợp giữa từ với từ để tạo thành các kết cấu cú pháp, sự phân chiacác từ loại Nói tóm lại, trong ngôn ngữ, từ luôn được hiểu như một loại đơn vị cơ bản vàchủ yếu nhất của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ Tuy thế, từ vẫn không phải là một đơn vị cụthể mà nó là một loại đơn vị trừu tượng thuộc bình diện hệ thống của ngôn ngữ.F.de.Saussure đã từng nói: “Ngôn ngữ có tính chất kỳ lạ và đáng kinh ngạc là không cónhững thực thể thoạt nhìn có thể thấy ngay được thế nhưng người ta vẫn biết chắc là nótồn tại và chính sự giao lưu giữa các thực thể đó làm thành ngôn ngữ Một trong nhữngthực thể đó là từ” Chính tính chất thoạt nhìn không thể tìm thấy được của từ làm cho sựnhận diện nó gặp phải rất nhiều khó khăn Do đó, khái niệm này rất khó định nghĩa.Trong ngôn ngữ học, đã có tới 300 định nghĩa khác nhau về từ mà vẫn chưa có định

Trang 32

nghĩa nào làm người ta thoả mãn, bởi chưa có một định nghĩa nào đạt được tính phổ quát,

có thể đúng và phù hợp với tất cả các ngôn ngữ trên thế giới hiện nay

Cái khó nhất trong việc định nghĩa từ là từ luôn luôn được thể hiện rất khác nhautrong các ngôn ngữ và khác nhau ngay giữa các từ trong một ngôn ngữ Các từ trongngôn ngữ không phải trường hợp nào cũng giống trường hợp nào Chúng khác nhau trongcác ngôn ngữ và khác nhau ngay trong cùng một ngôn ngữ Trước hết các từ khác nhau

về cách định hình, về kích thước , về chất, về cấu tạo, về từ loại, về hoạt động ngữ pháp

và khác nhau về chức năng Chẳng hạn, trong các ngôn ngữ có biến tố thì từ luôn thay đổihình thức ngữ âm trong khi ở các ngôn ngữ đơn lập thì hình thức ngữ âm của từ khôngmang chức năng định danh như các từ thực, lại có từ không mang chức năng định danhnhư từ hư Có từ được cấu tạo đơn giản, có từ cấu tạo rất phức tạp, do nhiều từ đơn ghéplại, có từ về kích thước chỉ tương đương một âm tố hoặc âm vị Về nghĩa của từ lại càng

khác nhau hơn nữa Do đó, từ đi trong đi học và trong Bác đã đi rồi sao Bác ơi (Tố Hữu)

là một hay hai từ? trả lời được những hiện tượng trên quả không hề dễ dàng, nên trongngôn ngữ đại cương cũng khó mà có thể tìm được một định nghĩa mang tính phổ quát chomọi ngôn ngữ và cho mọi trường hợp Chính vì lẽ đó mà có nhiều nhà ngôn ngữ học hoặc

là không công nhận khái niệm từ, ví dụ: martinet chỉ công nhận khái niệm hình vị mà bỏqua khái niệm từ, hoặc là lảng tránh, không muốn đưa ra một khái niệm chính thức hoặc

có người xuất phát từ từng phương diện của từ để đưa ra các khái niệm như từ ngữ âm, từcấu tạo, từ ngữ nghĩa, từ ngữ pháp (ví dụ: Đỗ Hữu Châu )

Mặc dầu vậy, từ vẫn là một đơn vị hiển nhiên của ngôn ngữ, có thể tạm chấp nhận

một định nghĩa không đầy đủ như sau: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ , độc lập về ý nghĩa và hình thức (Nguyễn Thiện Giáp) hoặc :Từ là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa trọn vẹn của ngôn ngữ, đươc vận dụng độ clập, có khả năng tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu (B.Glovin)

Trong định nghĩa về từ trên đây đều hàm chứa 2 vấn đề cơ bản cho sự nhận diện

từ, đó là : 1 Khả năng tách biệt của từ trong lời nói, 2 Tính hoàn chỉnh của từ

Khả năng tách biệt của từ trong lời nói, tức là khả năng có thể phân biệt từ với các

bộ phận tạo thành từ như thành tố của từ ghép Còn tính hoàn chỉnh của từ là muốn nóiđến tính hoàn chỉnh nội bộ trong bản thân từ về ý nghĩa, hình thức để cho nó độc lậptrong hoạt động ngữ pháp và có thể phân biệt với cụm từ do chính từ đó cùng với các từkhác cấu tạo nên

Tính tách biệt của từ và tính hoàn chỉnh của từ là 2 thuộc tính bắt buộc của từ Tuynhiên, trong ngôn ngữ những đơn vị khác như cụm từ, câu, đặc biệt là cụm từ, một đơn vị

do các từ tạo nên cũng có hai thuộc tính trên Chẳng hạn các cụm từ áo dài, máy bay lên thẳng - tiếng Việt, hoặc Wreck of a ship (nạn đắm tàu) tiếng Anh Do đó ngoài 2 thuộc

tính nói trên, để xác định từ, cần phải bổ sung các tiêu chí khác nữa một cách cụ thể tuỳtheo từng ngôn ngữ cho phù hợp

Trang 33

Hoặc một ĐN khác: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể dễ dàng tách khỏi chuỗi âm

thanh lời nói, có cấu trúc hình thức chặt chẽ, có nội dung ý nghĩa hoàn chỉnh và được sửdụng như là những vật liệu có sẵn để tạo ra những đơn vị thông báo

3 Các đơn vị tương đương với từ

Ngữ cố định là những cụm từ có sẵn trong ngôn ngữ nhưng giá trị của nó tươngđương với từ, có nhiều điểm giống và với từ ở các phương diện sau:

- Có thể tái hiện trong lời nói, tương đương với từ cả về ý nghĩa và ngữ pháp Về ngữpháp, nó có thể làm thành phần câu, hoặc bộ phận của cụm từ

- Nghĩa của cụm từ cố định có tính chất trừu tượng hoá, bởi đó không phải là nghĩa củatừng thành tố hợp lại mà là nghĩa khái quát trên cơ sở tất cả các nghĩa của từng thành tốcấu tạo nên cụm

Ngữ cố định bao gồm các loại: thành ngữ, quán ngữ, ngữ định danh

+ Thành ngữ: Đó là những tổ hợp từ có tính ổn định cao về tổ chức hình thức và nghĩa.:

Nước đổ lá khoai, chó cắn áo rách, lạnh như tiền, khô như ngói, dai như đỉa đói, nợ như chúa chổm, nói có sách mách có chứng

+ Quán ngữ: Đó là những lối nói, do sử dụng lâu ngày mà quen dần và trở nên ổn định về

tổ chức hình thức và nghĩa: lạy trời, nói của đáng tội, nói có bóng đèn, xin lỗi, nói vô phép, cắn rơm cắn cỏ, nói tóm lại, thật ra, nước mẹ gì.

+ Ngữ định danh: Tên gọi này chưa thật chặt chẽ và thống nhất Loại đơn vị này ổn định

về cấu trúc và ý nghĩa hơn quán ngữ, nhưng ý nghĩa lại mang tính hình tượng hơn ý nghĩa

của thành ngữ Ví dụ: quân sư quạt mo, anh hùng rơm, má lúm đồng tiền, tóc rễ tre, má bánh đúc, mồm cá ngão, chân vòng kiềng…

(Sự phân loại ngữ cố định thành ba loại như trên cũng không phải là thống nhất hay bắtbuộc trong các ngôn ngữ)

4 Từ vựng là gì?

4.1 Từ vựng là một khái niệm gốc Hán Trong đó vựng là tập hợp, sưu tập.Vậy từ vựng

là tập hợp tất cả những từ của ngôn ngữ Nhưng trong thực tế cách hiểu từ vựng rộng

hơn Đó là một khái niệm dùng để chỉ tất cả các từ và các đơn vị tương đương với từ

trong một ngôn ngữ Các đơn vị tương đương từ là những đơn vị có số lượng các thành

tố cấu tạo lớn hơn từ nhưng tương tự với từ về hoạt động ngữ pháp, ổn định về cấu trúc,hoạt động giống như từ trong tạo câu như các thành ngữ, quán ngữ, ngữ cố định địnhdanh

4.2 Từ vựng học là khoa học nghiên cứu vốn từ của ngôn ngữ Trong từ vựng học cũng

chia thành hai bộ phận: từ vựng học đại cương nghiên cứu các quy luật và thuộc tính củacác từ chung cho mọi ngôn ngữ Từ vựng học cụ thể chỉ áp dụng nghiên cứu vốn từ củamột ngôn ngữ cụ thể nào đó

Trang 34

II Cấu tạo của từ

1 Đơn vị cấu tạo từ

Đơn vị cấu tạo từ là từ tố, tiếng Pháp gọi là morpheme tức là hình vị

2 Phân tích cấu tạo hình vị của từ

- Căn cứ vào khả năng hoạt động của các hình vị, người ta chia hình vị thành hai loại:

hình vị tự do và hình vị hạn chế Hình vị tự do là những hình vị mà tự nó có thể xuất hiện

như một từ độc lập Nói cách khác, nó có thể trở thành từ theo phương thức từ hoá hình

vị Ví dụ: house, man, back, sleep (nhà, người, lưng, ngủ…) Hình vị hạn chế là những

hình vị không thể tồn tại độc lập được mà phải luôn phụ thuộc vào hình vị khác, đi kèm

với những hình vị khác Ví dụ các hình vị er, s, ing, ed trong các từ worker, books, playing của tiếng Anh, đẽ, me, xí trong các từ đẹp đẽ, máu me, xấu xí của tiếng Việt.

- Căn cứ vào ý nghĩa, người ta chia hình vị thành hai loại là: chính tố và phụ tố.

+ Chính tố là loại hình mang ý nghĩa từ vựng, tức là loại ý nghĩa có liên hệ tới thực tếkhách quan, nó có tính độc lập cao gọi là tự nghĩa Để hiểu được hình vị tự nghĩa, người

ta không cần phải quan sát sự xuất hiện của nó trong lời nói, tức là không cần tới sự xuấthiện kèm theo của một hình vị khác

+ Phụ tố là loại hình vị không mang ý nghĩa từ vựng, chỉ có ý nghĩa ngữ pháp hoặc là ýnghĩa từ vựng bổ sung Đây là loại ý nghĩa chỉ liên hệ tới mặt ngữ pháp của từ, nó không

tự thân có nghĩa mà phải phụ thuộc vào hình vị chính tố Trong các ví dụ trên thì work, book, play là những hình vị chính tố, còn er, s, ing, ed là những hình vị phụ tố.

Việc phân chia hình vị thành chính tố và phụ tố chỉ được thực hiện trong các ngônngữ có biến tố, tức là trong các ngôn ngữ thuộc loại hình không đơn lâp Còn các ngônngữ đơn lập là loại ngôn ngữ không có phụ tố ở các ngôn ngữ này tất cà các hình vị đềuđược coi là các hình vị cấu tạo từ

Trong các phụ tố của ngô ngữ ấn Âu, nếu căn cứ vào vị trí của chúng so với chính

tố thì có thể chia làm 4 loại: 1 Tiền tố là loại phụ tố chuyên đứng trước chính tố Ví dụ

la, le trong tiếng Pháp, un (unhappy): không vui) re (repay: trả lại), im (imperfect: không

hoàn toàn) trong tiếng Anh 2 Hậu tố là loại phụ tố chuyên đứng sau chính tố Ví dụ: er,

s, ed, ing… trong tiếng Anh 3 Trung tố là loại phụ tố đứng chen vào giữa chính tố ví dụ

trong tiếng Khmer, trung tố được chen vào chính tố khouch (buộc) để tạo thành một danh

từ khnouch (cái nút), hoặc chen vào giữa chính tố chêk (chia) thành danh từ chnêck (phần,

bộ phận) 4 Liên tố là loại phụ tố đặc biệt có chức năng liên kết các chính tố trong từ

phức Loại phụ tố này thường thấy trong tiếng Nga Nhìn chung các phụ tố đều có chứcnăng làm biến đổi hình thức ngữ âm của từ được gọi chung là biến tố

3 Hệ thống cấu tạo từ (kiểu cấu tạo từ)

Hệ thống cấu tạo từ là tập hợp những từ có chung một kiểu cấu tạo (ví dụ: Cóchung một kiểu phụ tố, tính chất của căn tố giống nhau) và ý nghĩa giống nhau

Trang 35

Ví dụ: worker (người lao động, công nhân), writer (người viết, nhà văn), singer (ngườihat, ca sĩ), reader (người đọc, độc giả) của tiếng Anh làm thành một hệ thống cấu tạo từ,

vì chúng có chung một kiểu phụ tố (hậu tố -er), tính chất của căn tố trong các từ nàygiống nhau (động từ), và ý nghĩa cấu tạo của chúng giống nhau (người thực hiện mộthành động hoặc hoạt động nào đó)

4 Các phương thức cấu tạo từ

Phương thức cấu tạo từ là những quy chế, những quy trình xử lý nguyên liệu hình vị

để cho ra các từ Hoặc là cách thức mà các ngôn ngữ sử dụng để tạo ra các kiểu cấu tạo

từ Trong ngôn ngữ có các phương thức tạo từ chủ yếu sau:

- Phương thức từ hoá hình vị: là phương thức chuyển hoá hình vị của từ, dùng một hình

vị để tạo thành từ, cấp cho nó cái tư cách của từ Đây là phương thức cấu tạo các từ đơntiết của nhiều ngôn ngữ Trong ngôn ngữ ấn Âu, phương thức này hiếm nhưng khôngphải là không có Ví dụ: to able hoặc to be able, home, with, and, of trong tiếng Anh

- Phương thức phức hoá hình vị: Đây là phương thức quan trọng nhất Phương thức này

cấu tạo từ theo cách tác động vào một số hình vị hoặc làm tăng thêm số lượng các hình vị

để cấu tạo ra các từ mới có cấu trúc lớn hơn một hình vị Phương thức phức hoá hình vịchia làm nhiều kiểu nhỏ:

+Phương thức phụ gia: Là phương thức phụ vào với gốc từ một hình vị cấu tạo từ để

thành từ mới Ví dụ: cái đẹp, sự ăn theo, the play v.v

+Phương thức ghép: là phương thức tạo ra từ bằng cách ghép hai hoặc hơn hai từ độc

lập Ví dụ: đất + nước = đất nước

+Phương thức láy: là phương thức lặp lại một hay nhiều lần một bộ phận của hình vị ban

đầu để tạo thành từ mới Đây là phương thức thường gặp trong các ngôn ngữ đơn lập Vídu: lặp lại phần vần trong các từ tràng giang, thăm thẳm, lau nhau Lặp lại phụ âm đầu:xinh xắn, lắc lư, lung la lung lay Láy toàn bộ nho nhỏ, tôi tối, v.v…

Kết quả của các quá trình cấu tạo nên từ trên đây tạo ra các loại từ xét theo cấu tạo gọi

là từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy, từ phái sinh (xem thêm ví dụ từ T68-70, GT Dẫn luậnngôn ngữ)

III Nghĩa của từ

1 Khái quát về nghĩa của từ

- Lịch sử vấn đề: Nghĩa của từ là một trong những khái niệm quan trọng nhất của ngôn

ngữ học Trong lịch sử ngôn ngữ học đã có không ít những quan niệm khác nhau vềnghĩa của từ Ví dụ:

+ Cho nghĩa của từ là sự vật, hiện tượng mà từ gọi tên

+ Cho nghĩa của từ là khái niệm hay biểu tượng về sự vật, hiện tượng mà từ gọi tên

Trang 36

+ Cho nghĩa của từ là quan hệ được tạo bởi hình thức ngữ âm của từ với khái niệm vàbiểu tượng về sự vật do từ gợi ra trong nhận thức của người sử dụng ngôn ngữ Đại biểucủa quan niệm này là F.de Saussure, Bu-da-gor, Go-lo-vin, Will-man, Re-for-mat-sky.+ Chủ nghĩa kết cấu hiện đại và trường phái phân bố, miêu tả Mỹ quan niệm nghĩacủa từ được tạo bởi các quan hệ đồng nhất và đối lập giữa các từ trong hệ thống ngônngữ Sở dĩ từ này có nghĩa như thế vì nó đồng nhất và đối lập với một từ khác trong hệthống.

+ Khuynh hướng chức năng luận cho nghĩa của từ được tạo bởi chức năng mà từ đóbiểu thị Từ trong ngôn ngữ có nhiều chức năng như chức năng gọi tên,chức năng miêu

tả, chức năng tác động, chức năng thẩm mỹ v.v… xuất phát từ các chức năng đó mà các

từ có nghĩa khác nhau

- Nhận xét: Nhìn chung những quan niệm trên đây thể hiện hai khuynh hướng: 1 Cho

nghĩa của từ là một bản thể nào đó (bản thân sự vật hiện tượng trong thực tế khách quanhoặc nội dung khái niệm hay biểu tượng trong tâm lý tư duy) 2.Cho nghĩa của từ là mộtquan hệ nào đó (quan hệ của từ với sự vật, hiện tượng, khái niệm hoặc chức năng…) Cảhai khuynh hướng này đều không thể hiện được đầy đủ bản chất của vấn đề nghĩa của từ

Từ trong ngôn ngữ là một loại tín hiệu Mà đã là một tín hiệu thì bao giờ cũng bao gồmhai mặt: cáí biểu đạt và cái được biểu đạt Cái được biểu đạt là mặt nội dung ý nghĩa, tức

là cái mà nó biểu thị Bản chất của tín hiệu nói chung là dùng một thực thể để đại diệncho một cái gì đó khác với chính nó Khi tạo ra các từ, loài người đã dùng một hình thức

âm thanh để hướng tới hoặc gợi ra một sự vật, hiện tượng có hay không có trong thực tếđời sống nhưng đã được con người nhận thức Như vậy, nghĩa của từ không thể là chínhbản thân sự vật, hiện tượng bản thân khái niệm hay biểu tượng mà nghĩa của từ chính làmối liên hệ giữa hình thức của từ và những cái mà nó gợi ra hoặc đại diện trên đây Chotới nay đại đa số các nhà ngôn ngữ học đều quan niệm nghĩa của từ là những liên hệ Tuynhiên, đó không phải là những liên hệ logic tất yếu mà là những liên hệ phản ánh theokiểu quy ước, được hình thành và ổn định lâu dài trong tiềm thức của một cộng đồng

ngôn ngữ Nhà ngôn ngữ học Nga Bakhudarov phát biểu “Nghĩa của tín hiệu chính là quan hệ của tín hiệu với một cái gì đó ngoài bản thân nó”.

Không nên lầm lẫn giữa nghĩa của từ với việc hiểu nghĩa của nó Hiểu nghĩa của từtức là ta xem từ ấy tương đương với cái gì chẳng hạn, với một từ chưa hiểu nghĩa của nó,

ta tra từ điển, cách giải thích nghĩa của từ trong từ điển thực chất chỉ là cách người ta đưa

ra những đơn vị ngôn ngữ tương đương với từ đó chứ không phải là nghĩa của từ Chẳnghạn : lâu đài (toà nhà to lớn đẹp đẽ), and (quan hệ từ dùng để nối hai từ hoặc hai cụm từvới nhau)…

2 Các thành phần ý nghĩa của từ

Trang 37

Từ có nhiều mối liên hệ và mỗi một mối liên hệ như thế sẽ tạo ra một thành phần ýnghĩa của từ Vì nghĩa của từ là những quan hệ nên căn cứ vào các quan hệ, từ có nhiềuthành phần ý nghĩa Một từ ít nhất cũng có các quan hệ như: quan hệ với đối tượng biểuthị (sự vật hiện tượng), quan hệ giữa các từ trong hệ thống ngôn ngữ, quan hệ với hoàncảnh và môi trường sử dụng ngôn ngữ v.v… Mối quan hệ như thế tạo nên một thành phần

ý nghĩa của từ

2.1 Nghĩa biểu vật

Nghĩa biểu vật là nghĩa được tạo bởi mối liên hệ giữa từ với các đối tượng mà từ biểuthị trong thực tế khách quan Đối tượng mà từ biểu thị có thể là các sự vật cụ thể (nhà,người, chủ tịch) có thể là các hiện tượng trừu tượng (mưa, gió, đau đớn, xấu, danh từ,câu, tư tưởng…) Tất cả những đối tượng mà từ có thể biểu thị đó gọi là “cái sở chỉ” của

từ Mối quan hệ giữa từ với cái sở chỉ được gọi là nghĩa biểu vật (sở chỉ) của từ Nghĩabiểu vật của từ có các đặc điểm sau:

- Gọi tên sự vật, hiện tượng một cách khái quát Nói cách khác, nghĩa biểu vật gọi tên loại

sự vật chứ không chỉ đích danh một sự vật cụ thể nào cả Các sự vật, hiện tượng trongthực tế khách quan luôn tồn tại dưới dạng cá thể và cụ thể, chẳng hạn từng cái nhà cụ thể,từng cái bàn cụ thể, từng hành động cụ thể… nhưng nghĩa biểu vật thì bao giờ cũng biểuthị (hay gọi tên) cả một loạt sự vật Khi cần chỉ đích danh đối với một sự vật cụ thể nào

đó, người ta dùng các định ngữ miêu tả về số lượng, vị trí, loại, đặc trưng v.v… Ví dụđây là một cấu trúc định danh nhằm chỉ rõ cái nhà cụ thể trong thực tế khách quan: cáinhà to nhất phố, màu trắng, của ông An xây hồi năm ngoài ấy

- Nghĩa biểu vật bắt nguồn từ sự vật hiện tượng (cái sở chỉ) trong thực tế khách quannhưng lại biểu thị chúng theo những đại lượng không hoàn toàn trùng khít với các sự vậthiện tượng ấy trong thực tế Ngôn ngữ biểu thị thực tế theo quy luật: thực tế tác động vàogiác quan con người và con người dùng các từ để gọi tên chúng, thực tế tồn tại như nhauđối với mọi dân tộc nhưng mỗi ngôn ngữ đều có hiện tượng là: một tên gọi có thể ứng vớinhiều cái sở chỉ khác nhau như “mặt” có thể ứng với mặt người, mặt bàn, mặt đường, mặtnước, bằng mặt nhưng không bằng lòng, v.v… Hoặc cùng một sự vật hiện tượng nhưngmỗi ngôn ngữ lại có những cách gọi tên khác nhau tùy theo sự tri nhận của người bảnngữ Ví dụ: cùng một thiên thể chiếu sáng ngoài trái đất, có nhiệt độ rất cao, tiếng Anh

gọi tên bằng một từ sun trong khi tiếng Việt lại gọi tên bằng hai từ là mặt trời và nắng.

Cùng một hiện tượng dùng nước làm cho sạch, trong tiếng Anh hầu như chỉ dùng có một

từ gọi chung là to wash, trong khi ở tiếng Việt có rất nhiều tên gọi tuỳ theo từng loại sự vật như: giặt, giũ, tắm, vo, gột… Hoạt động cho thức ăn vào cơ thể qua miệng trong tiếng Việt có sự phân biệt đồ ăn rắn và đồ ăn lỏng nên có hai từ là ăn và uống trong khi đó ở

các ngôn ngữ như Lào, Thái Lan, Nùng… không có sự phân biệt như vậy nên đều gọi

chung là kin.

Trang 38

Hiện tượng trên càng chứng tỏ rằng: nghĩa biểu vật không phải là sự vật hiệntượng mà chỉ bắt nguồn từ sự vật hiện tượng, là sự ánh xạ các thuộc tính, các vận động

ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ “ánh xạ có nghĩa là không hoàn toàn đồng nhất mà có sự cải tạo lại, sáng tạo lại Nói một cách tổng quát là có sự ngôn ngữ hoá, cấu trúc hoá lại thực tại bởi ngôn ngữ” (Đỗ Hữu Châu) Ngôn ngữ học gọi là bức tranh ngôn ngữ về thế

giới của các dân tộc, nó thể hiện sự chia cắt khác nhau đối với hiện thực khách quantrong các ngôn ngữ

- Trong thực tế khách quan, sự vật, hiện tượng… bao giờ cũng chỉ tồn tại dưới dạng cụthể, cá thể, xác định, còn nghĩa sở chỉ bao giờ cũng chỉ phản ánh những thuộc tính chung,khái quát nhất của chúng mà thôi Ví dụ, trong thực tế chỉ tồn tại từng cái bàn cụ thể(mấy chân, cao bao nhiêu, tròn hay vuông, chất liệu là gỗ, đá háy galito, màu gì, dùnglàm gì….) từ bàn chỉ biểu thị những thuộc tính khái quát nhất, chung nhất cho mọi cáibàn trong thực tế

2.2 Nghĩa biểu niệm

Con người nhận thức thế giới và phản ánh thế giới bằng khái niệm và biểu tượng.Những khái niệm hay biểu tượng mà từ biểu thị gọi là cái sở biểu Quan hệ giữa từ vớicái sở biểu gọi là nghĩa biểu niệm (sở biểu) của từ Nghĩa biểu niệm có các đặc điểm sauđây:

- Nghĩa biểu niệm phân biệt với nghĩa biểu vật ở chỗ: nghĩa biểu vật liên hệ trực tiếp vớihiện thực khách quan Còn nghĩa biểu niệm chỉ liên hệ với khái niệm và biểu tượng, tức

là kết quả của quá trình nhận thức và tri giác về hiện thực khách quan đó Có thể nói,nghĩa biểu niệm hình thành trên cơ sở của nghĩa biểu vật

- Nghĩa biểu niệm phản ánh khái niệm và biểu tượng nhưng không đồng nhất với kháiniệm và biểu tượng Khái niệm thuộc phạm trù nhận thức nên nó phản ánh những thuộctính bản chất của sự vật, hiện tượng Ví dụ, khái niệm lửa: là dạng vật chất có nhiệt độcao và phát sáng Còn biểu tượng là thuộc vào kinh nghiệm tức là thuộc phạm trù nhậnthức – tâm lý nên nó chỉ phản ánh những dấu hiệu nổi bật của sự vật, tuy những dấu hiệu

đã có thể không phải là bản chất của sự vật Ví dụ, biểu tượng về lửa là nóng và sáng.Nghĩa biểu niệm tuy có quan hệ với khái niệm và biểu tượng song nó là một phạm trùthuộc về ngôn ngữ nên tiêu chuẩn của nó không phải là đúng hay sai, bản chất hay khôngphải bản chất, nổi bật hay không nổi bật mà là có phù hợp với hệ thống ngôn ngữ haykhông, có tiện dùng đối với hoạt động giao tiếp hay không Vì thế, nghĩa biểu niệm đượchình thành trên cơ sở tiếp nhận tất cả các thuộc tính và dấu hiệu bản chất lẫn không bản

chất, nổi bật lẫn không nổi bật để làm nên cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ Ví dụ như lửa

trong tiếng Việt có cấu trúc nghĩa biểu niệm như sau:

+ Dạng vật chất có nhiệt độ cao và ánh sáng Ví dụ: lửa cháy rừng

+ Nóng nực khó chịu: ví dụ: mưa dầu nắng lửa

+ Cường độ cao của tình cảm: Ví dụ: lửa căm hờn, lửa tình, lửa ghen, lửa hận

Trang 39

+ Sự nhiệt tình, ham muốn cao độ: ví dụ: sự đời đã tắt lửa hồng

+ Sự cổ vũ lôi kéo lớn ví dụ: gà gáy sáng thơ ơi mang cánh lửa, lửa cách mạng sángchoang bờ cõi

+ Sức huỷ diệt, sự nguy hiểm ví dụ: chớ có dây với lửa, dòng người cuộn sôi như biểnlửa

- Cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ không tương đương nhau đối với các ngôn ngữ Chẳnghạn, trong tiếng Anh cấu trúc nghĩa biểu niệm của từ fire sẽ không trùng với cấu trúc biểuniệm của từ lửa trong tiếng Việt

2.3 Nghĩa cấu trúc

Nghĩa cấu trúc là nghĩa tạo bởi mối quan hệ giữa từ với từ trong hệ thống ngôn ngữ,biểu thị trên hai trục quan hệ: trục kết hợp và trục liên tưởng Trên trục kết hợp, do một từ

A nào đó chuyên đi với từ B mà A có thêm những nghĩa của B Ví dụ: mướt là một tính

từ miêu tả chuyên làm định ngữ cho danh từ chỉ màu xanh, do đó khi dùng mướt đứngmột mình (vườn ai mướt quá xanh như ngọc) thì nó cũng có nghĩa là màu xanh Hoặc do

A kết hợp với B một cách không bình thường làm cho B có thêm những nghĩa mới, ví dụ

trong câu thơ Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen, do nhà kết hợp một cách không bình thường với ghen mà cái ghen của Hoạn Thư không chỉ còn là cái tính ghen bình thường

của đàn bà mà đã được nâng lên thành một môn phái, một nghề nghiệp, có trình độchuyên môn sâu Trên trục liên tưởng, bất kỳ một từ nào đó cũng thường gợi ra một một

từ khác trong hệ thống, do đó mà liên hệ đến những ý nghĩa không thuộc cấu trúc biểu

niệm vốn có của nó Ví dụ: ngon gợi ra những vị giác, sự ăn uống nên Tháng giêng ngon như một cặp môi gần hoặc dạo này trông em ngon quá thì các từ tháng giêng và em có

thêm những nghĩa liên hội mới

2.4 Nghĩa ngữ dụng

Nghĩa ngữ dụng là nghĩa được tạo bởi mối quan hệ giữa từ với người sử dụng ngônngữ Người sử dụng ngôn ngữ được hiểu là những người cùng tham gia giao tiếp bằngngôn ngữ (gồm cả người nói và người nghe) Thực chất ở đây là mối quan hệ giữa cấutrúc biểu niệm và cấu trúc biểu vật của từ với người sử dụng ngôn ngữ Trên cơ sở nghĩabiểu vật và nghĩa biểu niệm của từ, mỗi người sử dụng ngôn ngữ luôn nằm trong nhữngtrường hợp văn hoá, nhận thức và tình cảm khác nhau, do đó trước cùng một từ có thể cónhững cách lĩnh hội nghĩa của từ khác nhau Ví dụ, câu nói của một người Anh mời

người khác: “Trưa nay mời anh đi ăn cơm với tôi” thì với người Anh nghĩa là lời mời đó

chỉ là cùng đi ăn cho có bạn chứ không có nghĩa là người mời đó phải trả tiền cả xuất ăncủa người bạn đi cùng, trong khi người Trung Quốc hoặc người Việt Nam lại hiểu ngượclại Một cô gái châu Âu sẽ rất vui và hãnh diện trước lời khen của một người đàn ôngkiểu như: “Hôm nay em mặc rất đẹp, rất gợi tình” Nhưng đối với một cô gái phươngĐông thì đây lại là một lời xúc phạm hoặc một lời tán tỉnh chớt nhả thô tục một thầy giáongười Trung Quốc có thể nhắc một nữ sinh Trung Quốc hay Việt Nam mặc thêm áo kẻo

Trang 40

lạnh và cô gái sẽ cảm thấy lời nhắc nhở ấy thật ấm áp, biểu thị sự quan tâm chân thànhnhưng lời nhắc ấy chắc sẽ làm cho các nữ sinh châu Âu và Mỹ cảm thấy thật khó chịu vìthầy giáo đã vi phạm vào cái cá nhân, lãnh địa riêng tư của con người, một điều cấm kịtrong văn hoá giao tiếp Âu, Mỹ.

3 Sự biến đổi ý nghĩa của từ

3.1 Nguyên nhân và cơ sở của sự biến đổi ý nghĩa của từ

- Do mâu thuẫn giữa nhu cầu biểu đạt với số lượng hữu hạn của các từ trong hệ thốngngôn ngữ Như ta đã biết, ban đầu mỗi từ chỉ mang một nghĩa nhưng do sự phát triểnkhông ngừng của nhận thức, do sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới tựnhiên, của xã hội và con người khiến cho ngôn ngữ buộc phải liên tục sáng tạo những từngữ mới, những đơn vị từ vựng nhằm đáp ứng nhu cầu biểu đạt ngày càng tăng, đáp ứngnhu cầu giao tiếp ngày càng phong phú của con người Nhưng, số lượng các đơn vị từvựng của ngôn ngữ không thể tăng lên vô hạn tương ứng với các nôi dung cần biểu đat.Mâu thuẫn đó đòi hỏi ngôn ngữ bên cạnh việc kịp thời sáng tạo những đơn vị mới, cầnphải sử dụng ngay những đơn vị từ vựng có sẵn của hệ thống để biểu thị các sự vật, hiệntượng mới nảy sinh trong cuộc sống, biểu thị những khái niệm mới trong nhận thức, tâm

lý và tình cảm của con người Quá trình mở rộng nghĩa của từ, làm cho từ có khả năng từphạm vi biểu đạt hẹp sang phạm vi biểu đạt rộng, tức là sử dụng cùng một đơn vị từ vựng

để biểu thị nhiều nội dung tư tưởng khác nhau, cũng chính là một quá trình chuyển nghĩa

Như vậy, chuyển nghĩa vừa là một nhu cầu, vừa là một quy luật khách quan trong quá

trình phát triển và hoạt động hành chức vụ phục vụ chức năng giao tiếp của ngôn ngữ

- Sự phát triển thêm nghĩa mới phải dựa trên cơ sở của nghĩa ban đầu hoặc nghĩa đã

có sẵn của từ Tức là, các nghãi của từ cũng không phải được tạo ra một cách ngẫu nhiên,tuỳ tiện mà giữa chúng phải có quan hệ mật thiết với nhau, nghĩa cũ là cơ sở phát sinh racác nghĩa mới Điều này làm cho từ nhiều nghĩa khác hẳn với từ đồng âm Ví dụ, từ đầutrong tiếng Việt, nghĩa ban đầu tức là: 1 Bộ phận chủ chốt của cơ thể người, ở phía trêncùng, chứa đựng não có chức năng chỉ huy mọi hoạt động cơ thể Trên cơ sở nghĩa gốc

đó nghĩa mới được hình thành là: 2 Trí tuệ, ý chí (ví dụ: có đầu óc, to đầu, đương đầu)

3 Vị trí trên hết, trước hết (ví dụ: đầu núi, đầu làng, đầu đình) 4 Vị trí nhô ra, dạng trònhoặc lồi (ví dụ: đầu vú, đầu mấu) 5 Người chỉ huy, thủ lĩnh, người khởi xướng (ví dụ:cầm đầu, đầu trò, đầu têu, đầu lĩnh) 6 Đơn vị đo lường, tính đếm (ví dụ: cá kể đầu, rau

kể mớ…)

- Sự chuyển nghĩa của từ còn dựa trên cơ sở những quy luật tri nhận và tư tưởng củangười bản ngữ khi sử dụng ngôn ngữ Con đường tri nhận và tư tưỏng của con người,chung cho mọi dân tộc là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ bao quát đến

cụ thể, chi tiết và từ bản thân con người toả ra thế giới xung quanh Và con đường trinhận đó chủ yếu được xây dựng nhờ quan hệ liên tưởng: quan hệ logic hoặc quan hệ

Ngày đăng: 08/09/2015, 21:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình chữ Nghĩa Hình chữ Nghĩa Hình chữ Nghĩa - Tập bài giảng nhập môn ngôn ngữ học
Hình ch ữ Nghĩa Hình chữ Nghĩa Hình chữ Nghĩa (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w