1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ dân số và kinh tế

29 2,2K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ dân số và kinh tế
Chuyên ngành Dân số học
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 212 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề tài : Mối quan hệ dân số và kinh tế

Trang 1

Phần mở đầu

Mỗi nước có trình độ phát triển khác nhau thì tình trạng dân số cũng khác nhau : Qui mô dân số ở các nước đang phát triển lớn hơn và tăng nhanh hơn nhiều so với các nước đang phát triển, tỷ lệ trẻ em dưới 14 tuổi trong tổng dân số ở các nước đang phát triển (năm 1999) lại thấp hơn nhiều so với các nước đã phát triển 4% so với 14%, tình hònh sinh sản và tử vong ở hai nhóm nước này cũng có sự khác biệt rất lớn : theo thống kê từ năm 1950 tới nay,

số con trung bình của một phụ nữ ởi các nước nghèo bao giờ cung nhiều gấp hơn hai lần ở những nước giàu Tại sao lại có sự khác nhau ở các nước như vậy? Phải chăng là do sự phát triển khác nhau ở các nước khác nhau? Qua kết quả nghiên cứu dân số người ta giải thích được tại sao lại có sự khác nhau này, bởi vì tại giữa sự phát triển kinh tế - xã hội và dân số có mối quan

hệ hai chiều, chuyển hóa nhân quả giữa chúng, đó là các quá trình dân số : sinh, tử và di cư có mức độ cao hay thấp, nhiều hay ít, đưa tới việc xác định tình trạng dân số ở một lãnh thổ nhất định và tại một thời điểm nhất định, trên các phương diện quy mô, cơ cấu và phân bố theo lãnh thổ Kết quả này

sẽ tác động theo nhiều cách khác nhau đến quá trình phát triển như tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ, tỷ lệ tiêu dùng và tích luỹ, sử dụng các nguồn vốn Các quá trình trên dẫn tới mức độ bảo đảm việc làm, chất lượng môi trường, tình trạng công nghệ, y tế và giáo dục, địa vị phụ nữ Đến lượt nó, các kết quả này lại tác động mạnh đến các quá trình dân số sinh, tử, di cư; từ đó chúng ta thấy tồn tại mối quan hệ chặt chẽ hai chiều giữa một bên là dân số

và bên kia là sự phát triển Để có thể hiểu sâu hơn mối quan hệ này chúng ta

sẽ đi sâu vào phân tích ảnh hưởng của từng nhân tố phát triển đến dân số : y

tế, giáo dục, việc làm và dân số tác động ngược trở lại

Bài tiểu luận này sẽ làm rõ một phần những tác động, mối quan hệ giữa chúng qua từng phần của bài tiểu luận Bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót do trình độ cũng như thời gian có hạn, mong thầy chỉ bảo thêm cho em để có bài viết hoàn thiện hơn

Trang 2

Phần dân số và kinh tế

Về vấn đề này có nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm thì nhấn mạnh một chiều tác động tích cực hay tiêu cực của dân số đến kinh tế, chúng không thể giải thích được rõ mối quan hệ giữa chúng Muốn làm rõ mối quan hệ này ta phải xét sự tác động hai chiều từ dân số đến kinh tế và ngược lại, cả mặt tích cực lẫn tiêu cực Bởi phát triển kinh tế không chỉ phụ thuộc riêng vốn nhân lực mà mó còng phụ thuộc nguồn vốn khác như tài nguyên thiên nhiên, vốn vật chất kỹ thuật Để đánh giá đúng đắn tác động của dân

số đến kinh tế cần phải biết thêm sự gia tăng đó xảy ra ở đâu, trong điều kiện nào và như thế nào - do giảm tỉ lệ chết, tăng mức sinh hay do nhập cư; sự tăng dân số không phải là do một nguyên nhân như yếu hay thậm chí là quan trọng dẫn đến mức sống thấp, sự bất công nghiêm trọng hay quyền tự do lựa chọn bị hạn chế, vốn là đặc thù của thế giới thứ ba Phát triển ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu dân số, tỷ lệ sinh tỷ lệ chết như thế nào

I Dân số và kinh tế

I.1 Dân số - Nguồn lao động và việc làm

Các quá trình biến động dân số ảnh hưởng rất lớn đế sự phát triển của nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng và đi kèm theo nó là vấn đề việc làm Thực tế trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy mối quan hệ giữa dân số, nguồn lao động và việc làm cần được xem xét từ nhiều phương diện khác nhau Tái sản xuất dân số là nguồn cung cấp lực lượng lao động duy nhất cho xã hội nhưng nếu dân số tăng quá nhanh sẽ gây ra khó khăn

Trang 3

cho việc bảo đảm việc làm, nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà nước Cho nên

ở đây chúng ta sẽ phân tích, làm rõ sự tác động qua lại giữa biến động dân số

- lực lượng lao động và giải quyết việc làm

Xu hướng hiện nay trên thế giới đó là giảm sinh, kéo dài tuổi thọ, tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động so với tổng dân số ngày càng tăng lên Nhưng ở nước ta năm 1991 là 51,8%, năm 1997 là 57,91% trong khi đó ở các nước phát triển là 66,5%, ở các nước đang phát triển khoảng 60% (năm 1990)

Dân số Việt Nam Trong độ tuổi lao động

tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động từ 1991 đến 1997 ta thấy nó có xu hướng tăng dần nghĩa là số người bước và độ tuổi lao động đang có xu hướng tăng dần Những biến động này cho ta thấy nước ta đang ở trong thời kì đầu của hiện tượng "dư lợi dân số" khi tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh và tỷ lệ dân số trong độ tuổi phụ thuộc giảm xuống tương ứng Theo

Trang 4

dự báo của Liên hiệp quốc thì ở Đông Nam Á tỷ lệ dân số trong độ tuổi phụ thuộc từ năm 1995 sẽ giảm dần đến năm 2020 và sau đó tăng trở lại Hiện tượng "dư lợi dân số" chỉ kéo dài trong vài thập kỉ khi diễn ra quá trình giảm mức sinh nhanh chóng và mức chết ổn định.

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở Việt Nam

Năm Chỉ báo

1996 1997 1998

Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động trong tổng dân số 47,54 47,97 48,55

Tỉ lệ dân số từ đủ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao đông 74,02 72,30 71,43

Tỉ lệ dân số trong độ tuổi tham gia lực lượng lao đông 82,03 81,07 81,76

Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trong tổng dân số tăng dần qua các năm Tuy nhiên, tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số từ đủ 15 tuổi trở lên ở nước ta có xu hướng giảm dần Nhưng nó vẫn cao hơn mức trung bình của các nước đang phát triển : theo đánh giá của tổ chức Lao động Quốc tế thì các nước đang phát triển chi dao động trong khoảng : 64%-70% còn tỷ lệ bình quan trên toàn thế giới trong năm 1996 là 61,07% so với năm

1995 là 63,63% giảm 2,56% Trong những năm vừa qua, lực lượng lao động trong độ tuổi 35-54 tuổi tăng cả về số tuyệt đối và tỷ lệ năm 1996 : 35,60%, năm 1997:37,7% và năm 1998 là 40,31%, trong khi đó lực lượng lao động từ 15-35 tuổi và lao động trên 55 tuổi lại giảm

Tỷ lệ nữ trong lực lượng lao động giữ ở mức ổn định : năm 1996:50,61%, năm 1997:50,01% và năm 1998:50,04% Trong đó chia theo khu vực thành thị và nông thôn như sau :

1996 1997 1998

Trang 5

Khu Vực nông thôn 50,51 50,30 50,37

Trinh đọ văn hoá là cơ sở quan trọng đẻ nâng cao năng lực và kĩ năng làm việc của người lao động Số người từ biết đọc, biết viết trở lên tăng dần, từ 94,91% lực lượng lao động ( năm 1996) đến 96,17% (năm 1998) Như vậy, chỉ số người lớn biết chữ ở nước ta khá cao nhưng vẫn tăng lên qua mỗi năm

Trình độ học vấn phổ thông

Từ năm 1996 đến năm 1998 số người tốt nghiệp các cấp học phổ thông

có xu hướng tăng dân qua từng năm Tỉ lệ lao động biết chữ và chưa tốt nghiệp câpI đã giảm xuống tương ứng

Trình độ chuyên môn kĩ thuật

Số người chưa đào tạo nghề còn rất lớn, chiếm xấp xỉ 87% lực lượng

lao đông của cả nước Nhưng có sự chênh lệch giữa các vùng và ta còn thấy

sự bất hợp lí cơ cấu của trình độ lực lượng lao động kĩ thuật : tỉ lệ công nhân

kĩ thuật/ cán bộ trung cấp / cán bộ có trình độ đại học trở lên là 2,3/1,7/1 so với tỉ lệ của các nước phát triển là 10/4/1 Tỉ trọng lao động trí óc chỉ chiếm 7,9%, còn lao động chân tay và lao động giản đơn chiếm tới 92,1% Kết quả này so với các nước cùng khu vực Đông Nam Á thì chúng ta dang có nguy

cơ tụt hậu

Vậy lực lượng lao động của nước ta hiện nay rất dồi dào và không ngừng

tăng qua từng năm nhưng do chất lượng là như trên(không biết trên ở đâu)

dẫn đến tình hình lao động thường xuyên thiếu việc làm ở Việt Nam rất trầm trọng, tỷ lệ thất nghiệp còn tương đối cao nên vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay vẫn còn là vấn đề bức xúc, nóng bỏng

Lao động có việc làm thường xuyên tập trung chủ yếu ở khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp gần 70% do Việt Nam thuộc nhóm các

Trang 6

nước đang phát triển Song do tác động của quá trình công nghiệp hoá nên lao động trong các khu vực này có xu hướng giảm dần, năm 1996 : 69,80% năm 1997:65,84% và năm 1998 còn 63,48% Lao động trong khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đang tăng lên, năm 1996 : 30,20%, năm 1997 tăng lên 34,16% và năm 1998 là 36,43% trong đó khu vực dịch vụ có mức tăng mạnh nhất cả về số lượng tương đối và tỷ lệ.

Bên cạnh đó, tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam còn tương đối cao và không ổn định Trước đây do trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, thất nghiệp thường xuyên được ẩn dưới hình thức thiếu việc làm, tỷ lệ thất nghiệp thấp Nhưng từ khi chuyển đôi nền kinh tế ta đã thống

kê đầy đủ chính xác về tỷ lệ thất nghiệp hơn trước So với các quốc gia trên thế giới và trong khu vực, tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam còn tương đối cao : năm 1996 : 5,62% năm 1997:5,82%, trong khi đó các nước phát triển nư Mỹ :5,4%, Aixơlen:4,4% (năm 1996) và các nước đang phát triển : Malaixia:3%, Trung Quốc : 3% (năm 1996) Lực lượng thất nghiệp ở nước ta thường tập trung vào các vùng đông dân và những vùng đô thị lớn Các vùng nông thôn thường có tỷ lệ thất nghiệp thấp

Trang 7

Tỷ lệ thất nghiệp phân theo vùng

Nguyên nhân của nó là do tác động của gia tăng dân số (cả gia tăng tự nhiên và cơ học), do dân số tập trung đông vào một địa bàn nên nhu cầu về vốn, tư liệu sản xuất trở nên khó khăn, khan hiếm hơn các vùng khác, vấn

đề bảo đảm việc làm cũng khó khăn hơn

Tình trạng lao động thường xuyên thiếu việc làm ở Việt Nam rất trầm trọng và chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn Năm 1998 tỷ lệ lao động thiếu việc làm ở mức 28,19%, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ này cao nhất : 37,78% và vùng Tây Bắc có tỷ lệ thấp nhất : 18,12% Tình

Trang 8

trạng thiếu việc làm chủ yếu là thuộc khu vực sản xuất nông - lâm - ngư - nghiệp.

Sở dĩ tỷ lệ lao động ở khu vực nông thôn nước ta còn cao do tình trạng dân

số tăng quá nhanh trong lúc đó diện tích đất canh tác có hạn và ngày càng thu hẹp nên bình quân diện tích đầu người ngày càng nhỏ và không đủ đất cho lượng dân số ngày càng tăng này

Vì thế, hiện nay Đảng và Nhà nước ta ngoài các biện pháp tăng việc làm phân bố lại dân số nhằm điều hoà hợp lý giữa nhu cầu và khả năng bảo đảm cho việc àm cho người lao động trên bình diện quốc gia Còn phải tiếp tục phấn đấu giảm tỷư lệ gia tăng dân số, sơm ổn định dẫn số, ổn định nguồn lao động nên tỷ lệ gia tăng dân số đang giảm dần : giai đoạn 1986-1990 là 2,3% thì giai đoạn 1991-1995 là 2,0 và đạt mức xấp xỉ 1,8% vào năm 1997

I.2 Dân số - Gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế

Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế là tỷ lệ gia tăng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người hằng năm Gia tăng dân số và tăng trưởng kinh

tế có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau Công thức dưới đây dùng để minh hoạ cho mối quan hệ trên

Tỷ lện gia tăng GNP = Tỉ lệ gia tăng GNP - Tỉ lệ gia tăng dân số

(tính trên đầu người)

Qua công thức trên ta càng thấy rõ mối quan hệ giữa chúng để GNP bình quân đầu người thì tỷ lệ gia tăng GNP phải tăng nhanh hơn tỷ lệ gia tăng dân số và nếu có thể hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số mà không làm GNP bị giảm sút cung sẽ làm tăng GNP tính trên đầu người Thực tế đã minh chứng

Trang 9

Mức tăng trưởng kinh tế và gia tăng dân số qua hai giai doạn 5 năm ở Việt Nam

Tăng trưởng kinh tế Gia tăng dân số

Qua đó ta thấy giai đoạn 1991-1995 nền kinh tế tăng trưởng cao hơn giai đoạn 1986-1990, tỷ lệ gia tăng dân số giảm như vậy việc giảm tỷ lệ tăng dân số đã góp phân vào quá trình tăng trưởng của đất nước Mặc dù giai đoạn 1991-1995 kinh tế tăng trưởng cao chủ yếu do thực hiện đường lối đổi mới, huy động được mọi nguồn vốn đặc biệt thu hút được vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế

Trang 10

Để đi sâu vào việc ảnh hưởng của tỷ lệ tăng dân số đến tăng trưởng kinh

tế và tác động trở lại của tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thì chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu tăng trưởng dân số và gia tăng dân số trong các vùng kinh

tế của nước ta

Tăng trưởng kinh tế và gia tăng dân số trong các vùng kinh tế ở Việt

Như vậy giữa các vùng tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ tăng dân số có sự khác nhau Các vùng có sự tăng trưởng kinh tế cao thì tỷ lệ tăng dân số tương đối thấp như : Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ ; các vùng có

sự tăng trưởng thấp thì tỷ lệ gia tăng dân số cao như Tây Nguyên, duyên hải miền Trung Dân số tăng chậm đã góp phần làm cho tăng trưởng kinh tế cao Xét về mức hộ gia đình và cá nhân thì việc kiểm soát được mức sinh và quy mô gia đình ít còn có tác dụng trực tiếp đối với tăng trưởng phúc lợi xã hội của hộ gia đình và cá nhân Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là từ 15-49 tuổi thì từ 15-37 tuổi là lứa tuổi sinh cao nhất Và khi sinh con thì phải có chi phí

để nuôi con, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục phổ thông trong tình hình hiện nay

là tương đối lớn, nó chiếm khoảng 6%-11% thu nhập của hộ gia đình trong

Trang 11

năm Vì vậy nếu họ chủ động được việc sinh đẻ bằng cách áp dụng các phương pháp tránh thai thì ở độ tuổi 15-34 là độ tuổi đang sung sức, họ có thể đóng góp tích cực cho xã hội qua sự tham gia chủ động tích cực của họ vào thị trường lao động, đồng thời giảm tỉ lệ sinh xuống sẽ làm cho mức thu nhập đóng góp cho hộ gia đình tăng lên Đó cũng là nguyên nhân khiến cho hiện nay ở các nước đang phát triển tỷ lệ sinh của phụ nữ giảm xuống Và những ảnh hưởng của thu nhập đến mức sinh này cũng đã ảnh hưởng đén Việt Nam hiện nay, chúng tra có thể thấy rõ khi so sánh mức sinh của các nhóm dân cư đô thị và nông thôn, ở đô thị dân cư có mức thu nhập cao hơn

so với nông thôn nhưng có mức sinh thấp hơn mặc dù khả năng kinh tế cho phép họ đẻ nhiều con hơn

Sở dĩ ở các nước có nền kinh tế phát triển, tỷ lệ gia tăng dân số thấp, nhất là

tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên rất thấp là do những nguyên nhân sau :

- Khi nền kinh tế phát triển sẽ có điều kiện để làm tốt công tác giáo dục và y

tế, đầu tư có hiệu quả cho việc thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình nâng cao dân trí cùng với sự hiểu biết về kỹ thuật hạn chế sinh

đẻ và tổ chức tốt mạng lưới dịch vụ sinh đẻ có kế hoạch sẽ có tác dụng làm giảm tỷ lệ sinh

- Trong một quốc gia có nền kinh tế phát triển do nhu cầu về sáng tạo và áp dụng những tiến bộ về khoa học kỹ thuật hiện đại vào cuộc sống nên các bậc cha mẹ phải quan tâm nâng cao trình độ, hay "mặt chất lượng" của con cái hơn là số lượng Thực tế này đã làm giảm đáng kể nhu cầu về số lượng con

để tăng chất lượng cho chúng bao gồm cả thể lực trí lực và điều kiện sinh hoạt

- Trong nền kinh tế phát triển, người ta có thể thay thế chế độ bảo hiểm bằng

nhiều con để nương tựa lúc tuổi già bằng chế độ bảo hiểm xã hội và phúc lợi

khá tốt Sự trợ giúp của con cái đối với cha mẹ khi già yếu không phụ thuộc

Trang 12

và số lượng con đã khuyến khích gia đình qui mô nhỏ, ít con

- Giảm tốc độ gia tăng dân số và nâng cao tuổi thọ thông qua các chính sách hợp lý về phát triển giáo dục, y tế và đẩy mạnh chương trình kế hoạch hoá gia đình đối với các nước có nền kinh tế đang phát triển như : Hàn Quốc, Thái lan, Trung Quốc các nước này đã đạt được những thành tựu lớn trong việc phát triển kinh tế và tăng mức thu nhập binh quân của người dân

I.3 Dân sô - Tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư

Tiêu dùng là vấn đề cốt lõi của thị trường Dân số càng đông thì nhu cầu tiêu dùng càng lớn, khi dân cư có sức mua cao sẽ tạo ra một nhu cầu về thị trường hàng hoá lớn và chính nó lại thúc đẩy phát triển sản xuất Bên cạnh mặt tích cực của dân số đối với phát triển thị trường hàng hoá, mặt tiêu cực của sự gia tăng dân số nhanh cũng thể hiện rất rõ nét, đặc biệt là tại các nước đang phát triển như Việt Nam

Sản xuất lương thực, thực phẩm không đủ dùng

Tiêu dùng là một yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, mở rộng thị trường Có nhiều yếu tố xác định khối lượng và cơ cấu vật phẩm tiêu dùng và các loại dịch vụ nhưng quy mô, cơ cấu dân số là những yếu tố quan trọng

Nghiên cứu tác động của dân số đến tiêu dùng trên phạm vi trên toàn xã hội trước hết cho thấy khối lượng vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào quy mô dân số Chẳng hạn, lượng lương thực dùng tăng nhanh phụ thuộc vào quy mô dân số thế giới như bảng sau :

Sản lượng ngũ cóc trên thế giới(1950 – 1993)

Trang 13

Năm Tổng sản lượng (triệu tấn) Bình quân đầu người(kg)

Như vậy, nhìn chung trong khoảng 40 năm qua lượng lương thực đã tăng

cùng với qui mô dân số Qui mô dân số năm 1993 tăng lên trong khoảng thời

gian này đã tăng lên 2,7 lần

Dân số càng đông thì nhu cầu tiêu dùng càng lớn : Mỗi người dân là một

đơn vị tiêu dùng Tiêu dùng lớn dẽ giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy sản

xuất phát triển Tuy nhiên, bên cạnh đó khối lượng hàng hoá tiêu dùng sẽ

còn phụ thuộc vào sức mua, điều kiện thu nhập của người dân

Bảng số liệu về cơ cấu bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2000 của các vùng

Vùng núi phía bắc

Đồng bằng Bắc Bộ

Bắc Trung Bộ

Nam Trung Bộ

Tây Nguyên

Đông Nam Bộ

Đồng Bằng Nam BộGDP/Người(nghìn) 2.846,3 4.799,1 3.109,9 4.090,

Trang 14

Nguồn : Những vấn đề kinh tế thế giới - tháng 9/2003 Trung tâm khoa học

và xã hội nhân văn quốc gia - viện kinh tế thê giới và niên giám thống kê năm 2001)

Cơ cấu dân số theo giới tính, độ tuổi đã tác động trực tiếp đến cơ cấu tiêu dùng của mỗi địa phương, quốc gia và khu vực, do với giới tính khác nhau

và độ tuổi khác nhau thì con người có nhu cầu tiêu dùng cũng khác nhau.Bên cạnh mặt tích cực của dân số đối với sự phát triển thị trường hàng hoá, mặt tiêu cực của gia tăng dân số nhanh cũng thể hiện rất rõ nét, đặc biệt là tại các nước đang phát triển như Việt Nam Đó là sản xuất lương thực, thực phẩm không đủ tiêu dùng.Theo tính toán, mức ăn bình quân nhân khẩu hàng năm phải đạt trên 300kg lương thực quy thóc mới đủ đảm bảo lượng calo tiêu chuẩn cho cơ thể hoạt động bình thường Trước năm 1989, sản lượng lương thực có tăng nhưng do tỷ lệ gia tăng dân số quá nhanh nên không cung cấp đủ yêu cầu Do không đủ ăn nên từ năm 1875, nước ta mỗi năm phải nhập thêm 1 triệu tấn gạo Nhưng từ năm 1989 đến nay, nhờ đường lối đổi mới, sản xuất nông nghiệp phát triển, sản lượng lương thực tăng nhanh,

tỷ lệ gia tăng dân số lại giảm dần nên đã có sự dư thừa để xuất khẩu

Tiết kiệm và đầu tư là hai yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia bởi tiết kiệm nhiều sẽ tạo thêm vốn để đầu tư mở rộng sản xuất, tăng sản phẩm xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thầtn của con người Người ta đã chứng minh được rằng khối lượng tích luỹ của mỗi quốc gia phụ thuộc vào quy mô và cơ cấu dân số, nhất là cơ cấu dân

số theo độ tuổi Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ trẻ em nói riêng và tỷ số phụ thuộc nói chung thường lớn nên khối lượng tích luỹ nhỏ và tăng chậm Ngược lại, ở các nước phát triển tỷ lệ trẻ em thấp nên có điều kiện nâng cao tích luỹ tăng đầu tư phát triển sản xuất

Ngày đăng: 16/04/2013, 09:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu về cơ cấu bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2000 của các vùng - Mối quan hệ dân số và kinh tế
Bảng s ố liệu về cơ cấu bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2000 của các vùng (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w