Đề tài: Một số kiến nghị về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Trang 1Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan trong thế giới ngày nay
Không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu không tham gia vào quá trình
này Đối với các nước đang và kém phát triển (trong đó có Việt Nam) thì hội nhập
kinh tế quốc tế là con đường tốt nhất để rút ngắn tụt hậu so với các nước khác và có
điều kiện phát huy tối ưu hơn những lợi thế so sánh của mình trong phân công lao
động và hợp tác quốc tế Theo sự nhận thức như vậy thì vấn đề không còn là 'hội
nhập" hay "không hội nhập", mà là phải hội nhập như thế nào để có thể tận dụng tốt
cơ hội, giảm thách thức trong quá trình phát triển của mình trong điều kiện thế giới
có nhiều biến động khó có thể dự đoán hết
I BẢN CHẤT VÀ TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ
1 Khái niệm và bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế vận động tất yếu của các nền kinh tế
trên thế giới trong điều kiện hiện nay, khi quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá và
quốc tế hoá đang diễn ra hết sức nhanh chóng dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ
Hội nhập kinh tế quốc tế là một thuật ngữ đã xuất hiện trong vài thập kỷ gần
đây Nhưng cho đến nay vẫn đang tồn tại các cách hiểu khác nhau về hội nhập kinh
tế quốc tế
Có loại ý kiến có rằng: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự phản ánh quá trình các
thể chế quốc gia tiến hành xây dựng, thương lượng, ký kết và tuân thủ các cam kết
song phương, đa phương và toàn cầu ngày càng đa dạng hơn, cao hơn và đồng bộ
hơn trong các lĩnh vực đời sống kinh tế quốc gia và quốc tế Loại ý kiến khác lại
cho rằng hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình loại bỏ dẫn các hàng rào thương mại
quốc tế, thanh toán quốc tế và di chuyển các nhân tố sản xuất giữa các nước
Mặc dù còn có những quan niệm khác nhau, nhưng hiện nay khái niệm tương
đối phổ biến được nhiều nước chấp nhận về hội nhập như sau: Hội nhập kinh tế
quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức hợp tác kinh tế
Trang 2khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên có sự ràng
buộc theo những quy định chung của khối Nói một cách khái quát nhất, hội nhập
kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện mô hình kinh tế mở, tự nguyện
tham gia vào các định chế kinh tế và tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hoá và tự
do hoá thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác
Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm giải quyết 6 vấn đề chủ yếu:- Đàm phán cắt
giảm thuế quan;- Giảm, loại bỏ hàng rào phi thuế quan;- Giảm bớt các hạn chế đối
với dịch vụ;- Giảm bớt các trở ngại đối với đầu tư quốc tế;- Điểu chỉnh các chính
sách thương mại khác;- Triển khai các hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, có tính
chất toàn cầu.Về bản chất, hội nhập kinh tế quốc tế được thể hiện chủ yếu ở một số
mặt sau đây:+ Hội nhập kinh tế quốc tế đó là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn
nhau giữa các nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế thế giới Nó là quá trình vừa hợp
tác để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh của các nước
đang phát triển để bảo vệ lợi ích của mình, vì một trật tự công bằng, chống lại
những áp đặt phi lý của các cường quốc kinh tế và các công ty xuyên quốc gia;+
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình xoá bỏ từng bước và từng phần các rào cản về
thương mại và đầu tư giữa các quốc gia theo hướng tự do hoá kinh tế; + Hội nhập
kinh tế quốc tế một mặt tạo điều kiện thuận lợi mới cho các doanh nghiệp trong sản
xuất kinh doanh, mặt khác buộc các doanh nghiệp phải có những đổi mới để nâng
cao sức cạnh tranh trên thương trường;+ Hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho
việc thực hiện các công cuộc cải cách ở các quốc gia nhưng đồng thời cũng là yêu
cầu, sức ép đối với các quốc gia trong việc đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế,
đặc biệt là các chính sách và phương thức quản lý vĩ mô.+ Hội nhập kinh tế quốc tế
chính là tạo dựng các nhân tố mới và điều kiện mới cho sự phát triển của từng quốc
gia và cộng đồng quốc tế trên cơ sở trình độ phát triển ngày càng cao và hiện đại
của lực lượng sản xuất.+ Hội nhập kinh tế quốc tế chính là sự khơi thông các dòng
chảy nguồn lực trong và ngoài nước, tạo điều kiện mở rộng thị trường, chuyển giao
công nghệ và các kinh nghiệm quản lý
Trang 32 Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng khách quan
Trước đây, tính chất xã hội hoá của quá trình sản xuất chủ yếu mới lan toả
bên trong phạm vi biên giới của từng quốc gia, nó gắn các quá trình sản xuất, kinh
doanh riêng rẽ lại với nhau, hình thành các tập đoàn kinh tế quốc gia và làm xuất
hiện phổ biến các loại hình công ty cổ phần trong nền kinh tế quốc gia Qua đó
quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đã có sự thay đổi đáng kể, dẫn hình thành nên sở
hữu hỗn hợp Từ đó việc đáp ứng yêu cầu về quy mô vốn lớn cho sản xuất kinh
doanh ngày càng thuận lợi hơn Tình hình này càng đòi hỏi sự tham gia ngày càng
lớn của chính phủ các quốc gia có nền kinh tế phát triển Bởi lẽ, các quốc gia này là
những quốc gia có thế mạnh về vốn, công nghệ, trình độ quản lý,v.v Ngày nay,
một mặt do trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất làm cho tính chất xã hội
hoá của chính nó càng vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia, lan toả sang các
quốc gia khu vực và thế giới nói chung và mặt khác, tự do hoá thương mại cũng
đang trở thành xu hướng tất yếu và được xem là nhân tố quan trọng thúc đẩy buôn
bán giao lưu giữa các quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống
của mọi quốc gia Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới theo định hướng
phát triển của mình đều điều chỉnh các chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến
tới dỡ bỏ các rào cản thương mại, tạo điều kiện cho việc lưu chuyển các nguồn lực
và hàng hoá tiêu dùng giữa các quốc gia ngày càng thuận lợi hơn, thông thoáng
hơn
Như vậy, mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập để phát triển, trong bối cảnh
cạnh tranh gay gắt đều phải chú ý đến các quan hệ trong và ngoài khu vực Về lâu
dài cũng như trước mắt, việc giải quyết các vấn đề của quốc gia đều phải tính đến
và cân nhắc với xu hướng hội nhập toàn cầu để đảm bảo được lợi ích phát triển tối
ưu của quốc gia Việt nam cũng không thể nằm ngoài quá trình này Trong điều
kiện hội nhập, các quốc gia dù giàu có hoặc phát triển đến đâu cũng không thể tự
mình đáp ứng được tất cả các nhu cầu của chính mình Trình độ phát triển càng cao
càng phụ thuộc với mức độ nhiều hơn vào thị trường thế giới Đó là một vấn đề có
Trang 4tính quy luật Những quốc gia chậm trễ trong hội nhập kinh tế quốc tế thường phải
trả giá bằng chính sự tụt hậu của mình, ngược lại những nước vội vã không phát
huy nội lực, không chủ động hội nhập cũng đã bị trả giá Bởi vậy, để hội nhập có
hiệu quả, cần phải có quan điểm nhận thức đúng đắn, nhất quán, cơ chế chính sách
thích hợp tận dụng tốt cơ hội, không bỏ lỡ thời cơ, giảm thách thức, hạn chế rủi ro
trong qúa trình phát triển tiến lên của mình
II MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT
NAM
1 Khái quát về tình hình hội nhập của Việt Nam
Khái quát tình hình hội nhập của Việt Nam Trong hơn chục năm qua (kể từ
thập niên cuối thế kỷ XX trở lại đây) thế giới đã có nhiều thay đổi đáng kể Quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực tiếp tục phát triển mạnh cả về bề rộng và
bề sâu Điều đó được thể hiện như liên minh Châu Âu (EU) với đồng tiền chung
EURO đã đứng vững trên thị trường tài chính quốc tế Theo kế hoạch đến 2005,
liên minh Châu Âu sẽ bao gồm 25 quốc gia (tức là sẽ có thêm nhiều nước mới ở
Trung và Đông âu gia nhập) Hợp tác kinh tế, đầu tư của khu thương mại tự do
ASEAN (AFTA) đang tiếp tục thương thuyết để mở rộng theo hướng ASEAN +1,
ASEAN+3 và mở rộng hơn nữa là hợp tác Á- Âu (ASEM), quan hệ giữa EU và
NAFTA cũng đang được đẩy mạnh phát triển, v.v
Dưới ánh sáng của đường lối đổi mới, khẳng định tầm quan trọng của hội
nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đa nhấn mạnh chủ
động hội nhập theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác
quốc tế, phải đảm bảo giữ vững độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi
ích dân tộc, bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc,
bảo vệ môi trường, Thực hiện quan điểm chủ trương này, trong những năm qua
chúng ta đã có sự thay đổi hoàn thiện, đáng kể về cơ chế chính sách, luật pháp,
theo những cam kết song phương, đa phương Chính nhờ đó, Việt Nam đã có thuận
lợi hơn khi tham gia vào các tổ chức và liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu như
Trang 5năm 1995 Việt Nam gia nhập ASEAN và hiện nay đang trong tiến trình hội nhập
AFTA; 1998 gia nhập APEC (thành viên thứ 21); 13/07/2000 ký Hiệp định thương
mại Việt -Mỹ và có hiệu lực vào ngày 10/12/2001 và hiện nay đang xúc tiến đàm
phán để gia nhập WTO,
Cũng chính từ thực tiễn quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam thời
gian qua đang bộc lộ những bất cập đang cản trở sự phát triển của nền kinh tế, ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, Một số trong những bất
cập đó được thể hiện:
- Đảng và Nhà Nước ta đã khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế là một bộ
phận trong tổng thể đổi mới - Hội nhập - phát triển và tăng trưởng bền vững Chính
hội nhập đang đưa lại cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam những cơ hội và
thách thức không nhỏ Một trong những thách thức lớn nhất đối với Việt Nam hiện
nay là sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và hàng hoá rất yếu Một trong số các
nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do nhận thức về xây dựng một nền kinh tế
độc lập tự chủ trong bối cảnh hội nhập còn lấn cấn, còn chưa thật đẩy đủ Sự đổi
mới không kịp đã trở thành quan điểm, thể chế kìm hãm sự phát triển của thị
trường, của hội nhập kinh tế quốc tế Gắn liền với quá trình này là việc quá nhấn
mạnh các yếu tố bên trong, chưa thật coi trọng yếu tố bên ngoài, cơ chế, chính sách
đối với các loại hình doanh nghiệp chưa thực sự thể hiện sự bình đẳng, minh bạch
Kết cục là không thể huy động tốt và có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài
nước cho sự phát triển
- Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu, thậm chí rất
yếu Nguyên nhân là do một mặt, phần lớn các doanh nghiệp chưa thật quan tâm
đến hội nhập, chưa chủ động thực hiện các cuộc cải biến trong doanh nghiệp cho
phù hợp với điều kiện mới của sự cạnh tranh quốc tế thậm chí còn ỷ lại, không
năng động đặc biệt là đối với các doanh nghiệp Nhà nước Mặt khác, mặc dù đất
nước đang tiếp tục chuyển sang cơ chế thị trường, nhưng gần đây lại có xu hướng
quay lại áp dụng cơ chế cũ như cơ chế xin cho, hiện tượng bao cấp quá lớn, gây
Trang 6lãng phím thất thoát nguồn lực Sự ưu ái vẫn nghiêng về các doanh nghiệp Nhà
nước, sự khó khăn vẫn dồn vào các doanh nghiệp tư nhân Trên thực tế, vẫn có
những chính sách thể hiện không bình đẳng như chính sách tín dụng chẳng hạn
Đây là một thực tế đang cản trở rất lớn đến việc huy động nguồn lực và phát huy
tối ưu các lợi thế so sánh của quốc gia trong phân công lao động và hợp tác quốc tế
- Về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế cũng đang tồn tại không ít bất
cập Về phương châm, muốn chuyển đổi cơ chế một cách căn bản nhưng tư duy,
thể chế và hành động vẫn mang nặng dấu ấn của cơ chế kế hoạch hoá tập trung
Quản lý vĩ mô của Nhà nước rất yếu Cơ chế, chính sách thay đổi chậm, thay đổi
không đồng bộ, thiếu nhất quán, thậm chí không muốn thay đổi Tình trạng ôm
đồm quá nhiều công việc, nhiều lĩnh vực Trên thực tế nhiều "cái cần quản" thì lại
"buông"; "cái cần buông" thì lại "quản", thậm chí quản rất chặt thêm vào đó, năng
lực đội ngũ cán bộ vĩ mô nhìn chung còn rất yếu, điều đó đã dẫn đến trong chỉ đạo
điều hành còn nhiều bất cập Sai trong điều hành là thiếu sự phối hợp giữa các cơ
quan ban ngành Công tác chỉ đạo thiếu cụ thể, chỉ mang tính chung chung, xa rời
thực tiễn, không khả thi Vì vậy, nhiều công việc trong đó có hội nhập kém hiệu
quả, bỏ lỡ nhiều cơ hội, thách thức khó khăn có chiều hướng gia tăng
- Hội nhập kinh tế quốc tế đã đưa lại nhiều cơ hội và góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, cải thiện đời sống của dân cư trong những năm qua Nhưng tăng
trưởng trong điều kiện hội nhập ở nước ta hiện nay chưa gắn liền với sự phát triển
bền vững Cùng với đà tăng trưởng trong thời gian qua đã kéo theo tình trạng môi
trường sinh thái có xu hướng ngày càng suy thoái Tình trạng tàn phá và huỷ hoại
môi trường tự nhiên chưa có chiều hướng giảm, đất bạc màu, tình trạng sử dụng
chất kháng sinh và hoá chất trong sản xuất kinh doanh đang đe doạ không chỉ đời
sống dân cư, mà còn đe doạ khả năng cạnh tranh cuả doanh nghiệp và hàng hoá
Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước Môi trường xã hội đang bộc lộ
những hiện tượng thiều lành mạnh, trật tư kỷ cương không được chấp hành nghiêm
đang gây bất ổn trong sản xuất kinh doanh cũng như đời sống xã hội
Trang 72 Một số kiến nghị về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu khách quan, nhưng không phải vì thế mà
hội nhập bằng mọi giá Trái lại phải coi hội nhập là một quá trình, không được
phép nóng vội chủ quan, nhưng cũng không được phép "trần trừ', "do dự" bỏ lỡ
thời cơ Cần chuẩn bị những điều kiện thích hợp để hội nhập có hiệu quả Không
ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh doanh nghiệp và cạnh
tranh của hàng hoá Đây chính là điều kiện sống còn đảm bảo hội nhập thành công
2.1 Về nhận thức một trong những vấn đề quan trọng là quan điểm
Quan điểm có thông suốt và đúng đắn thì mới là cơ sở, điều kiện quyết định
cho việc đưa ra cơ chế, chính sách đúng đắn và hợp với xu hướng khách quan
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế không nên hiểu việc xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ như quá khứ trước đây, tức là phải có chính sách "riêng", phải tự lực
tự cường, tự lực cánh sinh là chính Trái lại, theo chúng tôi, nền kinh tế độc lập tự
chủ trong điều kiện hiện nay nên hiểu là việc xây dựng các chính sách của quốc gia
phải đảm bảo tính mềm dẻo, thích ứng với xu hướng của thời đại, của thế giới và
phù hợp với quốc gia Chỉ có như vậy, ta mới có thể tận dụng tốt cơ hội, không bỏ
lỡ thời cơ và giảm bớt thách thức và rủi ro do hội nhập đưa lại Với cơ chế, chính
sách phù hợp với các nguyên tắc và cam kết quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc của
WTO thì khi thế giới hưng thịnh ta sẽ tận dụng tốt cơ hội để phát triển, còn khi thế
giới gặp khó khăn, thậm chí bị khủng hoảng, xảy ra các vụ tranh chấp quốc tế,
chúng ta cũng ít bị rủi ro, thiệt hại hơn
2.2 Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát huy tối ưu các lợi thế so sánh
của quốc gia trong phân công lao động và hợp tác quốc tế
Với xuất phát điểm thấp, là một trong những nước đi sau, Việt Nam cần chủ
động hơn và kiên trì, nhất quán với mô hình kinh tế thị trường mở cửa và hội nhập
kinh tế quốc tế với những lộ trình và bước đi thích hợp dựa vào tăng trưởng xuất
khẩu các sản phẩm chế biến, chế tạo trên cơ sở có chính sách huy động tốt sức
mạnh, tổng hợp của các thành phần kinh tế, trên cơ sở phát huy tốt các lợi thế so
Trang 8sánh của mình về các nguồn lực bên trong, kết hợp có hiệu quả và tối ưu nhất
nguồn nội lực và ngoại lực, từng bước biến ngoại lực thành nội lực để phát triển
kinh tế và giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội đang đặt ra
Để đạt được mục tiêu trên, cần phải xúc tiến đổi mới cơ chế, chính sách cho
phù hợp với các cam kết quốc tế, phù hợp với các nguyên tắc quốc tế để sớm gia
nhập WTO Kinh nghịêm cải cách của Trung Quốc đã chỉ ra rằng một trong những
nhân tố then chốt biến Trung Quốc vừa là thị trường, vừa là công xưởng lớn của thế
giới là Trung Quốc đã lấy hội nhập kinh tế quốc tế để vừa tận dụng cơ hội, vừa gây
sức ép, gây áp lực buộc phải đẩy nhanh cải cách trong nước Việc Trung Quốc gia
nhập WTO đã thúc đẩy đổi mới hệ thống luật pháp phù hợp với các cam kết quốc
tế Trên thực tế, 2.300 văn bản pháp quy ở cấp trung ương đã bị huỷ bỏ, sửa đổi
hoặc bổ sung, 190 nghìn văn bản của chính quyền địa phương cũng bị huỷ bỏ theo
Để sớm gia nhập WTO, cũng giống như các quốc gia khác, Việt Nam không
chỉ phải thực hiện cắt giảm thuế quan, mà còn phải bãi bỏ dần các hàng rào phi
quan thuế và chuyển sang thuế quan hoá để đáp ứng các yêu cầu của WTO Muốn
vậy, Việt Nam phải tính toán kỹ lưỡng và đưa ra các quyết định thích hợp trong
đàm phán thương lượng Cụ thể là đối với các biện pháp phi thuế quan ít gây tác
động đến sự phát triển kinh tế thì có thể bãi bỏ ngay hoặc chuyển sang thuế quan
hoá, còn những biện pháp phi thuế quan mà việc cắt giảm chúng gây tác động
nhiều và bất lợi đến sự phát triển kinh tế trong nước thì nên đưa ra một lịch trình
cắt giảm dần để có thời gian điều chỉnh Đối với các sắc thuế nội địa (VAT, thuế
thu nhập doanh nghiệp; thuế tiêu thụ đặc biệt ) các loại thuế này nên thay đổi theo
hướng: đối với các sản phẩm có khả năng cạnh tranh xuất khẩu thì có mức thuế
thấp; còn thuế cao đối với những sản phẩm không khuyến khích đầu tư phát triển
Điều quan trọng là thuế quan phải đảm bảo quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
trong nước và ngoài nước; vừa phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước,
vừa phải xoá độc quyền và loại bỏ các hạn chế về quyền kinh doanh xuất nhập
Trang 9khẩu của các nhà đầu tư nước ngoài và thực hiện luật chơi chung cho mọi loại hình
doanh nghiệp
2.3 Cần có chính sách phát triển các doanh nghiệp có khả năng cạnh
tranh quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế cùng với việc tạo ra cơ hội, thách thức đã đưa lại lợi
ích cho từng quốc gia Lợi ích đó chỉ có thể nhận được thông qua cạnh tranh Trong
điều kiện sức cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp và hàng hoá Việt Nam còn
thấp (cả về chất lượng, giá cả, mẫu mã, kiểu dáng, ) thì Việt Nam phải có chính
sách phù hợp (với Việt Nam và quốc tế) để phát triển các doanh nghiệp có khả
năng cạnh tranh quốc tế Đó là các doanh nghiệp đi vào các thị trường ngách, cung
ứng ở những phần nhỏ của thị trường quốc tế rộng lớn, có nhiều đối thủ cạnh tranh
Điều đó có nghĩa là phải xây dựng được chiến lược cạnh tranh tích cực gắn liền với
chính sách cơ cấu Chỉ nên bảo hộ đối với những ngành, những doanh nghiệp có lợi
thế cạnh tranh thực tế và tiềm ẩn Sự bảo hộ này chỉ mang tính tạm thời, có chọn
lọc, có địa chỉ tùy theo lộ trình hội nhập và phù hợp với các nguyên tắc và luật
pháp quốc tế
Cần xúc tiến cải cách có hiệu quả đối với các doanh nghiệp nhà nước theo
hướng Nhà nước chỉ cần nắm giữ 100% vốn ỏ các doanh nghiệp liên quan đế quốc
phòng - an ninh Xoá bỏ tình trạng độc quyền kinh doanh và xoá bỏ triệt để việc
bao cấp đối với doanh nghiệp Nhà nước Tiếp tục tháo gỡ những cơ chế chính sách
còn bất cập đang cản trở đối với sự phát triển kinh tế tư nhân Tạo môi trường hấp
dẫn hơn để mở rộng thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh các hoạt động kinh
doanh quốc tế
2.4 Nâng cao hiệu lực, hiệu quả và năng lực quản lý kiểm tra giám sát
của Nhà nước
Để nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước theo hướng nâng cao hiệu
lực và hiệu quả quản lý vĩ mô, điều có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thậm chí có tính
chất quyết định là phải giải quyết đúng mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và
Trang 10doanh nghiệp Những vấn đề cần giải quyết là: Khắc phục triệt để cơ chế "xin -
cho", tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp Thực
hiện việc điều hành các chính sách kinh tế rõ ràng, minh bạch, công khai nhằm
nâng cao độ tin cậy của môi trường kinh doanh Việc phát huy vai trò quản lý của
Nhà nước phải được thực hiện theo hướng hiệu quả của sự can thiệp, quản lý, đảm
bảo tính minh bạch và nghiêm minh của công tác kiểm tra giám sát, chứ không phải
ở mức độ, phạm vi can thiệp
Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát nhưng không cản trở, gây sách
nhiễu đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, trái lại buộc
các doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái, cam kết
không lạm dụng chất kháng sinh, hoá chất trong sản xuất kinh doanh
Bên cạnh các vấn đề nêu trên, cần phải tiếp tục bổ sung và hoàn thiện hệ
thống pháp luật và các văn bản dưới luật đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán, phù hợp
với luật pháp và thông lệ quốc tế Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Nhà
nước, đổi mới và hoàn thiện tổ chức bộ máy Nhà nước các cấp Đẩy mạnh cải cách
hành chính phải được chú trọng cả việc cải cách các thủ tục hành chính lẫn cải cách
các thể chế tổ chức hành chính.Nguồn: Bộ Thương mại)
III VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan đang lôi kéo tất cả các quốc
gia vào vòng vận động của nó Tuy nhiên sân chơi quốc tế là một cuộc đọ sức
không cân bằng và việc hội nhập mang lại cả những thời cơ vận hội và những thách
thức to lớn mà các quốc gia nghèo và hội nhập muộn phải vượt qua Việt Nam là
một nước đang phát triển và hội nhập muộn, qui mô và năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp cũng như của quốc gia còn hết sức nhỏ bé, vì vậy để tham gia nhanh
và hiệu quả vào thị trường thế giới, khai thác lợi thế của đất nước trong thương mại
quốc tế thì không thể không có vai trò của nhà nước trong việc định hướng, hỗ trợ
các chủ thể trong nền kinh tế Đặc biệt, trước những biến động phức tạp trong quan
Trang 11hệ thương mại quốc tế, trước sự bảo hộ và tự vệ của các nước phát triển đối với các
sản phẩm sản xuất trong nước vốn được coi là sản phẩm có lợi thế thì vai trò của
nhà nước càng trở nên quan trọng
Hội nhập kinh tế quốc tế là một phạm trù rộng, bao quát nhiều lĩnh vực, nội
dung, trong đó nội dung quan trọng nhất là thương mại quốc tế Bài viết này tập
trung đề cập đến vai trò của nhà nước trong thương mại quốc tế
1 Môi trường pháp lý
Vai trò của nhà nước trong thương mại quốc tế thể hiện trước hết ở việc tạo
lập môi trường pháp lý, chính sách kích thích sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của
hàng hoá trên thị trường quốc tế theo hướng vừa phù hợp với điều kiện thực tế của
đất nước, vừa phù hợp với luật chơi quốc tế, với các hiệp ước, định chế quốc tế
Một môi trường pháp lý và chính sách thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp trong nước mở rộng thị trường ra nước ngoài nhằm tăng qui mô xuất khẩu
và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, đồng thời bảo hộ hợp lý thị trường
trong nước trước sự xâm nhập ngày càng mạnh mẽ của hàng hoá và dịch vụ nước
ngoài Một chính sách kích thích sản xuất tốt không chỉ đóng vai trò thúc đẩy năng
lực sản xuất, bảo đảm đầu vào, đầu ra cho quá trình sản xuất mở rộng, đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng về hàng hoá của xã hội mà còn đóng vai trò quan trọng trong
việc khai thác tiềm năng, thế mạnh và lợi thế so sánh của đất nước, dẫn dắt sản xuất
đi theo tín hiệu của thị trường để từ đó phân bổ nguồn lực một cách hợp lý và hiệu
quả, thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước
Hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam trong những năm qua đạt được
rất nhiều thành tựu do sự nỗ lực của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt không
thể không kể đến vai trò của nhà nước trong việc tạo lập môi trường, xây dựng
được chính sách phù hợp có tác dụng hỗ trợ thực sự các doanh nghiệp đẩy mạnh
xuất nhập khẩu, thông qua đó tác động đến phát triển kinh tế Tuy nhiên, những
thách thức to lớn nhất cũng đang đặt ra đòi hỏi nhà nước phải vượt qua Sau đây
Trang 12chúng tôi sẽ nêu ba mảng nội dung quan trọng nhất thể hiện cụ thể vai trò của nhà
nước Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
2 Vai trò của nhà nước trong xây dựng thể chế thương mại và chính sách tự
do hoá thương mại theo các cam kết quốc tế
Trong việc tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi cho doanh nghiệp và hàng
hoá Việt Nam, nhà nước đã và đang tiếp tục đẩy nhanh việc đàm phán, ký kết các
hiệp định thương mại song phương và đa phương để tận dụng được lợi thế của tự
do hoá thương mại, hạn chế các rào cản thuế quan và phi thuế quan đối với hàng
hoá, dịch vụ xuất khẩu vào các thị trường, tiến tới gia nhập WTO trong thời gian
ngắn nhất.Trong điều kiện quốc tế hiện nay, khi các rào cản thương mại về hình
thức đang được cởi bỏ theo khuyến cáo của WTO và các tổ chức quốc tế khác,
nhưng về thực chất dường như chúng lại được dựng lên ngày càng nhiều, dưới
nhiều hình thức phi thuế quan mà phổ biến là các rào cản kỹ thuật, tiêu chuẩn xã
hội nhân văn thì việc đàm phán ký kết các hiệp định thương mại theo hướng phá bỏ
các rào cản đối với thương mại và tăng khả năng tiếp cận thị trường giữa các quốc
gia là vô cùng quan trọng ở đây nhà nước ta lại gặp một thách thức to lớn – thách
thức của một chủ thể còn bỡ ngỡ, chưa quen với môi trường kinh doanh và luật
pháp quốc tế trong khi phải làm ăn, phải cạnh tranh với các đối tác đã già dặn kinh
nghiệm trong cả năng lực sản xuất, buôn bán và biết bảo vệ quyền lợi của họ Song
song với quá trình đàm phán song phương và đa phương để gia nhập WTO, hệ
thống pháp luật và cơ chế, chính sách trong nước phải được hoàn thiện theo hướng
minh bạch, rõ ràng và mang tính có thể dự báo được Nhà nước cần tiếp tục xây
dựng, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế- thương mại trong
nước cho sát hợp với các định chế của tổ chức thương mại thế giới, các cam kết
quốc tế và bắt kịp với xu hướng vận động của thương mại quốc tế Yêu cầu này
xem qua có vẻ dễ dàng nhưng khi động đến những điều khoản luật pháp cụ thể (mà
số lượng các văn bản pháp qui phải sửa đổi quả là không nhỏ – khoảng trên dưới
200 ), vấn đề không hề dễ dàng đi đến thống nhất và giải quyết
Trang 13Tự do hoá thương mại là xu thế chung của thương mại quốc tế Tuy nhiên,
tuỳ theo mức độ phát triển kinh tế cũng như sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ
trên thị trường quốc tế mà các nước đề ra lộ trình hội nhập cũng như mức độ tự do
hoá khác nhau Để tiến tới tự do hoá thương mại, Việt Nam một mặt cần phải cụ
thể hoá hơn nữa các nguyên tắc tối huệ quốc, đối xử quốc gia, xây dựng các trình
tự, điều kiện, thủ tục áp dụng các chế độ này trong quan hệ thương mại; mặt khác
có chiến lược và sách lược bảo hộ bộ phận trong thời kỳ hội nhập để dành lợi thế
cạnh tranh khi không còn điều kiện bảo hộ sau này Đối với hội nhập AFTA, bên
cạnh việc từng bước thực hiện tự do hoá thương mại theo các cam kết trong CEPT/
AFTA, Việt Nam cần tiếp tục điều chỉnh chính sách bảo hộ Nhà nước cần tích cực
chuẩn bị để sẵn sàng sử dụng các biện pháp tự vệ như thuế chống bán phá giá, thuế
đối kháng, thuế tuyệt đối, thuế thời vụ để ổn định chính sách bảo hộ, đồng thời tăng
cường công tác chống buôn lậu có hiệu quả trên các tuyến biên giới, vùng biển và
thị trường nội địa
3 Vai trò của nhà nước trong hoạch định Chính sách xuất nhập khẩu
Nhà nước cần chỉ đạo các cơ quan nhà nước có liên quan điều tra, phân loại,
đánh giá khả năng cạnh tranh của từng sản phẩm, từng ngành hàng, từng loại dịch
vụ, từng doanh nghiệp, từng địa phương để xây dựng kế hoạch, biện pháp thiết thực
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và cho hàng hoá, dịch
vụ Việt Nam Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho công tác nghiên cứu, phân tích,
đánh giá và khai thác lợi thế so sánh của Việt Nam để tạo cơ sở cho việc hoạch
định chiến lược, chính sách và ra các quyết định thích hợp trong tiến trình hội nhập
Từ việc xác định ưu thế cạnh tranh và lợi thế so sánh của các mặt hàng để xây dựng
phương án đầu tư, đổi mới công nghệ vào từng mặt hàng theo thứ tự ưu tiên, kết
hợp đa dạng hoá các nguồn hàng và thị trường xuất khẩu để giảm thiểu thiệt hại khi
thị trường thế giới biến động Lợi thế so sánh không phải là yếu tố “nhất thành, bất
biến” cũng không phải chỉ là các yếu tố nội sinh mà luôn luôn thay đổi và do nhiều
yếu tố tác động như: cách ứng xử của các chủ thể trong thương mại quốc tế, sự phát
Trang 14triển của khoa học công nghệ, sự thay đổi chu kỳ sống của sản phẩm và sự thay đổi
của các chính sách và các cam kết quốc tế Do đó việc nghiên cứu để nhận dạng lợi
thế so sánh của Việt Nam nhất là lợi thế so sánh động có vai trò quyết định đến sự
thành bại khi tham gia thương mại quốc tế
Cần chuyển đổi cơ cấu hàng xuất khẩu, tăng cường tỷ trọng hàng chế biến
sâu, có giá trị gia tăng, hàm lượng kỹ thuật cao, đầu tư để tạo ra một số mặt hàng
xuất khẩu chủ lực với kim ngạch lớn Ngoài ra nhà nước cần loại bỏ cơ chế xin-
cho trong việc cấp hạn ngạch, chuyển sang đấu thầu hạn ngạch, sử dụng hạn ngạch
thuế quan Chính sách nhập khẩu phải phù hợp, vừa bảo hộ hợp lý sản xuất trong
nước, vừa phục vụ yêu cầu phát triển sản xuất và tiêu dùng thiết yếu trong nước
Để đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, các cơ quan ngoại giao và
thương vụ Việt Nam ở nước ngoài cần đóng vai trò tích cực hơn nữa trong việc
cung cấp thông tin về pháp luật, thị trường, thị hiếu, yêu cầu về chất lượng sản
phẩm, các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm nhập khẩu của các nước để
giúp các doanh nghiệp trong nước thu thập được đầy đủ thông tin, từ đó xây dựng
chiến lược thâm nhập thị trường Các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài
cần đẩy mạnh hoạt động phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức các chiến dịch
quảng cáo, triển lãm hàng Việt Nam ở nước ngoài Nhà nước cần hỗ trợ mạnh hơn
nữa để nâng cao năng lực của mạng lưới xúc tiến thương mại, đặc biệt là năng lực
cung cấp thông tin, marketing thông qua việc hướng dẫn, tư vấn kỹ thuật nghiệp
vụ, chuyên môn miễn phí, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực và các hỗ trợ cần thiết
khác Nhà nước nên tăng thêm biên chế thương vụ, tăng kinh phí cho họ, thiết lập
thêm đại diện thương vụ tại các nước và khu vực có đặt tổng lãnh sự quán nhằm
tăng cường năng lực cho các tổ chức xúc tiến thương mại trong hoạt động phát
triển thị trường Nhà nước cần có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận
lợi cho việc thành lập và phát triển các tổ chức xúc tiến thương mại phi chính phủ
và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh Nhà nước cũng cần hỗ trợ
tăng cường năng lực cho các tổ chức đóng góp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
Trang 15động thương mại quốc tế như các thể chế tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, giao
nhận, vận tải, hải quan, cảng vụ Đặc biệt, cần cải cách các thủ tục thẩm định tín
dụng, các dịch vụ của các ngân hàng thương mại để tạo điều kiện thuận lợi cho
thanh toán quốc tế Nhà nước cũng cần hỗ trợ các doanh nghiệp thành lập các hiệp
hội ngành hàng xuất khẩu để hỗ trợ lẫn nhau trong xuất khẩu và tăng sức cạnh
tranh Nhà nước nên xem xét qui định khống chế tỷ lệ chi phí cho hoạt động quảng
cáo của các doanh nghiệp vì với tỷ lệ chi phí dành cho quảng cáo thấp như hiện nay
(5%), hoạt động xúc tiến thương mại quốc tế của các doanh nghiệp bị hạn chế rất
nhiều
Ngoài ra, nhà nước cần tiếp tục và bổ sung thêm các chính sách hỗ trợ các
doanh nghiệp trong nước hoạt động xuất khẩu như thưởng xuất khẩu, trợ cấp xuất
khẩu, xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của quĩ hỗ trợ xuất khẩu từ nguồn
ngân sách và nguồn đóng góp của các doanh nghiệp, trước hết là các ngành hàng có
kim ngạch lớn
4 Vai trò của nhà nước trong xây dựng và hoàn thiện các chính sách kinh tế
liên quan
Tăng cường vai trò của nhà nước trong việc sử dụng linh hoạt các công cụ
kinh tế vĩ mô để thúc đẩy thương mại quốc tế như xác định tỷ giá hối đoái hợp lý,
sát với sức mua của đồng Việt Nam và kích thích xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất cho các
doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, tiếp tục hoàn thiện chính sách thuế, cơ cấu
nguồn thu và tỷ suất thuế phải được điều chỉnh để vừa đáp ứng được yêu cầu, thông
lệ quốc tế vừa đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách Trên cơ sở nguyên tắc
“không phân biệt đối xử” và “tự do hoá từng bước”, Nhà nước phải xoá bỏ dần
nhưng triệt để các loại giá, phí, sắc thuế có tính chất phân biệt đối xử, giảm dần
thuế nhập khẩu, miễn thuế hoàn toàn cho hàng hoá xuất khẩu, cải tiến thủ tục hành
chính, hải quan để tránh gây phiền hà cho hoạt động xuất khẩu Nhà nước cũng cần
phải thiết lập chính sách lãi suất mềm dẻo, linh hoạt theo hướng giảm chi phí vốn
Trang 16cho các doanh nghiệp và kích cầu cho nền kinh tế, đảm bảo theo kịp và làm chủ
được những biến động của thị trường
Nhà nước cần bảo vệ và hỗ trợ cho doanh nghiệp xây dựng thương hiệu để
hàng Việt Nam có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, rút
ngắn thời gian và thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu thương hiệu,
bằng phát minh, sáng chế, hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký, quản lý và bảo hộ thương
hiệu Việt Nam ở thị trường nước ngoài
Để hàng hoá Việt Nam có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và thu hút
được các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, cần
giảm giảm giá thành sản phẩm, mà trước hết, cần giảm các loại chi phí giao dịch,
chi phí trung gian, chi phí độc quyền Muốn vậy nhà nước cần can thiệp để có mức
giá phù hợp đối với các hàng hoá, dịch vụ vốn đang được độc quyền cung ứng như
nước, điện, viễn thông, phí cảng vụ, cước vận tải nội địa…
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện nay làm xuất hiện hình
thức mua bán mới là thương mại điện tử Hình thức thương mại này rất phù hợp với
việc mua bán các hàng hoá vô hình và dịch vụ – những sản phẩm mà nhu cầu đang
ngày càng gia tăng Thương mại điện tử khiến nền kinh tế thế giới càng trở nên
năng động hơn, nó góp phần thúc đẩy tiến trình hội nhập của tất cả các nước, trong
đó có nước ta Vì vậy, nhà nước cần đầu tư mạnh cho xây dựng và phát triển cơ sở
hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực kỹ
thuật, kinh tế, quản lý; xây dựng chính sách phát triển khoa học công nghệ, thiết lập
thị trường khoa học công nghệ, hiện đại hoá hệ thống thanh toán, ban hành pháp
luật về thương mại điện tử phù hợp với Luật thương mại điện tử quốc tế và các cam
kết thương mại điện tử mà Việt Nam tham gia Tham gia mạnh mẽ vào thương mại
điện tử là điều kiện để Việt Nam tham gia sâu rộng hơn và nhanh hơn vào thị
trường thế giới
Tóm lại, để Việt Nam hội nhập nhanh và hiệu quả vào thương mại quốc tế,
yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra đối với nhà nước là hết sức nặng nề Những nhiệm vụ này
Trang 17vừa thể hiện chức năng, vừa thể hiện vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế
Để thực hiện được những chức năng và nhiệm vụ đó, Nhà nước phải thực hiện
nhiều nhóm giải pháp có mối quan hệ hữu cơ với nhau và chỉ khi các nhóm giải
pháp được thực hiện đồng bộ, hoạt động thương mại quốc tế mới đạt được hiệu quả
cao nhất
Trên đây là một vài phác hoạ về một số nội dung chủ yếu trong việc xác định
vai trò của nhà nước Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế phục vụ
cho mục tiêu phát triển ngoại thương Chắc chắn rằng nhà nước Việt Nam, vốn đã
khá thành công trong giai đoạn đổi mới và hội nhập vừa qua, sẽ tiếp tục tận dụng
được những cơ hội mới, vượt qua được những thách thức mới của giai đoạn sắp
tới.(Nguồn: Bộ Thương mại)
IV NGHIÊN CỨU VÀ TRAO ĐỔI: TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ VÀ CHIẾN
LƯỢC HỘI NHẬP CỦA CHÚNG TA
Từ những năm 80 của thế kỷ 20, quan hệ kinh tế giữa các nước trên thế giới
từng bước chuyển sang cấp độ "toàn cầu hóa" hiểu theo thuật ngữ hiện nay Đây là
xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường thế giới do chủ nghĩa tư bản chi
phối từ mấy thế kỷ nay I Tuy nhiên, toàn cầu hóa kinh tế hiện nay có những đặc
điểm chính như sau:
1 Toàn cầu hóa diễn ra trong sự thống nhất và mâu thuẫn về lợi ích giữa các
quốc gia với nhau và lợi ích chung toàn thế giới
Xu hướng vừa hợp tác, vừa cạnh tranh là phổ biến Hoa Kỳ trở thành siêu
cường mạnh nhất về kinh tế sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, muốn
làm bá chủ toàn cầu, với tham vọng tạo ra một thế giới theo diện mạo của mình
Tham vọng đơn cực đó vấp phải sự phản ứng và cạnh tranh của các nước tư bản
phát triển khác và hàng trăm nước đang phát triển Quan hệ kinh tế trên thế giới
đang diễn ra rất đa dạng: toàn cầu hóa, khu vực hóa và quan hệ song phương dựa
trên cơ sở chủ quyền quốc gia để vừa liên kết vừa đấu tranh, liên kết để đấu tranh
v.v
Trang 182 Sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ
của cách mạng tin học
Đã tạo ra những biến đổi to lớn trong phát triển và xã hội hóa lực lượng sản
xuất, thay đổi cơ cấu kinh tế, tăng nhanh năng suất lao động và hiệu năng quản lý,
cạnh tranh, mang lại hiệu quả kinh tế hơn hẳn trước Sự hình thành nền kinh tế tri
thức bắt đầu từ các nước tư bản phát triển, trước hết là Hoa Kỳ Đặc điểm cơ bản
của nền kinh tế này là: tri thức và công nghệ hiện đại trở thành yếu tố quyết định
nhất đối với sản xuất, chiếm 2/3 tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ
Thành quả cách mạng khoa học và công nghệ được nhanh chóng đưa vào thị
trường xuyên quốc gia, có thể trở thành động lực phát triển của tất cả các nước nếu
biết tiếp thu và ứng dụng tốt Mặt khác, nó cũng có thể trở thành công cụ đắc lực
trong tay những thế lực nắm bá quyền để bóc lột, thống trị các dân tộc khác
3 Sự phát triển của kinh tế thị trường hiện đại thúc đẩy tự do hóa kinh tế và
sự thâm nhập kinh tế giữa các nước, trở thành một xu thế không cưỡng lại
được, nếu muốn thành đạt trong trật tự kinh tế mới của thế giới
Quan hệ kinh tế rất đa dạng Bên cạnh quan hệ thương mại - xuất nhập khẩu
cùng với khoảng 150 loại dịch vụ quốc tế hiện nay, nổi bật lên sự toàn cầu hóa về
tài chính với quy mô và tốc độ chóng mặt Hiện nay, dòng lưu chuyển của thị
trường tài chính hàng ngày đạt mức 2.000 tỷ USD, gấp 30 lần giá trị lưu chuyển
hàng hóa Sự phân bổ lại các nguồn lực trên thế giới diễn ra nhanh chóng, tạo cơ
hội lớn cho đầu tư phát triển ở tất cả các nước, nhất là các nước đang phát triển
đồng thời cũng mang theo nguy cơ khủng hoảng tài chính, tiền tệ khi mất cân đối
Trên thực tế, vai trò chi phối hoạt động của toàn bộ hệ thống kinh tế toàn cầu hiện
nay thuộc về hơn 5 vạn công ty tư bản xuyên quốc gia với khoảng 60 vạn chi nhánh
tạo thành mạng lưới tỏa khắp các châu lục
4 Vai trò quan trọng của Nhà nước và sự điều phối của các tổ chức kinh tế thế
giới trong tiến trình toàn cầu hóa
Trang 19Chính sách của Nhà nước trong kinh tế đối ngoại cũng như điều hành kinh tế
vĩ mô, sự can thiệp kịp thời vào các hoạt động kinh tế - xã hội khi xuất hiện những
triệu chứng bất ổn là nhiệm vụ hết sức quan trọng của Nhà nước ở các nước tư bản
phát triển, dù theo đường lối "chủ nghĩa bảo thủ mới" hay "chủ nghĩa tự do mới" thì
vai trò của Nhà nước vẫn đóng vai trò quyết định để bảo vệ lợi ích các nhà kinh
doanh của mình trong toàn cầu hóa Hơn nữa, trong quan hệ kinh tế chằng chịt trên
thế giới hiện nay, một số nhà nước tư bản phát triển, nhất là Hoa Kỳ, dùng biện
pháp "cấm vận kinh tế" để thực hiện ý đồ chính trị xấu xa của mình, hòng bóp chết
sức sống của các dân tộc mà họ coi là thù địch Đối với các nước đang phát triển,
kể cả các nước chuyển đổi từ kinh tế chỉ huy sang kinh tế thị trường, đã có nhiều
bài học thành công và thất bại về hội nhập kinh tế thế giới, trong đó đường lối,
chính sách của Nhà nước đóng vai trò quyết định nhất
Tính tương thuộc của các nền kinh tế quốc gia trong toàn cầu hóa dẫn đến sự
hình thành các thể chế, các tổ chức kinh tế, tài chính, thương mại trên toàn cầu, khu
vực và các hiệp định song phương với nhiệm vụ thúc đẩy, điều phối, trọng tài
nhằm thực thi các điều ước một cách bình đẳng không kể nước lớn hay nhỏ Tuy
các nước lớn đóng vai trò chủ đạo trong sự hình thành các tổ chức liên kết nhưng
cũng không dễ dàng áp đặt sự bất công trên "một sân chơi chung"
Những đặc điểm chính của toàn cầu hóa kinh tế nói trên cho thấy những cơ
hội và thách thức rất lớn đối với các nước gia nhập sân chơi chung đó, tùy theo nội
lực và bản lĩnh mà gặt hái thành công hay lụn bại
5 Khi thế giới chuyển sang cấp độ toàn cầu hóa kinh tế thì nước ta cũng bước
vào giai đoạn đầu của tiến trình đổi mới
Nhằm khắc phục khủng hoảng kinh tế-xã hội khá gay gắt Những thành tựu
phát triển kinh tế, nâng cao mức sống nhân dân, nâng cao vị thế nước ta trên trường
quốc tế đã quá rõ Chuyển sang kinh tế thị trường, phát huy nội lực và hội nhập
kinh tế quốc tế là những nguyên nhân chính của sự thành công đó Hội nhập kinh tế
Trang 20chính là phương thức tốt nhất để kết hợp nội lực với ngoại lực tạo thành sức mạnh
tổng hợp đẩy nhanh công cuộc đổi mới
Mặt khác, do trình độ hội nhập kinh tế của chúng ta còn thấp, mới ở cấp độ
song phương và bắt đầu hòa nhập vào khu vực nên việc tận dụng cơ hội phát triển
cũng như đương đầu với thử thách chưa cao Mười mấy năm qua vừa hội nhập, vừa
tìm hiểu, thăm dò, dù sao chúng ta cũng rút ra được nhiều bài học đáng quý và
cũng đã đến lúc cần tiếp cận vấn đề hội nhập ở bình diện rộng hơn
Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về toàn cầu hóa kinh
tế, nêu rõ bản chất, đặc điểm, thành công và thất bại của quá trình hội nhập trong
các nước đang phát triển và dự báo xu hướng trong những thập niên tới v.v
Riêng đối với nước ta, một nước đang ở trình độ kém phát triển đã khẳng
định con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) thì một vấn đề lý luận được
đặt ra là những điều kiện quốc tế nào đảm bảo cho chúng ta có thể xây dựng thành
công CHXH?
Như chúng ta đều biết, ở thế kỷ 19, Mác đã dự đoán cách mạng vô sản sẽ
đồng loạt nổ ra và thành công ở những nước tư bản có nền đại công nghiệp phát
triển rồi từ đó có thể giúp nhân dân các nước lạc hậu về kinh tế xây dựng CNXH,
chủ nghĩa cộng sản Tuy dự đoán đó chưa trở thành sự thật nhưng cũng nói lên
những điều kiện chính trị và kinh tế thế giới đối với những nước kém phát triển
kinh tế đi lên CNXH
Chúng ta cũng đã biết luận điểm của Lênin về chính sách kinh tế mới ở Nga
và lý luận về con đường đi lên CNXH thông qua giai đoạn chủ nghĩa tư bản nhà
nước, trong đó việc thu hút đầu tư và khoa học kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản
lý của tư bản nước ngoài là hết sức quan trọng Nhưng do nhiều nguyên nhân, trong
đó có sự bao vây kinh tế của chủ nghĩa đế quốc, sự tàn phá của chiến tranh, sự
thiếu linh hoạt trong hội nhập với kinh tế thế giới v.v nên trình độ kinh tế và đời
sống của Liên Xô suy thoái, thấp kém, dẫn đến bùng nổ khủng hoảng và tan rã về
chế độ vào cuối thế kỷ 20
Trang 21Vậy hiện nay, chúng ta đang xây dựng CNXH trong những điều kiện quốc tế
như thế nào? Trong thời điểm này chỉ có 5 nước công khai xác định con đường xây
dựng CNXH, cũng đều là những nước kém phát triển hoặc đang phát triển Những
thế lực thù địch với chủ nghĩa cộng sản trên thế giới vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu
lật đổ hoặc diễn biến hòa bình trong các nước theo chế độ XHCN Chúng ta không
thể mất cảnh giác nhưng trong tương quan lực lượng trên thế giới ngày nay, các thế
lực phản động quốc tế cũng phải cân nhắc khi tấn công xâm lược các nước có chủ
quyền Trường hợp Iraq vừa cho thấy chủ nghĩa đế quốc ngạo nghễ đồng thời cũng
cho thấy mọi phiêu lưu đều phải trả giá, hoặc phải trả ngay hoặc phải trả về lâu về
dài
Chúng ta bàn sâu về điều kiện kinh tế quốc tế Phải chăng toàn cầu hóa kinh
tế với những đặc điểm nói trên đã tạo cho chúng những khả năng tăng nhanh lực
lượng sản xuất, tiếp cận với nền kinh tế tri thức, tiếp thu thành quả khoa học và
công nghệ, thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài để chuyển đổi từ một nền kinh tế
kém phát triển đi tắt, đón đầu lên nền kinh tế mới? Đã đành là cần có thời gian
chuẩn bị và đào tạo lực lượng, có lộ trình cụ thể nhưng phải xác định rõ phương
hướng và chiến lược rõ ràng, không thể cứ làm tới đâu hay tới đó Tuy hiện nay,
Hoa Kỳ là nước đầu tiên chuyển sang kinh tế tri thức nhưng nhiều nước tư bản phát
triển khác cũng đang chạy đua với Mỹ để chuyển sang nền kinh tế mới Những
nước có trình độ phát triển còn thấp cũng đã có nhiều bước khởi động
Một số nước trong khu vực đã đi vào công nghệ tin học, sản xuất phần cứng,
phần mềm khá mạnh Năm 1997 Singapore đã đạt giá trị sản xuất phần cứng 41 tỷ
USD, Malaysia là 29 tỷ USD ấn Độ đã đạt kim ngạch xuất khẩu phần mềm năm
1998 là 2,7 tỷ USD và đẩy mạnh việc đưa thương mại điện tử vào phục vụ thị
trường địa phương
Hiện nay Trung Quốc đã đưa kim ngạch xuất khẩu hàng điện tử và kỹ thuật
cao vào Hoa Kỳ vượt qua Nhật Năm 2000, Trung Quốc đã đạt con số 10 triệu
người sử dụng Internet, còn ở nước ta cho đến năm nay con số đó mới chỉ khoảng
Trang 22250.000 người, chiếm 0,3% dân số Hiện chúng ta có 8 khu công nghiệp phần mềm
nhưng 6 khu hoạt động chưa có hiệu quả Chỉ xin nêu một vài con số cho thấy thực
trạng lạc hậu trong công nghệ thông tin ở nước ta - một mũi nhọn của khoa học và
công nghệ mới
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài của chúng ta cũng chưa hấp dẫn lắm so với
các nước trong khu vực và đang có biểu hiện chững lại, trong lúc đó, Trung Quốc
chiếm đến 80% tổng nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào khu vực châu á Nguyên
nhân chủ yếu vẫn là môi trường đầu tư ở nước ta còn phiền hà, chi phí đầu tư cao
và hiệu quả đầu tư thấp so với các nước khác
Mọi người đều đồng ý rằng phải đẩy nhanh tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước nhưng trong thực hiện thường ít chịu gắn hiện đại hóa với công
nghiệp hóa, cũng vì thế mà cứ "tuần tự nhi tiến", không có những pha bứt phá
ngoạn mục Vươn nhanh lên trình độ hiện đại là đòi hỏi bức thiết của lịch sử phát
triển đất nước ta trên con đường xây dựng CNXH và chỉ có qua hội nhập kinh tế
quốc tế mới có thể thực hiện được, bằng không khoảng cách tụt hậu sẽ ngày càng
xa hơn so với một số nước phát triển trung bình trên thế giới
6 Phải chăng đã đến lúc cần tập trung trí tuệ nghiên cứu đề ra một chiến lược
hội nhập kinh tế quốc tế để xây dựng CNXH
Chiến lược này có thể bao gồm một số nội dung chính cần được làm sáng tỏ như
sau:
1) Xác định quan điểm của Đảng ta về tầm quan trọng của vấn đề hội nhập
kinh tế quốc tế trong cấp độ toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đối với công cuộc xây
dựng CNXH ở nước ta
2) Những cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa kinh tế đặt ra đối với nước ta
trong quá trình hội nhập Quan hệ giữa toàn cầu hóa kinh tế với vấn đề xây dựng
nền kinh tế độc lập tự chủ ở nước ta Phương hướng giải quyết những mặt tiêu cực
của toàn cầu hóa kinh tế
Trang 233) Xác định những lợi thế so sánh và những khuyết - nhược điểm của nước ta
trong hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Vấn đề phát huy lợi thế và khắc phục các
điểm yếu kém
4) Những bài học kinh nghiệm được đúc kết về hội nhập kinh tế từ khi tiến
hành đổi mới
5) Những mục tiêu chiến lược cần đạt được từ nay đến năm 2020 trong hội
nhập kinh tế quốc tế (có thể phân kỳ 10 năm)
6) Những quan điểm cơ bản trong quá trình hội nhập:
- Vấn đề nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và cạnh tranh trong
hội nhập kinh tế quốc tế
- Vấn đề trợ cấp giá sản xuất và chính sách bảo hộ mậu dịch trong quá trình
hội nhập
- Vấn đề cải cách về tài chính, tiền tệ trong quá trình hội nhập
- Vấn đề cải cách về thể chế, luật pháp và môi trường kinh doanh phù hợp
với tiêu chí quốc tế để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài
7) Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và mở rộng quy mô đào tạo
cán bộ cho việc tiếp nhận và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ mới của
thế giới
8) Tổ chức bộ máy chuyên sâu để tham mưu, tạo điều kiện, thúc đẩy quá
trình hội nhập Gấp rút đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên về công tác hội nhập kinh tế
quốc tế
Trên đây chỉ xin xới lên một số vấn đề để cùng nhau nghiên cứu với mong
muốn đẩy nhanh tiến độ hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta trong những thập niên
tới
Như trên đã nói, xu thế toàn cầu hóa - theo nghĩa quy luật khách quan -
đương nhiên sẽ tác động vào cục diện chung trên cả hành tinh chúng ta Và, thậm
chí các "hóa" kia không dừng ở trái đất - cuộc chạy đua vào vũ trụ đến lúc nào đó
sẽ đặt ra cấp độ rộng hơn
Trang 24Người ta đang nói đến việc chính quyền Mỹ ngăn chặn cá ba sa Việt Nam -
lối bảo hộ mậu dịch ấy lạc hậu đã đành song vẫn cho thấy ngay con cá nước ngọt
của một nước nhỏ tuy không "nặng ký" làm lệch cán cân kinh tế của một siêu
cường lại là một "cớ" chính trị để, nói theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, "thua me
gỡ bài cào", tức nó là một thứ đối trọng nào đó
Vả lại, trong cuộc tranh đua thao túng toàn cầu hóa, Mỹ chẳng phải là thế lực
duy nhất Thỉnh thoảng, thời sự quốc tế ghi nhận tranh chấp đánh bắt cá hồi giữa
Mỹ và Canada, tranh chấp mậu dịch giữa Mỹ và Nhật, EU, tranh chấp xuất nhập
khẩu hàng hóa qua Mỹ với Trung Quốc Chắc chắn Trung Quốc, EU, Nga và bây
giờ thêm ấn Độ không bao giờ chịu đóng vai người quan sát Vậy, tự thân toàn cầu
hóa đã là "một bãi chiến trường"
Thực tế, khi con người nhận thức mình đang sống trong "loài người", những
dạng toàn cầu hóa khác nhau đương nhiên tượng hình và triển khai Ta hiểu điều ấy
bởi Mác nêu khẩu hiệu "Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại", Lênin mở rộng "Vô sản
và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới liên hiệp lại" Nguyễn ái Quốc xoáy vào khâu
liên quan nhất đối với số phận của nước bé nhỏ khi thành lập "Liên hiệp các thuộc
địa"
Vấn đề là sử dụng xu thế toàn cầu hóa vì lợi ích của ai và cuộc cạnh tranh
này - xu thế lành mạnh với sự tiếm quyền lộng hành đang trong quá trình chạm mặt
mà hồi kết cục còn rất xa ở phía trước Một lúc, hệ thống XHCN đã "toàn cầu hóa"
về chính trị ("khối", "phe" là gì nếu không là cái mốc đánh dấu bước khởi đầu), về
kinh tế, "Đồng minh tương trợ" (SEV) là gì nếu không phải với ý định tạo nhân tố
mới trong đời sống kinh tế thế giới? Thất bại đâu có nghĩa vĩnh viễn chủ nghĩa tư
bản không có đối thủ? Thực tế và kinh nghiệm của loài người sẽ chỉ ra phương thức
tốt hơn trong tranh chấp.Cái lớn nhất là sức mạnh và sự liên kết Thực trạng toàn
cầu hóa hiện nay dự báo không chỉ mặt xấu của toàn cầu hóa (Nguồn: Bộ Kế
hoạch và Đầu tư
Trang 25V NHÌN LẠI QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT
NAM NHỮNG NĂM QUA VÀ TRIỂN VỌNG TRONG NHỮNG NĂM TỚI
Có thể nói HNKTQT của Việt Nam thực sự bắt đầu cùng với sự nghiệp đổi
mới được Đại hội Đảng lần thứ 6 khởi xướng Đây là quá trình từng bước tiến hành
tự do hoá các hoạt động kinh tế, mở cửa thị trường và tham gia vào các tổ chức/thể
chế kinh tế khu vực và thế giới
Hoạt động của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
(HNKTQT) luôn luôn là một chủ đề nóng hổi bởi vì trước hết các doanh nghiệp là
nền tảng của nền kinh tế quốc gia và tiến trình HNKTQT trực tiếp tác động đến
hoạt động của các doanh nghiệp Việc nắm vững các cam kết hội nhập hiện nay của
ta và nhìn thấy trước triển vọng của tiến trình này trong tương lai có ý nghĩa quan
trọng đối với các doanh nghiệp, bởi vì nó là cơ sở để các doanh nghiệp định hướng
chiến lược phát triển và kế hoạch hoạt động phù hợp với tình hình đan xen giữa
những cơ hội và thách thức, đặc biệt là sự cạnh canh ngày càng tăng từ nhiều phía
và ngay cả trên thị trường trong nước
Có thể nói HNKTQT của Việt Nam thực sự bắt đầu cùng với sự nghiệp đổi
mới được Đại hội Đảng lần thứ 6 khởi xướng Đây là quá trình từng bước tiến hành
tự do hoá các hoạt động kinh tế, mở cửa thị trường và tham gia vào các tổ chức/thể
chế kinh tế khu vực và thế giới Điều này có nghĩa là chúng ta từng bước tháo gỡ
những trói buộc và cản trở đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ
chế kinh tế mới dựa trên những nguyên tắc của thị trường có định hướng XHCN,
mở cửa và tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài vào làm ăn, giảm và đi đến
xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi quan thuế và các rào cản khác để việc trao đổi
hàng hoá, dịch vụ, vốn, công nghệ, nhân công giữa Việt Nam và các nước được
dễ dàng, phù hợp với những quy định của các tổ chức/thể chế kinh tế khu vực và
thế giới mà Việt Nam tham gia
Đồng thời việc đổi mới kinh tế trong nước, mở rộng và phát triển quan hệ
kinh tế-thương mại với các nước (đến nay, nước ta đã ký kết trên 70 hiệp định
Trang 26thương mại song phương, trong đó đáng chú ý nhất và toàn diện nhất là Hiệp định
Thương mại Việt-Mỹ ký năm 2001), Việt Nam đã lần lượt tham gia vào nhiều tổ
chức kinh tế, thương mại quốc tế
- Bước phát triển có tính đột phá của quá trình này là việc chúng ta chính
thức gia nhập ASEAN ngày 25/7/1995 và tham gia Khu vực Thương mại Tự do
ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996 Từ đó đến nay, Việt Nam cũng lần lượt cùng các
nước ASEAN tham gia vào các cơ chế liên kết ASEAN trong các lĩnh vực dịch vụ,
đầu tư, sở hữu trí tuệ, công nghệ thông tin
- Tháng 11/1998, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn
Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) - khối kinh tế khu vực lớn nhất
thế giới, chiếm hơn 80% kim ngạch buôn bán, gần 2/3 đầu tư và hơn 50% viện trợ
nước ngoài (ODA) của Việt Nam
- Tháng 12/1994, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập tổ chức Hiệp định chung về
Thương mại và Thuế quan (GATT), tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) và năm 1995 đã chính thức xin gia nhập WTO- một tổ chức thương mại
toàn cầu với 145 thành viên, hiện kiểm soát trên 90% tổng giá trị giao dịch thương
mại của thế giới Cho đến nay, ta đã tiến hành nhiều bước chuẩn bị theo yêu cầu
của WTO, họp 5 phiên với Nhóm Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO, hoàn
thành giai đoạn diễn giải, minh bạch hoá chế độ thương mại của ta Chúng ta đã
chuyển Ban thư ký WTO bản chào ban đầu về thuế quan và dịch vụ và bắt đầu tiến
hành giai đoạn đàm phán thực chất về mở cửa thị trường với các nước thành viên
WTO
- Từ đầu năm 2002, chúng ta cùng các nước ASEAN tiến hành đàm phán với
Trung Quốc về thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc Đầu tháng
11/2002 vừa qua, các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Hiệp định khung về
Hợp tác kinh tế hai bên, trong đó quy định những nguyên tác cơ bản của Khu vực
mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc sẽ hoàn thành vào năm 2010 đối với Trung
quốc và ASEAN-6, năm 2015 đối với ASEAN-4 Bắt đầu từ năm 2003, hai bên sẽ
Trang 27đàm phán cụ thể hoá các nguyên tắc trên thành các quy định để thực hiện Khu vực
mậu dịch tự do này
- Tháng 9/2002, tại Brunei, các nước ASEAN và CER (úc và Niudilân) đã ký
Tuyên bố chung thiết lập Đối tác kinh tế gần gũi (CEP) giữa hai bên Các nhà đàm
phán của các nước ASEAN và CER sẽ tiếp tục đàm phán cụ thể hoá các cam kết
của đối tác kinh tế gần gũi này trong thời gian tới
- Với Nhật, tại Hội nghị cấp cao ASEAN-Nhật ở Cămpuchia đầu tháng
11/2002, các nhà lãnh đạo ASEAN và Nhật đã nhất trí thiết lập Đối tác kinh tế toàn
diện, trong đó bao gồm cả một Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Nhật, dự kiến sẽ
được thành lập sớm, có thể là trước cả Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung
Quốc
- Với Mỹ, vừa qua tại Hội nghị cấp cao APEC ở Mêhicô (tháng 10/2002),
Tổng thống Mỹ đã đưa ra “Sáng kiến vì sự năng động ASEAN” nhằm thắt chặt
quan hệ hợp tác giữa Mỹ và ASEAN thông qua việc từng bước ký các hiệp định
thương mại tự do song phương với từng nước ASEAN
- Bên cạnh việc tham gia liên kết kinh tế song phương và đa phương như đã
nêu trên, trong những năm qua, Việt Nam cũng đồng thời tham gia vào các liên kết
kinh tế tiểu vùng như Lưu vực Mêkông mở rộng (GMS), Hành lang Đông Tây
(WEC), Tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Cămpuchia
Như vậy, HNKTQT của Việt Nam là một tiến trình từng bước từ thấp đến
cao diễn ra trên cả phương diện đơn phương, song phương và đa phương, lồng gép
các phạm vi tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu, diễn ra trên hầu hết các
lĩnh vực gồm hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ
Cho đến nay, các cam kết hội nhập chủ yếu của Việt Nam gồm những nội
dung cơ bản như sau:
1 Về cắt giảm thuế quan - Trong AFTA: Bắt đầu thực hiện giảm thuế quan
vào 1996; về cơ bản đưa mức thuế suất xuống còn 0-5% vào năm 2005 đối với
hàng hoá nhập khẩu từ các nước ASEAN và đạt 100% số dòng thuế ở mức 0% vào
Trang 28năm 2015 - Trong APEC: Về cơ bản thực hiện mức thuế suất 0% vào 2020.- Hiệp
định Việt-Mỹ: Cắt giảm thuế quan đối với khoảng 400 dòng thuế theo những lộ
trình khác nhau.- Khu vực MDTD ASEAN-Trung Quốc: Theo Chương trình “Thu
hoạch sớm” thì bắt đầu từ 2004, ta sẽ thực hiện cắt giảm thuế quan nhanh đối với
mặt hàng cam, quýt của Trung Quốc nhập vào Việt Nam, trong khi đó tất cả các
mặt hàng nông sản ta xuất sáng Trung Quốc nằm trong các chương từ 1-9 của biểu
thuế xuất nhập khẩu của ta hiện nay sẽ được hưởng nhân nhượng về thuế quan
nhanh của Trung Quốc
2 Về phi thuế- Trong AFTA: + Đến 2006, về cơ bản ta hoàn thành việc xoá
bỏ các hạn chế về định lượng đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước ASEAN và
tiến tới xoá bỏ các hàng rào phi thuế quan khác.+ Bắt đầu từ 2002 thực hiện Hiệp
định đánh giá giá trị hải quan của WTO;+ Từng bước thực hiện việc đơn giản hoá,
thuận lợi hoá và thống nhất các thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu -
Trong APEC: Từng bước và tiến tới xoá về cơ bản các hàng rào phi thuế quan vào
năm 2002.- Hiệp định Việt-Mỹ: Việc xoá bỏ các rào cản phi thuế được thực hiện
theo những lộ trình cụ thể đối với trên 200 sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ vào VN
3 Về dịch vụ
Chúng ta đã cam kết thực hiện tự do hoá đối với nhiều lĩnh vực dịch vụ theo
các lộ trình cụ thể khác nhau cả trong ASEAN, APEC, Hiệp định Việt-Mỹ Nhìn
chung, ta sẽ từng bước mở cửa thị trường Việt Nam và dành đối xử bình đẳng đối
với các dịch vụ cũng như các nhà đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực dịch vụ
4 Về đầu tư
Chúng ta cũng đã có những cam kết cả trong khuôn khổ ASEAN, APEC,
Hiệp định Việt-Mỹ về mở cửa thị trường Việt Nam cho các nhà đầu tư nước ngoài
vào đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, thực hiện các biện pháp tự do hoá và thuận
lợi hoá đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài và tiến tới dành cho các nhà đầu tư nước
ngoài quy chế đãi ngộ quốc gia
5 Về sở hữu trí tuệ
Trang 29Những cam kết của ta dựa căn bản trên các nguyên tắc của Hiệp định TRIPS
và các công ước của WIPO Theo đó, ta sẽ phải tôn trọng và thực hiện bảo hộ các
quyền về bản quyền tác giả, bằng phát minh sáng chế, thương hiệu, thiết kế, kểu
dáng công nghiệp, giống vật nuôi cây trồng
6 Về công khai hoá
Chúng ta phải công khai hoá các chính sách, luật lệ, quy định về chế độ
thương mại, thủ tục hành chính có liên quan và bảo đảm cho mọi người có thể tiếp
cận một cách thuận lợi và dễ dàng các thông tin đó
Những gì chúng ta đã cam kết và thực hiện trong những năm qua được kiểm
nghiệm là đúng, cơ bản phù hợp với xu thế và điều kiện thực tế của đất nước ta, do
vậy đã đóng góp quan trọng vào những thành tựu kinh tế xã hội to lớn của đất
nước
Trước sự gia tăng của xu thế toàn cầu hoá trong những năm tới, tiến trình
HNKTQT của chúng ta sẽ tiếp tục có những phát triển mới cả về bề rộng lẫn bề
sâu
Trong ASEAN, quá trình tự do hoá sẽ được thúc đẩy lên mức cao hơn và
rộng hơn về phạm vi lĩnh vực nhằm biến ASEAN không chỉ thành một khu vực
mậu dịch tự do mà còn là một thị trường chung, một cộng đồng kinh tế trong tương
lai ASEAN cũng sẽ phát triển mạnh hơn các mối liên kết kinh tế với các đối tác
ngoài khu vực để hình thành những khối liên kết kinh tế lớn hơn như các khu vực
MDTD ASEAN-Trung Quốc, ASEAN-Nhật như đã được các nhà lãnh đạo các
nước này nhất trí Có thể trong tương lai, sẽ hình thành và phát triển các liên kết
kinh tế sâu giữa ASEAN-Mỹ, ASEAN-CER, ASEAN-Ấn Độ, ASEAN-EU,
ASEAN-Hàn Quốc, ASEAN-NAFTA, ASEAN-MERCOSUR Không loại trừ khả
năng sẽ hình thành một khu vực MDTD thống nhất cho toàn bộ khu vực Đông á
Song hành với tiến trình hội nhập khu vực đó, chúng ta sẽ tích cực chuẩn bị
và đàm phán để sớm gia nhập WTO (mục tiêu là cố gắng trước khi kết thúc Vòng
Đô-ha vào 2005)
Trang 30Ngoài ra, chúng ta cũng thúc đẩy các liên kết kinh tế song phương trên cơ sở
các hiệp định MDTD song phương với các nước, đồng thời tiếp tục tăng cường liên
kết kinh tế vùng
Tiến trình hội nhập kinh tế đa diện đa lộ trình như vậy sẽ tạo ra cho các
doanh nghiệp những cơ hội/thuận lợi đan xen với những thách thức/rủi ro cần được
nhận dạng rõ để chủ động tận dụng và đối phó
Các cơ hội/thuận lợi chủ yếu là:- Thứ nhất, có thể tiếp cận được những thị
trường rộng lớn hơn với những ưu đãi thương mại (giảm thuế quan và phi thuế, quy
chế MFN, NT, GSP ) để tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ và cung ứng được nguồn
nguyên,nhiên liệu, thiết bị với giá cạnh tranh;- Thứ hai, cơ hội tiếp thu công nghệ
mới, phương thức quản lý tiên tiến để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh;-
Thứ ba, cơ hội cho việc phát triển quan hệ đối tác với nước ngoài;- Thứ tư, khả
năng tiếp cận tốt hơn các nguồn tài chính, tín dụng đa dạng cả ở trong lẫn ngoài
nước để tăng đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh;- Thứ năm, thông qua cọ xát,
cạnh tranh, học hỏi và tích luỹ kinh nghiệm, tri thức, rèn luyện nâng cao trình độ,
năng lực của đội ngũ nhân lực;- Thứ sáu, nhìn chung các doanh nghiệp được hưởng
nhiều lợi ích quan trọng từ quá trình tự do hoá và cải thiện môi trường đầu tư, kinh
doanh theo hướng thuận lợi và cạnh tranh bình đẳng hơn
Các thách thức/rủi ro chính bao gồm:- Thứ nhất, nguy cơ phá sản hoặc
chuyển đổi sản xuất kinh doanh do năng lực cạnh tranh kém Nhiều doanh nghiệp
của ta phải đối mặt với thách thức nghiêm trọng này, bởi vì phải cạnh tranh trong
điều kiện rất khó khăn cả từ phía bản thân các doanh nghiệp (quy mô nhỏ, thiếu
vốn, công nghệ lạc hậu, quản lý kém, hàng hoá sản phẩm thiếu sức cạnh tranh )
lẫn từ phía nhà nước (môi trường chính sách vĩ mô, hệ thống luật pháp, việc thực
thi và năng lực của đội ngũ cán bộ còn nhiều bất cập)
- Thứ hai, phải chịu nhiều phí tổn hơn về giao dịch, tư vấn, tiếp thị, quảng
cáo, đào tạo
Trang 31- Thứ ba, có nhiều rủi ro khi hoạt động trên thị trường nước ngoài, nhất là
trong điều kiện không hiểu rõ chính sách, luật lệ, thủ tục và cách thức làm ăn tại thị
trường đó và các đối tác nước ngoài (khả năng bị lừa đảo, xử bất lợi trong các vụ
tranh chấp )
Tóm lại, HNKTQT là cần thiết và tất yếu để phát triển trong một thế giới
toàn cầu hoá Đây là một quá trình đan xen của những cơ hội và thách thức Các
doanh nghiệp cần nhận thức rõ về quá trình này, nắm bắt kỹ các cam kết và lộ trình
hội nhập của ta để chuẩn bị vào cuộc một cách chủ động (Bài viết của TS Phạm
Quốc Trụ - Vụ HTKTĐP - Bộ Ngoại giao).(Nguồn: Vụ HTKTĐP-BNG IIIII12)
Việt Nam và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
(15/01/2002)
Việt Nam tiến hành công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong bối
cảnh thế giới đang diễn ra những thay đổi to lớn về chính trị và kinh tế Xu thế hoà
bình, ổn định và hợp tác vì phát triển trở thành đòi hỏi bức xúc của mọi dân tộc và
quốc gia trên thế giới Các nước đều dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, xây dựng
môi trường hoà bình và ổn định để thực hiện mục tiêu này
Cùng với xu thế hoà bình, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ và xu thế toàn cấu hoá trong quan hệ thương mại và đầu tư, sự phân
công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc Tình hình đó đòi hỏi một sự hợp tác ngày
càng sâu và rộng, tạo nên thế tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia dù lớn hay nhỏ,
phát triển hay chưa phát triển
Trong bối cảnh mọi quốc gia đều tập trung và nỗ lực vào xây dựng kinh tế,
phát triển đất nước, hợp tác để phát triển đã trở thành yêu cầu khách quan không
thể thiếu được Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã nhận định "Các nước dành ưu
tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc
tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia Các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày
càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế,
Trang 32thương mại" Hội nhập quốc tế là cần thiết và tất yếu đối với mọi quốc gia nếu
không muốn bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển
Thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế mà Đại
hội Đảng lần thứ VII đã đề ra và những chủ trương lớn của Ban Chấp hành Trung
ương về phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam
đã có những nỗ lực to lớn thúc đẩy hợp tác với tất cả các nước có trình độ phát triển
và thể chế chính trị khác nhau Thế cấm vận kinh tế bị phá vỡ, thiết lập quan hệ
ngoại giao với 167 nước, trong đó có tất cả các nước lớn và các trung tâm chính
trị-kinh tế của thế giới, phát triển quan hệ thương mại với 130 nước và lãnh thổ Việt
Nam đã bình thường hoá và phát triển quan hệ với các thể chế tài chính tiền tệ quốc
tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển
châu á (ADB) và các tổ chức phát triển kinh tế khác trong hệ thống Liên Hiệp
quốc, thu hút một lượng đáng kể viện trợ phát triển (ODA) Trong thời gian vừa
qua, Việt Nam tiếp tục thúc đẩy tiến trình hội nhập, nâng lên một tầm cao mới - qua
việc tham gia vào các tổ chức và thể chế hợp tác kinh tế-thương mại khu vực và thế
giới như ASEAN/AFTA, APEC, ASEM và WTO - là một bước phát triển nhất
quán và lôgic Với việc đẩy mạnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Hội nghị
Trung ương 4 (khoá VIII) năm 1998 đã đề ra nhiệm vụ "tiến hành khẩn trương,
vững chắc việc đàm phán hiệp định thương mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO
Có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA"
ASEAN chiếm 30% kim ngạch buôn bán và hơn 20% đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam Gia nhập ASEAN từ tháng 7/1995, Việt Nam đồng thời trở
thành thành viên của Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Năm 1992 các
nước ASEAN đã ký Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) thành
lập khu vực Mậu dịch tự do ASEAN-AFTA với nội dung chính là thực hiện dần
từng bước giảm thuế quan bắt đầu từ 1/1/1993 để đạt mục tiêu thuế suất 0-5% vào
năm 2003 cho các hàng hoá trong thương mại nội khối ASEAN, loại bỏ các hạn
chế định lượng và các hàng rào phi quan thuế Về mức độ thực hiện CEPT/AFTA,
Trang 33năm 1996 Việt Nam đã công bố đưa 875 mặt hàng và năm 1997 đưa thêm 621 mặt
hàng vốn đã có thuế suất bằng 0-5% hoặc nhỏ hơn 20% vào thực hiện CEPT/AFTA
đưa tổng số lên 1496 mặt hàng, năm 1998-1999 Việt Nam đã đưa 3582 mặt hàng
vào thực hiện CEPT/AFTA, năm 2000 là 4233 dòng thuế Cho đến nay, số dòng
thuế trong biểu thuế có thuế suất 0% là 42,1%, thuế 0-5% là 69,33%, thuế suất trên
5% và dưới 20% là 21,13% và thuế trên 15% là 8,24% Bên cạnh đó, Việt Nam
cũng tích cực tham gia chặt chẽ với ASEAN trong các lĩnh vực phát triển công
nghiệp, lương thực nông nghiệp, lâm nghiệp, đầu tư (Hiệp định về khu vực đầu tư
ASEAN-AIA), thương mại dịch vụ, giao thông vận tải và nhiều lĩnh vực khác
Việt Nam, với tư cách là một thành viên sáng lập ASEM, trong 3 năm vừa
qua đã tham gia đầy đủ các hoạt động theo 2 kênh: kênh Chính phủ (cấp nguyên
thủ quốc gia, Bộ trưởng, Vụ trưởng và chuyên viên) và kênh doanh nghiệp Tại Hội
nghị cấp cao lần thứ II ở London, Việt Nam đã đưa ra hai sáng kiến được hoan
nghênh và được đưa vào chương trình hợp tác chính thức của ASEM Mục tiêu của
Việt Nam trong tổ chức này là xúc tiến việc mở rộng thị trường thương mại, đầu tư,
hợp tác kinh tế khoa học - kỹ thuật trên cơ sở
cùng có lợi
Gia nhập APEC là một bước tiến quan trọng trong tiến trình hội nhập vì
APEC chiếm tới 80% kim ngạch buôn bán, gần 2/3 đầu tư và hơn 50% viện trợ
phát triển chính thức (ODA) của Việt Nam Sau khi trở thành thành viên chính thức
của APEC tháng 11/1998, Việt Nam đã tích cực tham gia các hoạt động trong
khuôn khổ APEC qua việc xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia (IAP) và Kế
hoạch hành động tập thể (CAP) Việt Nam đã có những đóng góp rất thiết thực
trong lĩnh vực tự do hoá mậu dịch và thuận lợi hoá trong khuôn khổ APEC, tham
gia vào các hoạt động của chương trình CAP như Dự án về Tiêu chuẩn và Hợp
chuẩn phát triển nguồn nhân lực, Hỗ trợ các xí nghiệp vừa và nhỏ, tham gia các
hoạt động đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính ở khu vực Bên cạnh đó,
trong chương trình ECOTECH, Việt Nam đã tham gia một số hoạt động trong các
Trang 34diễn đàn, nhóm công tác về nông nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ, khoa học công
nghiệp, giao thông vận tải, viễn thông
Năm 1995 Việt Nam chính thức gửi đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới WTO Đây là một tổ chức toàn cầu với những quy chế cơ bản và lâu dài
điều tiết hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và thương mại nói riêng, chi phối
quan hệ hợp tác kinh tế-thương mại với tuyệt đại đa số các nước trong công đồng
quốc tế Sau khi trải qua 3 vòng đàm phán gia nhập WTO chủ yếu tập trung vào
quá trình minh bạch hoá chính sách, vòng đàm phán thứ 4 sắp tới sẽ tập trung vào
nội dung chính là đàm phán mở cửa thị trường về thuế và các biện pháp phi quan
thuế Sau đó, sẽ tiến hành đàm phán tiếp về dịch vụ, đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ
Quá trình gia nhập WTO của Việt Nam hiện nay đang ở giai đoạn đầu của quá trình
đàm phán Trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của WTO, tháng 7/2000, Việt Nam
đã ký kết Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ trên cơ sở bình đẳng,
hợp tác cùng có lợi và phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam tháng 7/2000
Hội nhập kinh tế quốc tế không luôn luôn là một quá trình suôn sẻ Cơ hội và
thách thức của quá trình hoà nhập của Việt Nam đan xen lẫn nhau Việt Nam có
những thuận lợi lớn, đó là:
- Việt Nam có tiềm năng to lớn về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực;
- Quá trình hội nhập được tiến hành khi Việt Nam đã và đang thực hiện
thành công quá trình đổi mới Hai quá trình này gắn bó và bổ trợ cho nhau;
- Hội nhập kinh tế và khu vực tạo điều kiện tranh thủ ngoại lực, khai thác
nhiều loại tiềm năng thông qua hợp tác đa dạng và với nhiều đối tác để mở rộng thị
trường hàng hoá, dịch vụ và sức lao động, phát huy cao nhất các lợi thế so sánh,
tranh thủ công nghệ tiên tiến
- Hội nhập kinh tế cũng tạo điều kiện bảo đảm an ninh quốc gia
- Tham gia hội nhập, Việt Nam còn có thể tranh thủ và khai thác những quy
chế điều kiện ưu đãi mà phần lớn các thể chế quốc tế dành cho các nước chậm phát
Trang 35triển và đang phát triển để vừa đảm bảo hội nhập có hiệu quả, vừa bảo hộ hợp lý và
phát triển vững chắc các ngành sản xuất của Việt Nam
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản nói trên, Việt Nam cũng gặp những khó
khăn và thách thức không nhỏ ở tầm vĩ mô lẫn vi mô Đó là:
- Trình độ phát triển kinh tế còn thấp và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
còn yếu trong khi mở cửa nền kinh tế là chấp nhận cạnh tranh với những đối thủ
hùng mạnh ở cả thị trường trong và ngoài nước Mâu thuẫn giữa yêu cầu phải
nhanh chóng hội nhập để tranh thủ các điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế với
nhu cầu cần có đủ thời gian xây dựng một nền kinh tế có sức cạnh tranh để hội
nhập có hiệu quả đòi hỏi phải được giải quyết thoả đáng
Các cơ chế của một nền kinh tế thị trường đang trong giai đoạn hình thành,
hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh Hiện nay, nhiều luật lệ và chính sách liên quan
đến mở cửa và các quan hệ kinh tế đối ngoại còn thiếu hoặc chưa phù hợp với
thông lệ và tập quán quốc tế, đặc biệt là chính sách thuế và phi quan thuế theo chế
độ đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) và đãi ngộ quốc gia (NT), chế độ hạn ngạch thuế
quan, biện pháp bảo vệ cán cân thanh toán, quyền tự vệ,
- Việt Nam hội nhập sau nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, do đó,
phải cố gắng theo kịp trong khi đang có xu hướng đẩy nhanh quá trình tự do hoá,
với quy mô rộng hơn và mức độ ngày càng sâu sắc hơn;
- Hội nhập là một quá trình điều chỉnh và lựa chọn khó khăn, phải tính toán,
cân nhắc kỹ giữa lợi ích trước mắt, cục bộ và lợi ích lâu dài, tổng thể;
- Sự hiểu biết và nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về hội nhập và
công việc chuẩn bị cho công tác này còn nhiều hạn chế
Tóm lại, hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu và là một yêu cầu khách quan
đối với bất kỳ một nước nào trên con đường phát triển trong điều kiện mới của tình
hình thế giới hiện nay Hội nhập thực chất là đấu tranh để giành thị trường hàng
hoá, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm, tham gia phân công lao động quốc tế để khai thác
các tiềm năng bên ngoài, kết hợp và phát huy tối đa nội lực, không ngừng nâng cao
Trang 36sức mạnh về kinh tế và vị thế quốc gia Đó là một quá trình đầy khó khăn và thử
thách nhưng cũng mang lại những lợi ích to lớn Nếu đứng ngoài lề xu thế phát
triển chung này thì thách thức đối với sự phát triển của một quốc gia sẽ to lớn hơn
nhiều.(Bộ Ngoại giao)
VI MỘT SỐ NHIỆM VỤ VÀ BIỆN PHÁP CẦN THỰC HIỆN TRONG QUÁ
TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1 Những nhiệm vụ cần thực hiện trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể mang lại nhiều lợi ích kinh tế Việc nhập
khẩu các sản phẩm trung gian và thu hút đầu tư mà trong nước không thể cung cấp
với giá tương ứng, việc chuyển giao công nghệ và các ý tưởng từ những nước phát
triển hơn, và việc tiếp cận thị trường vốn và hàng hóa quốc tế có thể giúp chúng ta
giải quyết một số hạn chế cố hữu để tăng trưởng và phát triển nhanh hơn
Nhưng đó là những lợi ích tiềm năng chỉ có thể phát huy đầy đủ tác dụng khi
trong nước chúng ta có nội lực vững mạnh với những chính sách và thể chế bổ trợ
Kinh nghiệm của những nước đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao từ sau
Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay là phải kết hợp tốt giữa việc mở cửa tự do hóa
với việc duy trì mức tiết kiệm - đầu tư cao, ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển nguồn
nhân lực và quản lý nhà nước tốt
Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị đã đề ra chín nhiệm vụ quan trọng cần được
thực hiện trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:
1 Tiến hành rộng rãi công tác tư tưởng, tuyên truyền, giải thích trong các tổ
chức đảng, chính quyền, đoàn thể, trong các doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân
để đạt được nhận thức và hành động thống nhất và nhất quán về hội nhập kinh tế
quốc tế, coi đó là nhu cầu vừa bức xúc, vừa cơ bản và lâu dài của nền kinh tế nước
ta, nâng cao niềm tin vào khả năng và quyết tâm của nhân dân ta chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế
2 Căn cứ vào Nghị quyết của Đại hội IX, chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 2001-2010 cũng như các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta
Trang 37tham gia, xây dựng chiến lược tổng thể về hội nhập với một lộ trình cụ thể để các
ngành, các địa phương, các doanh nghiệp khẩn trương sắp xếp lại và nâng cao hiệu
quả và khả năng cạnh tranh, bảo đảm cho hội nhập có hiệu quả Trong khi hình
thành chiến lược hội nhập, cần đặc biệt quan tâm đảm bảo sự phát triển của các
ngành dịch vụ như tài chính, ngân hàng, viễn thông là những lĩnh vực quan trọng
mà ta còn yếu kém
3 Chủ động và khẩn trương trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế , đổi mới công
nghệ và trình độ quản lý để nâng cao khả năng cạnh tranh, phát huy tối đa lợi thế so
sánh của nước ta, ra sức phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng, hạ giá thành
sản phẩm và dịch vụ, bắt kịp sự thay đổi nhanh chóng trên thị trường thế giới, tạo
ra những ngành, những sản phẩm mũi nhọn để hàng hóa và dịch vụ của ta chiếm
lĩnh thị phần ngày càng lớn ở trong nước cũng như trên thế giới, đáp ứng nhu cầu
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tiến trình điều tra, phân loại, đánh giá khả năng cạnh tranh của từng sản
phẩm, từng dịch vụ, từng doanh nghiệp, từng địa phương để có biện pháp thiết thực
nhằm nâng cao hiệu quả và tăng cường khả năng cạnh tranh Gắn quá trình thực
hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ ba khóa IX về tiếp tục, sắp xếp, đổi
mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước với quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế
Trong quá trình hội nhập cần quan tâm tranh thủ những tiến bộ mới của khoa
học, công nghệ; không nhập khẩu những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi
trường
Đi đôi với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ
của các doanh nghiệp, cần ra sức cải thiện môi trường kinh doanh, khả năng cạnh
tranh quốc gia thông qua việc khẩn trương đổi mới và xây dựng đồng bộ hệ thống
pháp luật phù hợp với đường lối của Đảng, với thông lệ quốc tế, phát triển mạnh
kết cấu hạ tầng; đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính nhằm xây dựng bộ máy
nhà nước trong sạch về phẩm chất, vững mạnh về chuyên môn
Trang 384 Tích cực tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ; thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các
loại hình thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động, khoa học - công nghệ, vốn, bất
động sản ; tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng cho mọi thành
phần kinh tế, tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước đối với nền
kinh tế, đặc biệt chú trọng đổi mới và củng cố hệ thống tài chính, ngân hàng
5 Có kế hoạch cụ thể đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực , vững
vàng về chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo
đức trong sáng, tinh thông nghiệp vụ và ngoại ngữ, có tác phong công nghiệp và
tinh thần kỷ luật cao Trong phát triển nguồn nhân lực theo những tiêu chuẩn chung
nói trên, cần chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh hiểu biết sâu
về luật pháp quốc tế và nghiệp vụ chuyên môn, nắm bắt nhanh những chuyển biến
trên thương trường quốc tế để ứng xử kịp thời, nắm được kỹ năng thương thuyết và
có trình độ ngoại ngữ tốt Bên cạnh đó, cần hết sức coi trọng việc đào tạo đội ngũ
công nhân có trình độ tay nghề cao
Cùng với việc đào tạo nguồn nhân lực, cần có chính sách thu hút, bảo vệ và
sử dụng nhân tài; bố trí, sử dụng cán bộ đúng với ngành nghề được đào tạo và với
sở trường năng lực từng người
6 Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại
Cũng như trong lĩnh vực chính trị đối ngoại, trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại và hội
nhập kinh tế quốc tế cần giữ vững đường lối độc lập tự chủ, thực hiện đa phương
hóa, đa dạng hóa thị trường và đối tác, tham gia rộng rãi các tổ chức quốc tế Các
hoạt động đối ngoại song phương và đa phương cần hướng mạnh vào việc phục vụ
đắc lực nhiệm vụ mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế Tích cực tham gia đấu tranh vì một hệ thống quan hệ kinh tế quốc tế bình
đẳng, công bằng, cùng có lợi, bảo đảm lợi ích của các nước đang phát triển và
chậm phát triển
Trang 39Các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài cần coi việc phục vụ công
cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước là một nhiệm vụ hàng đầu
7 Gắn kết chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế với nhiệm vụ củng cố an ninh
quốc phòng ngay từ khâu hình thành kế hoạch, xây dựng lộ trình cũng như trong
quá trình thực hiện, nhằm làm cho hội nhập không ảnh hưởng tiêu cực tới nhiệm vụ
bảo vệ an ninh quốc gia và an toàn xã hội; mặt khác, các cơ quan quốc phòng và an
ninh cần có kế hoạch chủ động hỗ trợ tạo môi trường thuận lợi cho quá trình hội
nhập
8 Tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) theo các phương án và lộ trình hợp lý, phù hợp với hoàn cảnh của nước ta
là một nước đang phát triển ở trình độ thấp và đang trong quá trình chuyển đổi cơ
chế kinh tế Gắn kết quá trình đàm phán với quá trình đổi mới mọi mặt hoạt động
kinh tế ở trong nước
9 Kiện toàn ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế đủ năng lực và thẩm
quyền giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức, chỉ đạo các hoạt động về hội nhập kinh
tế quốc tế ủy ban gồm hai bộ phận: một bộ phận chuyên trách, một bộ phận kiêm
nhiệm bao gồm đại diện có thẩm quyền của các Bộ, Ban, ngành hữu quan
Bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ trên, chúng ta cũng cần tiến hành các
biện pháp bổ trợ sau đây nhằm tạo khả năng tốt nhất cho việc thực hiện các cam kết
hội nhập của ta và bảo đảm quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thực sự đưa lại kết
quả tích cực đối với sự phát triển của đất nước:
1.1 Tăng cường đổi mới kinh tế trong nước và vai trò quản lý kinh tế của
Nhà nước
Đổi mới bên trong và hội nhập là hai quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau, hỗ
trợ và thúc đẩy lẫn nhau Đổi mới bên trong tạo tiền đề và điều kiện thúc đẩy hội
nhập kinh tế quốc tế Ngược lại, hội nhập một mặt đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh
đổi mới, cải cách bên trong, mặt khác cũng tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá
Trang 40trình đổi mới đó Để hội nhập đạt được kết quả tích cực, cần tiếp tục đẩy mạnh quá
trình đổi mới, cải cách thị trường theo những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại
thị trường, đặc biệt quan tâm đến các thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có
hoặc còn sơ khai như thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị trường bất
động sản, thị trường khoa học - công nghệ Phát triển thị trường hàng hóa và dịch
vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng và nâng cao sức mua của thị trường trong nước cả ở
thành thị và nông thôn; mở rộng thêm thị trường mới ở nước ngoài; xác định thời
hạn bảo hộ hợp lý và có điều kiện với một số sản phẩm quan trọng, tích cực chuẩn
bị để hội nhập thị trường quốc tế; xóa bỏ độc quyền kinh doanh của các doanh
nghiệp lớn Mở rộng thị trường lao động trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu lao
động; hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách để tạo cơ hội bình đẳng về việc
làm cho người lao động, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người lao động tự
tìm việc làm, nâng cao trình độ, đào tạo lại và học nghề mới Sớm tổ chức thị
trường khoa học - công nghệ và bảo hộ sở hữu trí tuệ; đẩy mạnh phát triển các dịch
vụ về thông tin, chuyển giao công nghệ Phát triển nhanh thị trường vốn, nhất là
vốn dài hạn và trung hạn; vận hành thị trường chứng khoán an toàn và hiệu quả;
hình thành đồng bộ thị trường tiền tệ; tăng khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt
Nam Tổ chức, phát triển thị trường bất động sản; Nhà nước giao quyền sử dụng
đất dài hạn cho người sản xuất, kinh doanh và cho phép chuyển nhượng quyền sử
dụng đất trên thị trường theo quy định của pháp luật
Thứ hai, hình thành đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục những yếu kém hiện nay, gỡ bỏ những vướng
mắc cản trở sự phát triển Cơ chế quản lý kinh tế cần được đổi mới sâu rộng, phát
huy những yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, triệt để xóa bỏ bao cấp trong kinh
doanh, tăng cường vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước, đấu tranh có
hiệu quả chống các hành vi tiêu cực, lãng phí, tham nhũng, gây phiền hà Nhà nước
tạo môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp cạnh tranh và