- Theo quan điểm mác-xít, triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là khoa học về những biện pháp chung nhất, những nguyên tắc chung nhất, những con đường chung nhất của sự
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU Bài 1: KHÁI LUẬN CHUNG VỀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
I Khái niệm triết học
- Theo nghĩa gốc Hán, triết là trí, bao gồm cả sự hiểu biết, nhận thức sâu rộng, đạo lý
- Theo nghĩa gốc Hy Lạp, triết có nghĩa là yêu mến sự thông thái
- Từ thế kỷ VItcn cho đến thế kỷ XVIII loài người đã quan niệm triết học là khoa học củamọi khoa học, là khoa học đứng trên mọi khoa học Bởi thế, bất cứ ai thông thạo bất cứ mônkhoa học nào cũng được gọi là nhà hiền triết hoặc nhà thông thái Người ta đã xem đối tượngnghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm của triết học là bao gồm mọi đối tượng,phương pháp và đặc điểm của mọi khoa học cụ thể
- Thế kỷ XIX, người đầu tiên tách triết học ra khỏi các khoa học cụ thể khá thành côngnhưng trên lập trường duy tâm khách quan là G.V.F Hêghen Người hoàn thành sự nghiệp đó làC.Mác và Ph.Ăng ghen
- Theo quan điểm mác-xít, triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, là khoa học về những biện pháp chung nhất, những nguyên tắc chung nhất, những con đường chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới.
- Khái niệm triết học dù ở phương Đông hay phương Tây, dù có biến đổi theo lịch sửnhưng bao giờ cũng bao gồm hai yếu tố: Một là yếu tố nhận thức, tức sự hiểu biết của con người
về thế giới, sự giải thích thế giới hiện thực bằng hệ thống tư duy Hai là yếu tố nhận định, tức sựđánh giá, nhận xét về mặt đạo lý và thái độ hành động đối xử của con người đối với thế giới
- Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, triết học có những đặc điểm riêng:
+ Nó là một trong những hình thái ý thức cổ xưa nhất và quan trọng nhất Vai trò của triếthọc ngày càng tăng lên cùng với quá trình phát triển của tri thức nhân loại Cùng với đạo đức,nghệ thuật, triết học mãi mãi tồn tại với xã hội loài người
+ Khác với các hình thái ý thức xã hội khác, triết học nghiên cứu thế giới trong một chỉnhthể, nhận thức bản chất của thế giới, vạch ra những nguyên nhân của sự phát triển Triết họcnghiên cứu những nguyên lý, những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của thếgiới Tức không có lĩnh vực nào mà triết học không nghiên cứu Nhưng ở tất cả mọi lĩnh vực,triết học chỉ nghiên cứu cái chung nhất, chỉ ra bản chất của nó chứ không nghiên cứu cụ thể nhưcác khoa học cụ thể
+ Là một trong những hình thái ý thức xã hội, nhưng triết học cố gắng đưa ra một quanniệm chỉnh thể về thế giới, về các quá trình vật chất và tinh thần, về những mối liên hệ tác độngcủa các quá trình đó, về nhận thức và con đường cải biến thế giới
II Vấn đề cơ bản của triết học
Triết học nghiên cứu hàng loạt các vấn đề chung của thế giới, nhưng vấn đề cơ bản củatriết học là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức (giữa tồn tại và tư duy, hay giữa tựnhiên và tinh thần)
Nó là vấn đề cơ bản của triết học bởi lẽ, trong thế giới có vô vàn sự vật, hiện tượng,nhưng chung quy lại chúng chỉ phân thành hai loại: hiện tượng vật chất (tồn tại, tự nhiên) và hiệntượng ý thức (tư duy, tinh thần) Mặt khác, từ phương Đông sang phương Tây, từ cổ đại đến hiệnđại tất cả các trường phái triết học trước khi nghiên cứu các vấn đề chung khác, bao giờ cũngnghiên cứu và giải quyết vấn đề mối liên hệ giữa vật chất và ý thức trước tiên Việc giải quyếtvấn đề này là cơ sở nền tảng cho việc giải quyết những vấn đề khác của triết học Nói cách khácviệc giải quyết nó là giải quyết về thế giới quan và phương pháp luận của triết học
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt Mặt thứ nhất giải quyết về thế giới quan Tất cả
các nhà triết học đều phải trả lời câu hỏi: Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau,
1
Trang 2cái nào quyết định cái nào? Tùy theo câu trả lời của các nhà triết học, mà các học thuyết triết học
đã chia thành hai trào lưu chính Duy Vật và Duy Tâm
Các nhà triết học Duy Vật khẳng định vật chất có trước và quyết định đối với ý thức Ýthức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người Chủ nghĩa duy vật trong tiến trình pháttriển từ cổ đại đến hiện đại đã trãi qua nhiều hình thức khác nhau: cổ đại, tầm thường, cơ học,máy móc nói chung là duy vật siêu hình, và duy vật biện chứng
Ngược lại, các nhà triết học Duy Tâm lại khẳng định ý thức có trước và quyết định đốivới vật chất Trong tiến trình phát triển của mình, chủ nghĩa duy tâm cũng đã trãi qua nhiều hìnhthức khác nhau: duy cảm chủ quan, duy lý, nhị nguyên, duy thức, duy ngã nói chung là duytâm chủ quan và duy tâm khách quan
Mặt thứ hai giải quyết về vấn đề nhận thức luận: tất cả các nhà triết học đều phải trả lời
câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức thế giới không? Tùy theo câu trả lời của các nhà triết
học mà các triết thuyết đã chia thành hai phái: Khả tri luận gồm các nhà triết học trả lời con
người có khả năng nhận thức thế giới Thông thường họ là các nhà triết học duy vật và các nhà
triết học duy tâm chủ quan Bất khả tri luận gồm các nhà triết học trả lời con người không có khả
năng nhận thức thế giới Thông thường họ là các nhà triết học duy tâm khách quan
Trên cơ sở giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, lịch sử triết học chỉ ra Triết học có hai
nguồn gốc: Nguồn gốc nhận thức của chủ nghĩa duy vật là mối liên hệ của nó với các thành tựu của các khoa học cụ thể Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử Nguồn gốc nhận thức của chủ nghĩa duy tâm là mối liên hệ của nó với các đấng siêu nhiên, hoặc tuyệt đối hóa một hay một
số yếu tố nào đó của ý thức Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là mối liên hệ của nó với
các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ, giai cấp thống trị đang trên đà tan rã trong từnggiai đoạn phát triển của lịch sử
III Hai phương pháp cơ bản trong triết học
Xuất phát từ bản chất của triết học, khi giải quyết vấn đề cơ bản bản chất của thế giới cóvận động và phát triển không, nếu có thì do những nguyên nhân và theo những xu hướng nào,
mà trong triết học đã có hai phương pháp cơ bản biện chứng và siêu hình Hai phương pháp nàyđối lập nhau về cách nhìn nhận thế giới
Phương pháp biện chứng xem xét thế giới trong mối liên hệ phổ biến quy định ràng buộc
lẫn nhau, và luôn vận động, và luôn phát triển Trong sự phát triển của mình, phương pháp biệnchứng đã có những hình thức khác nhau là: Biện chứng cổ đại, biện chứng duy tâm, biện chứngduy vật
Phương pháp siêu hình xem xét thế giới trong mối liên hệ cô lập tách biệt lẫn nhau, hoặc
không vận động, hoặc không phát triển, hoặc vận động và phát triển theo chu kỳ khép kín Trong
sự phát triển của mình, phương pháp siêu hình cũng có các hình thức khác nhau: siêu hình duytâm, siêu hình duy vật
Tóm lại, trong sự phát triển của triết học, với tư cách là một khoa học, trong nó luôn diễn
ra cuộc đấu tranh giữa duy vật với duy tâm, giữa vô thần với hữu thần, giữa biện chứng với siêu hình Các cuộc đấu tranh ấy chính là đối tượng nghiên cứu của lịch sử triết học Tuy nhiên, triết
học phương Tây thường tập trung giải quyết các vấn đề thuộc về thế giới quan, trong khi đó triếthọc phương Đông lại nặng về vấn đề nhân sinh quan: Triết học Trung Quốc tập trung về vấn đềđạo đức, chính trị - xã hội; Triết học Ấn Độ nặng về giải quyết các vấn đề thuộc về đời sống tâmlinh Triết học phương Đông tính chiến đấu giữa duy vật với duy tâm, giữa biện chứng với siêuhình, giữa vô thần với hữu thần mờ nhạt hơn so với triết học phương Tây
2
Trang 3IV Đại cương lịch sử triết học phương Tây
4.1 Triết học Hy Lạp và La Mã (trước thế kỷ V)
Sự phát triển của triết học La-mã và Hy-lạp cổ đại được chia thành ba thời kỳ:
- Thời kỳ tiền Socrate: Trước thế kỷ IV tcn với các trường phái triết học tiêu biểu là Milê,
Pitago, Hêraclit, Êlê Thời kỳ này các nhà triết học đồng thời cũng là các nhà khoa học tự nhiên.Vấn đề được các nhà triết học quan tâm hàng đầu là vấn đề bản thể luận
- Thời kỳ Socrate: Từ thế kỷ IV tcn đến thế kỷ III tcn, đây là thời kỳ cực thịnh của triết
học Hy-La, với các triết gia nổi tiếng Socrat, Platon, Aristote, Democrite và vấn đề mà họ quantâm trong triết học của mình là vấn đề con người
- Thời kỳ Hy Lạp hoá: Đây là thời kỳ Hy Lạp bị La Mã chinh phục về lãnh thổ, nhưng La
Mã lại bị Hy Lạp khuất phục bởi những giá trị của nề văn hoá rực rỡ của Hy Lạp cổ đại Giaiđoạn này các nhà triết học lãng tránh những vấn đề trung tâm của triết học, mà chìm đắm vớinhững suy tư về định mệnh, chìm đắm trong đời sống tình cảm và ham muốn nó báo hiệu cho
sự suy tàn của triết học Hy-La
Triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại có các đặc điểm sau:
- Là sự kết tinh những gi tinh tuý nhất của nhận thức tổng hợp nhân loại từ cộng sảnnguyên thuỷ đến chiếm hữu nô lệ ở phương Tây, nó dung chứa hầu hết các vấn đề cơ bản của thếgiới quan, dù chưa thoát khỏi trạng thái phôi thai mộc mạc, nhưng vô cùng phong phú và đadạng
- Con người là vấn đề trung tâm của triết học, nhưng chỉ là con người cá thể Giá trị thẩmđịnh con người mới chỉ chủ yếu là đạo đức, giáo tiếp và nhận thức
- Tính duy vật tự phát và biện chứng sơ khai là một trong các đặc điểm nổi trội của triếthọc Hy-La cổ đại
4.2 Triết học Tây Âu thời trung cổ (tk V-XV):
Sự hình thành của triết học Tây Âu trung cổ không tách rời những ảnh hưởng của triếthọc Cơ đốc giáo từ thế kỷ II đến thế kỷ IV (với các triết gia tiêu biểu là Téc-tu-liêng, Au-guyt-xtanh) Triết học kinh viện là điểm nổi bật của triết học Tây Âu thời trung cổ và nó chịu ảnhhưởng sâu sắc của triết học Platon, Arixtote
Sự phát triển của triết học Tây Âu thời trung cổ có thể chia thành ba thời kỳ: Thời sơ khai (IX-XII với các triết gia Giăng-Scốt, A-sen-me-de-Khan-to-be-ry, An-bê-la), Thời hưng thịnh (XII-XIII với các triết gia An-be-lơ-Grăng, Tô-mát-Đa-canh), Thời suy tàn (XIV-XV với các triết
gia Rô-giê-Bê-cơn, Đôn-xcốt, Ốc-Cam)
Những đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thời Trung cổ là:
- Là tiếng đồng vọng của tôn giáo, là sự biện minh của thần học Đây là thời kỳ triết họcphục tùng thần học và phục vụ tôn giáo, trên thực tế triết học đã là đầy tớ của thần học và tôngiáo
- Trung tâm của triết học Tây Âu thời trung cổ là mối quan hệ giữa niềm tin và tri thức:Triết lý thuần tuý, tư biện bị vấp chắn bởi các chân lý đời thường; Triết lý kinh viện bị nan giảikhi lấy niềm tin làm tiền đề giải quyết các mối quan hệ riêng - chung; Đức tin đã không thể giảithích được tại sao con người luôn tư duy bằng khái niệm trong khi thế giới hiện thực chỉ tồn tạicác sự vật cụ thể đơn nhất
- Cuộc đấu tranh của triết học trên vấn đề cơ bản được biểu hiện qua xung đột giữa chủnghĩa duy danh và chủ nghĩa duy thực Các nhà triết học duy danh khẳng định cái riêng có trước
3
Trang 4quyết định caí chung Các nhà triết học duy thực lại khẳng định cái chung có trước quyết định cáiriêng.
- Con người trong triết học Tây Âu thời Trung cổ chỉ là những sinh linh nhỏ bé, tộinghiệp, thụ động, trĩu nặng tội tông truyền, phải ăn năn sám hối trong kiếp làm người
4.3 Triết học Tây Âu thời kỳ Phục Hưng (tk XV-XVI):
Đây là thời kỳ giai cấp tư sản ra đời và lớn mạnh, họ gương cao ngọn cờ duy vật và vôthần cùng nông dân đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến ở phương Tây Các nhà triết học tiêu biểuthời kỳ này là: Ni-cô-lai-Cô-péc-ních, Bờ-ru-nô, Ga-li-lê Triết học Tây Âu thời phục hưng vì thế
có các đặc điểm:
- Là vũ khí lý luận của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống phong kiến và giáo hội
Do giương cao chủ nghĩa duy vật và vô thần mà nhiều nhà tư tưởng tiến bộ đã bị giáo hội sát hại,bắt bớ, cầm tù
- Phiếm thần và tự nhiên thần là biểu hiện của sự thoả hiệp với triết học duy tâm hữu thần
và cũng là tính hai mặt của các nhà triết học duy vật Tây Âu thời kỳ phục hưng
- Con người trong triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng là thước đo vẻ đẹp cường tráng củathân thể, sự tinh anh của trí tuệ và chỉ biết thờ phụng, chiêm ngưỡng chính bản thân mình, vớimột khát vọng cháy bỏng về tự do
- Chủ nghĩa nhân văn kiểu chủ nghĩa xã hội không tưởng là một trong những đặc điểmnổi bật của triết học Tây Âu thời phục hưng
4.4 Triết học Tây Âu thời cận đại (tk XVII-XVIII):
Đây là thời kỳ khai sinh các dân tộc tư sản, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thaythế cho phương thức sản xuất phong kiến ở Tây Âu Sự phát triển về kinh tế và xã hội cùng với
sự phát minh vĩ đại trong khoa học tự nhiên đã tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự ra đời củachủ nghĩa duy vật siêu hình ở Tây Âu cận đại Sự trỗi dậy của triết học duy tâm chủ quan bất khảtri Anh chỉ là tiếng kêu thất thanh, giãy chết trước sự lớn mạnh như vũ bão của triết học duy vậtPháp Những triết gia tiêu biểu của thời kỳ này là: Phờ-răng-xít-Bê-cơn, Tô-mát-Hốp-bơ, Giôn-Lốc-cơ, Béc-cơ-ly, Đa-vít-Hi-um, Rơ-nê-Đề-các, Pát-can, Mông-téc-ky-ơ, Vôn-te, Giăng-giắc-Rút-xô, Đi-đơ-rô, Hôn-bách, Spi-nô-gia, Lép-ních Đặc điểm cơ bản của triết học Tây Âu thờicận đại là:
- Giai cấp tư sản tiếp tục gương cao ngọn cờ duy vật và vô thần trong cuộc đấu tranh đểthiết lập trật tự tư bản chủ nghĩa và giải phóng con người Những quan niệm xã hội tiến bộ củachủ nghĩa duy vật trở thành cơ sở lý luận cho việc bác bỏ thần học và tôn giáo Con người đã trởthành niềm kiêu hãnh của thời đại Nhưng con người mới chỉ được đề cập ở khía cạnh cá thể,những bức bách được khẳng định về năng lực và giải phóng ở tính sinh vật, nhận thức và nhucầu tình cảm, còn mặt bản chất xã hội ít được đề cập đến
- Triết học duy vật Tây Âu thời cận đại phát triển trong quan hệ gắn bó chặt chẽ với khoahọc Việc phân định nhà triết học và khoa học tự nhiên nhiều trường hợp chỉ có ý nghĩa tươngđối
- Triết học duy vật Tây Âu thời cận đại chịu ảnh hưởng nặng nề sự thống tri của phươngpháp siêu hình
- Triết học duy vật Tây Âu thời cận đại là triết học duy vật không triệt để, họ thường duyvật khi bàn về các hiện tượng tự nhiên, nhưng duy tâm khi giải quyết các vấn đề xã hội
- Triết học Tây Âu thời cận đại đặc biệt quan tâm đến vấn đề nhận thức luận và phươngpháp luận Trong nhận thức luận họ thường đề cao một trong hai giai đoạn của quá trình nhận
4
Trang 5thức cảm tính hay lý tính nên không thấy được tính biện chứng, thống nhất của quá trình nhậnthức Về mặt phương pháp thì lại tuyệt đối hoá một trong hai phương pháp nhận thức diễn dịchhay quy nạp do chủ thể mà không do đối tượng và mục đích nghiên cứu quyết định.
- Cuộc đấu tranh tiêu biểu của triết học trong thời kỳ này là cuộc đấu tranh giữa haiđường lối triết học Béccơly và Điđơrô
4.5 Triết học cổ điển Đức (tk XVIII-XIX):
Triết học cổ điển Đức là đỉnh cao của triết học phương Tây, có ảnh hưởng sâu rộng và tolớn đến triết học hiện đại Nó phản ánh sinh động tính độc lập tương đối của ý thức triết học vớitồn tại xã hội: Khuynh hướng phát triển tư bản chủ nghĩa ở Đức lúc này đang bị chế độ phongkiến quan liêu, chuyên chế cản trở Thực trạng của đất nước và sự ảnh hưởng của các nước Pháp,
Ý, Anh đã làm thức tỉnh bộ phận cấp tiến giai cấp tư sản và lực lượng tiến bộ Đức, họ công khaiphản bác, chống lại sự trì trệ, bảo thủ của xã hội phong kiến Đức, đồng thời phản ánh nguyệnvọng của các giai tầng trong xã hội, đòi phát triển đất nước Đức theo mô hình của các quốc gialân cận Các triết gia tiêu biểu của triết học cổ điển Đức gồm có: Hai-đơ, Lơ-sing, Sin-lơ, Gớt,Căng-tơ, Phích-tơ, Sê-ling, Hê-ghen, Phơ-bách
Triết học cổ điển Đức có các đặc điểm sau:
- Là thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp tư sản Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷXIX Thế giới quan và ý thức hệ này mang tính hai mặt, vừa chống lại, vừa thoả hiệp với giai cấpphong kiến Đức, nó mang tính bảo thủ, cải lương về chính trị-xã hội, mâu thuẫn với tính cáchmạng và khoa học
- Đặc biệt đề cao vai trò vị trí tích cực của con người Các nhà triết học cổ điển Đức đãkhẳng định con người là chủ thể, là kết quả, là sản phẩm của hoạt động tự nó, cho nó, vì nó;Thực tiễn cao hơn lý luận; Lịch sử chỉ là phương thức tồn tại của con người; Cá nhân có thể làmchủ được vận mệnh của mình; Và cao hơn là tư tưởng về con người mang bản chất xã hội Tuynhiên, họ lại sùng bái tuyệt đối hoá vai trò của lý tính, của tư duy Biến tư duy của con ngườithành một thực thể độc lập với đời sống thực của nó, thực thể tinh thần tối cao làm căn nguyên
để giải thích cho tất cả mọi cái, mọi hiện tượng đang hiện tồn
- Dù là biện chứng duy tâm, nhưng các nhà triết học cổ điển Đức, lần đầu tiên đã làm chophép biện chứng tồn tại với tư cách là một phương pháp nhận thức tự giác có tính đồng kết, đượcbiểu hiện chặt chẽ qua hệ thống các khái niệm, phạm trù Nó là một trong các cơ sở tiền đề lýluận của triết học Mác
- Cuộc đấu tranh tiêu biểu của triết học ở thời kỳ này là cuộc đấu tranh giữa hai đường lốitriết học Hêghen và Phơbách
4.6 Triết học hiện đại thế kỷ XIX đến nay:
Thời kỳ này, kể từ 1848 với sự ra đời của Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, khai sinhCNCSKH vũ khí lý luận của giai cấp công nhân hiện đại, đấu tranh bảo vệ quyền lợi và lợi íchcho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thì đây cũng là thời kỳ ra đời của hàng trăm trườngphái triết học tư sản hiện đại chống lại triết học Mác-Lênin
Triết học Mác-Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng cách mạng và khoa học nhất của tưduy triết học nhân loại Các trường phái triết học tư sản hiện đại thì đang bằng cách này hay cáchkhác làm sống lại các trường phái triết học duy tâm trong lịch sử Thậm chí họ sử dụng các thànhtựu của khoa học kỹ thuật và công nghệ nhằm cố chứng minh cho sự vĩnh hằng của các đấngsiêu nhiên
4.7 Các cuộc đấu tranh tiêu biểu của triết học trong lịch sử:
5
Trang 6a) Thời cổ đại, tiêu biểu là sự đối lập giữa hai đường lối Đê-mô-crit và Pla-tôn:
Đê-mô-crit (460-370 tcn) là học trò của Lơ-xip, người phát triển học thuyết nguyên tử
của Lơ-xíp lên trình độ mới Ông có bộ óc bách khoa đầu tiên trong số những người Hy-Lạp, trithức uyên bác của ông đã khiến nhiều nhà tư tưởng về sau phải kinh ngạc Ông là nhà văn, nhàtoán học, nhà vật lý học, nhà tâm lý học, nhà sinh vật học, mỹ học, ngôn ngữ học, âm nhạc vànhà kỹ thuật
Về triết học, ông là nhà duy vật lớn nhất thời cổ đại, đã cầm đầu cuộc đấu tranh chốngchủ nghĩa duy tâm và tôn giáo, xây dựng nên Đường lối Đê-mô-crít Ông coi nguyên tử là bảnnguyên của thế giới Nguyên tử là vật chất nhỏ nhất, không nhìn thấy được, không thể phân chia,không màu, không mùi, không vị, không âm thanh, không nóng lên, không lạnh đi, không khô,không ướt chúng đồng nhất về chất, nhưng khác nhau về hình thức, trật tự và tư thế Tínhmuôn vẻ của vạn vật được quyết định bởi hình thức cấu tạo, trật tự sắp xếp và tư thế của cácnguyên tử khi chúng kết hợp với nhau Nguyên tử tự mình vận động mãi về mọi phía, chúng xô
đi đẩy lại lẫn nhau làm nên những cơn lốc nguyên tử và cuốn theo những nguyên tử ngày càngmới Vận động vì thế không tách rời vật chất, vận động là vận dộng tự thân của nguyên tử, vĩnhviễn, theo nhiều hướng tạo thành những cơn lốc nguyên tử
Đê-mô-crit thừa nhận tính nhân quả và quy luật của các hiện tượng tự nhiên, chống lạimục đích luận duy tâm Ông thừa nhận vai trò của nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, coicảm giác là bước đầu của tri thức Ông cũng đã thấy được mối quan hệ biện chứng giữa nhậnthức cảm tính và nhận thức lý tính “lý tính lấy những dẫn chứng cho nó trong cảm giác” Ông làngười đầu tiên định nghĩa các khái niệm, là người sáng lập môn Lôgíc học quy nạp
Ông quan niệm linh hồn được tạo bởi từ nguyên tử, thần thánh là do con người tạo ra.Ông tích cực tham gia cuộc đấu tranh chính trị chống bọn quân chủ chủ nô, bảo vệ cho chế độdân chủ chủ nô Cong lao lịch sử của ông là ở chỗ, ông và các môn đệ của ông đã kiên trì quanđiểm duy vật về tự nhiên, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo
Pla-tôn (427-347 tcn) là nhà triết học duy tâm khách quan lớn nhất thời cổ đại Ông là
môn đệ của Xô-crát, ủng hộ quân chủ chủ nô, chống lại nền dân chủ chủ nô Ông thành lập ởAten một viện hàn lâm - trường đại học đầu tiên ở châu Âu - chống lại triết học duy vật của Đê-mô-crít
Pla-tôn cho rằng bản nguyên của thế giới là ý niệm tuyệt đối Vạn vật và vũ trụ chỉ là cáibóng của khái niệm do ý niệm tuyệt đối tạo ra Đối tượng của nhận thức là ý niệm, nhận thức ýniệm mới cho ta tri thức chân thực, chân lý Ông phủ nhận nhận thức cảm tính vì nó chỉ là nhữnghình bóng của các sự vật Ông quan niệm thể xác của con người chỉ là nơi trú ngụ của linh hồn,con linh hồn là tác phẩm của linh hồn vũ trụ Ông cũng cho rằng chỉ có một số ít người ưu tú là
có đạo đức, còn đại bộ phận nhân dân là không có đạo đức Các học thuyết trong hệ thống triếthọc duy tâm khách quan của ông về sau được phát triển thành triết học “Pla-tôn mới” với khẩuhiệu “Hãy trở về với Pla-tôn”
b) Thời Trung Cổ, cuộc đấu tranh tiêu biểu diễn ra giữa triết học của Tô-mát-đa-canh (duy thực) với Đôn-xcốt (duy danh) là hai nhà triết học kinh viện Ngoài ra, chống lại chủ nghĩa kinh viện có triết học của Rô-giê-Bê-cơn.
Tô-mát-đa-canh (1225-1274), ông sinh ra ở Ý và là nhà thần học của đạo Thiên Chúa.
Trong triết học, ông là nhà triết học kinh viện nổi tiếng theo lập trường duy thực ôn hoà, có phầnthoả hiệp với duy danh có lợi cho thần học, ông có mưu đồ làm cho triết học của Ari-xtốt thích
hợp với giáo lý của đạo Thiên Chúa, biến triết học của mình thành cơ sở giáo lý của nhà thờ
6
Trang 7Theo Tô-mat-đa-canh, đối tượng của triết học là “chân lý của lý trí”, đối tượng của thầnhọc là “lòng tin tôn giáo” Thượng Đế là khách thể cuối cùng của cả triết học và thần học, lànguồn gốc của mọi chân lý Vì thế không có sự đối lập căn bản giữa thần học và triết học Nhưng
vì bản thân là nhà thần học nên ông đã hạ thấp vai trò của triết học, coi triết học là kẻ tôi tớ củathần học, phụ thuộc bởi thần học Ông cũng quan niệm, mọi sự hoàn thiện của thế giới sự vật là
là do trí thông minh của Thượng Đế quyết định và đều trải qua sự hợp lý hoá của Thượng Đế Về
xã hội, ông ra sức tuyên truyền cho vai trò thống trị của nhà thờ đối với xã hội công dân Ôngchống đối sự bình đẳng xã hội
Đôn-Xcốt (1265-1308), ông sinh trưởng ở Anh, có tín ngưỡng dòng Phơ-răng-xít, là nhà
triết học duy danh nổi tiếng thế kỷ XIII
Theo Đôn-Xcốt, đối tượng của thần học là Thượng Đế, đối tượng của triết học là tồn tại(hiện thực khách quan-giới tự nhiên, vật chất) Lý trí con người thấp hơn niềm tin tôn giáo, nókhông nhận thức được bản chất Thượng Đế, vì Thượng Đế là hình thức thuần tuý phi vật chất.Theo ông, tinh thần là hình thức của thân thể con người, gắn với thân thể từ khi con người mớisinh ra và do Thượng Đế ban phát Tinh thần có vai trò to lớn trong quá trình nhận thức, nhưngvẫn phải phụ thuộc vào đối tượng nhận thức Cái thống trị mọi dạng hoạt động của con người là
ý chí chứ không phải lý trí, ở Thượng Đế ý chí là hoàn toàn tự do
Rô-giê-Bê-cơn (khoảng1214-1294), ông sinh ở Anh, là một trong những người đề xướng
ra khoa học thực nghiệm thời kỳ mới Triết học của ông đống vai trò quan trọng trong đấu tranhchống triết học kinh viện trước ông
Dù vẫn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Pla-tôn và Ô-guyt-xtanh, nhưng Bê-Cơn đã phêphán một cách gay gắt và cay độc tính chất vô dụng của phương pháp kinh viện tách rời cuộcsống Theo ông, có bốn điều trở ngại đối với chân lý:
- Một là sự sùng bái, quy phục trước cái uy tín không có cơ sở và không xứng đáng
- Hai là thói quen lâu đời với những quan niệm đã rõ ràng
- Ba là tính chất vô căn cứ của các nhà bác học đối với điều ngu dốt của mình dưới cáimặt nạ của sự thông thái hư ảo
- Cuối cùng ông rút ra ba nguồn gốc của nhận thức là uy tín, lý trí và kinh nghiệm: Uy tín
mà thiếu sự chứng minh là uy tín thiếu sót, những lập luận mà chưa kiểm tra các kết luận bằngcon đường chứng minh và thực nghiệm thì chưa thể phân biệt giữa nguỵ biện và chứng minh;cao hơn mọi tri thức và nghệ thuật suy lý là việc biết tạo ra kinh nghiệm và khoa học, đó là bàchúa của mọi khoa học Ông coi kinh nghiệm như là tiêu chuẩn của chân lý, thước đo của lýluận Trong học thuyết của mình, ông lên tiếng chống Giáo Hoàng một cách gay gắt nhưngkhông chống tôn giáo nói chung Ông tuyên bố sự phụ thuộc của triết học vào lòng tin, nhưngvới ông chưa xuất hiện sự mầu nhiệm thiêng liêng của lòng tin, mà chỉ xuất hiện sức mạnh củatriết học và tri thức khoa học
c) Thời kỳ Phục hưng (XV-XVI) Thời kỳ này có các nhà khoa học đồng thời là nhà triết
học nổi tiếng như Cô-pec-ních, Bru-nô mà tư tưởng của của họ đã giáng những đòn rất nặngvào tôn giáo và nhà thờ, bác bỏ quan điểm của kinh thánh đạo Cơ đốc và Thượng đế sáng tạo ra
vũ trụ Mặt khác, hầu hết các nhà tư tưởng giai đoạn này (còn có Ga-li-lê, Ku-Zan, Mo-rơ ) đềulẫn lộn các yếu tố duy vật và duy tâm và có tính chất phiếm thần
d) Thời cận đại (XVII-XVIII) Cùng với việc diễn ra các cuộc cách mạng tư sản có quy mô
toàn châu Âu, đây cũng là thời kỳ phát triển cao của các khoa học toán, lý, hoá, sinh, kinh tế,
7
Trang 8nhất là vật lý cơ học nó làm tiền đề cho sự ra đời của triết học mới với nhiều đại biểu tiêu biểunhư:
F.Bê-cơn (Anh 1561-1626) đặt nền móng cho sự phát triển của CNDV cơ học máy móc Hốp-xơ (Anh 1588-1679) kế tục và hệ thống hoá triết học của Bê-cơn đồng thời là ngườisáng tạo ra hệ thống đầu tiên của CNDVSH trong lịch sử
Đê-các-tơ (duy tâm Pháp 1596-1654) là một trong những người sáng lập nền khoa học vàtriết học chống tôn giáo và chủ nghĩa kinh viện
Xpi-nô-da (duy vật Hà Lan 1632-1677) mà những tư tưởng duy vật và vô thần của ông đã
có ảnh hưởng sâu sắc đến các duy vật Pháp ở thế kỷ XVIII
Lốc-cơ (Nhị nguyên 1632-1704) đã sản sinh ra hai người học trò nổi tiếng của CNDTAnh và CNDV Pháp ở thế kỷ XVIII
Cuộc đấu tranh tiêu biểu của triết học thời kỳ này là giữa hai đường lối triết học Beccơly
và Điđờrô:
Bec-cơ-ly (DTCQBKT Anh 1684-1753), triết học của ông là mẫu mực và là một trong
những nguồn gốc của các lý thuyết triết học tư sản duy tâm chủ quan cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX Trong triết học của ông "vật thể trong thế giới quanh ta là sự phức hợp của cảm giác", tồntại có nghĩa là được cảm biết Chủ nghĩa duy tâm chủ quan của ông đã dẫn ông đến chủ nghĩaduy ngã, phủ nhận mọi tồn tại khách quan, kể cả con người, chỉ trừ chủ thể đang nhận thức, loạitrừ "cái tôi" mà thôi Đồng thời, ông ta cũng thừa nhận Thượng đế là một chủ thể tồn tại vĩnh cửu
và luôn đưa vào trong ý thức những chủ thể riêng lẻ nội dung của cảm giác Triết học của ông làphản ánh hệ tư tưởng của giai cấp tư sản đã giành được chính quyền, nhưng rất sợ những tưtương tiến bộ, cách mạng
Đi-đơ-rô (DV Pháp 1713-1784), người khai sáng ra CNDV Pháp và là kẻ thù của chế độ
chuyên chế phong kiến và nhà thờ Ông thừa nhậ vật chất tồn tại vĩnh viễn và khách quan ngoài
ý thức con người Sự phong phú đa dạng của sự vật và hiện tượng chỉ là những hình thức khácnhau của tồn tại vật chất do các phân tử cấu thành Vật chất là thực thể duy nhất, nguyên nhântồn tại của nó nằm ngay trong bản thân nó Vận động của giới tự nhiên là vĩnh cửu Con ngườicũng như các sinh vật khác đều có lịch sử hình thành của mình mà không hề có bất cứ một nguồngốc thần thánh nào Ông xuất phát từ cảm giác luận khách quan và bác bỏ kiên quyết cảm giácluận chủ quan của Béccơly Về xã hội, ông chống đối quyết liệt chế độ chuyên chế và tán thànhchế độ quân chủ lập hiến và hy vọng xuất hiện một vị "quốc vương có giáo dục" để xây dựngmột nhà nước lý tính Đạo đức duy lợi của Điđơrô đối lập với đạo đức tôn giáo phong kiến
e) Thời kỳ cổ điển Đức (XVIII-đầu XIX) với cuộc đấu tranh về tư tưởng triết học giữa
Cant (1724-1804) và Hêghen (1770-1831) với Phơ-bách (1804-1872), họ đồng thời là những tiền
đề trực tiếp của triết học Mác-Lênin
Cant: Thế giới vật tự nó chỉ là các hiện tượng phù hợp với cái cảm giác và cái tri thức do
lý tính của ta tạo ra Nhưng cảm giác và tri thức không cung cấp cho ta sự hiểu biết gì về thế giớivật tự nó Triết học của Cant là sự thiết lập sự thả hiệp dung hòa hai đường lối triết học duy vật
và duy tâm
Hêghen: Phương pháp biện chứng là hạt nhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự
phát triển Nhưng hệ thống triết học của ông là duy tâm khách quan, là sự biện hộ cho tôn giáo
Về xã hội, ông đứng trên lập trường của chủ nghĩa sôvanh, đề cao dân tộc Đức, miệt thị các dântộc khác
8
Trang 9Phơbách: là người có công trong việc khôi phục vị trí xứng đáng của chủ nghĩa duy vật.
Ông phê phán triết học Hêghen, chống chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo nói chung Triết học củaông mang tính nhân bản cao, nhưng lại rơi vào chủ nghĩa tự nhiên khi xem xét mọi hiện tượngthuộc về con người và xã hội Chủ nghĩa nhân đạo của ông về tình thương giữa con người là chủnghĩa nhân đạo trừu tượng, duy tâm
f) Thời kỳ hiện đại (Giữa cuối thế kỷ XIX đến nay), là cuộc đấu tranh rất quyết liêt giữa
triết học Mác-Lênin với hơn 120 trường phái khác nhau của triết học tư sản hiện đại Về xã hội,đây là cuộc đấu tranh một mất một còn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản
V KHÍA LƯỢC VỀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG
1 Thời cổ đại:
Trung Quốc và Ấn Độ cổ đại là những nôi triết học sớm và lớn nhất của nhân loại Haiquốc gia cổ đại chiếm lĩnh hầu hết lãnh thổ hai phần Bắc và Nam dãy Hymalaya Tại đây cáckhoa học toán học, vật lý học, hóa học, thiên văn học, y học đã phát triển sớm và sớm đạt đếntrình độ cao Thuyết Âm dương gia của Trung Quốc và tư tưởng triết học trong Upanishadd của
Ấn Độ đã sớm đạt đến trình độ siêu việt của tư duy Nhìn chung triết học Phương Đông là sự đanxen giữa duy tâm với duy vật, biện chứng với siêu hình, vô thần với hữu thần, nên cuộc đấutranh của triết học là mờ nhạt, song không kém phần quyết liệt Mặt khác, triết học Phương Đôngchủ yếu bàn về nhân sinh quan, nên cuộc đấu tranh của triết học chủ yếu diễn ra trên lĩnh vực đờisống chính trị-xã hội-đạo đức
Ở Ấn Độ: Giải thoát luận là khuynh hướng nổi trội Tuy nhiên, cuộc đấu tranh của triết
học ở thời kỳ này là rất quyết liệt: Đã hình thành hai hệ thống triết học: Hệ thống chính thống(tuân thủ Upanishadd), Hệ thống không chính thống (không tuân thủ nghiêm ngặt vớiUpanishadd); Có sự đối lập giữa nhất nguyên duy vật, vô thần (Lôkayata) với nhất nguyên duytâm, hữu thần (Vedanta); Có sự đối lập giữa chủ trương phân chia xã hội thành đẳng cấp mộtcách nghiệt ngã (Balamôn) với chủ trương một xã hội bình đẳng, bác ái, không phân chia đẳngcấp (Buddaha)
Ở Trung Quốc: Đạo đức, chính trị-xã hội là những vấn đề nổi lên hàng đầu Tính quyết
liệt của cuộc đấu tranh trong triết học biểu hiện rõ ử các khía cạnh: Đã tồn tại sự đối lập giữa haiđường lối triết học Duy vật, vô thần (Âm dương, Ngũ hành, Đạo gia thời sơ kỳ) với Duy tâm,hữu thần (Số luận, Dịch truyện, Nho gia); Tồn tại sự đối lập giữa chủ trương một xã hội có tôn
ty, trật tự, thứ bậc rõ ràng (Nho gia) với chủ trương một xã hội, con người tự do, tự tại theo cáibản nhiên không can thiệp lẫn nhau (Đạo giao); Tồn tại sự đối lập giữa chủ trương bình đẳng trên
cơ sở phân chia xã hội thành đẳng cấp, coi thường phụ nữ, coi thường nhân dân lao động, coithường lao động chân tay, bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị (Nho gia) với chủ trương bìnhđẳng, bác ái, không phân chia đẳng cấp, bảo vệ lợi ích cho nhân dân lao động (Mặc gia)
2 Thời Trung cổ đến cận đại: Phương Đông gần như im lìm trong "đêm trường Trung
cổ" Đây là thời kỳ chủ nghĩa duy tâm tôn giáo (Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồigiáo) giữ địa vị độc tôn trong đời sống văn hóa tinh thần Phương Đông Lịch sử Phương Đônghình như đã tồn tại một phương thức sản xuất châu Á, không lấy sự phát triển của lực lượng sảnxuất làm động lực lịch sử, mà vấn đề dân tộc và văn hóa dân tộc mới là động lực chính
3 Thời hiện đại: Đây là thời kỳ thức tỉnh của các dân tộc Phương Đông và đồng thời là
thời kỳ du nhập của chủ nghĩa Mác-Lênin vào các dân tộc Phương Đông với những sắc tháiriêng Các dân tộc Phương Đông phát triển lên chủ nghĩa xã hội theo những cách riêng mangđậm bản sắc văn hóa dân tộc
9
Trang 10BÀI 2: KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN I/ Những tiền đề ra đời của triết học Mác
1.1 Tiền đề về kinh tế - xã hội
Sự xuất hiện của triết học Mác nói riêng, chủ nghĩa Mác nói chung được chuẩn bị trướchết ở sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Triết học Mác ra đời là một cuộc cách mạng trong lịch
sử triết học
Vào những năm 30 - 40 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển khá cao, bộc lộ rõcác mâu thuẫn vốn có của nó Suy cho cùng các mâu thuẫn đó đều do mâu thuẫn ngày càng trởnên gay gắt quyết liệt giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong phương thức sản xuất tưbản chủ nghĩa Biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn quyết liệt giữa giai cấp tư sản và giai cấpcông nhân Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản đang từ tự phát chuyểnthành tự giác Nhiều cuộc khởi nghĩa với quy mô lớn và thời gian kéo dài của công nhân đã nổ ra
ở các nước tư bản Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh của công nhân vànhân dân lao động ở Anh, Pháp, Đức Phong trào công nhân dù phát triển mạnh nhưng các cuộcđấu tranh, khởi nghĩa của họ cuối cùng đều thất bại trước sự đàn áp của giái cấp tư sản, do họchưa có một lý luận cách mạng khoa học dẫn đường
Nghiên cứu phong trào công nhân ở Tây Âu, Mác và Ăng ghen đã chỉ ra vai trò lịch sửtoàn thế giới của giai cấp công nhân là người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản, tạo ra chủ nghĩa
xã hội trên phậm vi toàn thế giới Hai ông đã sáng tạo ra học thuyết khoa học dẫn dắt phong tràocông nhân đi tới tự giác trong cuộc đấu tranh cách mạng của mình chống các giai cấp phản cáchmạng mà trực tiếp là giai cấp tư sản
1.2 Tiền đề về khoa học tự nhiên
Triết học Mác ra đời không tách rời với các thành tựu của các khoa học tự nhiên Từ thế
kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX các khoa học tự nhiên đã rất phát triển, về mặt phương pháp nó đãdần dần chuyển từ siêu hình máy móc sang biện chứng Trong những thành tựu đó, nổi bật là baphát minh lớn của khoa học tự nhiên đàu thế kỷ XIX, nó đã đóng vai trò quan trọng trong xâydựng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng Đó là:
Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của nhà vật lý học người Đức
Rô-bét-May-e, nói lên mối liên hệ của các hình thức vận động khác nhau của giới tự nhiên;
Học thuyết tế bào của các nhà khoa học Gô-ri-an-nhi-nốp (Nga), Puc-kin (Tiệp), đen và Sa-van-nơ (Đức) đã giải thích quá trình phát triển từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phứctạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của thế giới sinh học;
Sơ-lây-Thuyết tiến hóa của Đác-Uyn đã chứng minh tính biện chứng trong sự phát triển phongphú đa dạng của các giống loài trong thế giới tự nhiên hữu sinh
Khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên, hai ông đã phát triển, cụ thể hóa các vấn
đề của chủ nghĩa duy vật biện chứng
1.3 Tiền đề về lý luận
Triết học Mác xuất hiện không chỉ gắn với điều kiện kinh tế xã hội, thành tựu của cáckhoa học tự nhiên, mà còn gắn với toàn bộ đời sống xã hội, không tách rời với nền văn minhnhân loại Nền văn minh đó được thể hiện trực tiếp ở những trào lưu tư tưởng và lý luận ở châu
Âu thế kỷ XIX: Chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán Anh và Pháp, mà tiêu biểu là mông, Phu-ri-ê, Ô-oen Kinh tế chính trị học Anh với các đại biểu tiêu biểu là A-đam-Xmít, Ri-các-đô Triết học cổ điển Đức với các đại biểu Phích-tơ, Sê-linh, Căng-tơ, Hê-ghen, Phơ-bách
Xanh-xi-Chú trọng nghiên cứu chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán, hai ông đã thấy được mộtcách duy vật biện chứng về đời sống xã hội, nó tác động mạnh đến việc chuyển lập trường nhân
10
Trang 11đạo chung chung sang nhân đạo cộng sản, và giúp hai ông dự báo sự phát triển của xã hội tươnglai - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Tập trung nghiên cứu kinh tế chính trị học Anh và tình cảnh của giai cấp công nhân trong
xã hội tư bản, hai ông nhận thức được rằng, lao động sản xuất của con người là cơ sở kinh tế củanhững mâu thuẫn giai cấp Nó là điểm xuất phát để hai ông khắc phục tính chất duy tâm về xãhội trong chủ nghĩa duy vật trước Mác, đưa ra hệ thống quan niệm duy vật của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng về xã hội
Hai ông đã tiếp thu, kế thừa, cải biến phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen để sáng tạo
ra phép biện chứng duy vật đồng thời phê phán kịch liệt chủ nghĩa duy tâm của Hê-ghen về “ýniệm tuyệt đối” Phê phán những thiếu sót trong triết học duy vật nhân bản của Phơ-bách, haiông đã có bước chuyển quan trọng từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật Phépbiện chứng của Hê-ghen và chủ nghĩa duy vật của Phơ-bách, như hai ông thừa nhận là một trongnhững tiền đề lý luận trực tiếp của triết học Mác
1.4 Vai trò của Mác và Ăng-ghen
C.Mác (1818-1983), Ph.Ăng-ghen (1820-1995) quê hương của họ ở vùng sông Ranh,giáp biên giới Pháp - Đức Thời trẻ hai ông chưa gặp nhau, họ đến với chủ nghĩa cộng sản bằnghai con đường độc lập với nhau Cả hai đều uyên bác bác học về nhiều lĩnh vực, đều có tấm lòngnhân hậu, đều chịu ảnh hưởng cách mạng dân chủ tư sản Pháp và cũng từng lãnh đạo các “câulạc bộ Hê-ghen trẻ” Khi trưởng thành, hai ông đã tự nguyện từ bỏ lập trường của giai cấp mình,đấu tranh bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Từ sự khái quát, kế thừa
và phát huy những thành tựu khoa học của văn minh nhân loại từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây,
từ sự lăn lộn trong phong trào công nhân Tây Âu giữa thế kỷ XIX hai ông đã sáng tạo ra chủnghĩa Mác hướng dẫn sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân thế giới đi đến thắng lợi cuốicùng
Hai ông đã sáng lập Quốc tế I (1864-1876) và Quốc tế II (1914) giai đoạn
1887-1895 để giáo dục, tổ chức, rèn luyện phong trào công nhân đấu tranh chống lại các trào lưu cảilương, cơ hội, tả khuynh, hữu khuynh, vô chính phủ và xét lại trong phong trào công nhân vàcộng sản quốc tế Về triết học, hai ông đã viết “Hệ tư tưởng Đức”, “Lút-vich-Phơ-bách sự cáochung của triết học cổ điển Đức”, “Phép biện chứng của tự nhiên”, “Chống Đuy-Rinh” v.v sángtạo ra phép biện chứng duy vật đánh dấu bước phát triển mới, tạo ra bước ngoặt cách mạng tronglịch sử triết học
Tóm lại, triết học Mác ra đời không là ngẫu nhiên, mà là một tất yếu hợp quy luật Nó là
sự khái quát những giá trị của lịch sử nhân loại mang tính thời đại, tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử triết học.
II Bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học do C.Mác và Ph.Ăng-ghen thực hiện Sự phát triển triết học Mác của V.I.Lênin.
2.1) Bản chất và ý nghĩa của bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học do C.Mác
và Ph.Ăng-ghen thực hiện
Cơ sở triết học của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng về tự nhiên và về xãhội Phép biện chứng duy vật là vũ khí tinh thần sắc bén của giai cấp công nhân trong cuộc đấutranh để xác lập và xây dựng xã hội mới Sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác nói chung, triết họcMác nói riêng là bước ngoắt cách mạng quan trọng trong lịch sử tư tưởng xã hội nói chung, trongtriết học nói riêng Bản chất và ý nghĩa của nó được thể hiện:
- Lần đầu tiên trong lịch sử, triết học Mác đã chỉ ra vai trò quyết định của thực tiễn, trướchết là thực tiễn sản xuất trong sự phát triển của triết học và khoa học Thực tiễn là nguồn gốc,động lực, mục đích và là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý khoa học C.Mác chỉ rõ:
11
Trang 12“Các nhà triết học trước kia chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song, vấn đề là cảitạo thế giới”1 Dĩ nhiên, khi nhấn mạnh vai trò của thực tiễn, hai ông không hề coi nhẹ vai trò của
lý luận
- Hai ông đã kế thừa và phát triển hoàn chỉnh ở hình thức cao của chủ nghĩa duy vật làchủ nghĩa duy vật biện chứng, hoàn chỉnh phép biện chứng ở hình thức cao là biện chứng duyvật Trong triết học Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là gắn liền, thống nhất với nhau.Nhờ thế, hai ông đã đuổi chủ nghĩa duy tâm ra khỏi hang ổ cuối cùng của nó là các vấn đề thuộclĩnh vức xã hội
- Bước ngoặt quan trọng nhất của triết học Mác là phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch
sử Quan niệm đó chỉ rõ sự vận động và phát triển của xã hội cũng có và tuân thủ những quy luậtkhách quan của nó Bác bỏ những quan niệm duy tâm thần bí, hai ông khẳng định tồn tại xã hộiquyết định ý thức xã hội, quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử
- Triết học Mác đã làm biến đổi căn bản tính chất, đối tượng của triết học và quan hệ của
nó với các khoa học cụ thể Triết học Mác không tách rời mà gắn bó chặt chẽ với các khoa học
cụ thể, đồng thời nó có ý nghĩa là thế giới quan và phương pháp luận định hướng phát triển chocác khoa học cụ thể cùng hướng tới mục tiêu cải tạo tự nhiên và xã hội
2.2) Sự bảo vệ và phát triển triết học Mác của V.I.Lênin
Lênin (1870-1924) lập tờ “Tia lửa”, giải tán Quốc tế II, thành lập Quốc tế III (1919-1943)
và với nhiều tác phẩm triết học sâu sắc “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”,
“Bút ký triết học”, “Về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu” v.v Lênin đã trung thành đấutranh bảo vệ chủ nghĩa Mác trong đó có triết học Mác Giai đoạn lịch sử mới chủ nghĩa tư bảnchuyển thành chủ nghĩa đế quốc chủ nghĩa Mác, triết học Mác gắn liền với tên tuổi của Lênin
Từ 1919, chủ nghĩa Mác, triết học Mác trở thành chủ nghĩa Mác-Lênin và triết học Mác-Lênin.Lênin là người đầu tiên làm cho chủ nghĩa Mác từ lý luận trở thành hiện thực trên đất nước rộnglớn có diện tích chiếm 1/5 diện tích địa cầu với dân số trên 220 triệu người
Trong khi đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác, Lênin đã phát triển sáng tạo và toàn diện cácmặt của triết học Mác như chủ nghĩa duy vật, phép biện chứng, lý luận nhận thức v.v Từ Lênin,tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác, nhưng vận dụng sáng tạo và phát triển duy nhất đúngtriết học Mác trong thời đại mới là “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đãxong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm, trái lại, chúng ta tin lý luận đó chỉ đặt nền móng cho mônkhoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họkhông muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”2
PHẦN I: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ THẾ GIỚI
BÀI 1: PHẠM TRÙ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Phạm trù triết học là những khái niệm chung nhất, rộng nhất và khái quát nhất phản ánhnhững mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến của các sự vật và hiện tượngthuộc một lĩnh vực nhất định
Mỗi trường phái triết học khác nhau có quan niệm khác nhau về phạm trù: Phái duy thựccoi phạm trù là những bản chất ý niệm, tồn tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức của con người.Phái duy danh cho rằng phạm trù chỉ là những từ trống rỗng không biểu hiện một cái gì cả Cant
và chủ nghĩa Cant cho rằng phạm trù không phản ánh hiện thực mà là hình thức nhận biết vốn cósẵn của tư duy, có trước mọi kinh nghiệm, không phụ thuộc kinh nghiệm, được lý trí con ngườiđưa vào tự nhiên
1 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 1995 - Tập 3 - Tr 12.
2 V.I Lênin toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mat-xcơ-va 1974, Trang 232.
12
Trang 13Phép biện chứng duy vật (Triết học Mác-Lênin) quan niệm phạm trù không là cái có sẵntrong bản thân con người một cách bẩm sinh Các phạm trù có nguồn gốc từ trong thực tiễn,được hình thành qua sự khái quát hóa, trừu tượng hóa của tư duy lý luận và ngày càng được bổsung thêm những phạm trù mới Phạm trù là kết quả của hoạt động nhận thức và hoạt động cảitạo thực tiễn, nội dung của nó mang tính khách quan, bị thế giới khách quan quy định, mặc dùhình thức tồn tại của chúng là chủ quan Là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, chịu sựchi phối của thế giới khách quan nên các phạm trù cũng như phạm trù triết học luôn được bổsung bằng những phạm trù mới
Mỗi khoa học cụ thể đều có phạm trù riêng của mình Phạm trù triết học khác phạm trù
của các khoa học cụ thể ở chỗ nó là những khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất của toàn bộ thế giới hiện thực Trong các
phạm trù cơ bản của triết học thì phạm trù vật chất và ý thức là phạm trù cơ bản nhất
I/ Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất
1.1 Phạm trù vật chất
Phạm trù vật chất là một trong những phạm trù cơ bản nền tảng của chủ nghĩa duy vật
Nó chứa đựng nội dung thế giới quan và phương pháp luận rất khái quát và sâu sắc Các triếtthuyết duy vật trước Mác, tuy siêu hình nhưng vật chất luôn được coi là thực thể, cơ sở đầu tiên,bất biến của các sự vật và hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan Nó có ý nghĩa to lớntrong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm và các biến tướng của nó
Do đặc điểm lịch sử mà thời C.Mác, Ph.Ăng-ghen hai ông không định nghĩa vật chất.Trước yêu cầu của lịch sử mới, trên cơ sử phân tích một cách sâu sắc cuộc cách mạng trong khoahọc tự nhiên và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm cùng các biến thể của nó mà đặc biệt là đấutranh trực tiếp chống chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, Lênin đã nêu ra một định nghĩa toàn diện,
sâu sắc và khoa học về phạm trù vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học, dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” 3
Trong định nghĩa này, Lênin đã phân tích rõ: Không thể hiểu vật chất như các khái niệmvật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống thường ngày, mà phảihiểu vật chất với tư cách là một phạm trù triết học, tức phạm trù rộng nhất và khái quát nhất củathế giới
“Tính thực tại khách quan và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” là dấu hiệu cơ bản,bản chất để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất
Lênin cũng đã khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thứcbằng cách chỉ ra thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, nó tồn tạikhông lệ thuộc vào cảm giác
Lênin cũng khẳng định con người có khả năng nhận thức thế giới, bởi thực tại kháchquan biểu hiện thông qua các dạng cụ thể, mà con người bằng cảm giác có thể chụp lại, chép lại
và phản ánh Vật chất như vậy là nguồn gốc, nội dung khách quan của ý thức
Bằng cách định nghĩa đặc biệt, định nghĩa vật chất thông qua quan hệ với cảm giác,Lênin đã không tách rời vật chất với ý thức mà đặt chúng trong mối quan hệ quy định ràng buộclẫn nhau
Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin đã giải quyết được vấn đề cơ bản của triết họctrên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng Nó chống lại các quan niệm duy tâm về phạmtrù vật chất; Đấu tranh khắc phục triệt để tính trực quan, siêu hình, máy móc cùng các biến tướngcủa nó trong quan niệm về vật chất của các nhà khoa học tự nhiên và triết gia tư sản hiện đại;
3 V.I Lênin toàn tập, Tập 18, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mat-xcơ-va 1980, Trang 151.
13
Trang 14Định nghĩa vật chât của Lênin khẳng định thế giới này chỉ duy nhất là thế giới vật chất, vật chất
là vô cùng, vô tận, vận động và phát triển không ngừng đã cổ vũ, khích lệ các nhà khoa học đisâu nghiên cứu thế giới vật chất để ngày càng tìm ra nhiều dạng mới, thuộc tính mới của vậtchất
1.2 Vật chất và vận động
Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất là bao gồm mọi sự biến đổi nói chung của vật chất,
nó bao gồm mọi thay đổi trong vũ trụ, kể từ những sự thay đổi vị trí đơn giản đến tư duy Vậnđộng là phương thức tồn tại của vật chất Ăng-ghen nói: ”Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất,tức được hiểu là phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì baogồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kê từ sự thay đổi vị trí đơn giảncho đến tư duy”4
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất
Vật chất tồn tại bằng vận động, thông qua vận động để biểu hiện sự tồn tại của mình.Không có vật chất không vận động, cũng như không có vận động nào không là vận động của vậtchất
Vận động của vật chất là khách quan Mọi vận động đều có nguyên nhân tự thân của nó
là sự tác động qua lại giữa các mặt, các yếu tố, các quá trình ngay bên trong bản thân sự vật
Do vậy, các dạng vật chất chỉ được nhận thức thông qua vận động của chúng Một vật thể nào đó
mà không vận động thì không có gì để nói cả
Vật chất không do ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu diệt Vận động là thuộc tính cố hữucủa vật chất nên vận động cũng không do ai sáng tạo ra và cũng không thể bị tiêu diệt
Các hình thức của vận động
Cho đến nay loài người đã biết đến năm dạng vận động cơ bản của vật chất là: Vận động
cơ học, tức sự thay đổi vị trí của các vật thể trong không gian
Vận động vật lý, bao gồm trong đó cả vận động cơ học, nhưng đặc trưng của nó là vậnđộng của các hạt cơ bản, của các quá trình nhiệt, điện, quang, từ, trường v.v
Vận động hóa học, bao gồm trong đó cả vận động vật lý, nhưng đặc trưng của nó là vậnđộng của các nguyên tử, là vận động phân giải và hóa hợp của các chất
Vận động sinh học, bao gồm cả vận động hóa học nhưng đặc trưng là vận động của cơthể sống, là sự trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường
Vận động xã hội, bao gồm trong nó cả vận động sinh học, nhưng đặc trưng của nó là vậnđộng biến đổi xã hội, là sự thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội
Tuy có sự khác nhau về chất, nhưng giữa các hình thức vận động luôn có sự liên hệ, tácđộng, chuyển hóa qua lại lẫn nhau Sự phân biệt khác nhau giữa các hình thức vận động là nhờhình thức vận động đặc trưng nhất của nó
Vận động và đứng im
Thế giới vật chất không chỉ ở trong quá trình vận động Triết học Mác -Lênin chỉ ra vậnđộng của vật chất là tuyệt đối, nhưng cũng thừa nhận tính đứng im tương đối và tạm thời của vậtchất Chính nhờ sự đứng im tương đối và tạm thời của vật chất mà thế giới vật chất được phânhóa thành các sự vật hiện tượng phong phú và đa dạng Nói đứng im tương đối vì vật chất chỉđứng im trong một mối liên hệ nhất định và vận động trong những mối liên hệ khác Nói vật chấtđứng im tạm thời vì nó chỉ đứng im trong một thời gian nhất định khi nó chưa tích lũy đủ vềlượng Như vậy, đứng im tương đối và tạm thời của vật chất là sự vận động trong thăng bằng, là
sự đứng im có điều kiện
1.3 Không gian và thời gian
4 Ph Ăng-ghen : Biện chứng của tự nhiên - Nxb Sự thật - Hà Nội 1974 - Tr 92
14
Trang 15Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính chung vốn cócủa mọi dạng vật chất
Không gian là hình thức tồn tại của vật chất biểu hiện những thuộc tính như cùng tồn tại
và tách biệt, có kết cấu quãng tính Không gian của vật chất có ba chiều và cả ba chiều đều vôtận Không gian của vật thể là hữu hạn
Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất biểu hiện những thuộc tính độ lâu của sự pháttriển, trình tự xuất hiện và mất đi của các sự vật, các trạng thái khác nhau của thế giới vật chất.Thời gian của vật chất chỉ có một chiều từ quá khứ đên hiện tại, đến tương lai và thời gian củavật chất cũng là vô tận Thời gian của mọi vật thể là hữu hạn
Lênin nói: “Thế giới không có gì khác ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vậnđộng không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian”5
1.4 Tính thống nhất của thế giới
Thế giới thống nhất ở tính vật chất, nó biểu hiện: vật chất là cơ sở thực thể duy nhất, phổbiến, tồn tại vĩnh viễn và vô tận ở tất cả các hình thức đa dạng phong phú của thê giới; Mọi sựliên hệ, tác động qua lại giữa các yếu tố dẫn đến sự vận động và phát triển của vạn vật chính do
sự thống nhất vật chất của thế giới Vật chất cũng như các dạng cụ thể của vật chất chỉ tồn tại vàvận động trong không gian và thời gian Nguyên tắc thống nhất tính vật chất của thế giới gắn liềnvới nguyên tắc vận động và phát triển
Mọi dạng vật chất đều phản ánh, nhưng chỉ phản ánh ở bộ óc người mới là ý thức Ocngười là dạng vật chất có tổ chức cao nhất, nó có cấu tạo từ 15 tỷ đên 17 tỷ nơron thần kinh Ýthức không tách rời khỏi sự hoạt động của bộ não người Ý thức phản ánh thế giới khách quan,nhưng diễn ra trong quá trình hoạt động thần kinh của bộ não người Trẻ sơ sinh chưa có ý thức.Người bị điên, bị bệnh đao nặng là không có ý thức
bộ não người được hình thành, phát triển ngày càng hoàn thiện Qua đó mà tư duy của con ngườicũng ngày càng phát triển, hoàn thiện
Lao động, mà trước hết là lao động sản xuất là hình thức cơ bản đầu tiên của hoạt độngthực tiễn mang tính lịch sử - xã hội của con người, nó cũng là cơ sở của việc hình thành và pháttriển ngôn ngữ Ngôn ngữ hình thành và phát triên bắt nguồn từ lao động và phát triển cùng lao
5 Lênin toàn tập (bản tiếng Việt) - Tập 18 - Nxb tiến bộ, Matxcơva - Tr 209
15
Trang 16động, lúc đầu là nhu cầu cần thông báo cho nhau những thông tin gì đó Về sau ngôn ngữ trởthành phương tiện lưu giữ, truyền tải thông tin từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngôn ngữ là hệthống tín hiệu thứ hai, là cái vỏ vật chất của tư duy, vừa là phương tiện để con người giao tiếp,đồng thời là phương tiện để con người tổng kết các hoạt động thực tiên giữa các thế hệ ngườitrong lịch sử
Ăng-ghen nói: ”Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ, đó là hai sức kíchthích chủ yếu của sự chuyển biến bộ não của loài vật thành bộ não của con người, tâm lý độngvật thành ý thức”6
Phản ánh tâm lý động vật cũng là phản ánh thế giới khách quan nhưng là sự phản ánh bảnnăng Phản ánh ý thức ngay từ đầu đã do nhu cầu cải biến thế giới theo mục đích của con ngườithông qua hoạt động thực tiễn, vì thế nó mang bản chất sáng tạo Sáng tạo của ý thức nằm trongkhuôn khổ của quy luật phản ánh Phản ánh và sáng tạo là hai mặt của một quá trình đồng thờixảy ra trong bộ não người
Từ nguồn gốc xã hội, thì ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan một cách chủ động vàtích cực Con người thông qua hoạt động thực tiễn có mục đích, tác động vào thế giới kháchquan buộc chúng phải bộc lộ những đặc tính, kết cấu và quy luật vận động để phản ánh và nhậnthức Khi đã nhận thức được bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng thì con người vậndụng tri thức đó vào cải biến thế giới khách quan vì mục đích và nhu cầu của con người Ý thứcnhư thế là mang bản chất xã hội
Tóm lại: Bản chất của ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn Nói cách khác, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan được sáng tạo trong bộ óc người thông qua hoạt động thực tiễn.
III Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
3.1 Tính quyết định của vật chất đối với ý thức
Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức Trong đời sống xã hội, điều
đó được biểu hiện là tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Tính quyết định đó được biểu hiện ởvật chất là nguồn gốc, động lực, mục đích và là tiêu chuẩn, thước đo kiểm tra tính chân lý của ýthức
Nhưng nếu chỉ thấy tính quyết định của vật chất mà không thấy vai trò của ý thức thì sẽmắc phải những sai lầm của chủ nghĩa duy vật siêu hình
3.2 Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất theo hai hướng: Khi ý thức phản ánh đúng,phản ánh một cách khoa học những quy luật khách quan của sự vận động khách quan của vậtchất, thì ý thức có tác dụng tích cực là một động lực của sự vận động và phát triển của vật chất.Ngược lại, nếu ý thức phản ánh sai, phản ánh xuyên tạc những quy luật khách quan của sự vậnđộng khách quan của vật chất, thì ý thức có tác dụng tiêu cực làm cản trở hoặc phá vỡ sự vậnđộng và phát triển của vật chất
Trong đời sống hiện thực, ý thức muốn tác động trở lại đối với đời sống vật chất thì phảichính bằng lực lượng vật chất, tức phải thâm nhập vào con người, được con người tổ chức thực
6 Ph Ăng-ghen: Biện chứng của tự nhiên - Nxb Sự thật - Hà Nội 1974 - Tr 257.
16
Trang 17hiện trong thực tiễn Mác nói: “Vũ khí của sự phê phán không thể thay thế được sự phê phánbằng vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luậncũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”7 Lênin cũng chỉ ra:
“Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”8
Nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức sẽ tránh cho chúng ta nhữngcăn bệnh chủ quan duy ý chí trong hoạt động thực tiễn, chống thái độ trông chờ, ỷ lại vào điềukiện vật chất, không phát huy sức mạnh của trí tuệ tinh thần con người trong quá trình cải biếnthế giới
BÀI 2: CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Phép biện chứng ra đời từ thời cổ đại Trong lịch sử triết học đã có ba hình thức cơ bản vềphép biện chứng: Phép biện chứng ngây thơ, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ gữa thế giới quan duy vật và phươngpháp luận biện chứng, bao hàm nội dung hết sức phong phú bởi đối tượng phản ánh của nó là thếgiới vật chất vô cùng vô tận Trong đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự pháttriển có ý nghĩa khái quát nhất Ph.Ăngghen viết: “Phép biện chứng là môn khoa học về nhữngquy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tưduy”9
Nguyên lý có ý nghĩa như các tiên đề trong các khoa học cụ thể Nó là cái không phảichứng minh mà phải chấp nhận và tuân thủ nghiêm nghặt nó Nếu không tuân thủ sẽ dẫn đến sailầm cả trong nhận thức lẫn hành động
I NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
1 Nội dung của nguyên lý
Tất cả mọi sự vật hiện tượng cũng như thế giới, bao giờ cũng tồn tại trong mối liên hệphổ biến quy định ràng buộc lẫn nhau, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại cô lập, riêng lẻ,không liên hệ
2 Phân tích nội dung của nguyên lý
Quan niệm của các nhà triết học duy tâm nếu có thừa nhận có mối liên hệ, thì mối liên hệ
đó do các đấng siêu nhiên hoặc do ý thức quyết định
Quan niệm của các nhà triết học duy vật siêu hình coi sự vật, hiện tượng tồn tại tách rờinhau, nếu có mối liên hệ thì là những mối liên hệ ngẫu nhiên, hoặc không xét hết các khía cạnhcủa mối liên hệ
Phép biện chứng duy vật quan niệm các sự vật hiện tượng trong thế giới dù muôn hìnhmuôn vẻ nhưng không tồn tại cô lập tách biệt mà chúng là một thể thống nhất, tác động lẫn nhau,ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hóa lẫn nhau
Mối liên hệ này diễn ra trên mọi lĩnh vực, trên mọi quan hệ giữa các yếu tố, các thuộctính, các quá trình làm nên bản thân sự vật hiện tượng và giữa các sự vật hiện tượng với nhau.Mối liên hệ này là khách quan, nó bắt nguồn từ tính thống nhất của thế giới
Thế giới là phong phú, đa dạng và nhiều vẻ, vì thế mọi sự phân loại mối liên hệ đều chỉ
có ý nghĩa tương đối, vì một mối liên hệ nào đó cụ thể thì chỉ là một hình thức, một bộ phận, mộtmắt khâu của mối liên hệ phổ biến nói chung Tuy nhiên, sự phân loại mối liên hệ là cần thiếttrong việc quy định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng không giống nhau.Ph.Ăngghen viết: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”10
7 C Mác - Ph Ăng-ghen toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 1995 - Tập 1 - Tr 580
8 V.I Lênin toàn tập (bản tiếng Việt) - Tập 6 - Nxb Tiến bộ - Mátxcơva 1975 - Tr 30.
9 C Mác - Ph Ăng-ghen toàn tập - Nxb CTQG - Hà Nội 1994 - Tập 20 - Tr 201.
10 Ph Ăng-ghen - Biện chứng của tự nhiên - Nxb Sự thật - Hà Nội 1963 - Tr 32.
17
Trang 183 Ý nghĩa phương pháp luận
Nắm vững nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, trong nhận thức cũng như trong hành độngthực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện khi xem xét đánh giá sự vật hiện tượng và thế giới,nhất là các vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội Khi số mối liên hệ được xét đến càng nhiều thì kết luận
về sự vật hiện tượng càng chính xác
II NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
1 Nội dung của nguyên lý
Tất cả mọi sự vật, hiện tượng cũng như thế giới trong quá trình vận động của mình, dù cóchấp nhận những bước lùi nhưng cuối cùng vẫn đạt được sự phát triển Không có sự vật hiệntượng nào là không phát triển
2 Phân tích nội dung nguyên lý
Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến gắn liền với nguyên lý
về sự phát triển Hai nguyên lý này thống nhất với nhau bởi liên hệ là vận động, không vận độngkhông có sự phát triển nào cả
Khái niệm vận động là chỉ mọi biến đổi nói chung Khái niệm phát triển là chỉ những vậnđộng đi lên, cái mới ra đời cao hơn, tiến bộ hơn cái cũ Sự phát triển diễn ra theo nhiều chiềuhướng, đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện
Sự phát triển và đổi mới là hiện tượng khách quan diễn ra không ngừng trong vũ trụ Nódiễn ra trên mọi lĩnh vực và trên mọi mối liên hệ Nguồn gốc của phát triển là sự đấu tranh vàthống nhất giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật hiện tượng Sự phát triển khôngphải bao giờ cũng diễn ra thẳng tắp, xét từng sự vật hiện tượng cụ thể, riêng lẻ thì có những vậnđộng tuần hoàn, đi lên hoặc đi xuống, nhưng xét trong quá trình dài và phạm vi rộng thì vậnđộng đi lên là khuynh hướng thống trị
Quan điểm biện chứng xem xét thế giới như là một quá trình tiến lên thông qua nhữngbước nhảy vọt, cái cũ mất đi cái mới ra đời, sự đấu tranh của các mặt đối lập ngay trong bản thân
sự vật hiện tượng là nguồn gốc của sự phát triển Lênin nói: “Lôgích biện chứng đòi hỏi phảixem xét sự vật trong sự phát triển, trong sự vận động, trong sự biến đổi của nó”11
Đối lập với phép biện chứng, quan điểm duy tâm nếu thừa nhận có sự phát triển thì sựphát triển đó bị lệ thuộc bởi các đấng siêu nhiên hoặc do ý thức quyết định Các quan điểm siêuhình lại hoặc phủ nhận phát triển tuyệt đối hóa tính ổn định của sự vật hiện tượng, hoặc xem sựphát triển chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về lượng, hoặc sự lặp đi lặp lại đơn thuần về chất
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Nắm vững nguyên lý về sự phát triển cần có quan điểm phát triển khi xem xét đánh giá
sự vật hiện tượng, phải ủng hộ cái mới, khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, nhìn nhận sự vật hiệntượng một cách trực quan tĩnh tại
Nắm vững hai nguyên lý đòi hỏi phải có quan điểm toàn diện khi xem xét đánh giá sự vậthiện tượng, đồng thời với việc đặt sự vật trong nhiều mối liên hệ thì cũng phải có quan điểm lịch
sử cụ thể, quan điểm phát triển trong đánh giá xem xét
BÀI 3: CÁC CẶP PHẠM TRÙ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1 Cặp phạm trù cái Riêng - cái Chung
1.1 Các khái niệm
a) Cái Riêng: Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng hoặc
một quá trình riêng lẻ nhất định Chẳng hạn: một người, một ngôi sao, một con sông, một lớphọc
11 V.I Lênin toàn tập (bản tiếng Việt) - Tập 29 - Nxb Tiến bộ Mátxcơva 1980 - Tr 364.
18
Trang 19b) Cái Chung: Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc
tính, những mối liên hệ giống nhau ở nhiều sự vật hiện tượng hay quá trình riêng lẻ Chẳng hạnvận động, mâu thuẫn, đồng hóa, dị hóa, hô hấp
c) Cái đơn nhất (Đặc thù): Cái đơn nhất là phạm trù triết học dùng để chỉ những nét,
những mặt, những đặc điểm chỉ có ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sựvật, hiện tượng khác
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
Phái duy thực quan niệm cái chung tồn tại độc lập không phụ thuộc vào cái riêng và sinh
ra cái riêng Cái chung tồn tại vĩnh viễn không biến đổi còn cái riêng chỉ tồn tại tạm thời và mất
đi (tiêu biểu là Platôn) Ngược lại phái duy danh lại cho rằng chỉ cái riêng tồn tại thực sự, còn cáichung chỉ là tên gọi do lý trí đặt ra chứ không phản ánh một cái gì hiện thực
Quan niệm của phép biện chứng duy vật cho rằng: Cái riêng và cái chung tồn tại mộtcách khách quan và luôn quan hệ lẫn nhau Không có riêng, chung tồn tại thuần túy không liênhệ
Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện Cái riêng chỉ tồntại trong mối liên hệ với cái chung Chẳng hạn, vận động chỉ biểu hiện thông qua các hình thứcvận động cụ thể Trong sản xuất, bất cứ nước nào cũng phải tuân thủ quy luật quan hệ sản xuấtphải luôn luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Cái riêng là cái toàn thể phong phú hơn cái chung, vì ngoài những mặt những thuộctính gia nhập vào cái chung, nó còn những cái đơn nhất Cái chung là cái bộ phận nhưng sâusắc, bản chất hơn cái riêng Bởi nó phản ánh những mặt những thuộc tính, những mối liên hệ bêntrong, tất nhiên, ổn định, phổ biến tồn tại trong cái riêng cùng loại Cái chung bởi thế thường gắnvới bản chất quy định phương hướng tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng
Cái đơn nhất và cái chung là những phạm trù cùng loại nên trong những mối liên hệ nhấtđịnh chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau Sở dĩ có điều này là do trong hiện thực, cái mới khôngbao giờ xuất hiện đầy đủ ngay một lúc, mà xuất hiện ở dạng cá biệt, đơn nhất rồi theo quy luậtphát triển, hoàn thiện thành cái chung Trong khi đó cái cũ từ là cái chung ngày càng biến dầnthành cái đơn nhất
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, cần phải biết phát hiện cái chung vàvận dụng cái chung để cải tạo cái riêng Nhưng muốn phát hiện cái chung phải xuất phát từnhững cái riêng cụ thể
Khi vận dụng cái chung vào cái riêng, phải biết cá biệt hóa cái chung cho phù hợp vớinhững đặc điểm của cái riêng Không áp đặt một cách nguyên xi cái chung cho mọi cái riêng
Cần biết tạo điều kiện thuận lợi cho những cái đơn nhất có lợi chuyển hóa thành cáichung, ngược lại phải tạo điều kiện cho những cái chung lỗi thời không là điều mong muốn của
ta biến thành cái đơn nhất
Trong thực tiễn, khi vận dụng cặp phạm trù cái riêng và cái chung nếu tuyệt đối hóa vaitrò của cái chung mà hạ thấp vai trò của cái riêng sẽ dẫn đến chủ nghĩa giáo điều, rập khuôn,máy móc (hữu khuynh) Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của cái riêng mà hạ thấp vai trò củacái chung sẽ dẫn đến tư tưởng địa phương chủ nghĩa, tập thể phường hội, chủ nghĩa cá nhân (tảkhuynh)
2 Cặp phạm trù Nguyên nhân - Kết quả
2.1 Các khái niệm
19
Trang 20Nguyên nhân là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt, các yếu
tố trong sự vật, hiện tượng hay giữa sự vật, hiện tượng với nhau gây ra một sự biến đổi nhấtđịnh
Kết quả là phạm trù triết học dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn
nhau của các mặt, các yếu tố trong một sự vật hiện tượng hay giữa các sự vật hiện tượng vớinhau
Ví dụ: Sự tự quay xung quanh mình và quay xung quanh mặt trời của quả đất là nguyênnhân dẫn đến kết quả có ngày, đêm, bốn mùa
Nguyên nhân khác với nguyên cớ và điều kiện: Nguyên cớ là khái niệm dùng để chỉ
những gì xảy ra trước kết quả, không sinh ra kết quả, có liên quan không bản chất với kết quả và
nằm ngoài sự vật, hiện tượng Điều kiện là khái niệm dùng để chỉ sự tổng hợp những hiện tượng
không phụ thuộc vào nguyên nhân, không tham gia vào kết quả, nhưng để có kết quả thì khôngthể thiếu nó
Mối quan hệ nhân - quả là khách quan của bản thân sự vật, hiện tượng Nó tồn tại không
lệ thuộc vào ý muốn của con người Nhân - quả là cái vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng vìthế nó cũng không thể đồng nhất với khả năng tiên đoán Ngược lại, Chủ nghĩa duy tâm lại chorằng nó bị lực lượng siêu nhiên, hoặc ý thức của con người quyết định (Công giáo, Hium)
Mối quan hệ nhân - quả là phổ biến trong tồn tại của sự vật, hiện tượng và thế giới(nguyên tắc quyết định luận) Chủ nghĩa duy tâm hiện đang phủ nhận nguyên tắc này và thay thếvào đó nguyên tắc vô định luận, cho rằng có hiện tượng không có nguyên nhân Đây là vấn đềđang được tranh luận sôi nổi trong các hiện tượng vi mô
Mối quan hệ nhân - quả là một tất yếu Tức có những kết quả muốn ra đời phải có nhữngđiều kiện nhất định (hoàn cảnh) Nhưng trong những hoàn cảnh nhất định, với một nguyên nhânnhất định chỉ có thể gây ra kết quả nhất định Chẳng hạn vật trong chân không luôn rơi ở vận tốc9,8m/s2 Nước ở áp suất 1 átmốtphe luôn sôi ở nhiệt độ 1000C v.v Tính tất yếu của quan hệ nhân
- quả cần được hiểu: Nếu nguyên nhân và hoàn cảnh càng ít khác nhau bao nhiêu thì các kết quả
do nguyên nhân gây nên càng ít khác nhau bấy nhiêu
2.2 Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả Nguyên nhân luôn là cái có trước kết quả, sản sinh
ra trước kết quả Kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện và bắt đầu tác động.Nhưng mối quan hệ nhân - quả phải bao gồm đồng thời cả hai quan hệ thứ tự và sản sinh Mốiquan hệ liên tục về thời gian mà thiếu quan hệ sản sinh như ngày - đêm và bốn mùa không làquan hệ nhân- quả S = π.R2 là công thức tính diện tích hình tròn nhưng giữa S và R không làquan hệ nhân - quả
Một nguyên nhân có thể gây ra nhiều kết quả khác nhau tùy thuộc hoàn cảnh, cũng nhưmột kết quả có thể được gây nên từ nhiều nguyên nhân khác nhau Nếu các nguyên nhân tácđộng lên sự vật, hiện tượng theo cùng một hướng chúng sẽ cùng gây nên ảnh hưởng cùng chiềuvới sự hình thành kết quả Ngược lại, nếu các nguyên nhân tác động lên sự vật, hiện tượng theocác hướng khác nhau thì chúng sẽ làm suy yếu lẫn nhau, thậm chí hoàn toàn triệt tiêu tác dụngcủa nhau
Căn cứ vào tính chất và vai trò của nguyên nhân đối với sự hình thành kết quả, có thể
phân chia nguyên nhân thành các loại sau: Nguyên nhân chủ yếu là những nguyên nhân mà thiếu
nó thì không thể xảy ra kết quả Nguyên nhân thứ yếu là những nguyên nhân mà sự có mặt của
2 Số này đọc là giây.
0
2 Số này đọc là bình phương
20
Trang 21nó chỉ quyết định những đặc điểm nhất thời, không ổn định, cá biệt của sự vật, hiện tượng.
Nguyên nhân bên trong là sự tác động lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố của cùng một sự vật,
hiện tượng gây ra những biến đổi nhất định Nguyên nhân bên trong bao giờ cũng quyết định sự
hình thành, tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Nguyên nhân bên ngoài là sự tác động lẫn
nhau giữa những sự vật, hiện tượng khác nhau gây nên những biến đổi thích hợp trong những sựvật, hiện tượng ấy Nguyên nhân bên ngoài chỉ phát huy tác dụng của mình thông qua những
nguyên nhân bên trong Nguyên nhân khách quan là những nguyên nhân xuất hiện và tác động độc lập với ý thức của con người Nguyên nhân chủ quan là những nguyên nhân xuất hiện và tác
động phụ thuộc vào ý thức của con người Nếu hoạt động của con người phù hợp với quan hệnhân - quả khách quan thì sẽ đẩy nhanh sự biến đổi của các sự vật, hiện tượng và thế giới Ngượclại, nếu hoạt động của con người không phù hợp với nguyên nhân khách quan thì nó kìm hãm sựbiến đổi ấy
- Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả không thụ động đối với nguyên nhân mà nó
có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với nguyên nhân Chẳng hạn, khi nhấn một khối gỗ vàomột chậu nước đầy sẽ làm cho nước trong chậu tràn ra Đến lượt nó, chính do nước tràn ra ngoài
mà lực đẩy của nó đối với khối gỗ bị giảm đi
- Trong chuỗi vô tận của thế giới vật chất, không có nguyên nhân nào được xem lànguyên nhân đầu tiên, cũng như không có kết quả nào được xem là kết quả cuối cùng Tuy nhiên,nguyên nhân và kết quả là những khái niệm có ý nghĩa tương đối Nó đúng khi được áp dụng vàomột trường hợp riêng biệt nhất định Nói chung một hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này lànguyên nhân thì trong mối quan hệ khác có thể là kết quả và ngược lại Một hiện tượng nào đóđược coi là nguyên nhân hay kết quả bao giờ cũng ở trong những mối quan hệ xác định, cụ thể
2.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, tồn tại và tiêu vong của nó Mốiquan hệ nhân - quả là khách quan nên chỉ có thể tìm nguyên nhân của sự vật, hiện tượng trongchính thế giới sự vật, hiện tượng chứ không thể tìm ở ngoài nó
Phải tìm nguyên nhân của sự vật, hiện tượng trong những mặt, những yếu tố, những mốiliên hệ đã xảy ra trước sự xuất hiện của sự vật, hiện tượng
Cần phải biết phân loại các loại nguyên nhân, phân tích tỷ mỷ và thận trọng từng nguyênnhân để có biện pháp xử lý đúng đắn Khi muốn loại bỏ một sự vật, hiện tượng nào đó thì phảiloại bỏ nguyên nhân sinh ra nó Muốn cho sự vật, hiện tượng xuất hiện cần tạo ra những nguyênnhân và các điều kiện để nguyên nhân sinh ra nó phát huy tác dụng Khi sử dụng nguyên nhântác động cho sự vật, hiện tượng xuất hiện cần tập trung trước hết vào các nguyên nhân chủ yếu
và nguyên nhân bên trong Trong lĩnh vực xã hội, khi muốn đẩy nhanh (kìm hãm hoặc loại trừ)
sự biến đổi của một hiện tượng xã hội nào đó cần phải làm cho nguyên nhân chủ quan tác độngcùng chiều (lệch hoặc ngược chiều) với sự vận động của mối quan hệ nhân - quả khách quan
Kết quả không tồn tại một cách thụ động trước nguyên nhân, cần phải biết khai thác vậndụng các kết quả đã đạt được để nâng cao nhận thức và tiếp tục thúc đẩy sự vật, hiện tượng pháttriển
3 Cặp phạm trù Nội dung - Hình thức
3.1 Các khái niệm
Nội dung là phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ tất cả những mặt, những yếu tố và
những quá trình do sự tác động lẫn nhau giữa chúng gây nên trong các sự vật, hiện tượng
Hình thức là phạm trù triết học dùng để chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật,
hiện tượng, là cách thức tổ chức, là kết cấu của nội dung
21
Trang 22Ví dụ: Con ngưòi xét về nội dung là toàn bộ những mặt, những quá trình diễn ra trong nónhư đồng hóa, dị hóa, hoạt động của hệ cơ, hệ thần kinh Xét về hình thức là kết cấu của cơ thể,cách thức tổ chức sắp xếp các bộ phận trong cơ thể Hoặc một cuốn sách thì xét về nội dung làcuốn sách đó nói lên điều gì, nêu lên những tư tưởng, những vấn đề nào của cuộc sống Xét vềhình thức là bố cục của tác phẩm, các hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ, phong cách và bút pháp
mà tác phẩm đã sử dụng để diễn đạt nội dung
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có hình thức bề ngoài của nó, nhưng hình thức màphép duy vật biện chứng nói đến trong cặp phạm trù này chủ yếu không là cái hình thức bênngoài ấy, mà là cái hình thức bên trong của sự vật, hiện tượng, tức là cơ cấu bên trong của nộidung
3.2 Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
Nội dung và hình thức bao giờ cũng là một thể thống nhất gắn bó nhau Không một hìnhthức nào không chứa đựng một nội dung nhất định Không có một nội dung nào lại không tồn tạitrong một hình thức nhất định Khi khẳng định như vậy không có nghĩa là nội dung bao giờ cũngchỉ được thể hiện trong một hình thức nhất định và một hình thức bao giờ cũng chỉ biểu hiện mộtnội dung nhất định Trong thực tế một nội dung có thể tồn tại trong nhiều hình thức, ngược lạimột hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung
Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức Sự vận động và phát triển của sự vật,hiện tượng bao giờ cũng bắt đầu từ nội dung Khi nội dung biến đổi thì hình thức của nó cũngbiến đổi theo cho phù hợp với nội dung, nhưng sự biến đổi của hình thức thường diễn ra chậmhơn
Chịu sự quyết định của nội dung, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối của nó Khihình thức phù hợp với nội dung thì nó mở đường và thúc đẩy nội dung phát triển Khi không phùhợp với nội dung, hình thức sẽ cản trở và kìm hãm sự phát triển của nội dung Ví dụ như mốiquan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất ở nước ta trong giai đoạn 1975 -
1986 và giai đoạn 1986 - nay
3.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn không được tách rời nội dung vớihình thức hoặc tuyệt đối hóa một trong hai mặt đó của sự vật, hiện tượng
Trong hoạt động thực tiễn cải biến xã hội cần phải biết sử dụng mọi hình thức có thể có(mới cũng như cũ) để phục vụ cho những nhiệm vụ cụ thể đạt hiệu quả cao Cần tránh hai tháicực: hoặc chỉ bám những hình thức cũ, chỉ muốn làm theo kiểu cũ sẽ dẫn đến bảo thủ, trì trệ;hoặc phủ nhận vai trò của cái cũ trong hoàn cảnh mới, thay đổi hình thức cũ một cách tùy tiện,không có căn cứ sẽ dẫn đến chủ quan, nóng vội
Khi xét đoán sự vật, hiện tượng cần căn cứ vào nội dung, cũng như muốn làm biến đổi sựvật, hiện tượng thì trước hết phải tác động để thay đổi nội dung của nó Đồng thời phải luôn theodõi, tạo điều kiện sao cho hình thức của sự vật, hiện tượng phù hợp hay không phù hợp cần thiếtvới nội dung đang biến đổi của nó nhằm thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển đó theo yêu cầucủa hoạt động thực tiễn
Hiện tượng là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những mối liên hệ biểu hiện ra
bên ngoài của một bản chất nhất định
22
Trang 23Ví dụ: Bản chất con người là tổng hợp tất cả các mối quan hệ (xã hội, sinh học, tâm lý)quy định những đặc điểm cơ bản chi phối mọi hành vi của con người Hiện tượng là tất cả nhữngmặt, những hành vi bộc lộ ra bên ngoài của con người
Như vậy, bản chất là mặt bên trong, tương đối ổn định của hiện thực khách quan Hiệntượng là mặt bên ngoài, luôn di động biến đổi, là hình thức biểu hiện của bản chất
Bản chất gắn bó chặt chẽ với cái chung Tuy nhiên không phải cái chung nào cũng là bảnchất Chỉ những cái chung tất yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật hiện tượng mới
là bản chất
Bản chất đồng thời là cái có tính quy luật, bởi nói đến bản chất là nói đến tổ hợp nhữngquy luật quyết định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Bản chất và quy luật lànhững phạm trù cùng bậc nhưng chúng không hoàn toàn đồng nhất nhau Quy luật là mối liên hệtất nhiên, phổ biến, lặp đi lặp lại và ổn định giữa các sự vật, hiện tượng và giữa các mặt củachúng Bản chất là tổng hợp các mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định ở trong sự vật, hiệntượng Bản chất như vậy là phạm trù rộng hơn, phong phú hơn quy luật
4.2 Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
Khác với chủ nghĩa duy tâm, phép biện chứng duy vật khẳng định, bản chất và hiệntượng là tồn tại khách quan Chủ nghĩa duy tâm cho rằng bản chất không tồn tại hiện thực, cònhiện tượng dù có tồn tại hiện thực thì chỉ là những phức hợp của cảm giác, chỉ tồn tại trong conngười Người duy tâm khách quan nếu thừa nhận có bản chất tồn tại thì đó là cái tinh thần thuầntúy
Bản chất và hiện tượng không những tồn tại khách quan mà còn luôn ở trong mối quan hệhữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau Mỗi sự vật hiện tượng đều là cái thống nhất giữa bản chất vàhiện tượng: Bản chất bao giờ cũng bộc lộ qua hiện tượng, hiện tượng bao giờ cũng là sự bộc lộcủa bản chất; Không có bản chất và hiện tượng tồn tại thuần túy không quan hệ nhau; Bất kỳ bảnchất nào cũng bộc lộ qua những hiện tượng tương ứng, bất kỳ hiện tượng nào cũng là bộc lộ củabản chất ở những mức độ nào đó, tức về nguyên tắc hiện tượng luôn phù hợp với bản chất vàngược lại Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng cũng thay đổi, khi bản chất mất đi thì hiện tượngcũng mất đi
Ngoài tính thống nhất ấy, giữa bản chất và hiện tượng cũng có tính mâu thuẫn: Bản chất
là cái bên trong, hiện tượng là cái bên ngoài; Bản chất là cái tương đối ổn định, hiện tượng là cáilinh hoạt luôn biến đổi; Trên thực tế không phải bao giờ cũng có sự phù hợp tuyệt đối giữa bảnchất với hiện tượng; Bản chất là cái biến đổi chậm, hiện tượng là cái biến đổi nhanh; Bản chất làcái sâu sắc, hiện tượng là cái phong phú hơn
4.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Vì bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định ở bên trong bản thân sự vật, hiện tượng,quy định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng, còn hiện tượng là cái biểu hiện bênngoài, không ổn định của sự vật, hiện tượng, nên khi nhận thức sự vật, hiện tượng không đượcdừng lại ở hiện tượng mà phải đi sâu vào bản chất, nắm được bản chất và vạch ra được bản chấtcủa sự vật, hiện tượng
Vì bản chất và hiện tượng tồn tại khách quan nên không tìm bản chất ở ngoài sự vật, hiệntượng cũng như không tìm nó ngoài thế giới hiện thực, mà tìm và phát hiện bản chất ngay trongbản thân sự vật, hiện tượng
Vì bản bản chất và hiện tượng về nguyên tắc là thống nhất nên muốn phát hiện bản chấtphải nghiên cứu, phân tích hiện tượng một cách cặn kẽ, khoa học, loại bỏ các hiện tượng giả đểhiểu đúng bản chất của sự vật, hiện tượng
5 Cặp phạm trù Tất nhiên - Ngẫu nhiên
23
Trang 245.1 Các khái niệm
Tất nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái do bản chất, do những nguyên nhân bên
trong của sự vật, hiện tượng quyết định và trong những điều kiện nhất định nó phải xảy ra nhưchính nó chứ không thể khác
Ngẫu nhiên là phạm trù triết học dùng để chỉ cái không do bản chất và mối liên hệ bên
trong quyết định, mà do ngẫu hợp những hoàn cảnh bên ngoài quyết định Do đó, có thể xuấthiện hoặc không xuất hiện, có thể xuất hiện thế này cũng có thể xuất hiện thế khác
Bóc lột là tất nhiên trong quan hệ giữa tư bản và công nhân, nhưng bóc lột thông qua sảnxuất loại hàng hóa gì là do quyết định của nhà tư bản, là ngẫu nhiên
Cái chung và tất nhiên giống nhau ở chỗ chúng tương đối ổn định và mang tính bản chất.Nhưng cái chung và cái tất nhiên rất khác nhau: Cái chung chỉ là những thuộc tính giống nhau ởnhiều sự vật riêng lẻ Trong khi đó cái tất nhiên là cái được quyết định bởi bản chất nội tại, bởiquy luật bên trong của sự vật, hiện tượng Vì thế có cái chung là tất nhiên, cũng có cái chung làngẫu nhiên Chẳng hạn biết chế tạo công cụ và có ngôn ngữ là cái chung đồng thời là tất nhiêntrong quan hệ giữa người với người, nhưng những người cùng học một chuyên ngành, cùngtrong một khóa và cùng quê là cái chung ngẫu nhiên Như vậy tất nhiên là cái chung, nhưngkhông phải cái chung nào cũng là tất nhiên
Cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều có nguyên nhân của nó Nhưng tất nhiên gắn liền vớinguyên nhân cơ bản, nội tại của sự vật, hiện tượng; còn ngẫu là kết quả tác động của một sốnguyên nhân bên ngoài
Cả tất nhiên và cái ngẫu nhiên đều tuân thủ quy luật, nhưng chúng khác nhau ở chỗ tấtnhiên tuân thủ những quy luật mà trong đó mối quan hệ nhân - quả của nó là đơn trị (một nguyênnhân chỉ có một kết quả), còn ngẫu nhiên tuân theo những quy luật mà trong đó mối quan hệnhân - quả của nó là đa trị ( một nguyên nhân có nhiều kết quả)
Các nhà triết học duy tâm phủ nhận tính tất nhiên và chỉ thừa nhận có ngẫu nhiên trong tựnhên Các nhà xã hội học trước C.Mác phủ nhận cái tất nhiên trong lĩnh vực xã hội và coi lịch sửloài người là hỗn tạp những ngẫu nhiên và là kết quả của sự tùy tiện của con người Các nhà triếthọc duy vật trước C.Mác đại đa số thừa nhận sự tồn tại khách quan của tất nhiên nhưng khôngthống nhất trong thừa nhận tính khách quan của ngẫu nhiên, cũng có người cho rằng trong tựnhiên chỉ có ngẫu nhiên; Một số khác tuy thừa nhận tính khách quan của tất nhiên và ngẫu nhiênnhưng xem chúng là rời nhau, không liên hệ với nhau
5.2 Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ tất nhiên - ngẫu nhiên của sự vật, hiệntượng là tồn tại khách quan Cả hai đều có vai trò quan trọng của nó đối với sự vận động và pháttriển của sự vật, hiện tượng: Cái tất nhiên chi phối sự vận động và phát triển, cái ngẫu nhiên cóthể làm cho sự vận động và phát triển ấy diễn ra nhanh hơn hoặc chậm hơn
Tất nhiên và ngẫu nhiên không tồn tại một cách thuần túy và biệt lập, mà tồn tại trong sựthống nhất hữu cơ với nhau và là sự thống nhất của các mặt đối lập: Tất nhiên bao giờ cũng vạchcho mình đường đi xuyên qua vô số các ngẫu nhiên, ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của tấtnhiên đồng thời là cái bổ sung cho tất nhiên
Tất nhiên và ngẫu nhiên không tồn tại vĩnh viễn không thay đổi, mà ranh giới giữa chúngchỉ là tương đối: Trong những điều kiện nhất định chúng có thể chuyển hóa cho nhau; Cùng mộthiện tượng nhất định nhưng ở trong mối quan hệ này là tất nhiên, ở mối quan hệ khác là ngẫunhiên Dĩ nhiên, để ngẫu nhiên chuyển hóa thành tất nhiên bao giờ cũng kèm theo điều kiện
5.3 Ý nghĩa phương pháp luận
24
Trang 25Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn cần phải căn cứ vào cái tất nhiên màvạch phương hướng chứ không dựa vào ngẫu nhiên Tuy nhiên, không được bỏ qua ngẫu nhiên
mà phải có những phương án dự phòng cho các trường hợp cái ngẫu nhiên bất ngờ xuất hiện
Muốn nhận thức tất nhiên thì phải biết phát hiện nó thông qua các ngẫu nhiên, bởi lẽ cáitất nhiên luôn ẩn náu sau các ngẫu nhiên Đồng thời phải ngăn ngừa những ngẫu nhiên bất lợi, sửdụng các ngẫu nhiên có lợi cho hoạt động của con người
Biết tạo những điều kiện thuận lợi để các ngẫu nhiên có lợi chuyển hóa thành cái tấtnhiên và ngược lại Tuy nhiên, nếu thoát ly những điều kiện để chuyển hóa sẽ rơi vào chủ quan,duy ý chí
Cũng phải thấy rằng, không phải mọi cái chung đều là cái tất nhiên, nên việc phát hiện racái chung mới chỉ là một bước trên con đường đến cái tất nhiên mà thôi
6 Cặp phạm trù Khả năng - Hiện thực
6.1 Các khái niệm
Khả năng là phạm trù triết học dùng để chỉ cái hiện chưa có, chưa tới nhưng sẽ tới, sẽ có khi có các điều kiện thích hợp Hiện thực là phạm trù triết học dùng để chỉ những cái hiện đang
có, hiện đang tồn tại thật sự
Phạm trù vật chất chỉ bao gồm những gì tồn tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức Phạmtrù hiện thực bao gồm tất cả những gì đang tồn tại, tức bao gồm cả cái tồn tại khách quan (vậtchất), và cái tồn tại chủ quan (ý thức) Chính thế, khi cần thiết ta dùng hiện thực khách quan đểchỉ vật chất, hiện thực chủ quan để chỉ ý thức Lênin viết: “Cho rằng cả tư tưởng lẫn vật chất đều
là hiện thực, nghĩa là đều tồn tại, thì điều đó là đúng Nhưng gọi tư tưởng là có tính vật chất, thìtức là bước một bước sai lầm đến chỗ lẫn lộn chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm”12
Hiện thực như vậy khác với hiện thực lâu nay ta thường quan niệm là toàn bộ thực tạikhách quan đang vận động (tự nhiên và xã hội)
Không thể so sánh phạm trù vật chất và phạm trù hiện thực cái nào rộng hơn Bởi lẽ, cáccặp phạm trù vật chất - ý thức và khả năng - hiện thực phản ánh những mặt khác nhau của thếgiới chúng ta đang sống
Khả năng là một dạng tồn tại đặc biệt: Cái sự vật, hiện tượng nói đến trong khả năng làchưa tồn tại, nhưng bản thân khả năng thì tồn tại.Chẳng hạn ta đang là sinh viên thì ta là cán bộ
là chưa tồn tại nhưng khả năng xuất hiện ta là cán bộ thì đang tồn tại
Không được nhầm lẫn khả năng với hiện thực Khả năng là cái hiện chưa có, chưa tới.Hiện thực là cái hiện đã có, đã tới Tiền đề và điều kiện của một cái gì đó đều là những cái hiệnđang tồn tại thực sự (hiện thực) trên cơ sở đó xuất hiện cái mới, nó không phải là khả năng
Khả năng và ngẫu nhiên khá gần nhau nhưng là những phạm trù khác nhau Khả năng làcái hiện chưa có nhưng sẽ có, sẽ tới, sẽ xảy ra khi có điều kiện Nó là cái chỉ được thực hiện (chỉbiến thành hiện thực trong tương lai), là kết quả phát triển của một chuỗi nhân quả trực tiếp.Trong khi đó ngẫu nhiên là cái khi có điều kiện nó có thể xảy ra, có thể không xảy ra, khi xảy ra
nó có thể thế này cũng có thể thế khác Ngẫu nhiên là cái được thực hiện, nó không chỉ xảy ratrong tương lai mà xảy ra cả trong hiện tại, là kết quả ngẫu hợp của nhiều chuỗi nhân quả cóhướng khác nhau
Tất cả mọi khả năng đều tồn tại thực sự do hiện thực sinh ra, nó hình thành và lớn lên
trong lòng bản thân hiện thực Theo nghĩa đó, mọi khả năng đều là Khả năng thực tế Tuy nhiên,
có thể phân loại một số khả năng như sau: Khả năng thực tế là khả năng do mối liên hệ tất nhiên
quyết định, nó xuất hiện từ bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng và có điều kiện để trở thành
hiện thực Khả năng hình thức là khả năng do mối liên hệ ngẫu nhiên, do sự kết hợp của những
12 V.I Lênin toàn tập - Nxb Tiến bộ - Mátxcơva - 1980 - Tập 18 - Tr 300.
25
Trang 26hoàn cảnh bên ngoài quyết định và chưa có điều kiện cần thiết để trở thành hiện thực Khả năng tất nhiên là khả năng được gây nên bởi các tương tác tất nhiên của hiện thực Khả năng ngẫu nhiên là khả năng được gây nên bởi các tương tác ngẫu nhiên của hiện thực Khả năng gần là những khả năng đã hội đủ hoặc gần đủ những điều kiện cần thiết để biến thành hiện thực Khả năng xa là khả năng còn phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển quá độ nữa mới hội đủ điều kiện
để biến thành hiện thực Ngoài ra còn có khả năng chủ yếu, khả năng thứ yếu, khả năng chủ quan, khả năng khách quan
6.2 Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực
Khả năng và hiện thực luôn tồn tại trong mối quan hệ chăt chẽ với nhau, không tách rờinhau và luôn chuyển hóa cho nhau và trong thực tế quá trình phát triển chính là quá trình khảnăng biến thành hiện thực
Cùng trong một điều kiện nhất định, một sự vật hiện tượng không chỉ có một khả năng
mà có nhiều khả năng Ngoài số khả năng vốn có, khi có thêm những điều kiện mới sự vật hiệntượng còn xuất hiện thêm những khả năng mới Ngay mỗi khả năng vốn có của sự vật hiện tượngtrong những điều kiện nhất định nó có thể tăng lên hoặc giảm đi
Trong tự nhiên, khả năng biến thành hiện thực tuân thủ quy luật khách quan của tự nhiên.Trong xã hội, khả năng biến thành hiện thực phải thông qua hoạt động có ý thức của con người.Tuy nhiên, để một khả năng biến thành hiện thực không chỉ cần một điều kiện mà cần nhiều điềukiện Có thể phân các điều kiện thành ba loại:
- Điều kiện khách quan : khả năng biến thành hiện thực hoàn toàn bằng con đường tựnhiên, không có sự can thiệp của con người Điều này xảy ra trong các quá trình của vũ trụ và tựnhiên
- Điều kiện khách quan có sự tham gia của con người: khả năng biến thành hiện thực vừabằng con đường tự nhiên vừa có sự tham gia tác động của con người Chẳng hạn như trong laitạo giống
- Điều kiện chủ quan: khả năng biến thành hiện thực hoàn toàn phụ thuộc sự tham gia tácđộng của con người Chẳng hạn như chế tạo tàu vũ trụ, tạo ra những đối tượng lao động mới vàcác vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội
Trong quá trình phát triển, khả năng chuyển thành hiện thực, hiện thực đó vì quá trìnhphát triển nội tại của mình lại sản sinh ra những khả năng mới Quá trình cứ thế nối tiếp, đó làquá trình phát triển vô tận của thế giới Cùng một dấu hiệu, trong mối quan hệ này là hiện thựcnhưng ở mối quan hệ khác là khả năng Một hiện thực nào đó trong quá trình phát triển vì nhữngđiều kiện nhất định chỉ còn là khả năng
6.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn phải căn cứ vào hiện thực chứ không thểcăn cứ vào khả năng đế đánh giá tình hình Lênin nhiều lần nhấn mạnh; “Chủ nghĩa Mác căn cứvào những sự thật chứ không phải dựa vào những khả năng”, “Chủ nghĩa Mác dựa vào hiện thựcchứ không phải dựa vào khả năng để vạch đường lối của mình”13
Phải phán đoán đúng tính chất và xu hướng của khả năng có thể xảy ra để có thể đề rachủ trương, kế hoạch hành động cho đúng nhằm đạt hiệu quả cao trong hoạt động thực tiễn Tuynhiên, chỉ có thể tìm khả năng ngay trong chính bản thân sự vật, hiện tượng chứ không thể ở đâukhác Phải đặt sự vật, hiện tượng trong mối tương quan bên trong và bên ngoài mà ở trong đó sựvật, hiện tượng vận động và phát triển mà dự kiến các khả năng Không được nhầm lẫn giữa khảnăng với hiện thực cũng như tách rời giữa chúng với nhau
13 V.I Lêini toàn tập - Nxb Tiến bộ - Mátxcơva - 1978 - Tập 49 - Tr 432 và 472.
26
Trang 27Phải phát huy tối đa tính năng động chủ quan để biến khả năng thành hiện thực khi cầnthiết, tránh tư tưởng đợi chờ, thụ động, không tích cực phát huy khả năng chủ quan của mình.Trong phát hiện và tạo điều kiện cho các khả năng thành hiện thực cần chú ý:
- Cần xem xét hết mọi khả năng tốt cũng như xấu, tiến bộ cũng như lạc hậu của sự vật,hiện tượng và trên cơ sở đó mà có phương án hành động thích hợp cho mỗi trường hợp, tránhđược bị động trong hành động
- Nên tập trung chú ý trước hết ở các khả năng tất nhiên, khả năng gần
- Cần tạo điều kiện cần và đủ cho khả năng cần thiết biến thành hiện thực
- Trong lĩnh vực xã hội, tùy theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn cần tạo mọi điều kiệncần thiết để nhân tố chủ quan tham gia tích cực và quá trình biến đổi hoặc ngăn ngừa sự biến đổikhả năng thành hiện thực
BÀI 4: CÁC QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG
Quy luật là mối liên hệ bản chất, ổn định, phổ biến giữa các sự vật hiện tượng hoặc giữanhững mặt của mỗi sự vật hiện tượng
Tùy theo tính chất và phạm vi của chúng, quy luật có nhiều loại: Quy luật tự nhiên, quyluật xã hội, quy luật tư duy Có quy luật chi phối trong phạm vi rộng lớn, cũng có quy luật chỉ chiphối trong phạm vi hẹp Mỗi loại quy luật được một ngành khoa học nghiên cứu
Phép biện chứng duy vật là khoa học nghiên cứu về những quy luật chung nhất của sựvận động và phát triển của thê giới
I QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP
Quy luật này còn có tên gọi là quy luật đồng nhất, và gọi tắt là quy luật mâu thuẫn Đây
là quy luật cơ bản quan trọng nhất của phép biện chứng duy vật, nó vạch ra nguồn gốc động lựcbên trong của sự phát triển
1.1 Nội dung của quy luật
Tất cả mọi sự vật hiện tượng cũng như thế giới bao giờ cũng là một thể thống nhất củacác mâu thuẫn Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực bên trongcủa sự phát triển
1.2 Phân tích nội dung của quy luật
Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến của thế giới Mâu thuẫn là khái niệmchỉ sự liên hệ và tác động lẫn nhau của các mặt đối lập Các mặt đối lập có khuynh hướng pháttriển trái ngược nhau, cùng tồn tại trong một sự vật Mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến tồn tại bêntrong mỗi sự vật hiện tượng ở tất cả mọi lĩnh vực của thế giới
Trong mỗi sự vật hiện tượng không chỉ có một mâu thuẫn mà có nhiều mâu thuẫn và mỗimâu thuẫn đều có đặc trưng riêng, có vai trò riêng đối với sự vận động và phát triển Ph.Ăngghenviết: “Nếu bản thân sự di động một cách máy móc đơn giản đã chứa đựng mâu thuẫn, thì tấtnhiên những hình thức vận động cao hơn của vật chất và đặc biệt là sự sống hữu cơ lại càng phảichứa đựng mâu thuẫn như vậy Sự sống trước hết là ở chỗ một sinh vật trong mỗi lúc vừa là nónhưng lại vừa là cái khác.”14
Khái niệm mặt đối lập trong quy luật là khái quát những mặt, những thuộc tính, nhữngkhuynh hướng trái ngược nhau trong một chỉnh thể làm nên sự vật hiện tượng Mỗi mâu thuẫn ítnhất có hai mặt đối lập, nhưng không phải bất kỳ mặt đối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn Chỉnhững mặt đối lập cùng nằm trong một chỉnh thể có liên hệ khăng khít với nhau, tác động lẫnnhau mới tạo thành mâu thuẫn Mâu thuẫn mà quy luật nói đến là một chỉnh thể, trong đó hai mặtđối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau
14 Ph Ăng-ghen - Chống Đuy Rinh - Nxb Sự thật - Hà Nội 1975 - Tr 202.
27
Trang 28Khái niệm đấu tranh giữa các mặt đối lập có nghĩa là các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau,phủ định lẫn nhau Các mặt đối lập vẫn luôn có xu hướng phát triển trái ngược nhau, không thểnằm yên bên nhau nhưng tồn tại trong mối liên hệ quy định ràng buộc nhau.
Sự đấu tranh của các mặt đối lập là một quá trình phức tạp chia ra nhiều giai đoạn Khihai mặt đối lập mâu thuẫn xung đột gay gắt nếu có điều kiện chín muồi chúng sẽ chuyển hóa lẫnnhau, mâu thuẫn được giải quyết Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật hiện tượngkhông thể tồn tại một cách vĩnh viễn Chính thế đấu tranh giữa các mặt đối lập là nguồn gốc,động lực bên trong của sự vận động và phát triển
Sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối, nó diễn ra liên tục trong suốt quá trình ổnđịnh cũng như trong lúc chuyển hóa của các mặt đối lập dẫn tới sự vật mới thay thế cho sự vật
cũ Tính tuyệt đối, liên tục của sự đấu tranh của các mặt đối lập là nguyên nhân của trạng thái tựthân vận động và phát triển không ngừng của thế giới Sự đứng im tương đối, tạm thời của sự vậthiện tượng cũng là vận động trong thế cân bằng của các mặt đối lập
Đấu tranh giữa các mặt đối lập là nhằm giải quyết mâu thuẫn Việc giải quyết mâu thuẫnthực hiện bằng chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập Sự chuyển hóa được thực hiện ở giaiđoạn chín muồi của mâu thuẫn và phải có điều kiện cụ thể tùy theo từng sự vật, diễn ra dướinhiều hình thức Hai khuynh hướng khái quát nhất của sự chuyển hóa là: Mặt đối lập này đượcchuyển hóa thành mặt đối lập kia và thành lập ngay cho mình mặt đối lập mới để tiếp tục đấutranh với nhau trong sự vật mới; Hai mặt đối lập cũ cùng mất đi và hình thành hai mặt đối lậpmới trong sự vật mới ở tính chất, trình độ cao hơn
Khái niệm thống nhất trong quy luật mâu thuẫn có nghĩa là hai mặt đối lập liên hệ vớinhau, ràng buộc nhau và quy định lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại cho mình(theo nghĩa này mà quy luật còn được gọi là quy luật đồng nhất)
Sự thống nhất không tách rời sự khác nhau, sự đối lập Mỗi sự vật hiện tượng vừa là nóvừa không là nó Trong thống nhất bao hàm cả sự khác nhau, sự đối lập nhau, sự đấu tranh lẫnnhau Sự thống nhất các mặt đối lập cụ thể nào cũng đều có tính tương đối, tạm thời, tức nó chỉtồn tại trong một thời gian nhất định Sự thống nhất của các mặt đối lập là nguyên nhân của trạngthái đứng im tương đối, tạm thời của thế giới Lênin viết: “Sự thống nhất của các mặt đối lập là
có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau
là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối.”15
1.3 Một số loại mâu thuẫn
Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
Mâu thuẫn bên trong là những mâu thuẫn nằm ngay bên trong bản thân sự vật hiện tượng
Nó có vai trò là nhân tố quyết định sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng Nó là nguồngốc, động lực bên trong của sự vận động và phát triển
Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng với nhau Nó không giữ vaitrò quyết định nhưng có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của sự vật hiện tượng Sự ảnhhưởng này muốn phát huy tác dụng phải thông qua các mâu thuẫn bên trong
Sự phân biệt mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài chỉ có ý nghĩa tương đối, nóhoàn toàn tùy thuộc các mối quan hệ cụ thể
Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng sự xuất hiện, tồn tại
và phát triển của sự vật hiện tượng Nó quyết định sự phát triển của sự vật hiện tượng từ khihình thành cho đến khi kết thúc Khi mâu thuẫn cơ bản được giải quyết thì sự vật hiện tượng có
sự thay đổi về chất
15 V I Lênin toàn tập - Tập 29 - Nxb Tiến bộ - Mátxcơva - 1981 - Tr 379.
28
Trang 29Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng sự xuất hiện,tồn tại và phát triển của sự vật hiện tượng nhưng không giữ vai trò quyết định mà chỉ ảnh hưởngđến sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng.
Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu.
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở mỗi giai đoạn phát triển nhất địnhcủa sự vật hiện tượng Nó giữ vai trò quyết định đối với những mâu thuẫn khác trong cùng giaiđoạn của quá trình phát triển
Mâu thuẫn không chủ yếu là những mâu thuẫn phát sinh trong từng giai đoạn phát triểncủa sự vật hiện tượng, không giữ vai trò quyết định mà chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của sựvật hiện tượng
Ranh giới giữa mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu chỉ là tương đối Tùyđiều kiện cụ thể chúng có thể chuyển hóa cho nhau Mâu thuẫn chủ yếu thường là biểu hiện cụthể của mâu thuẫn cơ bản trong từng giai đoạn của sự phát triển của sự vật hiện tượng Do đóviệc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu cũng là quá trình giải quyết dần dần mâu thuẫn cơ bản
Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa các khuyng hướng, những lực lượng xã hội cólợi ích cơ bản trái ngược nhau không thể điều hòa được Loại mâu thuẫn này chỉ có trong các xãhội có đối kháng giai cấp Việc giải quyết mâu thuẫn này phải dùng đến bạo lực cách mạng
Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa các khuynh hướng, lực lượng xã hội có lợiích cơ bản thống nhất nhau Việc giải quyết mâu thuẫn này thường là phương pháp hòa bình,phương pháp giáo dục
1.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn cần phải thừa nhận tính khách quancủa mâu thuẫn đối với sự vật hiện tượng Lênin nói: “Sự phân đôi của cái thống nhất, và sự nhậnthức các bộ phận đối lập của nó, đó là thực chất của phép biện chứng.”16
Cần phải biết phân loại các mâu thuẫn một cách khoa học Phải biết phân tích và giảiquyết cụ thể từng mâu thuẫn với những biện pháp thích hợp
Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn Mẫu thuẫn chỉ được giải quyết khi chínmuồi Bất kỳ mâu thuẫn nào và bất kỳ ở giai đoạn nào, mâu thuẫn chỉ được giải quyết bằng đấutranh giữa các mặt đối lập, tuyệt nhiên không được điều hòa mâu thuẫn
II QUY LUẬT SỰ TÍCH LŨY DẦN DẦN VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN SỰ THAY ĐỔI
VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI
Đây là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này nói rõcách thức của sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng và thế giới
2.1 Nội dung của quy luật
Mọi sự vật hiện tương cũng như thế giới là một thể thống nhất của hai mặt lượng và chất
Sự tích lũy dần dần về lượng sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất Khi chất mới ra đời đến lượt nó lạitạo tiền đề điều kiện cho sự tích lũy dần dần về lượng mới Sự tích lũy dần dần về lượng mới sẽdẫn đến sự thay đổi về chất tiếp theo Quá trình cứ thế tiếp tục, đó là cách thức của sự pháttriển
2.2 Phân tích nội dung của quy luật
a Khái niệm lượng và chất
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính cơ bản vốn có quy định cấu
thành nên bản thân các sự vật hiện tượng, nói lên sự vật hiện tượng đó là gì và phân biệt nó vớicác sự vật hiện tượng khác
16 Sđd - Tập 29 - Tr 378.
29
Trang 30Mỗi sự vật, hiện tượng có nhiều thuộc tính cơ bản, nhưng không phải thuộc tính cơ bảnnào cũng là chất Chỉ những thuộc tính cơ bản nào nói lên sự vật, hiện tượng đó là gì và phânbiệt nó với các sự vật, hiện tượng khác mới là chất Chất không tồn tại một cách thuần túy Chất
là cái khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng và chỉ tồn tại thông qua các mối quan hệ cụ thể.Chính thế sự phân biệt chất và thuộc tính cơ bản chỉ có ý nghĩa tương đối Chất biểu hiện tìnhtrạng tương đối ổn định của sự vật, hiện tượng, không tách rời với sự vật, hiện tượng Mỗi sự vật,hiện tượng có nhiều chất Khi chất thay đổi thì sự vật, hiện tượng cũng thay đổi
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính cơ bản vốn có quy định của bản
thân sự vật, hiện tượng nói lên quy mô, trình độ, tốc độ của sự phát triển của sự vật, hiện tượng
Lượng bao giờ cũng được biểu thị bằng số lượng, nhưng không phải mọi số lượng đều làlượng Mỗi sự vật, hiện tượng hiện tượng có nhiều lượng Cũng như chất, lượng không tồn tạimột cách thuần túy mà tồn tại thông qua các mối liên hệ cụ thể Lượng tồn tại khách quan và làthuộc tính bên trong năng động của sự vật, hiện tượng Tuy nhiên, lượng đôi khi còn phải đượcxác định không phải là các con số mà phải tư duy một cách trừu tượng, thậm chí còn xác địnhlượng dường như là nhân tố bên ngoài
Sự phân biệt giữa lượng và chất chỉ là tương đối, nó tùy thuộc mối quan hệ xác định, tứccùng một thuộc tính cơ bản nhưng có thể ở mối quan hệ này là lượng ở mối quan hệ khác là chất
và ngược lại
b Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất
Chất và lượng là hai mặt đối lập nằm trong một thể thống nhất là sự vật, hiện tượng.Chúng không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng Sự thống nhất giữachúng chỉ ở trong một độ nhất định khi sự vật hiện tượng đang tồn tại
Độ là giới hạn trong đó sự vật, hiện tượng luôn có sự biến đổi về lượng nhưng chất của
nó chưa đổi Tức trong phạm vi độ, lượng và chất luôn tác động lẫn nhau làm cho sự vật, hiệntượng vận động và phát triển
Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định (điểm nút), thì dẫn đến sự thay đổi về
chất Giới hạn đó tùy thuộc sự vật, hiện tượng cụ thể Sự thay đổi về chất qua điểm nút gọi là
bước nhảy (nhảy vọt) Đó là bước ngoặt căn bản kết thúc một giai đoạn trong sự biến đổi về
lượng, là sự gián đoạn trong quá trình biến đổi liên tục, chấm dứt một dạng tồn tại cụ thể của sựvật, hiện tượng
Khi chất mới ra đời lại có một lượng mới thích hợp tạo nên sự thống nhất mới giữa lượng
và chất Sự tác động của chất mới đối với lượng mới biểu hiện ở quy mô, trình độ, tốc độ vậnđộng của lượng mới C.Mác viết: “Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhấtđịnh sẽ chuyển thành những sự vật khác nhau về chất”17
Sự thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng là rất phong phú đa dạng,với nhiều hìnhthức nhảy vọt khác nhau Tính chất của các bước nhảy được quyết định bởi chính bản thân sựvật, hiện tượng bởi chính những mâu thuẫn vốn có của nó và do những điều kiện trong đó diễn ra
sự thay đổi về lượng Nhìn chung có một số các bước nhảy cơ bản như sau: Đột biến, Dần dần,Toàn phần và Cục bộ
Nhảy vọt đột biến là bước nhảy trong đó chất của sự vật, hiện tượng biến đổi một cách nhanh chóng ở tất cả các các bộ phận cấu thành nó Nhảy vọt dần dần là quá trình thay đổi về
chất diễn ra bằng con đường tích lũy dần dần những nhân tố của chất mới và mất đi dần dầnnhững nhân tố của chất cũ
17 Các Mác - Tư bản, quyển I, tập 1, Nxb Sự thật Hà Nội 1973, Tr 573.
30
Trang 31Sự nhảy vọt dần dần là sự chuyển hóa chất này sang chất khác, là sự đứt đoạn của tínhliên tục Sự tích lũy dần dần về lượng diễn ra một cách liên tục trong khuôn khổ của chất đangcó.
Sự phân biệt giữa nhảy vọt đột biến và nhảy vọt dần dần vừa dựa trên thời gian, vừa dựatrên tính chất của sự thay đổi về chất Sự khác nhau giữa nhảy vọt đột biến và nhảy vọt dần dầnthể hiện không chỉ ở thời gian diễn ra sự biến đổi mà còn cả ở cơ chế của sự thay đổi đó Bướcnhảy dần dần là quá trình rất phức tạp, trong đó bao gồm cả bước nhảy toàn bộ lẫn bước nhảycục bộ
Bước nhảy toàn bộ là bước nhảy làm thay đổi về chất ở tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng Bước nhảy cục bộ là bước nhảy làm thay đổi một số mặt,
một số bộ phận, một số yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng ấy Những sự vật, hiện tượng phứctạp về cấu trúc, tính chất, bộ phận cấu thành thì bước nhảy thường từ nhảy vọt cục bộ đến nhảyvọt toàn bộ
Tóm lại, quy luật lượng chất chỉ rõ cách thức biến đổi của sự vật, hiện tượng Đó là quátrình tác động lẫn nhau giữa hai mặt lượng - chất Chất tương đối ổn định, lượng thường xuyênbiến đổi Lượng biến đổi mâu thuẫn với chất cũ Mâu thuẫn được giải quyết chất mới được hìnhthành với lượng mới Những lượng mới lại tiếp tục biến đổi đến những điểm nút mới phá vỡ chất
cũ đang kìm hãm nó tạo nên những chất mới Sự vận động liên tục của sự vật, hiện tượng từ biếnđổi dần dần về lượng đến nhảy vọt về chất, rồi biến đổi dần dần về lượng chuẩn bị cho bướcnhảy về chất tiếp theo Quá trình cứ thế tiếp diễn làm cho sự vật, hiện tượng không ngừng biếnđổi và phát triển
2.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Trong tư duy cũng như trong hoạt động thực tiễn, cần xác định quy mô, tốc độ, trình độcủa những bước nhảy một cách khách quan, khoa học Cần tạo điều kiện thuận lợi cho sự tích lũy
về lượng và biết chớp thời cơ để thực hiện các bước nhảy về chất không được rập khuôn giáođiều hay bảo thủ ngại khó
Nếu tuyệt đối hóa về chất, chỉ chú trọng thực hiện các bước nhảy mà không chú ý tích lũy
về lượng là rơi vào chủ nghĩa tả khuynh (nôn nóng, chủ quan, duy ý chí, hành động phiêu lưumạo hiểm)
Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa sự tích lũy về lượng, hạ thấp vai trò của bước nhảy về chất
sẽ dẫn dến chủ nghĩa hữu khuynh (Bảo thủ, trì trệ, ngại khó ), hoặc sẽ rơi và chủ nghĩa cảilương và tiến hóa luận
III QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH BIỆN CHỨNG CỦA PHỦ ĐỊNH BIỆN CHỨNG
3.1 Nội dung của quy luật
Mọi sự vật, hiện tượng cũng như thế giới vận động và phát triển có tính chu kỳ Để thựchiện một chu kỳ của sự phát triển thì sự vật, hiện tượng phải trãi qua ít nhất hai lần phủ định biệnchứng Khuynh hướng của sự phát triển của sự vật, hiện tượng và thế giới là theo đường xoáytrôn ốc
3.2 Phân tích nội dung quy luật
a Phủ định siêu hình và phủ định biện chứng
Phủ định siêu hình dù hiểu theo cách nào cũng có ba đặc điểm chính là: Biến sự vật, hiệntượng thành cái khác nó hoặc đối lập với chính nó; Là sự phủ định sạch trơn không kế thừa,không chọn lọc; Là sự phủ định khách quan hoặc chủ quan
Phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, là mắt khâu trên conđường dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn so với cái bị phủ định Như vậy, phủ định biện
31
Trang 32chứng cũng có ba đặc điểm chính: Chuyển hóa sự vật, hiện tượng thành cái khác nó hoặc đối lậpvới nó; Là sự phủ định có kế thừa có chọn lọc; Chỉ là sự phủ định khách quan.
b Phủ định biện chứng của phủ định biện chứng
Phủ định biện chứng lần thứ nhất tạo ra cái khác cái ban đầu hoặc đối lập với cái ban đầu.Phủ định biện chứng lần thứ hai dường như tái lập lại cái ban đầu nhưng trên cơ sở tính chất vàtrình độ cao hơn Sự phủ định biện chứng lần hai gọi là phủ định biện chứng của phủ định biệnchứng (gọi tắt là phủ định của phủ định)
Phủ định của phủ định xuất hiện với tư cách là cái tổng hợp tất cả những yếu tố tích cực
và loại bỏ những yếu tố tiêu cực trong các giai đoạn trước Chính thế, cái mới ra đời có nội dungphong phú, toàn diện, cao hơn cái cũ
Phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển, đồng thời là điểmxuất phát cho một chu kỳ tiếp theo
c Số lần phủ định biện chứng trong một chu kỳ của sự phát triển
Sự vật hiện tượng trong thế giới là rất phong phú đa dạng, vì thế chu kỳ của sự phát triển
ở từng sự vật, hiện tượng cũng rất khác nhau Số lần phủ định trong mỗi chu kỳ vì thế ít hoặcnhiều là tùy theo từng sự vật, hiện tượng cụ thể
Chẳng hạn, vòng đời của cây lúa trãi qua hai lần phủ định biện chứng, nhưng vòng đờicủa con ếch phải trãi qua ba lần, con tằm phải trãi qua bốn lần phủ định biện chứng Số lượngcác lần phủ định trong một chu kỳ phát triển cụ thể nhiều hay ít, nhưng để đạt được sự phát triểnthì ít nhất phải trải qua hai lần
d Con đường của sự phát triển
Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện chứng như nêu trên là sựthống nhất giữa loại bỏ, giữ lại và phát triển Nó biểu hiện sự phát triển do mâu thuẫn, khái quáttính chất tiến lên của phát triển Sự phát triển đó không diễn ra theo con đường thẳng mà theođường “xoáy ốc” Lênin viết: “Sự phát triển dường như diễn lại những giai đoạn đã qua, nhưngdưới một hình thức khác, ở một trình độ cao hơn; sự phát triển có thể nói là theo đường trôn ốcchứ không theo đường thẳng”18
Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc thể hiện một trình độ, tính chất cao hơn của sự pháttriển, đồng thời dường như quay lại cái đã qua Sự nối tiếp của các vòng xoáy thể hiện tính liêntục, tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao
3.3 Ý nghĩa phung pháp luận của quy luật
Quá trình phát triển của thế giới không diễn ra theo một đường thẳng mà rất quanh co,phức tạp, trãi qua nhiề lần phủ định, nhiều khâu trung gian, đặc biệt là trong lĩnh vực đời sống xãhội Bởi thế, việc nắm vững quy luật cho ta cách nhìn biện chứng, khoa học về xu thế phát triểncủa thế giới và của thời đại hiện nay
Cần phải có quan điểm khoa học, biết phát hiện, đánh giá và ủng hộ cái mới Chống phủđịnh sạch trơn cũng như kế thừa nguyên xi cái cũ
Trên thực tế hiện nay có những kẻ, trong đó có những người vốn là mác-xít luôn ra sứcphủ nhận những thành quả to lớn của Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu Họ không thấyđược trong 70 năm tồn tại, Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã để lại những giá trị tích cực có ảnhhưởng lâu dài đối với lịch sử toàn thế giới
Ở Việt Nam trong thời đổi mới cũng có một số biểu hiện lệch lạc trên lĩnh vực văn hóa.Đảng ta đã nhận định rằng, trong những năm gần đây, “nhiều hủ tục cũ lan tràn, nhất là trongviệc cưới, việc tang, lễ hội ”19
18 V.I Lênin toàn tập - Nxb Tiến bộ - Mátxcơva 1980 - Tập 26 - Tr 65.
19 ĐCSVN - Văn kiện Hội nghị lần thứ năm BCHTW khóa VIII - Nxb CTQG - Hà Nội 1998 - Tr 46.
32
Trang 33BÀI 5: LÝ LUẬN NHẬN THỨC I/ Bản chất của nhận thức
1.1 Quan điểm của các nhà triết học duy tâm
Nói chung các nhà triết học duy tâm không thừa nhận nhận thức là phản ánh thế giớikhách quan Những người duy tâm khách quan khi thừa nhận con người có khả năng nhận thứcthế giới, thì sự nhận thức đó không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ là sự tựnhận thức của ý niệm, tư tưởng tồn tại ở ngoài con người Những người duy tâm chủ quan coimọi tồn tại đều là phức hợp của những cảm giác, biểu tượng của con người, nên nhận thức theo
họ chỉ là nhận thức các cảm giác, biểu tượng của con người (tự nhận thức ý thức của mình về thếgiới)
Những người theo thuyết hoài nghi thì nghi ngờ tính chính xác của tri thức, biến nghi ngờthành nguyên tắc của nhận thức, thậm chí nghi ngờ cả sự tồn tại của thế giới
Những người theo thuyết không thể biết thì phủ nhận khả năng nhận thức của con người
về thế giới
1.2 Quan điểm của các nhà triết học duy vật trước Mác
Trái với chủ nghĩa duy tâm, những người duy vật luôn thừa nhận khả năng nhận thức thếgiới của con người và coi nhận thức là qua trình phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người.Tuy nhiên, do hạn chế bởi phương pháp siêu hình nên họ không giải quyết được một cách thực
sự khoa học những vấn đề của lý luận nhận thức, chưa thấy một cách đầy đủ về vai trò của thựctiễn đối với nhận thức
1.3 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lênin dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với cảm giác, tư duy, ý
thức của con người
Hai là, Con người có khả năng nhận thức thế giới Về nguyên tắc không có và không thể
có bất cứ đối tượng nào mà con người không thể nhận thức được Con người có sức mạnh trongnhận thức và cải tạo thế giới
Con người (cá nhân, nhóm người, giai cấp, dân tộc hoặc nhân loại) là chủ thể của nhận thức Nhưng không phải bất kỳ người nào cũng là chủ thể nhận thức, mà chỉ những ai tham gia
vào hoạt động xã hội, nhằm biến đổi và nhận thức khách thể mới là chủ thể nhận thức
Khách thể nhận thức không đồng nhất với toàn bộ thế giới hiện thực, mà chỉ một bộ
phận nào đó của hiện thực mà nhận thức hướng tới nắm bắt Nó chỉ là một bộ phận nào đó nằm
trong miền hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của chủ thể
Ba là, Nhận thức không là hành động tức thời đơn giản, máy móc và thụ động mà là một
quá trình biện chứng, tích cực, sáng tạo Quá trình nhận thức diễn ra theo con đường từ trực quansinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn
Bốn là, Cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng có sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức
và lôgíc biện chứng Lôgíc hình thức là khoa học nghiên cứu các hình thức và quy luật của tư duy như sự phản ánh sự vật, hiện tượng ở trạng thái đứng im, ổn định tương đối Lôgíc biện chứng nghiên cứu các hình thức và quy luật của tư duy như sự phản ánh sự vật, hiện tượng ở
trạng thái vận động và phát triển của chúng
Như vậy, Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc người về hiện thực khách quan, là quá trình con người phản ánh một cách biện chứng, năng động sáng tạo thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn lịch sử -
xã hội.
33