Việc tập trung quá nhiều mắt xích dân số trong mối quan hệ giữa dân số môi trường đã gây ra nhiều tranh cãi. Có thể nói rằng những biện pháp triệt để làm giảm mức sinh đã tỏ ra thiếu tính hiệu lực và kết quả trong việc giải quyết vấn đề môi trường. Ngay cả những biện pháp nâng cao sức khỏe bà mẹ trẻ em nhằm kiểm soát mức sinh cũng không thể đảm bảo mối quan hệ đồng hành giữa dân số và môi trường. Điều này cũng đối với các nhà môi trường, những người dường như chỉ tập trung vào lĩnh vực môi trường thuần túy và quên đi mối quan hệ khăng khít của nó với dân số.
Trang 11 Thuyết nhân khẩu
Năm 1798, quyển sách của mục sư trẻ tuổi T Malthus: "Kinh nghiệm
về quy luật dân số" ra đời và chịu nhiều công kích Vì vậy từ năm
1799-1802 T Malthus đi du lịch các nước châu Âu để thu thập thêm kiến thức 5 năm sau ông cho tái bản quyển sách trên với lời tựa khẳng định quan điểm chính không thay đổi: "Liên quan đến ý tưởng của tôi, tôi tin rằng, sẽ không
có cải chính điều trước đây Theo quan điểm đó cũng cần phải công nhận rằng, nghèo đói và khốn cùng của những tầng lớp thấp của xã hội là điều ác khó chữa Nhưng nếu có điều gì sai lầm, ngoài ý muốn của tôi, tiềm ẩn trong nghiên cứu này, thì chúng không thể có ảnh hưởng lớn đến bản chất những trình bày của tôi"
Ý nghĩa khoa học trong "Kinh nghiệm về quy luật dân số" là sự tiên đoán về những xu hướng kinh tế xã hội liên quan đến tăng dân số, là cơ sở lý luận cho các nghiên cứu sau này Lý thuyết của T Malthus chỉ ra nguyên nhân của nghèo đói bằng một tỷ lệ đơn giản giữa tốc độ tăng trưởng dân số với tốc độ tăng trưởng của cải – tương ứng với mức sống tối thiểu Nội dung chính được thể hiện như sau: Trong điều kiện thuận lợi, dân số, nếu tăng theo cấp số nhân sẽ đạt số lượng gấp đôi sau 20-25 năm, còn sản xuất thực phẩm và đồ tiêu dùng cần thiết chỉ tăng theo cấp số cộng, thì (dân số) sẽ không thể tăng thêm với tốc độ đó nữa Khi đó, do bùng nổ dân số, nghèo đói sẽ đe dọa vận mệnh toàn nhân loại Về mặt này T Malthus chịu ảnh hưởng của lý thuyết phổ biến thời bấy giờ - quy luật giảm dần sự màu mỡ của đất Đến năm 1826, cuốn sách của ông được tái bản lần thứ sáu
Tuy nhiên các tính toán của ông đã không hoàn toàn phù hợp với thực
tế, vì trong hai thế kỷ gần đây tốc độ tăng dân số vẫn xảy ra mà không bị cản trở bởi nghèo đói
Về căn bản, ý tưởng trong tác phẩm trên không được các nhà Marxist công nhận Họ cho đó chỉ là sự ngu dốt, vô tích sự, hoàn toàn biện hộ Chịu
Trang 2công kích nhiều nhất là ý tưởng trọng tâm về sự ảnh hưởng của số dân và tốc
độ tăng dân số lên phồn thịnh xã hội Mặt dù T Malthus chỉ đưa ra một dự đoán bi quan về số phận loài người và một đề xuất mang tính đạo đức, nhưng các nhà Marxist nhận thấy trong ý tưởng đó một nguyên cớ cho hành động của các thế lực phát xít
Để bảo vệ cho lý thuyết của T Malthus, các nhà nghiên cứu khác cho rằng ông đã nêu lên một vấn đề mang tính thời sự, và sử dụng lý thuyết này như một gợi ý cho việc tiến hành các chương trình cải cách xã hội Chính ông cũng viết: "Bất kì bạn đọc nào cũng nên công nhận rằng, có thể có những sai lầm, nhưng mục đích thực tiễn mà tác giả của công trình này theo đuổi, là muốn cải thiện việc tham dự và tăng thêm hạnh phúc của các giai cấp xã hội thấp kém"
Mặc dù ông không để ý tới sự điều chỉnh dân số qua việc sử dụng các dụng cụ tránh thai, nhưng gợi ý về một biện pháp như vậy là kết quả tự nhiên có được từ các ý tưởng của ông Người đầu tiên tuyên truyền sử dụng rộng rãi các dụng cụ tránh thai để tránh sự bùng nổ dân số là Francis Place, khi đọc thuyết của Malthus, Place đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ và ông đã viết một quyển sách về các biện pháp tránh thai năm 1822
Thuyết dân số của ông cũng có ảnh hưởng quan trọng vào các học thuyết kinh tế Các nhà kinh tế bị ảnh hưởng bởi Malthus đã kết luận rằng, dưới những điều kiện bình thường, bùng nổ dân số làm giảm đáng kể mức lương tồn tại
Quan điểm của Malthus còn ảnh hưởng tới những nghiên cứu về sinh học Charles Darwin tuyên bố ông đã đọc Thuyết dân số và điều này mang đến cho ông một gạch nối quan trọng trong thuyết tiến hoá bằng chọn lọc tự nhiên
2 Luồng tư tưởng Malthus mới:
Trang 3Hiện nay có hai dòng tư tưởng Malthus mới về mối quan hệ dân số và môi trường, cả hai dòng tư tưởng này đều cho rằng gia tăng dân số là nguyên nhân chủ yếu làm hủy hoại môi trường Một dòng tư tưởng thì cho rằng mọi sự suy thoái của môi trường đều do dân số gây nên Còn dòng tư tưởng thứ hai thì cho rằng trái đất chỉ có khả năng chịu đựng hạn chế và nếu vượt qua giới hạn cho phép thì môi trường sẽ quay lại phá hủy cuộc sống của mọi loài trên trái đất Đối với cả hai dòng tư tưởng này thì biện pháp tốt nhất để giảm sự hủy hoại môi trường là hạn chế sự gia tăng dân số
Đất không cố định và sự lựa chọn tự nhiên:
Khái niệm đất đai cố định dựa trên cơ sở học thuyết năng suất giảm dần
Khi cung của sản xuất cố định ( đặc biệt là đất đai) thì khối lượng sản phẩm của mỗi đơn vị lao động tăng thêm sẽ giảm dần Malthus cho rằng nếu không có gì cản trở thì dân số sẽ tăng theo cấp số nhân Của cải vật chất sẽ tăng theo cấp số cộng Kết luận của Malthus cho rằng cần phải tìm biện pháp
để cân bằng mối quan hệ giữa dân số và của cải vật chất Từ tư tưởng này của Malthus dẫn đến ý tưởng của chủ nghĩa Malthus mới đó là tư tưởng: sự lựa chọn tự nhiên
Tư tưởng sự lựa chọn tự nhiên do Darwin đưa ra Nhiều nhà khoa học cho rằng tư tưởng của Darwin có nguồn gốc từ tác phẩm khái luận về nguyên lý dân số Ông cho rằng con người là sinh vật cao cấp nên có quan
hệ mật thiết và qua lại với tự nhiên và phụ thuộc vào quy luật tự nhiên Định
đề của Malthus cho rằng việc đấu tranh sinh tồn giữa người với người là do dân số tăng nhanh hơn sự tăng của lương thực, thực phẩm Con người cũng không tránh khỏi quy luật như mọi sinh vật khác là phải có ăn mới sống Darwin sử dụng ý niệm này của Malthus để phát triển thuyết tiến hóa của mình Nói Darwin theo quan điểm Malthus là vì ông cho rằng mỗi loài vật tồn tại không phải chỉ vì riêng mình, mà còn góp phần vào làm cân bằng môi trường sinh thái mà ta có thể dùng thuật ngữ “ cân bằng tự nhiên” để thể
Trang 4hiện mối quan hệ giữa dân số và tự nhiên Trong mối quan hệ dân số cân bằng này thì bệnh tật và cái chết là tác nhân tác động để sự cân bằng tự nhiên và sinh thái được thực hiện Về phần mình Darwin cho rằng mỗi loài tuân theo sự thay đổi phù hợp với sự tiến hóa của mình theo cơ chế sau: Khi
mà các nhân tố thuận lợi cho sự sinh tồn của loài đó được giữ lại và truyền cho thế hệ sau, thì mối hiểm họa gây tác hại cho sự sinh tồn bị hạn chế Darwin định nghĩa quá trình trên là sự lựa chọn của tự nhiên Ảnh hưởng của Malthus đến Darwin thể hiện ở chỗ sự đấu tranh sinh tồn không chỉ diễn ra giữa các loài với nhau trong tự nhiên mà sự đấu tranh đó còn diễn ra giữa các cá nhân trong mỗi loài Bởi vì nguồn lương thực, thực phẩm để tồn tại bị hạn chế bởi đất đai
Quan điểm khả năng chịu đựng:
Các nhà kinh tế đầu thế kỉ 20 khác với Malthus cho rằng những hạn chế
về tài nguyên thiên nhiên là một nhân tố nằm bên ngoài mô hình tăng trưởng kinh tế Quan điểm về nguồn lực có giới hạn của Malthus và Darwin được
sử dụng nhiều hơn trong các khoa học, chính xác hơn là trong học thuyết về kinh tế Khi nói về mối quan hệ dân số và nguồn tài nguyên, quan điểm khả chịu đựng do phái Malthus mới đưa ra đã sử dụng ý tưởng hạn chế sự gia tăng dân số
Đối với các nhà sinh thái học theo chủ nghĩa Malthus mới, môi trường được định nghĩa là một tổng thể các hiện tượng bên ngoài có thể ảnh hưởng đến chức năng, cơ cấu của một tổ chức( ở trường hợp của chúng ta là dân số) Con người cũng giống như tất cả mọi sinh vật sống khác cần được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản ban đầu để tồn tại và vì vậy nó phải đấu tranh để được sinh tồn ( được ăn mặc và ở) Con người sử dụng mối quan hệ với môi trường( nguồn tài nguyên) để tồn tại Nhưng tài nguyên trong môi trường chỉ
có hạn Do gia tăng dân số làm cho cầu về sử dụng tài nguyên tăng lên nên
là nguyên nhân làm phá hủy môi trường Theo E.Odum thì từ tình trạng này làm xuất hiện thuật ngữ “ kết hợp các nhân tố có giới hạn” Nguồn tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sử dụng bị cạn kiệt dần là một nhân tố
Trang 5giới hạn, bởi vì nếu sử dụng vượt quá một ngưỡng nào đó thì yếu tố môi trường đó sẽ có tác động ngược trở lại làm phá hủy sự tồn tại của nhiều yếu
tố khác
Số lượng dân vừa đủ đáp ứng khả năng chịu đựng của trái đất được định nghĩa như số lượng dân tối đa Đó là số lượng dân vừa đủ để xã hội phát triển mà không cần khai thác đến cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và làm cho thế hệ sau rơi vào tình trạng khốn đốn Khi mà dân số đã đạt tới mức cao nhất của khả năng chịu đựng của nhân tố giới hạn của môi trường mà vẫn giữ được sự cần bằng thì nó đã đạt điểm tối ưu Nếu dân số đã đạt quy mô vượt quá mức cân bằng đó, dân số sẽ phá hủy môi trường Khi đó môi trường sẽ quay lại phá hủy cuộc sống của chính bản thân con người Vì thế nếu con người không thực hiện giảm sinh họ sẽ đặt áp lực dân số quá lớn lên nguồn tài nguyên thiên nhiên Và lúc đó chính nạn đói, bệnh dịch và cái chết
sẽ lập lại sự cân bằng
Khái niệm dân số tối ưu đối với môi trường là bằng chứng cho thấy xuất hiện một quan điểm cho rằng trái đất của chúng ta chỉ có khả năng tiếp nhận một số lượng người nhất định để đảm bảo sự phát triển bền vững Vậy liệu chúng ta có thể tính toán được khả năng chịu đựng này và đưa ra một con số cụ thể không? Người đưa ra mô hình tính toán đầu tiên là Ravenstein E.G năm 1891 Để tính toán ông sử dụng diện tích nông nghiệp, năng suất cây trồng và khả năng tăng năng suất trong nông nghiệp Ước lượng của ông đến nay không được sử dụng nữa
Ngày nay có rất nhiều công trình dự báo khả năng chịu đựng của trái đất rất đáng tin cậy Tuy nhiên các mô hình lượng hóa khả năng này cũng còn rất hạn chế(mô hình FAO, mô hình IASA) Ta có thể đưa ra ba nhận xét
về các mô hình này
• Dân số là biến tồn tại bên ngoài
Trang 6• Sự biến đổi về khoa học kỹ thuật được coi là biến cơ bản Biến số công nghệ là một biến độc lập với sự gia tăng dân số Nhưng dân số
có ảnh hưởng rất lớn đến biến công nghệ
• Sự thay đổi về thể chế không được tính đến trong các mô hình, nhưng trên thực tế nó ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất và phân phối của cải vật chất cũng như khai thác tài nguyên thiên nhiên
Trên thực tế khả năng chịu đựng là một khái niệm rất khó lượng hóa
• Trước hết phải xác định được độ màu mỡ của đất đai và khả năng tiềm tàng về tài nguyên trong lòng đất mà hiện nay chúng ta không có khả năng làm việc này
• Thứ hai chỉ dựa vào lượng lương thực, thực phẩm và cách tiêu thụ là không chính xác Mặt khác con người sống không phải chỉ vì riêng bản thân họ và cũng không phải chỉ có họ làm ra cho họ hưởng mà họ còn được hưởng thừa kế nền văn hóa tín ngưỡng và đặc trưng dân tộc riêng biệt
Do vậy ước lượng khả năng chịu đựng của TĐ chỉ mang tính tương đối
3 Tư tưởng chống Malthus
a) Tư Tưởng Của Julian Simon
Dân số là 1 nhân tố theo dài hạn là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Để chứng minh luận điểm này Simon đã dùng thuyết tân cổ điển về tăng trưởng và sử dụng thay thế hai nhân tố lao động và vốn đầu tư Gia tăng dân
số dẫn tới tăng nguồn người lao động cho phép tăng cung lao động như vậy
nó ảnh hưởng tích cực trên thị trường phản bác lại tư tưởng của Malthus là gia tăng dân số làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên bởi vì dân số cũng là yếu
tố quan trọng của quá trình sản xuất Bằng nghiên cứu số liệu trong thời gian tương đối dài Simon phát hiện giá của một số sản phẩm có xu hướng giảm
Trang 7Ví dụ như nhờ có máy bào, cưa mà các sản phẩm từ gỗ trước kia có giá khá cao thì bây giờ có giá thấp hơn nhờ có thời gian để sản xuất ngắn hơn nhờ sự hỗ trợ của máy móc
Xu hướng giảm này là do sự tiến bộ cả khoa học kĩ thuật và sáng kiến phát minh đã thúc đẩy phát triển kinh tế Sức ép dân số đã cho phép khoa học kĩ thuật phát triển việc thay nguyên vật liệu bằng các chất liệu rẻ tiền khác là một bằng chứng sự đóng góp to lớn của dân số cho sự phát triển Như vậy Simon cho rằng gia tăng dân số không làm cạn kiệt tài nguyên thế hệ sau
Hạn chế của Simon là không tính đến sự cạn kiệt của các nguồn tài ngyen không thể tái tạo được
b) Tư Tưởng Của Esther Boserup
Về mặt lịch sử sự tăng trưởng dân số đã khuyến khích các cá nhân và tập thể đẩy mạnh phát minh sáng chế các công nghệ mới góp phần khai thác hiệu quả hơn nguồn lực của môi trường Phản bác tư tưởng của Malthus đã đưa ra giả thuyết rằng công nghệ như “ sự say mê “ Còn Boserup cho rằng lịch sử chứng mnh khả năng cải tiến công nghệ của con người không ngừng tăng lên và chính áp lực dân số đã thúc đẩy quá trình đó
Dân số tăng dẫn tới nhu cầu về thực phẩm, lương thực tăng nên người dân phải sáng tạo các giống mới có năng suất cao , sử dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất như sử dụng máy cày, máy tuốt lúa nhờ đó mà năng suất tăng cao con người không phải tốn nhiều công sức cho lao đọng sản xuất nữa
c) Tư tưởng của Sen
Amartya Sen sinh năm 1933 tại Bengal, Ấn Độ, ngay từ nhỏ ông đã phải chứng kiến nhiều nạn đói, nhất là nạn đói Bengal năm 1943 khi ông trực tiếp phát chẩn cứu đói Ông đã tốt nghiệp Đại học Calcutta và lấy bằng tiến sĩ tại đại học Cambridge (Anh) Sau đó ông lần lượt dạy tại Calcutta (Ấn
Trang 8Độ), Cambridge (Anh) và Havard (Mỹ) Năm 1998, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã trao giải thưởng Nobel về kinh tế học cho Sen, người đã có công phục hồi góc cạnh đạo đức cho cuộc tranh luận về các vấn
đề kinh tế thiết yếu
Theo bình luận của tờ Economist, Amartya Sen đã gián tiếp chứng minh học thuyết của Malthus là hoàn toàn sai lầm Malthus cho rằng cảnh nghèo đói khắp thế giới sẽ diễn ra vì nạn nhân mãn và thiếu lương thực Trong cuốn “Nghèo và đói” viết năm 1981, Sen nhận định nguyên nhân chính của đói kém không phải do nguồn lương thực sút giảm Ông lý luận, tại sao nạn đói lại xảy ra tại những nơi nguồn lương thực tính theo đầu người không giảm hơn so với trước ? Bằng số liệu thực tế của Ấn Độ, Banglades, Ethiopia, Sahara ông đã chứng minh rằng có những yếu tố xã hội và kinh tế tác động đến những nhóm dân cư, làm họ bị tước mất quyền thụ hưởng thành quả kinh tế chung của xã hội và phải chịu cảnh đói nghèo vì thu nhập sút giảm Phần nào đó do kết quả nghiên cứu của ông, nhiều chính phủ ngày nay không còn đặt trọng tâm vào phân phối lương thực mà chú trọng nhiều hơn cách thay thế thu nhập bị mất đi của người dân qua các dự án xã hội Sen còn phản đối những người chống lại thuyết Malthus như Simon và Boserup Đối với Simon , Sen cho rằng cầu trên thị trường lao động chỉ là sự kết hợp toàn bộ các yếu tố thuộc về sinh học, tâm lý học tạo nên một xã hội Nhu cầu của một con người không đơn giản chỉ là nhu cầu về hàng hóa dịch
vụ trao đổi phục vụ cho sở thích bản năng sinh học mà còn là nhu cầu được thể hiện thông qua mối quan hệ giao tiếp xã hội và bị ràng buộc bởi thể chế
xã hội nhất định Các thể chế này hướng dẫn các cá nhân và nó luôn tồn tại trong mọi hình thái kinh tế xã hội Nhu cầu này không thể hiện trực tiếp thông qua nhu cầu hàng ngày của mỗi cá nhân mà thể hiện thông qua các biến trung gian (quyền sở hữu, quyền thừa kế) mà mỗi người sẽ sử dụng và
nó có giá trị riêng biệt trong quá trình trao đổi Như vậy nhu cầu được hình thành phụ thuộc vào khả năng tiêu thụ sản phẩm, cơ hội trao đổi, và quyền
mà thể chế xã hội cho phép mỗi người
Trang 9Mặt khác đối với lý thuyết của Beserup, Sen cho rằng các yếu tố kĩ thuật mà Boserup đề cập đến sẽ không xảy ra nếu mức thu nhập của mỗi người dân chỉ cho phép họ tiêu thụ được các sản phẩm thấp hơn trình độ kĩ thuật tồn tại trong xã hội đương thời ( không có tiền mua các sản phẩm chất lượng tốt yêu cầu trình độ kĩ thuật cao) Sen đưa ra ví dụ: Do sự gia tăng dân
số, người dân trồng thêm nho trên các sườn đồi không gay ra sói mòn đất hoặc ôn nhiễm đất ( không có sự phá hủy môi trường) Nhưng vì học quá nghèo nên cũng không có tiền để đầu tư kĩ thuật mới vào trồng nho nên không có năng suất lao động cao như Boserup đã nói ở trên Bởi vì nếu đầu
tư cho kĩ thuật mới họ sẽ không có gì để sống Trong trường hợp này thì sự gia tăng dân số không thúc đẩy năng suất lao động và hiệu suất canh tác Theo quan điểm của Sen gia tăng dân số chỉ là nhân tố trung gian ảnh hưởng đến sự hủy hoại môi trường
4 Các học thuyết hiện đại
Những quan điểm hiện đại về mối quan hệ giữa dân số và môi trường đang phản ánh sự tiếp nối quan điểm của quan điểm về DS và MT của Malthus Một số lớn các quan niệm về phát triển như phát triển có tổ chức,
PT phương pháp luận, đều chưa đúng cả nhưng ý tưởng tiến bộ và lạc hậu về mối quan hệ giữa DS và MT Sự tranh luận cơ bản là DS và nhiều yếu tố tạo
ra MT khác đều mang những đặc trưng riêng
a) Các phong trào
Cho tới những năm 1960, mối quan tâm về phát triển đã tăng đáng kể, một phần được hợp pháp hóa bởi các tranh luận cho rằng vấn đề an ninh đòi hỏi sự công bằng kinh tế thế giới hơn nữa Trong suốt thời kỳ này, Mĩ là nước đứng đầu về trợ giúp nước ngoài với các tổ chức như: cơ quan đại diện
an ninh chung, đại diện về hợp tác kĩ thuật và đại diện về phát triển quốc tế
Vì vậy, qua hơn 4 thập kỉ, vấn đề DS&MT đã giữ được những vị trí quan trọng và đặc biệt trong diễn đàn chính sách của quốc gia và quốc tế
Trang 10Sự phát triển của các tổ chức đặc trung vừa đánh dấu mức độ khẩn cấp của những vấn đề này trong phạm vi chính sách vừa thúc đẩy họ làm rõ vấn đề
b) Phát triển về mặt lý thuyết và phương pháp luận
Sự phát triển về mặt lý thuyết bao gồm bảng sống, mô hình dân số cố định và môi trường dân số ổn định Với các công cụ này, dự báo dân số đã đóng một vai trò này càng quan trọng trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển dân số với các vấn đề khác trong đó có môi trường
Các dòng tư tưởng hiện đại về mối quan hệ DS&MT về một khía cạnh nào đó tôn trọng tư tưởng của Malthus về sức ép của dân số đến môi trường Hàng loạt các tổ chức, các nhà khoa học bàn đến vấn đề này
c) Các thành tựu hiện đại: mô hình và khung lý thuyết
Các nhà khoa học đã phải bỏ ra rất nhiều công sức trong vòng 2 thập kỉ
để đưa ra khung lý thuyết và mô hình giải thích mối quan hệ giữa dân số và môi trường Tất cả các mô hình lý thuêý đều cho rằng dân số và môi trường tác động đến nhau thông qua yếu tố về tổ chức và kỹ thuật (dân số, tổ chức, môi trường và công nghệ viết tắt là POET) Mối quan hệ giữa DS&MT là mối quan hệ mang tính động DS&MT không tồn tại một mối quan hệ tác động qua lại một cách trực tiếp Tất cả ảnh hưởng của dân số đến môi trường
và của môi trường đến dân số đều là kết quả của một kiểu tổ chức xã hội và của quy trình công nghệ mà xã hội đó sử dụng
Sau đây nhóm sẽ đưa ra 6 mô hình lý thuyết giải thích mối quan hệ dân
số và môi trường Ba môi trường đầu chỉ giải thích ảnh hưởng tương đối của việc gia tăng dân số công nghệ và mức tiêu dùng đến một yếu tố của môi trường
Mô hình của Bongaart 1992
Bongaarts đã đưa ra các biến giải thích 5 yếu tố tác động đến lượng CO2
T=P x G x E x C + D
Trong đó: