Sinh viên không được sử dụng tài liệu trong khi làm bài.. + Không thể định nghĩa phạm trù vật chất theo phương pháp thông thường... Thực tại khách quan được đem lại
Trang 1HỎI ĐÁP HỆ THỐNG NGÂN HÀNG ĐỀ THI MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN (1)
Mỗi đề thi gồm 2 câu, một câu thuộc khối kiến thức 1 và một câu thuộc khối kiến thức 2
Thời gian làm bài 90 phút, không kể thời gian phát/chép đề.
Sinh viên không được sử dụng tài liệu trong khi làm bài.
KHỐI KIẾN THỨC I 1.1: Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin, từ đó hãy rút ra ý nghĩa khoa học của định nghĩa này?
Tiếp thu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trên cơ sở khái quát những thành tựumới nhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, về mặt triết học trên cơ sởphê phán những quan điểm duy tâm và siêu hình về vật chất, Lênin đã đưa ra định nghĩa vềvật chất như sau:
1 Nội dung định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại chocon người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tạikhông lệ thuộc vào cảm giác” (V.I.Lênin toàn tập, T.18, NXB Tiến bộ, Matxcơva, 1980,tr.151)
2 Phân tích định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
Trong định nghĩa trên, chúng ta cần phân tích những nội dung chủ yếu sau đây:
a “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan…”
- “Vật chất” là một phạm trù khái quát nhất, rộng nhất của lý luận nhận thức
+ Phạm trù vật chất phải được xem xét dưới góc độ của triết học, chứ không phải dướigóc độ của các khoa học cụ thể Điều này sẽ giúp chúng ta tránh được sai lầm khi đồng nhấtphạm trù vật chất trong triết học với các khái niệm vật chất thường dùng trong các khoa họccụ thể hoặc đời sống hằng ngày
+ Không thể định nghĩa phạm trù vật chất theo phương pháp thông thường Về mặtnhận thức luận, Lênin chỉ có thể định nghĩa phạm trù vật chất trong quan hệ với phạm trù đốilập của nó, đó là phạm trù ý thức (phương pháp định nghĩa thông qua cái đối lập với nó)
(Xem thêm chương khái niệm ở giáo trình Logic hình thức)
Khi định nghĩa vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan,Lênin đã bỏ qua những thuộc tính riêng lẻ, cụ thể, nhiều màu, nhiều vẻ của các sự vật, hiệntượng, mà nêu bật đặc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất có ở tất cả các sự vật, hiện tượng trongthế giới hiện thực khách quan Đó là đặc tính “tồn tại với tư cách là thực tại khách quan”, tồntại ở ngoài ý thức con người và độc lập với ý thức Đặc tính “thực tại khách quan” là dấu hiệu
Trang 2- Tính trừu tượng của phạm trù vật chất: Phạm trù vật chất khái quát đặc tính chungnhất của mọi khách thể vật chất xét trong quan hệ với ý thức nên về hình thức nó là cái trừutượng Vì thế, không được đồng nhất vật chất với các dạng cụ thể của nó giống như quanniệm của các nhà duy vật trước Mác.
b Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác.
Trong phần này, Lênin đã giải quyết được những điều sau đây:
- Thứ nhất, Lênin đã giải quyết được mối quan hệ giữa tính trừu tượng và tính hiện
thực cụ thể cảm tính của phạm trù vật chất Vật chất không phải tồn tại vô hình, thần bí màtồn tại một cách hiện thực, được biểu hiện cụ thể dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể màcác giác quan của chúng ta có thể nhận biết một cách trực tiếp hay gián tiếp
- Thứ hai, Lênin đã giải quyết được mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản triết học trên lập
trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng Thực tại khách quan đưa lại cảm giác cho conngười, chứ không phải cảm giác (ý thức) sinh ra thực tại khách quan Điều đó có nghĩa là, vậtchất là cái có trước và đóng vai trò quyết định, nội dung khách quan của ý thức
c Thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Đến đây, Lênin đã khẳng định rằng con người có khả năng nhận thức được thế giớihiện thực khách quan Tức là Lênin đã giải quyết được mặt thứ hai của vấn đề cơ bản triết họctrên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Vật chất tồn tại khách quan không lệ thuộc ý thức của con người
d Định nghĩa đặc biệt bằng quan hệ, Lênin đồng thời đã khẳng định vật chất và ý
thức không tồn tại tách biệt lẫn nhau, mà giữa vật chất và ý thức luôn có mối quan hệ biệnchứng với nhau
3 Ý nghĩa của định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:
- Giải quyết một cách đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên lập trường chủ nghĩaduy vật và biện chứng
- Khắc phục được những quan niệm trực quan, siêu hình, máy móc về vật chất của chủnghĩa duy vật trước Mác và những biến tướng của nó trong trào lưu triết học tư sản hiện đại
- Chống lại tất cả các quan điểm duy tâm và tạo ra căn cứ vững chắc để nghiên cứu xãhội
- Khẳng định thế giới vật chất là khách quan và vô cùng, vô tận, luôn luôn vận độngvà phát triển không ngừng nên nó đã có tác dụng định hướng, cổ vũ các nhà khoa học khi sâuvào nghiên cứu thế giới vật chất, để ngày càng làm phong phú thêm kho tàng tri thức củanhân loại
1.2: Làm rõ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về bản chất của ý thức?
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức là sự phản ánh thế giớikhách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn, nên bản chất của ý thức là hìnhảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo, tích cực và chủ động về thếgiới khách quan Đó chính là sự khác biệt rất cơ bản của ý thức con người so với tâm lý độngvật và sự “suy nghĩ” của máy móc
Phản ánh của ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định.Song, sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của sự phản ánh, trong khuôn khổ và theo tínhchất của quy luật phản ánh
Con người khác với động vật là thông qua hoạt động thực tiễn có mục đích, có địnhhướng, tác động vào sự vật, hiện tượng trong thế giới, buộc chúng phải bộc lộ đặc tính, kếtcấu, quy luật lao động để phản ánh và nhận thức Khi con người nhận thức được quy luật, thì
Trang 3con người vận dụng tri thức đó vào việc cải biến thế giới khách quan nhằm phục vụ cho cuộcsống của mình.
Điểm xuất phát để hiểu bản chất của ý thức là phải thừa nhận ý thức là sự phản ánh, làcái phản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh Phản ánh là sự lưu lại, tái hiện lại những dấuhiệu cơ bản, bản chất của hệ thống vật chất này trong hệ thống vật chất khác và ngược lại(song ánh)
Bản chất sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú Ý thức là sự phản ánhhiện thực khách quan vào bộ óc người, song đây là sự phản ánh đặc biệt – phản ánh trong quátrình con người cải tạo thế giới Quá trình ý thức là quá trình thống nhất của 3 mặt: Trao đổithông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh; Mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạnghình ảnh tinh thần; Chuyển hóa mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan
Bản chất xã hội của ý thức thể hiện ở chỗ ý thức không phải là một hiện tượng tựnhiên thuần túy mà là một hiện tượng xã hội Ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử-xã hội,phản ánh những quan hệ xã hội khách quan
Tóm lại: Bản chất của ý thức là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan đượcphản ánh trong bộ óc người thông qua hoạt động thực tiễn”
1.3: Phân tích nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, từ đó hãy rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý này?
- Phép siêu hình không thừa nhận mối liên hệ phổ biến của thế giới Theo quan điểmnày, sự vật hiện tượng trong thế giới về cơ bản không có sự liên hệ, ràng buộc, quy định lẫnnhau Cho nên đối với phép siêu hình, thế giới chỉ là một tập hợp rời rạc các sự vật cô lậpnhau Cách nhìn ấy không cho phép chúng ta vạch ra cái chung, cái bản chất và quy luật củacác sự vật hiện tượng
- Trái với quan điểm siêu hình, phép biện chứng duy vật thừa nhận mối liên hệ phổbiến của các sự vật, hiện tượng trong thế giới và coi đó là nguyên lý cơ bản của nó Khái niệmliên hệ nói lên sự quy định, ảnh hưởng, ràng buộc, tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa cácsự vật, hiện tượng và quá trình Phép biện chứng duy vật phát biểu rằng: mọi sự vật, hiệntượng quá trình muôn vẻ trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến với nhau, khôngcó cái gì tồn tại biệt lập với cái khác Điều đó là dễ hiểu, vì vật chất tồn tại thông qua vậnđộng, mà vận động cũng là liên hệ Ăngghen viết: “tất cả thế giới mà chúng ta có thể nghiêncứu được, là một hệ thống, một tập hợp các vật thể khăng khít với nhau… Việc các vật thể cóliên hệ qua lại với nhau đã có ý nghĩa là các vật thể này tác động lẫn nhau và sự tác động qualại ấy chính là sự vận động”
Như vậy phép biện chứng duy vật thừa nhận liên hệ diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi sựvật và quá trình của hiện thực, nó có tính khách quan, xuất phát từ tính thống nhất vật chất củathế giới
Phép biện chứng duy vật cũng chỉ ra rằng, liên hệ của thế giới rất đa dạng, bởi thế giớibao gồm vô số sự vật hiện tượng muôn vẻ khác nhau
Tùy theo tính chất, vai trò, phạm vi của liên hệ mà người ta phân thành nhiều loại: liênhệ bên trong và liên hệ bên ngoài, liên hệ cơ bản và không cơ bản, liên hệ không gian và thờigian, liên hệ trực tiếp và gián tiếp…
Sự phân loại các liên hệ này chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì mỗi loại liên hệ chỉ làmột hình thức, một bộ phận, một mắt khâu của mối liên hệ phổ biến của thế giới xét như mộtchỉnh thể
Trang 4Sự phân loại các liên hệ còn là cơ sở để xác định phạm vi nghiên cứu của phép biệnchứng duy vật và của các ngành khoa học cụ thể Những hình thức riêng biệt, cụ thể của từngmối liên hệ thuộc phạm vi nghiên cứu của từng ngành khoa học cụ thể, còn phép biện chứngduy vật nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất, phổ biến nhất của thế giới Vì thế,Ăngghen viết: “phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến”.
- Nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến có ý nghĩa phương pháp luận to lớnđối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
Nếu các sự vật, hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến vànhiều vẻ, thì muốn nhận thức và tác động vào chúng, phải có quan điểm toàn diện, khắc phụcquan điểm phiến diện, một chiều Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta khi phân tích sự vậtphải đặt nó trong mối liên hệ với sự vật hiện tượng khác; phải xem xét tất cả các mặt, các yếutố, kể cả khâu trung gian, gián tiếp của chúng Chỉ có như vậy, chúng ta mới nắm bắt đượcmột cách đầy đủ bản chất của sự vật, tránh được những kết luận phiến diện chủ quan, vộivàng
Tuy nhiên quan điểm toàn diện không có nghĩa là cách xem xét cào bằng, tràn lan màphải thấy được tính chất, vị trí của từng mối liên hệ, từng mặt, từng yếu tố trong tổng thể củachúng Như vậy, quan điểm toàn diện bao hàm quan điểm lịch sử cụ thể Quan điểm này đòihỏi, phải xét sự vật trong từng liên hệ cụ thể của nó, gắn với những tính chất, vị trí cụ thể củamối liên hệ cụ thể đó; phải biết phân loại các liên hệ của sự vật để nắm lấy cái cơ bản, cái cótính quy luật của nó; đồng thời phải xét cả những điều kiện cụ thể của sự vật trong đó xuấthiện từng liên hệ quy định từng tính chất và xu hướng cụ thể của nó Từ đó mà tìm ra nhữngphương thức cụ thể để tác động đến sự vật
1.4: Phân tích nguyên lý về sự phát triển từ đó hãy rút ra ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý này?
- Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến thống nhất hữu cơvới nguyên lý về sự phát triển, bởi vì liên hệ tức là vận động, mà không có vận động thìkhông có sự phát triển
Nhưng “vận động” và “phát triển” là hai khái niệm khác nhau Khái niệm “vận động”khái quát mọi sự biến đổi nói chung, không tính đến xu hướng và kết quả của những biến đổiấy như thế nào Sự vận động diễn ra không ngừng trong thế giới và có nhiều xu hướng
Khái niệm “phát triển” không khái quát mọi sự biến đổi nói chung; nó chỉ là khái quátnhững vận động đi lên, cái mới ra đời thay thế cho cái cũ Tiêu chuẩn để xác định sự pháttriển là có xuất hiện “cái mới” trong những biến đổi của sự vật hiện tượng Sự phát triển trongthế giới theo các chiều hướng cơ bản sau: phát triển về trình độ (từ thấp đến cao), phát triển vềcấu trúc (từ đơn giản đến phức tạp), phát triển về bản chất (từ kém hoàn thiện đến hoàn thiệnhơn) Sự phân biệt đó về các chiều hướng chỉ là tương đối, một sự phát triển thường bao hàmcả các chiều hướng này
- Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng sự phát triển, đổi mới là hiện tượng diễn rakhông ngừng trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy, mà nguồn gốc của nó là cuộc đấutranh giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật và hiện tượng Nhưng không nên hiểu sự pháttriển bao giờ cũng diễn ra một cách đơn giản, theo đường thẳng Xét từng trường hợp cá biệt,thì có những vận động đi lên, tuần hoàn, thậm chí đi xuống, nhưng xét cả quá trình, trongphạm vi rộng lớn thì vận động đi lên là khuynh hướng thống trị Khái quát tình hình trên đây,phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, phát triển là khuynh hướng chung của sự vận độngcủa sự vật và hiện tượng
Trang 5- Quan điểm biện chứng xác định nguồn gốc bên trong của mọi sự phát triển Cho nênthế giới phát triển là tự thân phát triển, là quá trình bao hàm mâu thuẫn và thường xuyên giảiquyết mâu thuẫn, vừa liên tục vừa có gián đoạn; là quá trình bao hàm sự phủ định cái cũ và rađời cái mới Sự phát triển như là vận động đi lên ra đời cái mới, nhưng cái mới không đoạntuyệt với cái cũ mà kế thừa tất cả những gì tích cực của cái cũ Tất cả những điều đó nói lêntính chất phức tạp của sự phát triển, nhưng bao giờ cũng theo khuynh hướng đi lên.
- Đối lập với quan điểm trên đây của phép biện chứng; phép siêu hình nói chung phủnhận sự phát triển, tuyệt đối hóa tính ổn định của các sự vật hiện tượng Nếu có thừa nhận sựphát triển, thì phép siêu hình cho rằng đó chỉ là sự tăng giảm về lượng, sự lặp lại mà không cóchuyển hóa về chất, không có sự ra đời cái mới thay thế cho cái cũ Lênin nhận xét rằng, quanniệm siêu hình là cứng nhắc, nghèo nàn, khô khan, chỉ có quan niệm biện chứng là sinh động,mới cho ta chìa khóa của “sự tự vận động” của tất thảy mọi cái đang tồn tại, của những “bướcnhảy vọt” và “sự gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hóa thành mặt đối lập”, của
“sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cái mới” Cũng vì vậy mà ông nhấn mạnh rằng, phépbiện chứng là học thuyết “hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện về sự phát triển”
- Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển, giúp cho chúng ta nhận thức rằng, muốn thựcsự nắm được bản chất của sự vật hiện tượng, nắm được quy luật và xu hướng của chúng phảicó quan điểm phát triển, khắc phục tư tưởng bảo thủ trì trệ
Quan điểm này yêu cầu khi phân tích sự vật phải xét nó như một quá trình; đặt nótrong sự vận động, sự phát triển mới nắm được quy luật và những xu hướng của nó Quanđiểm phát triển còn bao hàm yêu cầu xét sự vật trong từng giai đoạn cụ thể của nó nhưngkhông được tách rời với các giai đoạn khác mà phải liên hệ chúng với nhau mới có thể nắmđược logic của toàn bộ tiến trình vận động sự vật Quan điểm phát triển cũng đòi hỏi tinh thầnlạc quan tích cực trong thực tiễn, khắc phục mọi sụ trì trệ bảo thủ
1.5: Phân tích cặp phạm trù cái chung và cái riêng, từ đó hãy rút ra ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù này?
1 Khái niệm cái chung, cái riêng, cái đơn nhất.
Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những mốiliên hệ giống nhau ở nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trìnhriêng lẻ nhất định
Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chỉ có ởmột kết cấu vật chất nhất định, mà không lặp lại ở kết cấu khác
2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng cả cái riêng và cái chung đều tồn tại kháchquan và quan hệ biện chứng với nhau
- Cái chung thì tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Điều đó có nghĩa là cáichung thực sự tồn tại, nhưng chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Không có cáichung thuần túy, trừu tượng tồn tại bên ngoài cái riêng
- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung, bao hàm cái chung Điềuđó cho thấy là cái riêng tồn tại độc lập nhưng sự tồn tại độc lập đó không có nghĩa là cái riênghoàn toàn cô lập với cái khác mà bất cứ cái riêng nào cũng nằm trong mối liên hệ đưa tới cáichung Cái riêng không những chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung mà thông quahàng nghìn sự chuyển hóa, nó còn liên hệ với cái riêng loại khác
Trang 6cái riêng còn giữ lại những đặc điểm riêng biệt mà chỉ nó mới có Trong khi đó, cái chungphải là cái sâu sắc hơn vì nó phản ánh những mối liên hệ ở bên trong, phổ biến tồn tại trongcái riêng cùng loại, nó gắn liến với các cái riêng, quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật.
- Trong quá trình phát triển khách quan của sự vật, trong những điều kiện nhất định cáiđơn nhất có thể biến thành cái chung và ngược lại cái chung có thể biến thành cái đơn nhất.Sỡ dĩ có tình trạng này là do trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngaytrong một lúc mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng đơn nhất cá biệt Nhưng theo quy luật, cái mớinhất định sẽ phát triển mạnh lên, ngày càng trở nên hoàn thiện tiến tới trở thành cái chung.Ngược lại, cái cũ ngày càng mất dần đi từ chỗ là cái chung biến dần thành cái đơn nhất
- Trong phạm vi khái quát của con người, cái được xem là cái chung trong quan hệnày lại có thể được xem là cái riêng, cái đơn nhất trong quan hệ khác
3 Ý nghĩa phương pháp luận:
- Không được tuyệt đối hóa cái chung hay cái riêng mà phải thấy được mối quan hệbiện chứng giữa chúng Nếu tuyệt đối hóa cái chung thì sẽ dẫn đến giáo điều chủ nghĩa, rậpkhuôn một cách máy móc Ngược lại nếu tuyệt đối hóa cái riêng thì sẽ dẫn đến chủ nghĩa kinhnghiệm, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tập thể phường hội, địa phương chủ nghĩa và chủ nghĩadân tộc hẹp hòi
- Trong nhận thức và thực tiễn để phát hiện cái chung cần phải xuất phát từ những cáiriêng, từ những sự vật, hiện tượng quá trình riêng lẻ cụ thể chứ không được xuất phát từ ýmuốn chủ quan của chủ thể, và để giải quyết những vấn đề riêng một cách có hiệu quả thìkhông lảng tránh việc giải quyết những vấn đề chung, để tránh tình trạng sa vào mò mẫm tùytiện
- Trong hoạt động thực tiễn cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cái đơn nhất chuyểnhóa thành cái chung nếu cái đơn nhất đó có lợi, và cũng phải tạo điều kiện để cái chungchuyển hóa thành cái đơn nhất nếu cái chung đó là lạc hậu
1.6: Phân tích cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả, từ đó hãy rút ra ý nghĩa phương pháp luận của cặp phạm trù này?
1 Khái niệm nguyên nhân và kết quả:
- Nguyên nhân là phạm trù triết học chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong mộtsự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra một sự biến đổi nhất định
- Kết quả là phạm trù triết học chỉ là những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn nhautrong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau
- Phân biệt nguyên nhân và nguyên cớ, nguyên nhân và điều kiện:
+ Nguyên cớ là một sự kiện nào đó trực tiếp xảy ra trước kết quả, có liên hệ với kếtquả nhưng chỉ là liên hệ bên ngoài không bản chất
+ Điều kiện: Đó là tổng hợp những hiện tượng không phụ thuộc vào nguyên nhânnhưng lại có tác dụng biến khả năng chứa đựng trong nguyên nhân thành kết quả, thành hiệnthực Vì vậy, điều kiện là cái không thể thiếu được cho sự xuất hiện kết quả
2 Tính khách quan và phổ biến của mối quan hệ nhân quả:
- Tính khách quan:
Thế giới thống nhất ở tính vật chất Điều đó cho thấy vật chất đang vận động quy đếncùng là nguyên nhân duy nhất, là nguồn gốc của mọi sự vật, hiện tượng, quá trình Và mỗi sựvật, hiện tượng, quá trình đều có căn cứ của nó trong những sự vật, hiện tượng, quá trìnhkhác Cho nên không có sự vật hiện tượng nào không có nguyên nhân mà chỉ có chúng tachưa tìm ra nguyên nhân của hiện tượng đó, và cũng không có một hiện tượng nào không sinh
ra kết quả mà chỉ có chúng ta chưa tìm ra được kết quả của nó
Trang 7- Tính phổ biến:
Tính phổ biến của quan hệ nhân quả thể hiện ở chỗ mọi sự vật và hiện tượng đều nảysinh từ những sự vật hiện tượng khác Trong đó cái sản sinh ra cái khác được gọi là nguyênnhân và cái được sinh ra gọi là kết quả
3 Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân sinh ra kết quả vì vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, cònkết quả bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân, khi nguyên nhân đã xuất hiện, đã bắt đầu tácđộng
Tuy nhiên không phải mọi sự nối tiếp nhau về mặt thời gian của các sự vật hiện tượngcũng là biểu hiện của mối liên hệ nhân quả Cái để phân biệt quan hệ nhân quả với quan hệnối tiếp nhau về mặt thời gian là ở chỗ quan hệ nhân quả bao giờ cũng là quan hệ sản sinh,trong đó nguyên nhân phải sản sinh ra kết quả
- Trong hiện thực, mối quan hệ nhân quả biểu hiện hết sức phức tạp Một kết quảthường không phải do một nguyên nhân mà do nhiều nguyên nhân gây ra; đồng thời mộtnguyên nhân cũng có thể sản sinh ra nhiều kết quả Vì sự phối hợp tác động của nhiều nguyênnhân đòi hỏi phải phân tích tính chất, vai trò của mỗi loại nguyên nhân đối với kết quả cũngnhư sự liên hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nguyên nhân và phân loại các nguyên nhân
+ Nếu các nguyên nhân tác động cùng chiều thì có xu hướng dẫn đến kết quả nhanhhơn Nếu các nguyên nhân tác động ngược chiều thì làm cho tiến trình hình thành kết quảchậm lại Thậm chí triệt tiêu tác dụng của nhau
+ Phân loại nguyên nhân:
* Nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu:
Nguyên nhân chủ yếu là nguyên nhân mà không có nó thì kết quả không thể xuất hiện.Nó quyết định những đặc trưng tất yếu của sự vật, hiện tượng Nguyên nhân thứ yếu lànguyên nhân chỉ quyết định những mặt, những đặc điểm nhất thời, tác động có giới hạn và cómức độ vào việc sản sinh ra kết quả
* Nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài: Nguyên nhân bên trong lànguyên nhân tác dụng ngay bên trong sự vật, được chuẩn bị và xuất hiện trong tiến trình pháttriển của sự vật, phù hợp với đặc điểm về chất của nó Nguyên nhân bên ngoài là sự tác độnggiữa các sự vật khác nhau đem lại sự biến đổi nhất định giữa các sự vật đó
- Tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân và sự chuyển hóa của nguyênnhân-kết quả:
Mối liên hệ nhân quả có tính chất tác động qua lại lẫn nhau trong đó không nhữngnguyên nhân sinh ra kết quả mà kết quả còn tác động trở lại đối với nguyên nhân đã sinh ranó, làm cho những nguyên nhân cũng biến đổi bởi vì nguyên nhân sinh ra kết quả bao giờcũng là một quá trình Sự tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân chính là sự ảnhhưởng thường xuyên lẫn nhau giữa nguyên nhân và kết quả, gây nên sự biến đổi giữa chúng.Nguyên nhân và kết quả thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau, nên “cái bây giờ ở đây là kết quảthì ở chỗ khác, lúc khác lại trở thành nguyên nhân và ngược lại”
Trong thế giới vô tận, nguyên nhân sinh ra kết quả, đến lượt nó kết quả chuyển hóathành nguyên nhân mới sinh ra kết quả mới, là vô tận Chính vì thế, trong thế giới ta khôngthể chỉ ra được đâu là nguyên nhân đầu tiên và đâu là kết quả cuối cùng
4 Ý nghĩa phương pháp luận:
- Mối quan hệ nhân quả đã vạch rõ nguồn gốc của các hiện tượng cụ thể, riêng biệt vìvậy là cơ sở để đánh giá kết quả của sự nhận thức thế giới, hiểu rõ con đường phát triển của
Trang 8khoa học, khắc phục tính hạn chế của các lý luận hiện có và là công cụ lý luận cho hoạt độngthực tiễn để cải tạo tự nhiên và xã hội.
- Hiện tượng nào cũng có nguyên nhân, nên muốn hiểu đúng một hiện tượng thì phảitìm hiểu nguyên nhân xuất hiện của nó hoặc muốn xóa bỏ một hiện tượng thì phải xóa bỏnguyên nhân sản sinh ra nó
- Nếu nguyên nhân chỉ sinh ra kết quả trong những điều kiện nhất định thì phải nghiêncứu điều kiện để thúc đẩy hay kìm hãm sự ra đời của kết quả Phải có quan điểm toàn diện vàcụ thể khi nghiên cứu hiện tượng chứ không được vội vàng kết luận về nguyên nhân của hiệntượng đó
1.7: Trình bày nội dung của quy luật chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại, từ đó hãy rút ra ý nghĩa phương pháp luận của quy luật này?
I Nội dung quy luật:
Mỗi sự vật, hiện tượng là sự thống nhất giữa hai mặt: chất lượng (chất) và số lượng(lượng) Từ những thay đổi dần dần về lượng dẫn sẽ đến những thay đổi về chất và ngược lại;là cách thức của sự vận động và phát triển
1 Khái niệm chất và lượng
a Khái niệm chất:
- Chất là tính quy định vốn có của các sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơcủa những thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự vật, nói lên sự vật đó là gì, phân biệt nó vớicác sự vật và hiện tượng khác
- Phân biệt chất với tính cách là phạm trù triết học với chất hiểu theo khái niệm thườngdùng hàng ngày hoặc với khái niệm chất liệu
- Phân biệt chất với thuộc tính Mỗi chất gồm nhiều thuộc tính
- Mỗi sự vật, hiện tượng có thể có một hoặc nhiều chất tuy theo những mối quan hệxác định
- Chất tồn tại khách quan
- Chất biểu hiện tình trạng tương đối ổn định của sự vật, hiện tượng
- Trong những trường hợp đặc biệt, chất là cái trừu tượng và dường như nằm ngoài sựvật, hiện tượng
b Khái niệm lượng
- Lượng là tính quy định của sự vật, hiện tượng về mặt qui mô, trình độ, tốc độ pháttriển của nó, biểu thị bằng các con số, các thuộc tính, các yếu tố, cấu thành nó
- Lượng không chỉ biểu hiện bằng các con số, các đại lượng xác định cụ thể, mà lượngcòn được nhận thức bằng khả năng trừu tượng hóa
- Lượng là nhân tố quy định bên trong, nhưng đồng thời cũng có những lượng chỉ nóilên nhân tố dường như bên ngoài sự vật
- Lượng tồn tại khách quan
- So với chất, lượng là cái thường xuyên biến đổi
* Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối
2 Tính thống nhất và mối quan hệ phổ biến của lượng và chất.
a Khái niệm “Độ”
Mỗi sự vật là một thể thống nhất của hai mặt chất và lượng Hai mặt đó không tách rờinhau, mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng
Trang 9- “Độ” là khái niệm nói lên mối quan hệ quy định lẫn nhau của chất và lượng Nó làgiới hạn mà trong đó sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó mà chưa biến thành cái khác Tronggiới hạn “độ” lượng biến đổi nhưng chưa dẫn đến chuyển hóa về chất.
- Độ cũng biến đổi khi những điều kiện tồn tại của sự vật, hiện tượng biến đổi
b Những hình thức biến đổi từ lượng dẫn đến sự biến đổi về chất
Ranh giới của lượng do chất quy định, nhưng sự chuyển hóa thì bao giờ cũng bắt đầutừ sự thay đổi về lượng Các hình thức cơ bản của sự chuyển hóa:
+ Tăng lên hoặc giảm đi đơn thuần về mặt số lượng
+ Sự dung hợp của nhiều lực lượng thành một hợp lực về căn bản khác với tổng sốnhững lực lượng cá biệt
+ Thay đổi về kết cấu, tổ chức, qui mô của sự vật, hiện tượng
- Khi lượng thay đổi vượt quá giới hạn của độ thì dẫn đến thay đổi về chất Sự thay đổivề chất được gọi là bước nhảy (có 4 loại bước nhảy cơ bản: bước nhảy toàn phần, bước nhảycục bộ, bước nhảy dần dần, bước nhảy đột biến), đó là bước ngoặt căn bản trong sự biến đổidần dần về lượng
- Giới hạn mà ở đó xảy ra bước nhảy được gọi là điểm nút
- Sự chuyển hóa đòi hỏi phải có điều kiện
c Ảnh hưởng của chất mới đối với sự biến đổi của lượng
Khi chất mới ra đời nó tạo ra một lượng mới phù hợp với nó để có một sự thống nhấtmới giữa chất và lượng Sự quy định này được biểu hiện ở qui mô và nhịp điệu phát triển mớicủa lượng
Tóm lại, quy luật lượng-chất chỉ ra cách thức biến đổi sự vật, hiện tượng Đó là quátrình tác động lẫn nhau giữa hai mặt: chất và lượng Lượng biến đổi mâu thuẫn với chất cũ,chất mới ra đời với lượng mới Lượng mới lại tiếp tục biến đổi đến giới hạn nào đó lại phá vỡchất đang kìm hãm nó, tạo nên chất mới với lượng mới Như vậy phát triển là quá trình vôhạn, vừa mang tính liên tục (biểu hiện ở sự biến đổi của lượng) vừa có tính gián đoạn (biểuhiện ở sự thay đổi về chất)
II Ý nghĩa phương pháp luận:
- Sự vận động và phát triển là kết quả của quá trình tích lũy về lượng Trong hoạt độngthực tiễn cần chống lại hai khuynh hướng:
+ Tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nôn nóng, chưa có sự tích lũy đầy đủ về lượng đãmuốn thực hiện bước nhảy về chất Hoặc chỉ nhấn mạnh đến bước nhảy, xem nhẹ tích lũy vềlượng, dẫn đến các hành động phiêu lưu mạo hiểm
+ Tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại khó không dám thực hiện bước nhảy về chất Hoặcchỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi dần dần về lượng, từ đó rơi vào chủ nghĩa cải lương và tiếnhóa luận
- Cần có thái độ khách quan, khoa học và có quyết tâm thực hiện bước nhảy khi điềukiện thực hiện bước nhảy đã chín muồi
+ Cần phân biệt các bước nhảy trong tự nhiên và trong xã hội
+ Phải nhận thức đúng đắn các bước nhảy khác nhau về qui mô, nhịp độ
+ Chống chủ nghĩa giáo điều
1.8: Trình bày nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, từ đó hãy rút ra ý nghĩa phương pháp luận của quy luật này?
I Nội dung quy luật:
Trang 10- Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (còn gọi là quy luật mâu thuẫn)là quy luật quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, là “hạt nhân của phép biện chứng”.Bởi vì nó vạch ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển.
- Khái quát nội dung quy luật:
Mọi sự vật, hiện tượng đều bao hàm mâu thuẫn bên trong Mỗi sự vật, hiện tượng đềulà thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau Chính sự đấu tranhcủa các mặt đối lập đó làm cho sự vật, hiện tượng vận động, phát triển
- Phân tích nội dung quy luật:
1 Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến.
- “Mặt đối lập”?
Mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng thay đổi, phát triển chống đối nhau, tráingược nhau trong một chỉnh thể làm nên sự vật hiện tượng
Mỗi sự vật, hiện tượng có thể có nhiều yếu tố, nhiều mặt, cấu thành, nhưng có haimặt đối lập cơ bản thống nhất với nhau quyết định kết cấu tạo thành sự vật, hiện tượng
- Khái niệm “đấu tranh” của các mặt đối lập có nghĩa là các mặt đối lập bài trừ lẫnnhau, phủ định lẫn nhau Sự đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp Quátrình đó có thể chia ra nhiều giai đoạn Mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm riêng của nó
- Về mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, Lênin viết: “Sựthống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạmthời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối,cũng như sự phát triển sự vận động là tuyệt đối” (V.I.Lênin toàn tập, T.29, Nxb Tiến bộ,Mátxcơva, 1981, tr.379 - 380) Sự thống nhất của các mặt đối lập có tính chất tạm thời,thoáng qua, tương đối, cũng như trạng thái đứng im của sự vật, bởi vì mọi sự vật, hiện tượngcụ thể đều có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong để nhường chỗ cho các sự vật, hiệntượng khác cao hơn, hoàn thiện hơn, mới hơn về chất ra đời
Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối vì: trong mọi sự vật hiện tượng đều có mâuthuẫn và mâu thuẫn quán xuyến từ đầu đến cuối quá trình phát triển của sự vật Tính tuyệt đốicủa sự đấu tranh của các mặt đối lập nói lên sự vận động, sự biến đổi liên tục của sự vật, hiệntượng Đấu tranh của các mặt đối lập là điều kiện quan trọng nhất, có tính quyết định đối vớisự chuyển hóa của các mặt đối lập
Trang 11- Đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động vàphát triển của sự vật, hiện tượng.
3 Sự chuyển hóa của các mặt đối lập.
- Sự chuyển hóa của các mặt đối lập là kết quả của quá trình đấu tranh của các mặt đốilập
- Sự chuyển hóa của các mặt đối lập được thực hiện ở giai đoạn chín muồi của mâuthuẫn Sự chuyển hóa diễn ra dưới nhiều hình thức và tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể
Hai hình thức khái quát nhất của sự chuyển hóa là:
+ Các mặt đối lập chuyển sang mặt đối lập của chính mình
+ Các mặt đối lập cũ bị xóa bỏ và hình thành các mặt đối lập mới trong sự vật mới
4 Phân loại mâu thuẫn
Thế giới phong phú, đa dạng và phức tạp, nhưng nhìn chung có 4 loại mâu thuẫn cơbản:
Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài: Mâu thuẫn bên trong là mâu thuẫn giữacác mặt, các yếu tố, các thuộc tính, các quá trình cấu thành nên sự vật, hiện tượng Mâu thuẫnnày giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng Mâu thuẫn bên ngoàilà mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng, hoặc giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính, cácquá trình giữa sự vật, hiện tượng với nhau Mâu thuẫn này không giữ vai trò quyết định sựvận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Nó chỉ có tác dụng ảnh hưởng khi liên hệ đượcvới mâu thuẫn bên trong
Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản: Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn phátsinh, hình thành, tồn tại cùng sự phát sinh, hình thành, tồn tại của vật, hiện tượng và giữ vaitrò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng Mâu thuẫn không cơ bản là mâuthuẫn phát sinh, hình thành, tồn tại cùng sự phát sinh, hình thành, tồn tại của vật, hiện tượngvà không giữ vai trò quyết định mà chỉ ảnh hưởng nhất định đến sự vận động, phát triển củasự vật hiện tượng
Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu: Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổilên hàng đầu và giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng ở mỗigiai đoạn phát triển Mâu thuẫn không chủ yếu là mâu thuẫn phát sinh và không giữ vai tròquyết định nhưng gây ảnh hưởng nhất định đến sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượngở mỗi giai đoạn phát triển
Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng (loại mâu thuẫn này chỉ có tronglĩnh vực đời sống xã hội): Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai cấp có lợi ích cơbản đối lập nhau Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết thông qua cách mạng xã hội Mâu thuẫnkhông đối kháng là mâu thuẫn giữa các giai tầng có lợi ích cơ bản không đối lập nhau Mâuthuẫn này được giải quyết bằng phương pháp hòa bình thông qua giáo dục và đổi mới xã hội
II Ý nghĩa phương pháp luận:
- Quy luật mâu thuẫn đem lại phương pháp khoa học cho việc xem xét và giải quyếtcác vấn đề: phương pháp phân tích và giải quyết mâu thuẫn
- Phải thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn Yêu cầu này đòi hỏi chúng ta, muốnnắm được bản chất của sự vật, hiện tượng cần phải biết phân tích các mặt đối lập của mâuthuẫn
- Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể và phải có biện pháp cụ thể để giảiquyết đối với từng loại mâu thuẫn
Trang 12- Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn: Bất kỳ mâu thuẫn nào, bất kỳ giaiđoạn nào của mâu thuẫn, cũng chỉ được giải quyết bằng con đường đấu tranh giữa các mặt đốilập, chứ không phải bằng con đường điều hòa giữa chúng.
1.9: Trình bày nội dung quy luật phủ định của phủ định, từ đó hãy rút ra ý nghĩa phương pháp luận của quy luật này?
Quy luật phủ định của phủ định vạch rõ xu hướng đi lên của sự vật, hiện tượng trongquá trình vận động, phát triển
1 Phủ định biện chứng:
- “Phủ định”: là khái niệm nói lên quá trình vận động của sự vật, hiện tượng Trong đósự vật, hiện tượng này thay thế cho sự vật, hiện tượng khác
- “Phủ định biện chứng”: là phủ định mà trong đó cái mới ra đời thay thế cho cái cũ.Cái mới làm tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển của sự vật, hiện tượng Phép biện chứngduy vật cho rằng: sự diệt vong của cái cũ và sự ra đời của cái mới, sự thoái hóa và sự pháttriển có liên hệ nội tại với nhau Không có mặt này cũng không có mặt kia
“Phủ định trong phép biện chứng không chỉ có ý nghĩa đơn giản là nói không hoặc giảlà tuyên bố rằng một sự vật không tồn tại, hay phá hủy sự vật ấy theo một cách nào đó… Chonên phải thiết lập sự phủ định thứ nhất như thế nào cho sự phủ định lần thứ hai vẫn có khảnăng thực hiện được hay trở thành có khả năng thực hiện được” (Ăngghen “Chống Đuy-rinh”,Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976, tr 230-321)
- Đặc trưng của phủ định biện chứng:
Thứ nhất: Tính khách quan
Thứ hai: Tính kế thừa
Phủ định biện chứng là kết quả của sự tự thân phát triển trên cơ sở những mâu thuẫnvốn có của sự vật và hiện tượng nên nó không thể là một sự phủ định tuyệt đối, một sự phủđịnh sạch trơn
Phép biện chứng duy vật coi sự kế thừa là nội dung cơ bản của phủ định biện chứng
2 Nội dung quy luật:
Tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều luôn luôn vận động, phát triển, quá trình đó cũng làquá trình phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập Khuynh hướng tất yếu của sự vận động là:cái mới thay thế cho cái cũ, cái mới làm tiền đề tạo điều kiện cho sự phát triển của sự vật, hiệntượng Nhưng sự phát triển có tính chu kỳ
a Tính chu kỳ của sự phát triển:
Từ một điểm xuất phát (A) qua một số lần phủ định biện chứng (B(n)) sự vật dườngnhư lặp lại điểm xuất phát (A’) nhưng trên cơ sở cao hơn
┤A → B(n) →A’├ →
- Sự phủ định biện chứng lần thứ nhất (B) là bước trung gian trong sự phát triển Trìnhđộ mới của (A) phải qua (B) mà được thực hiện chứ không phải (B) là giai đoạn cao hơn (A)
- Sự phủ định biện chứng lần thứ hai (A’) là phủ định của phủ định
- (A’) là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển đồng thời lại là điểm xuất phátcủa một chu kỳ phát triển mới
- Để hoàn thành một chu kỳ phát triển, sự vật hiện tượng phải trải qua ít nhất hai lầnphủ định biện chứng
b Hình thức và khuynh hướng của sự phát triển:
Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính tất yếu tiến lên của sự vận động của sựvật và hiện tượng Sự phát triển đi lên đó không diễn ra theo con đường thẳng mà theo đường
“xoáy ốc”
Trang 13Lênin viết: “Một sự phát triển hình như diễn lại những giai đoạn đã qua nhưng dướimột hình thức khác ở một trình độ cao hơn (phủ định của phủ định), một sự phát triển có thểnói là theo đường xoáy ốc chứ không theo đường thẳng (Lênin toàn tập, T.26, Nxb Tiến bộ,Maatsxcơva, 1981, tr.65).
- “Đường xoáy ốc” biểu hiện các mặt của quá trình phát triển biện chứng: tính kế thừa,tính lặp lại, tính tiến lên của sự vận động
- “Đường xoáy ốc” thể hiện tính phức tạp trong quá trình biến đổi, phủ định của sựvật Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc thể hiện tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao
3 Ý nghĩa phương pháp luận:
- Quy luật phủ định của phủ định giúp ta hiểu rằng quá trình phát triển không diễn ratheo đường thẳng mà rất quanh co, phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định biện chứng,nhiều khâu trung gian
- Là cơ sở lý luận để hiểu về sự ra đời của cái mới: trong thực tiễn xã hội, các quátrình diễn ra phức tạp, nhưng cái cũ nhất định sẽ mất đi, cái mới nhất định sẽ xuất hiện Cáimới ra đời trên cơ sở kế thừa những yếu tố tích cực của cái cũ Phải biết phát hiện cái mới,duy trì và phát triển cái mới
- Phải có cách nhìn biện chứng khi phê phán cái cũ, kế thừa những yếu tố hợp lý củacái cũ Tránh nhìn đơn giản trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, đặc biệt là các hiệntượng xã hội Cần chống lại hai khuynh hướng: kế thừa không chọn lọc hoặc phủ định sạchtrơn
1.10: Thực tiễn là gì? Nhận thức là gì? Làm rõ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức?
- Thực tiễn là một phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ hoạt động vật chất có tínhchất lịch sử-xã hội của con người nhằm làm biến đổi tự nhiên và xã hội
+ Bản chất của hoạt động thực tiễn là sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể,trong đó chủ thể với tính năng động của mình tác động làm biến đổi khách thể
+ Hoạt động thực tiễn đa dạng, song chúng ta có thể chia làm ba hình thức cơ bản:Hoạt động sản xuất vật chất: Đây là hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn có vai trò quyếtđịnh và là cơ sở cho các hoạt động khác của thực tiễn; Hoạt động làm biến đổi các quan hệ xãhội (đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh vì hòa bình…), đây là hìnhthức cao nhất của hoạt động thực tiễn; Thực nghiệm khoa học: đây là hình thức đặc biệt củahoạt động thực tiễn, được tiến hành trong những điều kiện nhân tạo để tạo ra cơ sở nhận thức,làm biến đổi tự nhiên và xã hội
- Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ não người Đó là sự phảnánh năng động, sáng tạo dựa trên hoạt động tích cực của chủ thể trong quan hệ với khách thể
+ Chủ thể nhận thức: theo nghĩa rộng là xã hội loài người nói chung Hiểu một cách cụ
thể, chủ thể là nhóm người như giai cấp, dân tộc, tập thể, cá nhân… Tuy nhiên không phải bấtkỳ con người nào cũng trở thành chủ thể nhận thức, con người chỉ trở thành chủ thể khi nótham gia vào hoạt động xã hội nhằm nhận thức và biến đổi khách thể
+ Khách thể nhận thức: không phải toàn bộ hiện thực khách quan, mà chỉ là bộ phận,là lĩnh vực nào đó của nó ở trong miền hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của chủthể
- Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
+ Thực tiễn là cơ sở và động lực của nhận thức
Trang 14Nhận thức bắt nguồn từ thực tiễn Chính là từ trong hoạt động thực tiễn làm xuất hiệnnhững nhu cầu buộc con người phải nhận thức thế giới Vì vậy mà con người nhận thức thếgiới thông qua thực tiễn
Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm cho sự vật, hiện tượng bộc lộ nhữngthuộc tính, những liên hệ, trên cơ sở đó con người nhận thức chúng Như vậy, thực tiễn đãđem lại những tài liệu cho quá trình nhận thức, giúp cho nhận thức nắm được bản chất, cácquy luật của thế giới
Thực tiễn còn làm hoàn thiện giác quan của con người, tạo ra những phương tiện làmtăng khả năng nhận biết của các giác quan nhờ đó nó thúc đẩy nhận thức phát triển
+ Thực tiễn là mục đích của nhận thức
Tri thức do nhận thức đem lại chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi áp dụng có hiệu quảtrong hoạt động thực tiễn Như vậy, nhận thức không phải là để nhận thức mà có mục đíchcuối cùng, đó là giúp cho con người trong hoạt động biến đổi thế giới
+ Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức
Nhận thức phải thông qua thực tiễn mới kiểm tra được tính chân lý của nó Chỉ trongthực tiễn, con người mới xác định được cái đúng đắn, cái sai lầm và giới hạn của tính đúngđắn của mọi tri thức do nhận thức đem lại
KHỐI KIẾN THỨC II
2.1: Làm rõ khái niệm, kết cấu và vai trò của phương thức sản xuất?
- Khái niệm: Phương thức sản xuất là cách thức mà con người làm ra của cải vật chấttrong một giai đoạn lịch sử nhất định, theo cách đó con người có những quan hệ nhất định vớitự nhiên và với nhau trong sản xuất
- Kết cấu của phương thức sản xuất: Lực lượng sản xuất bao gồm ba yếu tố cấu thành:Người lao động (lứa tuổi, sức khỏe, trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực), tư liệusản xuất và khoa học kỹ thuật công nghệ Trong đó người lao động là nhân tố quyết định củalực lượng sản xuất
Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sản xuất và của lao động, làkết tinh sức lao động xã hội trong từng đơn vị sản phẩm do quá trình sản xuất tạo ra Nếucông cụ thủ công thì lực lượng sản xuất có tính chất cá nhân, nếu công cụ là máy móc thì lựclượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa
Trình độ của lực lượng sản xuất là trình độ phát triển của công cụ lao động, của kỹthuật, trình độ kinh nghiệm, kỹ năng lao động của người lao động, qui mô sản xuất, trình độphân công lao động xã hội…
- Vai trò của phương thức sản xuất: Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định rằng, lịch sửxã hội loài người trước hết là lịch sử phát triển của sản xuất, lịch sử vận động của các phươngthức sản xuất lần lượt thay thế nhau, là lịch sử của quần chúng nhân dân lao động trực tiếp sảnxuất ra của cải vật chất cho xã hội Do đó, muốn hiểu lịch sử phát triển của xã hội loài người,trước hết phải hiểu lịch sử phát triển của sản xuất, hiểu quá trình sản xuất của con người quacác giai đoạn lịch sử khác nhau
Xã hội là một bộ phận đặc thù của giới tự nhiên, vận động và phát triển theo quy luậtđặc thù của nó Tuy nhiên, giữa xã hội và tự nhiên thường xuyên diễn ra sự trao đổi vật chất.Sự trao đổi đó được thực hiện trong quá trình lao động sản xuất của con người Như vậy, nếutách lịch sử xã hội loài người với lịch sử phát triển của sản xuất vật chất thì sẽ không thể nàohiểu được loài người phải trải qua những hình thái kinh tế-xã hội từ thấp lên cao
Trang 15Sản xuất vật chất là lực lượng chủ yếu và là động lực cơ bản thúc đẩy lịch sử pháttriển, xã hội tiến lên Đó là điều kiện quyết định của đời sống con người, là yêu cầu tất yếukhách quan đối với sự sinh tồn của xã hội Xã hội không thể thỏa mãn nhu cầu của mình bằngcái đã có sẵn trong giới tự nhiên, để duy trì đời sống của mình, con người phải tiến hành sảnxuất của cải vật chất Vì thế, sản xuất của cải vật chất là một điều kiện cơ bản của mọi xã hội,là một hành động lịch sử mà loài người phải duy trì từ xưa đến nay.
Xã hội là một hệ thống và trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, tính chất và kết cấuxã hội không phải do nguyện vọng và ý chí của cá nhân, tập đoàn, cũng không do hình thứcnhà nước pháp quyền quy định mà do phương thức sản xuất quyết định Phương thức sản xuấtthống trị trong mỗi xã hội quyết định tính chất của chế độ xã hội; các giai cấp, kết cấu giai cấpvà tính chất của các mối quan hệ giữa các giai cấp, cũng như các quan điểm về chính trị phápquyền, đạo đức, triết học…
Mỗi hình thái kinh tế-xã hội có phương thức sản xuất đặc thù của nó Và sự thay thếcủa các phương thức sản xuất khác nhau chính là cơ sở của sự thay thế của các hình thái kinhtế-xã hội nối tiếp nhau Điều này chứng tỏ, phương thức sản xuất giữ vai trò quyết định trongsự chuyển hóa của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử khác nhau Mỗi khi phươngthức sản xuất mới ra đời, giai cấp mới lên cầm quyền, kết cấu kinh tế xã hội thay đổi thìnhững quan hệ xã hội về mặt chính trị, pháp quyền, tư tưởng, đạo đức, cũng biến đổi theo
Với ý nghĩa nói trên mà C.Mác đã nhấn mạnh: “Do có được những lực lượng sản xuấtmới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sảnxuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình Cáicối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xãhội có nhà tư bản công nghiệp” (C.Mác, Ăngghen tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, T.1,tr.380)
Lịch sử xã hội loài người trước hết là lịch sử của sản xuất, lịch sử của các phương thứcsản xuất vận động phát triển và thay thế nhau từ thấp lên cao
2.2: Trình bày nội dung quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất, từ đó hãy rút ra ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu quy luật này?
Bất cứ phương thức sản xuất ở một giai đoạn phát triển lịch sử nào cũng đều bao gồmhai mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất - là biểu hiện mối quanhệ giữa người và tự nhiên trong quá trình sản xuất; quan hệ sản xuất - là biểu hiện mối quanhệ giữa người với người trong quá trình sản xuất C.Mác đã chỉ rõ: “Trong sản xuất, conngười không chỉ có quan hệ với tự nhiên mà còn phải có những mối liên hệ và quan hệ nhấtđịnh với nhau, và chỉ trong phạm vi những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó thì mới có tácđộng vào tự nhiên, vào sản xuất được”
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúngphản ánh hai mối quan hệ khác nhau, đặc trưng phát triển không giống nhau, nhưng chúng cómối liên hệ hữu cơ không thể tách rời và tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật xãhội phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người: Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất vớitính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Quy luật này vạch rõ sự quy định, phụ thuộc lẫnnhau giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất giữ vai tròquyết định
- Kết cấu của lực lượng sản xuất:
Trang 16Lực lượng sản xuất bao gồm ba yếu tố cấu thành: Người lao động (lứa tuổi, sức khỏe,trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực), tư liệu sản xuất và khoa học kỹ thuật côngnghệ Trong đó người lao động là nhân tố quyết định của lực lượng sản xuất.
- Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất:
Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sản xuất và của lao động, làkết tinh sức lao động xã hội trong từng đơn vị sản phẩm do quá trình sản xuất tạo ra Nếucông cụ thủ công thì lực lượng sản xuất có tính chất cá nhân, nếu công cụ là máy móc thì lựclượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa
Trình độ của lực lượng sản xuất là trình độ phát triển của công cụ lao động, của kỹthuật, trình độ kinh nghiệm, kỹ năng lao động của người lao động, qui mô sản xuất, trình độphân công lao động xã hội…
- Quan hệ sản xuất hình thành, biến đổi và phát triển dưới ảnh hưởng quyết định của lực lượng sản xuất.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định rằng sự thay đổi và phát triển của bất cứ mộtphát triển sản xuất nào bao giờ cũng bắt đầu bằng sự thay đổi và phát triển của các lực lượngsản xuất
Trong quá trình sản xuất để đạt được năng suất lao động cao hơn, con người luôn luôntìm cách cải tiến công cụ lao động và chế tạo ra những công cụ lao động mới tinh xảo hơn.Cùng với sự biến đổi và phát triển của công cụ lao động, kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng laođộng, kiến thức khoa học, của người lao động cũng không ngừng tăng lên
Mặt khác, trong cấu trúc của phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất là nội dungcòn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó, trong mối quan hệ đó nội dung là quyết định.Nội dung biến đổi kéo theo sự biến đổi của hình thức
Do đó lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, không ổn định nhất, yếu tố cách mạngnhất của quá trình sản xuất vật chất Sự biến đổi của lực lượng sản xuất, trước hết là sự biếnđổi của công cụ sản xuất đã dẫn đến sự biến đổi trong các quan hệ sản xuất giữa người vàngười Điều đó cho thấy công cụ sản xuất không những là thước đo trình độ phát triển của cáclực lượng sản xuất, mà còn là dấu hiệu báo trước quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế giữa ngườivới người cũng biến đổi theo C.Mác viết: “Phương thức sản xuất, những quan hệ trong đó cáclực lượng sản xuất phát triển, đều không phải là những quy luật vĩnh viễn, mà chúng thíchứng với sự phát triển nhất định của con người và của những lực lượng sản xuất của con người,và một sự thay đổi trong lực lượng sản xuất của con người tất phải dẫn đến một sự thay đổitrong những quan hệ sản xuất của con người” (C.Mác, Ăngghen tuyển tập, Nxb Sự thật, HàNội, 1980, T.1, tr.396)
Điều đó chứng tỏ sự phát triển của lực lượng sản xuất thì quan hệ sản xuất cũng pháttriển theo cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Sự phù hợp đó là độnglực nội tại thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Tuy nhiên, lực lượng sản xuất có xuhướng phát triển nhanh hơn, còn quan hệ sản xuất lại tương đối ổn định Khi lực lượng sảnxuất phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất không còn phù hợp với nó nữa, trởthành chướng ngại đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm nảy sinh mâu thuẫn gaygắt giữa hai mặt của phương thức sản xuất Một cách tất yếu là quan hệ sản xuất cũ bị xóa bỏ,quan hệ sản xuất mới hình thành phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đãphát triển, mở đường cho lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển
Quan hệ sản xuất cũ bị xóa bỏ, quan hệ sản xuất mới hình thành, cũng đồng thời sựdiệt vong của phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của phương thức sản xuất mới Trongxã hội có giai cấp đối kháng, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất lỗi
Trang 17thời là cơ sở khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp, đồng thời là tiền đề của các cuộc cáchmạng xã hội.
Sự tác động của quy luật nói trên trong lịch sử đã làm cho xã hội chuyển từ hình tháikinh tế-xã hội thấp lên hình thái kinh tế-xã hội cao hơn một cách biện chứng
- Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất:
Trong cấu trúc của phương thức sản xuất thì quan hệ sản xuất là hình thức xã hội màlực lượng sản xuất luôn luôn phải dựa vào để phát triển Tất nhiên quan hệ sản xuất thườngxuyên tác động trở lại với lực lượng sản xuất: có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển củalực lượng sản xuất Theo tính tất yếu khách quan, quan hệ sản xuất lỗi thời sẽ bị thay thế bằngmột quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất có thể tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất, bởi vì quan hệ sảnxuất quy định tính mục đích của quá trình sản xuất vật chất, quy định hệ thống tổ chức quảnlý sản xuất và quản lý xã hội, quy định phương thức phân phối của cải mà người lao động trựctiếp được hưởng Tất cả những yếu tố nói trên lại ảnh hưởng và quy định thái độ của quầnchúng lao động - lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội
Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất theo chiều hướng tích cực, khiquan hệ sản xuất là một hệ thống hoàn chỉnh gồm cả ba mối quan hệ: sở hữu tư liệu sản xuất,tổ chức và quản lý sản xuất, phân phối sản phẩm, đều phù hợp với tính chất (trình độ) của lựclượng sản xuất
Sự tác động của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất vào lịch sử đã đưa xã hội loài người phát triển qua các phương thức sản xuất:công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩatrong tương lai
- Ý nghĩa thực tiễn: Lịch sử xã hội loài người nói chung phát triển tuần tự từ thấp lên
cao, nhưng thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng nhiều nước đã bỏ qua một số phương thứcsản xuất để tiến lên phương thức sản xuất cao hơn
Mười năm sau ngày đất nước thống nhất, do chủ quan duy ý chí, làm trái quy luật nàymà Việt Nam đã lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện, khủng hoảng nghiêm trọng vàkhủng hoảng sâu sắc Từ khi bước vào công cuộc đổi mới đất nước (1986) đến nay, ĐảngCộng sản Việt Nam đã và đang lãnh đạo dân tộc Việt Nam từng bước thực hiện nghiêm túcquy luật này
Ở Việt Nam, để xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, chúng ta chủ trươngphát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Như vậy việc bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủnghĩa về thực chất là bỏ qua chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa, nhưng chúng ta lại kế thừanhững giá trị của chủ nghĩa tư bản với tư cách là lực lượng sản xuất, để hướng nền sản xuất đilên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay là tuân thủ quy luật vềsự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất Nhờ đó Việt Nam đãthoát khỏi khủng hoảng và trở thành nước đang phát triển của thế giới
2.3: Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong sự phát triển của xã hội?
- Khái niệm cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành