Ý nghĩa phương pháp luận Từ nguyên lý về sự phát triển rút ra những ý nghĩa phương pháp luận sau: - Khi nhận thức sự vật phải nhận thức nó trong sự vận động, phát triển,không nhìn nhận s
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN THI
MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Trang 2HÀ NỘI
Câu 4: Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Ý nghĩa?
a) Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức.
- Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất tồn tại khách quan độc lập với ýthức, sinh ra ý thức
- Ý thức là sự phản ánh thê sgiới vật chất vào bộ não con người, là hình ảnhchủ quan của thế giới khách quan
b) Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trờ lại vật chất.
- ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất, có tính ănng động, sáng tạonên có thể tác động trờ lại vật chất, góp phần cải biến thế giới vật chất
- ý thức tác động theo cả hướng tích cực và tiêu cực í thức phản ánh đúnghiện thực khách quan thì có tác dụng thúc đẩy và ngược lại
- Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động của conngười
- Tuy nhiên, xét đến cùng, ý thức vẫn phải phụ thuộc vào thế giới vật chất vàcác điều kiện khách quan
c) ý nghĩa phương pháp luận
- Quán triệt nguyên tắc khách quan trọng nhận thức và hành động Nguyên tắcnày đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng, hành động theo quyluật khách quan Không lấy ý m,uốn chủ quan để xây dựng, hoạch định chính sáchphát triển kinh tế - xã hội… Cần tránh thái độ chủ quan, duy ý chí, nóng vội, địnhkiến, không trung thực
- Phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tốcon người Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải nâng cao trình độ trithức, bồi dưỡng, rèn luyện tư duy trí tuệ, trình độ lý luận… Chống thái độ ỷ lại,bảo thủ trì trệ…
- Khắc phục, ngăn ngừa bệnh chủ quan duy ý chí Đó là lối suy nghĩ và hànhđộng gảin đơn, nóng vội theo nguyện vọng chủ quan Để khắc phục phải nâng caotrình độ tư duy lý luận cho con người
Trang 3Câu 4.1: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển.
I NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
1 Khái niệm mối liên hệ
Liên hệ là phạm trù triết học chỉ sự quy định, sự tác động qua lại lẫn nhau,
sự phụ thuộc lẫn nhau, sự ảnh hưởng, sự tương tás và chuyển hoá lẫn nhau giữacác sự vật, hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tínhcủa một sự vật, hiện tượng, một quá trình
Liên hệ phổ biến là khái niệm nói lên rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế
giới (cả tự nhiên, xã hội và tư duy) dù đa dạng phong phú, nhưng đều nằm trongmối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác; đều chịu sự chi phối, tác động ảnhhưởng của các sự vật, hiện tượng khác
Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới.
Chúng ta đều rõ, dù các sự vật trong thế giới đa dạng đến đâu chăng nữa thì cũngchỉ là những hình thức tồn tại cụ thể của vật chất Cho nên, chung đều chịu sự chiphối của quy luật vật chất Ngay cả ý thức, tinh thần cũng chỉ là thuộc tính củamột dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người Do vậy, ý thức tinh thần cũng bịchi phối bởi quy luật vật chất
2 Các tính chất của mối liên hệ
Theo triết học duy vật biện chứng, mối liên hệ có các tính chất sau:
Tính khách quan- nghĩa là mối liên hệ không phụ thuộc vào ý muốn chủ
quan của con người, chỉ phụ thuộc vào bản thân sự vật, hiện tượng Mối liên hệ làmối liên hệ vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng
Tính phổ biến- nghĩa là mối liên hệ tồn tại cả trong tự nhiên, xã hội và tư
duy; có ở mọi lúc, mọi nơi Ngay trong cùng một sự vật, trong bất kỳ thời gian nào,không gian nào luôn có mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành sự vật
Tính đa dạng, phong phú – rất nhiều mối liên hệ khác nhau phụ thuộc vào
góc độ xem xét: chẳng hạn, mối liên hệ bên trong – bên ngoài mối liên hệ tất yếu –ngẫu nhiên; mối liên hệ trực tiếp – gián tiếp; mối liên hệ chủ yếu – thứ yếu, mốiliên hệ xa – gần Mỗi cặp mối liên hệ này có vai trò khác nhau trong quá trình vậnđộng, phát triển của sự vật, hiện tượng Sự phân chia các cặp mối liên hệ này cũng
Trang 4chỉ là tương đối Ví dụ, mối liên hệ này trong quan hệ này được coi là mối liên hệbên trong nhưng trong quan hệ khác lại được coi là mối liên hệ bên ngoài.
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Nghiên cứu mối liên hệ phổ biến cho ta ý nghĩa phương pháp luận sau:
- Nguyên lý về mối liên hệ là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Quan điểm toàn diện đòi hỏi:
+ Khi nhận thức sự vật phải nhận thức trong mmm với các sự vật, hiệntượng khác; trong mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố của bản thân sự vật đó
+ Để cải tạo sự vật trên thực tế phải sử dụng đồng bộ nhiều giải pháp
+ Phải biết phân loại đúng các mối liên hệ, trên cơ sở đó nhận thức đúng vàgiải quyết để thúc đẩy sự vật tiến lên
+ Chống lại quan điểm chiết trung – lắp ghép một cách máy móc vô nguyêntắc những cái trái ngược nhau vào làm một; chống lại nguỵ biện – một kiểu đánhtráo các mối liên hệ một cách có ý thức, có chủ định
- Vì các mối liên hệ có tính đa dạng, phong phú cho nên trong hoạt độngnhận thức và thực tiễn phải tôn trọng quan điểm lịch sử – cụ thể Khi nhận thức sựvật thì phải xem xét sự vật luôn trong điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian
cụ thể Phải xem xét sự vật ra đời trong hoàn cảnh nào? Nó tồn tại, vận động, pháttriển trong những điều kiện nào? Trong hoạt động thực tiễn khả năng giải quyếtvấn đề thực tiễn nào phải có những biện pháp rất cụ thể, không được chung chung.Khi vận dụng những nguyên lý, lý luận chung vào thực tiễn phải xuất phát từnhững điều kiện thực tiễn lịch sử – cụ thể Quan điểm lịch sử – cụ thể chống lại
quan điểm giáo điều Như vậy, chính quan điểm triết học Mác-Lênin về mối liên hệ
phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm lịch sử – cụ thể
- Chống lại quan điểm phiến diện, một chiều trong nhận thức cũng như tronghành động
- Quan điểm toàn diện đòi hỏi không được bình quân, dàn đều khi xem xét
sự vật mà phải có trọng tâm, trọng điểm
Trang 5II NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
1 Khái niệm phát triển
Theo triết học duy vật biện chứng, phát triển là một phạm trù triết học chỉkhái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ kém hoàn thiện đến hoànthiện hơn của sự vật Nguồn gốc của s phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật
Đó là mâu thuẫn trong bản thân sự vật Quá trình giải quyết liên tục những mâuthuẫn đó quy định sự vận động, phát triển của sự vật
2 Tính chất của sự phát triển
Phát triển mang tính khách quan, nghĩa là phát triển của sự vật là tự thân,
nguồn gốc của phát triển nằm ngay trong sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủquan của con người, chỉ phụ thuộc vào mâu thuẫn bên trong sự vật
Phát triển mang tính phổ biến Phát triển diễn ra cả trong tự nhiên, xã hội và
tư duy, diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi
Phát triển mang tính đa dạng, phong phú, tức là tuỳ thuộc vào hình thức tồn
tại cụ thể của các dạng vật chất mà phát triển diễn ra cụ thể khác nhau Chẳng hạn,
ở thế giới hữu cơ, phát triển thể hiện ở sự tăng cường khả năng thích nghi của cơthể trước môi trường; ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày cànghoàn thiện hơn
Trong xã hội, phát triển thể hiện ở khả năng chinh phục tự nhiên, cải tạo xã
hội phục vụ con người
Trong tư duy, phát triển thể hiện ở việc nhận thức vấn đề gì đó ngày càng
đầy đủ, đúng đắn hơn
3 Ý nghĩa phương pháp luận
Từ nguyên lý về sự phát triển rút ra những ý nghĩa phương pháp luận sau:
- Khi nhận thức sự vật phải nhận thức nó trong sự vận động, phát triển,không nhìn nhận sự vật đứng im, chết cứng, không vận động, không phát triển
- Quan điểm phát triển đòi hỏi phải chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, ngạikhó, ngại đổi mới, dễ bằng lòng với thực tại
Trang 6- Nhận thức sự vật phải thấy được khuynh hưóng phát triển của nó, để cónhững phương án dự phòng Có như vậy con người mới chủ động trong hoạt độngtránh bớt được vấp váp, rủi ro; nghĩa là, con người sẽ chủ động, tự giác hơn tronghoạt động thực tiễn.
- Phát triển là khó khăn, phức tạp Vì vậy, trong nhận thức cũng như hoạtđộng thực tiễn khi gặp khó khăn, thất bại tạm thời phải bình tĩnh, tin tưởng vàotương lai Như vậy, quan điểm triết học Mác-Lênin về phát triển là cơ sở lý luậncủa quan điểm phát triển
Câu 6: Qui luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại?
1 Về phạm trù chất và lượng.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng:
Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính qui định khách quan vốn có
của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính để phân biệt sự vật này với
sự vật khác
Cần thấy rõ thuộc tính là cái để nhận biết chất, xác định chất, còn chất lạiđược tạo thành từ kết cấu của sự vật Trước hết, chất được tạo bởi các nhân tố tạothành vật Vật được tạo thành bởi các nhân tố khác nhau thì chúng có chất khácnhau Chẳng hạn sự kết hợp giữa hyđrô và ôxy (H2O) tạo thành chất nước, nhưng
sự kết hợp giữa canxi và ôxy (CaO) lại tạo thành vôi sống
Khi nói đến chất của sự vật còn phải nhận thấy mỗi vật không phải chỉ có mộtchất mà nó có thể có nhiều chất Bởi vì, mỗi sự vật đều có nhiều thuộc tính và mỗithuộc tính lại có thể đặc trưng cho một chất Chẳng hạn NaCl có thể gọi là chấtmuối, nhưng nó lại có các thuộc tính như mặn, kết tinh, tính chất hoà tan Vì vậy
nó có thể được gọi là chất mặn, chất kết tinh hay chất hoà tan v.v… Đồng có thuộctính là dẫn điện, dẫn nhiệt… Vì vậy có thể gọi nó là chất dẫn điện, chất dẫnnhiệt…
Mỗi sự vật không phải chỉ có chất mà còn có lượng Chất của sự vật khôngbao giờ tồn tại tách rời với mặt lượng của nó Lượng và chất là hai mặt của tính quiđịnh luôn cùng tồn tại trong một sự vật Chất nào cũng phải có một lượng nhấtđịnh và lượng nào cũng là lượng của một chất nhất định Tuy nhiên giữa chất vàlượng cũng có những sự khác nhau nhất định Lượng cũng là tính qui định vốn cócủa vật nhưng lại biểu thị độ lớn nhỏ, trình độ phát triển cao, thấp hay tốc độ vậnđộng nhanh, chậm của chất
Trang 7Chính vì vậy, lượng được hiểu là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính qui
định vốn có của sự vật, thể hiện số lượng, qui mô, trình độ phát triển hay tốc độ vận động của một chất.
Trong thực tế, lượng có thể biểu hiện bằng nhiều cách khác nhau nhưng cáchthức phổ biến là bằng các con số, các đại lượng hay các tập hợp… Giữa các con số
và các đại lượng, các tập hợp… có những mối quan hệ riêng vì vậy người ta có thểtách chúng khỏi những sự vật cụ thể để tính toán Đó là khả năng trừu tượng hoácao của tư duy con người và là cơ sở để nảy sinh môn toán học
Một điều cũng cần nhấn mạnh là khi nói lượng là lượng của chất Vì vậy, mộtvật có nhiều chất thì vật cũng có nhiều lượng Chẳng hạn, mỗi con người đều cónhững thuộc tính sinh học và thuộc tính xã hội Nếu xem con người là một “chấtsinh học” thì lượng ở đây là chiều cao, cân nặng… Nhưng con người lại cũng cóthể xem là có “chất thanh niên”, “chất trung niên”, thậm chí là “chất chính trị”,
“chất quản lý” Mỗi loại đó có một loại lượng khác nhau Chẳng hạn “chất chínhtrị” có lượng của nó là quá trình tham gia các hoạt động chính trị, những điểm nổibật trong quá trình này Nhưng nếu nói đến “chất quản lý” lại phải kể đến quá trìnhtham gia quản lý, những chức vụ trong quản lý, những thành tích trong quản lý màmột người cụ thể đã từng đảm nhận và hoàn thành nhiệm vụ của mình.v.v
Như vậy, chất và lượng có sự khác nhau nhất định Tuy nhiên sự khác biệtnày chỉ là tương đối và nhiều khi các số đo về lượng lại phản ánh “chất” là thế nào.Chẳng hạn để xác định thể trạng của một con người, không thể không căn cứ vàochiều cao, cân nặng, áp huyết Mặt khác ngay bản thân các con số cũng khôngphải chỉ biểu thị lượng của sự vật Trong hệ thống các con số, chúng ta có số chẵn
và số lẻ, những số hữu tỉ và những số vô tỷ chúng có những thuộc tính khácnhau, vì vậy cũng có thể xem giữa chúng có sự khác biệt về chất
2 Quan hệ biện chứng sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất.
Lượng và chất không chỉ gắn bó với nhau như ở phần trên đã đề cập, màchúng còn gắn bó với nhau trong toàn bộ quá trình vận động và biến đổi của sựvật Do thuộc tính vận động của vật chất nên trong thế giới khách quan không cócái gì là bất động, chúng luôn luôn biến hoá dưới hình thức này hay hình thứckhác, mặc dù sự biến hoá này có thể nhanh chậm khác nhau với vô vàn các hìnhthức khác nhau Tuy vậy, sự biến đổi của bất kỳ sự vật nào dù lớn hay nhỏ, dù vô
cơ hay hữu cơ cũng đều bắt đầu từ sự biến đổi về lượng Chẳng hạn, nước lỏngmuốn chuyển thành thể hơi, nhiệt độ của nó phải tăng từ thấp đến cao Một conngười muốn phát triển phải có sự tăng trưởng về thể lực, về trí tuệ và khi đạt đến
Trang 8một trình độ phát triển nào đó mới chuyển từ thơ ấu sang nhi đồng, từ nhi đồngsang thiếu niên Mọi sự “bùng nổ”, “bất ngờ” đều là kết quả của những sự tích tụnhững nguồn năng lượng hay những yếu tố nào đó đến mức phải phá vỡ chất cũ,tạo ra chất mới Mọi sự tích tụ về lượng có thể diễn ra nhanh chóng hoặc lâu dàinhưng ở một phạm vi nào đó nó chưa thể tạo ra sự biến đổi về chất hay nói đúnghơn, nó chưa tạo ra sự biến đổi căn bản về chất Trong trường hợp đó, sự vật “vẫn
là nó”, nó chưa chuyển thành cái khác Lượng và chất ở thời điểm này được xem làthống nhất với nhau Chẳng hạn, nước lỏng trong khoảng từ 0oC đến 100oC dưới ápsuất 1atm, dù nhiệt độ có tăng hay giảm vẫn không làm cho nước lỏng biến thànhhơi Khoảng giới hạn từ 0oC đến 100oC được gọi là độ của nước lỏng
Vậy, độ là khoảng giới hạn mà trong đó những sự biến đổi về lượng không
làm cho chất biến đổi căn bản.
Trong thế giới, không có cái gì tồn tại vĩnh viễn, không có cái gì không cógiới hạn Vì vậy, mọi cái đều có độ của nó Trong con người từ sức mạnh cơ
bắp đến thần kinh đều có độ Vượt khỏi giới hạn đó con người không đủ sức chịuđựng Thậm chí, như V.I.Lênin nhận định, ưu điểm mà vượt quá giới hạn của nócũng trở thành khuyết điểm Điểm giới hạn của sự biến đổi về lượng trong mộtchất xác định được gọi là điểm nút
Điểm nút là điểm mà ở đó bất kỳ một sự biến đổi nào về lượng cũng tạo ra sự biến đổi về chất Điểm nút là điểm ở hai đầu của độ Chẳng hạn, điểm nút của nước
lỏng là 0oC và 100oC Khi nước ở 100oC nếu ta thêm bất kỳ một lượng nhiệt nào nócũng làm cho nước bốc hơi Hoặc ngược lại, nếu nước đã ở 0oC thì ta giảm bất cứlượng nhiệt nào nước cũng chuyển thành thể rắn ở những điểm nút đó “một giọtnước” có thể làm tràn cốc nước hay “con ruồi đỗ nặng đòn cân” Nhận thức đượcđiểm nút là nhận thức được sự chín muồi, là biết được thời cơ, vận hội hoặc cũng
có thể dự báo được những nguy cơ, những tai họa có thể ập đến Một nhà quản lýnhận thức được điểm nút có thể có những quyết định hoạt động đúng đắn dứt khoát
để chuyển hóa hay để bảo tồn sự vật Không nhận thức được điều đó, con người sẽhành động mù quáng, có thể gặp hậu họa hoặc bỏ lỡ thời cơ
Sự chuyển biến từ chất cũ sang chất mới được gọi là “bước nhảy” hay “nhảyvọt” Bước nhảy là phạm trù dùng để chỉ quá trình chuyển hoá từ chất cũ sang chấtmới do kết quả của sự biến đổi về lượng tạo ra
Việc nhận thức được “bước nhảy” trong quá trình phát triển là một bước tiếntrong sự nhận thức thế giới Đó cũng là tiêu chí quan trọng để phân biệt quan điểmbiện chứng và quan điểm siêu hình Theo quan điểm siêu hình, sự phát triển của
Trang 9từng sự vật, hiện tượng cũng như của thế giới nói chung chỉ là sự tăng giảm thuầntúy về lượng Đó là sự phát triển liên tục trong thời gian đi theo sự tiệm tiến dầndần Họ phủ nhận “bước nhảy” và cũng có nghĩa là phủ nhận vai trò của các cuộccách mạng trong sự phát triển xã hội Phủ nhận “bước nhảy” về thực chất cũng làphủ nhận sự biến đổi về chất Bởi vì, khi chất cũ mất đi, chất mới ra đời thì nhấtđịnh các nhân tố của nó phải đổi mới, các kết cấu vật chất cũng phải thay đổi vàđiều đó tất yếu phải tạo ra sự gián đoạn Học thuyết tế bào đã cho ta thấy “bướcnhảy” từ chất vô cơ sang chất hữu cơ Học thuyết tiến hoá của Đácuyn đã cho thấy
“bước nhảy” từ loài sinh vật này lên loài sinh vật khác Các cuộc cách mạng tronglịch sử đã cho thấy “bước nhảy” từ hình thái kinh tế - xã hội thấp lên hình thái kinh
tế - xã hội cao Vì vậy, V.I.Lênin đã khẳng định “tính tiệm tiến mà không có bướcnhảy vọt thì không giải thích được gì cả”(1)
Tuy nhiên, bước nhảy có nhiều loại, nếu xét về thời gian có thể phân thành
bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần Bước nhảy đột biến là bước nhảy diễn
ra một cách nhanh chóng Bước nhảy đột biến có thể diễn ra trong khoảnh khắc
như các vụ nổ hạt nhân Nhưng trong xã hội, những cuộc cách mạng chính trị diễn
ra nhanh chóng cũng có thể được xem là bước nhảy đột biến trong xã hội Trong
xã hội, những sự đột phá tạo nên những chuyển biến căn bản trong lĩnh vực khoahọc công nghệ, cũng có thể xem là những sự đột biến
Bước nhảy dần dần là bước nhảy diễn ra trong thời gian dài Bước nhảy dần
dần không đồng nhất với sự biến đổi về lượng Vì sự biến đổi về lượng chỉ diễn ratrong khuôn khổ của chất cũ, còn bước nhảy dần dần lại là quá trình chất cũ mất đi
“dần dần” và chất mới “ dần dần” nảy sinh Đó là quá trình thay đổi về chất
Xét về qui mô có thể phân bước nhảy thành bước nhảy toàn bộ và bước nhảycục bộ
Bước nhảy toàn bộ là biến đổi toàn diện về chất của sự vật còn bước nhảy cục bộ là sự biến đổi về chất của từng bộ phận, từng mặt của sự vật đó.
Trong một cuộc cách mạng xã hội, việc chuyển từ một hình thái kinh tế - xãhội này sang một hình thái kinh tế - xã hội khác là bước nhảy toàn bộ Nhưng sựbiến đổi từng bộ phận như: cách mạng chính trị, cách mạng khoa học kỹ thuật,cách mạng văn hoá tư tưởng là những bước nhảy bộ phận Bước nhảy bộ phận cóthể diễn ra đồng thời cũng có thể diễn ra trước sau ở những thời điểm khác nhau.Bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ đều có thể diễn ra nhanh chóng (đột biến)hoặc diễn ra dần dần
Trang 10Quá trình lượng đổi dẫn đến chất đổi thực chất là quá trình tích tụ về lượng đểđến một thời điểm nào đó sẽ làm cho chất chuyển hoá Đặc điểm của quá trình này
là không gây ra những chấn động mạnh, thậm chí còn “êm ái” “dễ chịu” nhưng kếtquả thì nhiều khi to lớn, bất ngờ Hêghen đã từng nhận xét “Lượng, khi được coinhư một giới hạn bàng quan thì đó là mặt mà từ phía ấy vật đang tồn tại nào đó bịtấn công một cách bất ngờ và sự tiêu diệt”(1)
Tuy nhiên, trong sự biến đổi của thế giới không phải chỉ có lượng đổi dẫn đếnchất đổi vì còn có quá trình ngược lại Thực chất của quá trình ngược lại này là khichất đổi sẽ làm cho lượng biến đổi với tốc độ nhanh hơn và với qui mô lớn hơn.Trong thế giới khách quan, ứng với một chất xác định chỉ có một lượng xác định.Trong khuôn khổ của chất ấy, lượng có giới hạn tối đa và tối thiểu nhưng lượngkhông thể vượt được giới hạn đó Chẳng hạn, nước nguyên chất dưới áp lực 1 atm,thể tích của nó có thể tăng dần lên khi nhiệt độ tăng từ 0oC đến 100oC, nhưnglượng nước trong một nồi súp-de không thể vượt quá một giới hạn nào đó Muốn
có một thể tích lớn hơn nó phải chuyển thành hơi Chính ở trạng thái hơi, nước cómột kết cấu mới và do đó thể tích của nó tăng lên một cách đột ngột gây áp lực lớntác động vào pittông tạo ra sự vận hành của máy
Trong lịch sử xã hội loài người, do sự thay đổi về chất, chế độ chiếm hữu nô
lệ đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất so với giai đoạn cộng sản nguyênthuỷ Tuy nhiên, cách thức tổ chức của xã hội ấy làm cho sản xuất chỉ có thể pháttriển ở một giới hạn nào đó Khi đã đến giới hạn này, muốn sản xuất phát triểnđược xã hội lại phải chuyển sang hình thái mới Sở dĩ phải có sự thay đổi về chấtmới tạo ra bước phát triển mới về lượng vì như trên đã đề cập, mỗi chất đều đượctạo từ một kết cấu xác định của một sự vật hiện tượng hay một hệ thống sự vật hiệntượng Các nhân tố và phương thức kết hợp các nhân tố của sự vật quyết định sựbiến đổi của lượng Nhưng bản thân các nhân tố và cả phương thức kết hợp giữachúng là cái có giới hạn, vì vậy nếu không thay đổi các nhân tố và cách sắp xếpgiữa chúng không thể tạo ra sự tăng “đột biến” về lượng Đó chính là ý nghĩa tolớn của những sự thay đổi mang tính cách mạng
Vì vậy, phương thức biến đổi phát triển của mọi sự vật trong thế giới kháchquan phải là từ sự biến đổi về lượng đi tới sự biến đổi về chất Trong chất mớilượng lại tăng dần từ thấp đến cao, nhưng đến một giới hạn nào đó nó bị dừng lại.Muốn lượng tiếp tục biến đổi chất mới phải ra đời thay thế chất cũ Đó là qui luậtvận động và phát triển của thế giới khách quan Điều này làm cho sự biến đổi và
(1) V.I.Lênin: TT, Nxb TB, M, 1978, t 29,tr.133
Trang 11phát triển vừa liên tục vừa gián đoạn, vừa tiệm tiến vừa nhảy vọt, chúng tạo nhữngchu kỳ của sự phát triển không ngừng trongthế giới khách quan.
3 Một số kết luận và ý nghĩa phương pháp luận.
Qui luật lượng đổi dẫn đến chất đổi chỉ rõ phương thức vận động biến đổi củathế giới khách quan nên nó cũng có ý nghĩa đối với việc hình thành phương thứchoạt động của con người
Trước hết, trong đời sống cũng như trong công tác, muốn tạo ra một sự biếnđổi về chất nào đó phải có sự tích lũy về lượng Tuỳ thuộc vào những hoàn cảnh cụthể mà sự tích luỹ này có thể nhanh chóng nhưng có những trường hợp phải lâudài Mọi tư tưởng nôn nóng, vội vàng, đốt cháy giai đoạn
đều chỉ có thể đưa tới thất bại Trên thế giới, nhiều cuộc cách mạng do “đẻ non”
mà không thành công Thời kỳ bao cấp trước đây, tư tưởng tiến thẳng lên chủnghĩa xã hội không cần những khâu trung gian cần thiết đã làm cho nhiều mục tiêu
đề ra không thể thực hiện được Ngày nay, tư tưởng nôn nóng trong lĩnh vực nàyhay lĩnh vực khác vẫn còn không ít Vì vậy thái độ bình tĩnh, phấn đấu bền bỉ kiêntrì, biết tìm ra những khâu trung gian cần thiết, những bước đi phù hợp là yêu cầuquan trọng đối với con người nói chung và đối với cán bộ quản lý nói riêng Vănkiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏqua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực là sựnghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài vớinhiều chặng đượng, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ” (1).Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn khác với tư tưởng bảo thủ, trì trệ Sự phát triển làphải đi đến sự biến đổi về chất, vì vậy phải tạo mọi điều kiện để thực hiện mục tiêu
đó, sao cho khi lượng đã biến đổi đến điểm giới hạn thì có thể thực hiện được sựbiến đổi về chất một cách kịp thời Chỉ lo biến đổi về lượng mà không chú ý đếnnhững điều kiện cho sự biến đổi về chất là sai lầm và khi lượng đã đến điểm giớihạn mà vẫn không thực hiện được sự biến đổi về chất thì tất yếu sẽ đưa tới khủnghoảng thậm chí có thể làm cho những mầm mống, những tiền đề đã hình thành bịthui chột và sự “đứt đoạn” càng lớn, ảnh hưởng tới tiến trình biến đổi của sự vật.Trong thời đại ngày nay, bọn đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ đang thực hiện
âm mưu “diễn biến hoà bình” Thực chất của âm mưu này là dùng các tác độngkiên trì, lâu dài, liên tục dần dần từng bước nhằm làm giảm lòng tin đối với chủnghĩa Mác - Lê nin, đối với lý luận cách mạng, đối với Đảng cộng sản đi tới xoá bỏĐảng cộng sản, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội giành ưu thế tuyệt đối cho chủ nghĩa tư
àn qu ốc lần thứ IX NXb CTQG, H N àn qu ội, 2001, trang
Trang 12bản Âm mưu này được thực hiện bằng các chiến thuật “rỉ máu” “mưa lâu thấmdần” trước đây, hay là các chiến thuật “thả bóng”, “chim nhồi rơm”, “đô la hoá”cán bộ hiện nay Đó là âm mưu hết sức thâm độc mà nếu thiếu cảnh giác có thểvấp phải những sai lầm nghiêm trọng Chiến thắng âm mưu này phải có sự nhìnnhận thực sự tỉnh táo, sáng suốt, nhận rõ thực chất của các thủ đoạn tuyên truyềncủa kẻ địch Đây cũng là một trong những cuộc đấu tranh tư tưởng hết sức phứctạp hiện nay.
Trang 13Câu 5.1: Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập?
Qui luật mâu thuẫn là qui luật cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật Nó
đã được con người nhận thức ngày càng sâu sắc và đầy đủ hơn Chính điều đó làmột tiền đề lý luận hết sức quan trọng để hình thành lý luận mác xít về mâu thuẫn.C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã kế thừa tư tưởng biện chứng về mâu thuẫn,tổng kết những thực tế của lịch sử loài người, khái quát những thành tựu mới củakhoa học từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX để luận giải mâu thuẫn một cáchkhoa học và vận dụng lý luận này để phân tích xã hội, tìm ra phương thức cải tạonó
Trên cơ sở xác định rõ qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập làhạt nhân của phép biện chứng, chủ nghĩa Mác đã làm rõ thực chất của mâu thuẫnbiện chứng thông qua việc phân tích bản chất của các mặt đối lập và mối quan hệgiữa chúng
1 Quan hệ của các mặt đối lập.
Trong cuộc sống thông thường, cho đến nay vẫn còn có không ít người đồngnhất các mặt đối lập với các lực lượng thù địch Dĩ nhiên thù địch cũng là mặt đốilập, nhưng cái đối lập lại không chỉ là những cái thù địch Trong các tác phẩm kinhđiển, Ph.Ăng ghen đã lấy nhiều ví dụ cụ thể để chỉ các mặt đối lập như cộng và trừ,nhân và chia, vi phân và tích phân trong toán học, điện âm và điện dương trong vật
lý, hoá hợp và phân giải trong hoá học, đồng hoá và dị hoá trong một cơ thể sinh
vật, các giai cấp đấu tranh với nhau trong xã hội Các mặt đối lập phải bao hàm
nhiều nội dung khác nhau Các mặt đối lập phải là những bộ phận, những nhân tố
có thuộc tính hoặc có khuynh hướng vận động trái ngược nhau Chúng phải cùng
tồn tại trong một sự vật, và chúng phải tác động qua lại với nhau để tạo nên sự vậnđộng và biến đổi của sự vật đó Vì cùng tồn tại trong một sự vật nên ngoài nhữngthuộc tính khuynh hướng vận động trái ngược nhau chúng lại phải có cái đó đồngnhất Chính V.I.Lênin đã khẳng định: “phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằngnhững mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng nhất, -trong những điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển hoá lẫn nhau”.Nếu không có sự “đồng nhất” không thể có sự chuyển hoá nào
Do những đặc điểm trên mà các mặt đối lập có sự thống nhất với nhau.Nghiên cứu “Bút ký triết học” của V.I.Lênin, ta thấy ông đề cập đến sự thống nhấttheo hai nghĩa Nghĩa thứ nhất đó là sự cùng tồn tại, sự liên kết nương tựa, bổ sung
Trang 14cho nhau của các mặt đối lập trong cùng sự vật Nếu không có sự thống nhất giữachúng sẽ không có bất cứ sự “tự vận động” nào và không có bất cứ sự phát triểnnào Chính sự thống nhất của phép cộng và phép trừ, phép nhân và phép chia, viphân và tích phân mới làm cho toán học đủ sức giải quyết những vấn đề phức tạpcủa cuộc sống Chính sự thống nhất của đồng hoá và dị hoá mới làm cho cơ thểsống có thể tồn tại và phát triển sự thống nhất ở đây là do bản chất của chúng quiđịnh.
Nhưng sự thống nhất còn có nghĩa hẹp hơn Đó là sự “phù hợp”, “đồng nhất”,
“tác động ngang nhau” Sự thống nhất này chỉ xảy ra trong từng giai đoạn pháttriển cụ thể của sự vật Phải nói rằng trong cuộc sống thường sự thống nhất của cácmặt đối lập thường được hiểu theo nghĩa này Nếu giữa các mặt đối lập không có
sự “đồng nhất”, “phù hợp”, chúng được xem như là không thống nhất mặc dùchúng vẫn cùng tồn tại trong một sự vật
Ngoài sự thống nhất, các mặt đối lập do bản chất của chúng là trái ngượcnhau nên tất yếu chúng phải đấu tranh với nhau Sự đấu tranh của các mặt đối lậpđược hiểu là sự bài trừ, phủ định lẫn nhau
Khi nói sự đấu tranh của các mặt đối lập, ta thấy V.I.Lênin đưa từ đấu tranhvào trong ngoặc kép (“đấu tranh”) Vì vậy, đấu tranh không thể theo một nghĩa hạnhẹp nào đó mà phải hiểu nó thực sự linh hoạt, tuỳ thuộc vào các sự vật cụ thể vàcác hoàn cảnh cụ thể
Khi nói về “đấu tranh” giữa các mặt đối lập, chủ nghĩa Mác có hai luận điểmquan trọng Luận điểm thứ nhất khẳng định thống nhất là tương đối còn đấu tranh
là tuyệt đối Trong “Bút ký triết học”, V.I.Lênin viết: “Sự thống nhất (phù hợp,đồng nhất, tác động ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thờithoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệtđối cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”(1) Nếu dựa vào luận điểm nàythì có thể hiểu thống nhất là tương đối chỉ có nghĩa là sự “phù hợp”, “đồng nhất”,
“tác động ngang nhau” của các mặt đối lập là tương đối Điều này có thể thấy rõ ởmọi sự vật, hiện tượng Tuy nhiên, nếu so sánh đấu tranh với vận động và thốngnhất với đứng im cũng có thể hiểu thống nhất là tương đối Vì mọi sự thống nhấtcủa các mặt đối lập chỉ có thể xét về một mặt nào đó, một phương diện nào đó.Nếu “thống nhất tuyệt đối” chúng không còn là các mặt đối lập nữa
Luận điểm thứ hai, đấu tranh là động lực của sự phát triển Trong thực tế dođồng nhất đấu tranh với mọi sự va chạm, đụng độ, với những sự rối loạn, mất ổn
(1) V.I.Lênin : TT, Nxb TB, M, 1978, t 29, tr.379-380
Trang 15định nên con người thường ác cảm với đấu tranh Tuy nhiên, trong thực tế, nếukhông có đấu tranh sẽ không thể đưa đến sự phát triển Chính thông qua đấu tranh
mà các mặt đối lập phải điều chỉnh lại cho phù hợp với sự vận động biến đổi củachúng cũng như phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử mới Chính đấutranh mới làm cho những cái cũ, cái lỗi thời có thể mất đi và cái mới, cái tiến bộ cóthể ra đời Trong các xã hội có giai cấp đối kháng, ở mỗi thời đại, nhờ có nhữngcuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân mà giai cấp thống trị phải điều chỉnh lạicác mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội và điều đó đã làm cho các hình thái kinh
tế - xã hội vận động từ thấp đến cao Trong một tổ chức xã hội, trong mỗi conngười nếu không có sự đấu tranh giữa cái đúng và cái sai, cái thiện và cái ác, cáiphải và cái trái sẽ không có bất kỳ sự phát triển nào Ngay chủ nghĩa tư bản nếukhông có phong trào đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp công nhân thì làm sao có sựthay đổi phương thức bóc lột, có sự chú ý đến việc thay thế các máy móc thiết bị
đã cũ, thay đổi điều kiện làm việc của công nhân Nhiều triều đại phong kiến,nhiều chế độ xã hội đã thối nát, mục ruỗng đến cực độ nhưng để xoá bỏ nó vẫn tốnbiết bao xương máu, vẫn cần biết bao sự hy sinh của những các lực lượng xã hộitiến bộ Cho nên đấu tranh có một ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của sự vật
Có điều không thể đồng nhất sự đấu tranh với các hiện tượng bè phái mất đoàn kết,
vì các hiện tượng này không tạo ra sự phát triển Vì thế V.I.Lênin khẳng định: “Sựphát triển là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”(1)
Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho các mặt đối lậpchuyển hoá Sự chuyển hoá của các mặt đối lập diễn ra dưới nhiều hình thức Hìnhthức thứ nhất là chuyển hoá từng mặt, từng khía cạnh của mặt đối lập này sang mặtđối lập khác Chẳng hạn trong xã hội có giai cấp đối kháng, lối sống của giai cấpnày có thể ảnh hưởng đến tư tưởng, lối sống của một bộ phận trong giai cấp khác.Trong các thời kỳ cách mạng, những cá nhân tiến bộ thuộc các giai cấp thống trị cóthể chuyển sang hàng ngũ giai cấp cách mạng Hình thức thứ hai là có thể mặt đốilập này chuyển thành mặt đối lập khác, Thí dụ: thẳng trở thành cong và ngược lại.Trong một số trường hợp cụ thể, thiện có thể trở thành ác và ngược lại Hình thứcthứ ba là có thể cả hai mặt đối lập đều bị triệt tiêu và chuyển thành những mặt đốilập mới Chẳng hạn, khi chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã, cả hai giai cấp chủ nô và nô
lệ căn bản bị triệt tiêu, hai giai cấp mới là địa chủ phong kiến và nông dân hình thành.Như vậy, thông qua sự tác động qua lại của các mặt đối lập mà mọi sự vậtluôn luôn vận động, biến đổi, phát triển
2 Mâu thuẫn của sự vật.
Trang 16Trong thực tế, mâu thuẫn có hai cách hiểu khác nhau Một cách tổng quát cóthể thấy khi sự vật được tạo thành bởi các mặt đối lập thì ở trong nó đã luôn chứađựng mâu thuẫn và mâu thuẫn này vẫn tồn tại chừng nào sự vật chưa bị phá vỡ Vì
vậy, theo nghĩa chung nhất mâu thuẫn là sự tác động qua lại của các mặt đối lập.
Với cách nhìn đó, chủ nghĩa Mác cho rằng bất kỳ sự vật nào cũng chứa mâu thuẫn.Không ở đâu không có mâu thuẫn và không bao giờ không có mâu thuẫn Nhìn sựvật mà chỉ thấy sự đồng nhất, “đồng nhất tuyệt đối” là lối nhìn hời hợt, nông cạn,
bề ngoài Tuy nhiên, mâu thuẫn còn có nghĩa thứ hai Đó là sự bất đồng, sự không
phù hợp, sự mất cân bằng giữa các mặt đối lập Trong cuộc sống thường nói đến
mâu thuẫn theo nghĩa này Chính khi Mác phân tích những mâu thuẫn giữa lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa tư sản và vô sản trong xã hội tư bản chủnghĩa cũng như phân tích mâu thuẫn giữa các giai cấp trong xã hội ông đều dùngmâu thuẫn theo nghĩa thứ hai này Khi Đảng ta phân tích những mâu thuẫn giữanhân dân ta và bọn đế quốc phong kiến, mâu thuẫn giữa phe phái trong hàng ngũcủa địch cũng đều nói đến những sự bất đồng, những xung đột giữa các lựclượng xã hội Mâu thuẫn trong trường hợp này được hiểu là điểm đỉnh của sự khácbiệt giữa các mặt đối lập, là sự phát triển của các yếu tố không phù hợp, những sựtrái ngược giữa chúng Tất nhiên, dù hiểu mâu thuẫn theo bất kỳ nghĩa nào thì nó
vẫn là nguồn gốc của sự phát triển Nói mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển
không có nghĩa là tuyệt đối hoá vai trò của mâu thuẫn, là đề cao mâu thuẫn Vấn đềchính ở đây là muốn khẳng định rằng, có mâu thuẫn mới có đấu tranh và chỉ cóđấu tranh mới tạo ra sự phát triển như phần trên đã đề cập Tuy nhiên, mỗi sự vậtkhông phải chỉ có một mâu thuẫn mà có thể có rất nhiều mâu thuẫn và vai trò củacác mâu thuẫn này đối với sự phát triển của sự vật không giống nhau Vì vậy, triếthọc mác-xít đã chia mâu thuẫn thành các loại khác nhau
3 Phân loại mâu thuẫn
Trang 173.1 Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại của các mặt đối lập tạo thành sựvật Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa sự vật này và sự vật khác Chẳng hạn,mâu thuẫn giữa các giai cấp trong một dân tộc là mâu thuẫn bên trong; mâu thuẫngiữa dân tộc này và dân tộc khác là mâu thuẫn bên ngoài Sự phân biệt mâu thuẫnbên trong và bên ngoài chỉ có tính chất tương đối vì nó tuỳ thuộc vào sự vật đượcxác định là như thế nào Trong ví dụ trên, nếu xem mỗi giai cấp là một sự vật thìnhững mâu thuẫn diễn ra trong nội bộ giai cấp ấy là bên trong còn mâu thuẫn giữacác giai cấp trong một dân tộc lại trở thành mâu thuẫn bên ngoài Trong hai mâuthuẫn này, mâu thuẫn bên trong bao giờ cũng giữ vai trò quyết định đối với sự vậnđộng và biến đổi của sự vật Mâu thuẫn bên ngoài có thể tác động vào mâu thuẫnbên trong theo những hướng khác nhau Mâu thuẫn bên ngoài có thể thúc đẩy mâuthuẫn bên trong, ngược lại mâu thuẫn bên ngoài cũng có thể kìm hãm mâu thuẫn bêntrong
3.2 Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu Mâu thuẫn chủ yếu là mâu
thuẫn nổi lên trong từng giai đoạn và việc giải quyết nó sẽ tạo cơ sở để giải quyếtcác mâu thuẫn khác Những mâu thuẫn cùng tồn tại trong giai đoạn này nhưng nókhông mang tính cấp bách hoặc không ảnh hưởng lớn đến sự biến đổi của sự vật ởgiai đoạn đó là mâu thuẫn thứ yếu Trong quá trình vận động của sự vật, có mâuthuẫn là chủ yếu trong giai đoạn này nhưng lại là thứ yếu trong giai đoạn khác vàngược lại Thí dụ, trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, mâu thuẫn chủ yếu làmâu thuẫn giữa các lực lượng chính trị đối lập nhau, nhưng khi chính quyền đã vềtay giai cấp cách mạng thì những mâu thuẫn trong sự phát triển kinh tế, ổn định đờisống xã hội lại có thể trở thành mâu thuẫn chủ yếu
3.3 Mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn nảy
sinh từ bản chất của sự vật, tồn tại cùng với sự vật, qui định sự tồn tại và biến đổicủa sự vật, đồng thời là cơ sở nảy sinh các mâu thuẫn khác Thí dụ, mâu thuẫn cơbản của chủ nghĩa tư bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao củalực lượng sản xuất và chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn cơ bảnnhất của thời đại ngày nay là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn giữa các mặt, các bộ phận nằm ngoàibản chất Trong xã hội tư bản, hàng loạt các mâu thuẫn gia đình, xã hội, nhữngmâu thuẫn cá nhân trong cuộc sống hàng ngày là những mâu thuẫn không cơ bảncủa xã hội này
Trang 18Chủ nghĩa Mác còn phân biệt mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đốikháng Đây là những mâu thuẫn đặc thù của xã hội Mâu thuẫn đối kháng là mâuthuẫn giữa các giai cấp có lợi ích cơ bản đối lập nhau Đó là các mâu thuẫn giữachủ nô và nô lệ, giữa chúa đất và nông nô, giữa tư sản và vô sản Trong tuyên ngôncủa Đảng cộng sản, C.Mác và Ph.Ăng ghen cho rằng những mâu thuẫn đối khángchỉ tồn tại trong xã hội có giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột Khi xã hội khôngcòn giai cấp thì mâu thuẫn vẫn tồn tại nhưng đối kháng mất đi.
Ngược lại với mâu thuẫn đối kháng, mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫngiữa những giai cấp, những lực lượng xã hội có lợi ích cơ bản thống nhất nhưng lợiích không cơ bản, cục bộ tạm thời lại đối lập nhau Đó là mâu thuẫn giữa các tầnglớp dân cư trong cùng một giai cấp hay mâu thuẫn giữa các giai cấp như công nhân
và nông dân, công nhân và trí thức v.v… Như vậy, mâu thuẫn không chỉ khác nhau
về bản chất mà còn khác nhau về trình độ phát triển và về vai trò của nó đối với sựphát triển của sự vật trong suốt quá trình tồn tại của nó hay trong từng giai đoạn cụ thểkhác nhau
3 Một số kết luận về ý nghĩa phương pháp luận
Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là qui luật có ý nghĩa hếtsức quan trọng đối với hoạt động của con người Do mâu thuẫn là nguồn gốc của
sự vận động và phát triển nên muốn hiểu rõ sự vật hay cải tạo nó phải nhận thứcđược mâu thuẫn Trong xã hội xác định được mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản sẽ
có cơ sở để đề ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn; xác định rõ mâu thuẫnchủ yếu sẽ có các giải pháp tập trung để giải quyết
những vấn đề trọng yếu nhất tạo ra khả năng phát triển của xã hội trong từng giaiđoạn phát triển của nó Đặc biệt khi có những vấn đề bức xúc nảy sinh thì việcphân biệt rõ mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng có ý nghĩa cực kỳ quantrọng Điều đó sẽ giúp cho một tổ chức cách mạng hay các cá nhân phân biệt rõbạn và thù và đề ra được phương thức giải quyết mâu thuẫn thích hợp, tuỳ vào tìnhhình cụ thể
Nhận thức mâu thuẫn không phải chỉ là nhận thức loại hình mâu thuẫn màcòn phải xác định được trình độ phát triển của nó Đó là những mâu thuẫn vừa nảy sinhhay mâu thuẫn đã đến độ chín muồi Cùng một mâu thuẫn nhưng trình độ phát triển khácnhau thì phương thức giải quyết cũng khác nhau
Tuy nhiên, muốn nhận thức mâu thuẫn phải căn cứ vào các mặt đối lập,không dựa trên các mặt đối lập và những mối quan hệ cơ bản của chúng không thểxác định rõ loại hình mâu thuẫn cũng như trình độ phát triển của mâu thuẫn
Trang 19Việc phân tích và giải quyết mâu thuẫn không phải chỉ đòi hỏi sự nhiệt tình,hăng hái mà phải có sự hiểu biết, có tri thức khoa học, có vốn sống nhất định.Thiếu tri thức và vốn sống cần thiết sẽ không nhận thức đúng được bản chất củamâu thuẫn và do đó cũng không thực sự hiểu biết được thế giới khách quan, không
đề ra được những phươngthức giải quyết các vấn đề đặt ra một cách có hiệu quả.Lịch sử phát triển của xã hội loài người thực chất là lịch sử phát hiện và giải quyếtcác mâu thuẫn Năng lực của một cán bộ lãnh đạo quản lý trước hết phải là nănglực phát hiện ra các mâu thuẫn và tổ chức chỉ đạo quần chúng nhân dân giải quyếtcác mâu thuẫn đó Chính vì vậy, đường lối cách mạng Việt Nam từ khi Đảng cộngsản Việt Nam ra đời đến nay bao giờ cũng dựa trên cơ sở của việc phân tích nhữngmâu thuẫn ở Việt Nam và trên thế giới Không căn cứ vào các mâu thuẫn cần phảigiải quyết, một đất nước, một dân tộc, một Đảng không thể tìm ra những giải pháptích cực nhất để vượt qua những thách thức, tiếp tục phát triển trong quá trình thựchiện những nhiệm vụ mà lịch sử đặt ra
Trang 20Câu 8: Quy luật phủ định của phủ định?
Quy luật phủ định của phủ định, lần đầu tiên được đề cập tới một cách sâusắc trong triết học của Hêghen Hêghen đã xem đó là quy luật cơ bản làm cơ sởcho cả hệ thống triết học của ông Ông nhận thấy "cái hữu hạn", thông qua sự phủđịnh cái phủ định của nó mà trở thành vô hạn Hêghen cũng là người đã nhận thấy
"sự duy trì cái khẳng định trong cái phủ định" và cho rằng "cái khẳng định" và "cáiphủ định" thống nhất với nhau Dĩ nhiên Hêghen đã mô tả quy luật phủ định củaphủ định như là một quy luật vận động của các ý niệm, quy luật của tư duy
Kế thừa những hạt nhân hợp lý trong triết học Hêghen, chủ nghĩa Mác đãxây dựng quan điểm khoa học về quy luật phủ định của phủ định với tư cách làmột quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
1 Phủ định biện chứng và những đặc điểm của nó.
Để hiểu đúng đắn quy luật phủ định của phủ định trước hết phải hiểu rõ thếnào là phủ định Về phạm trù này có hai cách hiểu khác nhau: hiểu theo quan điểmbiện chứng và hiểu theo quan điểm siêu hình Quan điểm siêu hình cho phủ địnhchỉ là sự không thừa nhận một sự vật hay một thuộc tính nào đó của sự vật Đó là
sự tác động từ bên ngoài nhằm phá hủy, thủ tiêu, loại bỏ sự vật, là sự "phủ địnhsạch trơn" không giữ lại bất cứ đặc trưng nào của sự vật
Ngược lại, quan điểm biện chứng cho phủ định là một kết quả tất yếu trongquá trình vận động biến đổi của bản thân sự vật Nguyên nhân của sự phủ định là
do sự tác động của các nhân tố tạo thành sự vật đặc biệt là sự tác động qua lại củacác mặt đối lập ở bên trong sự vật tạo ra Sự tác động qua lại này làm cho lượngbiến đổi và khi lượng biến đổi đến điểm giới hạn thì chất cũ mất đi và chất mới rađời Sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới thay thế nó trong quá trình này làphủ định biện chứng
Trang 21Do đó phủ định biện chứng là sự thay thế cái cũ bằng cái mới phù hợp hơn
do những biến đổi bên trong của sự vật cũ tạo ra
Phủ định biện chứng bao giờ cũng có hai đặc điểm cơ bản
Đặc điểm thứ nhất: phủ định biện chứng là sự tự thân phủ định Nó không
phải là sự áp đặt từ bên ngoài mà do sự biến đổi bên trong, do sự thống nhất và đấutranh của các mặt đối lập tạo ra
Đặc điểm thứ hai của phủ định biện chứng là nó mang tính kế thừa Do phủ
định biện chứng là sự tự phủ định, là sự ra đời của cái mới từ trong lòng cái cũ nênnhững tiền đề của nó phải được tạo ra từ trong cái cũ, đồng thời nó phải giữ lạinhững nhân tố hợp lý của cái cũ và phát triển bổ sung thêm để tạo ra cái mới
Chính sự kế thừa làm cho cái cũ và cái mới, quá khứ, hiện tại gắn kết vớinhau trong dòng chảy vô tận của sự vận động và phát triển Quan điểm biện chứngxem kế thừa là yếu tố căn bản nhất của phủ định biện chứng, là đặc trưng của phủđịnh biện chứng V.I.Lênin đã nhấn mạnh: "Không phải sư phủ định sạch trơn,không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, khôngphải sự do dự, cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trongphép biện chứng mà là sự phủ định coi như là vòng khâu của sự phát triển với sựduy trì cái khẳng định"(1)
Nhận định này đã làm rõ sự đối lập hoàn toàn của quan điểm biện chứng vàquan điểm siêu hình về sự phủ định Tất nhiên quan điểm biện chứng không phủnhận việc tất yếu phải loại bỏ những gì là tiêu cực, là lỗi thời, những cái đã trởthành lực cản của sự phát triển Chẳng hạn, trong lịch sử loài người, nếu không thủtiêu chế độ chiếm hữu nô lệ, xóa bỏ đặc quyền đặc lợi của giai cấp địa chủ phongkiến, không lên án kịch liệt tình trạng áp bức bóc lột trong xã hội tư bản, tư tưởng
bá quyền của bọn đế quốc hiếu chiến và không lật đổ ách thống trị của nó thì sẽkhông bao giờ có bước tiến lên của lịch sử, sẽ không có sự thay thế hình thái kinh
tế - xã hội cũ bằng hình thái kinh tế xã hội mới tiến bộ hơn Những sự phủ địnhtheo nghĩa "loại bỏ" nói trên là nhân tố hết sức quan trọng thậm chí là quan trọngnhất của mọi cuộc cách mạng chính trị Tuy nhiên, nếu chỉ thấy cách mạng là sự
"loại bỏ", "sự đập tan, sự "phá hủy hoàn toàn" cái cũ và phải xây dựng xã hội mới
từ những viên gạch đầu tiên thì lại rơi vào tư tưởng tả khuynh, là chỉ làm được mộthành động có tính chất tiêu cực thuần túy Một cuộc cách mạng chỉ có tính chấtphá hủy về thực chất chỉ có thể đưa xã hội trở lại tình trạng nguyên thủy ban đầu
Vì thế phủ định biện chứng chỉ loại bỏ những cái gì đã thực sự trở nên lỗi thời, còncái gì là hợp lý nó lại phải khẳng định, duy trì, phát triển, bổ sung trong quá trình
Trang 22hình thành cái mới Việc hình thành cái mới tiến bộ hơn là cái đích của phủ địnhbiện chứng.
2 Phủ định của phủ định - vòng khâu của sự phát triển.
Với cách hiểu phủ định như trên, ta có thể nói phát triển thực chất là quátrình phủ định liên tiếp từ thấp đến cao Tuy nhiên các lần phủ định không nối tiếpnhau theo một đường thẳng mà chúng làm thành những chu kỳ Những chu kỳ này
có thể gọi là những vòng khâu của sự phát triển Ở cuối mỗi vòng khâu, sự vật
"hình như là quay trở lại" với điểm xuất phát, với cái bị phủ định đầu tiên Điều đó
đã tạo ra cảm giác về sự vận động vòng tròn như từ hạt thóc nảy sinh cây lúa vàcây lúa lại sinh ra hạt thóc; quả trứng nở thành con gà và con gà lại sinh ra quảtrứng Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của sự vật, mỗi "vòng tròn" ấy là một
"vòng khâu của sự phát triển Cái vòng khâu này thường gồm hai lần phủ định liêntiếp nên được gọi là "phủ định của phủ định" Do phủ định có nguồn gốc từ sựthống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập nên lần phủ định thứ nhất bao giờ cũngtạo ra sự vật có nhiều đặc điểm đối lập với sự vật ban đầu Nhiệm vụ của lần phủđịnh này là công phá cái đã được khẳng định để mở ra sự phát triển mới Nhưng sựtồn tại của cái phủ định cũng có giới hạn của nó và đến một lúc nào đó nó lại tỏ rakhông đầy đủ và tất yếu phải bị thay thế Đó là nguyên nhân dẫn đến lần phủ địnhthứ hai Lần phủ định thứ hai lại tạo ra sự vật mới đối lập với "cái phủ định" của sựvật ban đầu và do đó nó có vẻ "trở về" với cái khẳng định ban đầu Lần phủ địnhthứ hai vừa khẳng định những cái gì là hợp lý của cái bị phủ định đầu tiên vừa pháttriển bổ sung nó, hoàn thiện thêm nó Chính những sự vận động như vậy đã hìnhthành một quy luật cơ bản đó là quy luật phủ định của phủ định Đương nhiên quyluật phủ định của phủ định là quy luật cơ bản của phép biện chứng nên nó khôngdiễn ra một cách giản đơn theo kiểu cơ giới Với tư cách là phủ định biện chứng nóphải có tính kế thừa Nhưng sự kế thừa của lần phủ định thứ hai giữ vai trò trọngyếu hơn trong lần phủ định thứ nhất vì lần phủ định này là kết quả tổng hợp của cảvòng khâu phủ định Lần phủ định thứ hai tạo ra sự vật mới ở trình độ cao hơn sovới cái bị phủ định đầu tiên trong vòng khâu này Mặt khác, mỗi vòng khâu phủđịnh không phải bao giờ cũng chỉ đơn giản có hai lần phủ định mà có thể có nhiềulần phủ định liên tiếp khác nhau Quá trình từ cái trứng tằm nở ra con tằm và đểhình thành những trứng tằm mới phải thực hiện tới 4 lần phủ định kế tiếp nhau.Trong xã hội loài người, để đi từ cộng sản nguyên thủy đến cộng sản văn minh saunày, mọi dân tộc đều phải qua nhiều lần phủ định Ngoài những trường hợp đã nêu,quy luật phủ định của phủ định còn có vô vàn các hình thức khác nhau mà chúng ta
Trang 23chỉ có thể phân biệt chúng trong những trường hợp thật cụ thể Bất cứ sự nhận thứcmáy móc, siêu hình nào về quy luật này cũng đều dẫn tới sai lầm.
Thông qua các vòng khâu phủ định, sự phát triển bao giờ cũng đi theo conđường "xoắn ốc" "Đường xoắn ốc" không phải là con đường đi lên cụ thể của các
sự vật mà thực chất là quá trình vận động vừa "lặp lại", vừa nâng cao trong quátrình vận động của các sự vật hiện tượng Chính quan niệm này đã khắc phục đượcnhững tư tưởng siêu hình về sự phát triển - sự phát triển theo vòng tròn hay sự vậnđộng theo đường thẳng đơn thuần và vì vậy nó có ý nghĩa phương pháp luận quantrọng đối với những hoạt động của con người Như vậy, quy luật phủ định của phủđịnh không chỉ nói rõ xu thế của sự vận động và phát triển mà còn nói rõ cách thứcvận động phát triển trong thế giới khách quan Đó là quy luật phổ biến của tựnhiên, xã hội và tư duy, là kết quả tất yếu do sự thống nhất và đấu tranh cuả cácmặt đối lập, là kết quả của quá trình chuyển hoá về lượng đưa đến sự biến đổi vềchất Chính vì vậy quy luật này có ý nghĩa phương pháp luận hết sức quan trọng
3 Một số kết luận có ý nghĩa phương pháp luận.
Quy luật phủ định của phủ định là quy luật của sự phát triển nên muốn pháttriển được phải biết phủ định Điều đó đòi hỏi trước hết phải tìm ra những cái đãlỗi thời, những cái còn hạn chế, những thiếu sót, những khuyết tật để phê phán,loại bỏ Mặt khác trong quá trình phủ định lại phải luôn chú ý đến sự kế thừa đặcbiệt là kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa của nhânloại Ở Việt Nam có nhiều giá trị truyền thống quý báu như chủ nghĩa yêu nước,tinh thần độc lập tự cường, ý thức cộng đồng Những giá trị tinh thần này cầnđược phát huy trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước Trong văn kiện Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ IX, khi đề cập tới yêu cầu phát triển văn hoá , mở rộngquan hệ đối ngoại, Đảng ta luôn nhấn mạnh tới việc “kế thừa truyền thống cáchmạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc” (1) đồng thời “tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêmnền văn hoá nhân loại” (2) và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình hộinhập quốc tế Đó chính là quan điểm kế thừa hết sức đúng đắn của Đảng ta Chính
vì vậy, trong công tác tư tưởng phải đấu tranh mạnh mẽ với những tư tưởng bảothủ trì trệ nhưng đồng thời cũng phải kiên quyết phê phán tư tưởng phủ định sạchtrơn Những tư tưởng phủ định sạch trơn hay "hư vô chủ nghĩa" là những tư tưởngphản khoa học Nó chỉ có thể mang lại những mất mát, những tổn thất thậm chí tổn
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu to n qu àn qu ốc lần thứ IX NXb CTQG, H, 2001, trang 114
àn qu ốc lần thứ IX NXb CTQG, H, 2001, trang 115
Trang 24thất rất nặng nề Chẳng hạn đối với chủ nghĩa tư bản, phải đấu tranh chống lại tưtưởng đế quốc chủ nghĩa, tư tưởng bá chủ toàn cầu, phê phán những mặt trái củachủ nghĩa tư bản nhưng đồng thời lại phải biết chắt lọc, tiếp thu những thành tựu
mà loài người đã đạt được trong giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản đặc biệt
là các thành tựu về khoa học công nghệ, những thành tựu trong quản lý kinh tế,quản lý xã hội Loài người không thể dừng lại ở chủ nghĩa tư bản vì còn chủ nghĩa
tư bản thì không thể xóa bỏ được áp bức giai cấp, áp bức dân tộc Nhưng muốn đilên chủ nghĩa xã hội thì không thể thiếu nền văn minh mà loài người đã đạt đượctrong chủ nghĩa tư bản Đó là điều trước đây V.I.Lênin đã chỉ ra mà ngày nay cũngphải nhận thức thực sự sâu sắc và rõ ràng Tất nhiên, trong quá trình kế thừa cũngphải tránh tư tưởng kế thừa "nguyên xi", không chọn lọc, không đổi mới, khôngphát triển bổ sung Trong thực tế có người đã đồng nhất sự kế thừa với việc đemnguyên vẹn cái cũ, cái lỗi thời vào trong cuộc sống mới Họ khôi phục những hủtục nặng nề, đem cả những cái tiêu cực của chủ nghĩa tư bản vào trong quá trìnhxây dựng chủ nghĩa xã hội Về thực chất điều đó là làm cho lịch sử đi lùi lại chứkhông phải thúc đẩy lịch sử tiến lên "Kế thừa", tự bản thân nó đã bao hàm sự đổimới kể cả những truyền thống tốt đẹp cũng phải mang thêm nội dung mới Chỉ cónhư vậy mới tạo nên sự phát triển Đó là ý nghĩa cơ bản của quy luật phủ định củaphủ định
Câu 9: Những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật.
1 Cặp phạm trù cái riêng và cái chung
a Khái niệm
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một
quá trình hay một hệ thống các sự vật tạo thành một chỉnh thể tồn tại độc lập vớicái riêng khác Ví dụ, một tác phẩm văn học cụ thể, chẳng hạn tác phẩm “Chiếntranh và hoà bình”; một ngôi nhà cụ thể…
Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc
tính giống nhau được lặp lại trong nhiều cái riêng khác Ví dụ, thuộc tính là trungtâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả một quốc gia dân tộc của thủ đô Thuộc tínhnày được lặp đi, lặp lại ở tất cả các thủ đô riêng biệt như Hà Nội, Ph-nôm-pênh,Viêng-Chăn, Mát-xcơ-va…
Trang 25Cái đơn nhất là phạm trù triết học chỉ những đặc diểm, những thuộc tính
vốn có chỉ của một sự vật, hiện tượng, quá trình và không được lặp lại ở các cáiriêng khác Ví dụ, vân tay của mỗi người; số điện thoại (kể cả mã vùng, mã nướcluôn là đơn nhất)…
b Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
Theo triết học duy vật biện chứng:
- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng Ví dụ, chung
“thủ đô” chỉ tồn tại thông qua từng thủ đô cụ thể như Hà Nội Ph-nôm-pênh,Viêng-Chăn…
- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung, vì bất cứ cáiriêng nào cũng tồn tại trong mối liên hệ với cái riêng khác giữa những cái riêng ấybao giờ cũng có những cái chung giống nhau Ví dụ, trong một lớp học có 30 sinhviên, mỗi sinh viên coi như “một cái riêng”; 30 sinh viên này (30 cái riêng) liên hệvới nhau và sẽ đưa đến những điểm chung: đồng hương (cùng quê), đồng niên(cùng năm sinh), đồng môn (cùng học một thầy/cô), đều là con người, đều là sinhviên…
- Cái chung là một bộ phận của cái riêng, cái riêng không gia nhập hết vàocái chung Do đó, cái riêng phong phú hơn cái chung Tuy nhiên, cái chung sâu sắchơn cái riêng Ví dụ, cái chung của thủ đô là thuộc tính “trung tâm chính trị, kinh
tế, văn hoá của một quốc gia” Nhưng, từng thủ đô cụ thể còn có nhiều nét riêngkhác về diện tích, dân số, vị trí địa lý Cho nên, mt thủ đô cụ thể – với tư cách làcái riêng – có nhiều đặc điểm, thuộc tính hơn thủ đô (với tư cách là cái chung) Dovậy, cái riêng phong phú hơn cái chung Nhưng rõ ràng, thuộc tính “trung tâmchính trị, kinh tế, xã hội của một quốc gia dân tộc” sâu sắc hơn, nó phản ánh đượcbản chất sâu xa, ổn định, bền vững của thủ đô, những thuộc tính về dân số, vị trí,diện tích không nói ên được bản chất của thủ đô
- Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hoá lẫn nhau trong quá trình pháttriển của sự vật Bởi lẽ, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay mà ban đầuxuất hiện dưới dạng cái đơn nhất Dần dần cái chung ra đời thay thế cái đơn nhất.Ngược lại, cái cũ ban đầu thường là cái chung, nhưng do những yếu tố không cònphù hợp nữa nên trong điều kiện mới mất dần và trở thanh cái đơn nhất
c Một số kết luận về mặt phương pháp luận
Trang 26Cái chung chỉ tồn tại thông qua cái riêng Do đó để tìm cái chung cần xuấtphát tư nhiều cái riêng, thông qua cái riêng.
Trong hoạt động thực tiễn cần lưu ý, nắm được cái chung là chìa khoá giảiquyết cái riêng
Không nên tuyệt đối hoá cái chung (rơi vào giáo điều), cũng không nên tuyệtđối hoá cái riêng (rơi vào xét lạ)
Khi vận dụng cái chung voà cái riêng thì phải xuất phát, căn cứ từ cái riêng
mà vận dụng để tránh giáo điều
Trong hoạt động thựctiễn phải tạo điều kiện cho cái đơn nhất có lợi cho conngười dần trở thành cái chung và ngược lại để cái chung không có lợi trở thành cáiđơn nhất
Câu 10: Bản chất của nhận thức.
- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho sự vật chẳng qua chỉ là phức hợp cảm giác của con người Do vậy, nhận thức là nhận thức cảm giác của con người về sự vật, nhận thức trạng thái chủ quan của con người về sự vật
Chủ nghĩa duy tâm khách quan không phủ định nhận thức chân lý của conngười, nhưng lại giải thích nó một cách thần bí Chẳng hạn, Platôn cho nhận thức
là hồi tưởng lại, nhớ lại những cái mà linh hồn đã biết trước khi nhập và thể xáccon người Hêghen cho nhận thức không phải là nhận thức bản thân sự vật mà lànhận thức tinh thần thế giới đang tha hoá thành tự nhiên, xã hội, lịch sử
Chủ nghĩa duy vật trước Mác nhìn chung có quan niệm duy vật về nhận thứcnhưng lại siêu hình, máy móc, thiếu quan điểm lịch sử, thực tiễn về nhận thức Ví
dụ, Phoi ơ bắc quan niệm nhận thức một cách chết cứng, một lần là đủ, không cótính lịch sử, không vận động, không biến đổi
Những người theo trường phái hoài nghi chủ nghĩa thì nghi ngờ sự tồn tạicủa sự vật và nghi ngờ khả năng nhận thức của con người
Những người theo thuyết không thể biết cho rằng, con người không thể nhậnthức được bản chất của sự vật, chỉ có thể nhận thức được những hiện tượng bộc lộ
ra ngoài của sự vật mà thôi Như vậy, không có đại diện triết học nào trước Mácgiải quyết một cách đúng đắn, khoa học vấn đề bản chất của nhận thức
- Quan niệm về bản chất nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng thể hiện ở chỗ:
Trang 27Thứ nhất, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho nhận thức là quá trình phản ánh
hiện thực khách quan vào trong đầu óc người trên cơ sở thực tiễn Điều này cónghĩa là chủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận thế giới vật chất tồn tại kháchquan độc lập với ý thức của con người Cơ sở của nhận thức chính là thực tiễn lịch
sử – xã hội
Thứ hai, chủ nghĩa duy vật biện chứng công nhận khả năng nhận thức thế
giới của con người Không có cái gì mà con người không nhận thức được, chỉ cócái mà con người chưa nhận thức được mà thôi
Thứ ba, nhận thức là quá trình biện chứng, có vận động biến đổi, phát triển,
đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều hơn, từ chưa đầy đủ đến đầy đủhơn, từ bản chất cấp 1 đến bản chất cấp 2… nhưng không có giới hạn cuối cùng
Thứ tư, nhận thức phải dựa trên cơ sở thực tiễn, lấy thực tiễn làm mục đích
nhận thức, làm tiêu chuẩn kiểm tra chân lý
Tóm lại, nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế
giới khách quan vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn.
Trang 28Câu 7.1: Thực tiễn là gì? Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức?
1 Khái niệm
Tiếng Hy Lạp cổ: Practica có nghĩa đen là hoạt động tích cực Trước khitriết học Mác ra đời, các nhà duy vật đã đóng góp nhiều cho quan điểm duy vật vềnhận thức Nhưng chưa một đại biểu nào của chủ nghĩa duy vật trước Mác hiểuđược vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, đối với sự phát triển của xã hội Vìvậy, chủ nghĩa duy vật của họ mang tính chất trực quan Ngay cả Phoiơbắc, đạibiểu lớn nhất của chủ nghĩa duy vật trước Mác, cũng "chỉ coi hoạt động lý luận làhoạt động đích thực của con người, còn thực tiễn chỉ được ông xem xét và xác địnhtrong hình thức biểu hiện Do Thái bẩn thỉu của nó mà thôi"(1) Đối với Hêghen,thực tiễn chỉ là "hoạt động có ý chí của ý niệm" - tức hoạt động tinh thần, chứkhông phải là hoạt động vật chất cảm tính của con người
Kế thừa những yếu tố duy lý và khắc phục những hạn chế trong quan điểm
về thực tiễn trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra một quan điểm đúng đắn,khoa học về thực tiễn cũng như vai trò của nó đối với nhận thức và sự phát triểncủa xã hội Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức, C.Mác vàPh.Ăng ghen đã làm cho triết học của các ông hơn hẳn về chất so với toàn bộ triếthọc trước đó
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, thực tiễn là những hoạt động
vật chất cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và
xã hội
Như vậy, thực tiễn không phải là toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ lànhững hoạt động vật chất cảm tính nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Hoạt động vậtchất cảm tính là những hoạt động mà con người dùng lực lượng vật chất, công cụvật chất tác động vào đối tượng vật chất để làm biến đổi nó, trên cơ sở đó làm biếnđổi thế giới khách quan Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất nhất của con
(1) C.Mác - Ph.Ăngghen: TT, Nxb CTQG, H, 1995, t 3, tr.9.
Trang 29người Bởi lẽ, khác với hoạt động có tính chất bản năng tự phát của động vật nhằmthích nghi thụ động với thế giới bên ngoài, con người bằng và thông qua hoạt độngthực tiễn, chủ động tác động cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thíchnghi một cách tích cực với thế giới Hoạt động thực tiễn là hoạt động cơ bản, phổbiến của xã hội loài người, là phương thức chủ yếu của mối quan hệ giữa conngười với thế giới Không có hoạt động thực tiễn thì bản thân con người và xã hộikhông thể tồn tại và phát triển được Trong hoạt động thực tiễn, con người tiếp thukinh nghiệm lịch sử toàn nhân loại, vận dụng kinh nghiệm đó để cải biến hiện thựckhách quan, sản xuất ra của cải vật chất, tạo nên cả những vật phẩm vốn không cósẵn trong tự nhiên Hoạt động thực tiễn là những hoạt động có tính chất lịch sử - xãhội Bởi lẽ hoạt động đó chỉ có thể thực hiện được trong xã hội, thông qua cácquan hệ xã hội Hơn nữa, bản thân hoạt động thực tiễn có quá trình vận động, pháttriển, tức là có trải qua những giai đoạn lịch sử nhất định Do đó, hoạt động thựctiễn luôn có tính lịch sử - xã hội.
Thực tiễn tồn tại dưới nhiều hình thức, ở những lĩnh vực khác nhau, nhưnggồm những hình thức cơ bản:
+ Hoạt động sản xuất vật chất;
+ Hoạt động cải tạo chính trị - xã hội
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học
Trong đó, hoạt động sản xuất vật chất là quan trọng nhất, có sớm nhất và cơbản nhất Chính hoạt động sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của
xã hội loài người, là cơ sở cho sự tồn tại của các hình thức hoạt động thực tiễnkhác cũng như tất cả các hoạt động sống khác của con người Hoạt động chính trị -
xã hội thể hiện tính mục đích, tính tự giác cao của con người nhằm biến đổi, cải tạo
xã hội, phát triển các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội Hoạt động chính trị - xãhội bao gồm các hoạt động như đấu tranh giai cấp; đấu tranh giải phóng dân tộc;đấu tranh cho hoà bình, dân chủ, tiến bộ xã hội v.v Hoạt động chính trị - xã hộinhằm tạo ra môi trường xã hội lành mạnh, thuận lợi cho sự phát triển, phát huy mọinăng lực của con người Rõ ràng, thiếu hình thức hoạt động thực tiễn này, xã hộiloài người cũng không thể phát triển được
Hoạt động thực nghiệm khoa học là một dạng đặc biệt của hoạt động thựctiễn Đó là hoạt động được con người tiến hành trong điều kiện nhân tạo, để nhậnthức, cải tạo tự nhiên và xã hội theo mục đích của mình Ngày nay, trong điều kiệncách mạng và khoa học công nghệ hiện đại thì hình thức hoạt động thực tiễn nàycàng đóng vai trò quan trọng Ba hình thức hoạt động thực tiễn cơ bản này không
Trang 30tách rời nhau, luôn tác động lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển trong tiếntrình phát triển thống nhất liên tục của xã hội Ngoài ba hình thức cơ bản trên, hoạtđộng thực tiễn còn được thể hiện ở một số lĩnh vực khác như giáo dục, y tế, nghệthuật v.v Nhưng xét đến cùng, những hình thức hoạt động thực tiễn trong cáclĩnh vực trên lại thuộc về các hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người có ý thức, cho nên nó baogồm các yếu tố như nhu cầu, lợi ích, mục đích và phương tiện đạt kết quả Mặc dùvậy, hoạt động thực tiễn mang tính khách quan Nó có những quy luật tồn tại, vậnđộng, phát triển của riêng nó Các qui luật này không phụ thuộc vào ý muốn chủquan của con người Tất nhiên, hoạt động thực tiễn, ở mỗi giai đoạn lịch sử nhấtđịnh lại bị chế ước bởi những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể
2 Vai trò của thực tiễn đối với hoạt động nhận thức của con người
a Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức
Hoạt động thực tiễn của con người ngay từ đầu đã bị quy định bởi nhữngnhu cầu thực tiễn Muốn sống, muốn tồn tại, con người phải sản xuất, cải tạo tựnhiên và xã hội Chính nhu cầu sản xuất vật chất, cải tạo xã hội buộc con ngườiphải tìm hiểu, khám phá, nhận thức thế giới xung quanh Rõ ràng con người quan
hệ với thế giới xung quanh không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng và thông quathực tiễn Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới khách quan,làm cho thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính, những tính chất, nhữngtính quy luật để con người nhận thức Chính thực tiễn đã cung cấp cho nhận thứccủa con người những tài liệu về thế giới Như vậy, mọi tri thức của con người, xétđến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn
Thực tiễn còn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của
nhận thức, vì thế nó luôn thúc đẩy sự ra đời của các ngành khoa học mới Thực
tiễn có tác dụng rèn luyện các giác quan của con người, làm cho chúng phát triểntinh tế hơn, hoàn thiện hơn Trên cơ sở đó giúp nhận thức của con người đạt hiệuquả hơn Bởi lẽ, chính trong hoạt động thực tiễn, con người cũng cải biến luônchính bản thân mình, phát triển năng lực, trí tuệ của mình Ph.Ăng ghen đã khẳng
định: " chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới
tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tưduy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đãhọc cải biến tự nhiên"(1) Hoạt động thực tiễn còn là cơ sở để chế tạo ra các công
cụ, phương tiện, máy móc mới hỗ trợ con người trong quá trình nhận thức Chính
(1) C.Mác - Ph.Ăngghen: TT, Nxb CTQG, H, 1994, t 20, tr.720.
Trang 31nhu cầu chế tạo và cải tiến công cụ sản xuất cũng như công cụ, máy móc hỗ trợcon người nhận thức đã thúc đẩy nhận thức, tư duy phát triển.
b Thực tiễn là mục đích của nhận thức.
Nhận thức của con người là nhằm phục vụ thực tiễn, soi đường, dẫn dắt,chỉ đạo thực tiễn Nhận thức mà không nhằm mục đích phục vụ thực tiễn thì sẽ mấtphương hướng, bế tắc Mọi tri thức khoa học, mọi lý luận chỉ có ý nghĩa khi chúngđược áp dụng vào đời sống, vào thực tiễn và cải tạo thực tiễn
c Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
Tri thức của con người là kết quả của quá trình nhận thức Tri thức ấy có thểphản ánh đúng hoặc không đúng hiện thực khách quan Triết học Mác - Lênin chorằng, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm tra chân lý "Vấn đề tìmhiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn
không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn"(1) "Con người chứngminh bằng thực tiễn của mình sự đúng đắn khách quan của những ý niệm, kháiniệm, tri thức của mình, của khoa học của mình"(2) Dựa vào thực tiễn, người ta cóthể chứng minh, kiểm nghiệm chân lý Chỉ có thực tiễn mới có thể "vật chất hóa"được tri thức, hiện thực hóa được tư tưởng, qua đó mới có thể khẳng định hay phủđịnh một giả thuyết khoa học nào đó Có nhiều hình thức hoạt động thực tiễn khácnhau, do vậy cũng có nhiều hình thức kiểm tra chân lý khác nhau, như bằng thựcnghiệm khoa học, bằng việc áp dụng lý luận xã hội vào cải biến xã hội v.v Thực
tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối Tính
tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, là tiêu chuẩn
khách quan duy nhất để khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Tính tương đối thể
hiện ở chỗ, thực tiễn luôn vận động, biến đổi, phát triển, do đó "không bao giờ có
thể xác nhận hoặc bác bỏ một cách hoàn toàn một biểu tượng nào đó của con
người, dù biểu tượng ấy là thế nào chăng nữa"3) Vì vậy, xem xét thực tiễn trongkhông gian càng rộng, trong thời gian càng dài, trong chỉnh thể thì càng rõ, đâu làchân lý, đâu là sai lầm Cũng vì vậy, những tri thức đã đạt được trước kia và đãđược thực tiễn kiểm nghiệm thường xuyên bởi thực tiễn mới tiếp thu để được bổsung, hoàn thiện hơn Cho nên, chủ nghĩa Mác - Lênin yêu cầu: "Quan điểm về đờisống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức"(1
- Ý nghĩa phương pháp luận:
(1) C.Mác - Ph.Ăngghen: TT, Nxb CTQG, H, 1995, t 3, tr.10.
(2) V.I.Lênin: TT, Nxb TB, M, 1981, t 29, tr.203.
Trang 32Rút ra quan điểm thực tiễn trong nhận thức (điều này có nghĩa là quan điểmcủa triết học Mác-Lênin về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức là cơ sở lýluận cho quan điểm thực tiễn) Quan điểm thực tiễn yêu cầu:
- Nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người, phải xuấtphát từ thực tiễn
- Nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải gắn với hành
- Phải chú trọng công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện phát triển
lý luận
- Phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của lý luận
- Tránh tuyệt đối hoá thực tiễn và coi thườgn lý luận vì khi ấy sẽ rơi vàobệnh kinh nghiệm Ngược lại cũn cần tránh tuyệt đối hoá lý luận và coi thườngthực tiễn vì khi ấy sẽ rơi vào bệnh giao điều
Trang 33Câu 12: Lý luận và vai trò của lý luận đối với hoạt động thực tiễn?
1 Lý luận - sự phát triển cao của nhận thức con người.
Con người muốn biến đổi được tự nhiên và xã hội thì cần phải có nhữnghiểu biết về chúng, nhưng những hiểu biết đó không có sẵn trong con người Muốn
có tri thức, con người phải tác động vào thế giới khách quan bằng hoạt động thựctiễn Trên cơ sở đó, con người tích lũy được những tri thức kinh nghiệm Nhữngtri thức kinh nghiệm mới chỉ đem lại sự hiểu biết về từng mặt riêng lẻ, bên ngoàicủa sự vật, hiện tượng Ph.Ăng-ghen đã từng chỉ rõ: "Sự quan sát dựa vào kinhnghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu"(2 Đểnắm được cái tất yếu sâu sắc nhất, mối quan hệ bản chất của các sự vật, hiệntượng, con người phải khái quát những tri thức kinh nghiệm thành lý luận Nếu lýluận chỉ là sản phẩm khái quát hoá, trừu tượng hóa thuần túy của tư duy, thì lý luận
đó chỉ mang lại sự hiểu biết hư ảo, hoang đường Lý luận thực sự khoa học khi nó
được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Lý luận là sự tổng
kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xãhội tích trữ lại trong quá
trình lịch sử"(3) Lý luận được hình thành trên cơ sở khái quát kinh nghiệm thựctiễn, song không phải cứ có kinh nghiệm thực tiễn là hình thành được lý luận Lýluận được hình thành thông qua hoạt động tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của cácnhà lý luận Vì vậy, lý luận không thể ra đời một cách tự phát và luôn luôn phảiđược bổ sung, phát triển bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới, phong phú Dotính độc lập tương đối của mình, lý luận có thể vượt trước các dữ liệu thực tiễn.Nhưng xét đến cùng, lý luận không thể không dựa trên cơ sở kinh nghiệm thựctiễn
Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao, tínhlôgíc và tính hệ thống chặt chẽ Vì vậy, lý luận mang lại sự hiểu biết sâu sắc về bảnchất, về tính quy luật, tính tất yếu của các sự vật, hiện tượng của thế giới kháchquan Do đó, phạm vi ứng dụng của lý luận rộng hơn, phổ biến hơn so với kinhnghiệm
(2) C.Mác - Ph.Ăngghen: TT, Nxb CTQG, H, 1994, t 20, tr 718.
Trang 342 Vai trò của lý luận đối với hoạt động thực tiễn.
Nhờ những ưu điểm của mình mà lý luận có vai trò hết sức to lớn đối vớihoạt động thực tiễn Lý luận khoa học thông qua hoạt động thực tiễn của con ngườigóp phần làm biến đổi thế giới khách quan và chính thực tiễn Nó đóng vai trò soiđường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Nó vạch ra phương hướng và phương pháp chohoạt động thực tiễn, nhằm biến đổi hiện thực khách quan theo hướng tiến bộ vì lợiích con người Nói về vai trò của lý luận cách mạng V.I.Lênin khẳng định: "Không
có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng"(1) Lý luận cóvai trò to lớn trong việc giáo dục, thuyết phục, động viên, tổ chức, tập hợp quầnchúng cũng như định hướng họ trong cuộc sống và trong hoạt động cách mạng Vìvậy, lý luận khi đã thâm nhập vào
quần chúng thì trở thành sức mạnh vật chất vĩ đại Lý luận với sức mạnh nội tạicủa mình, có thể dự kiến được xu hướng vận động, biến đổi, phát triển của sự vật,hiện tượng cũng như của thực tiễn Nó giúp con người chủ động, tự giác hơn tronghoạt động thực tiễn, tránh bớt được mò mẫm, tự phát
Lý luận là một hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánhnhững mối liên hệ bản chất, tất nhiên, tính quy luật của các sự vật, hiện tượngtrong thế giới khách quan Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh khái quátnhững vấn đề sinh động của thực tiễn Nó do thực tiễn quy định, nó phụ thuộc vàothực tiễn, nhưng nó có tính độc lập tương đối so với thực tiễn, nó có thể tác độngtrở lại thực tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn Lý luận có vai trò tác động tíchcực đối với thực tiễn, một khi nó phản ánh đúng hiện thực khách quan và thâmnhập được vào quần chúng Nếu lý luận sai lầm, ảo tưởng, chủ quan, giáo điều,kinh nghiệm v.v sẽ tác động tiêu cực trở lại đối với thực tiễn Cho nên, phải coitrọng lý luận nhưng không được coi thường, hạ thấp thực tiễn và tách rời lý luậnkhỏi thực tiễn
3 Vai trò của lý luận trong thời kỳ đổi mới và vấn đề chống bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều.
- Vai trò của lý luận đối với sự nghiệp đổi mới
Sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội do đảng ta khởi xướng và lãnh đạođầy khó khăn, gian khổ và phức tạp do tính chất, chiều sâu và tầm cỡ của nó Nhậnthức được tính khó khăn, phức tạp, cũng như chiều sâu và tầm cỡ của sự nghiệpđổi mới, càng đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nâng cao trình
độ lý luận của toàn Đảng Nếu lý luận không được phát triển, bổ sung để soi
(1 V.I.Lênin: TT, Nxb TB, M, 1975, t 6, tr.30.
Trang 35đường, dẫn dắt cho sự nghiệp đổi mới thì khó tránh khỏi mò mẫm, sai lầm và tổnthất Tốc độ nhịp điệu và hiệu quả của sự nghiệp đổi mới phụ thuộc rất nhiều vào
sự phát triển lý luận, vào đổi mới tư duy lý luận Văn kiện Đại hội lần thứ VII củaĐảng đã khẳng định: "Chỉ có tăng cường tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, thìcông cuộc đổi mới, mới trở thành hoạt động tự giác, chủ động và sáng tạo, bớtđược những sai lầm và những bước đi quanh co phức tạp"(1)
Để phát huy vai trò của lý luận trong thời kỳ đổi mới, lý luận phải thật sự
làm cơ sở khoa học cho sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước Đại hội
lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: "Công tác lý luận trước hết hướng vào những vấn
đề do cuộc sống đặt ra, làm rõ căn cứ khoa học của các giải pháp, dự báo các xuhướng phát triển, góp phần bổ sung, hoàn thiện đường lối của Đảng, làm cho ngàycàng sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta"(1) Từ Đại hội lần thứ VIcủa Đảng đến nay, công tác lý luận của Đảng ta đã có bước phát triển rõ rệt Lýluận của Đảng ta “đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho việc xây dựng, bổ sung
và phát triển đường lối đổi mới của Đảng; góp phần tăng cường sự thống nhấttrong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội” (2 Muốn phát huy tốt vai trò là cơ sở khoahọc cho sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước thì lý luận phải cung cấpđược những căn cứ khoa học đáng tin cậy cho việc hoạch định chủ trương, đườnglối của Đảng, chính sách của nhà nước, lý luận có tính khoa học càng cao thì càng
là cơ sở vững chắc cho đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước Để lý luậnthực sự có tác dụng làm cơ sở khoa học cho đường lối đổi mới của Đảng và sựquản lý của nhà nước, Đảng và nhà nước phải coi trọng lý luận, coi trọng đội ngũcán bộ lý luận, cán bộ khoa học, biết sử dụng họ vào công tác nghiên cứu, đề xuấtcác chủ trương, đường lối, chính sách Nghiên cứu lý luận trên cơ sở tổng kết thựctiễn phải trở thành mắt khâu đầu tiên của quy trình hoạch định đường lối, chínhsách
Lý luận định hướng cho hoạt động thực tiễn của cán bộ, đảng viên Hoạt
động thực tiễn của cán bộ, đảng viên trong điều kiện đổi mới, nếu không có sựđịnh hướng đúng đắn của lý luận khoa học sẽ trở nên mò mẫm, mất phương hướng.Hơn nữa, nếu lý luận không được thâm nhập vào thực tiễn bằng cách làm cơ sởkhoa học cho hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách; làm "kim chỉ nam"cho hoạt động của cán bộ, đảng viên sẽ bị tước đi sức mạnh vốn có của nó Mức
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu to n qu àn qu ốc lần thứ VII, Nxb CTQG, H 1991 tr.56.
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu to n qu àn qu ốc lần thứ VIII, Nxb CTQG H 1996, tr.140.
(2) Các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCHTW Khoá IX; Nxb CTQG, H, 2002, tr.64.
Trang 36độ, tính chất và kết quả của hoạt động thực tiễn của cán bộ, đảng viên đến đâu phụthuộc vào nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng là sự địnhhướng đúng đắn của lý luận Để lý luận làm tốt chức năng định hướng cho hoạtđộng của cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp đổi mới, thì những người làm công tác
lý luận phải thường xuyên bổ sung, phát triển lý luận; phải vận dụng lý luận để giảiđáp những vấn đề do thực tiễn đổi mới đặt ra; lý luận phải phản ánh đúng sự vậnđộng của quá trình đổi mới, đúng tâm tư, nguyện vọng của quần chúng Đồng thời,
tổ chức hoạt động thực tiễn cũng như tổng kết thực tiễn phải được quan tâm đúngmức
Lý luận góp phần dự báo xu hướng vận động của sự nghiệp đổi mới Sự
nghiệp đổi mới của chúng ta đầy khó khăn, phức tạp, diễn ra trong bối cảnh thếgiới nhiều biến động khó lường Nếu lý luận không thực hiện tốt vai trò dự báo thì
sự nghiệp đổi mới sẽ trở nên bị động Để thực hiện tốt vai trò, chức năng dự báo, lýluận phải biết dự kiến nhiều khả năng có thể xảy ra để có những biện pháp tácđộng, các phương án giải quyết chủ động thích hợp nhất Muốn vậy, người làmcông tác lý luận phải biết lựa chọn vấn đề đúng; hiểu thấu đáo quá khứ và hiện tại;xác định được tất cả các khả năng; biết đánh giá và lựa chọn chiến lược tối ưu.Đồng thời phải hiểu rõ mỗi chủ trương chính sách dù là đúng đắn nhất thì trong khi
tổ chức thực hiện, bên cạnh mặt tích cực
cũng thường xuất hiện những hệ quả tiêu cực nhất định Hơn nữa, thực tiễn đổimới luôn đặt ra những vấn đề mới, phải dự kiến trước, chủ động theo dõi, ngănngừa, giải quyết, tránh hoang mang, dao động, hốt hoảng
Lý luận làm cơ sở khoa học cho việc định hướng xã hội chủ nghĩa của công cuộc đổi mới Sự nghiệp đổi mới của chúng ta không phải là từ bỏ con đường phát
triển xã hội chủ nghĩa, mà ngược lại khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hộicủa chúng ta bằng những bước đi, hình thức, biện pháp phù hợp hơn Chính nhờ lýluận khoa học, mà chúng ta hiểu rõ đổi mới là tất yếu Nhưng đổi mới phải giữvững định hướng xã hội chủ nghĩa của sự phát triển Đổi mới phải được thực hiệntrên cơ sở kế thừa, phát huy truyền thống quý báu của dân tộc Đảm bảo tăngtrưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bảnsắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái Phát triển kinh tế nhiều thànhphần nhưng kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vữngmục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Để làm tốt vai trò là cơ sở khoa họccho việc định hướng xã hội chủ nghĩa của sự nghiệp đổi mới, lý luận trước hết phảigiúp cho việc nâng cao giác ngộ chính trị, giác ngộ giai cấp và lập trường cách
Trang 37mạng xã hội chủ nghĩa của cán bộ và nhân dân; xây dựng niềm tin vững chắc vào
sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường xã hội chủ nghĩa và quyết tâm thực hiệnđường lối đổi mới của Đảng; phê phán những biểu hiện dao động, hoài nghi, phủnhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời, lý luận còn chỉ ra
cơ sở khoa học của những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức, của lý tưởng vàtình cảm cách mạng, góp phần điều chỉnh, định hướng đúng đắn cho suy nghĩ,niềm tin, lý tưởng của đông đảo quần chúng nhân dân Trên cơ sở của lý luận khoahọc, chúng ta mới xây dựng và bồi dưỡng được cho cán bộ, đảng viên và nhân dânnhững phẩm chất chính trị, tiêu chuẩn đạo đức cách mạng, những phẩm chất vềtình cảm cách mạng Như vậy là góp phần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩacủa sự nghiệp đổi mới
- Bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều - nguyên nhân và phương hướng khắc phục
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủnghĩa Mác - Lênin Quán triệt nguyên tắc này, có ý nghĩa phương pháp luận quantrọng trong việc đấu tranh ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáođiều Như Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ: "Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thànhthực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông"(1)
Kinh nghiệm đóng vai trò hết sức to lớn trong nhận thức cũng như tronghoạt động thực tiễn Nhưng nếu coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinhnghiệm, coi nhẹ lý luận, không chịu học tập lý luận thì sẽ mắc bệnh kinh nghiệm.Người mắc bệnh kinh nghiệm thường nhân danh đề cao thực tiễn để hạ thấp lýluận, coi thường lý luận Họ không hiểu được rằng: "Có kinh nghiệm mà không có
lý luận, cũng như một mắt sáng một mắt mờ" (1) Bệnh kinh nghiệm có nhiều táchại, dễ dẫn tới việc coi thường lý luận, coi thường việc học tập lý luận, coi nhẹ vaitrò của cán bộ lý luận, của đội ngũ trí thức; dễ rơi vào lối suy nghĩ giản đơn, tư duyáng chừng, đại khái Trong hoạt động thực tiễn thì mò mẫm, tùy tiện, sự vụ, gặp đâuhay đó, thiếu nhìn xa trông rộng v.v
Bệnh kinh nghiệm ở nước ta có nhiều nguyên nhân khác nhau: ảnh hưởngtiêu cực của xã hội nông nghiệp cổ truyền; ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, tưtưởng tiểu tư sản; vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, khôngnắm được thực chất mối quan hệ biện chứng giữa kinh nghiệm và lý luận
Để khắc phục và ngăn ngừa có hiệu quả căn bệnh này phải quán triệt tốt trênthực tế sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, coi trọng cả lý luận và thực tiễn; coi
(1) Hồ Chí Minh: TT, Nxb CTQG, H 1996; t 8, tr.496.
Trang 38trọng công tác tổng kết thực tiễn; nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên
và nhân dân; từng bước khắc phục triệt để tư tưởng phong kiến, tư tưởng tiểu tưsản Đồng thời, tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, đổi mới công tác lý luận theo tinhthần Nghị quyết Trung ương năm Khoá IX của Đảng
Nếu cường điệu lý luận, coi nhẹ thực tiễn, coi lý luận là bất di bất dịch, tách
lý luận khỏi thực tiễn, vận dụng lý luận không căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử - cụthể sẽ mắc phải bệnh giáo điều Ở nước ta có hai loại giáo điều, đó là giáo điều lýluận biểu hiện ở việc học tập lý luận tách rời với thực tiễn, xa rời cuộc sống, rơivào bệnh sách vở, câu chữ, tầm chương trích cú v.v Giáo điều kinh nghiệm biểuhiện ở việc áp dụng dập khuôn, máy móc kinh nghiệm của nước khác vào nướcmình, của ngành khác vào ngành mình, của địa phương khác vào địa phương mìnhv.v không tính đến những điều kiện lịch sử - cụ thể Ở nước ta tồn tại chủ yếu làloại giáo điều kinh nghiệm Bệnh giáo điều ở nước ta có nhiều nguyên nhân: sựyếu kém về trình độ lý luận của cán bộ, đảng viên và nhân dân; tác động tiêu cựccủa cơ chế tập trung quan liêu bao cấp; vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn v.v
Để khắc phục và ngăn ngừa có hiệu quả cả hai loại giáo điều này, chúng taphải từng bước nâng cao trình độ tư duy lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhândân; hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; quán triệt tốt sự thống nhất giữa lýluận và thực tiễn v.v
Như vậy cả bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều ở nước ta ngoài nhữngnguyên nhân khác cùng có chung một nguyên nhân: vi phạm sự thống nhất giữathực tiễn và lý luận Đó là thực chất, của cả hai căn bệnh này Vì vậy, cùng với cácgiải pháp khác thì quan trọng là phải quán triệt tốt sự thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn
Quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn có thể bằng nhiều hìnhthức phong phú khác nhau như: tổng kết thực tiễn; vận dụng các lý thuyết khoa họcvào sản xuất, vào cải tạo xã hội; đẩy mạnh sự hợp tác giữa các trung tâm nghiêncứu với các cơ sở sản xuất; tăng cường hợp tác giữa các nhà lý luận và các nhàhoạt động thực tiễn trong tổng kết kinh nghiệm thực tiễn v.v Trong đó, tổng kếtthực tiễn là biện pháp cơ bản, trực tiếp, quan trọng nhất Vì vậy, Đảng ta đề ranhiệm vụ: “Coi trọng tổng kết thực tiễn trong nghiên cứu lý luận và trong hoạtđộng của các cấp uỷ đảng; coi tổng kết thực tiễn là nhiệm vụ thường xuyên của cáccấp, các ngành” (1)
(1) Các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCHTW Khoá IX; Nxb CTQG, H, 2002, tr.66-67
Trang 39Tổng kết thực tiễn là quá trình bằng tư duy khoa học với phương pháp duyvật biện chứng phân tích, đánh giá, khái quát thực tiễn nhằm rút ra những bài họccho chỉ đạo thực tiễn tiếp theo Trên cơ sở của tổng kết thực tiễn, chúng ta mớithấy rõ những ưu điểm của kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời phát hiện hạn chế của
nó, có căn cứ để không ngừng xem xét lại, bổ sung, sửa đổi, phát triển lý luận.Đồng thời, có cơ sở để khái quát thành lý luận
Tổng kết thực tiễn giúp chúng ta không bị dừng lại ở những tri thức kinhnghiệm cụ thể, cá biệt; không bị trói buộc vào một thực tiễn cụ thể nhất định haynhững tình huống cá biệt với những cách thức, phương pháp hành động cũ Chonên, tổng kết thực tiễn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển lý luận,khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều Đồng thời, tổng kết thực tiễn sẽgóp phần đảm bảo trên thực tế sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Để tổng kếtthực tiễn có hiệu quả thì phải đảm bảo được ba yêu cầu cơ bản: Tính khách quan;tính khái quát cao và tính mục đích đúng đắn
Yêu cầu khách quan trong tổng kết thực tiễn đòi hỏi phải quán triệt tốt quanđiểm duy vật biện chứng và phải có thái độ trung thực, để tránh tổng kết thực tiễntheo kiểu "tô hồng" hoặc "bôi đen" Yêu cầu khách quan cũng đòi hỏi không đượclấy ý đồ có sẵn của người tổng kết thực tiễn để áp đặt cho việc tổng kết thực tiễn,cũng không được lấy việc tổng kết thực tiễn để "chứng minh" cho ý muốn chủquan cá nhân Phải tôn trọng kết quả tổng kết thực tiễn, dù kết quả đó có trái vớimong muốn chủ quan Cần phải khắc phục tình trạng là khi tổng kết thực tiễn hoặcchỉ đổ lỗi cho hoàn cảnh khách quan, hoặc chỉ đổ lỗi cho những thiếu sót, khuyếtđiểm chủ quan Bởi lẽ, cả hai xu hướng này đều vi phạm nghiêm trọng yêu cầukhách quan trong tổng kết thực tiễn
Tính khái quát cao trong tổng kết thực tiễn đòi hỏi qua phân tích, đánh giá,xem xét các sự kiện thực tế, khi tổng kết kinh nghiệm thực tiễn phải rút ra đượcnhững kết luận có tính quy luật, tức là nắm được các mối liên hệ bản chất nhất
Những kết luận được rút ra từ tổng kết thực tiễn có tính khái quát cao là những kết
luận phải có tính phổ biến, tính điển hình và phải có giá trị thực tiễn cao, tức là
chúng có tác dụng định hướng, dẫn đường, chỉ đạo cho hoạt động thực tiễn khôngchỉ trước mắt mà còn cho giai đoạn tiếp theo Đồng thời, chúng góp phần vào việc
bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận
Tính mục đích đúng đắn đòi hỏi tổng kết thực tiễn, dù ở cấp nào, đều phảiphục vụ cho mục đích xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, phát triển chủ nghĩaMác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới Mọi biểu hiện xa rồi
Trang 40những mục tiêu trên, như chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại,chủ nghĩa thành tích, chủ nghĩa hình thức, tư tưởng cục bộ v.v đều làm cho tổngkết thực tiễn biến dạng nghiêm trọng Như vậy sẽ không quán triệt được trên thực
tế sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Cùng với việc quán triệt tốt những yêu cầu trên trong tổng kết thực tiễn,chúng ta còn phải thực hiện tốt quy trình tổng kết thực tiễn Quy trình tổng kết thực tiễn gồm các bước cơ bản: xác định mục đích và lựa chọn đúng vấn đề cầntổng kết; lập chương trình kế hoạch, tổ chức lưu lượng tổng kết; tiến hành điều tra,thu thập tư liệu, khảo sát thực tế; xử lý thông tin, phân tích tư liệu, dữ liệu, rút rakết luận và hướng dẫn vận dụng
Những giải pháp khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có quan hệchặt chẽ với nhau Vì vậy, thực hiện chúng phải đồng bộ, nhất quán Có như vậy,chúng mới mang lại hiệu quả thiết thực