Được thành lập năm 1996 bởi giáo sư Georges Charpak, đạt giải Nobel vật lí năm 1992, Lena - nhà thiên văn học và Pierre Yves Quéré – nhà vật lí với sự hỗ trợ của Viện Hàn lâm Khoa học, b
Trang 1Bàn tay nặn bột" (tiếng Pháp: "La main à la pâte" ; tiếng Anh: Hands on) là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp
dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên Bàn tay nặn bột là một chương trình giáo dục tiên tiến, giúp đổi mới giáo dục khoa học chuyên sâu tại trường học ở Pháp
Được thành lập năm 1996 bởi giáo sư Georges Charpak, đạt giải Nobel vật
lí năm 1992, Lena - nhà thiên văn học và Pierre Yves Quéré – nhà vật lí với
sự hỗ trợ của Viện Hàn lâm Khoa học, bàn tay nặn bột dựa trên một phương pháp tiếp cận mới đối với khoa học trong giảng dạy ở trường tiểu học và mẫu giáo
"Bàn tay nặn bột" (BTNB) chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra…
Với một vấn đề khoa học đặt ra, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức
Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, BTNB luôn coi học sinh
là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên
Mục tiêu của BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say
mê khoa học của học sinh Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh
Đã có một trang web về Bàn tay nặn bột cho phép sự tham gia của giáo viên
để chia sẻ ý tưởng của mình về những hoạt động của lớp học, tùy theo các lĩnh vực khoa học và độ tuổi của học sinh Giáo viên cùng học sinh khám phá những thực nghiệm khoa học thông qua những kinh nghiệm về các chủ
đề cụ thể: năng lượng, nước, thời gian, chất thải, điện,…
Bàn tay nặn bột đã được triển khai rộng rãi: trang web “mirrors” đã được lập ra ở Đức và Trung Quốc, nơi mà phương pháp này gặt hái được nhiều thành công ở các trường Tiểu học
Trang 2Trong năm học 1995-1996, Ban Trường học đã vận động khoảng 30trường thuộc 3 tỉnh tình nguyện thực hiện.
Tháng 4/1996: Một hội thảo nghiên cứu được tổ chức tại Poitiers (miềnTrung nước Pháp), tại đây kế hoạch hành động đã được giới thiệu và triểnkhai
Ngày 09/7/1996: Viện Hàn lâm khoa học đã thông qua quyết định thựchiện chương trình
Tháng 9/1996: Cuộc thử nghiệm đầu tiên được tiến hành bởi Bộ Giáo dụcquốc gia Pháp với cuộc thi giữa 5 tỉnh Cuộc thi này thu hút 350 lớp Nhiềutrường đại học, viện nghiên cứu tham gia giúp đỡ các giáo viên thực hiệncác tiết dạy
Trang 3Tính từ đây, phương pháp BTNB được ra đời nhưng đó là một sự kế thừacủa các thử nghiệm trước đó Lịch sử ra đời của nó là cả một quá trình lâudài.
Năm 1997, một nhóm chuyên gia của Viện Hàn lâm khoa học và ViệnNghiên cứu sư phạm quốc gia Pháp được thành lập để thúc đẩy sự phát triểncủa khoa học trong trường học Dưới sự tài trợ của Bộ Giáo dục quốc giaPháp, trang web http://www.inrp.fr/lamap ra đời vào tháng 5/1998 nhằmcung cấp thông tin, tài liệu để giúp đỡ giáo viên trong các hoạt động dạy họckhoa học trong nhà trường Trang web cũng tạo điều kiện cho việc trao đổithông tin giữa các giáo viên và trao đổi giữa các nhà khoa học với các giáoviên xung quanh hoạt động dạy học khoa học
Trang chủ trang web BTNB của Pháp Tháng 9/1998, Viện Hàn lâm khoa học Pháp soạn thảo 10 nguyên tắc cơbản của BTNB Sáu nguyên tắc đầu tiên liên quan đến tiến trình phươngpháp và bốn nguyên tắc còn lại nêu rõ những bên liên quan tới cộng đồngkhoa học giúp đỡ cho BTNB
Tháng 5/2004 tại Paris, hội thảo quốc gia về hỗ trợ khoa học, công nghệtrong các trường Tiểu học được tổ chức Trong khuôn khổ hội thảo này, Hộiđồng quốc gia về hỗ trợ khoa học, công nghệ trong trường Tiểu học đượcthành lập Hiến chương về hỗ trợ khoa học, công nghệ trong trường Tiểu họcđược soạn thảo để phục vụ hướng dẫn cho các đơn vị liên quan
Hoạt động triển khai phương pháp BTNB được diễn ra mạnh mẽ ngay từnhững ngày đầu:
Tháng 01/1999, một hội thảo quốc gia được tổ chức ở Thư viện quốc giaPháp tập hợp 400 giáo viên, chuyên gia để chia sẽ, trao đổi những thínghiệm ban đầu của mình về BTNB
Trang 4Năm 1998, Viện nghiên cứu sư phạm quốc gia Pháp (INRP) đã kêu gọi
21 Viện đào tạo giáo viên (IUFM) phối kết hợp nghiên cứu trong 3 năm về
vở thí nghiệm, các trung tâm tư liệu, về sử dụng trang web BTNB và biênsoạn tư liệu phục vụ cho giảng dạy theo BTNB
Mạng lưới BTNB được thành lập từ các trang web BTNB ở cáctỉnh Mạng lưới này hoạt động khá hiệu quả trong việc tương trợ nguồn tưliệu và thí nghiệm giữa các tỉnh với nhau Tháng 12/2001, mạng lưới này đãđược trao giải nhất về dạy học điện tử (e-training) phát động bởi EuropeanSchoolnet
Năm 2001, một mạng lưới các trung tâm vệ tinh (centre pilote) BTNB đãđược thành lập theo sáng kiến của Viện Hàn lâm khoa học Pháp với mụcđích trao đổi kinh nghiệm, thông tin với nhau
Tháng 6/2000, một chương trình đổi mới dạy học khoa học và công nghệtrong nhà trường được Bộ Giáo dục quốc gia Pháp công bố BTNB làphương pháp được khuyên dùng trong chương trình mới
Năm 2001, nhóm chuyên gia nghiên cứu về BTNB của Viện Hàn lâmkhoa học Pháp và Viện nghiên cứu sư phạm quốc gia đã được mở rộng thêmvới trường Đại học Sư phạmParis
Năm 2005, một thỏa thuận đã được ký kết giữa Viện Hàn lâm khoa họcPháp và Bộ Giáo dục quốc gia Pháp nhằm tăng cường vai trò của hai cơquan này đối với giáo dục khoa học và kỹ thuật Một thỏa thuận mới được
ký kết vào năm 2009 giữa Viện Hàn lâm khoa học, Bộ Giáo dục quốc gia và
Bộ Giáo dục cấp cao và nghiên cứu
Các cơ quan báo chí, truyền thông cũng đã có nhiều chương trình, phóng
sự khoa học dành cho BTNB Từ tháng 9/2002 đến tháng 8/2005, kênhFrance Info đã giới thiệu liên tục BTNB vào thứ 5 hàng tuần trên truyềnhình Trong các chương trình này, các giáo viên, các giảng viên và các nhàkhoa học đã trình bày các hoạt động khoa học thực hiện được với trẻ em.Không chỉ dừng lại ở việc triển khai phương pháp BTNB trong cáctrường Tiểu học, Tổ chức BTNB Pháp (LAMAP France) còn khuyến khíchgiáo viên ở các trường mẫu giáo áp dụng phương pháp BTNB trong các tiếtdạy của mình về khoa học BTNB còn được triển khai mạnh mẽ ở cáctrường trung học cơ sở trong các môn Vật lý, hóa học, sinh học Việc pháttriển và áp dụng phương pháp BTNB xuyên suốt qua các bậc học từ Mẫugiáo, Tiểu học đến Trung học cơ sở giúp học sinh quen với phương pháp họctập khoa học, chịu khó suy nghĩ tìm tòi, mang lại một không khí mới choviệc giảng dạy và học tập khoa học tại các trường học ở Pháp
Trang 5Cùng với việc phát triển và truyền bá rộng rãi phương pháp này trongnước, Bộ Giáo dục quốc gia Pháp đã phối hợp với các cơ quan nghiên cứu,các bộ liên quan và Viện nghiên cứu Sư phạm quốc tế tại Paris để tổ chứccác hội thảo quốc tế về BTNB nhằm giúp các quốc gia quan tâm về nguồntài liệu, cách làm và triển khai phương pháp này vào chương trình giáo dụccủa mỗi nước theo đặc thù về văn hóa cũng như chương trình giáo dục Hội
thảo quốc tế lần thứ nhất về Dạy học khoa học trong trường học đã được tổ
chức vào tháng 5/2010 Hội thảo đã thu hút thành viên đại diện của 33 quốcgia tham dự Tại Hội thảo này, Hội gặp gỡ Việt Nam cũng đã tài trợ cho bàNguyễn Thị Thanh Hương - chuyên viên phụ trách Tiểu học Phòng Giáo dục
và Đào tạo quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham dự Sau thành côngcủa Hội thảo này, hội thảo lần thứ hai được tổ chức từ 9-14/5/2011tại Paris với gần 40 quốc gia ngoài khối công đồng chung châu Âu (EU)tham gia Việt Nam có 2 đại diện tham dự đó là TS Phạm Ngọc Định (VụTiểu học-Bộ Giáo dục-Đào tạo) và NCS Ths Trần Thanh Sơn (Đại họcQuảng Bình, cộng tác viên phụ trách chương trình BTNB của Hội Gặp gỡViệt Nam)
2 Sơ lược tiểu sử của giáo sư G Charpak-Người khai sinh phương pháp BTNB (theo wikimedia):
Georges Charpak (01/08/1924 – 29/09/2010) là viện sĩ Viện Hàn lâmKhoa học Pháp, đoạt giải Nobel về Vật lý năm 1992 Ông đã nghiên cứu chitiết quá trình ion hóa trong chất khí và đã sáng tạo ra buồng dây, mộtđầu thu chứa khí trong đó các dây được bố trí dày đặc để thu các tín hiệuđiện gần các điểm ion hóa, nhờ đó có thể quan sát được đường đi của hạt.Buồng dây và các biến thể của nó, buồng chiếu thời gian và một số tổ hợptạo thành từ buồng dây phát xung ánh sáng Cherenkov tạo thành các hệthống phức tạp cho phép tiến hành các nghiên cứu chọn lọc cho các hiệntượng cực hiếm (như việc hình thành các quark nặng), tín hiệu của các hiệntượng này thường bị lẫn trong các nền nhiễu mạnh của các tín hiệu khác.Dưới đây chúng tôi tóm tắt sơ lược Tiểu sử của giáo sư Georges Charpak-người khai sinh phương pháp BTNB (La main à la pâte) theo nguồn củaTrung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS và Wikipedia):
Georges Charpak sinh ngày 01/08/1924 tại Dabrovica, Phần Lan Ônghọc kỹ sư ở trường Mỏ Paris (1948), đây là một trường danh tiếng và uy tíntrong hệ thống trường lớn “Grandes écoles” của nước Pháp G Charpak bảo
vệ luận án Tiến sỹ năm 1955, trở thành nghiên cứu viên của Trung tâmnghiên cứu khoa học quốc gia Pháp (CNRS) tại phòng thí nghiệm Vật lý hạtnhân của Collègue de France (một trường danh tiếng và uy tín tại Paris).Năm 1959, ông là nghiên cứu viên chính của Trung tâm nghiên cứu khoa
Trang 6học quốc gia Pháp (CNRS), sau đó làm việc tại Trung tâm nghiên cứu hạtnhân Châu Âu từ 1963 đến 1989 Năm 1984, ông làm việc tại phòng thínghiệm Chaire Joliot-Curie của Trường cấp cao Vật lý và Hóa họccông nghiệp Paris (ESPCI)
Từ năm 1941, G Charpak tham gia quân đội Năm
1943 ông bị bắt và giam tại nhà tù Centrale d’Eysses, sau
đó chuyển đến tại trại giam tập trung Dachau
Các công trình của Georges Charpak tập trung chủ yếu
về Vật lý hạt nhân, Vật lý hạt năng lượng cao
Năm 1995, Georges Charpak kết hợp với Pierre Léna
và Yves Quéré đưa ra chương trình BTNB nhằm đổi mớiviệc giảng dạy khoa học ở trường Tiểu học tại Pháp vàcác nước Châu Âu Nhiều hợp tác quốc tế đã được ký kếtnhằm mở rộng chương trình này ra nhiều quốc gia trênthế giới
Giáo sư Georges Charpak mất ngày 29/9/2010 tại nhàriêng ở Paris-Cộng hòa Pháp
10 NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA BÀN TAY NẶN BỘT
VỀ TIẾN TRÌNH BÀI GIẢNG
1.Học sinh quan sát một vật hoặc một hiện tượng của thế giới thực tại, gầngũi, có thể cảm nhận được và tiến hành thực nghiệm về chúng
2 Trong quá trình học tập, học sinh lập luận và đưa ra các lý lẽ, thảo luận vềcác ý kiến và các kết quả đề xuất, xây dựng các kiến thức cho mình, mộthoạt động chỉ dựa trên sách vở là không đủ
3 Các hoạt động giáo viên đề ra cho học sinh được tổ chức theo các giờ họcnhằm cho các em có sự tiến bộ dần dần trong học tập Các hoạt động nàygắn với chương trình và giành phần lớn quyền tự chủ cho học sinh
4 Tối thiểu 2 giờ một tuần dành cho một đề tài và có thể kéo dài hoạt độngtrong nhiều tuần Tính liên tục của các hoạt động và những phương pháp sưphạm được đảm bảo trong suốt quá trình học tập tại trường
Trang 75 Mỗi học sinh có một quyển vở thí nghiệm và học sinh trình bày trong đótheo ngôn ngữ của riêng mình.
6 Mục đích hàng đầu đó là giúp học sinh tiếp cận một cách dần dần với cáckhái niệm thuộc lĩnh vực khoa học, kĩ thuật kèm theo một sự vững vàngtrong diễn đạt nói và viết
NHỮNG ĐỐI TƯỢNG THAM GIA
7 Gia đình và khu phố ủng hộ các hoạt động này
8 Các nhà khoa học (ở các trường Đại học, Viện nghiên cứu) tham gia cáccông việc ở lớp học theo khả năng của mình
9 Viện Đào tạo giáo viên (IUFM) giúp các giáo viên về kinh nghiệm sưphạm và giáo dục
10 Giáo viên có thể tìm thấy trên Internet những bài học về những đề tài,những gợi ý cho các hoạt động ở lớp, những câu trả lời cho các câu hỏi.Giáo viên cũng có thể tham gia thảo luận trao đổi với các đồng nghiệp, vớicác giảng viên và các nhà khoa học
DUNG DỊCH (KHOA HỌC LỚP 5 – BÀI 37)
(Bài này áp dụng PP BTNB vào tất cả các hoạt động của bài)
I Mục tiêu:
Sau bài học HS biết cách tạo ra một dung dịch, kể tên một số dungdịch, nêu một số cách tách các chất trong dung dịch
II Tiến trình dạy học đề xuất:
Bước 1: Giáo viên nêu tình huống xuất phát và đặt câu hỏi nêu vấn đề của toàn bài học:
Trang 8- Giáo viên cho HS quan sát 3 li nước: 1 li đựng nước, 1 li bỏ đường vào và
1 li khuấy nước và đường
- GV hỏi: Theo em, trong 3 li nước trên, li nào được gọi là dung dịch? (HS
trả lời)
Bước 2: Trình bày ý kiến ban đầu của học sinh
- Học sinh làm việc cá nhân: ghi lại những hiểu biết ban đầu của mình vào
vở thí nghiệm về dung dịch thông qua quan sát các li nước và qua vốn sống
thực tế của các em
Bước 3: Đề xuất các câu hỏi:
- Giáo viên định hướng cho học sinh nêu thắc mắc, đặt câu hỏi
- Tổng hợp các ý kiến cá nhân để đặt câu hỏi theo nhóm
- Giáo viên chốt các câu hỏi của các nhóm (nhóm các câu hỏi phù hợp với
nội dung bài học), ví dụ:
- Cho đường vào nước rồi khuấy đều có tạo thành dung dịch không?
- Cho đường vào nước nhưng không khuấy đều có tạo thành dung dịch
không?
- Cho cát vào nước rồi khuấy đều có tạo thành dung dịch không?
- Cho nước siro vào nước lọc có tạo thành dung dịch không?
Bước 4: Đề xuất các thí nghiệm nghiên cứu:
- Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận, đề xuất và tiến hành thí nghiệm
nghiên cứu theo nhóm 4 hoặc nhóm 6 để tìm câu trả lời cho các câu hỏi ở bước 3 và ghi
Tên dung dịch và đặc điểm của dung dịch
Câu hỏi Dự đoán Kết luận
Trang 9và nước
-Nướcđường
- Vị ngọt
Có phải dungdịch không?
Hòa tan Là dung
Bước 5: Kết luận, kiến thức mới:
- Giáo viên tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả
- Giáo viên hướng dẫn học sinh so sánh lại với các ý kiến ban đầu của học
sinh ở bước 2 để khắc sâu kiến thức
- HS rút ra kết luận:
+Hỗn hợp chất lỏng với chất rắn bị hòa tan và phân bố đều hoặc hỗn hợp
chất lỏng với chất lỏng hòa tan vào nhau gọi là dung dịch
+Cách tạo ra dung dịch
Liên hệ thực tế: Kể tên một số dung dịch mà em biết
Hoạt động 2: Thực hành tách các chất trong dung dịch
(GV có thể sử dụng PP BTNB cho hoạt động 2 theo các bước của PP)
BÀI : NƯỚC CÓ NHỮNG TÍNH CHẤT GÌ ?
(KHOA HỌC LỚP 4 - BÀI 20)
(Có thể sử dụng phương pháp "Bàn tay nặn bột" trong toàn bộ bài học)
I Mục tiêu: Sau bài học, học sinh:
- Nêu được 1 số tính chất của nước: Nước là chất lỏng trong suốt,
không màu, không mùi, không vị, không có hình dạng nhất định Nước chảy
Trang 10từ trên cao xuống thấp, lan ra khắp mọi nơi, thấm qua một số vật và hòa tanđược 1 số chất.
- Quan sát và làm được 1 số thí nghiệm để phát hiện ra một số tínhchất của nước
- Nêu được 1 số ví dụ về ứng dụng một số tính chất của nước trongđời sống
II Hoạt động dạy học dự kiến của giáo viên:
Bước 1: Giáo viên nêu ra tình huống có vấn đề và đặt câu hỏi nêu vấn đề của toàn bài học: (2 phút)
- Giáo viên cho học sinh xem 1 đoạn phim
Hỏi : Em có suy nghĩ gì về nước ?
Bước 2 : Trình bày ý kiến ban đầu của học sinh
- Học sinh làm việc cá nhân: ghi lại những hiểu biết của mình về nướcvào vở thí nghiệm (2 phút)
Bước 3: Đề xuất các câu hỏi (3 phút)
- Tổng hợp các ý kiến cá nhân để đặt câu hỏi theo nhóm
- Giáo viên chốt các câu hỏi của các nhóm (nhóm các câu hỏi phù hợpvới nội dung bài học), dự kiến các câu hỏi có thể nhóm được như sau:
1 Nước có màu, có mùi, có vị không?
2 Nước có hình dạng nhất định không và nước chảy như thế nào?
3 Nước có thể hòa tan hoặc không hòa tan một số chất nào ?
4 Nước có thể thấm hoặc không thấm qua một số chất nào ?
Bước 4: Đề xuất các phương án thí nghiệm nghiên cứu
- Giáo viên hướng dẫn, gợi ý học sinh đề xuất các phương án thínghiệm, nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi ở bước 3 :
1 Nước có màu, có mùi, có vị không?
2 Nước có hình dạng nhất định không và nước chảy như thế nào?