1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách tiểu thuyết ma văn kháng

170 345 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng, chúng tôi có tham vọng làm sáng rõ và khẳng định vị trí của tác giả này trong tiến trình phát triển văn xuôi Việt Nam hiện đại, đặc biệt

Trang 1

đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

d-ơng thị thanh h-ơng

Phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng

luận án tiến sĩ văn học

Hà nội - 2015

Trang 2

đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

d-ơng thị thanh h-ơng

Phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Trang 3

Lêi cam ®oan

T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c kÕt qu¶ nghiªn cøu trong luËn ¸n lµ trung thùc Nh÷ng kÕt luËn khoa häc cña luËn ¸n ch-a tõng ®-îc ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c

T¸c gi¶ luËn ¸n

D-¬ng ThÞ Thanh H-¬ng

Trang 4

1.1.2 Nghiên cứu về phong cách nghệ thuật ở nước ngoài

1.1.3 Nghiên cứu phong cách và phong cách nghệ thuật nhà văn ở

Việt Nam

1.1.4 Quan niệm của luận án về nội hàm khái niệm phong cách

67

10

14

1 2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Ma Văn Kháng 15 1.2.1 Nghiên cứu về tiểu thuyết Ma Văn Kháng 16 1.2.2 Nghiên cứu về phong cách nghệ thuật Ma Văn Kháng 24

Chương 2: CƠ SỞ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH TIỂU THUYẾT MA 28

VĂN KHÁNG

2.1 Quá trình hình thành phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng 28 2.1.1 Con đường dẫn đến phong cách nghệ thuật nhà văn 28 2.1.2 Những chặng đường sáng tác tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 30

2.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người 45

Chương 3: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG 58 3.1 Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng 58

Trang 5

3.2.1 Nhân vật qua yếu tố tướng mạo 86

Chương 4: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG 105

4.1.1 Ngôn ngữ tả, kể và trữ tình ngoại đề 105 4.1.2 Ngôn ngữ phong phú đa dạng sáng tạo 114

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Ma Văn Kháng là một trong số những nhà văn xuất sắc của văn học

Việt Nam hiện đại , thuộc số những tiểu thuyết gia hàng đầu của văn xuôi

đương đại Việt Nam Hơn nửa thế kỉ cầm bút , gần 80 năm cuộc đời, cho đến hôm nay, mang trong mình dấu ấn năm tháng nhọc nhằn nhưng nguồn cảm hứng, khát vọng sáng tạo nghệ thuật không hề vơi cạn, trái lại nội lực sáng tác trong ông vẫn luôn sung mãn

Với Ma Văn Kháng, để đạt được những thành tựu nghệ thuật và xác lập được chỗ đứng của mình trong văn học là cả một quá trình lao động nghệ

thuật đầy gian khổ Trong cuốn hồi kí Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ

thương suy ngẫm về hành trình cuộc đời mình đã qua, về con đường mình đã

lựa chọn, về điểm đầu tiên, miền đất vàng - Lào Cai - đã nâng đỡ tâm hồn

mình, Ma Văn Kháng bộc bạch: "Tôi nhận ra, điều cuốn hút tôi mãnh liệt chính là

số phận các dân tộc nhỏ bé ở đây và câu chuyện của họ phải được biểu hiện bằng một thể tài lớn: tiểu thuyết" [93, tr 83] Lựa chọn tiểu thuyết làm nền tảng và bệ phóng tâm hồn mình, cho thấy nhận thức, chí hướng và duyên nghiệp của Ma

Văn Kháng với thể loại này Tiểu thuyết đầu tiên Đồng bạc trắng hoa xòe đã ra

mắt và được bạn được đón nhận, trân trọng, yêu mến và chính tình cảm của bạn đọc là sợi dây nối kết bền chặt giúp Ma Văn Kháng thủy chung với một thể tài đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, tâm huyết, trí và lực Từ ngày đầu tiên

ấy đến nay, hơn nửa thế kỉ lao động nghệ thuật đã trôi qua, gắn bó với bao thăng trầm biến động của đất nước, cùng với hàng trăm truyện ngắn, tiểu luận nghiên cứu phê bình, bài báo Ma Văn Kháng đã dâng tặng cuộc đời 16 tiểu thuyết Qua những sáng tác đó, người đọc có thể nhận thấy, Ma Văn Kháng có một nhân cách nghệ sĩ luôn hướng về cái đẹp, dấn thân và hữu trách với đời sống hôm nay của đất nước, của dân tộc

Giá trị sáng tạo nghệ thuật của tiểu thuyết Ma Văn Kháng được tôn

vinh bằng rất nhiều giải thưởng, theo mốc thời gian, tiểu thuyết Mưa mùa hạ

Trang 7

Giải thưởng Văn học Công nhân; Mùa lá rụng trong vườn, giải thưởng Hội

Nhà văn Việt Nam năm 1985, cũng là một trong số bộ ba tác phẩm được tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001, đã được dựng thành phim

truyền hình dài tập Mùa lá rụng; Gặp gỡ ở La Pan Tẩn giải thưởng Hội văn nghệ các dân tộc thiểu số năm 2001; Một mình một ngựa giải thưởng Hội Nhà văn

Hà Nội năm 2009 Gần đây nhất, ngày 19 tháng 5 năm 2012, nhà văn đã vinh dự

được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh cho chùm các tác phẩm:

Mưa mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn và Truyện ngắn chọn lọc Đây là sự tôn vinh tài năng, nhân cách, xứng đáng đối với người nghệ

sĩ cả đời cống hiến cho sự phát triển của văn học dân tộc

Vấn đề lí thuyết phong cach ngh ệ thuật và phong cách nghệ thuật nhà

văn cho đến nay vẫn là đối tượng học thuật gây nhiều tranh cãi, chưa có sự thống nhất Ở Việt Nam, tiếp nhận và nghiên cứu và ứng dụng lý thuyết này

từ nước ngoài còn mang tính chất phiến diện, chủ yếu là những công trình từ Liên Xô cũ Luận án của chúng tôi mong muốn giới thiệu những công trình nghiên cứu về lý thuyết này trong mối tương quan so sánh nhằm đa dạng hóa các cách tiếp cận và sâu xa hơn muốn góp một phần nhỏ bé vào hệ hình nghiên cứu văn học theo hướng hiện đại Trong luâṇ án này, sau khi phân tích

các quan niệm về phong cách nghệ thuật trên thế giới và ở Việt Nam, dưa trên những net tương đồng cơ bản trong quan niêm của ho ̣ cùng với cac khai niêm

đã đươc thống nhất , chúng tôi mạnh dạn đưa ra quan điểm về phong cách

nghê ̣thuâṭ để lam bô ̣ công cu ̣ khi tiến hanh nghiên cứu ph ong cach nghê ̣thuâṭ tiểu thuyết Ma Văn Kháng

Theo chúng tôi, các nhà văn đều có ý thức khẳng định tiếng nói cá nhân của mình qua những thể loại mà họ lựa chọn Đó là nỗ lực không ngừng nghỉ của anh ta trên đường sáng tạo nghệ thuật Chính những nỗ lực đó đã làm nên diện mạo phong phú, đa dạng của văn học Việt Nam hiện đại Ma Văn Kháng là một trong số những gương mặt tiêu biểu có nhiều đóng góp lớn, được các nhà nghiên cứu có uy tín quan tâm, bạn đọc ủng hộ nhiệt thành từ tiểu

Trang 8

thuyết đầu tay đến tác phẩm gần đây nhất Trên cơ sở tiếp cận Ma Văn Kháng

từ vấn đề phong cách ở thể loại tiểu thuyết, chúng tôi xác định mục đích của

đề tài chính là mang lại những khám phá mới, hoặc có cách lý giải phù hợp về những đặc điểm nghệ thuật trong sáng tác tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Đây là

những lý do cơ bản để chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Phong cách tiểu

thuyết Ma Văn Kháng Nghiên cứu phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng,

chúng tôi có tham vọng làm sáng rõ và khẳng định vị trí của tác giả này trong tiến trình phát triển văn xuôi Việt Nam hiện đại, đặc biệt là những đóng góp cá nhân của nhà văn ở một thể tài chủ yếu của một nền văn học: tiểu thuyết

2 Đối tượng, phạm vi, nhiêm vu ̣ nghiên cứu

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Luận án là đề tài vận dụng lý thuyết về phong cách học vào khảo sát

và nghiên cứu một tác giả văn học thông qua các tác phẩm ở một thể loại cho nên đối tượng nghiên cứu trước hết là quan niệm về phong cách nghệ thuật và

phong cách nghê ̣thuâṭ nhà văn Sau đó là sáng tác tiểu thuyết Ma Văn Kháng

Hai đối tượng này có quan hệ chặt chẽ với nhau vì chỉ có thể làm rõ phong cách nghệ thuật nhà văn khi có những tri thức về vấn đề nội hàm phong cách Trong khuôn khổ của luận án, chúng tôi xác định phạm vi về lí thuyết phong cách chỉ giới hạn ở một vài tác giả, công trình tiêu biểu và dành vị trí ở

chương tổng quan cho nội dung này Về tác giả Ma Văn Kháng, với số lượng 16 tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, tiểu luận đã được công bố trong những thời gian khác nhau, để làm rõ đặc điểm, dấu ấn phong cách ở nhiều thể loại là một việc làm khó khăn, do vậy đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là tiểu thuyết Chúng tôi hi vọng, truyện ngắn và tiểu luận phê bình của nhà văn sẽ được nghiên cứu ở cấp độ khác, trong khuôn khổ khác Các tiểu thuyết trong giới

hạn của đề tài gồm: Đồng bạc trắng hoa xòe (1979), Vùng biên ải (1983),

Mưa mùa hạ (1984), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Côi cút giữa cảnh đời (1989), Chó Bi, đời lưu lạc (1992), Ngược dòng nước lũ (1999), Trăng non (2001), Gặp gỡ ở La Pan

Trang 9

Tẩn (2001), Một mình một ngựa (2009), Bóng đêm (2011), Bến bờ (2011)

Riêng tiểu thuyết Chuyện của Lý (2013), chúng tôi chỉ điểm qua vì lý do khi

tiến hành nghiên cứu, tiểu thuyết nảy chưa xuất bản, hy vọng sẽ tìm hiểu ở những công trình về sau Các bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của nhà văn trên báo chí và một số tiểu luận, phê bình cũng được đưa vào vào diện khảo sát để làm rõ những quan niệm nghệ thuật của nhà văn

2.2 Nhiêm vụ nghiên cứu

Luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản như sau: Khảo sát, nghiên cứu, tổng kết và đưa ra nhận định đặc điểm về phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng

3 Phương pháp nghiên cứu

Đối tượng của đề tài vừa mang ý nghĩa văn học sử vừa mang ý nghĩa

lý luận văn học cho nên trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, dưới đây là những phương pháp cơ bản:

Phương pháp lịch sử - loại hình: Luận án khảo sát lịch sử hình thành

những quan niệm về phong cách nghệ thuật, đặc trưng và nội hàm của khái niệm qua những công trình của hai nhà nghiên cứu phong cách học trên thế giới có ảnh hưởng đến phê bình phong cách học ở Việt Nam Sử dụng phương pháp loại hình học để xác định rõ đặc trưng thể loại trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng qua các giai đoạn sáng tác từ tiểu thuyết sử thi đến tiểu thuyết thế sự đời tư qua đó làm rõ những đặc điểm của phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng

Phương pháp hệ thống: trong quá trình nghiên cứu luận án đặt các

sáng tác tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trong hệ thống bao chứa nó, xem xét phong cách Ma Văn Kháng như một hệ thống cùng vận động, phát triển theo xu hướng phát triển của văn học Từ đó, xác định đóng góp của tác giả này trong việc đổi mới tư duy tiểu thuyết (cách tân thể loại) nói riêng và cống hiến cho sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung

Phương pháp so sánh: Luận án sử dụng so sánh đồng đại và lịch đại

để thấy được sự kế thừa truyền thống, những đóng góp mới của Ma Văn Kháng

Trang 10

ở phương diện tiểu thuyết Đặt Ma Văn Kháng và sáng tác của ông trong mối liên hệ cùng thời với các tác giả khác, từ đó làm rõ phong cách nghệ thuật độc đáo của ông với những đóng góp quý báu cần ghi nhận, khát vọng nghệ thuật của ông hướng về cái đẹp, về đất nước và nhân dân

Phương pháp tiếp cận từ góc độ thi pháp học: Luâṇ an sẽ vận dụng lý

thuyết về thi pháp học, tìm hiểu phong cách nghệ thuật nhà văn từ quan niệm nghệ thuật, nhân vật, ngôn từ, giọng điệu

Phương pháp phân tích - tổng hợp đươc vâṇ dụng ở mức độ cần thiết

khi phân tích nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu của tiểu thuyết Ma Văn Kháng

4 Đóng góp của luận án

Luận án bước đầu hệ thống, phân tích và đưa ra nhận xét đánh giá tổng hợp về đặc điểm phong cách Ma Văn Kháng ở thể loại tiểu thuyết từ tác phẩm đầu tay cho đến tác phẩm gần đây nhất Từ bình diện phong cách học làm rõ sự phong phú đa dạng trong cá tính sáng tạo và những đóng góp của nhà văn ở thể loại tiểu thuyết cho sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại

Ứng dụng phong cách học vào khảo sát một tác giả văn học Việt Nam đương đại, kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa cung cấp phương pháp luận và kiến văn cần thiết cho việc tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy ở nhiều cấp độ

5 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luâṇ và danh muc̣ tài liêụ tham khảo, nôị dung luâṇ an gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở hình thành phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng Chương 3: Thế giới nhân vâṭ tiểu thuyết Ma Văn Kháng

Chương 4: Ngôn ngữ và giọng điệu tiểu thuyết Ma Văn Kháng

Trang 11

Chương 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT

1.1.1 Về khái niệm phong cách

Phong cách là một trong những thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong

nhiều linh vưc đời sống và nghiên cứu khoa hoc̣ Theo tiếng Hi Lạp, từ phong

cách (stylos) lúc đầu dùng để chỉ chiếc que có một đầu vót nhọn và một đầu

tù, để viết lên các tấm bảng phủ nến Thời La Mã cổ đại, phong cách được gọi là

stylus, tiếng Pháp gọi là style và được hiểu như là một thuật ngữ ngôn ngữ

học, nghệ thuật học và văn học Sau đó, "phong cách" trở thành một khái niệm có

tính chất ngôn ngữ chỉ cách dùng từ, được sử dụng như một thuật ngữ của ngành ngôn ngữ học Đến thế kỷ XX, phong cách không chỉ hiểu đơn thuần là một khái niệm bó hẹp trong ngôn ngữ học, mà đã được coi như là một đặc trưng của nghệ thuật, để xác định những đặc trưng cơ bản của tác phẩm nghệ thuật nói chung và tác phẩm văn học nói riêng

Thời cổ đại, ở phương Tây, từ Aristote (-384 đến -347 TCN) trong

Nghệ thuật thơ ca đến Lưu Hiệp, ở phương Đông (456 - 520) trong Văn tâm điêu long đã đề cập khái niệm này nhưng dừng ở mức độ rất khái quát Trải

qua một chiều dài phát triển của lịch sử văn học nhân loại, từ Trung cổ qua Phục hưng đến Cận đại, khái niệm phong cách vẫn luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Bước sang thời kì hiện đại, các nhà nghiên cứu và phê bình văn học đã xem nó như một phạm trù thẩm mỹ, một hiện tượng nghệ thuật, chứa đựng tất cả sự phong phú và phức t ạp cả nội dung lẫn hình thức Nghiên cứu phong cách cũng không dừng lại ở một phương diện mà có thể tiếp cận ở nhiều góc nhìn khác nhau về tác giả, tác phẩm, thể loaị , thời đaị , dân tôc̣ Cho đến nay , vấn đề phong cach trong sang tac và nghiên cứu văn

học vẫn là một vấn đề trung tâm trong nghiên cứu và phê bình văn học

Trang 12

1.1.2 Nghiên cứu về phong cách nghệ thuật ở nước ngoài

Nghiên cứu về phong cách của các tác giả nước ngoài như Khrapchenc,o

Gradop, Turbin, Jimunxki, Likhavchev, đã đươc dic̣ h ra tiếng Viêṭ khá sớm

Gần đây là công trình Bản mệnh của lý thuyết của Antoine Compagnon - một

nhà nghiên cứu có ảnh hưởng khá rộng ở Âu, Mỹ cũng được dịch thuật và được giới học thuật quan tâm Xét tầm ảnh hưởng, chúng tôi lựa chọn hai nhà nghiên cứu M B Khrapchenco (thuộc Liên Xô cũ) và A Compagnon (Pháp)

để làm sáng rõ những quan niệm phong cách ở nước ngoài có ảnh hưởng đến nghiên cứu phong cách và phong cách nghệ thuật nhà văn ở Việt Nam giai đoạn gần đây nhất

Trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phá t triển của văn học

Khrapchenco đã thống kê và nghiên c ứu những quan niệm khác nhau về phong cách nghệ thuật (khoảng 20 định nghĩa) Từ quan niệm phong cách là sự thụ cảm chung về hiện thực, nhận thức hiện thực (Đ Likhachev Ar Grigorian) đến lý giải phong cách từ góc nhìn ngôn ngữ học (V Turbin), phủ nhận việc quy phong cách vào đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật, khẳng định phong cách là

sự thống nhất chỉnh thể về nội dung và hình thức của tác phẩm (V Kôvalev) hay quan tâm tới "vẻ đặc thù" (L Nôvichenkô), phong cách được coi như là hình thức toàn vẹn mang nội dung (V Đneprop, Ya Elxeberg, A.Xôkôlôv), các nhà cấu trúc lại xem phong cách theo những khuynh hướng khác nhau (W Kayzer, R Yakôbson) Từ những khảo sát trên, theo Khrapchenco chung quy lại khái niệm phong cách được nhìn ở hai góc độ : (1) góc độ ngôn ngữ học; (2) góc độ quan niệm phong cách như một hệ thống hình thức mang nội dung Ông định nghĩa: "Phong cách biểu hiện những đặc điểm của cá tính sáng tạo của nhà văn, sự hoàn chỉnh của nhận thức nhà văn về cuộc sống, của cách nhìn nhà văn đối với thế giới" [104, tr 144] Theo Khrapchenco "phong cách là

hệ thống của những hệ thống" [104, tr 167], bao gồm: thế giới quan của người nghệ sĩ, xung đột trong tư tưởng của anh ta được ví như một kiểu "máy phát" [104, tr 154] năng lượng nghệ thuật riêng Vì thế phong cách có

Trang 13

tính cấu trúc của một kiểu sinh thể nghệ thuật Hệ thống giọng điệu - kết quả của sự biểu hiện nghệ thuật đặc trưng và không gian, thời gian và kiểu kết hợp không gian thời gian mang màu sắc riêng Ngôn ngữ có phong cách là ngôn ngữ đa chức năng - ngôn ngữ nghệ thuật Phong cách, vì thế còn là sự lĩnh hội riêng - lĩnh hội cách tân đối với thế giới - kiểu sáng tạo riêng đem lại màu sắc mới cho thể văn

Như vậy, theo Khrapchenco, những yếu tố biểu hiện phong cách mới chính là những dấu hiệu của bản thân phong cách Những ý kiến của Khrapchenco

đã ảnh hưởng rất nhiều đến nghiên cứu và phê bình văn học ở Việt Nam trong suốt nửa sau thế kỉ XX và cho đến hôm nay

Nếu Khrapchenco gọi tính chất đa dạng trong quan niệm về phong cách qua một hình ảnh "xòe ra như cái quạt" thì Antoine Compagnon trong

Bản mệnh của lí thuyết (Văn chương và cảm nghĩ thông thường ) bàn về sự

phong phú và đa dạng trong quan niệm về phong cách qua các k ỳ lịch sử, từ mối liên hệ giữa văn bản và ngôn ngữ lại gọi hiện tượng này là "Phong cách ngang ngửa bộn bề" [3, tr 243] Ông đã phân tích nghĩa của từ nguyên trong tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng La tinh cổ để khẳng định "lịch sử của từ này là lịch

sử chiếm lĩnh sự áp dụng có tính tổng quát" [3, tr 244] Từ đó Compagnon đưa ra một số phương diện về phong cách, chúng tôi tóm lược lại như sau: phong cach là môṭ chuẩn mưc: giá trị định ra chuẩn mực và quy tắc của phong cách là giá trị thường được gắn với nó nhất Theo đó phong cách tốt là mẫu

mưc để bắt chước , môṭ quy chuẩn Phong cach là môṭ thứ trang trí : nó thể

hiêṇ trong tu từ hoc̣ liên quan đến viêc̣ diễn đaṭ bằng từ ngữ Nói cách khác đó là sử dung tinh đồng nghia Phong cách là môṭ thể loaị Phong cách là môṭ triêụ chứng: Compagnon đã đi tìm hiểu phương diện này từ Mothe Le Vayer,

Dumarsais, D'Alembert tới Flaube rồi Proust để đi tới điểm chung của họ "cái nhìn độc đáo, như dấu ấn của chủ thể trong diễn ngôn" [3, tr 250] Phong cách, sau rốt như là môṭ loaị văn hóa Compagnon đã phân tích các quan niệm

gần đây nhất trên phương diện xã hội học và nhân học trong tiếng Đức và

Trang 14

tiếng Anh Dẫn định nghĩa của Schapio trong Quan niệm về phong cách

"Phong cách là biểu thị của văn hóa như một tổng thể" [3, tr 253]

Từ những phân tích các phương diện quan niệm về phong cách trên góc độ tu từ học, ngôn ngữ học, phê bình học và phê bình ý thức hệ chủ đề Compagnon đi đến kết luận: Phong cách khó có thể là một khái niệm thuần túy; đó là một quan niệm phức tạp, phong phú, mập mờ, phức hợp [3, tr 253]

Không dừng ở đó, Compagnon tiếp tục đi tìm hiểu phong cách trong mối quan hệ ngôn ngữ, phong cách, lối viết Ông quan tâm tới Barthes trong

độ không của lối viết, ông dẫn quan niệm của Barthes về phong cách "sự lựa

chọn tổng quát một giọng, một ethos" [3, tr 257] và "lối viết là ngụ ý của hình

thức" [3, tr 257] Compagnon đã chỉ ra quan niệm của Barthes chính là sự

Phục sinh lại theo nghĩa tu từ học của từ phong cách bằng "lối viết" Đặc biệt

ông quan tâm đến quan niệm phong cách và sự minh họa bằng ví dụ "một chữ kí" của G.Genette

Từ các nghiên cứu, Compagnon đi đến kết luâṇ :

- Phong cach là môṭ biến hóa hinh thức trên môṭ nôị dung ổn điṇ h (ít

hoăc̣ nhiều)

- Phong cách là môṭ tâp̣ hơp những nét đăc̣ trưng của môṭ tác phẩm

cho phep qua đó nhâṇ daṇ g và nhâṇ ra tac giả (trưc giac hơn là phân tich)

- Phong cach là môṭ sự lưa chon giữa nhiều "lối viết" [3, tr 285]

Từ Khrapchenco đến Compagnon, chúng tôi nhận thấy có những điểm như sau:

Một là, về sự xuất hiện của khái niệm Các nghiên cứu đều thống nhất ở

điểm phong cách là một khái niệm xuất hiện từ thời cổ đại, có nhiều cách định nghĩa khác nhau xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau (tu từ học, ngôn

ngữ học, chủ nghĩa cấu trúc, phê b ình, ký hiệu học, xã hội học, văn hóa học )

Hai là, về nội hàm của khái niệm Các nghiên cứu đều tránh đi đến

một định nghĩa duy nhất Hai nhà nghiên cứu đã hệ thống các định nghĩa của người đi trước để chỉ ra các cách tiếp cận chủ yếu khi nghiên cứu văn học

Trang 15

Cách tiếp cận thứ nhất coi phong cách là đối tượng của ngôn ngữ học Cách tiếp cận này sẽ giới hạn phạm vi của phong cách ở phạm trù ngôn ngữ và như vậy làm hẹp biên độ nghiên cứu phong cách Bởi phong cách không chỉ là ngôn ngữ Cách thứ hai coi phong cách là sự lựa chọn nội dung và hình thức biểu hiện mà qua đó cho phép ta nhận dạng ra tác giả, trào lưu, khuynh

hướng, thời đại, dân tộc Cách thứ hai này sẽ bao gồm cả nội dung tư tưởng và

sự lựa chọn của nhà văn về hình thức thể hiện

Điểm khác biệt đó là, từ nghiên cứu của mình, Khrapchenco đưa ra những ý kiến phù hợp với nghiên cứu và phê bình văn học ở phương diện phong cách nghệ thuật nhà văn Trong khi đó, nghiên cứu của Compagnon vì diện nghiên cứu rộng hơn, tham vọng của nhà nghiên cứu cũng muốn bao quát khái niệm ở cấp độ khái quát nhất, cho nên đối với nội dung cụ thể là phong cách nghệ thuật nhà văn vẫn còn bỏ ngỏ

1.1.3 Nghiên cứu phong cách và phong cách nghệ thuật nhà văn ở

Việt Nam

Ở Việt Nam, thuật ngữ phong cách và phong cách nghệ thuật nhà văn được giới thuyết khá muộn Trước Cách mạng tháng Tám 1945, vấn đề này hầu như chưa có một công trình nào đề cập đến một cách hệ thống và chuyên sâu Từ 1945, nghiên cứu về phong cách nghệ thuật và phong cách nghệ thuật nhà văn được chú trọng Giới nghiên cứu và phê binh văn hoc̣ Viêṭ Nam đã có

nhiều công trình nghiên cứu về phong cách , tuy nhiên, ứng với quá trình nghiên cứu phong cách ở Việt Nam, do tiếp cận vấn đề này muộn hơn trên thế giới, nên chúng tôi cho rằng nghiên cứu về phong cách ở Việt Nam mang tính kế

thừa và ứng dụng, thể hiện ở các thành tựu: một là, nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản về phong cách; hai là, nghiên cứu phong cách cá nhân đặt trong

trào lưu, thời đại để từ đó làm rõ sự vận động của văn học Việt Nam trong những giai đoạn cụ thể

Hướng nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản về phong cách thành

tựu đạt được là xây dựng khái niệm qua các bộ từ điển như Từ điển Văn học

Trang 16

(Đỗ Đức Hiểu ), Từ điển Thuật ngữ văn học (Lê Bá Han - Trần Đinh Sử -

Nguyễn Khắc Phi ), 150 thuật ngữ văn học (Lại Nguyên Ân ), Bên cạnh đó là

thành tựu nghiên cứu về phong cách từ góc độ ngôn ngữ học, thi pháp học lý

luận văn học: Phong cách học Tiếng Việt (Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa), Dẫn luận phong cách học (Nguyễn Thai Hòa) Lí luận văn học (Phương

Lựu, Nguyễn Xuân Nam - Thành Thế Thái Bình), Lý luận văn học, vấn đề và

suy nghĩ (Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương), Một số vấn đề thi pháp

học hiện đại của Trần Đình Sử, Nhưng thế giới nghê ̣ thuật thơ (Trần Đinh Sử), Dẫn luận thi pháp học(Trần Đinh Sử), Văn và Người(Phong Lê), Đi tim chânlí

nghê ̣ thuật của Hà Minh Đức, Nhà văn, tư tưởng và phong cách (Nguyễn

Đăng Mạnh) Về khái niệm phong cách cá nhân nhà văn (Tôn Thảo Miên)

Hướng thứ hai đi vào nghiên cứu phê bình phong cách học cụ thể từ tác giả đến tác phẩm Các nghiên cứu này khẳng định những chân dung tác giả văn học lớn, có ý nghĩa thay đổi diện mạo hay thúc đẩy sự phát triển của văn học ở từng giai đoạn cụ thể Một số công trình nghiên cứu phong cách tác giả

nhưng lại có ý nghĩa sâu sắc về phương diện lí thuyết như: Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều (Phan Ngọc), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến (Biện Minh Điền), Chủ nghĩa

hiện thực Nam Cao (Trần Đăng Suyền), Phong cách văn xuôi Nguyễn Khải

(Tuyết Nga), Phong cách Nguyễn Minh Châu (Tôn Phương Lan)

Về khái niệm phong cách, chúng tôi chỉ điểm lược những khái niệm gần nhất về mặt thời gian, có ý nghĩa ảnh hưởng hoặc đã được sử dụng nhiều

trong nghiên cứu văn học tại Việt Nam Trước hết, trong cuốn 150 Thuật ngữ

văn học, phong cách được định nghĩa là:

Những đặc điểm dường như hiện diện ở bề mặt của tác phẩm, như là một sự thống nhất hiển thị và cảm giác được của tất cả các yếu tố chủ yếu thuộc hình thức nghệ thuật Trong nghĩa rộng, phong cách là nguyên tắc xuyên suốt kiến trúc tác phẩm có tính chỉnh thể, có giọng điệu, có màu sắc thống nhất rõ rệt [6, tr 254]

Trang 17

Với khái niệm này, phong cách nghệ thuật được xem như là yếu tố chủ yếu về hình thức nghệ thuật, phong cách là nguyên tắc xuyên suốt tác phẩm để làm nên tính chỉnh thể, giọng điệu, mầu sắc thống nhất trong tác phẩm cụ thể Định nghĩa này, chúng tôi cho rằng, có thể nâng lên để cắt nghĩa tính thống nhất trong các sáng tác cùng thể loại của một tác giả từ đó làm rõ dấu ấn phong cách cá nhân của tác giả đó

Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm:

Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc [37, tr 255-256]

Đối chiếu hai tài liệu, chúng tôi nhận thấy, 150 thuật ngữ văn học chủ

yếu nhận diện phong cách ở yếu tố hình thức "hiện diện trên bề mặt" nói cách khác là dấu hiệu ngôn ngữ mà nhà văn lựa chọn trong tác phẩm của mình

Trong khi đó, Từ điển Thuật ngữ văn học lại quan tâm ở góc độ tính thống

nhất trong hệ thống và cái nhìn độc đáo của cá nhân

Phan Ngọc - người đi tiên phong trong nghiên cứu chuyên sâu về phong cách tác giả văn học ở Việt Nam cho rằng: "phong cách là một thể thống nhất hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch

sử, và chứa đựng một giá trị của lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, hay một tác giả" [138, tr 27] Với định nghĩa này, Phan Ngọc

đã nhấn mạnh kiểu lựa chọn độc đáo của tác giả, kiểu lựa chọn đó không chỉ dừng lại ở phương diện hình thức mà hình thức nhằm mục đích biểu hiện một nội dung, một vấn đề nghệ thuật nào đó trước yêu cầu của thời đại của lịch sử Nói cách khác, vấn đề lựa chọn phương tiện biểu hiện cách nhìn của nhà văn với thế giới mà anh ta đang sống vừa có ý nghĩa khẳng định phong cách cá nhân của anh ta, vừa chỉ ra những yếu tố, những vấn đề của thời đại mà anh ta đang sống Ông cũng cho rằng "mỗi phong cách nghệ thuật đều là tập hợp những kiểu lựa chọn theo một góc độ nhìn nhất định" [138, tr 111]

Trang 18

Điều đó có nghĩa là góc nhìn của anh ta trước những vấn đề thời đại sẽ chi phối cách cắt nghĩa các vấn đề theo cách riêng

Từ Phan Ngọc đến Đỗ Lai Thúy, phong cách nghệ thuật nhà văn đã có những điểm tương đồng và khác biệt Phan Ngọc đề cao góc nhìn, Đỗ Lai Thúy cho rằng: "mỗi thời đại văn hóa tạo ra phong cách của mình, và mỗi nhà văn trong thời đại đó lại có phong cách riêng Phong cách của họ chính là sự

lệch so với cái chuẩn của thời đại" [175, tr 131] Quan niệm lệch so với

chuẩn của thời đại, theo Đỗ Lai Thúy phải chăng chính là đề cao điểm dị biệt

trong sáng tạo của nhà văn so với chính thời đại mà anh ta đang sống

Trong khi đó, từ góc nhìn thi pháp học, chịu ảnh hưởng sâu sắc của phê bình phong cách học, Đỗ Đức Hiểu khẳng định: "phong cách cá thể hóa, thi pháp khái quát hóa" [42, tr 34] Chúng tôi nhận thấy, Đỗ Đức Hiểu với quan niệm này, đã đặt phong cách trong mối tương quan với thi pháp, đó cũng là một khuynh hướng tiếp cận hiện nay được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Nguyễn Đăng Mạnh quan niệm: "phong cách là một chỉnh thể nghệ

thuật, nó phụ thuộc vào thói quen tâm lí và những sở trường riêng, tài nghệ riêng của anh ta" [127, tr 83] Ông khẳng định yếu tố cá tính sáng tạo hay "cái tôi" của người nghệ sĩ là gốc rễ của phong cách nghệ thuật nhà văn Quan niệm này đã được nhà nghiên cứu triển khai khi đi tìm hiểu phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng

Điểm lược những nghiên cứu về phong cách nghệ thuật và phong cách nghệ thuật nhà văn ở Việt Nam, chúng tôi cho rằng trong nghiên cứu về vấn đề này đã có sự phân biệt phong cách đã rõ ràng ở hai phạm trù: phong cách là phạm trù thuộc ngôn ngữ học và phong cách với tư cách là một chỉnh thể sáng tạo nghệ thuật thuộc về cá nhân nhà văn trong toàn bộ sáng tác của anh ta Các

ý kiến về phong cách nghệ thuật nhà văn đã gặp nhau ở điểm: khẳng định phong cách là biểu hiện của tài năng, có tính ổn định và thống nhất, có những nét độc đáo làm nên hiện tượng tác giả Trong phạm vi luận án, chúng tôi chỉ điểm lược những nội dung cơ bản, có ý nghĩa liên quan đến đề tài, lấy

Trang 19

đó làm công cụ thực thi khám phá hiện tượng nghệ thuật phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng

1.1.4 Quan niệm của luận án về nội hàm khái niệm phong cách

Từ những nghiên cứu trên, để thuận lợi cho quá trình nghiên cứu phong cách nghệ thuật nhà văn, chúng tôi đưa ra quan niệm về giá trị nội hàm của phong cách

Một là, phong cách là những nét riêng của nhà văn thể hiện trong quá

trình sáng tác và toàn bộ những sáng tác của anh ta Phong cách là sự kết tinh tài năng nghệ thuật, cá tính sáng tạo, cốt cách của một tác giả Phong cách vừa thống nhất nhưng đồng thời lại có tính đa dạng và biến đổi Phong cách thực chất là con đường phát hiện, cảm nhận thế giới một cách nghệ thuật rất riêng biệt của người nghệ sĩ Phong cách là sự thống nhất từ hình thức đến nội dung của tác phẩm

Hai là, phong cách, vì thế, là phẩm chất thẩm mĩ của tác phẩm văn học

thể hiện cá tính sáng tạo độc đáo của nhà văn để từ đó nhà văn tự tạo cho mình một thế giới riêng không lặp lại Mối liên hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức của phong cách không thể đánh giá một cách bình quân bởi phong

cách thống nhất hình thức với nội dung, cái biểu đạt với cái được biểu đạt

Ba là, phong cách của một nhà văn xét đến cùng chính là dấu ấn nghệ

thuật của anh ta thể hiện trong tác phẩm có ý nghĩa như là những đặc điểm vừa có ý nghĩa nhất quán vừa luôn vận động và bổ sung những giá trị mới Chính những đặc điểm này trong hành trình sáng tạo nghệ thuật phải được phát triển đến một trình độ cao vừa có giá trị bền vững vừa có tính biến đổi mới

có thể trở thành phong cách nghệ thuật

Bốn là, từ những nghiên cứu trên, trong phạm vi của đề tài, chúng tôi

cho rằng, quan trọng nhất là phải làm rõ được phong cách của nhà văn ở thể loại tiểu thuyết Vậy, phong cách của Ma Văn Kháng qua tiểu thuyết sẽ được thể hiện ở phương diện nào, có nhất thiết phải khảo sát toàn diện không, hay chỉ lựa chọn những điểm quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định nhất đối với việc bộc lộ phong cách nghệ thuật nhà văn

Trang 20

Xuất phát từ điều này, chúng tôi quyết định, trong khuôn khổ của luận

án tiến hành khảo sát các phương diêṇ chinh : quan điểm nghê ̣ thuật ; nhân

vật; ngôn ngữ và giọng điệu , để bước đầu xác lâp̣ những đăc̣ điểm cơ bản

trong phong cach tiểu thuyết Ma Văn Khang , môṭ nhà văn cho đến nay đươc khẳng điṇ h là môṭ trong những cây bút tiểu thuyết lớn nhất của văn hoc̣ Viêṭ

Nam hiêṇ đaị

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG

Nghiên cứu Ma Văn Kháng ở thể loại tiểu thuyết, chúng tôi nhận thấy, ngòi bút của ông phong phú về đề tài, độc đáo trong tìm tòi sáng tạo nghệ thuật từ tác phẩm đầu tay đến tác phẩm gần đây nhất, tư duy tiểu thuyết luôn có

sự vận động và biến đổi theo một nguyên tắc ông đặt ra "Thuận theo người mà

không bỏ mình" nên luôn có sức hấp dẫn với giới nghiên cứu, phê bình, đồng

nghiệp và bạn đọc Đồng thời, tiến trình văn học từ 1980 đến nay, nền nghiên cứu phê bình văn học của Việt Nam cũng có những bước chuyển mạnh trong

tư duy và thao tác nghiên cứu Căn cứ vào tài liệu khảo sát thực chứng, chúng tôi nhận thấy, các nghiên cứu về Ma Văn Kháng đã bao quát được các phương diện: đề tài và cảm hứng nghệ thuật, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, vận động trong tư duy, thể loại Những nghiên cứu này, theo chúng tôi đều có ý

nghĩa cận phong cách và là những gợi mở rất hữu ích trong quá trình thực

hiện luận án Bên cạnh đó, các nghiên cứu còn mang tính phân đoạn theo thời gian, sự phân chia giai đoạn này vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan Khách quan bởi chỉnh thể tác phẩm của Ma Văn Kháng không thể tách rời với bối cảnh xã hội mà ông đang sống (chúng tôi sẽ nói đến điều này ở chương sau), chủ quan bởi mỗi giai đoạn ứng với hoàn cảnh và tâm thế một đoạn đời của ông Cả hai nội dung chúng tôi đều xem xét trong chương này Qua khảo sát hàng trăm bài báo, các công trình nghiên cứu, phê bình, các chuyên khảo, chuyên luận, chúng tôi nhận thấy các nghiên cứu tiểu thuyết Ma Văn Kháng chủ yếu theo các góc độ: đề tài, thể loại, nghệ thuật tự sự, nhân vật

Trang 21

1.2.1 Nghiên cứu về tiểu thuyết Ma Văn Kháng

Ngay từ khi Đồng bạc trắng hoa xòe ra đời, các nhà nghiên cứu, phê bình đã quan tâm chú ý tới Ma Văn Kháng Hoàng Tiến đã viết tiểu luận Đọc

Đồng bạc trắng hoa xòe, vừa là lời giới thiệu sách, vừa có những phân tích

khá sâu sắc, thể hiện con mắt xanh trong phát hiện về tài năng nghệ thuật của Ma Văn Kháng ở thể loại tiểu thuyết và trong phạm vi đề tài dân tộc miền núi Tác giả đã chỉ ra những thành công của Ma Văn Kháng ở một đề tài mà trước đó đã

có nhiều cây bút thành danh, tưởng chừng khó có thể vượt qua Hoàng Tiến

khẳng định "với Đồng bạc trắng hoa xòe, Ma Văn Kháng đã khẳng định đứng

được trong loại hình tiểu thuyết Đó là cái mốc trên bước đường văn học của anh" [82, tr 27]

Sau Hoàng Tiến, Trần Đăng Suyền với Đọc Đồng bạc trắng hoa xòe, đã

tiếp tục khẳng định tài năng và cá tính sáng tạo của Ma Văn Kháng ngay từ tiểu thuyết đầu tay, chỉ ra những thành công và những tồn tại của nhà văn ở tiểu

thuyết này Tiếp đó là Nghiêm Đa Văn với Chiều sâu một vùng đất biên giới, Trần Bảo Hưng với Đọc Đồng bạc trắng hoa xòe các tác giả đánh giá cao

khả năng chiếm lĩnh hiện thực của Ma Văn Kháng ở đề tài dân tộc miền núi, khẳng định Ma Văn Kháng có năng lực miêu tả con người và cảnh vật mang đậm chất sử thi và dân tộc miền núi

Về Vùng biên ải, tác phẩm được xem như là tập hai, sự nối tiếp của Đồng

bạc trắng hoa xòe, có thể kể đến những công trình tiêu biểu: Cuộc chiến tranh tiễu phỉ ở Vùng biên ải của Trần Đăng Suyền, Đọc "Vùng biên ải" của Lê Thành

Nghị , những nghiên cứu này đã cho thấy năng lực bao quát hiện thực đời sống

và phản ánh số phận của nhân dân các dân tộc vùng cao trong quá trình đấu tranh cách mạng, giải phóng chính mình khỏi kiếp đời nô lệ, vươn tới tự do

Ngoài các nghiên cứu cụ thể về từng tác phẩm, còn có những công

trình mang tính chất tổng hợp, khái quát, chuyên sâu như Tiểu thuyết về đề tài

dân tộc miền núi của Ma Văn Kháng của Nguyễn Ngọc Thiện, Đọc các sáng tác của Ma Văn Kháng, nghĩ về trách nhiệm của nhà văn trước một đề tài lớn

Trang 22

của Nguyễn Văn Toại, Phong cách văn xuôi miền núi Ma Văn Kháng của Phạm Duy Nghĩa, Tiểu thuyết về đề tài miền núi của Ma Văn Kháng của Trần Thị

Thanh Huyền

Từ những tư liệu trên chúng tôi nhận thấy các tác giả đã đánh giá cao tiểu thuyết về đề tài dân tộc miền núi của Ma Văn Kháng ở các phương diện: Năng lực miêu tả các sự kiện lịch sử nội dung hiện thực phản ánh và ý nghĩa xã hội ở không gian biên ải với những sự kiện lịch sử đặc biệt, phức tạp Khẳng định đóng góp của Ma Văn Kháng ở thể loại tiểu thuyết đã góp phần làm sáng

rõ bức tranh toàn cảnh xã hội và phong tục đặc biệt ở không gian biên ải bằng những hình tượng sinh động cụ thể Khẳng định vị trí của Ma Văn Kháng ở một thể loại lớn: tiểu thuyết sử thi về đề tài dân tộc miền núi là không thể phủ nhận Điều mà các nghiên cứu còn bỏ ngỏ là: chỉ chú ý đến phương diện nội dung đề tài phản ánh, những yếu tố thể hiện phong cách nghệ thuật nhà văn ở tác phẩm như: nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng

điệu đã được đề cập đến ít nhiều nhưng chưa được tìm hiểu đánh giá đúng mức

Mưa mùa hạ (1984) là sự khởi đầu cho tiểu thuyết Ma Văn Kháng ở đề

tài thành thị và cũng là sự khởi đầu cho tiểu thuyết thế sự đời tư của Ma Văn

Kháng Từ sau tác phẩm này là sự ra đời các tiểu thuyết Mùa lá rụng trong

vườn (1985) Đám cưới không có giấy giá thú (1989); Côi cút giữa cảnh đời

(1989); Chó Bi, đời lưu lạc (1992); Ngược dòng nước lũ (1999) Với các góc

nhìn: chống tiêu cực, sự xuống cấp của đạo đức xã hội, gia đình thành thị với các mối quan hệ của nó, người trí thức trong cuộc sống hiện đại, vấn đề hôn nhân

và trẻ em tất cả những nội dung mà tiểu thuyết Ma Văn Kháng phản ánh đã

đã một thời gây sóng gió trong dư luận bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình Trần Bảo Hưng, Hà Ân, Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Lân Dũng, Đào Thanh Tùng, Vương Trí Nhàn, Bùi Kim Chi, Nguyễn Gia Nùng, Hoàng Trần Vũ, Hồ Anh Thái, Tô Đức Chiêu, Wayne Karlin, Đào Tiến, Nguyễn Thị Hoa, Lê Văn Chính đã có những đánh giá rất cao về tiểu thuyết Ma Văn Kháng ở mảng đề tài này

Trang 23

Mưa mùa hạ được Tô Hoài, Nguyễn Thái Vận, Trần Cương, Trần

Đăng Suyền, Nguyễn Thị Huệ đánh giá cao về sự vận động trong đề tài và bút pháp nghệ thuật Các nhà nghiên cứu đều thống nhất khẳng định tác phẩm này là bước ngoặt trong sự nghiệp sáng tác của Ma Văn Kháng, từ sử thi sang thế sự đời tư, từ đề tài dân tộc miền núi sang thành thị và đời sống thị dân với tất cả sự

phức tạp của nó Sau Mưa mùa hạ là Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới

không có giấy giá thú - hai mốc son trong sự nghiệp tiểu thuyết của Ma Văn

Kháng Theo Trần Bảo Hưng với Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng đã đi

vào một đề tài khá khiêm tốn nhưng lại là vấn đề quan thiết với nhiều người: gia đình với những lối sống, cung cách, quan niệm vừa thống nhất, vừa mâu

thuẫn vừa rõ ràng cụ thể, vừa rối rắm phức tạp Trần Đăng Suyền nhìn thấy ở

Mùa lá rụng trong vườn "chủ yếu là mô tả sự biến đổi của gia đình trong thời

kỳ quá độ hiện nay" [151, tr 40] Một số các bài viết khác cũng có những đánh giá cao về thành công của tác phẩm ở phương diện khám phá về đề tài như

Nguyễn Văn Lưu với Bàn thêm về Mùa lá rụng trong vườn; Hoàng Sơn với Trò

chuyện với tác giả Mùa lá rụng trong vườn, Hồ Anh Thái với bài viết Truyền thống tốt đẹp của gia đình trong xã hội hiện nay

Trước sự quan tâm của dư luận, Báo Người Hà Nội đã tổ chức "Thảo

luận về tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn" sau đó đăng các ý kiến trên trên

báo Người Hà Nội số 14, 1985 Cuộc hội thảo này đã thu hút những nhà văn, cây bút lý luận, phê bình tâm huyết có trách nhiệm như: Thiếu Mai, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Vũ Quần Phương, Lê Quang Trang, Đăng Trung, Yên Thao, Trần Cương, Trần Đăng Suyền, Đào Thanh Tùng, Vương Trí Nhàn, Lê Thành Nghị, Hồng Diệu, Nguyễn Thái Vận, các biên tập viên nhà xuất bản cùng nhà văn Ma Văn Kháng Các ý kiến xoay quanh những đóng góp của Ma Văn Kháng về đề tài thành thị qua tác phẩm Tất cả đều

nhất trí cho rằng sau Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn là một trong

những tác phẩm thành công nhất của Ma Văn Kháng, được bạn đọc và dư luận đánh giá rất cao ở mảng đề tài thành thị Kết luận của hội thảo này thống

Trang 24

nhất đánh giá: Ma Văn Kháng đã chú ý khai thác những biến động trong gia đình, cũng là biến động trong đời sống tâm hồn người Hà Nội trong thời điểm bấy giờ và qua các tiểu thuyết của mình, tham gia vào đời sống xã hội Nếu

Mưa mùa hạ là một bước chuyển tiếp quan trọng thì Mùa lá rụng trong vườn

đã thực sự là một bước ngoặt trong sự nghiệp tiểu thuyết Ma Văn Kháng

Sau Mùa lá rụng trong vườn là Đám cưới không có giấy giá thú

(1989) Tác phẩm này gây ra những dư luận trái chiều, đã trở thành đề tài của một cuộc hội thảo do Tuần báo Văn nghệ tổ chức vào ngày 11/01/1990, Bùi

Kim Chi - Nguyễn Việt đã tổng hơp các ý ki ến trong Tiểu thuyết Đám cưới

không có giấy giá thú, khen và chê [14, tr 11] Những ý kiến trái ngược nhau

đã cho thấy ở thời điểm bấy giờ, thực sự Ma Văn Kháng là một nhà văn gây

sóng gió trong dư luận bạn đọc Ngoài việc góp ý cho tác giả về những vấn đề

cần cân nhắc khi phản ánh hiện thực, một số ý kiến nặng về đánh giá trên phương diện chính trị như Nguyễn Việt, các nhà văn tham dự hội thảo đều thống nhất "nhà văn đã gửi được vào trang sách cái tâm tình và những suy nghĩ nóng bỏng tương ứng với độ nóng bỏng của những vấn đề đang đặt ra trong cuộc sống của chúng ta" (nhà văn Nguyễn Kiên); "đây là một cuốn sách không tầm thường" (nhà văn Huy Phương) Nhà văn Lê Lựu phát biểu trực

tiếp cảm xúc: "Tôi thích cuốn này nhất ", bởi theo ông "Ma Văn Kháng đã

huy động toàn bộ hiểu biết " để từ "chi tiết nhỏ nói được những vấn đề lớn

lao" Hoàng Minh Tường khẳng định mạnh mẽ: "Đây chính là một đóng góp

của nhà văn trong việc định hướng thẩm mĩ cho công chúng" Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã nhận rõ đằng sau những trang viết tưởng chừng có vấn đề ấy chính là "bi kịch của nhà giáo, một trí thức, cái "bi kịch vỡ mộng" của một bữa tiệc dang dở, một đám cưới không thành, một cuốn sách hay để lầm chỗ"

Từ cuộc hội thảo này, đã gợi ra nhiều hướng tiếp cận mới về tiểu thuyết Ma Văn Kháng, việc tiếp cận theo góc nhìn đề tài e rằng đã cũ với một cây bút điềm đạm mà vững chắc từng bước đào tạo mình trong việc khổ luyện với một thể tài tự sự cỡ lớn

Trang 25

Ngược dòng nước lũ (1999) đã thu hút sự chú ý của Hoang Trần Vũ ,

Hồ Anh Thái , Tô Đức Chiêu , Lã Duy Lan , Wayne Karlin, Michael Harris, Trần Tế, Lã Nguyên, Phong Lê, Đỗ Hải Ninh, Các nhà nghiên cứu đánh giá cao thành công của nhà văn trong phân tích, miêu tả quy luật của xã hội, hướng tới đấu tranh chống tiêu cực và bảo vệ những giá trị của cuộc sống

Các tiểu thuyết Côi cút giữa cảnh đời (1989), Chó Bi, đời lưu lạc (1992)

được xem là viết cho thiếu nhi, tuy nhiên các nhà nghiên cứu (Phong Lê, Nguyễn Ngọc Thiện, Lã Thị Bắc Lý, Nguyễn Gia Nùng) vẫn nhận thấy tính chất

đa nghĩa của đề tài, từ câu chuyện giành cho thiếu nhi, nâng lên thành những bài học về cuộc sống

Trong đề tài thành thị, có một mảng viết về những người chiến sĩ trên

mặt trận chống lại cái ác, đó là hai tiểu thuyết Bóng đêm (2011) và Bến bờ

(2012) Về đề tài này, cho đến thời điểm chúng tôi khảo sát hầu như chưa có những nghiên cứu chuyên sâu, chủ yếu là lời giới thiệu trên các báo, hoặc lồng ghép trong những hướng nghiên cứu khác Chúng tôi cho rằng, đề tài an ninh thể hiện rất rõ tư tưởng, quan điểm nghệ thuật của Ma Văn Kháng, vì thế, hy vọng sẽ có những nghiên cứu bổ sung vào nội dung này

Qua khảo sát các nghiên cứu tiểu thuyết thế sự đời tư của Ma Văn Kháng chúng tôi nhận thấy: các nghiên cứu thống nhất khẳng định Ma Văn Kháng thực sự trở thành một cây bút sắc sảo trong việc phản ánh những vấn

đề cuộc sống đang trở thành băn khoăn nhức nhối: gia đình, đạo đức xã hội, các mối quan hệ cha con, chồng vợ, anh em, đồng nghiệp, thầy trò, đánh giá cao năng lực phân tích, dự báo của nhà văn trước những vấn đề đời sống đang diễn ra đầy phức tạp, ảnh hưởng, chi phối sâu sắc đến từng cá nhân và toàn xã hội Ma Văn Kháng là nhà văn có ý thức trong việc đổi mới đề tài và bút pháp, đóng góp quan trọng cho văn học Việt Nam ở thể loại tiểu thuyết thế sự đời tư Từ những đổi mới về đề tài, khẳng định Ma Văn Kháng đã góp phần nhận diện con người Việt Nam ở từng giai đoạn cụ thể qua những phạm vi nhất định Những nội dung nghiên cứu không được phân định rõ ràng, chỉ có

Trang 26

ở những nghiên cứu chuyên sâu mới mang tính chất khu biệt, còn lại, hầu hết các nhà nghiên cứu đều lấy đề tài làm điểm xuất phát và từ đó bao quát các nội dung khác do vậy đôi lúc chưa làm rõ được trọng tâm nghiên cứu

Những nghiên cứu về tiểu thuyết Ma Văn Kháng ở phương diện đề tài chiếm một số lượng lớn và rất có ý nghĩa trong việc nhận diện vị trí của nhà văn trong tiến trình phát triển của văn học đương đại Nói nghiên cứu về đề tài ở đây không có nghĩa là các nghiên cứu trên chỉ quan tâm đến phương diện này mà bỏ qua các yếu tố khác trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng Sở dĩ chúng tôi có những đánh giá trên bởi căn cứ vào điểm xuất phát của các nhà nghiên cứu khi xem xét tác phẩm Ma Văn Kháng Một vấn đề nữa đáng chú ý đó là: các nghiên cứu hầu hết mới chỉ dừng lại ở từng tác phẩm, chưa có những nghiên cứu mang tính tổng thể, xuyên suốt, bao quát các tiểu thuyết Ma Văn Kháng trong các giai đoạn sáng tác Chính điều này đã dẫn đến việc xác định vị trí và đóng góp của nhà văn ở

phương diện thể loại chưa thật xác đáng Và nếu chỉ dừng lại ở đề tài, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng còn rất nhiều nội dung chưa được khám phá, khai thác

Từ những năm 90 thế kỷ trước địa vị của Ma Văn Kháng trong văn học Việt Nam hiện đại đã được khẳng định một cách vững chắc Những nghiên cứu

về tiểu thuyết Ma Văn Kháng cũng chuyển động mạnh mẽ, có nhiều nghiên cứu chuyên sâu vượt qua góc nhìn đề tài, mổ xẻ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng ở nhiều phương diện: sự vận động trong tư duy nghệ thuật, nghệ thuật tự sự, nhân vật, ngôn từ, giọng điệu Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đã trở thành đối tượng của rất nhiều chuyên luận bên cạnh các tiểu luận và bài báo, trả lời phỏng vấn…

Đây cũng là một điều khẳng định vị thế của nhà văn - trở thành đối tượng nghiên cứu mang tính học thuật của phê bình văn học đương đại

Nghiên cứu về nghệ thuật tự sự là một góc tiếp cận được Nguyễn Ngọc Thiện, Trần Tế, Lã Nguyên, Phong Lê, Đỗ Hải Ninh, Đoàn Trọng Huy, Phạm Duy Nghĩa, Lê Hiền, Hoàng Thị Huế… thực sự quan tâm Nguyễn Ngọc

Thiện khi đặt ba tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn và

Bóng đêm trong độ dài của thời gian đã nhận thấy ngòi bút của Ma

Trang 27

Văn Kháng đã có bước tiến dài trong kỹ thuật tự sự Theo tác giả, bước tổng hợp đó là nghệ thuật miêu tả nhân vật, là sự thay đổi điểm nhìn trần thuật, là tài năng "dụng ngữ", đặc biệt nhà nghiên cứu nhận thấy, khi miêu tả nhân vật, Ma Văn Kháng thiên về khai thác cái thuộc về bản năng, đời sống tâm sinh lí, tình dục của họ cùng những suy nghĩ, đối thoại, độc thoại - tức phần hồn con người với tất cả sự đa đoan phồn tạp khó lường hết mọi điều của nó

Nghệ thuật tự sự trong sáng tác Ma Văn Kháng của Đỗ Phương Thảo là

công trình chuyên sâu đầu tiên về Ma Văn Kháng ở cả truyện ngắn và tiểu

thuyết Khảo sát công phu nghệ thuật tự sự của Ma Văn Kháng trong tác phẩm mang tính sử thi và tác phẩm thế sự đời tư, tác giả đưa ra những kiến giải sâu sắc về quan niệm về cuộc đời và con người của nhà văn ở cả hai khu vực đề tài Nghệ thuật trần thuật được lý giải khá cặn kẽ ở các phương diện Tuy nhiên, vì phạm vi của chuyên luận bao gồm cả truyện ngắn và tiểu thuyết cho nên có những vấn đề thuộc về thể loại tiểu thuyết vẫn còn bỏ ngỏ

Đoàn Trọng Huy có những nghiên cứu thể hiện sự quan tâm sâu sắc tới

nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng trong một cái nhìn tổng hợp: Ma Văn

Kháng, ngọn cờ đổi mới có sức vẫy gọi; Ma Văn Kháng, Vạm vỡ kiên cường một sức văn, Cảm nhận tài nghệ ngôn từ Ma Văn Kháng Tác giả khẳng định

"đặc biệt, nghệ thuật trần thuật của Ma Văn Kháng có những đổi mới đạt được những hiệu quả nghệ thuật rõ rệt, mang lại hiệu quả thẩm mỹ mới" [58]

Hà Linh trong Ma Văn Kháng, sống là để mang thương tích khẳng định với Bóng đêm, Ma Văn Kháng đã "xóa nhòa ranh giới của đề tài trong

văn chương, hay nói cách khác, với những nhà văn lớn, thì đề tài chỉ là cái cớ để họ thể hiện tư tưởng của mình" [115, tr 10] Hoàng Thị Huế và Nguyễn Thị

Khánh Thu khẳng định thành công trong xây dựng hình tượng người kể chuyện

trong tiểu thuyết Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng: "Điểm đặc sắc là kiểu tự

thuật "đánh tráo" chủ thể trần thuật không phải ở ngôi thứ nhất mà là ngôi thứ

ba, ở dạng này, tác giả vẫn giữ khoảng cách giữa nhân vật và người kể

chuyện cái tôi tự thuật của tác giả ẩn dưới một lớp vỏ bọc khác" [52, tr 26]

Trang 28

Có thể nói, tiếp cận Ma Văn Kháng từ nghệ thuật trần thuật là một trong những hướng nghiên cứu mang tính chuyên sâu sâu về tác giả này

Nghiên cứu nhân vật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng đã được Hoàng Tiến, Trần Ðăng Suyền, Nghiêm Ða Văn, Lê Thành Nghị, Nguyễn Ngọc Thiện, Ðoàn Trọng Huy, Nguyễn Thị Huệ và sau này là Ðỗ Hải Ninh, Phạm Duy Nghĩa, Ðỗ Phương Thảo quan tâm Tuy nhiên, các nghiên cứu ban đầu, nhân vật chỉ được nhắc đến bằng những dòng ít ỏi, về sau nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đã trở thành đối tượng nghiên cứu mang tính chuyên sâu Đánh giá về nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, các nghiên cứu đều khẳng định thành công của nhà văn trong việc xây dựng các kiểu nhân vật mang những nét đặc sắc riêng, có bút pháp miêu tả nhân vật độc đáo

Ở những tác phẩm ở giai đoạn đầu các nhà nghiên cứu nhìn thấy khả năng bao quát hiện thực thì ở những tác phẩm sau này, họ lại chú ý tới bút lực khám phá nội tâm nhân vật ở các phương diện đời sống khi đối diện với những xung đột và mâu thuẫn xã hội cũng như cá nhân con người với con người (Trần Đăng Suyền, Lã Duy Lan, Đỗ Phương Thảo) Các nghiên cứu thống nhất ở điểm nhà văn đã xây dựng được những kiểu nhân vật tiểu thuyết mang mầu sắc riêng Đó là kiểu nhân vật lý tưởng mang vẻ đẹp bi hùng, nhân vật trí thức, nhân vật nạn nhân, nhân vật thị dân (Nguyễn Ngọc Thiện, Đoàn Trọng Huy) Rất nhiều ý kiến cho rằng, nhân vật nữ là thành công đặc biệt trong các tiểu thuyết Ma Văn Kháng (Trần Đăng Suyền, Trần Bảo Hưng, Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Ngọc Thiện, Đoàn Trọng Huy, Đỗ Hải Ninh ) Từ những phụ nữ Mông nhan sắc có kiếp sống như ngựa thồ, thân phận như chõ đồ máo của trong các tiểu thuyết miền núi đến nhân vật nữ ở thành thị trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng có những nét không thể trộn lẫn, vô cùng hấp dẫn, quyến rũ cả ở hình thức lẫn nội tâm Có thể nói, các nhà nghiên cứu đều nhìn thấy ở nhà văn tấm lòng ưu ái dành cho những người phụ nữ qua sáng tác tiểu thuyết Về kiểu nhân vật trí thức của tiểu thuyết Ma Văn Kháng, Đỗ Hải Ninh nhận thấy:

"nhân vật trí thức của Ma Văn Kháng mang màu sắc tự truyện

Trang 29

Nhân vật trí thức của Ma Văn Kháng là nhân vật cô đơn, đúng như trạng thái

ý thức của con người trong xã hội hiện đại" [143, tr 294] Đoàn Trọng Huy cho rằng nhân vật hiệp sĩ an ninh mang vẻ đẹp bi tráng lại là sự khẳng định một mỹ cảm độc đáo gắn với nhân vật loại hình mới

Bên cạnh thành công, các nhà nghiên cứu cũng nhìn thấy những hạn chế của Ma Văn Kháng khi khắc họa các nhân vật chính diện thiên về ca ngợi không có sự phê phán cần thiết, lý tưởng hóa nhân vật đến mức gần như thánh thiện Các nhân vật phản diện thì ngược lại, cường điệu, tô đậm thái quá những nét nghịch dị về tướng mạo và tính cách

Qua những nghiên cứu về tiểu thuyết Ma Văn Kháng chúng tôi nhận thấy các ý kiến thống nhất ở điểm khẳng định thành công của Ma Văn Kháng ở

cả hai mảng đề tài miền núi và thành thị, nghệ thuật tự sự của Ma Văn Kháng

có những điểm độc đáo, thế giới nhân vật của Ma Văn Kháng đa dạng, phong phú, hấp dẫn, ngôn từ và giọng điệu đã được đề cập đến trong một số nghiên cứu nhưng chưa chuyên sâu Các vấn đề về sự vận động trong tư duy và quan niệm nghệ thuật, kiểu nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn từ và giọng điệu rất cần được tìm hiểu có hệ thống và đầy đủ hơn

1.2.2 Nghiên cứu về phong cách nghệ thuật Ma Văn Kháng

Điểm lược lại cac công trình nghiên cứu về sáng tác tiểu thuyết của Ma Văn Kháng từ trước tới nay qua từng giai đoạn, chúng tôi nhận thấy dù xuất phát

từ những góc độ khác nhau, trong những thời gian khác nhau, ở từng tác phẩm

cụ thể, các ý kiến đều thống nhất đánh giá Ma Văn Kháng là một trong số những nhà tiểu thuyết tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại, là một ngọn cờ tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng ở từng giai đoạn đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển của văn học đương đại, phản ánh được bức tranh hiện thực và đời sống tinh thần thời đại Nhà văn đã tạo dựng được những nhân vật đặc sắc và hấp dẫn Ngôn từ sáng tạo, phong phú Về phong cách nghệ thuật, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã hướng tới nghiên cứu

để nhằm định danh Ma Văn Kháng trong dòng chảy văn học đương đại

Trang 30

Nghiên cứu đầu tiên hướng tới định danh phong cách tiểu thuyết Ma

Văn Kháng là Văn xuôi khơi nguồn đổi mới của Nguyễn Thị Huệ Tác giả đặt Ma

Văn Kháng trong mối tương quan với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, từ quan sát giọng điệu và ngôn ngữ đã đưa ra nhận định Ma Văn Kháng có "phong cách trữ tình trầm lắng, duyên dáng, trong sáng, tình ý đằm sâu trong từng câu chữ giàu hình ảnh, giàu sức biểu cảm" [51, tr 192] Tuy nhiên, với mục đích nghiên cứu sự vận động của văn xuôi Việt Nam trước thềm đổi mới qua bốn tác giả tiểu thuyết tiêu biểu cho nên những ý kiến về phong cách mới chỉ dừng lại ở phương diện ngôn ngữ và có ý nghĩa như một định danh, chưa có sự lý giải mang tính chất chuyên sâu và diện khảo sát chỉ

dừng lại ở hai tiểu thuyết Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn

Phong cách văn xuôi miền núi của Ma Văn Kháng của Phạm Duy Nghĩa là

công trình đầu tiên nghiên cứu về phong cách nghệ thuật Ma Văn Kháng ở phạm

vi đề tài miền núi Từ một quan sát mang tính chất khái quát nhất ở những sáng tác thuộc đề tài dân tộc miền núi, Phạm Duy Nghĩa cho rằng: "Ma Văn Kháng là nhà văn có phong cách rõ nét, ổn định, không lẫn với cây bút khác" [135, tr 38] Tiếp đó, tác giả đi tới định danh phong cách của nhà văn khi viết

về miền núi "là cảm hứng trước vẻ đẹp phồn thực, cường tráng, bản tính hồn nhiên cùng sự phân cực sâu sắc của con người và cuộc đời trần thế", một phong cách nghệ thuật mang "cảm quan dương tính " [135, tr 38] Với nghiên cứu này, vấn đề phong cách nghệ thuật của Ma Văn Kháng đã được đặt ra và giải quyết ở phạm vi đề tài miền núi, bao gồm cả truyện ngắn và tiểu thuyết Như vậy, nhà nghiên cứu chưa hướng tới sự phân định về phong cách thể loại và phạm

vi của nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở sáng tác miền núi, những sáng tác về thành thị, phần rực rỡ nhất của Ma Văn Kháng chưa được đặt ra trong nghiên cứu này

Nhấn mạnh cảm quan hiện thực và cái nhìn nhân đạo đối với con người, Nguyễn Ngọc Thiện cho rằng, đặc điểm phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng là "phong cách hiện thực - cảm thương, từng trải, tinh tế mà gan ruột,

Trang 31

đằm thắm" [166, tr 460] Đoàn Trọng Huy trong Ngọn cờ đổi mới có sức vẫy

gọi đánh giá Ma Văn Kháng là một "phong cách hào sảng đa dạng mà nhất

quán" [57, tr 107] Từ nghiên cứu về nhân vật trí thức trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng, Đỗ Hải Ninh nhận ra ở Ma Văn Kháng môṭ phong cach "đủng đinh nhìn trước ngó sau xuyên sâu từng ngõ ngách và lí giải " [143, tr 294] Một số nhà nghiên cứu như Trần Tế, Trần Cương, Trần Thế Phiệt, Lã Nguyên cũng đề cập đến vấn đề phong cách nghệ thuật Ma Văn Kháng Chúng tôi cho rằng, những nhận định này có giá trị gợi dẫn luận án khi nghiên cứu một tài năng văn chương giàu sức sáng tạo, có gia tài nghệ thuật phong phú, dày dặn Tuy nhiên, như trên đã nói, các nghiên cứu về phong cách nghê ̣thuâṭ nhà văn

ở thể loại tiểu thuyết mới dừng laị ở nhâṇ điṇ h trên net lớn , chưa có công trình đi sâu nghiên cứu phong cách nghệ thuật của Ma Văn Kháng , thể loaị tiểu thuyết môṭ cách hê ̣thống để chỉ ra những nét đôc̣ đáo của nhà văn ở thể

loại này Để xác định được đặc điểm phong cách của Ma Văn Kháng trong thể loại tiểu thuyết với ý nghĩa như một cấu trúc chỉnh thể chúng tôi thấy có một số vấn đề

Thứ nhất, Ma Văn Kháng là một nhà tiểu thuyết nhưng đồng thời cũng là

một cây bút truyện ngắn tài hoa, gần đây với Phút giây huyền diệu lại trở thành

một cây bút lí luận phê bình khá sắc sảo Ở thể loại tiểu thuyết, trong một tác phẩm có thể thấy một Ma Văn Kháng với nhiều giọng điệu, bút pháp khác nhau

Có nên xem đó là một hiện tượng đa phong cách hay không, hay đó là những phương diện khác nhau trong một phong cách thống nhất Muốn vậy phải có

sự phân tích rõ ràng về từng thể loại trong hệ thống các sáng tác của nhà văn theo từng giai đoạn cụ thể

Thứ hai, có thể coi sự chuyển đổi không gian sống và làm việc là bước

ngoặt trong cuộc đời sáng tác của nhà văn hay không? (Giả thiết ngược lại nếu không có bước chuyển đổi đó thì có một Ma Văn Kháng của ngày hôm nay không?) Giữa hai giai đoạn ấy, đâu là bước chuyển tiếp? Giữa hai giai đoạn

ấy, đâu là những đặc điểm mang tính bền vững nhất quán, đâu là sự vận

Trang 32

động biến đổi trong tư duy nghệ thuật Cái gì ẩn kín đằng sau những gì đã phát lộ trong những trang viết

Thứ ba, nhìn trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam hiện đại từ sau

1975, Ma Văn Kháng là một trong số những người đi tiên phong đổi mới văn học, nhưng dường như ông vẫn kiên trì một lối đi riêng, "một mình một

ngựa" Không giống Nguyễn Minh Châu viết "để tìm lại chính mình" (Sắm

vai), hay như Nguyễn Khải "tự thú" (Nghề văn cũng lắm công phu), hoặc như

Nguyễn Huy Thiệp "giải thiêng" (Kiếm sắc, Vàng lửa) để hướng tới phần bản năng nhất của con người Cũng không giống Bảo Ninh (Thân phận tình yêu)

lấy chiến tranh làm nền để con người bộc lộ nhân tính Ma Văn Kháng kiên nhẫn viết để bảo vệ "cái đẹp thuộc về con người", nghiêng về những giá trị cổ truyền, cách ứng xử của Ma Văn Kháng qua tiểu thuyết luôn khám phá tiềm năng của con người trong dòng đời cuộn chảy từ ô cửa gia đình nhìn ra xã hội,có lúc ông đã tự nhận mình như là Don Kihote, phải chăng chính những

điều này đã làm nên hiện tượng phong cách Ma Văn Kháng?

TIỂU KẾT

Khảo sát phong cách nghệ thuật và các nghiên cứu về tác giả Ma Văn Kháng ở thể loại tiểu thuyết, chúng tôi cho rằng, giải quyết được những nội dung còn vướng mắc chính là con đường tìm đến phong cách tác giả Trên cơ sở tiếp thu đóng góp của người đi trước, chúng tôi có tham vọng đặt một cái nhìn toàn diện hơn về phong cách thể loại tiểu thuyết của nhà văn giàu sức sáng tạo này Luận án hy vọng sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu, tìm hiểu phong cách nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng từ tác phẩm đầu tiên đến tác phẩm gần đây nhất trong độ dài hơn nửa thế kỉ cầm bút của nhà văn Trọng tâm của luận án là phân tích, lí giải những cống hiến của nhà văn đối với sự phát triển của văn học Việt Nam hiện đại ở phương diện thể loại tiểu thuyết, lí giải cơ

sở xã hội của cống hiến ấy, chứng minh bằng lí luận và thực tiễn sáng tác của nhà văn ở các phương diện: quan niệm nghệ thuật, bút pháp xây dựng nhân vật, ngôn từ và giọng điệu

Trang 33

Chương 2

CƠ SỞ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG

2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH PHONG CÁCH TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG

2.1.1 Con đường dẫn đến phong cách nghệ thuật nhà văn

Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra một thời đại mới cho dân tộc Việt Nam, cùng với sự kiện lịch sử này, một nền văn học mới cũng được khai sinh - nền văn học cách mạng Từ 1945 đến 1975 nền văn học ấy đã tồn tại trong điều kiện lịch sử đặc biệt: kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước Từ 1975 đến nay, văn học Việt Nam đã chuyển dần sang giai đoạn mới với những quy luật mới Chiến tranh kết thúc nhưng những hậu quả của nó đã để lại thì không phải ngày một ngày hai có thể khắc phục Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và tái thiết đất nước với muôn vàn khó khăn thử thách đã đặt dân tộc Việt Nam trước yêu cầu phải lựa chọn một cách khẩn thiết: đổi mới để đáp ứng quy luật phát triển Đại hội Đảng lần thứ

VI đã chính thức đặt vấn đề: "Đổi mới là con đường vươn lên đáp ứng đòi hỏi của thời đại, đối phó thắng lợi với mọi thử thách, đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của nhân dân Đối với đất nước ta, đổi mới có ý nghĩa sống còn" [23,

tr 124] Trong bối cảnh lịch sử ấy, văn học Việt Nam tuân theo đòi hỏi khách quan của lịch sử và đòi hỏi chủ quan của người nghệ sĩ trong hành trình sáng tạo đã bắt đầu một công cuộc đổi mới đầy thách thức trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX Từ sau công cuộc đổi mới đến nay, văn học Việt Nam

đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận

Kế thừa những công trình đánh giá tổng kết về sự phát triển của văn học cách mạng Việt Nam qua các chặng đường lịch sử, nhìn một cách bao quát chặng đường 70 năm phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến nay, chúng tôi nhận thấy, diện mạo chung của văn học Việt Nam có một sự vận động và phát triển không ngừng cả về chất và về lượng Sự vận động đó thể hiện ở các phương diện: văn học và đời sống xã hội; nhà văn và bạn đọc;

Trang 34

vấn đề quan niệm nghệ thuật, thể tài, thể loại, thi pháp, phong cách thời đại và phong cách cá nhân Xu hướng của sự vận động đó chính là hướng tới những giá trị nhân bản và phổ quát của nhân loại Đặt Ma Văn Kháng trong sự vận động nội tại của văn học qua những giai đoạn cụ thể ứng với những chặng đường sáng tác để có cơ sở hơn trong xác định kiểu lựa chọn hay nói cách khác con đường dẫn đến phong cách nhà văn ở thể loại tiểu thuyết

Nhìn lại chặng đường hơn nửa thế kỷ sáng tạo nghệ thuật của nhà văn

có thể thấy tham gia vao con đư ờng hình thành tư tưởng nghê ̣thuâṭ Ma Văn Kháng có những nguyên nhân khách quan và chủ quan mang tính quy luật tất yếu Sống trong môṭ thời đaị lic̣ h sử có vô vàn những sự kiêṇ lớn lao tác đông

đến tâm não của chính mình , Ma Văn Kháng đã xac lâp̣ cho minh môṭ con đường tư tưởng thẩm mỹ riêng Tư tưởng nghê ̣thuâṭ của Ma Văn Kháng vì

vâỵ nó vừa l à cái bên trong măc̣ điṇ h đồng thời còn là quá trinh vâṇ đông

luôn luôn không ngừng, lâu dài và nỗ lưc chiếm linh hiêṇ thưc đời sống

Ma Văn Kháng bắt đầu sự nghiệp cầm bút từ 1961 với truyện ngắn

Phố cụt, sau đó là các tập truyện ngắn: Xa Phủ (1969), Chim họa mi (1972), Người con trai họ Hạng (1972), Mùa mận hậu (1972), Cái móng ngựa

(1973), Bài ca trăng sáng (1974) Chim én (1975) liên tiếp ra đời cho thấy

Ma Văn Kháng là một nhà văn có biệt tài về thể loại này Hơn mười năm sau, con

đường tiểu thuyết của ông mới thực sự bắt đầu từ Gió rừng (1977) - một tác

phẩm viết về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân các dân tộc

vùng cao Tây Bắc Tổ quốc Tuy nhiên, là tiểu thuyết đầu tay, Gió rừng không tránh khỏi những hạn chế về nội dung và nghệ thuật, chỉ đến Đồng bạc trắng

hoa xòe (1979), tư cách nhà tiểu thuyết Ma Văn Kháng mới được khẳng định

chắc chắn Từ đó đến nay, hàng chục tác phẩm ra đời cùng rất nhiều truyện ngắn, tất cả cho thấy một tài năng nghệ thuật hiếm có, một nhân cách nghệ sĩ kiên cường, trong sáng và đạo đức Cơ sở hình thành phong cách nghệ thuật tiểu thuyết Ma Văn Kháng qua khảo sát sáng tạo của nhà văn ở thể loại tiểu thuyết, theo chúng tôi, một mặt do sự lựa chọn của chính nhà văn trước

Trang 35

cuộc sống, mặt khác nó chịu ảnh hưởng sâu sắc trước sự vận động nội tại của nền văn học cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn cụ thể Kế thừa nghiên cứu của người đi trước về phương diện lý luận và văn học sử, chúng tôi không đi sâu vào các yếu tố khách quan, bởi, theo chúng tôi, các yếu tố về bối cảnh xã hội chung để nuôi dưỡng tài năng nghệ thuật cho các nhà văn cách mạng thế hệ thứ ba như Ma Văn Kháng đã được nghiên cứu và tìm hiểu rất sâu, chúng tôi

đi tìm hiểu những tiên cảm của nhà văn qua các tiểu thuyết ở từng chặng đường

cụ thể để thấy được sự hình thành phong cách nghệ thuật độc đáo Điều gì là

ổn định bền vững và điều gì là vận động phát triển Xuất phát từ đó, chúng tôi xác định các chặng chính trong sự nghiệp sáng tạo của Ma Văn Kháng (ở thể loại tiểu thuyết), xem xét và đánh giá những chặng này để tìm ra những nét cơ bản, định hình, định danh phong cách nghệ thuật nhà văn, từ đó phát triển nghiên cứu cho các chương kế tiếp

2.1.2 Những chặng đường sáng tác tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

Nghiên cứu tiểu thuyết của Ma Văn kháng nhận thấy đó là một quá trình lao động nghệ thuật không ngừng nghỉ, luôn nỗ lực tìm kiếm những giá trị mới Ở thể loại tiểu thuyết, Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn giương cao ngọn cờ đổi mới, sáng tác của ông góp phần không nhỏ đánh dấu

sự phát triển của thể loại tiểu thuyết Việt Nam từ sử thi sang thế sự đời tư, cùng với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng đã đi trước trong công cuộc đổi mới văn học (1986), căn cứ vào thực tế sáng tác của Ma Văn Kháng ở thể loại tiểu thuyết chúng tôi tạm thời chia thành hai giai đoạn và lấy tác phẩm làm ranh giới phân đoạn

2.1.2.1 Từ "Gió rừng" đến "Vùng biên ải"

Giai đoạn này ứng với các tiểu thuyết Gió rừng, Đồng bạc trắng hoa

xòe và Vùng biên ải Với Gió rừng, từ bản Chin San của người Dao đỏ trên

dãy Hoàng Liên Sơn, Ma Văn Kháng đã đặt ra những vấn đề thiết cốt đối với đời sống của người dân tộc thiểu số trong công cuộc kháng chiến và xây dựng đất

nước Sau Gió rừng, đến Đồng bạc trắng hoa xòe, miền đất Lào Cai, vùng

Trang 36

đất biên cương của Tổ quốc, qua tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đã trở thành một không gian nghệ thuật đặc biệt - không gian mang tính chất sử thi đậm chất dân tộc miền núi Thời gian nghệ thuật là những năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám, 1946 đến 1947, toàn bộ Lào Cai, từ thị trấn đến các huyện lỵ

đã trở thành một khu cứ điểm tồn tại cùng lúc rất nhiều thế lực phản cách mạng: các thổ ty, lãnh chúa phong kiến, tàn quân của thực dân Pháp, Quốc dân đảng, Tàu Tưởng Không khí chính trị ở nơi này vô cùng hỗn loạn Tiểu thuyết sử thi của Ma Văn Kháng đã bám sát những sự kiện lịch sử đó, tái hiện lại

một thời đoạn quá khứ dữ dội bi hùng của mảnh đất Lào Cai Đồng bạc trắng

hoa xòe bắt đầu bằng sự kiện Triệu Đại Lộc, Vũ Khanh, những kẻ đứng đầu

Quốc dân đảng ở Lào Cai, lợi dụng tình hình đảo chính lật đổ Ủy ban nhân dân lâm thời khi cách mạng vừa đặt chân lên vùng đất này, bắt bớ các chiến sĩ cách mạng, đối đầu với thổ ty hòng chiếm địa vị cao nhất, thống trị toàn bộ Lào Cai, tham vọng vươn cánh tay dài ra thâu tóm toàn bộ vùng Tây Bắc của

Tổ quốc Lào Cai thất thủ, chính quyền rơi vào tay Quốc dân đảng, các chiến sĩ cách mạng và những người dân yêu nước bị bắt, bị tra tấn dã man… tất cả ở trong một trạng thái căng thẳng tột độ Chính trong lúc ấy, sự kiện Lê Chính và các cán

bộ Việt Minh đi vào vùng thổ ty, lãnh chúa vận động họ ủng hộ cách mạng, chống Quốc dân đảng, thực dân Pháp, Tàu Tưởng, giải phóng đất nước đã thay đổi cục diện chính trị Nhận rõ chân tướng của Quốc dân đảng và quân Đồng minh, các thổ ty đã liên kết với cách mạng, chiến đấu để giải phóng Lào Cai, nhưng chính họ, sau đó, lại rơi vào một âm mưu khác do thực dân Pháp xúi giục: nổi phỉ - xưng vua, đòi cát cứ lãnh thổ… những sự kiện dồn dập ấy đã trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ, thúc giục Ma Văn Kháng sáng tác những tiểu thuyết sử thi "tái hiện một giai đoạn lịch sử ngắn ngủi, nhưng rắc rối vào bậc nhất của cách mạng Việt Nam hiện đại, tiến hành trên một vùng đất thế tập phiên thần nghèo nàn và lạc hậu" [82, tr 20]

Nối tiếp cảm hứng sử thi của Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải đi

sâu phân tích sự kiện nổi phỉ, sự cấu kết của thổ ty lãnh chúa phong kiến với

Trang 37

thực dân Pháp qua nhân vật Phơ-rô-phông Trong Vùng biên ải, nhân dân các

dân tộc thiểu số, dưới sự giác ngộ lý tưởng cách mạng, nhận thức sâu sắc về con đường của dân tộc mình, đã vươn lên, cắt bỏ những ung nhọt, cắt bỏ

những đau thương giằng xé, đi tới hạnh phúc Nội dung của Vùng biên ải

hướng tới con đường giải phóng dân tộc của cộng đồng thiểu số qua số phận của những con người cụ thể Đồng thời thể hiện một cuộc đấu tranh chính nghĩa chống lại các thế lực phản động, bảo vệ thành quả cách mạng, độc lập, tự

do, hạnh phúc

Con đường sáng tạo tiểu thuyết của Ma Văn Kháng từ Đồng bạc trắng

hoa xòe tới Vùng biên ải luôn gắn với đời sống lịch sử rộng lớn của nhân dân

các dân tộc miền núi phía Bắc Tổ quốc Cảm hứng sử thi thể hiện ở sự miêu tả những sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại liên quan đến số phận cộng đồng, qua chân dung những nhân vật phi thường mang ý nghĩa con người tiêu biểu của thời đại cách mạng vô sản Việt Nam ở không gian biên ải, ở việc chỉ ra con đường tất yếu của nhân dân các dân tộc thiểu số đấu tranh thoát khỏi cường quyền, thần quyền, định kiến hủ tục u mê tăm tối, tiễu phỉ gian nan khổ ải, bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ Các tác phẩm đã tạo nên những bức tranh hoành tráng về vùng đất biên cương Tổ quốc, tạo dựng chân dung những con người quả cảm mà kiêu hãnh dám sống, dấn thân và hy sinh cho lí tưởng ở những giai đoạn cụ thể Đọc các tiểu thuyết này ta còn cảm nhận được những dấu ấn đậm bản sắc dân tộc miền núi mà phong phú hơn cả chính là đời sống văn hóa tinh thần và vật chất của dân tộc Mông Những trang viết của Ma Văn Kháng về chế độ thế tập phiên thần, về tập tục cướp vợ, về tục cúng trình ma,

về quan niệm trọng nam khinh nữ, về gái gầu phàng Rồi nhỏ hơn: về bữa ăn

thường nhật, trang phục của người Mông, về đôi mắt người con gái Mông tất

cả thật sống động, hấp dẫn Những trang viết của Ma Văn Kháng về thời đoạn lịch sử ấy cho đến hôm nay ngoài ý nghĩa văn học, vì nội dung trên, còn bao hàm những ý nghĩa văn hóa, lịch sử, dân tộc học vô cùng sâu sắc Có thể nói rằng, ngay ở thời điểm đó Ma Văn

Trang 38

Kháng đã đặt ra những vấn đề về bản sắc văn hóa dân tộc và quyền bình đẳng giữa các dân tộc, khi mà vấn đề tự do đã được giải quyết thì đây chính là vấn đề thiết cốt với một đất nước có nhiều dân tộc anh em chung sống

Ở giai đoạn đầu, các sáng tác tiểu thuyết sử thi của Ma Văn Kháng đã định hình một phong cách nghệ thuật tiểu thuyết đậm chất dân tộc miền núi, cường tráng và khỏe mạnh, tuy có thiên về mô tả sự kiện, các nhân vật chưa

đi đến tận cùng của phát triển tâm lý, còn nặng về phân chia địch - ta, nhưng những tiểu thuyết này đã định danh nhà tiểu thuyết Ma Văn Kháng, nhà văn của vùng biên ải và những tâm hồn thiểu số vùng cao Tây Bắc Tổ quốc

2.1.2.2 Từ "Mưa mùa hạ" đến "Bến bờ"

Rời Lào Cai về Hà Nội, thay đổi không gian sống, môi trường làm việc, các mối quan hệ, cuộc sống thành thị mở ra trước mắt Ma Văn Kháng với tất cả những bộn bề, phức tạp của nó Nhanh chóng thích ứng và nhập cuộc với đời sống văn học ở thành thị, quãng thời gian này, sức sáng tạo của Ma Văn Kháng bừng lên dữ dội, mãnh liệt, hàng trăm truyện ngắn ra đời cùng các tiểu

thuyết Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá

thú, Ngược dòng nước lũ, Chó Bi, đời lưu lạc, Côi cút giữa cảnh đời gây sóng

gió trong dư luận chứng tỏ một tư duy nghệ thuật năng động, bút lực dồi dào, cảm

quan thẩm mỹ thức thời gắn bó với cuộc sống Từ Mưa mùa hạ, thành thị đã trở

thành một trong những nguồn cảm hứng chính trong sáng tác của nhà văn và chính những tác phẩm trong giai đoạn này đã khẳng định sự phong phú đa dạng trong bút ph áp và bút lực của tiểu thuyết gia Ma Văn Kháng trước hiện thực đời sống thời mở cửa

Từ tiểu thuyết sử thi sang tiểu thuyết thế sự đời tư, từ đề tài miền núi dân tộc thiểu số sang đề tài thành thị với những tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày, Ma Văn Kháng đi sâu mổ xẻ, phân tích, khám phá những vấn đề đang đặt ra trong xã hội một cách sâu sắc và đầy bản lĩnh Đó là vấn đề gia đình với các thế

hệ cùng chung sống, vấn đề người trí thức với mẫu hình và sự phá hủy mẫu hình, con người tha hóa nghịch dị trước dòng xoáy của ham muốn đời thường,

Trang 39

con người với những ngẫu nhiên không thể biết trước trong dòng chảy cuộc đời, bi kịch cá nhân và những ẩn ức tâm lý, trẻ em trước những bi kịch gia đình, tình yêu, hôn nhân Qua những trang tiểu thuyết nhà văn trả lời cho mình và đối thoại với bạn đọc về những vấn đề đó, có thể đưa ra kiến giải hoặc còn bỏ ngỏ nhưng ở những thời điểm xuất hiện, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thật sự đã đem đến những góc nhìn mới về con người và cuộc sống đương đại

Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú và Ngược dòng nước lũ là bước tiến dài trong tư duy và kỹ thuật tiểu thuyết của nhà văn từ

tiểu thuyết sử thi sang thế sự đời tư Xoáy vào bi kịch của người trí thức trong dòng chảy đời thường, nhà văn đã đối thoại với độc giả về hình mẫu người trí thức trong hiện thực xã hội những năm 90 của thế kỷ XX Họ có học vấn, có nhân cách thanh cao, có tự trọng nhưng dường như lạc lõng, đôi lúc thành bi quan, yếm thế Trong gia đình, tiếng nói của họ bị mờ nhạt vì sức mạnh đồng tiền, ngoài xã hội bị vùi dập bởi quyền lực từ những kẻ mạo danh, đội lốt trí

thức Luận trong Mùa lá rụng trong vườn, Tự trong Đám cưới không có giấy

giá thú, Khiêm trong Ngược dòng nước lũ có ý nghĩa nhất định trong việc đánh

dấu sự thay đổi ý thức và tư duy tiểu thuyết về mẫu hình nhân vật trí thức hiện đại Qua miêu tả, phân tích các nhân vật, Ma Văn Kháng cho thấy tính chất đơn nhất của mẫu hình nhân vật này Sự xuất hiện những nhân vật phản trí thức,

mạo danh, đội lốt như Cẩm, Dương, Thuật trong Đám cưới không có giấy giá

thú có ý nghĩa phản tỉnh sâu sắc đối với xã hội về sự tha hóa của con người

trong xã hội đương đại trước sức mạnh của danh vọng, quyền lực và giá trị vật

chất Chó Bi, đời lưu lạc và Côi cút giữa cảnh đời đi sâu miêu tả những số

phận bất hạnh của trẻ em trong vòng xoáy của đời sống thị thành, thể hiện

những suy tư, trăn trở của nhà văn về sự xuống cấp của đạo đức, lo lắng cho số phận của phụ nữ và em nhỏ giữa một dòng đời đầy bất trắc đang rình rập, coi trọng nền tảng giá trị đạo đức cổ truyền Có thể nói, những tiểu thuyết ở giai đoạn này đã cho thấy một Ma Văn Kháng của đời

sống thị dân Hà Nội những năm 90 thế kỷ trước vô cùng sinh động, hấp dẫn

Trang 40

Ở giai đoạn thứ hai này nhà văn có những tác phẩm mang tính chất hồi cố, như là "tìm lại thời gian đã mất" (chữ dùng của M Froust) Ba tác

phẩm: Trăng non, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, Một mình một ngựa quay trở lại với đề

tài dân tộc miền núi nhưng bằng góc nhìn mới, góc nhìn cá nhân dù vẫn bám

sát những sự kiện ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống cộng đồng Trăng non là câu

chuyện về Vàng A Chảo - một gã trai Mèo hiền lành, từng đi lính dõng cho Pháp, bị Săng, Chăng, Ký (những kẻ phản động) mua chuộc, đe dọa, "giam trong rừng mười lăm năm" [78, tr 233], thành thổ phỉ, A Chảo vẫn nhớ tiếc cuộc sống gia đình, nhớ Seo Di người vợ của y đã vì y mà khổ sở, mất cả tuổi thanh xuân A Chảo lầm lạc chứ không tàn độc, hung hãn nên với nhân vật này, con đường của y chính là sự trở về với gia đình và cộng đồng Sự trở về của A Chảo

là câu trả lời duy nhất đúng để kết thúc chặng đường bao nhiêu năm lang bạt,

cô đơn nơi rừng rú, kết thúc những ngày tháng đe dọa bản làng Giải quyết số

phận nhân vật thổ phỉ, Ma Văn Kháng đã thể hiện một cái nhìn mang tính nhân

bản sâu sắc đối với con người ở phía đối lập Đồng thời nhà văn đã chỉ ra một quy luật của đời sống: cái ác tất yếu sẽ phải đền tội, con người dù bị cô lập, bị lợi dụng, bị lừa bịp đến đâu, ngu muội và cuồng tín đến đâu, chất người, khát vọng sống lương thiện vẫn chiến thắng tất cả

Gặp gỡ ở La Pan Tẩn viết về người giáo viên miền xuôi lên Lào Cai

xóa mù diệt dốt những năm 70 của thế kỷ trước Từ những trải nghiệm về cuộc đời nhà giáo của mình, Ma Văn Kháng đã tạo dựng được một hình mẫu trí thức tuyệt đẹp Cắm bản, mở trường, hết lòng tận tụy vì sự nghiệp lâu đài văn hóa La Pan Tẩn, nhưng không theo khuynh hướng sử thi, tác giả đã cho nhân vật của mình rơi vào những bi kịch đau đớn: mâu thuẫn với lãnh đạo, công sức xây trường bị hủy hoại, chứng kiến lối sống đồi bại, trác trụy, đạo đức giả của cấp trên, trường học bị đốt phá, những người thân yêu bị tha hóa, bị bức tử,

bị lăng mạ, khinh miệt Bi kịch lên đến đỉnh điểm khi Thiêm bị vu khống, hãm hại, phải trở về quê với án kỷ luật, bị hắt a xít vào mắt… Câu chuyện là nỗi cay đắng, phẫn nộ của một nhân cách bị vùi dập, bị đọa đầy bởi

Ngày đăng: 05/07/2016, 21:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Thống kê các mối quan hệ - Phong cách tiểu thuyết ma văn kháng
Bảng 3.1 Thống kê các mối quan hệ (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w