1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn xuôi ma văn kháng trong SGK tiếng việt bậc tiểu học và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh (LV01286)

83 2,4K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 706,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các sáng tác văn xuôi của Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt ở trường Tiểu học mà chúng tôi muốn tìm hiểu ở luận văn này có một vị trí đặc biệt trong việc giáo dục các em về nhân cách.. Ở

Trang 1

=====***=====

VŨ THỊ TRANG

VĂN XUÔI MA VĂN KHÁNG TRONG SGK TIẾNG VIỆT BẬC TIỂU HỌC VÀ

Ý NGHĨA GIÁO DỤC ĐỐI VỚI HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2014

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Giáo dục học (Bậc tiểu học)

Mã ngành: 60 14 01 01

Hà Nội, 2014

Trang 3

Tôi xin dành những lời đầu tiên trong bài luận văn nhỏ của mình để được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc của tôi tới các thầy cô giáo, những

người đã dìu dắt, dạy dỗ tôi trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Tuyết Minh đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện cho tôi học tập nghiên cứu, giúp đỡ đóng góp ý kiến để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Vũ Thị Trang

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của TS Nguyễn Thị Tuyết Minh Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Vũ Thị Trang

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3.Mục đích nghiên cứu: 4

4.Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

6.Phương pháp nghiên cứu 5

7.Đóng góp của luận văn 5

8.Cấu trúc của luận văn 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN ĐỐI VỚI DẠY HỌC TIẾNG VIỆT VÀ VĂN XUÔI MA VĂN KHÁNG TRONG SGK TIẾNG VIỆT BẬC TIỂU HỌC 6

1.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn đối với dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học 6

1.2 Vài nét về tiểu sử nhà văn Ma Văn Kháng 8

1.3 Những nét chính về sự nghiệp văn học của Ma văn Kháng 11

1.4 Văn xuôi của Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học 15

Chương 2 VẺ ĐẸP NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA VĂN XUÔI MA VĂN KHÁNG TRONG SGK TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC 18

2.1 Một số khái niệm cơ bản 18

2.1.1 Văn học thiếu nhi 18

2.1.2 Văn xuôi và đặc trưng tác phẩm văn xuôi 20

2.2 Vẻ đẹp nội dung của văn xuôi Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học 24

Trang 6

2.2.3 Không gian đất và người giàu bản sắc văn hóa dân tộc 32

2.3 Vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật của văn bản văn xuôi Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học 35

2.3.1 Ngôn từ giản dị và giàu hình ảnh 36

2.3.2 Biện pháp tu từ 38

Chương 3 Ý NGHĨA GIÁO DỤC CỦA VĂN XUÔI MA VĂN KHÁNG ĐỐI VỚI HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT 42

3.1 Ý nghĩa giáo dục đối với học sinh Tiểu học 42

3.1.1 Giáo dục tình yêu và ý thức bảo vệ không gian núi rừng của đất nước 42

3.1.2 Giáo dục tinh thần gắn kết cộng đồng và ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc 45

3.2 Bồi dưỡng kĩ năng cảm thụ và năng lực tư duy Văn cho học sinh 47

3.3 Định hướng khai thác giá trị nội dung và nghệ thuật của văn xuôi Ma Văn Kháng đối với dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học 52

3.3.1 Thiết kế giáo án dạy 52

3.3.2 Đề xuất, kiến nghị 71

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 7

MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

1.1.Tầm quan trọng của môn Tiếng Việt và những văn bản văn xuôi của

Ma văn Kháng trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học

Trong các môn học ở Tiểu học, cùng với môn Toán, môn Tiếng Việt có

vị trí rất quan trọng Việc giảng dạy và học tập môn Tiếng Việt đã góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt và thông qua môn học này, các em được rèn luyện các thao tác của tư duy Ngoài mục tiêu cung cấp những kiến thức về tiếng Việt, về tự nhiên, xã hội và con người; môn Tiếng Việt còn giúp các em hiểu biết về văn hóa, văn học của Việt Nam

và nước ngoài Hơn bất kì môn học nào, môn Tiếng Việt có khả năng rất lớn trong việc bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã

hội chủ nghĩa

Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học bao gồm các phân môn Tập đọc, Kể

chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn, Tập viết Ở Tiểu học, chưa

học môn Văn nhưng thực chất, kiến thức Văn đã được tích hợp thông qua những giờ học Tiếng Việt Thông qua những văn bản văn học, học sinh sẽ được bồi dưỡng năng lực Văn Các em sẽ có thêm vốn sống, vốn hiểu biết, phát triển vốn từ tiếng Việt Từ đó, các em có năng lực đọc- hiểu, năng lực tạo lập văn bản nói và viết Và hơn thế nữa, học sinh sẽ cảm thụ được cái hay, cái đẹp ẩn chứa trong những câu chuyện, bài thơ, dần dần bồi đắp cho các em tình yêu với văn học, một điều đang có nguy cơ mất dần ở học sinh thời nay

Và mục đích cuối cùng là góp phần hoàn thiện nhân cách của học sinh, bởi những văn bản văn học ấy vừa cung cấp kiến thức trên nhiều lĩnh vực, vừa giàu cảm xúc, vừa mang tính giáo dục cao

Trang 8

Các sáng tác văn xuôi của Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt ở trường Tiểu học mà chúng tôi muốn tìm hiểu ở luận văn này có một vị trí đặc biệt trong việc giáo dục các em về nhân cách Nó có vị trí quan trọng đối với quá trình dạy học ở Tiểu học nói riêng và giáo dục học sinh nói chung

Ở Tiểu học, các văn bản văn xuôi của nhà văn Ma Văn Kháng không được giảng dạy độc lập như một môn học riêng mà nó được tích hợp thông qua các giờ dạy học môn Tiếng Việt Với tư cách là ngữ liệu để dạy học các phân môn của Tiếng Việt, các văn bản văn xuôi của Ma Văn Kháng có tác dụng tích cực trong việc làm giàu tâm hồn, làm phong phú tình cảm, rèn luyện tính cách, nhân cách con người; có ý nghĩa giáo dục rất lớn về thẩm mĩ,

về lòng yêu con người, yêu quê hương đất nước… Từ đó, mang đến cho học sinh những bài học nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc

1.2 Thực tế dạy học văn bản văn xuôi của Ma Văn Kháng trong môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học

Trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học, các trích đoạn văn xuôi của Ma

Văn Kháng được phân bố giảng dạy ở các phân môn: Tập đọc, Tập làm văn,

Chính tả Mỗi văn bản văn xuôi ấy vừa bồi dưỡng năng lực học Văn cho học

sinh, lại vừa là công cụ để các em học tập phần Tiếng Việt Với ngôn từ giản

dị, trong sáng, những trích đoạn văn xuôi của Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt trở thành những văn bản mẫu cho học sinh rèn luyện khả năng sử dụng tiếng Việt Tiếp cận với tác phẩm của Ma Văn Kháng, học sinh không chỉ lĩnh hội được những tri thức về xã hội, tự nhiên, con người mà còn hiểu biết được văn hóa, phong tục tập quán của con người, đặc biệt là những phong tục tập quán của người miền núi Mỗi trang văn của ông như là bài ca về tình người, tình đời, về vẻ đẹp của tâm hồn con người Trước khi trở thành nhà văn, Ma Văn Kháng đã là một thầy giáo Người thầy giáo vùng cao ấy đã từng bao năm đứng trên bục giảng, dạy học sinh từng nét chữ, từng điều hay, lẽ

Trang 9

phải Vì vậy, hơn ai hết, ông am hiểu sâu sắc ý nghĩa giáo dục của văn học đối với học sinh

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài

“Văn xuôi Ma Văn Kháng trong sách giáo khoa Tiếng Việt bậc Tiểu học và ý

nghĩa giáo dục đối với học sinh”

2 Lịch sử vấn đề

Ma Văn Kháng là nhà văn lớn của nền văn học đương đại Việt Nam Ông đã vinh dự đạt được nhiều giải thưởng văn học cao quý, đặc biệt là Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2012 Cho đến nay, văn xuôi của Ma Văn Kháng, đặc biệt là mảng văn xuôi viết về đề tài dân tộc và miền núi đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Tác giả Trần

Đăng Suyền cho rằng: “Ma Văn Kháng, bằng hình tượng nghệ thuật, đã

chứng minh rằng đồng bào các dân tộc ít người, mặc dù bị chìm đắm trong đau khổ, tăm tối nhưng đều có mầm sống, khả năng cách mạng”[11, tr.13]

Về cách xây dựng nhân vật:“nhân vật được Ma Văn Kháng xây dựng khá

công phu”[11, tr.12]; “nhân vật của Ma Văn Kháng dù phức tạp đến đâu, có những biểu hiện phong phú như thế nào, sau khi tiếp xúc, ta có thể nhận diện được ngay nhân vật ấy thuộc hạng người nào” [6, tr.5] Tác giả Nguyễn Ngọc

Thiện cho rằng: “Cuốn tiểu thuyết Gió rừng (1977), Đồng bạc trắng hoa xòe

(1980), Vùng biên ải (1983) viết sau các tập truyện ngắn về miền núi, là một

sự hội tụ, kết tinh cao độ vốn sống về con người và cuộc sống miền núi, mà ông tích lũy suốt hơn 20 năm gắn bó với nó Người đọc có thể tìm thấy những bức tranh sinh động, những chuyện, những con người và con đường của người dân tộc thiểu số đã tìm tòi để hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam như thế nào Khát vọng sống trong độc lập và tự do, lịch sử đấu tranh đau thương mà anh dũng, quả cảm, đời sống thường nhật, bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, nếp sống, nếp nghĩ của các dân tộc anh em trên dải đất Tây Bắc liền kề biên giới phía Bắc được miêu tả khá đậm đà”…

Trang 10

Nhìn chung, đến nay những công trình nghiên cứu về Ma Văn Kháng thường tập trung vào thể loại cụ thể như tiểu thuyết, truyện ngắn…; hoặc những mảng đề tài như đề tài đô thị, đề tài miền núi… mà vẫn chưa có một công trình khoa học nào đi sâu tìm hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật văn xuôi của Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học, để thấy được ý nghĩa giáo dục to lớn của nó đối với học sinh Khoảng trống trên chính là gợi ý để

chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài Văn xuôi Ma Văn Kháng trong sách

giáo khoa Tiếng Việt bậc Tiểu học và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh Hi

vọng rằng, đề tài sẽ góp một tiếng nói tiếp tục khẳng định giá trị của văn xuôi

Ma Văn Kháng đối với việc rèn luyện tiếng Việt nói riêng và việc giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh Tiểu học nói chung

3.Mục đích nghiên cứu:

Mục đích của luận văn là cắt nghĩa, lý giải đặc sắc nội dung, nghệ thuật hàm chứa trong các văn bản văn xuôi của Ma Văn Kháng trong sách giáo khoa Tiếng Việt bậc Tiểu học Từ đó, làm rõ ý nghĩa giáo dục to lớn của những sáng tác này đối với học sinh Tiểu học như: giáo dục tình yêu quê hương đất nước; tinh thần đoàn kết dân tộc; tình yêu văn hóa giống nòi; niềm tự hào và ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc; bồi dưỡng năng lực sử dụng tiếng Việt…

4.Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu vẻ đẹp nội dung, nghệ thuật của văn xuôi Ma Văn Kháng được giảng dạy trong SGK Tiếng Việt ở Tiểu học

- Kết quả nghiên cứu sẽ ứng dụng thiết thực vào việc dạy học các văn bản này trong môn học Tiếng Việt ở Tiểu học

5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sáng tác văn xuôi của Ma Văn Kháng trong SGKTiếng Việt bậc Tiểu học và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh

- Về phạm vi nghiên cứu: Luận văn sẽ làm rõ những vấn đề sau

Trang 11

+ Lí giải, cắt nghĩa đặc sắc nội dung và nghệ thuật hàm chứa trong các sáng tác văn xuôi của Ma Văn Khángtrong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học + Làm rõ ý nghĩa giáo dục của những sáng tác văn học này đối với học sinh Tiểu học

6.Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

thêm những vấn đề cơ bản của đề tài

7.Đóng góp của luận văn

- Về lý luận, luận văn sẽ làm rõ nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật của văn xuôi Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học

- Về thực tiễn, luận văn vận dụng kết quả nghiên cứu vào quá trình dạy

học các phân môn Tập đọc, Tập làm văn, Chính tả cho học sinh Tiểu học

8.Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Nội dung chính của luận văn được triển khai thành ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận, thực tiễn đối với dạy học Tiếng Việt và văn

xuôi Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học

Chương 2: Vẻ đẹp nội dung và nghệ thuậtcủa văn xuôi Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt Tiểu học

Chương 3: Ý nghĩa giáo dục của văn xuôi Ma Văn Kháng đối với học sinh Tiểu học

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN ĐỐI VỚI DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

VÀ VĂN XUÔI MA VĂN KHÁNG TRONG SGK TIẾNG VIỆT

BẬC TIỂU HỌC

1.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn đối với dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học

Mang trong mình chức năng giáo dục to lớn, tác phẩm văn học có mặt

trong mọi bậc học của giáo dục phổ thông Với tư cách là một lĩnh vực văn hóa, văn học được coi là một nội dung quan trọng của chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học Văn học dẫn dắt, mở cửa cho trẻ em ngay từ những bước chập chững đầu tiên đi vào thế giới của các giá trị phong phú chứa đựng trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Sự tiếp xúc thường xuyên với tác phẩm văn học được chọn lọc sẽ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, sự nhạy cảm, năng lực cảm thụ văn học… vốn là những tố chất ban đầu của năng khiếu nghệ thuật Tiếp xúc với các tác phẩm văn học, trẻ học tiếng mẹ đẻ: học cách phát âm đúng, tích lũy vốn từ ngữ nghệ thuật, học những mẫu câu hoàn hảo, sinh động, giàu sức biểu cảm Từ đó, các em biết yêu mến, trân trọng tiếng nói dân tộc Văn học còn góp phần phát triển trí tuệ, tình cảm, đạo đức, làm phong phú đời sống tinh thần cho trẻ em

Mục đích của dạy học Tiếng Việt trong nhà trường là dạy học sinh biết

giao tiếp bằng tiếng Việt, có văn hóa trong môi trường giao tiếp của lứa tuổi

Vì vậy, những vấn đề lý thuyết về hoạt động giao tiếp ngôn ngữ chính là tiền

đề cơ sở mà bất kì giáo viên dạy học Tiếng Việt nào cũng phải nắm vững Việc dạy học tiếng Việt thông qua ngữ liệu là các văn bản văn xuôi viết về dân tộc và miền núi của nhà văn Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt Tiểu

Trang 13

học, đòi hỏi người giáo viên và học sinh phải hiểu hết giá trị của lớp ngôn từ tiếng Việt- ngôn từ văn hóa, đã được nhà văn gửi gắm trong mỗi tác phẩm

Đó là cơ sở cho thấy môn Tiếng Việt có vị trí quan trọng hàng đầu ở nhà trường phổ thông, đặc biệt là ở nhà trường Tiểu học

Thực tế việc dạy các phân môn có sử dụng những trích đoạn văn xuôi Ma Văn Kháng làm ngữ liệu còn nhiều hạn chế Về phía học sinh, vốn tiếng Việt của các em còn rất ít, về phía giáo viên chưa tìm ra phương pháp để nâng cao kết quả giờ học Việc dạy của giáo viên vẫn bám vào phương pháp dạy dập khuôn Đây là nguyên nhân làm cho học sinh hoạt động không tích cực, sinh

ra nhàm chán khi học Với phân môn tập đọc, cụ thể là bài tập đọc Mùa thảo

quả, kỹ năng đọc của học sinh còn nhiều hạn chế, giờ học khô khan, chủ yếu

là đọc cá nhân, đọc theo nhóm,…giáo viên không kiểm soát được tốc độ đọc của học sinh, không hường được học sinh đọc hiểu và cảm nhận được tình cảm của tác giả trong đoạn trích Giáo viên cần có phương pháp giúp học sinh đọc nhanh hơn, đúng hơn, diễn cảm hơn, hiểu được nội dung của văn bản

Mục tiêu môn Tiếng Việt nói chung và môn chính tả nói riêng là rèn cho học sinh một số kỹ năng viết Viết là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển lời nói có âm thanh sang hình thức viết Phân môn chính tả giúp học sinh hình thành năng lực, thói quen viết đúng chính tả, là thói quen viết đúng Tiếng Việt chuẩn mực, đồng thời nó còn là cơ sở cho những môn học khác Từ đó giúp học sinh làm chủ được tiếng nói và khả năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, học tập và tư duy Viết đúng chính tả còn góp phần khẳng định trình độ văn hóa của người sử dụng Tiếng Việt Văn xuôi Ma Văn

Kháng có trích đoạn Mùa đông trên dẻo cao được sử dụng làm ngữ liệu trong

phân môn chính tả Đoạn trích sử dụng ngôn ngữ chọn lọc, đặc sắc, mang lại nhiều hứng thú cho học sinh Tuy nhiên, thực tế việc dạy bài chính tả này còn nhiều bất cập, chủ yếu giáo viên đọc cho học sinh viết theo, rất bị động, học

Trang 14

sinh như một cái máy ghi chép, không được tư duy trong giờ chính tả, vì thế sau giờ học, học sinh không ấn tượng và ghi nhớ được nhiều

Mục đích của việc dạy văn miêu tả ở tiểu học là giúp học sinh có thói quen quan sát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh, biết truyền những dung cảm của mình vào đối tượng miêu tả, biết sử dụng từ ngữ có giá trị biểu cảm, những câu văn sang rõ về nội dung, chân thực về tình cảm Một bài văn hay là một bài văn mà khi đọc, người đọc thấy hiện ra trước mắt mình: con người, cảnh vật, đồ vật,…cụ thể, sống động như

nó vẫn tồn tại trong thực tế cuộc sống Như vậy, có thể xem văn miêu tả là một bức tranh về sự vật bằng ngôn từ Để làm tốt một bài văn miêu tả, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp của các môn học cộng với thực tế cuộc sống của các em để trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc và sống động Trong sách giáo khoa lớp 5, có sử dụng trích đoạn Hạng A Cháng của Ma Văn Kháng làm ngữ liệu cho bài văn tả người Đó là trích đoạn đặc sắc, ấn tượng, vì nhà văn sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, phong phú, phong cách miêu tả giàu tình cảm Đoạn văn có bố cục rõ rang, dễ hiểu Tuy nhiên, việc vận dụng hết cái đẹp, cái hay của đoạn trích cho bài học vẫn chưa thực

sự tốt, đoạn văn sử dụng nhiều biện pháp tu từ, so sánh, nhân hóa, giáo viên chưa có phương pháp giúp học sinh hiểu được cách miêu tả hay là như thế nào, chỉ hướng dẫn chung chung để học sinh tự mày mò, hoặc dùng văn mẫu

để học sinh tự sao chép

1.2 Vài nét về tiểu sử nhà văn Ma Văn Kháng

Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 1/12/1936, tại phường Kim Liên, quận Đống Đa (nay là quận Ba Đình), Hà Nội Ông lớn lên từ làng ven thành Đồng Lầm, vùng đất chân lấm, tay bùn nghèo khổ và lam lũ Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, ông xung phong lên

Tây Bắc “đi theo tiếng gọi của Đan cô, Paven Corsaghin… xung phong đi

Trang 15

đến những vùng khó khăn của đất nước, đi như một viên đạn thẳng đầu”

Hơn hai mươi năm sống và làm việc ở vùng núi ấy, ông đã cố gắng hòa nhập với môi trường mới, gắn bó và làm việc hết khả năng và coi đây là quê hương thứ hai của mình

Cái tên Ma Văn Kháng vừa là tên gọi hàng ngày, dùng trong các giấy tờ, vừa là bút danh đã nói lên sự gắn bó và tình yêu của tác giả đối với miền đất

ấy Nhiều người nhìn bút danh Ma Văn Kháng đã nghĩ ông là người dân tộc thiểu số, nhưng ông cho biết, đây là bí danh, đồng thời cũng là tình cảm mà ông dành cho mảnh đất mà ông đã gắn bó một chặng đường không nhỏ của cuộc đời Nhà văn đã có lần chia sẻ: bút văn Ma Văn Kháng ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt Một lần nhà văn bị ốm nặng, ông được ông Nho, chủ tịch huyện, đã tận tình chăm sóc như một người anh, một người cha; đích thân ông Nho đã cõng nhà văn đi tìm thầy thuốc cứu chữa Nhờ sự tận tình của người chủ tịch huyện ấy mà nhà văn đã vượt qua được trận ốm Nhà văn kết nghĩa anh em với vị chủ tịch huyện Nho Cái tên Đinh Trọng Đoàn được đổi thành

Ma Văn Kháng, trong đó họ Ma là họ của ông Nho Nhà văn đã bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng đối với người đã từng cứu mình

Trong hồi ký - tự truyện Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ

thương, xuất bản quý 3 năm 2009, Ma Văn Kháng cho biết: Trong chặng

đường 21 năm đầu của đời công chức nhà nước tại tỉnh biên viễn Lào Cai (từ

1955 đến 1976) thì hơn một nửa thời gian ông hoạt động trong ngành giáo dục Không thể khác được, vì trước đó, từ 1952 đến 1954 ông là giáo sinh Trường Sư phạm Trung cấp tại Khu học xá Nam Ninh, Quảng Tây (Trung Quốc), được đào tạo bài bản để sau khi tốt nghiệp làm giáo viên Tiểu học về các môn thuộc khoa học xã hội và nhân văn

Số phận - tình cờ cũng có, chủ tâm cũng có - đã đưa ông đến vùng Lào

Cai, miền đất vàng, như ông quan niệm nhuốm màu tâm linh, huyền diệu - mà

Trang 16

ở đó ông lập thân, lập nghiệp, thành danh với bút hiệu Ma Văn Kháng

Từ tháng 01/1955 đến tháng 3/1967 (không kể thời gian từ giữa tháng 9/1961 đến tháng 6/1963, ông đi học đại học tập trung tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), Ma Văn Kháng đã trải qua các cương vị trong ngành giáo dục: giáo viên dạy các môn khoa học xã hội ở cấp I, II; Hiệu trưởng trường cấp II, cấp III thị xã Lào Cai; rồi Trưởng phòng chuyên môn Ty Giáo dục Lào Cai Hồi tưởng những ngày cuối năm 1954 đầu năm 1955 khi đi tới quyết định không gì lay chuyển nổi là tình nguyện lên Tây Bắc dạy học sau ngày tốt

nghiệp Trường Trung cấp Sư phạm, ông viết: Dạo đó “tôi đã đọc và rất

mê Truyện Tây Bắc của Tô Hoài (…) và đã có một thôi thúc vừa da diết vừa

mơ hồ trong tôi, nó cho tôi cái cảm giác rằng ở nơi đó tôi sẽ sống thoải mái

và làm được một điều gì có ích” (Hồi ký, tr 44-45)

11 năm ròng trong nghề này ở nơi vùng cao biên giới đã tích tụ trong Ma Văn Kháng một vốn liếng quý giá vô ngần, chín dần qua năm tháng mãi về

sau, trở thành trầm tích, thành mỏ vàng trữ lượng luôn dồi dào Ông ghi chép,

nhập tâm mài sắc sự hiểu biết hiền minh, lão thực mà khoan dung về các loại người trong xã hội, đặc biệt về các loại học trò lớp lớp trên vùng cao các dân tộc anh em; về các thầy cô miền xuôi, miền ngược chung lưng đấu cật dựng lớp, mở trường, khai tâm ánh sáng của văn minh, văn hóa nơi vùng sâu, vùng

xa, hẻo lánh; về những nhà quản lý sự nghiệp các cấp với chân dung muôn hình nhiều vẻ

Hơn hai mươi năm công tác tại miền núi là quãng đời tuổi trẻ sôi nổi nhất của ông Như một người cán bộ thực thụ, ông trực tiếp tham gia, trải qua nhiều đợt tiễu phỉ, đi làm thuê, xây dựng hợp tác xã, dạy học, làm thư kí, làm báo, viết văn… Ông đã góp công sức không nhỏ cho đồng bào miền núi trong giai đoạn gian khổ nhất Có thể thấy, thời trai trẻ của nhà văn là cuộc dấn thân say mê háo hức với tâm trạng phơi phới của tuổi trẻ ở vùng sơn cước khi là

Trang 17

chiến sĩ quân đội, lúc là anh cán bộ, ông giáo, nhà báo Nhà văn “đi như một

viên đạn thẳng vào đời bất chấp mọi gian khổ hiểm nguy” Và cũng chính sự

sôi nổi, nhiệt tình, say mê làm việc ấy mà nhà văn đã tích lũy được nhiều tư liệu quý giá Là một chàng trai Hà Nội gốc, nhưng Ma Vă Kháng lại có nhiều duyên nợ với mảnh đất Tây Bắc Chàng trai Hà thành ấy hiểu thấu đáo được lối sống và phong tục tập quán của các đồng bào dân tộc thiểu số trên mảnh

đất địa đầu Tổ quốc ấy Nhà văn đã từng bộc bạch: “Sống cùng đồng bào dân

tộc, tôi thấm dần lịch sử đau đớn, trầm luân, khổ ải cùng khát vọng mãnh liệt

và sức sống tiềm ẩn muốn vươn lên tự giải phóng ra khỏi mọi rằng buộc, áp lực của họ Trong cuộc đấu tranh quyết liệt đó có những bi kịch, những lầm lạc của cả đời người, của cả một cộng đồng” [6, 414] Những năm tháng của

nhà văn với đồng bào dân tộc đã cung cấp chất liệu để Ma Văn Kháng viết lên

hàng loạt truyện ngắn, tiểu thuyết nổi tiếng như: Đồng bạc trắng hoa xòe,

Vùng biên ải, Gặp gỡ La Pan Tẩn…

Từ 1976 đến nay, ông công tác tại Hà Nội, đã từng là Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động Từ tháng 3 năm 1995, ông là Ủy viên Ban chấp hành, Ủy viên Đảng Đoàn Hội nhà văn khóa V, Tổng biên tập tạp

chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt Nam

Ma Văn Kháng, có thể nói, đã là một gạch nối, tiếp sau Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, là nhà văn của thế hệ mới, để lại một mảng tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc, có sức hấp dẫn lâu bền đối với người đọc - từ những hình tượng nhân vật giàu sức biểu hiện và khái quát cao về ngành giáo dục qua những thăng trầm của lịch sử dân tộc, vẫn rạng rỡ những nét đẹp trong nhân cách kẻ sĩ

1.3 Những nét chính về sự nghiệp văn học của Ma văn Kháng

Sinh ra vào giữa những năm 30 của thế trước, bản thân Ma Văn Kháng

đã sống gần như trọn vẹn với những biến thiên lớn lao của một Việt Nam trong thế kỉ XX đầy biến động Ông đã sống và cống hiến, không chỉ với tư

Trang 18

cách và trách nhiệm của một con người – công dân, mà còn như một nghệ sĩ, nhà văn, thư kí trung thành của thời đại

Ma Văn Kháng là nhà văn viết nhiều và viết khác Từ truyện ngắn đầu

tay Phố cụt đăng trên Báo Văn nghệ năm 1961, cho đến nay, Ma Văn Kháng

đã có đến 20 tập truyện ngắn, 15 cuối tiểu thuyết và 4 truyện viết cho thiếu nhi Nhắc đến Ma Văn Kháng, người đọc từng biết đến ông là nhà văn của đồng bào dân tộc miền núi Những năm tháng “ba cùng” của nhà văn với đồng bào dân tộc đã cung cấp nguồn sống để ông viết nên các tác phẩm về đề

tài miền núi như: Xa Phủ (1969), Bài ca trăng sáng (1972), Góc rừng xinh

xắn (1972), Người con trai họ Hạng (1972), Mùa mận hậu (1972), Cái móng

ngựa (1973)… Những tác phẩm trên đã khẳng định được tài năng, tâm huyết

của nhà và góp phần làm cho bức tranh hiện thực được phản ánh trong văn học hiện đại Việt Nam trở nên phong phú và đa dạng hơn

Trong sự nghiệp của Ma Văn Kháng, truyện ngắn chiếm một ví trí đặc biệt quan trọng Ông có nhiều sáng tác truyện ngắn đạt giải thưởng trong

nước, quốc tế và được dịch ra tiếng nước ngoài như: Truyện ngắn Xa Phủ

đoạt giải nhì (không có giải nhất) trong cuộc thi truyện ngắn của tuần báo Văn

nghệ 1967 – 1968; Tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ đạt giải thưởng của

Hội Nhà văn Việt Nam 1995; Giải cây bút vàng cho truyện San Cha Chải

trong cuộc thi truyện ngắn và kí năm 1996 – 1998 do Bộ Công an và Hội Nhà văn tổ chức

Không chỉ thành công ở thể loại truyện ngắn, Ma Văn Kháng còn rất

thành công ở thể loại tiểu thuyết Từ Gió rừng (1976), Đồng bạc trắng hoa

xòe (1978), Mùa lá rụng trong vườn (1982), Vùng biên ải (1983) đến Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Côi cút giữa cảnh đời (1989), Bóng đêm

(2011), Bến bờ (2012)… Trong đó, tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn đạt

giải thưởng Hội Nhà văn năm 1984 Ma Văn Kháng còn vinh dự nhận được

Trang 19

giải thưởng văn học Đông Nam Á năm 1998 và giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001, giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

(đợt 4, 2012) cho cụm tác phẩm: Mưa mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời; Gặp gỡ

ở La Pan Tẩn; Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2009 với tiểu thuyết Một mình một ngựa… Với những thành tựu kể trên, Ma Văn Kháng đã tự

khẳng định được vị thế của mình trong nên văn học Việt Nam đương đại Tên tuổi của Ma Văn Kháng ngày càng được đông đảo bạn đọc biết đến bởi không

chỉ vốn hiểu biết dồi dào, phong cách thể hiện mới mẻ mà còn là “một đời văn

cần mẫn”, “một đời văn sáng tạo”

Như vậy, nhìn một cách tổng quát, quá trình sáng tác của Ma Văn Kháng chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn trước, chủ yếu viết về cuộc sống, phong tục của người dân miền núi; giai đoạn sau, viết về những đa đoan, phức tạp của đời sống thành thị thời hậu chiến Cùng với sự thay đổi về đề tài sáng tác, Ma Văn Kháng cũng có những thay đổi đáng kể, những bước đột phá về tư duy nghệ thuật Nếu như những trang viết của Ma Văn Kháng trước thập kỉ 80 của thế kỉ XX, thể hiện cái nhìn sử thi thì ở giai đoạn sau đã chuyển sang cái nhìn thế sự sắc sảo Cuộc sống hiện lên trong tác phẩm của ông giờ đây không còn đơn tuyến mà đa tuyến, nhiều chiều Ông quan tâm tới thân phận con người trong nhiều quan hệ, nhiều hoàn cảnh khác nhau và cố gắng thể hiện con người một cách đầy đủ nhất trong tính đa dạng, toàn vẹn như nó vốn có…

Ở Ma Văn Kháng, sự cần mẫn và nghiêm túc trong lao động nghệ thuật được thể hiện ngay trong việc chủ động, say mê tích lũy vốn sống Không

phải ngẫu nhiên khi đọc Gió rừng, Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải…

nhiều người lầm tưởng đó là sáng tác của một cây bút miền núi đích thực Sự nhầm lẫn ấy không chỉ đến từ bút danh đậm sắc dân tộc, mà quan trọng hơn, bắt nguồn từ bề rộng và chiền sâu của vốn sống, sự hiểu biết về những vùng

đất và con người nơi đây Đó là kết quả của hàng chục năm trời “hăm hở,

lặng lẽ kiếm tìm, lặng lẽ ghi chép”

Trang 20

Viết văn không phải là việc “tùy hứng” hay một cuộc dạo chơi Sự cần mẫn nghiêm túc của Ma Văn Kháng, do đó, còn có sự trăn trở không ngừng

về bản thân nghề viết Không chỉ nhận thức về cuộc sống, mỗi tác phẩm văn học còn là kết quả sự nhận thức theo cách riêng của nhà văn về chính con người và công việc của mình Cần phải thấy rằng, sự cần mẫn, trong trường hợp của Ma Văn Kháng nói riêng và mọi nhà văn chân chính nói chung, tất yếu gắn liền với mọi nỗ lực không ngừng nghỉ

Không chỉ là một nhà văn cần mẫn, Ma Văn Kháng còn là một cây bút

có nhiều sáng tạo trong hành trình sáng tác của mình Sự sáng tạo của Ma Văn Kháng, trong nửa đầu của đời văn, là cây bút “chuyên canh” về mảng đề tài vùng cao Cùng với nhóm tác giả viết về miền núi, những sáng tác của ông

đã góp một mảng màu riêng, độc đáo cho bức tranh chung đa sắc màu của nền văn học nước nhà Bản thân sự đóng góp ấy đã là một mảng màu mới đầy sáng tạo Tuy nhiên, trong các nét nghĩa hợp lại thành nội hàm ý nghĩa của hai chữ “sáng tạo”, không thể không kể đến ý thức về sự đổi mới Với trường hợp

Ma Văn Kháng, một trong những biểu hiện thuyết phục nhất của sự sáng tạo,

có lẽ chính là cuộc bứt phá đặc biệt, gắn với mốc thời gian khi nhà văn giã biệt Lào Cai, trở về với cuộc sống thành thị Những sáng tác sau này của Ma Văn Kháng hướng tới phát hiện, khám phá, phản ánh chính cuộc sống mới, với đầy đủ những góc cạnh của cuộc sống thành thị thời hậu chiến Sự thành

công của Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Cỏ dại,

Trốn nợ… đã một lần nữa khẳng định cho sự tìm tòi sáng tạo của cây bút cần

mẫn, say mê, quyết liệt tự làm mới mình

Không chỉ thể hiện ở nội dung đề tài, sự sáng tạo còn là một yếu tố hàng đầu đối với trong việc lựa chọn hình thức thể hiện Sự sáng tạo ấy biểu hiện ra

ở mọi phương diện của hình thức nghệ thuật Có thể dẫn ra những ví dụ về

Trang 21

cách tổ chức ngôn từ, xây dựng hình tượng nhân vật hay lựa chọn giọng điệu trong văn xuôi Ma Văn Kháng Đánh giá về Ma Văn Kháng, giới nghiên cứu, phê bình đều thống nhất thừa nhận ông như một cây bút văn xuôi có “bút lực sung mãn, cường tráng” Nhận định ấy, trước hết có thể được minh chứng qua

số lượng tác phẩm khá đồ sộ Với văn nghiệp gần tám nghìn trang in, hàng trăm truyện ngắn, hàng chục tiểu thuyết, ba truyện viết theo lối hồi kí - tự truyện, Ma Văn Kháng xứng đáng là một trong những cây bút có sức viết dồi dào nhất trên văn đàn Việt hiện nay Chỉ dừng lại trong địa hạt văn xuôi, nhưng sáng tác của Ma Văn Kháng cũng khá phong phú, gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tự truyện – hồi ký Ma Văn Kháng đã khẳng định mình như một tài năng đa dạng

Cây bút văn xuôi ấy còn được biết đến như một sức viết bền bỉ Nhìn vào mốc thời gian ra đời những tác phẩm của ông, ta thấy gần như không có khoảng ngắt quãng nào đáng kể Viết cần mẫn, say mê, Ma Văn Kháng đã để lại một văn nghiệp không chỉ lớn về quy mô, đa dạng về thể loại mà còn đều đặn và liền mạch Quan trọng hơn, chất lượng sáng tác của nhà văn có thể đánh giá khá đều tay Hầu hết đều là những tác phẩm có giá trị Giai đoạn nào cũng có những sáng tác nổi bật, xuất sắc thật sự, mang dấu ấn cá nhân đậm nét, gắn liền với tên tuổi của Ma Văn Kháng

Với những thành tựu to lớn ấy, Ma Văn Kháng xứng đáng được vinh danh như một đời văn cần mẫn, sáng tạo, một cây bút văn xuôi lực lưỡng của

nền văn học hiện đại Việt Nam

1.4 Văn xuôi của Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học

Văn học có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của con người ngay từ thuở ấu thơ Văn học không chỉ góp phần làm giàu có tâm hồn, nâng cao năng lực cảm thụ cái đẹp, mà còn giúp cho trẻ em phát triển trí tuệ, mở rộng sự hiểu biết và hướng tới lối sống giàu lòng nhân

Trang 22

ái Nền văn học thiếu nhi Việt Nam đến nay đã tập hợp được một đội ngũ đông đảo với hàng trăm nhà văn, nhà giáo và họa sĩ thuộc nhiều lứa tuổi có hứng thú viết và vẽ về trẻ em, cho trẻ em

Trải qua hai cuộc kháng chiến, xen kẽ chiến tranh và hòa bình, nền văn học thiếu nhi Việt Nam xuất hiện hàng loạt cây bút chuyên nghiệp Nhiều người đã tạo dựng được tên tuổi riêng cho mình như Tô Hoài, Phạm Hổ, Định Hải, Huy Cận, Xuân Quỳnh, Vũ Tú Nam, Nguyễn Kiên, Phan Thị Thanh Nhàn… trong đó không thể không nhắc đến Ma Văn Kháng Trên hành trình hơn một nửa thế kỉ cầm bút, Ma Văn Kháng vẫn có những trang văn dành riêng cho thiếu nhi và cả những trang văn viết cho người lớn được thiếu nhi yêu thích rất ngọt ngào và giàu giá trị nhân văn

a Thống kê tác phẩm văn xuôi của Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học

Khảo sát sách giáo khoa Tiếng Việt bậc Tiểu học, chúng tôi thấy hệ thống sáng tác của Ma Văn Kháng gồm các tác phẩm sau:

Mùa thảo quả (Trích từ tiểu

thuyết Gió rừng, NXB Thanh

Trang 23

b Nhận xét

Nhìn vào bảng thống kê trên, ta nhận thấy, số lượng sáng tác của Ma Văn Kháng được giảng dạy trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học gồm có ba

trích đoạn văn xuôi: Mùa đông trên rẻo cao, Mùa thảo quả, Hạng A Cháng

Cả ba văn bản này đều được trích từ những truyện ngắn và tiểu thuyết viết về

đề tài miền núi của Ma Văn Kháng giai đoạn trước 1980 Mùa đông trên rẻo

cao được dạy ở phân môn Chính tả của môn học Tiếng Việt lớp 4, tập 1 Mùa thảo quả được được dạy ở phân môn Tập đọc của môn học Tiếng Việt lớp 5,

tập 1 Hạng A Cháng được dạy ở phân môn Tập làm văn của môn học Tiếng

Việt lớp 5, tập 1 Các văn bản văn xuôi ấy mở ra tri thức văn hóa đặc sắc của đất và người miền núi, đồng thời bồi dưỡng cho học sinh rèn luyện khả năng

sử dụng tiếng Việt

Trang 24

Chương 2

VẺ ĐẸP NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA VĂN XUÔI

MA VĂN KHÁNG TRONG SGK TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC

2.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1 Văn học thiếu nhi

Thiếu nhi là khái niệm chỉ “trẻ em thuộc các lứa tuổi thiếu niên, nhi

đồng” [45, tr 944] Đó là các em nhỏ đang ở lứa tuổi sống trong sự dìu dắt,

nâng niu của gia đình và xã hội Lứa tuổi này còn có nhiều tên gọi khác nữa

như: “mục đồng”, “trẻ em”, “tuổi thơ”, “măng non”, “tuổi nhi đồng” hay

Tố Hữu còn ưu ái gọi các em là “lớp công nhân nhỏ tuổi” Trên các tên gọi

trên, khái niệm thiếu nhi được sử dụng nhiều, được dùng nhiều trong giao tiếp hàng ngày, dùng rộng rãi trong các văn bản liên quan đến trẻ em và trong các sáng tác thơ văn dành cho lứa tuổi này

Văn học thiếu nhi là một bộ phận của nền văn học dân tộc Trong Từ

điển thuật ngữ văn học, các nhà nghiên cứu định nghĩa:“Văn học thiếu nhi gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho thiếu nhi” Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm một phạm

vi rộng đó là bao gồm cả những tác phẩm văn học thông thường (cho người

lớn) đã đi vào phạm vi văn học thiếu nhi như Đôn-ki-hô-tê của M tex, Rô-bin-xơn Cờ-ru-xô của Đ Đi-phô, Gu-li-vơ du kí của Gi Xuýt-tơ, Túp

Xéc-van-lều bác Tôm của H Bi-sơ-xtâu…

Trên thế giới, từ lâu đã có một bộ phận sáng tác văn học dành cho thiếu nhi Những cuốn sách đầu tiên thuộc loại này là những cuốn sách có nội dung giáo khoa, đạo lý ở sách học vần, sách bách khoa, sách về các quy tắc ứng xử trong xã hội xuất hiện ở Châu Âu vào các thế kỉ XIV – XVI và đặc biệt phát triển vào thời kì Khai sáng Tính giáo huấn được người ta coi là một trong

Trang 25

những đặc điểm quan trọng của văn học thiếu nhi Bởi vậy, cho đến giữa thế

kỉ XIX, những tác phẩm viết dành riêng cho thiếu nhi vẫn nằm ngoài phạm vi của văn học, trong khi đó, những tác phẩm văn học viết cho người lớn lại đi vào phạm vi đọc của trẻ em, nhất là những loại viết theo môtip phônclo, loại

cổ tích và một số tiểu thuyết và truyện thuộc thể loại phiêu lưu

Thế kỉ XX, văn học thiếu nhi phát triển khá đa dạng và phức tạp Ở nhiều nước phát triển, nó ít nhiều bị chi phối bởi xu hướng thương mại, bị pha trộn bởi sự bành trướng của văn học đại chúng Ở Việt Nam, thế kỉ XX mới phát triển văn học thiếu nhi Đến nay đã có sự phân nhánh của thơ cho thiếu nhi (bên cạnh thơ cho người lớn), hoặc trong văn xuôi viết cho thiếu nhi đã hình thành các loại truyện: truyện sinh hoạt, truyện cổ tích (những sáng tác hiện đại theo lối cổ tích), truyện loài vật, truyện lịch sử…

Văn học thiếu nhi Việt Nam thực sự phát triển mạnh mẽ, phong phú và

đa dạng từ sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, đặc biệt từ sau 1986 Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã đem một không khí mới cho văn học nước nhà, trong đó có bộ phận văn học thiếu nhi Sáng tác cho các em từ những năm đầu thời kì đổi mới đến nay, đã đạt được những thành tựu đáng kể Các nhà văn lớp trước như Tô Hoài, Phạm Hổ, Nguyễn Quỳnh… mặc dù tuổi cao nhưng vẫn cần mẫn viết cho các em, tự đổi mới chính mình trong việc mở rộng đề tài

và tìm tòi hướng khai thác mới mẻ, phù hợp với nhu cầu của cuộc sống và bạn đọc Có những nhà văn cũ hầu như cả đời chỉ viết cho người lớn bây giờ lại viết cho các em, đó là Phùng Quán, Duy Khán… Đặc biệt từ đầu những năm

1990, đội ngũ sáng tác cho các em được bổ sung thêm nhiều cây bút trẻ như Trần Thiên Hương, Lê Cảnh Nhạc, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Trí Công, Hà Lâm Kỳ, Quách Liên, Phan Hồn Nhiên… (truyện) Tiếp đó là những cây bút không chỉ “trẻ” về tuổi nghề mà còn rất “trẻ” tuổi đời như: Hoàng Dạ Thi, Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Châu Giang, Thu Trân, Quế Hương,

Trang 26

Nguyễn Thúy Loan; và quãng đầu những năm 2000 là hiện tượng Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Lãm Thắng…

Văn học thiếu nhi thường có tính giáo dục cao Đây cũng được xem là đặc trưng cơ bản và quan trọng nhất của văn học thiếu nhi Tác phẩm văn học là người bạn đồng hành, đối thoại với các em bằng hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ giản dị, trong sáng, khơi gợi dẫn dắt các em tìm hiểu và khám phá thế giới Văn học tác động nhẹ nhàng đến nhận thức, tư tưởng tình cảm, đem lại cho các em nhận thức đúng và sâu sắc về thế giới xung quanh,

từ đó, giúp các em phát triển trí tuệ và thưởng thức cái đẹp, tâm hồn sẽ nhạy cảm, tinh tế hơn…

Sáng tác văn học thiếu nhi đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm lí của đối tượng tiếp nhận Tuổi thơ hồn nhiên, ngây thơ, tâm hồn trong sáng, cảm xúc

và trí tưởng tượng rất phong phú, bay bổng Mỗi tác phẩm văn học thiếu nhi thường chứa đựng những tiếng cười hóm hỉnh và tinh nghịch, kết hợp hài hòa giữa chất thơ và chất trẻ thơ, hồn nhiên, ngộ nghĩnh Vì vậy, tưởng tượng là một yếu tố không thể thiếu trong tác phẩm văn học viết cho các em Tác phẩm cho các em không chỉ bay bổng mà còn phải vui, sống động như chính cuộc sống vậy

Tác phẩm văn học thiếu nhi phải ngắn gọn, súc tích, trong sáng, dễ hiểu

Sự ngắn gọn không chỉ thể hiện ở dung lượng tác phẩm mà còn thể hiện trong

cả câu văn, câu thơ Đồng thời, văn học thiếu nhi rất giàu hình ảnh, nhạc điệu Những hình ảnh đẹp, cùng với vần điệu, nhạc điệu vui tươi sẽ làm cho

tác phẩm thêm sinh động và có sức lôi cuốn, hấp dẫn các em; trở thành món

ăn tinh thần yêu thích của các em

Có thể nói, tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi và cả những tác phẩm của người lớn đã được các em yêu thích, không loại trừ cả những tác phẩm văn học được giảng dạy trong nhà trường đối với bậc học nhỏ tuổi đều phải

Trang 27

thể hiện đƣợc đầy đủ những đặc điểm của văn học thiếu nhi: giản dị, trong sáng, dễ hiểu và đặc biệt có tính giáo dục cao

2.1.2 Văn xuôi và đặc trưng tác phẩm văn xuôi

a.Khái niệm văn xuôi

A.A Potebnhia trong cuốn Thi pháp tiểu thuyết đã quan niệm về văn xuôi nhƣ sau: “Văn xuôi là lời nói trực tiếp hiểu theo nghĩa, nó là lời nói

hoặc chỉ có mục đích thực tiễn, hoặc phục vụ cho việc biểu đạt khoa học Lời văn xuôi là lời biểu đạt một cái gì đó trực tiếp, không có biểu tượng, và nhìn chung là lời nói không tạo ra hình ảnh, mặc dù những từ ngữ riêng lẻ cũng mang tính hình tượng” Với ý nghĩa nhƣ thế, văn xuôi là hình thức ngôn từ

dùng để truyền đạt thông tin và các chân lí khoa học, đối lập với sáng tạo thi

ca, loại sáng tạo đƣợc thực hiện ở mọi tác phẩm ngôn từ, trong đó, tính xác định của hình tƣợng làm nảy sinh dòng chảy của ý nghĩa, tức là nảy sinh tâm trạng phía sau một vài nét vẽ hình ảnh và nhờ nhìn thấy những nét vẽ ấy mà sinh ra nhiều điều vốn chƣa có lời kết trong đó, nơi xuất hiện lời bóng gió không có trong ý đồ, hoặc ngƣợc với ý đồ của tác giả

Từ điển tiếng Việt giải thích: văn xuôi đƣợc hiểu là “Loại văn viết bằng ngôn ngữ thông thường, không có vần; phân biệt với văn vần” [36, tr 1102]

Trong giai đoạn văn học dân gian, văn học trung đại, thì khái niệm văn xuôi dùng để phân biệt với văn vần Văn xuôi bao gồm: tiểu thuyết lịch sử, các thể loại truyện truyền kì hay bao gồm cả truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết… Ngày nay, khi nhiều thể loại văn học mới phát triển và ra đời, khái niệm văn xuôi đƣợc hiểu theo nghĩa gần với khái niệm truyện Tức là, văn xuôi gồm những sáng tác có cốt truyện và có hệ thống nhân vật Văn xuôi bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa và cả thể loại kí

b Đặc trưng của tác phẩm văn xuôi

Tìm hiểu các khái niệm văn xuôi, ta thấy đều là những sáng tác tự sự

Trang 28

Trong văn học dân gian là thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn Trong văn học viết thời trung đại, các thể loại truyện thơ Nôm, truyện truyền kì, tiểu thuyết chương hồi đều thuộc dòng chảy của văn xuôi Trong văn học hiện đại, khái niệm văn xuôi vẫn là thuật ngữ được dùng theo hàm nghĩa rộng để chỉ những sáng tác thuộc phương thức tự sự Ở phần này, chúng tôi không trình bày các đặc trưng chung của văn xuôi mà chỉ đi vào trình bày một số đặc trưng của thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn Đây cũng chính là hai thể loại mà luận văn khảo sát trong các sáng tác của

Ma Văn Kháng

- Đặc trưng của thể loại tiểu thuyết

Đặc điểm tiêu biểu nhất của tiểu thuyết là thể hiện cái nhìn cuộc sống

từ góc độ đời tư Tùy theo từng thời kì phát triển, cái nhìn đời tư có thể sâu sắc đến mức thể hiện được, hoặc kết hợp được với các chủ đề thế sự hoặc lịch sử dân tộc Những yếu tố đời tư càng phát triển thì tính chất của tiểu thuyết càng tăng, ngược lại yếu tố lịch sử dân tộc càng phát triển thì chất sử thi càng đậm đà

Nét tiêu biểu thứ hai của tiểu thuyết là chất văn xuôi, tức là một sự tái hiện đời sống không thi vị hóa, lãng mạn hóa, lí tưởng hóa Miêu tả cuộc sống như một thực tại cùng thời, đang sinh thành, tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân

nó mọi yếu tố ngổn ngang, bề bộn của cuộc đời bao gồm cái cao cả lẫn cái tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài, cái lớn lẫn cái nhỏ

Thứ ba, nhân vật tiểu thuyết là “con người nếm trải” Tiểu thuyết miêu tả như con người đang biến đổi trong hoàn cảnh, con người đang trưởng thành

do cuộc đời này dạy bảo

Thứ tư, thành phần chính yếu của tiểu thuyết ngoài cốt truyện và tính cách nhân vật, tiểu thuyết còn miêu tả suy tư của nhân vật về thế giới, về đời người, phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm, trình bày tường tận tiểu sử của

Trang 29

nhân vật, mọi chi tiết quan hệ giữa con người với con người, về đồ vật, môi trường và nội thất…

Thứ năm, tiểu thuyết xóa bỏ khoảng cách giữa người trần thuật và nội dung trần thuật của anh hùng ca để miêu tả hiện thực như cái hiện tại đương thời của người trần thuật Chính đặc điểm này đã làm cho tiểu thuyết trở thành một thể loại dân chủ, cho phép người trần thuật có thể có thái độ thân mật, thậm chí suồng sã đối với nhân vật của mình

Cuối cùng, với các đặc điểm đã nêu trên, tiểu thuyết là thể loại văn học

có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các thể loại văn học khác Chính hiện tượng tổng hợp trên đã làm cho tiểu thuyết cũng đang vận động, không đứng yên Nhà nghiên cứu Xô Viết Ba-khơ-tin cho rằng, tiểu

thuyết là “thể loại duy nhất đang hình thành và chưa xong xuôi”

- Đặc trưng của thể loại truyện ngắn

Khác với tiểu thuyết- thể loại chiến lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện nên nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít có sự kiện phức tạp Và nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới, thì nhân vật của truyện ngắn là mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn thường nhắm tới việc khắc họa những tính cách điển hình đầy dặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tính người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp tường thuật của truyện ngắn là chấm phá Yếu tố quan trọng

Trang 30

bậc nhất của truyện ngắn là nhưng chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn, có lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Nói tóm lại, văn xuôi gồm những thể loại văn học viết bằng ngôn ngữ thông thường, không có vần điệu như thơ ca Tác phẩm văn xuôi thông thường gồm có cốt truyện, hệ thống nhân vật và chủ yếu mang tính khách quan Trong khi đó, tác phẩm thơ ca chủ yếu là cảm xúc mang tính chủ quan Văn xuôi bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa và cả thể loại kí Sáng tác văn xuôi của Ma Văn Kháng được dạy học trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học đều là những trích đoạn thuộc thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn

2.2 Vẻ đẹp nội dung của văn xuôi Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu học

2.2.1 Không gian cảnh sắc thiên nhiên miền núi

Có thể nói, Ma Văn Kháng là một cây bút giàu tình yêu với thiên nhiên cây cỏ Mỗi trang văn viết về thiên nhiên của ông đều ngọt ngào, mượt mà và sâu lắng Đặc biệt viết về thiên nhiên của vùng núi Tây Bắc, nhà văn lại dành nhiều tình cảm với mảnh đất mà ông gắn bó, mảnh đất cho nhà văn ngọn

nguồn cảm hứng Văn bản Mùa đông trên rẻo cao, Ma Văn Kháng đã đưa các

em về với khoảnh khắc chớm đông của một mền rẻo cao Câu mở đầu đoạn

văn “Mùa đông đã thực sự về rồi đây” như một tiếng reo vui xen lẫn ngạc

nhiên ngỡ ngàng của nhà văn khi nhận ra đất trời đã vào đông Hình ảnh được nhà văn chọn lọc đưa vào trong tác phẩm là những đám mây bàng bạc mùa đông, hoa cau, con suối, lá vàng… Mỗi hình ảnh, mỗi màu sắc đều mang trên mình hơi thở của mùa đông Bức tranh mùa đông nơi rẻo cao được nhà họa sĩ

Ma Văn Kháng vẽ bằng nhiều màu sắc khác nhau Đó là màu trắng đục của mây, của sương, của mưa bụi, màu vàng hoe của hoa cau, của những chiếc lá cuối cùng còn sót lại Là những gàm màu sáng nhưng lại lạnh, dường như trong từng câu chữ, người đọc như thấy cái hơi lạnh của mùa đông phảng phất

Trang 31

đâu đây Bức tranh mùa đông ấy không chỉ có hình ảnh, màu sắc mà còn có

cả âm thanh Đó là âm thanh của tiếng suối vốn trước đây ồn ào vậy mà nay đang thu mình lại, phô những dải cuội nhẵn nhụi và sạch sẽ Âm thanh lao xao của chiếc lá cuối mùa Bức tranh được vẽ bằng những nét vẽ khoáng đạt

Đó là những nét vẽ khoảng không của mây, của sườn núi Những nét vẽ chiều dài của con suối Những nét vẻ thu mình trên cảnh vật của hoa cau, lá vàng, mái lá Có thể nói, bức tranh mùa đông trên rẻo cao đẹp mà phản phất nét buồn của cảnh vật khi bước vào giai đoạn tàn úa, cuối mùa Đoạn văn không

có một từ nào nói về cái lạnh nhưng các em vẫn cảm nhận thấy cái lạnh đang thấm trong từng thớ thịt của cảnh vật Đoạn văn không có một từ nào nói về cái buồn nhưng nét buồn như đọng trong từng câu chữ Cảnh đẹp mà có cái tàn úa, phôi phai

Đoạn văn đã đưa các em học sinh Tiểu học về với thế giới của thiên nhiên, tạo vật Các em như cảm nhận thấy từng hơi thở và những biến đổi tinh

vi nhất của tạo vật Và các em cũng nhận thấy rằng bức tranh thiên nhiên ấy sao gần gũi với các em đến vậy, và như các em đã bắt gặp cảnh đó, âm thanh

đó, màu sắc đó trên quê hương mình vào mỗi độ đông về Ma Văn Kháng khiến các em mở rộng tất cả các giác quan để rung động cùng cảnh vật Thị giác để nhìn cảnh vật và màu sắc, thính giác để nghe âm thanh lao xao của tiếng lá, tiếng ồn ào của dòng suối lớn Xúc giác để cảm nhận cái lạnh đầu đông Trang văn ngọt ngào và tươi mát như một bài thơ Ma Văn Kháng đưa các em tới gần gũi với thiên nhiên hơn để các em cảm nhận được rằng thiên nhiên và đất nước mình tươi đẹp biết bao

Mùa thảo quả lại là một bức tranh tươi đẹp nữa về thiên nhiên mỗi độ

thảo quả chín Sau tiếng reo vui xen lẫn bất ngờ: “Thảo quả trên rừng Đản

Khao đã vào mùa”, nhà văn mở ra trước mắt các em học sinh một bức tranh

sống động về rừng Đản Khao và những trái thảo quả chín “Gió tây lướt thướt

Trang 32

bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thơm thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San Gió thơm Cây

cỏ thơm Đất trời thơm Người đi từ rừng thảo quả về, hương thơm đậm ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn” [49, tr 113] Trong một đoạn văn ngắn mà có

tới ba từ “hương” và sáu từ “thơm” Quả thật, gió tây lướt qua những cây thảo quả chín, gói mùi hương vào trong lòng để rồi đem tỏa đi khắp muôn nơi làm xóm làng thơm, gió thơm, cây cỏ thơm, đất trời thơm, nếp áo, nếp khăn đều thơm Trong cái hương thơm ấy có vị ngọt lựng của thứ quả chín, có cái ngây

ngất, say đắm của hương vị đất trời “Chẳng có thứ quả nào hương thơm lại

ngây ngất kì lạ đến thế” [49, tr 113]

Nhưng chỉ nói lên mùi thơm thì chưa nói hết được cái lòng yêu mến của tác giả với những trái thảo quả chín, nhà văn còn miêu tả lại hành trình thảo quả đơm hoa, kết trái và ban tặng hương thơm cho con người Chỉ mới đầu xuân, những hạt thảo quả còn gieo trên đất rừng nhưng qua một năm đã cao lớn tới bụng người Một năm nữa, từ một thân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới Thoáng một cái, dưới bóng râm của rừng già, thảo quả lan tỏa nơi

tầng rừng thấp, vươn ngọn, xòe lá, lấn chiếm không gian “Sự sinh sôi sao mà

mạnh mẽ vậy” [49, tr 113] Dường như không có sức mạnh nào có thể ngăn

cản sức sinh sôi bất tận và kì diệu ấy Đoạn văn sử dụng những câu văn dài như để diễn tả cái sức sống của thảo quả vậy Phải yêu mến, phải gắn bó với vùng đất này, với thứ quả kì diệu ấy, Ma Văn Kháng mới có thể miêu tả được đầy đủ là chính xác quá trình ấy tới vậy Có lẽ chính vì vậy mà người ta gọi

Ma Văn Kháng là chàng trai của núi rừng

Đoạn thứ ba của bài văn, Ma Văn Kháng miêu tả quá trình đơm hoa, kết trái của thảo quả Hoa thảo quả nảy dưới gốc cây một cách kín đáo và lặng lẽ Rồi trong sương thu ẩm ướt và mưa rây bụi mùa đông, thảo quả vượt qua cái khắc nghiệt của thiên nhiên để khép miệng và bắt đầu kết trái Dưới đáy rừng,

Trang 33

tựa như đột ngột, thảo quả bỗng rực lên những chùm thảo quả đỏ chon chót như chứa lửa, chứa nắng, chứa tất cả những gì tinh túy nhất của đất trời Rừng ngập hương thơm Rừng sáng như lửa hắt lên từ dưới đáy rừng Trong cái ẩm ướt, cái rét buốt, cài bàng bạc của mùa đông, núi rừng bỗng bừng lên những đốm lửa hồng của thảo quả Những đốm lửa ấy như sưởi ấm cho cả khu rừng, cho cả bản Chin San để rồi vạn vật say ngây và ấm nóng

Lại một lần nữa, Ma Văn Kháng đưa các độc giả nhí tới với mảnh đất vùng cao hiền hòa và thơ mộng Nhà văn bồi đắp cho các em một tình yêu đặc biệt với những dải đất xa xôi của đất nước Rõ ràng, Ma Văn Kháng chọn cho mình một lối đi riêng nhẹ nhàng mà sâu lắng, hiệu quả

2.2.2 Con người miền núi

Con người miền núi trong tác phẩm của Ma Văn Kháng là những cư dân mộc mạc giản dị, chân chất Họ không chỉ đẹp về thể chất mà họ còn đẹp về tâm hồn Khi đất nước có giặc xâm lăng, họ trở thành những người anh hùng

đại diện cho vẻ đẹp của cả cộng đồng Khi đất nước hòa bình, “súng gươm vứt

bỏ lại hiền như xưa”, họ là những người lao động bình dị, những chủ nhân

của núi rừng, đang hàng ngày lặng lẽ tô điểm nên vẻ đẹp của không gian sơn cước Trong tác phẩm của Ma Văn Kháng, họ được tôn vinh, ca ngợi đến mức trở thành những tượng đài kì vĩ không chút tì vết

Hạng A Cháng (Tiếng Việt 5, tập 1) là một trích đoạn được trích từ

truyện ngắn Người con trai họ Hạng Đây là đoạn văn miêu tả vẻ đẹp thể chất

và tâm hồn của anh thanh niên Hmông A Cháng Mở đầu đoạn văn, Ma Văn Kháng đã dùng lời khen của các cụ già trong làng để giới thiệu về A Cháng:

“A Cháng trông như một con ngựa tơ hai tuổi, chân chạy qua chín núi mười khe không biết mệt, khỏe quá! Đẹp quá!” [49, tr 119] Lời khen đó đã khái

quát toàn bộ vẻ đẹp và sức mạnh của A Cháng Cách so sánh A Cháng như một con ngựa tơ hai tuổi là cách so sánh mang đậm bản sắc của người dân tộc

Trang 34

thiểu số miền núi Những từ cảm thán “Khỏe quá! Đẹp quá!” vừa như một lời

Vẻ đẹp của anh không thể lẫn với bất cứ vẻ đẹp của những thanh niên ở các vùng miền khác

A Cháng không chỉ đẹp về hình thể, anh còn đẹp ở sức lao động, ở sự cần cù và chăm chỉ Con trâu to nhất, béo nhất luôn được A Cháng chọn để cùng anh cày ruộng Bắp cầy ôm lấy bộ ngực anh, anh nắm chắc đốc cày, mắt nhìn thế ruộng, nhìn đường cày, toàn thân nhoài thành một đường cong mềm mại, khi qua trái, khi qua phải theo đường cày uốn vòng trên hình bậc thang như một mảnh trăng lưỡi liềm Có lúc anh lại rạp hẳn xuống, đôi chân xoải dài hoặc băm những bước ngăn, gấp gấp… Một loạt động tác của A Cháng được tác giả miêu tả thật rõ nét và ấn tượng A Cháng hiện lên là vẻ đẹp của con người lao động, vẻ đẹp của con người hài hòa với công việc, lấy sức lực của mình để tô đẹp trên mảnh đất quê hương Chính sức lực tràn trề của anh, chính tình yêu lao động của anh đã biến anh trở thành niệm tự hào của dòng

họ Hạng của người Hmông

Người đọc còn bắt gặp vẻ đẹp lao động khỏe khoắn như A Cháng trong

tiểu thuyết Gió rừng (toàn văn của đoạn trích Mùa thảo quả - Tiếng Việt 5,

mươi mốt tuổi, vóc dong dỏng, rắn rỏi, mặt trái xoan, đầy vẻ hăm hở và nóng

Trang 35

nảy Như đuổi theo một cái gì đó ở phía trước, anh soải những bước dài gấp đôi người khác, băng qua những vạt rừng gianh và lọt vào khu rừng cây gỗ xanh rợp”… Ma Văn Kháng rất tinh tế khi miêu tả A Phìn A Phìn có vẻ đẹp

tráng kiện của người con của rừng núi với vóc dáng dong dỏng, cái vẻ hăm hở

và những soải bước dài gấp đôi người khác

A Cháng, A Phìn không chỉ được tôn vinh ở vẻ tráng kiện trong lao động, dưới ngòi bút của Ma văn Kháng, những chàng trai ấy còn mang vẻ đẹp của tình yêu quê hương đất nước Ở những con người này, tình yêu quê hương đất nước thật mộc mạc, giản dị nhưng cũng thật thiêng liêng Với họ, tình yêu quê hương đất nước, chính là tình cảm với mảnh đất thiêng liêng nơi

họ cư trú A Cháng có sức khỏe phi thường nhưng vì chưa đủ 18 tuổi nên không được tuyển quân, A Cháng đỏ gay mặt lý sự, rồi một mình một ngựa đi

lên huyện đội: “A Cháng tưng hửng Quay trở về, buồn đến không lèn nổi

mình ngựa A Cháng thẫn thờ đi được vài bước lại giữ dây cương ngựa ngồi xuống dệ đường nghỉ Tới nhà, A Cháng không nói một lời, bỏ vào buồng nằm Nằm hai hôm liền, bát đũa không sờ tới, công việc không biết qua”[16,

tr.21] Tình yêu quê hương đất nước của A Cháng được thể hiện bộc trực là thế, là mong ước được đi tuyển quân để giết thằng giặc bảo vệ núi rừng: “Mẹ

ơi, con sinh ở thời này, con không đi đánh giặc thì uổng công nuôi dạy của

mẹ, uổng sức khỏe của con”

Khác với A Cháng, tình yêu đối với mảnh đất nơi A Phìn sinh ra đã để lại trong anh bao nỗi nhớ da diết khi anh đi xa Và khi trở lại quê hương anh

thấy lòng mình xao xuyến “Phìn đã thoả mãn; vượt qua một bức tường đá đổ

nát, dấu vết biên giới của Chin San, nơi cư trú đã tám đời nay của người Dao

đỏ dòng họ Tẩn, lòng dạ anh chợt bỗng bừng dậy xôn xao: anh đã trở về đúng cái nơi anh hằng mong nhớ! Từ đây trở vào là đất đai của dòng họ Tẩn Người họ Tẩn đã tới đất này góp bạc trắng mua ruộng, mua đất, lễ quan,

Trang 36

khoanh vùng cư trú, làm ăn và chống thổ phỉ, giặc cướp, sinh sôi nẩy nở từ bao năm nay, để bây giờ thành thôn xóm bản làng, để khi đi xa có cái để nhớ, nơi mong” [18, tr.99]

Bên cạnh những người con trẻ tuổi của núi rừng, các tác phẩm của Ma Văn Kháng cũng khắc họa sinh động hình hình ảnh những người lớn tuổi – những pho tượng sống lưu giữ lịch sử của núi rừng Đó là ông Páo Sử trong

Người con trai họ Hạng, ông Tẩn Mè Thòn trong tiểu thuyết Gió rừng Để

miêu tả hai pho tượng sống của núi rừng, nhà văn dùng nhiều hình ảnh so

sánh, ngôn ngữ kì vĩ: “Ông Páo Sử là tay thợ cày giỏi, ông bắt đầu cày từ

năm mười ba tuổi Kể từ lúc đó tới nay đã ngót nghét bốn mươi năm trời rồi nhưng tuổi già vẫn không động chạm tới được tầm vóc lực sĩ của ông Ông vẫn cao lớn, phương phi Khác chăng là khuôn mặt to, tròn đã pha thêm chút

đạo mạo của người từng trải” Ông Thòn: “trông càng gân guốc và quắc

thước Hơn sáu mươi, nhưng ông còn khoẻ Vóc cao, gầy, da dẻ bóng như cây song đá Mặt choắt, mũi nhọn như mỏ chim, hai con mắt nhỏ, sáng lóng lánh

Vẻ đĩnh đạc, tự tin toát lên từ gương mặt và sự ăn mặc mực thước Một tấm khăn chàm hai sải quấn chặt cái đầu trọc chỉ để lại ở quanh khoáy một chỏm tóc Áo cổ thấp, xẻ ngực, thân trái lai một cái nẹp thêu từ cổ xuống gần tới gấu áo Cửa tay áo sặc sỡ những đường nét hoa văn thêu Sau lưng áo, đính ngay ngắn một miếng vải thêu, miếng lui tan - tục truyền là cái ấn nhà trời Ông Thòn có vẻ dữ tướng, đầy vẻ tự chủ và quyết đoán vì bộ mặt, dáng điệu, phong vẻ một ông trưởng tộc, vì khi nói cứ hếch cái cằm nhọn lên và vì giọng nói the thé như giọng sóc”[18, tr 55] Có thể nói, đây là những nhân vật đại

diện cho sức mạnh của cả bộ tộc Họ mang vẻ đẹp quắc thước, kì vĩ của những anh hùng sử thi Họ là kết tinh cho sức mạnh và tinh thần của những con người miền núi Ở họ, ẩn chứa cả một kho tàng văn hóa của cộng đồng dân tộc

Trang 37

Làm nên thành công trong các tác phẩm của Ma Văn Kháng, không thể không nhắc đến những con người quần chúng của núi rừng Họ là số đông, nhưng có điểm đồng quy đều là những con người chân chất đơn sơ, giản dị như cây cỏ núi rừng Vẻ đẹp nhân thế trong văn Ma Văn Kháng là một vẻ đẹp độc đáo và nhân bản, thể hiện cái nhìn của nhà văn về sức sống mãnh liệt của con người miền núi Đặc điểm này trở thành nguyên tắc trong xây dựng hình tượng tác phẩm, tồn tại như một cảm hứng chủ đạo xuyên suốt, một quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người

Vẻ đẹp này thể hiện trước hết ở hình tượng người phụ nữ Ma Văn Kháng là nhà văn có mối quan tâm đặc biệt đến nữ giới, luôn ưu ái và bênh vực họ Người phụ nữ trong sáng tác của Ma Văn Kháng, đặc biệt là phụ nữ dân tộc ít người, có vẻ đẹp dân gian mạnh mẽ, tươi khoẻ, gợi cảm gợi tình

Đây là chân dung nhân vật Seo Di, ba mươi lăm tuổi, trong tác phẩm Trăng

non: “Cả con người, từ làn da màu mật ong, rực lên sức sống, nỗi khát khao”,

có mùi “nồng nồng ấm và hoi hoi như mùi mồ hôi ngựa” Và Seo Ly, người phụ nữ đầy ma lực, kẻ khuấy động tình trường ấy: “Vóc dáng nàng đã thuần

thục, đã nảy nở hết độ”, từ thân thể nàng “tiết ra một làn hương thơm phảng phất mùi hươu xạ”

Nét phồn thực vừa dân gian vừa hiện đại này gợi nhớ đến vẻ đẹp thôn

dã, đậm đà mà ám ảnh của những nhân vật phụ nữ trong truyện của Sholokhov, Aitmatov, những người đàn bà suốt đời gắn bó với thảo nguyên, lúa mì và những con ngựa Đó là vẻ đẹp được thiên nhiên hoá, dân dã hoá Trong bức tranh miền núi này, như một sự cân bằng âm dương, hình ảnh phụ

nữ phồn thực đặt bên hình ảnh đàn ông cường tráng Một điều thú vị là Ma Văn Kháng thích tả phụ nữ ở tuổi trung niên, viên mãn, khi mọi thứ đã bung

nở hết, cái phồn thực có cơ hội bày ra trọn vẹn; còn đàn ông, ông thích những thanh niên, và đã tả thì cái sức vóc ấy phải như tạc, như đúc, như một khối kì

Trang 38

vĩ nứt ra từ hoang sơ rừng núi Pao trong Vùng biên ải: “Một mình vác nổi con

ngựa hai tuổi rưỡi”, “Bắp tay nổi múi thịt Chân to, bàn chân dày, gai góc phải sợ Vai rộng, đặt tảng đá lớn lên cũng vừa” Giàng Tả trong Giàng Tả,

kẻ lang thang cũng có những nét phi phàm: “Cũng là da là thịt mà da thịt

Giàng Tả như sắt như đồng Vai Giàng Tả rộng gấp rưỡi vai người Ngực phồng như hai quả gò, bả vai nổi u xương…” Đó còn là Pao Ly, người bạn

thân thiết của A Cháng, người con ưu tú của Y Lèn Hồ: “Anh đeo một cái xắc

cốt da đỏ Tay xắn cao Khuôn mặt cháy nắng rắn rỏi Hàng mày xếch hơi hướng lên cao Cánh mũi phập phồng hít thở hương thơm của khóm ngải rừng ngào ngạt Đó còn là ông Chủ nhiệm Cam lạnh lùng mà nhân hậu Đó

còn là Chị Leng, một người vợ chịu khó, cần mẫn Đó là anh Ngay, một người lính nằm lại dưới xuôi theo tiếng gọi của Tổ Quốc Trong tiểu thuyết

Gió rừng, thế giới nhân vật hiện lên cũng rất sinh động Họ cũng mang những

vẻ đẹp đôn hậu, thuần khiết Đó là Tẩn A Cáo, người bạn thân của A Phìn; là

chăm chỉ

Như vậy, thế giới con người trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng được miêu tả rất sinh động Họ là những con người mang vẻ đẹp của núi rừng: chân chất, đôn hậu và yêu quê hương tha thiết

2.2.3 Không gian đất và người giàu bản sắc văn hóa dân tộc

Những trang văn của Ma Văn Kháng trong SGK Tiếng Việt bậc Tiểu

học không chỉ khắc họa vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên và con người mà còn làm sống lại nét văn hóa độc đáo của không gian núi rừng

Trước hết, phải kể đến không gian văn hóa của sinh hoạt cộng đồng các

dân tộc thiểu số nơi đây Trong tiểu thuyết Gió rừng, không gian sinh hoạt ấy

là bản Chin San - trung tâm của ba thôn nhỏ và mười hai chòm xóm Sau ba năm xa cách, người thanh niên dân tộc Dao đỏ Tẩn A Phìn nhận thấy: Chin

Trang 39

San vẫn như trước, nguyên vẹn, không đổi thay Trên những quả đồi đất đỏ, lau lách vàng ửng là hơn bốn chục nóc nhà mái gianh đen xạm Cũng như con người suốt đời leo núi, chúng cũng leo núi và vì mệt mỏi quá nên chúng rải ra một cách tuỳ tiện, như người đã kiệt sức, bạ đâu nằm đấy Nhà ở thưa thớt quá, giống như nắm hạt rau gieo xuống, bị kiến tha, bị mưa trôi, mỗi hạt giạt tới một phương Không có một sự liên kết nào gắn bó chúng lại Đường làng cũng không Chỉ có những cái máng nước kẻ những nét xương xẩu, đen thui

hờ hững từ rừng già về mỗi căn nhà, mỗi cơ thể biệt lập Nước róc rách trong máng, rỏ tong tong, một nhịp điệu buồn tênh, không hồn, trong thùng gỗ ở căn bếp vắng Đó đây, như những đám khói xanh đặc là những bụi dâm bụt cằn, cạnh những cây mận khẳng khiu trùm lợp lớp dây tầm gửi vàng ánh và những búi mai đang trút lá, buông tiếng khô khan Giữa cảnh tiêu điều, từ đâu xộc ra một đàn dê Những con dê bụng xệ, mắt xanh quái dị, có cặp sừng như hai con dao nhọn, gặp Phìn, toé vào các bụi cây, be rầm rĩ sợ hãi, khiến cảnh vật càng thêm vẻ hoang sơ Chin San là vùng đất thân thương của những con người miền núi Đó là nơi đã nuôi dưỡng, che chở những người anh hùng của cộng đồng Với những con người nơi đây, mảnh đất này còn là nơi lưu giữ những phong tục, truyền thống từ xa xưa của các dòng họ Trên vùng đất này,

ông Thòn đang sửa soạn một cái lễ cấp sắc cho dòng họ Tẩn Cũng trên vùng đất này, những ngôi nhà người Dao đỏ được dựng lên “Nhà Cáo xinh xắn

nhất thôn, làm theo kiểu mới, có mộng mẹo gá lắp, dựng trên đất, có gác lửng Nhà ngoài chỉ có hai gian, ăn thông vào căn nhà phía sau cao rộng, chia đôi, một bên là bếp, một bên là lò rèn, lò đúc của ông Hùng… cả làng,

cả ba thôn khác và mười hai chòm xóm kéo gỗ, vầu đến giúp Thợ mộc là một

gã đàn ông chột, hình như mới ở tù ra, gã này ăn ở nhà Phiểu đã gần năm nay, chau chuốt từng cái cột nhà, lỗ đục cho căn nhà tương lai của ông chủ nhiệm”[18, tr145]

Trang 40

Đó cũng là vùng núi còn nguyên vẹn sắc xanh của rừng già nguyên thuỷ, giống như một tấm thảm dầy phủ trên những mái núi mênh mang, xa tít Vùng rừng này cho đến nay vẫn chưa bị tàn phá nhờ một quy ước chặt chẽ và nghiêm khắc của bản làng Những khu rừng mẹ ấy chở che cho giống cây thảo quả, nguồn đặc sản của Chin San Đó cũng là bà mẹ đã chở che cho mấy trăm con người dòng họ Tẩn những năm phỉ nổi như bệnh dịch, những năm

“năm hai, năm ba, năm tư” Bọn phỉ Sề Cồ Sang từ huyện lấn tới, bắt người

làm lính, cướp bóc, đốt phá Ông Thòn dẫn cả làng lên rừng này Ở đây,

“Rừng ơn huệ Rừng thiết thân với đời sống là thế Có ai nỡ động dao vào

thân rừng Nó là mái nhà chở che cho những làng Dao rải rác lưa thưa trên lưng chừng các triền núi của dãy Nhạc Sơn, thuộc đại sơn mạch Hoàng Liên Sơn Đứng ở đây có thể nhìn thấy gần cận Chin San là Cốc Ly, Cốc Sâm, Cốc Lủm, xa nữa là Tả Lùng Sán, Tả ngảo, Lùng Thàng” [18, tr 83] Những làng

Dao ở cách nhau, như tạo thành một chuỗi hạt ngọc quý trên cổ người con gái đẹp, trong khi dưới nó là khuôn ngực nở nang của nàng, tức cái thung lũng lúa hai mùa của huyện Phong Sa

Nơi đây, những làng Dao đã hợp thành một vùng trung gian giữa miền đất thấp, nơi cư trú của người Giáy, người Tày và miền cao xa xăm, quê hương của người Mông, người Hà Nhì Vùng giữa vắng vẻ, vùng của người Dao đã hình thành từ ngày nào? Phải chăng, sau những chuyến đi dài trong lịch sử, người Dao đã tới đây, khi vùng thấp đã có cánh quạt cọn nuớc của người Tày, tiếng xa chỉ quay của người Giáy; họ đã phải leo dốc mà lên và dừng lại với gia tài đơn sơ còn lại sau chặng đường dài: một cái dìu và một cây dao Thiên nhiên hết sức hào phóng đã cho họ trú chân và sinh sống Lòng tràn đầy tự tin, say mê vì sứ mạng chinh phục của mình, họ đã bắt núi rừng phải lui bước, nhả ra của cải nuôi sống họ Đất này đã cho đời thứ gạo nương thơm dẻo, cây thuốc quý và một nền văn hoá nhiều màu sắc riêng biệt

Ngày đăng: 07/09/2015, 15:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng lớp xem nhƣ mẫu để cả lớp tham - Văn xuôi ma văn kháng trong SGK tiếng việt bậc tiểu học và ý nghĩa giáo dục đối với học sinh (LV01286)
Bảng l ớp xem nhƣ mẫu để cả lớp tham (Trang 72)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w