1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách nghệ thuật tiểu thuyết ma văn kháng

123 1,9K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật sẽ giúp người nghiên cứu có được một hệ thống những luận điểm quan trọng để đánh giá giá trị của tác phẩm khám phá những nét độc đáo trong sáng tác

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

- -

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT

TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG

(QUA MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN, ĐÁM CƯỚI KHÔNG CÓ GIẤY GIÁ THÖ, NGƯỢC DÕNG NƯỚC LŨ)

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số :60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Tôn Thảo Miên

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Cho phép tôi bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Trước hết tôi xin bày tỏ tới PGS.TS Tôn Thảo Miên – người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể quý thầy cô trong Ban Giám hiệu trường ĐHSP Hà Nội II, Viện Văn học Việt Nam, trường ĐHKHXH và NV, Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, Khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội, Khoa Ngữ văn trường ĐHSP Hà Nội II cùng các thầy cô giáo trong Phòng Sau Đại học trường ĐHSP Hà Nội II

Và xin được cảm ơn, chia sẻ niềm vui này với gia đình, bạn bè , đồng nghiệp, đã luôn động viên , giúp đỡ tôi trong thời gian học tập , nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Dù đã có rất nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phương

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

4 Mục đích nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu và bố cục luận văn 11

6 Đóng góp của luận văn 11

NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1 12

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ SỰ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT 12

MA VĂN KHÁNG 12

1.1 Khái quát về phong cách nghệ thuật 12

1.1.1 Một số quan niệm về phong cách nghệ thuật 12

1.1.1.1 Quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài 12

1.1.1.2 Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước 14

1.1.1.3 Quan niệm về phong cách nghệ thuật của tác giả luận văn 19

1.1.2 Một số khuynh hướng nghiên cứu phong cách nghệ thuật 19

1.2 Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng 20

1.2.1 Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nghệ thuật nhà văn nói chung 20

1.2.2 Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nghệ thuật nhà văn Ma Văn Kháng 23

Trang 4

1.2.2.1 Tố chất thông minh sắc sảo và cá tính sáng tạo của nhà văn 23

1.2.2.2 Sự chuyển mình mạnh mẽ của một cơ chế xã hội mới 27

CHƯƠNG 2 30

THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG 30

2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học và trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 30

2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 30

2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 31

2.2 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 35

2.2.1 Khái niệm nhân vật 35

2.2.2 Nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 36

2.2.2.1 Nhân vật trí thức 36

2.2.2.2 Nhân vật người phụ nữ 50

2.3 Các phương thức xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 55

2.3.1 Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật 55

2.3.2 Nghệ thuật khắc họa thế giới tâm linh của nhân vật 60

CHƯƠNG 3 66

GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG 66

3.1 Giọng điệu nghệ thuật 66

3.1.1 Khái niệm giọng điệu nghệ thuật 66

3.1.2 Các sắc thái giọng điệu nghệ thuật trong tiểu thuyết thời kỳ đối mới của Ma Văn Kháng 69

Trang 5

3.1.2.1 Giọng điệu thiết tha, sâu lắng 70

3.1.2.2 Giọng điệu triết lý, triết luận 80

3.1.2.3 Giọng điệu mỉa mai, châm biếm 87

3.1.2.4 Giọng điệu thương cảm, xót xa 92

3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật 96

3.2.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 96

3.2.2 Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 98

3.2.2.1 Đối thoại 99

3.2.2.2 Độc thoại nội tâm 102

KẾT LUẬN 110

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 6

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Phong cách nghệ thuật là một vấn đề có tính lý luận và thực tiễn quan trọng của ngành ngữ văn nói chung và chuyên ngành lý luận nói riêng Việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật sẽ giúp người nghiên cứu có được một hệ thống những luận điểm quan trọng để đánh giá giá trị của tác phẩm khám phá những nét độc đáo trong sáng tác của nhà văn trong một trào lưu, một nền văn học

Tiểu thuyết là một thể loại lớn nằm trong phương thức tự sự có khả năng phản ánh hiện thực đời sống một cách bao quát ở mọi giới hạn không gian và thời gian, khả năng khám phá một cách sâu sắc những vấn đề thuộc về thân phận con người thông qua những tính cách đa dạng , phức tạp và khả năng tái hiện những bức tranh mang tính tổng thể rộng lớn về đời sống xã hội

Tiểu thuyết đã được coi là “hình thái chủ yếu của nghệ thuật ngôn từ” – quan

niệm này được các nhà nghiên cứu đưa ra từ thế kỉ XIX Từ đó đến nay trải qua hơn một thế kỉ văn học, thể loại này vẫn đứng ở vị trí then chốt trong đời sống văn học toàn nhân loại Là một cấu trúc tự sự lớn tiểu thuyết có những khả năng riêng trong việc tái hiện với một quy mô lớn những bức tranh hiện thực đời sống, trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của xã hội, của số phận con người, của lịch sử, triết học , văn hóa, đạo đức, phong tục…

Tiểu thuyết đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành diện mạo sáng tác Ma Văn Kháng trong nền văn học việt nam đương đại Chính vì vậy khi triển khai luận văn này, chúng tôi hướng tới tiểu thuyết-thể loại được đánh giá là khởi sắc nhất để tiếp cận với phong cách nghệ thuật Ma Văn Kháng

Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn tiên phong trong thời kì văn học đổi mới Người ta quan tâm đến ông không chỉ vì ông là một cây bút

có bút lực dồi dào mà còn thấy ở ông những ý tưởng mới mẻ, táo bạo và khá

Trang 7

sâu sắc trong việc khám phá, lý giải con người và cuộc sống Đóng góp ấy của ông cùng với một số nhà văn đương thời làm nên một diện mạo mới cho nền văn học Việt Nam đương đại

Toàn bộ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng được sáng tác theo hai mảng đề tài lớn với hai cảm hứng chủ đạo: đề tài về dân tộc miền núi với cảm hứng sử thi và đề tài về thành thị với cảm hứng thế sự đời tư Trong đó có những tác

phẩm được giải thưởng trong nước, quốc tế và dịch ra tiếng nước ngoài: Xa Phổ đoạt giải nhì (không có giải nhất) trong cuộc thi truyện ngắn của tuần báo văn nghệ 1967-1968, tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ giải thưởng hội nhà văn Việt Nam 1995 Mùa lá rụng trong vườn được giải thưởng hội nhà văn

1984, Ma Văn Kháng còn vinh dự nhận giải thưởng văn học Đông Nam Á (1998) và giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2001) Với những thành tựu kể trên, Ma Văn Kháng đã tự khẳng định vị thế của mình trong nền văn học Việt Nam đương đại

Lâu nay, đã có khá nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về tác giả

Ma Văn Kháng và các tác phẩm của ông Nhưng hầu hết là những đánh giá, nhận định chung về từng tác phẩm cụ thể, về hình tượng nghệ thuật… Với các công trình nghiên cứu công phu như các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ tuy

đã hướng vào những khía cạnh chuyên biệt như: kiểu nhân vật đặc trưng của thể loại, cảm hứng nghệ thuật hoặc những dấu hiệu đổi mới văn học qua sáng tác của ông và một số nhà văn tiêu biểu cùng thời, nhưng việc đi sâu tìm hiểu nghiên cứu , khám phá phong cách nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

từ góc độ cái nhìn, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật để thấy sâu sắc hơn quan niệm của nhà văn về hiện thực cuộc sống và con người trong một giai đoạn phát triển đầy phức tạp của xã hội thì vẫn còn khoảng trống

Với nhứng lý do trên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn vấn đề Phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng (qua - Mùa lá rụng trong vườn, Đám

Trang 8

cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ) làm đề tài nghiên cứu của

mình Việc nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề này sẽ giúp chúng ta thấy rõ

vị thế của các yếu tố phong cách nghệ thuật (cái nhìn, nghệ thuật xây dựng nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ) trong việc thể hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà văn Từ đó khẳng định đóng góp to lớn của Ma Văn Kháng về phương diện sáng tạo nghệ thuật tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, đồng thời đề tài cũng góp phần làm tư liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên và những người yêu thích văn học Việt Nam hiện đại

Hy vọng đây là một hướng tiếp cận có ý nghĩa góp phần vào việc nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm của Ma Văn Kháng Văn Kháng trong và ngoài nhà trường Bên cạnh đó, tác giả luận văn cũng mong được góp thêm tiếng nói khẳng định và làm sáng tỏ phong cách nghệ thuật tiểu thuyết phong phú và độc đáo của cây bút này cũng như bổ sung thêm cách nhìn nhận đánh giá về một tác giả văn xuôi hiện đại Việt Nam kể từ sau 1975 cho đến nay

2 Lịch sử vấn đề

Ma Văn Kháng là một trong số những nhà văn có đóng góp đáng kể vào công cuộc đổi mới văn xuôi giai đoạn sau 1975 Một trong những đóng

góp ấy là sự đổi mới về cái nhìn, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật Ông “đã

cố gắng đổi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết tìm hướng đi mới trong lao động sáng tạo nghệ thuật” Ngay từ khi truyện ngắn “Phố cụt” ra đời (1959)

và đặc biệt là những tác phẩm xuất hiện ngay trong giai đoạn đầu những năm

80 của thế kỉ XX, Ma Văn Kháng đã được đông đảo dư luận, độc giả và các nhà phê bình quan tâm Nhiều công trình nghiên cứu, phê bình của các nhà văn, các nhà thơ và các nhà nghiên cứu như: Phong Lê, Lã Nguyên, Trần Đăng Xuyền, Tôn Thảo Miên, Nguyễn Ngọc Thiện, Tô Hoài, Nguyễn Bích Thu, Bùi Việt Thắng, Thiếu Mai, Trần Đăng Khoa…đã được đăng tải trên sách báo tạp chí chuyên ngành, đặc san hay nhật báo trong suốt thời gian qua

Trang 9

Đáng lưu ý nhất trong loạt bài về Ma Văn Kháng là những bài viết “Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn”(1999) của PGS TS Lã Nguyên,

“Một cây bút văn xuôi sung sức, một đời văn sáng tạo” (1999),“Con người

qua những dòng xoáy của ham muốn đời thường” (2000), “Tiểu thuyết về đề tài dân tộc và miền núi của Ma Văn Kháng” (2003)…của PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện và gần đây nhất phải kể đến “Trữ lượng Ma Văn Kháng” (2005) của GS Phong Lê

Tác giả luận văn đặc biệt chú ý đến những ý kiến của nhà nghiên cứu phê bình Nguyễn Ngọc Thiện, qua hệ thống bài viết của mình lại dành sự tâm huyết nhiều hơn đến tiểu thuyết Ông hiện nay là nhà nghiên cứu dành sự quan tâm lớn nhất và có nhiều kiến giải về văn xuôi Ma Văn Kháng Văn Kháng Theo ông, tiểu thuyết về miền núi của Ma Văn Kháng Văn Kháng

“làm sống lại bức tranh hiện thực mang tính sử thi về con đường của các dân tộc miền núi phía Bắc làm cuộc đổi đời đi theo cách mạng” thông qua một thế giới nhân vật đặc sắc gồm “những chân dung chân thực, đầy chất biếm họa về loại nhân vật địch, nhân vật tiêu cực”, “những người con yêu quý của dân tộc Hmông” Tác giả cũng cho rằng “từ Đồng bạc trắng hoa xòe đến Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, Ma Văn Kháng đã có bước tiến dài về tư duy tiểu thuyết, bút lực

ngày càng uyển chuyển, tung hoành , lão thực” Bên cạnh đó, bàn về thế giới nhân vật trong văn xuôi thế sự, đời tư của Ma Văn Kháng, Nguyễn Ngọc Thiện nhận thấy nhà văn “đã hướng ngòi bút chú mục đào sâu, soi lật cặn kẽ, nghiêm ngặt vào khía cạnh hiện diện như thực thể khó nắm bắt trong đời sống con người hiện đại hôm nay Đó là sự thúc đẩy chi phối nhiều khi với sức mạnh vô hình nhưng khắc nghiệt của những ham muốn tiềm ẩn nơi mỗi con người hoặc là sự xung đột, va chạm gay gắt về lợi ích giữa những dục vọng của những cá thể khác nhau” Nhìn chung, theo nhà nghiên cứu này, văn xuôi

Ma Văn Kháng không xa lạ với cuộc sống con người, nó khơi dậy cho người

Trang 10

ta những cảm xúc phong phú về trạng thái nhân thế Chất nhân văn, vẻ bi tráng và nét trữ tình đằm thắm ngày càng ngời lên, phát lộ và đó là nét đặc sắc riêng trong văn phẩm của ông Đây là những gợi ý rất quan trọng của tác giả luận văn khi xem xét sự thay đổi theo hướng hiện đại hóa của tư duy nghệ thuật Ma Văn Kháng, kể từ những sáng tác sau này về đề tài đô thị gắn với thế sự, đời tư

Bên cạnh những nghiên cứu mang tính hệ thống khoa học của PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện, còn là rất nhiều những công trình bài viết của nhiều nhà nghiên cứu phê bình tên tuổi Bởi tiểu thuyết Ma Văn Kháng đương đại đã thực sự gây được sự chú ý,quan tâm đặc biệt của đông đảo độc giả cũng như giới nghiên cứu, phê bình văn học và đã trở thành hiện tượng văn học một

thời Các tiểu thuyết Mưa mùa hạ, Đám cưới không có giấy giá thú, Côi cút giữa cảnh đời…đã tạo ra cuộc tranh luận sôi nổi làm cho đời sống văn học đương đại trở nên phong phú va đa dạng hơn

Mưa mùa hạ (1982) là tác phẩm đầu tiên của nhà văn được thể hiện tinh

thần đổi mới được nhiều người quan tâm Trên tờ báo văn nghệ số 15 ra ngày 19/4/1983, tác giả Trần Đăng Xuyền đã đưa ra nhận xét khái quát về tác phẩm

“Giá trị của Mưa mùa hạ không chỉ ở chỗ mạnh dạn lên án cái tiêu cực mà

chủ yếu xây dựng được cách nhìn,thái độ đúng đắn trước những cái xấu, cái ngáng trở bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.Nhà văn Tô Hoài trong bài viết “Đọc

Mua mùa hạ” trên báo văn nghệ số 154 ra tháng 9 năm 1983 đã khẳng định:

“Mưa mùa hạ là toàn cảnh xã hội hiện nay thu nhỏ lại mà vẫn đầy đủ mầu sắc thật chính xác và phong phú… Ở Mưa mùa hạ, Ma Văn Kháng chứng tỏ tài

năng thể hiện được những chi tiết độc đáo trong miêu tả người, quang cảnh và nội tâm”…

Sau Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (1985) là tác phẩm nhận

được sự quan tâm đặc biệt của độc giả, nó “là cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất

Trang 11

của Nhà xuất bản phụ nữ từ xưa đến nay” Trong những ý kiến nhận xét đánh giá về Mùa lá rụng trong vườn có một số ý kiến đáng lưu tâm Tác giả Trần Đăng Xuyền trong bài “Phải chăm lo cho tất cả mọi người” trên báo Văn nghệ

số 40 ra ngày 5/10/1985 nhấn mạnh “Viết Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn

Kháng đã rọi một luồng ánh sáng nhân đạo khi đánh giá con người trong thời

kì khó khăn phức tạp hiện nay” Trong bài viết “Bàn thêm về Mùa lá rụng trong vườn” Nguyễn Văn Lưu trên báo văn nghệ số 25 ra ngày 21/6/1986 đã nhận xét: “Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn tìm câu trả lời cho sự khám

phá mối quan hệ gần gũi, thân thiết với tất cả mọi người, mối quan hệ cá nhân- gia đình – xã hội Nhà văn tái hiện đời sống trong mỗi gia đình Việt Nam hiện nay, đặt ra những vấn đề bức thiết,mỗi con người, mỗi gia đình phải sống như thế nào và xã hội phải quan tâm lại như thế nào” Năm 1999,

trong “Cuộc thảo luận tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn) lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Hồ Anh Thái đã có những nhận xét sắc sảo: “so với Mưa mùa hạ, cuốn tiểu thuyết này vượt lên với cách nhìn đời, nhìn người lịch

lãm, không duy lý mà hợp tình, phải lẽ, với nghệ thuật xây dựng nhân vật tinh túy, điêu luyện… Nó là tiểu thuyết đã đạt đến độ hoàn chỉnh”…

Sau Mùa lá rụng trong vườn, sự xuất hiện của cuốn tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú) cưới không có giấy giá thú (1989) thực sự gây lên

một cơn sốt Một loạt các bài viết bàn về tác phẩm này ra đời: “Nếu đời là

một vại dưa muối hỏng” (Vũ Dương Quỹ), “Nếu Đám cưới không có giấy giá thú) cưới không có giấy giá thú”(Nguyễn Văn Lưu), “Đám cưới không có giấy giá thú” (Mai Thục)…Ngày 11.1.1990, báo Văn nghệ đã tổ chức “Cuộc thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú” với sự tham gia của

nhiều nhà văn nhà nghiên cứu phê bình văn học có tiếng Trong cuộc thảo luận, những người tham gia đã bàn về cả những mặt thành công và hạn chế của tác phẩm cả trên phương diện nội dung và nghệ thuật Theo GS Phan Cự

Trang 12

Đệ “tác phẩm có nhiều trang sinh động hấp dẫn trong đối thoại, tranh luận hoặc dựng người dựng cảnh, nhưng cũng có nhiều trang chìm sâu một cách nặng nề vào suy tư, những biện giải mảng màu sắc duy lý của tiểu thuyết luận đề”

Đến năm 1999, Ma Văn Kháng tiếp tục gây chú ý đối với dư luận bởi

cuốn tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ Hồ Anh Thái nhận xét “cảm hứng phê phán mỗi ngày mạnh hơn cảm hứng trữ tình…Dường nhưn tập hợp đầy đủ mọi thói tật nhỏ nhen đố kỵ, mọi mưu chước công chức hành chính ở đây” Nguyễn Ngọc Thiện khi bàn về tác phẩm này trong cuốn sách “Tài năng và bản lĩnh nghệ sĩ” (NXB Hội nhà văn Hà Nội, 2000) của Ma Văn Kháng ánh

lên các sắc thái thẩm mĩ khác nhau: cái lý tưởng, cái cao cả đi bên cạnh những cái đê tiện, thấp hèn, cái bi tráng, thăng hoa ngẫu hứng đan xen với cái hài hước thô kệch,dung tục, sắp đặt lộ liễu giọng điệu và giọng văn cũng biến hóa linh hoạt…Tác phẩm đạt đến trình độ điêu luyện trong ngôn ngữ kể và tả, đối thoại và độc thoại” Cuốn sách sau khoi ra đời dã được dịch ra nhiều thứ tiếng như : tiếng Anh,tiếng Thụy Điển và đã nhận được những ý kiến đánh giá ban đầu,đáng chú ý là ý kiến của Wayne Karlin – nhà văn Mỹ Trong lời giới thiệu cho cuốn sách (Bản tiếng Anh, in tại nhà xuất bản Curbstone

Pess,2000), đã đánh giá thành công lớn nhất của tiểu thuyết Ngược dòng nước

lũ là ra đặt một trong những vấn đề cơ bản mà tiểu thuyết hiện đại phải đặt ra: Đâu là cách tốt nhất để sống giữa dòng nước xiết này khi mà tất cả chúng

ta đều lênh đênh không tay lái?” [61-140], đồng thời đánh giá về thành công trong việc xây dựng chân dung nhân vật của Ma Văn Kháng: Trong khi xây dựng Khiêm như một con người động cơ trong sáng, một con người nhất quán, thành công thực sự của Ma Văn Kháng ở Ngược dòng nước lũ) dòng nước lũ được thể hiện trong việc sáng tạo ra nhân vật Hoan… Hoan đạt đến tâm phức tạp hiếm có trong số những nhân vật nữ mà Văn học Việt Nam miêu tả

Trang 13

Các công trình bài viết đã đánh giá thẩm định văn chương Ma Văn Kháng trên các góc độ: đề tài, nội dung và cách phản ánh hiện thực, cách kết cấu, cách xây dựng nhân vật, ý nghĩa lớn lao đối với cuộc sống và con người…

Ở các bài viết mỗi tác giả có cách đánh giá phê bình riêng xong nhìn chung các tác giả đều xuất phát từ cái nhìn biện chứng từ bản chất văn học, từ nguyên lý tiếp cận và tiếp nhận văn học Những ý kiến những nhận định của

họ rất khoa học, thỏa đáng về cả mặt được lẫn mặt chưa được của ngòi bút

Ma Văn Kháng Có thể coi đây là nguồn tài liệu quý giá và hữu ích để người viết luận văn hiểu thêm về văn chương Ma Văn Kháng

Trong nghiệp cầm bút của mình bên cạch sự thành công về thể loại tiểu thuyết, Ma Văn Kháng cũng gặt hái những thành công đáng kể ở thể loại truyện ngắn Thời kì 1975-1985 Ma Văn Kháng tập trung sáng tác tiểu thuyết

và ông đã đạt được nhiều thành công Đồng bạc trắng hoa xòe (1979); Vùng

biên ải (1983) đã tái hiện được “cả một giải đoạn lịch sử ngắn ngủi những rắc rối vào bậc nhất của CMVN, tiến hành trên một vùng núi phong kiến nghéo nàn lạc hậu”[61-140] Theo Hoàng Tiến, Đồng bạc trắng hoa xòe đã xác định

lên hàng loạt nhân vật nào cũng có đường dẫn riêng, phát triển tâm lý và tính

cách như là nhân vật chính và “tác giả thành công đặc biệt là nhân vật người Mèo với lối sử dụng cách nói miền núi”[61-140] Bên cạch việc đánh giá

thành công của tác phẩm ông cũng chỉ ra được những hạn chế của việc xử lý

nhân vật, ông cho rằng tác giả “ như một phù thủy non tay cướp gọi âm binh lên dầy đặc nhưng không đủ sức sai phái chúng”[61-145], Vùng biên ải

(1983) ra đời thể hiện sự đấu tranh quyết liện căng thẳng giữa lực lượng cách mạng và phản cách mạng, đặc biệt là sự hoành hành của hiện tượng quái gở nhất trong giai đoạn lịch sử này mà ta gọi là thổ phỉ Bài viết của Đỗ Ngọc Thạch đã khẳng định Ma Văn Kháng đã đạt được những thành công nhất định

Trang 14

trong xây dụng nhân vật, phản ánh chiều sâu tâm lý nhân vật “sáng tạo nên một hệ thống nhân vật có tính cách mạnh mẽ và sắc nét, mỗi nhân vật đều có

vị trí xứng đáng trong tác phẩm”[60-135], ta không còn thấy sự rạch ròi giữa

cái xấu cái tốt, cái ác , cái thiện như các tác phẩm ở thời kì trước mà cái xấu

,cái thấp hèn, cái ác nó chui lủi ở mọi nơi Đám cưới không có giấy giá thú

(1989)…với những tác phẩm này Ma Văn Kháng đã chứng mình ông không chỉ là nhà văn của vùng cao, mà ông đã tạo ra một sắc thái mới cho mảnh đất đồng bằng này Nhà văn đã đặt ra nhiều vấn đề về con người trong cuộc sống ngày hôm nay Nhân vật trong tác phẩm của ông trở nên phong phú đa dạng

và phức tạp hơn Ma Văn Kháng “có những thể hiện và khả năng khám phá con người ở nhiều chiều,nhiều bình diện xuất từ cái nhìn nhân đạo về con người”[66] Ông cho rằng phải có một cái nhìn mềm dẻo linh hoạt uyển

chuyển hơn về con người

Gần đây còn có những công trình nghiên cứu ít nhiều đề cập đến ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng như luận văn Thạc sĩ của

Lê Thanh Hùng (2006) – Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu đổi mới (Giai đoạn sáng tác 1980 – 1989); Lê Minh Chung (2007) – Tiểu thuyết Ma

Văn Kháng thời kì đổi mới; Đỗ Thị Thanh Quỳnh (2006) – Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng; luận án tiến sĩ của

Nguyễn Thị Huệ (2000) – Những dấu hiệu đổi mới trong văn xuôi của Việt Nam từ 1980 đến 1986 – Qua bốn tác giả: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,

Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn…

Từ việc tìm hiểu các bài viết, công trình nghiên cứu sáng tác của Ma Văn Kháng ở từng khía cạnh cụ thể có liên quan đến những vấn đề mà luận văn nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới ít nhiều đã được tìm hiểu, đề cập đến Tuy nhiên, những công trình đó mới chỉ dừng lại ở những ý kiến, nhận định có tính khái

Trang 15

quát, tổng hợp Mặc dù vậy, trong mức độ nhất định, các tài liệu kể trên sẽ là những gợi ý, định hướng, là nguồn tư liệu quý báu và cần thiết cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu của mình

Luận văn sẽ góp thêm cách nhìn nhận, tiếp cận với phong cách nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Vì thời gian có hạn, luận văn không đi sâu nghiên cứu tất cả các vấn đề thuộc phong cách nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng mà chỉ đi sâu tập trung vào 3 vấn đề: một số vấn đề lý luận phong cách, các yếu tố hình thành nên phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng; thế giới nhân vật, các kiểu nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật; ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật

Trong quá trình nghiên cứu những sáng tác của Ma Văn Kháng , chúng

tôi tập trung vào một số tiểu thuyết tiêu biểu của nhà văn như Mùa lá rụng

trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ Tuy nhiên

để thấy rõ sự chuyển hướng trong phong cách nghệ thuật của nhà văn, chúng tôi có đề cập đến sáng tác của nhà văn trước đổi mới và có so sánh với những nhà văn khác

4 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng (qua Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ) nhằm hướng tới mục đích cụ thể như sau:

Luận văn chỉ ra được những nét đặc sắc riêng trong thế giới nghệ thuật của nhà văn từ đó góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật Ma Văn Kháng

Nâng cao khả năng cắt nghĩa, lý giải truyền thụ cho giáo viên - học sinh trong quá trình giảng dạy và học tập về tác phẩm của Ma Văn Kháng trong trường THPT

Trang 16

Chỉ ra yếu tố chi phối nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của Ma Văn Kháng, qua đó khẳng định mối quan hệ thống nhất hữu cơ giữa các yếu

tố nổi trội: Vấn đề lý luận phong cách, các yếu tố hình thành nên phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng; thế giới nhân vật, các kiểu nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật; ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật Khẳng định sự đóng góp to lớn của Ma Văn Kháng trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới

5 Phương pháp nghiên cứu và bố cục luận văn

Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp thống kê, khảo sát

6 Đóng góp của luận văn

Chỉ ra những nét đặc sắc trong phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng Qua thế giới nhân vật, ngôn ngữ giọng và điệu góp phần khẳng định vị thế của Ma Văn Kháng trong văn học Việt Nam đương đại

Trang 17

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ

SỰ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT

MA VĂN KHÁNG

1.1 Khái quát về phong cách nghệ thuật

1.1.1 Một số quan niệm về phong cách nghệ thuật

Khái niệm phong cách có nguồn gốc từ “stylos” (Hy Lạp), “stylus” (La Mã), “style” (Pháp) Nó được coi như một thuật ngữ của ngôn ngữ học, nghệ thuật và văn học (với nghĩa khởi đầu là “nét chữ, bút pháp”)

Có nhiều định nghĩa về phong cách - những định nghĩa này xòe ra như cái quạt giữa sự thừa nhận phong cách là một phạm trù thẩm mỹ rộng nhất, bao quát và sự thừa nhận nó như những đặc điểm của một tác phẩm văn học riêng lẻ (theo M B Khravchenco)

Ở đây tạm thời chúng tôi chia làm hai khu vực:

1 - Quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài (chủ yếu là Liên

Xô cũ)

2 – Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước

Trong phần này, chúng tôi sẽ điểm qua một số quan niệm trong hai khu vực đó

1.1.1.1 Quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài

Ở Phương Tây ngay từ thời cổ đại với các đại biểu xuất sắc như Platon, Aristotle, khái niệm phong cách đã được nghiên cứu và vận dụng Thế

kỷ XIX - XX, khái niệm phong cách ngày càng được quan tâm sâu sắc

Trang 18

Do điều kiện tài liệu có hạn, ở đây chúng tôi nghiên cứu chủ yếu dựa trên các định nghĩa khác nhau về phong cách của các nhà nghiên cứu Liên Xô cũ

Đ Likhachev đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò phong cách của nhà văn trong việc tái tạo hiện thực đời sống bằng các phương tiện nghệ thuật, đồng

thời nhìn nhận phong cách với hai tư cách: “Phong cách như là hiện tượng ngôn ngữ văn học và phong cách như là một hệ thống hình thức và nội dung nhất định” Còn Ar Grigorian nêu lên mối quan hệ gắn bó giữa phong cách

và phương pháp, thế giới quan, bút pháp của cá nhân nghệ sĩ:“Phong cách là

sự thống nhất cao nhất của tất cả các phạm trù đó”

V Turbin nhấn mạnh tới yếu tố ngôn ngữ trong việc định hình một phong cách V Jirmunxky chú ý tới thế giới quan và sự thể hiện thế giới quan

đó bằng các phương tiện ngôn ngữ thông qua hình tượng

V Kôvakev coi “Phong cách là sự thống nhất chỉnh thể của nhà văn” L Novichenco hiểu phong cách văn học là vẻ đặc thù trong những tác

phẩm của nhà văn hoặc nhóm nhà văn có chung quan điểm về cuộc sống Và phong cách biểu hiện tính đặc trưng về hình thức và nội dung tác phẩm

V Đneprov và Ya Elxberg đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn

chỉnh về phong cách: “Phong cách biểu hiện sự toàn vẹn của hình thức có tính nội dung được hình thành trong sự phát triển, trong tác động qua lại và trong sự tổng hợp các yếu tố của hình thức nghệ thuật, dưới ảnh hưởng của đối tượng và nội dung tác phẩm, của thế giới quan của nhà văn và của phương pháp cuả anh ta vốn thống nhất với thế giới quan Phong cách được hình thành từ tất cả những yếu tố ấy, nảy sinh từ chúng mà ra Phong cách -

đó là sự thống trị của hình thức nghệ thuật, là sức mạnh tổ chức của nó”

Trong “Trong cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học”,

M B Khravchenco đã dành cả chương 3 để bàn đến những vấn đề phong cách Tác giả đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về phong cách của các

Trang 19

nhà nghiên cứu Liên Xô cũ (như đã nêu trên) để khẳng định sự phong phú và tính đa dạng trong quan niệm về phong cách Tuy không có sự thống nhất chung, nhưng về cơ bản các nhà nghiên cứu đã nhất trí coi phong cách là

“biểu hiện những đặc điểm của cá tính sáng tạo nhà văn, sự hoàn chỉnh của nhận thức nhà văn về cuộc sống, của cách nhìn đối với thế giới” Phong cách

cá nhân được hình thành dần trong quá trình sáng tạo, trong việc nắm bắt và

xử lý các vấn đề của cuộc sống; bằng các thủ pháp nghệ thuật, các phương thức kết cấu tác phẩm, các yếu tố ngôn ngữ, đề tài, nhân vật, tư tưởng… Với tất cả các yếu tố nội dung và hình thức mang tính đặc thù của tác phẩm, nhà văn sẽ tạo lập cho mình một phong cách riêng Bên cạnh tính ổn định, nhà văn phải tránh lặp lại mình bằng cách đi tìm những phương thức thể hiện mới

Như vậy, xung quanh khái niệm phong cách nghệ thuật có nhiều quan điểm khác nhau nhưng tựu trung lại có hai nguồn ý kiến cơ bản: một nhấn mạnh sự thống nhất của những yếu tố nội dung và yếu tố hình thức của tác phẩm; một cho rằng phong cách được coi như là hình thức toàn vẹn có tính nội dung

Mặc dù vậy, vẫn có thể nhận ra sự thống nhất, bởi các tác giả đều quan tâm đặc biệt đến hai yếu tố: thứ nhất là nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn chương và thứ hai tài năng độc đáo của cá nhân nghệ sĩ

1.1.1.2 Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước

Phong cách văn học, theo Trần Đình Sử, tuy khuynh hướng có khác nhau, song về đại thể hầu hết các nghiên cứu đều có cách tiếp cận chung khá thống nhất là xét tần xuất để xác định hiện tượng độc đáo, sau đó xây dựng

mô hình chỉnh thể, hệ thống, giải thích các hiện tượng tìm được về mặt quan niệm của thời đại và của tác giả Đó là cách tiếp cận khách quan

Hoài Thanh có lần viết về phong cách trong phê bình văn học: “Chớ vội đi tìm cái gọi là phong cách Hãy cứ nghiên cứu thật sâu, thật kỹ, gắng

Trang 20

phát hiện những vấn đề ẩn khuất bằng cả tâm hồn và trí tuệ của mình, kỳ thật chín Sau đó hãy cầm bút Và hãy cố biểu đạt sao cho chính xác nhất, gọn nhất ý tưởng của mình Lúc này, phong cách tự nó sẽ đến Không phải mất công tìm kiếm gì cả Bởi vì phong cách chính là tổng thể quá trình sáng tác đó” Ý kiến đó phải chăng cũng là quan niệm phong cách văn chương nói

chung?

Một trong những người đầu tiên thực hành phê bình phong cách học ở

Việt Nam là Phan Ngọc với công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong

Truyện Kiều Công trình này là một tìm tòi về phong cách học trong khi bộ

môn này ở Việt Nam còn thiếu một lý luận nhất quán để khẳng định như một khoa học thật sự Ông phải tiến hành xây dựng lại các khái niệm của môn phong cách học, khám phá mối quan hệ nội dung và hình thức với tần suất lặp lại của một hiện tượng sau đó kiểm chứng trên trục lịch sử và thời đại Theo Phan Ngọc, mỗi một ký hiệu ngôn ngữ có hai mặt, mặt thông báo và mặt biểu

cảm Phong cách học là khoa học nghiên cứu mặt biểu cảm của ngôn ngữ:

các kiểu lựa chọn và giá trị biểu cảm của các kiểu lựa chọn ấy Một kiểu lựa chọn có giá trị thẩm mỹ trước hết phải được chuẩn bị về ngữ cảnh, môi trường sống cho nó và của nó Đánh giá một hiện tượng phong cách học chính là

nhận xét xem nó phù hợp với ngữ cảnh hay không

Sau khi đã trình bày một cách sáng rõ quan điểm của mình về phong cách và phong cách học, Phan Ngọc đi sâu tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều Ông đã thực hiện một loạt những đối lập Truyện Kiều với tất cả những gì liên quan đến Truyện Kiều trước đó để tìm ra cái bước đổi mới của Nguyễn Du Như thế phong cách học của Phan Ngọc không còn là phong cách học hình thức, mà đã gắn chặt với nội dung, điều kiện lịch sử và khu biệt với phong cách thời đại

Trang 21

Đỗ Lai Thúy thì coi phong cách là sự lệch chuẩn Mỗi thời đại văn hóa tạo ra một phong cách của mình, và mỗi nhà văn sống trong thời đại đó

lại có phong cách riêng Phong cách của họ chính là sự lệch so với cái chuẩn của thời đại Từ ý tưởng trên, Đỗ Lai Thúy đã đối sánh hai phong cách thơ nôm: Bà huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương Thơ Thanh Quan là hòa điệu của sự thống nhất giữa con người và vũ trụ, giữa nội tâm và ngoại giới Mỗi bài thơ của bà là một hệ thống niêm, luật, vần, đối hết sắc chặt chẽ hài hòa, trang trọng đến mức cổ điển Còn thơ Hồ Xuân Hương là một sự lệch chuẩn hoàn toàn so với phong cách Thanh Quan nói riêng và toàn bộ phong cách Đường thi nói chung Hồ Xuân Hương cũng là người chuyên thơ Đường luật Nhưng cách sử dụng ngôn ngữ của nữ sĩ này nhằm chống lại những phép tắc giả tạo, trái với đời sống tự nhiên của một xã hội tiểu nông đang bị Nho giáo hóa nặng nề Tiếng nói cá nhân mạnh mẽ của bà trong những bài thơ

“Thi trung hữu quỷ” ấy đã phá vỡ phong cách chung của thể loại thơ Đường

để tạo nên phong cách thơ Hồ Xuân Hương - Bà Chúa Thơ Nôm: Một phong cách cà khịa trong hoài niệm phồn thực

Nguyễn Đăng Mạnh lại coi tác giả là nhân tố quan trong nhất ảnh hưởng đến tác phẩm Thậm chí, tác phẩm chỉ là sản phẩm, là con đẻ của nhà văn nên có thể xem cha để biết con, xem cây táo để biết quả táo… Hành trình

đi vào thế giới nghệ thuật của Nguyễn Đăng Mạnh có xuất phát điểm là Nhà văn, đến điểm giữa là Tư tưởng nghệ thuật và điểm cuối cùng là Phong cách

Rồi phong cách lại được ông giải thích bằng những tính cách cá biệt của nhà văn, nên rút cục điểm đầu và điểm cuối gặp nhau

Đỗ Đức Hiếu trong Suy nghĩ về phong cách lớn và phân kỳ lịch sử

văn học Việt Nam đã xem những phong cách lớn như là tiêu chí phân kỳ văn

học Đó là tiêu chí dựa trên những biến động, những thay đổi của bản thân văn học trong quy luật phát triển của nó Khi một thời kỳ văn học có những

Trang 22

thay đổi, những phá vỡ, những sáng tạo, những bước ngoặt, chúng ta có thể xác định bước chuyển mình của nó sang một thời kỳ mới Theo đó, ông chủ trương phân chia văn học sử Việt Nam thành hai thời đại lớn: thời đại thứ nhất (thế kỷ X - XIX) với phong cách được đặc trưng bởi các sang tác tiêu biểu nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu XIX; thời đại thứ hai (đầu thế kỷ XX trở

về sau) với phong cách mang đậm dấu ấn sáng tác của Hồ Chí Minh - mỗi thời đại được đánh dấu bằng một phong cách lớn

Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra khái niệm: “Phong cách sáng tác (phong cách nghệ thuật)

là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc

Trong nghĩa rộng: Phong cách là nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm một tính chỉnh thể có thể cảm nhận được, một giọng điệu và một sắc thái thống nhất”

Và Phương Lựu cũng đưa ra một định nghĩa tương tự: “Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật, có phẩm chất thẩm mỹ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú” Đúng như vậy tính độc đáo là yếu

tố quyết định tạo phong cách nghệ thuật

Phê bình phong cách học, cũng như mọi lĩnh vực khác, không chỉ có một kiểu quan niệm duy nhất Nhiều lối đi đã và sẽ nảy sinh trên con đường tìm đến ý tưởng thống nhất Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh

cá tính sáng tạo độc lập mang tính thẩm mỹ của nhà văn, cụ thể hóa các yếu

tố tạo phong cách nghệ thuật tác giả Nhà văn muốn có phong cách riêng trước hết phải có tư tưởng độc đáo, có cách cảm nhận thế giới độc đáo qua

Trang 23

cảm hứng và hệ thống phương thức riêng, lẽ dĩ nhiên phải là “tính độc đáo chân chính” (Hêghen)

Trang 24

1.1.1.3 Quan niệm về phong cách nghệ thuật của tác giả luận văn

Phê bình phong cách học còn là một con đường đang được khám phá

Và trên con đường này, các nhà nghiên cứu còn nhiều kiến giải mới, quan niệm mới về tác phẩm văn chương, về ngôn ngữ văn chương, về phong cách tác phẩm, tác giả và thời đại Và quan trọng hơn, sau khi đã mô tả được phong cách thì phải lý giải tại sao lại có phong cách ấy từ cái nhìn nghệ thuật và cái nhìn thế giới của nhà văn

Qua những ý kiến về phong cách của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể rút ra những nét cơ bản nhất về phong cách: Phong cách là những biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật, có tính thống nhất

và tương đối ổn định, được lặp lại trong nhiều tác phẩm của nhà văn, thể hiện cái nhìn và sự chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo của nhà văn đối với thế giới và con người

Văn học rất cần sự đa dạng, độc đáo của những cá tính sáng tạo Sự tồn tại và phát triển của văn học không thể tách rời phong cách Bất cứ nghệ sĩ nào cũng có đặc điểm riêng của mình, nhưng phong cách thì không thể ai cũng có Phong cách - đó là kết quả sáng tạo không mệt mỏi của mỗi nghệ sĩ

và “tương lai chỉ thuộc về những ai nắm được phong cách” (V Hugo)

Xin mượn lời Thanh Thảo để kết thúc mục này: “Vài bài thơ cũng có thể làm nên một phong cách thơ, ngược lại nghìn bài thơ chưa chắc làm nên một phong cách”

1.1.2 Một số khuynh hướng nghiên cứu phong cách nghệ thuật

Có thể có rất nhiều quan niệm khác nhau về các khuynh hướng nghiên cứu phong cách Trong luận văn này chúng tôi dựa trên quan niệm của PGS

TS Tôn Thảo Miên

Theo Tôn Thảo Miên, có 4 nhóm khuynh hướng nghiên cứu phong cách:

Trang 25

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của phong cách

- Nghiên cứu phong cách tác giả

- Nghiên cứu phong cách tác phẩm

- Nghiên cứu phong cách tác giả và tác phẩm

Luận văn chủ yếu tìm hiểu về phong cách tác giả, cụ thể là tác giả Ma Văn Kháng

Căn cứ để khẳng định phong cách tác giả là những đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức trong tác phẩm văn học, tạo nên tính độc đáo và giá trị của mỗi nhà văn, một hiện tượng văn học Theo chúng tôi, những biểu hiện độc đáo và giá trị thể hiện tài năng sáng tạo ấy, đều được chi phối từ tư tưởng nghệ thuật của tác giả biểu hiện cụ thể qua cảm hứng sáng tác, thế giới hình tượng, giọng điệu và ngôn ngữ…

Văn chương là sản phẩm tinh thần của con người, một sản phẩm đặc thù mang dấu ấn độc đáo của cá tính sáng tạo Sáng tạo nghệ thuật là hoạt động tất yếu của người nghệ sĩ Nhưng người nghệ sĩ chỉ có thể tồn sinh khi tạo được cho mình một phong cách, một cá tính riêng trong sáng tạo Vấn đề này phải được xem như một chuẩn giá trị làm nên sự hiện hữu của nhà văn trong tâm thức người đọc Sự định hình phong cách của mỗi nhà văn không chỉ là quá trình rèn luyện mà còn thể hiện tài năng của họ

1.2 Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng

1.2.1 Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nghệ thuật nhà văn nói chung:

Truyền thống gia đình, hoàn cảnh sống có ảnh hưởng to lớn đến sự hình thành phong cách nhà văn

“Phong cách là người” Câu nói của Buyphông - nhà văn Pháp nổi

tiếng - khẳng định tính thống nhất giữa nét độc đáo nhà văn thể hiện trong

Trang 26

sáng tác và bản chất con người anh ta Đồng thời, phong cách - cái làm nên bản lai diện mục của nhà văn là một minh chứng cho cái tôi nghệ sĩ chân chính của họ - khẳng định bản lĩnh cá nhân của nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật

Mỗi người sinh ra và lớn lên đều có riêng trong mình một khí chất, năng lực và kinh nghiệm sống Qúa trình đó dần hình thành trong mỗi chúng

ta một cá tính đặc biệt gọi là phong cách Trong cùng một hoàn cảnh, phong cách của mỗi người vẫn không hoàn toàn giống nhau

Trong Nhà văn Việt Nam hiện đại: Chân dung và phong cách,

Nguyễn Đăng Mạnh rất coi trọng yếu tố tác giả Coi cá tính tạo nên diện mạo,

phong cách văn chương nhà văn, Nguyễn Đăng Mạnh xác định: “Văn chương

là một hình thái ý thức xã hội có đặc trưng riêng Đây là lĩnh vực cần đến năng khiếu và tài nghệ, cần cá tính và phong cách” (Nhà văn, tư tưởng và

phong cách)

Quan niệm phong cách của ông chịu ảnh hưởng bởi định nghĩa Buyphông Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng có sự thống nhất con người xã hội

và chủ thể sáng tạo “Con người là một hiện tượng rất phong phú và phức tạp

Vì thế đối với nhà văn, con người trong tác phẩm và con người ở ngoài đời không đồng nhất Văn tức là người, ý kiến ấy không nên quan niệm một cách đơn giản máy móc Tuy nhiên, không đồng nhất không có nghĩa là không thống nhất Vì thế sự đối chiếu tư tưởng nhà văn trong nghệ thuật với con người trong đời sống của ông ta vẫn rất có ý nghĩa”

Để có thể tìm hiểu chủ thể sáng tạo qua con người xã hội, Đỗ Lai Thúy cho rằng: con người xã hội bao giờ cũng là nhân vật của vũ hội hóa trang, nên muốn thấy được bộ mặt thực của họ, phải biết nhòm qua chỗ hở của mặt nạ Đó là cá tính

Trang 27

Nguyễn Đăng Mạnh chú ý nhiều đến cá tính, tính tình và tác phong

sinh hoạt của nhà văn là như vậy Ông coi phong cách “phụ thuộc vào những thói quen tâm lý và những sở trường riêng của nhà văn” Như Xuân Diệu, sợ

cô đơn, quý thời gian, chu đáo với bạn bè; Nguyễn Tuân, khó tính, ham đọc không ham viết nhiều, góc cạnh, cá tính; Nguyên Hồng xuề xòa, dễ xúc động… Từ đó, dựng nên phong cách nhà văn, như Nguyễn Tuân ngông, Nguyên Hồng thành thực trong sự rung động cực điểm của tâm hồn…

Nghiên cứu phong cách trong mối quan hệ với nhân thân nhà văn, thực chất là nghiên cứu tư tưởng của nhà văn đó Tầm cỡ một nhà văn phụ thuộc vào tầm cỡ tư tưởng của ông ta Nguyễn Đăng Mạnh đã gọi tư tưởng

của nhà văn là tư tưởng nghệ thuật (một thuật ngữ mượn Bêlinski): “nhận thức bằng toàn bộ con người tinh thần với tất cả nội dung phong phú và tính tổng thể toàn vẹn của nó” Nguyễn Đăng Mạnh coi tính chủ thể là quan trọng hơn, có tính quyết định, bởi người nhận thức ở đây là nghệ sĩ, là những cá nhân với những cá tính độc đáo Từ đó, tư tưởng nghệ thuật mới là của riêng

của mỗi nhà văn

Tư tưởng nghệ thuật của một nhà văn, theo Nguyễn Đăng Mạnh, phụ thuộc vào những hoàn cảnh tác động đến nhà văn đó Ông chia ra thành hoàn

cảnh lớn và hoàn cảnh nhỏ Hoàn cảnh lớn chính là thời đại nhà văn sống

“Hoàn cảnh lớn quyết định tầm cỡ tư tưởng của nhà văn Nhà văn lớn phải là nhà văn của dân tộc, của nhân dân, của thời đại mình” Hoàn cảnh lớn chi

phối tất cả nhà văn sống cùng thời với nhau, nhưng lại không giống nhau Bởi

sự tác động đó thông qua một lăng kính là hoàn cảnh nhỏ Mà hoàn cảnh nhỏ

của mỗi người thì lại rất khác nhau

Nguyễn Đăng Mạnh rất chú ý đến hoàn cảnh nhỏ của nhà văn Ví như Xuân Diệu - “cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong”, từ nhỏ đã phải xa mẹ, khao khát tình thương, dễ mặc cảm vì sự thờ ơ lạnh nhạt của người đời Điều

Trang 28

ấy giải thích ở Xuân Diệu một trái tim thiết tha, vồ vập bám riết lấy cuộc sống, muốn giao cảm hết mình với mọi người, và một linh hồn luôn cảm thấy

cô đơn, bị ruồng bỏ Nguyễn Tuân thì sinh ra và lớn lên trong Vang bóng một thời: những tiệc rượu, tiệc trà đầy nghi lễ của một lớp người dường như còn sót lại của thời đại trước, cái “ngông” của một nhà thơ tài hoa bất đắc chí…

Khó có thể hiểu tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Tuân nếu không đặt trong quan hệ với môi trường sống như thế của nhà văn

Trong quá trình nghiên cứu, ông đặt mỗi tác phẩm vào “hoàn cảnh lớn”, “hoàn cảnh nhỏ”, tìm sự thống nhất và mối liên hệ giữa các tác phẩm,

thậm chí giữa các tình tiết rải rác đó đây trong nhiều tác phẩm, tìm sự phát triển của các yếu tố qua các chặng đường sáng tác của từng tác giả Rồi mới dựng lên bộ ba vấn đề: Quan điểm sáng tác - Qúa trình sáng tác - Phong cách nghệ thuật, để thâu tóm toàn vẹn sự nghiệp của mỗi vị

Như vậy, tính cách nhà văn được tạo nên từ hoàn cảnh sống, môi trường sống (đôi khi mang tính cá biệt đối với cá nhân nhà văn) Và chính điều đó giúp lý giải quan điểm sáng tác trong suốt quá trính sáng tạo cũng như phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn Dựa trên những nhận định ấy của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, chúng tôi tìm hiểu những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng

1.2.2 Những nhân tố tác động đến sự hình thành phong cách nghệ thuật nhà văn Ma Văn Kháng

1.2.2.1 Tố chất thông minh sắc sảo và cá tính sáng tạo của nhà văn

Ma Văn Kháng sinh ngày 01 tháng 12 năm 1936, tên thật là Đinh Trọng Đoàn, người dân tộc kinh, quê gốc ở Phường Kim Liên, Quận Đống

Đa, Thành phố Hà Nội, nay ở Quận Ba Đình - Hà Nội Ông là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Sinh ra trong một gia đình hiếu học, Ma Văn Kháng được bố mẹ rất quan tâm đến chuyện học

Trang 29

hành Vốn có tố chất thông minh cùng với năng khiếu và sự ham học hỏi tìm tòi trong sáng tạo nghệ thuật ông đã thành công trên con đường sự nghiệp Ông được đánh giá là một trong những “cây bút văn xuôi lực lưỡng” của văn học Việt Nam hiện đại nửa cuối thế kỷ XX

Là một chàng trai Hà Thành chính hiệu nhưng Ma Văn Kháng có một thời gian khá dài sống ở miền núi Tây Bắc Ma Văn Kháng đã từng tham gia quân đội từ tuổi thiếu nhi và được cử đi học ở Khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc Năm 1960, ông vào học tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sau khi tốt nghiệp Đại học, Ma Văn Kháng lên dậy học ở Lào Cai và đã lần lượt trải qua nhiều đơn vị công tác Ông đã từng làm giáo viên dạy Văn, hiệu trưởng trường cấp 2, cấp 3 phổ thông Lào Cai, về sau ông được Tỉnh ủy Lào Cai điều

về làm thư ký cho Bí thư Tỉnh ủy, rồi làm phóng viên, Phó tổng biên tập báo Đảng bộ Tỉnh Suốt 20 năm gắn bó với mảnh đất Tây Bắc, Ma Văn Kháng am hiểu lối sống, phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số Cái tên

Ma Văn Kháng phần nào đã nói lên tình yêu thương mà ông dành cho mảnh đất giàu tình nghĩa ấy Từ trong tâm khảm, nhà văn đã coi Tây Bắc là quê hương thứ hai của mình

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, từ năm 1976 đến nay, Ma Văn Kháng về sống và công tác ở Hà Nội Ông từng làm Tổng biên tập, Phó Gíam đốc Nhà xuất bản Lao động Đến tháng 3 năm 1995, ông là Uỷ viên Ban chấp hành Đảng - Đoàn Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV, trưởng ban sáng

tác của Hội và là Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài Ở cương vị công

tác nào, ông cũng là người dễ mến, sống chan hòa với mọi người

Trải qua gần năm mươi năm cầm bút, Ma Văn Kháng đã chứng tỏ khả năng tung hoành ngòi bút của mình trên nhiều lĩnh vực và đề tài khác nhau Đức tính kiên trì, tố chất thống minh của nhà văn đã giúp ông trong việc tìm

Trang 30

tòi nghệ thuật biểu hiện và mạnh dạn phanh phui trực diện những vấn đề phức tạp, gai góc của đời sống hiện tại

Sau nhiều năm miệt mài tâm huyết với sáng tạo nghệ thuật cho đến nay, Ma Văn Kháng đã đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại gần 20 truyện ngắn, 10 tiểu thuyết và 8 tập truyện ngắn viết cho thiếu nhi Với khối lượng tác phẩm đồ sộ và bề thế, cùng với chất lượng nghệ thuật trong từng trang viết của mình, Ma Văn Kháng đã khẳng định vị trí xứng đáng trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại

Ở những sáng tác thời kỳ đầu người ta có thể thấy ngay chỗ mạnh và cũng là đặc điểm trong các sáng tác của Ma Văn Kháng là tính chất tập trung

đề tài và nội dung phản ánh cuộc sống của con người miền núi Đây chính là

“đặc khu” mà Ma Văn Kháng đã dồn tâm, dồn sức trong suốt cuộc đời trai trẻ

của mình Có thể nói cùng với nhà văn Tô Hoài - người đặt nền móng xây dựng nền văn học viết về đề tài miền núi, Ma Văn Kháng đã góp sức mình khẳng định tầm cao mới trong những sáng tác viết về đề tài miền núi của nền văn học hiện đại Việt Nam

Ma Văn Kháng đã từng tâm sự “Có những sự tương hợp giữa thành nhân và đắc đạo văn chương” Chặng đường dài mấy chục năm qua của Ma Văn Kháng đã chứng minh cho sự tương hợp ấy “Tự rèn luyện mình để viết văn Viết văn để tự rèn luyện mình” chu kỳ chuyển đổi đó không ngừng vận

hành trong cuộc sống hằng ngày của Ma Văn Kháng Từ một Đinh Trọng Đoàn ngơ ngác giờ đây đã trở thành nhà văn Ma Văn Kháng được bạn đọc mến mộ Hàng ngàn trang sách của ông quện đặc tình yêu con người, tình yêu thiên nhiên và tình yêu cuộc sống

Trải qua nhiều môi trường công tác, giữ nhiều chức vụ khác nhau, Ma Văn Kháng đã phát huy mọi khả năng của mình để quan sát cuộc sống ở nhiều góc cạnh Làm việc không mệt mỏi sau mỗi chuyến đi, Ma Văn Kháng

Trang 31

lại chắt lọc lại từng mẩu nhỏ của cuộc đời để tái hiện vào trong tác phẩm của mình Bởi vậy, nhiều người đọc tác phẩm của Ma Văn Kháng cứ ngỡ rằng tác

giả viết cho mình - Ma Văn Kháng là “nhà văn của mình”

Đến với văn học bắt đầu bằng thể loại truyện ngắn, được người đọc yêu mến qua những tập truyện ngắn đặc sắc, nhưng Ma Văn Kháng chưa hài

lòng với phạm vi phản ánh của thể loại này Ông nhận ra rằng: “Chỉ có tiểu thuyết viết theo quy luật sáng tạo nghệ thuật mới cho phép tôi chuyển hóa khối lượng vốn sống khá dày dặn sau nhiều năm tích lũy, cho phép tôi phản ánh hiện thực một cách sâu sắc, cho phép tôi gửi gắm vào đó những suy nghĩ, những tình cảm, những kinh nghiệm của cá nhân tôi” Như vậy, có thể thấy

Ma Văn Kháng đã biến tất cả những cái mà mình đã thu lượm được, thành năng lượng tâm hồn và trào chảy ra đầu ngọn bút để tạo dựng cho mình một cái nhìn riêng đầy phong cách của một cây bút hiện thực, cảm thương, từng trải, tinh tế, gan ruột mà đằm thắm

Nằm trong dòng chảy của nền văn học thời kỳ Đổi mới, các sáng tác của Ma Văn Kháng cũng có những thay đổi đáng kể với những bước đột phá

về tư duy nghệ thuật Nếu như những trang viết của Ma Văn Kháng trước thập kỷ 80 thể hiện cái nhìn mang tính sử thi, thì ở giai đoạn sau nhà văn đã chuyển sang cái nhìn thế sự đời tư Cuộc sống hiện lên trong tác phẩm của ông giờ đây không còn đơn tuyến mà đa tuyến, nhiều chiều, cái xấu xen lẫn cái tốt, ma quỷ chen lẫn với thánh thần Ông quan tâm, phản ánh đến số phận con người trong nhiều quan hệ, nhiều hoàn cảnh khác nhau và cố gắng nắm bắt mọi khía cạnh của cuộc sống để lột tả một cách đầy đủ nhất trong tính đa dạng, toàn vẹn của nó

Đó là một thách thức lớn đối với tất cả các nhà văn, kể cả những nhà văn luôn gắn mình với đô thị Thách thức đó còn lớn hơn một nhà văn có thời gian lâu dài sống xa nơi phố phường, đô hội như Ma Văn Kháng Nhưng bằng

Trang 32

tài năng, bằng sức sáng tạo và cả tấm lòng của mình, Ma Văn Kháng đã thổi vào văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới một luồng sinh khí mới với cái nhìn tinh tế, sắc sảo, hướng thẳng vào những vấn đề nhức nhối trong cuộc sống hôm nay

1.2.2.2 Sự chuyển mình mạnh mẽ của một cơ chế xã hội mới

Đại thắng 1975 đã thống nhất hai miền Nam - Bắc Khát vọng cháy bỏng của một nền dân tộc về một nền tự do, độc lập trải qua ngót nửa thế kỷ chiến đấu kiên cường đã trở thành hiện thực Chiến tranh khốc liệt đã qua đi, đất nước hào hứng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

Tuy nhiên, ngay sau niềm vui chiến thắng, cả dân tộc phải đối mặt với hàng loạt khó khăn chồng chất Đó là thời kỳ chúng ta lâm vào khủng hoảng sâu sắc về kinh tế, xã hội Cơ chế quản lý cũ bộc lộ nhiều bất cập đòi hỏi phải

có sự đổi mới Đất nước hòa bình nhưng cuộc sống vẫn chồng chất khó khăn Nhiều nhu cầu chính đáng, tối thiểu của nhân dân về vật chất và văn hóa chưa được đảm bảo Mặt khác các hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển, những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ chưa kịp thời bị trừng trị, công bằng xã hội bị vi phạm… Để đưa đất nước thoát khỏi cơn khủng hoảng và tình trạng bế tắc đó, Đảng ta đã lựa chọn con đường đổi mới,

có thể nói đây là con đường phát triển tất yếu, có ý nghĩa sống còn của đất nước Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã kêu gọi

“Đổi mới tư duy” trên tất cả mọi phương diện và “Nhìn thẳng vào sự thật”

Sự đổi mới ấy đã đem đến cho văn học một không khí mới - không khí dân

chủ hóa, nói như Nguyễn Văn Long “Dân chủ hóa đã thấm sâu và được thể hiện ở nhiều cấp độ bình diện của đời sống văn học” Các nhà văn được viết

những gì họ nhìn thấy, cảm thấy kể cả những mặt trái cuả đấu tranh, mặt trái của cuộc sống Có thể nói dân chủ hóa đã tạo điều kiện cho văn học đề cập đến hiện thực trong và sau chiến tranh một cách toàn diện và sâu sắc hơn ở

Trang 33

nhiều khía cạnh Các nhà văn đã nhấn mạnh tư tưởng tôn trọng sự thật, nhìn

thẳng vào sự thật vì “Sự thật luôn luôn là linh hồn của nghệ thuật chân chính”

Thực tế công cuộc đổi mới của văn học diễn ra không hoàn toàn đơn giản một chiều mà hết sức phức tạp, có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau, thậm chí trái ngược nhau nhưng cũng chính điều này lại làm cho đời sống văn học sau Đại hội Đảng VI trở nên náo động hơn Xét cho cùng, yếu tố quan trọng nhất để đổi mới văn học thành công là cái tâm trong sáng và trách nhiệm của

người cầm bút Nói như Hà Xuân Trường: “Đổi mới văn học, điều quan trọng nhất, quyết định là cái nhìn và cái tâm của lòng trong sáng nhân ái, cộng với

ý thức đầy đủ và chức trách cao cả của văn học đối với con người, đối với cuộc đời, với nhân dân mình Không có những cái đó thì không có đổi mới”

Xuất phát từ một cảm hứng mới, tiểu thuyết thời kỳ này cũng có những thay đổi cơ bản về phương diện nghệ thuật Từ chỗ lấy sự kiện làm đối tượng hàng đầu để miêu tả hiện thực xã hội, tiểu thuyết đã hướng vào tâm hồn, tính cách số phận con người để soi chiếu trở lại lịch sử và xã hội Cái nhìn nghệ thuật trong tiểu thuyết có những bước chuyển biến rõ rệt, tiểu thuyết đã trở thành thể loại đóng vai trò chủ đạo trong đời sống văn học Đây chính là thể loại thích hợp, uyển chuyển và giàu khả năng nhất trong việc bám

sát hiện thực đời sống và khám phá số phận, tính cách con người “Con mắt”

tiểu thuyết trở thành công cụ soi chiếu cả bề rộng những vấn đề xã hội và bề sâu với từng số phận con người

Nếu điểm những gương mặt tiêu biểu cho văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới, Ma Văn Kháng phải là một trong những người được ghi công hàng đầu Cùng với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn… Ông đã dũng cảm xung phong mở đường cho sự đổi mới của văn học

Việt Nam Đúng như đánh giá của Lã Nguyên “Trước làn sóng đổi mới dâng

Trang 34

lên mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của dân tộc, trong những điều kiện cực

kỳ khó khăn của đất nước, sáng tác của Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn… đã đốt lên nhiệt tình tìm kiếm chân lý Sự đổi mới trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng nói riêng và trong sáng tác của các ông nói chung đều bắt đầu từ cái nhìn nghệ thuật”

Tiểu kết

Như vậy, xuất phát từ những vấn đề mang tính lý thuyết về phong cách, chúng tôi đã vận dụng vào tìm hiểu khái quát về sự hình thành phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng Đó là một quá trình tích lũy văn hóa lâu dài trong sự trải nghiệm rộng lớn về văn hóa và không gian địa lý Mỗi tác phẩm của nhà văn của từng giai đoạn đều in dấu tâm hồn, phong cách sống và phong cách văn chương của ông – một nhà văn có những trải nghiệm và tích lũy sâu sắc về cuộc sống về ẩn ức sâu săc của những tâm hồn tri thức Việt Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng,

cụ thể là phong cách tiểu thuyết của ông in đậm qua ba tác phẩm: Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ

Trang 35

CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG

2.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học và trong tiểu

thuyết Ma Văn Kháng

2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học

Mọi người đều biết “Văn học là nhân học” (M Gorki), là miêu tả, là

thể hiện con người, con người là đối tượng chủ yếu của văn học Dù miêu tả thần linh, ma quỷ, miêu tả đồ vật, hoặc đơn giản là miêu tả các con vật, văn học đều nhằm thể hiện con người Tất cả những gì lien quan đến con người, thuộc về con người đều nằm trong phạm vi biểu hiện của văn học Quan niệm

nghệ thuật về con người được định nghĩa: “Là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa than thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp, hình thức thể hiện con người trong văn học tạo nên giá trị nghệ thuật

và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó” (Thi pháp học - Trần Đình

Sử - NXB GD, 1998) Quan niệm nghệ thuật về con người hướng nhà văn khám phá, phát hiện cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo cụ thể

Trong văn học, con người là sản phẩm sáng tạo của nhà văn, gắn với quan niệm, phong cách nghệ thuật của nhà văn, nhưng cũng là con đẻ của thời đại Thời đại văn học mới bao giờ cũng ra đời cùng với con người mới Một mặt, sự vận động, chuyển biến của hiện thực cuộc sống làm nảy sinh những con người mới và miêu tả những con người ấy là văn học đổi mới Mặt khác, việc đổi mới cách cắt nghĩa, thể hiện con người cũng sáng tạo nên những

chuyển biến trong văn học, “chừng nào chưa có sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật vế con người thì sự tái hiện các hiện tượng đời sống khác nhau chỉ

có ý nghĩa mở rộng về lượng trên cùng một chiều sâu” Do đó, sự đổi mới

trong quan niệm nghệ thuật về con người là cơ sở của quá trình vận động và đổi mới văn học

Trang 36

Tìm hiểu, nghiên cứu về sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Ma Văn Kháng là một phương tiện để đánh giá tác phẩm của ông và cũng góp phần không nhỏ vào việc đánh giá thành tựu của văn xuôi thời kỳ sau đổi mới

2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng

Sau 1975, Ma Văn Kháng mới viết tiểu thuyết Vì vậy những sáng tác của ông giai đoạn trước 1980 nằm trong sự phát triển của văn học Việt Nam

lúc ấy đang trượt theo “đà văn quán tính” Các nhà văn, một số vẫn tiếp tục

khai thác đề tài chiến tranh, một số khác viết về cuộc sống, xây dựng đất nước trong không khí hòa bình Cảm hứng ngợi ca, thiên hướng tập trung khai thác

cái đẹp, cái hung vẫn còn ngự trị, Hà Minh Đức đánh giá:“Văn chương lý

tưởng hóa như thần thánh nói chuyện với nhau” Nhà văn Nguyễn Minh

Châu cũng nhận ra cái “Tôi dễ dãi” về cách nhìn, cách phơi bày hiện thực,

điều đó có nguy cơ bào mòn năng lực sáng tạo của nghệ sĩ theo lối mòn công thức sơ lược, như tư duy nghệ thuật về con người như giai đoạn trước 1975

Ta vẫn gặp trong tác phẩm “con người quần chúng”, “con người công dân”,

“con người anh hùng”, “con người sử thi”… Cuộc sống cá nhân, đời tư đời

thường vẫn chưa được coi trọng, số phận cá nhân, tính cách cá nhân tuy có

được đào sâu hơn, nhưng nó vẫn chỉ có ý nghĩa đại diện cho số phận, sức

yêu đất nước “Qua con người đám đông” – hiện thân cho sức mạnh cộng

Trang 37

đồng vẫn là chủ đạo, con người cá nhân cũng chỉ là hiện thân và đại diện cho sức mạnh ấy Cách nhìn con người vẫn trên bình diện giai cấp, tư tưởng chính trị là chính Tư duy về con người có phần sơ lược, điều này in đậm ở tiểu

thuyết Gió rừng và Đồng bạc trắng hoa xòe

Ma Văn Kháng được coi là nhà văn đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học, sự đổi mới văn học nảy sinh từ yêu cầu của hiện thực thời đại, của thị hiếu người đọc và ngay bản thân văn học Như chúng ta đã biết, hiện thực đời sống thời hậu chiến bộn bề phong phú Con người không đơn giản chỉ chiến đấu để giành và giữ độc lập, tự do mà còn phải đối mặt với bao nhiêu vấn đề bức xúc của đời thường Văn học là gì, nếu không phải vì cuộc sống của con người? Văn học đứng trước một thử thách nghiệt ngã, một lựa chọn mới và không còn đường nào khác là phải đổi mới

Đại hội Đảng lần thứ VI kêu gọi: “Đổi mới tư duy” trên mọi phương diện và “Nhìn thẳng vào sự thật” đã đem đến cho văn học một không khí mới, không khí dân chủ hóa, và nói như Nguyễn Văn Long: “Dân chủ hóa đã

thấm sâu và được thực hiện ở nhiều cấp độ bình diện của đời sống văn học”

[62] Các nhà văn được viết những gì họ nhìn thấy, cảm thấy, kể cả những điều lâu nay cấm kỵ như: Mặt trái của đấu tranh, mặt trái của đời sống hậu chiến Trên bình diện ý thức nghệ thuật đã có những biến đổi quan trọng theo hướng “Dân chủ hóa” về vai trò, vị trí, chức năng, quan điểm đối với hiện thực, với con người, mô tuýp về chủ đề, hình thức nghệ thuật biểu hiện

Song sự biến đổi có tính chất quyết định là sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, chú trọng đến con người, coi con người là nhân tố quan trọng của sự nghiệp đổi mới đất nước, đó là tư tưởng có tính chất nền tảng, một tiền đề thiết yếu để xây dựng và hoạch định các chính sách xã hội

và đường lối văn nghệ của Đảng Ông Vũ Tuấn Anh đã khẳng định “Phát huy mọi khả năng của con người là nhằm phát triển tận độ năng lực người ẩn

Trang 38

chứa trong mỗi cá nhân Lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất,

đó là sự thể hiện nhận thức mới về chủ nghĩa nhân đạo Con người không phải là phương tiện của các mục đích xã hội và hành động xã hội đều xuất phát từ mục tiêu vì con người” [68]

Quan niệm về con người được coi là sự tiến bộ của nghệ thuật từ xưa đến nay Trong văn học đổi mới, con người không được nhấn mạnh ở góc độ

chính trị, ở quan điểm giai cấp mà được nhìn ở “nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: Con người xã hội, con người lịch sử, con người của gia đình, gia tộc, con người với phong tục, với thiên nhiên, với những người khác, với chính mình… được soi chiếu ở nhiều phương diện, nhiều tầng bậc: ý thức, vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm, đời sống tự nhiên, bản năng, ở khát vọng cao cả, ở dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt,

và con người mang tính nhân loại phổ quát… con người đa diện, đa trị, lưỡng phân, trong con người đan cài, chen lấn, giao tranh bóng tối và ánh sáng, rồng phượng và rắn rết, thiên thần và quỷ sử, cao cả và tầm thường” ( Nguyễn Văn Long – 62) Vì vậy “con người công dân”, “con người tập thể”,

“con người chính trị”… của một thời đại đã được bổ sung, “con người cá thể” có số phận riêng, có thế giới nội tâm tiềm thức, bản năng riêng Con

người được đặt trong mối quan hệ người, quan hệ xã hội để làm rõ bản thể người, bản thể xã hội như: Con người đời tư, con người đạo đức thế sự, con người tự nhiên, con người bản năng, con người hoàn cảnh…

Xuất phát từ quan niệm về con người mới mẻ ấy Văn học đương đại

đã gặt hái được nhiều thành tựu và ngày càng chiếm được chỗ đứng trong

lòng độc giả Ông Bùi Việt Thắng đã khẳng định: “Văn xuôi Việt Nam gần đây như nhiều người nhận xét đã áp sát cuộc sống và con người bước đầu đem đến cho bạn đọc một cảm nhận trung thành về thực tại Người ta nói đến tính dân chủ, nhân bản, đa dạng, chân thực của văn học… Tất cả những nét

Trang 39

trội đó thực chất tụ lại trong quan niệm tiến bộ về con người” [56] Quan

niệm về con người của mỗi nhà văn có những nét độc đáo đặc sắc riêng tạo nên sự đa dạng, phong phú về phong cách nghệ thuật

Trên cơ sở tìm hiểu những nét khái quát nhất về sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi sau 1975, việc nghiên cứu tìm hiểu sáng tác của Ma Văn Kháng và sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người sẽ khẳng định thêm những đóng góp của ông trong tiến trình đổi mới văn xuôi hiện đại Việt Nam

Ở Ma Văn Kháng, dấu hiệu đổi mới có từ Mưa mùa hạ (1982) Theo ông, “tác phẩm là kết quả của những cơn ngẫu hứng dài chứa chan thi vị, hạnh phúc làm người” Với tác phẩm này Ma Văn Kháng đã chuyển từ cái

nhìn sử thi trước đây sang cái nhìn tiểu thuyết nhằm tiếp cận đời sống ở góc

độ đời tư, đời thường đạo đức thế sự Ma Văn Kháng đã bội thu về tiểu thuyết

về đề tài thành thị Với loại đề tài này, ông thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người đúng đắn hơn, gần với sự vận động biện chứng hơn Với ông lúc này cuộc sống không hề đơn giản Nó chứa đựng bao nhiêu bất cập, phức tạp

cả bất trắc Từ những việc nhỏ nhặt xảy ra trong cuộc sống hằng ngày, nhà văn phải biết quan tâm đến nó, sống tâm huyết với nó, mới thấy hết chiều sâu

ý nghĩ của nó Con người không chỉ đơn thuần có nghĩa vụ công dân đối với đất nước mà còn có nghĩa vụ đối với gia đình, gia tộc, với mọi người xung quanh và với bản than mình Con người không phải lúc nào cũng được phân biệt rạch ròi ranh giới giữa tốt và xấu, giữa thiện và ác, và nhiều khi cái xấu, cái tốt, cái thiện, cái ác đan xen vào nhau rất khó tách bạch, thậm chí, cái ác còn chui lủi sau cái đẹp, cái tốt để hại người, để phá hoại cái đẹp, cái tốt Có trường hợp con người từ khi sinh ra đã, ác thuộc về bản chất, gặp điều kiện, thời cơ thuận lợi là nó trỗi dậy đè bẹp cái thiện Song nhiều khi cái xấu, cái ác lại sinh ra từ sự tác động của môi trường hoàn cảnh xô đẩy Con người không

Trang 40

thể đứng cao hơn hoàn cảnh mà bị chi phối bởi hoàn cảnh Hoàn cảnh nhiều khi tạo ra bi bịch cho con người

Con người trong tác phẩm văn chương của Ma Văn Kháng đông đảo,

đủ các giai tầng Những nhân vật trí thức, nhân vật phụ nữ chiếm đa số, hầu hết đóng vai trò trung tâm, bộc lộ tư tưởng chủ đề và ý đồ nghệ thuật của nhà văn Người trí thức cũng như con người nói chung trong văn chương Ma Văn Kháng được đặt trong nhiều chiều, nhiều mối quan hệ, đó là con người của đời sống riêng tư của xã hội, thời thế của tự nhiên Cái nhìn đó thể hiện một

tư duy rất mềm dẻo, linh hoạt của Ma Văn Kháng Ma Văn Kháng đã thể hiện một tư duy nghệ thuật của riêng mình Trong các trang tiểu thuyết của ông người ta thấy xuất hiện nhiều kiểu người: kiểu con người thời đại, kiểu con người với sự khẳng định ý thưc cá nhân và hoàn thiện nhân cách, kiểu con người với bi kịch tài năng, con người cô đơn…

Như vậy miêu tả con người là phương diện quan trọng để Ma Văn Kháng có một cách nhìn mới mẻ về con người và tự đổi mới văn chương để tìm thấy văn chương đích thực của mình

2.2 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng

2.2.1 Khái niệm nhân vật

Như đã nói ở trên, đối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ vị trí trung tâm Việc xây dựng nhân vật chính là yếu tố quyết định chất lượng tác phẩm văn học Đọng lại sâu sắc trong long người đọc là số phận, cảm xúc, suy tư của những nhân vật được nhà văn thể

hiện trong tác phẩm Vì vậy, nhiều nhà văn đã cho rằng “Nhân vật là nơi duy

nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” (Tô Hoài -

một số kinh nghiệm viết văn của tôi) hay “Người viết tiểu thuyết nghĩ mọi vấn

đề đều phải thông qua các nhân vật, xuất phát từ nhân vật” (Nguyễn Đình

Thi – Công việc của người viết tiểu thuyết)

Ngày đăng: 08/09/2015, 16:21

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w