Trên thế giới, từng có rất nhiều công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng dân số. Nếu tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng dân số là hai biến độc lập, thì thông qua quan sát một số biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng trưởng của hai biến này ta sẽ thấy tốc độ tăng trưởng dân số cao sẽ dẫn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ít nhất là đúng với chỉ số tổng GDP.
Trang 1MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
VÀ TĂNG TRƯỞNG DÂN SỐ The relationship between economic growth
and population growth
ThS Đỗ Thanh Tùng1, ThS Vũ Thị Anh Thư2
1 Khoa Quản trị tài chính, Trường ĐH Hàng Hải
2
Khoa Kinh tế & QTKD, Trường ĐH Hải Phòng
TÓM TẮT
Trên thế giới, từng có rất nhiều công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng dân số Nếu tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng dân số là hai biến độc lập, thì thông qua quan sát một số biểu đồ biểu diễn tốc độ tăng trưởng của hai biến này ta sẽ thấy tốc độ tăng trưởng dân số cao sẽ dẫn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ít nhất
là đúng với chỉ số tổng GDP Theo giáo sư kinh tế Thomas Piketty người Pháp, sự tăng lên của GDP bình quân đầu người sẽ làm phúc lợi kinh tế tăng theo Mặt khác, nếu tăng trưởng dân số ảnh hưởng đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người thì tại các quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng dân số cao sẽ làm tăng GDP bình quân đầu người, điều này chưa chắc đã đúng mà còn phải phụ thuộc vào bản chất tác động lên GDP bình quân đầu người Xét trên góc độ toàn thế giới giai đoạn
1995 – 2018, dựa vào số liệu được thống kê bởi ngân hàng thế giới WB cho thấy hai biến này không tương quan với nhau, trong khi biến dân số tăng nhanh một cách đều đặn thì biến tổng GDP lại tăng trưởng chậm làm cho biến GDP bình quân có hiện tượng suy giảm Điều đương
Trang 2nhiên vấn đề ở đây là xét hai biến độc lập và trên góc độ vĩ mô và nếu xem xét vấn đề ngược lại thì rõ ràng tăng trưởng kinh tế có tác động tới tăng trưởng dân số
Từ khóa: tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng dân số, sức lao động, vốn
nhân lực
ABSTRACT
In the world, there have been many studies on the relationship between economic growth and population growth If economic growth and pop-ulation growth are two independent variables, then, by observing some graphs showing the growth of these two variables, we will see that the higher population growth is, the higher economic growth gets, at least
in line with the GDP According to the French economic professor, Thomas Piketty, the increase in GPD per capita will also help to rise up economic welfare On the other hand, if population growth does affect GDP per capita growth, the countries with higher population growth rates will have higher GDP per capita, this is not necessarily true be-cause it has to be also depended on the nature of the impact on GDP per capita From a worldwide perspective in the period from 1995 to 2018, based on statistics from the World Bank, these two variables are not correlated with each other, while population growth is steadily increas-ing, the total GDP growth, in the other hand, is slowly climbing up, making the average GDP variable has a decrease trend It is obvious that the problem here is to consider two independent variables and from
a macro perspective but if we consider the problem in a opposite way, it
is clear that economic growth has an impact on population growth
Keywords: economic growth and population growth
Trang 31 MỞ ĐẦU
Hai trăm năm trước, Thomas Malthus (1766 – 1834) nhà kinh tế học người Anh đã viết: ―Nếu mọi người sinh sản với mức tối đa, sản xuất lương thực và nông nghiệp sẽ không theo kịp, dẫn đến tình trạng chết đói hàng loạt Nhưng khi dân số tăng lên, các công nghệ hiện đại
sẽ ra đời hỗ trợ phát triển sản xuất lương thực thực phẩm và các nhu cầu cơ bản khác‖
Về cơ bản, lý thuyết của Thomas Malthus đã được chứng minh trong hơn 200 năm chiều dài lịch sử kinh tế thế giới đến nay, trước khi cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra tại Anh, tăng trưởng dân số trung bình ở Anh là khoảng 0,29% trong khi GDP bình quân đầu người tăng trưởng 0,12%, GDP tăng 0,41% Cần lưu ý trong giai đoạn này yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào sức lao động thủ công của con người, chưa có sự hỗ trợ của máy móc công nghệ Khi cách mạng công nghiệp bùng nổ, cả GDP bình quân lẫn dân số tăng nhanh cùng với các nguồn cung cấp lương thực Tăng trưởng sản lượng lương thực toàn cầu tăng nhanh hơn tốc độ phát triển dân số của
cả 2 thế kỷ trước đó, GDP bình quân đầu người ở Anh tăng gấp 11 lần trước cách mạng công nghiệp trong khi lượng lao động thực tế huy động vào sản xuất không tăng cho dù dân số tăng Như vậy trong trường hợp này, sự đổi mới công nghệ đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tốc
độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng dân số
2 NỘI DUNG
Trong thế kỷ 20, tốc độ tăng dân số ở mức rất cao và tập trung chủ yếu ở những nước có thu nhập thấp Nhiều nhà nghiên cứu giai đoạn này cho rằng thế giới sẽ rơi vào khủng hoảng thiếu và cần hạn chế lượng tăng dân số cũng như quy mô của các nền kinh tế cần thu hẹp lại Tuy nhiên cũng có nhiều nhà nghiên cứu khác lại cho rằng sự lo ngại về tăng dân số bị thổi phồng lên, việc tăng dân số sẽ kích thích sự phát triển công nghệ để đáp ứng nhu cầu của dân chúng, hoặc những quốc gia có dân số đông sẽ đóng góp nhiều hơn vào trí tuệ nhân loại
Trang 4tìm ra những nguồn tài nguyên mới thay thế tài nguyên tự nhiên cạn kiệt, phục vụ cho tăng trưởng kinh tế xã hội Điều này đã đúng khi vào nửa cuối của thế kỷ 20, hàng loạt những phát minh sáng chế ra đời đưa tới những tài nguyên nhân tạo mới thay thế tài nguyên tự nhiên, ví
dụ như xăng pha ethanol hay nhựa thay thế một phần lớn vật liệu tự nhiên… Cũng vào nửa cuối thế kỷ 20, tốc độ tăng dân số cũng giảm dần, nỗi lo lắng về tài nguyên thiên nhiên hay lương thực thực phẩm theo đó cũng giảm, tuy nhiên nhân loại lại đứng trước mối lo lắng khác là ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu
Năm 1956, Robert Merton Solow nhà kinh tế học người Mỹ trong công trình nghiên cứu "The Economic Record" đã đưa ra mô hình mối quan hệ giữa tăng trưởng dân số và tăng trưởng GDP bình quân đầu người (mô hình này còn được gọi là mô hình tăng trưởng của ex exousous) Trong mô hình này, sự gia tăng dân số nhanh sẽ dẫn tới tồn đọng một số vốn nhỏ trong người lao động (cổ phiếu hoặc tiền tiết kiệm) làm chậm lại quá trình tăng trưởng kinh tế Thực chất mô hình của Robert Merton Solow không sử dụng biến ―tăng dân số‖ mà sử dụng biến ―tăng lao động‖, trong thực tế đặc điểm của nền kinh tế hiện đại dưới ảnh hưởng của khoa học công nghệ, lượng lao động ít ảnh hưởng bởi gia tăng dân số hơn, khi đó người ta nhắc nhiều đến một khái niệm mới ―vốn nhân lực‖ Tức là năng lực lao động của người lao động sẽ quyết định phần lớn đến sự phát triển của GDP và GDP bình quân đầu người sẽ giảm khi dân số tăng trưởng nhưng ảnh hưởng không nhiều đến sự thịnh vượng chung của xã hội hay ít nhất nghèo đói sẽ bị đẩy lùi
Như vậy, một trong những biến số rất lớn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế ngày hôm nay là khoa học công nghệ, khi khoa học công nghệ phát triển nó đòi hỏi nguồn nhân lực có những phẩm chất khoa học kỹ thuật ngày càng cao Việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trở nên vô cùng ý nghĩa khi nó được phân chia vào từng lĩnh vực khoa học – kỹ thuật cụ thể được gọi là chuyên môn hóa Nhưng tại sao
Trang 5trong suốt chiều dài mấy ngàn năm lịch sử của loài người, khoa học
kỹ thuật mới chỉ thực sự bùng nổ vào thế kỷ 19 trở lại đây? Trước thế
kỷ 19, lượng dân số thế giới ít hơn nhiều so với các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có, chỉ khi tài nguyên này thiếu hụt dần thì con người mới nghĩ đến những giải pháp khác nhằm thay thế nó Ví dụ khi con người mới xuất hiện trên trái đất vào khoảng 10.000 năm trước công nguyên, con người chủ yếu sống nhờ săn bắt hái lượm, khi khí hậu trái đất biến đổi, tài nguyên này ít dần, con người tìm đến các hoạt động canh tác tự cung tự cấp Khi số lượng người tăng, nhu cầu tự cung tự cấp giữa các nhóm người không đủ đáp ứng, con người nghĩ tới trao đổi hàng hóa, khi nguồn hàng hóa khan hiếm con người phát triển khoa học công nghệ hình thành cách mạng công nghiệp
Những nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng dân số và tăng trưởng kinh tế được thực hiện gần đây cho thấy những kết quả trái ngược nhau Trong một số nghiên cứu năm 2015 về mối quan hệ này tại Ấn Độ, Đông và Nam Phi cho thấy tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến tăng trưởng GDP bình quân đầu người tại ba khu vực này, tuy nhiên cũng có nghiên cứu vào năm 2013 lại chỉ ra tác động tiêu cực tăng dân số đến GDP bình quân tại Úc và Trung Quốc Những nghiên cứu như vậy cho thấy tác động của tăng dân số đến tăng trưởng kinh tế là không đồng nhất, mà thay đổi theo từng trường hợp cụ thể, không gian và thời gian cụ thể Rõ ràng tại những quốc gia
ở mức cận nghèo trở xuống, tăng trưởng dân số ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế do sự hấp dẫn đầu tư sản xuất đến từ chính sách dễ dãi của chính phủ, giá trị lao động thấp… Trong khi tại các quốc gia cận giầu trở lên, các chính sách của chính phủ trở nên chặt chẽ hơn, giá trị lao động cũng cao hơn, ít hấp dẫn đầu tư sản xuất hơn Đồng thời chỉ số tăng trưởng kinh tế nhỏ tại quốc gia nghèo sẽ có giá trị lớn hơn nhiều chỉ số tăng trưởng kinh tế lớn tại quốc gia giầu và hiển nhiên tốc độ tăng trưởng dân số cao tại quốc gia nghèo sẽ làm suy giảm kinh tế còn tốc độ tăng trưởng dân số cao tại quốc gia giầu
sẽ chỉ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế mà thôi
Trang 6Hình 1.1 Dân số Việt Nam và thế giới qua các thời kỳ
Trang 7Những phân tích ở trên cho thấy tăng trưởng dân số có những ảnh hưởng nhất định đến tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên chúng ta cần nhớ rằng trong yếu tố dân số, biến số thực sự tạo ra kinh tế lại là lực lượng lao động, trong khi bên trong yếu tố dân số lại bao gồm ít nhất hai lực lượng là lực lượng lao động và lực lượng phụ thuộc Theo phân loại của Ngân hàng thế giới WB, lực lượng lao động là những người có độ tuổi từ 15 đến 65, ngoài độ tuổi này được xếp vào lực lượng phụ thuộc Trong khi lực lượng lao động tạo ra tăng trưởng kinh tế thì lực lượng phụ thuộc lại làm chậm hoặc suy giảm tăng trưởng kinh tế thông qua các chi phí xã hội như y tế, học tập, sinh hoạt xã hội… Ví
dụ như tại Mỹ, Cục điều tra dân số Hoa Kỳ tính sự bùng nổ trẻ em kéo dài từ ngày 1 tháng 7 năm 1946 đến ngày 1 tháng 7 năm 1964 (Colby
& Ortman, 2014) Trong giai đoạn này, tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm của Mỹ là 1,70%, cao hơn mức trung bình 1,29% trong thế
kỷ 20 nói chung Tăng trưởng GDP bình quân đầu người trong những năm này là 1,82%, tương đương với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 1,87% trong giai đoạn 1946 đến 2010 (Dự án Maddison, 2013)
Tại Việt Nam, trong 30 năm qua, những cải cách kinh tế chính trị được Đảng và Chính phủ Việt Nam đưa ra vào năm 1986 đã giúp Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng thần tốc, đưa một quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người ở mức đói nghèo vươn lên thành quốc gia có thu nhập bình quân đầu người ở mức trung bình thấp Sức mạnh cơ bản của nền kinh tế Việt Nam chính là thị trường tiêu dùng trong nước với hơn 4,4 triệu tỷ đồng và tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ ước tính đạt 244 tỷ USD, tỷ
lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 3%, GDP đạt 7,1% trong năm 2018 Theo dự báo của Ngân hàng thế giới (WB), tương lai nền kinh tế Việt Nam trong trung hạn là rất thuận lợi, với việc Việt Nam ký kết hàng loạt các hiệp định hợp tác thương mại quốc tế song phương, tham gia nhiều hội, hiệp hội kinh tế đa phương sẽ giúp Việt Nam có
Trang 8sự tăng trưởng mạnh mẽ, tuy nhiên điều đó cũng có nghĩa Việt Nam phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn do sự thay đổi của nhu cầu, thay đổi
mô hình thương mại hay các biến động tài chính…
Hình 1.2 GDP bình quân đầu người tính đến năm 2017
Việt Nam hiện được xếp hạng 48/157 quốc gia và vùng lãnh thổ về chỉ số vốn nhân lực (HCI), đứng thứ 2 trong Asean sau Sigapore Chỉ số HCI được ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa bao gồm kiến thức, kỹ năng và sức khỏe mà con người tích lũy trong suốt cuộc đời, giúp con người nhận ra tiềm năng của mình, giúp ích cho xã hội Vốn nhân lực cần được các quốc gia, tổ chức
và gia đình trú trọng đầu tư thông qua dinh dưỡng, hoạt động chăm sóc sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, giáo dục kiến thức kỹ năng cần thiết cho một con người.Thông qua phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh của Việt Nam đã được nâng cao đáng kể, nếu năm 1993 chỉ có 14% dân số được sử dụng điện, đến năm 2018 đã có tới 99% dân số được sử dụng Năm 1993 chỉ có 17% dân số được sử dụng nước sạch, đến năm
Trang 92018 đã là 72% trong đó 95% dân thành thị có nước sạch sử dụng
Khoảng cách giới tại Việt Nam cũng đang thu hẹp dần, một bộ phận không nhỏ nữ giới làm chủ kinh tế gia đình, tỷ lệ lao động
nữ ngày càng tăng, nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy hành chính do nữ giới làm chủ
Tỷ lệ trẻ em đi học trong hơn 10 năm qua tăng nhanh, 98% trẻ
em được đến trường, 7,8% người trong độ tuổi học đại học, 91,7% giáo viên phổ thông đã qua đào tạo
Y tế cũng được cải thiện rõ rệt, chi phí của chính phủ đối với y
tế cộng đồng chiếm tới 14,2% tổng chi tiêu của chính phủ trong năm 2018 và rõ ràng sẽ tiếp tục gia tăng về giá trị Trong khi đó, chi tiêu cho sức khỏe của người Việt Nam cũng tăng đáng kể, năm 1995 chi tiêu bình quân trong lĩnh vực y tế, sức khỏe của người Việt Nam là 73,93 USD/người/năm thì đến năm 2005 đã là 163,24 USD/người/năm và đến năm 2014 là 390,5 USD/người/năm
Để xem xét kỹ hơn mối quan hệ giữa dân số và tăng trưởng kinh tế, ta sử dụng số liệu thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 2018
Bảng 1.1 Thống kê dân số và các chỉ số kinh tế cơ bản của Việt
Nam giai đoạn 1990 - 2018
(triệu người)
Tổng thu nhập quốc gia (Tỷ đồng)
Tổng sản phẩm trong nước (Tỷ đồng)
tổng thu nhập quốc gia
so với tổng sản phẩm
Trang 10trong nước (%)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trang 11Kết hợp số liệu thu thập được, ta đánh giá mối quan hệ này bằng phương pháp hồi quy với sự giúp đỡ của phần mềm eview 10, ta nhận được kết quả như sau:
Bảng 1.2 Kết quả hồi quy của phương trình dân số với GDP được
thực hiện bằng phần mềm eview 10
Coefficient Std Error t-Statistic Prob
Adjusted R-squared 0.776524 S.D dependent var 8286945 S.E of regression 3917507 Akaike info criterion 33.26415 Sum squared resid 4.30E+14 Schwarz criterion 33.35756 Log likelihood -496.9622 Hannan-Quinn criter 33.29403
Prob(F-statistic) 0.000000
Từ kết quả ta dễ dàng nhận thấy dân số có quan hệ đồng thuận với GDP, nếu GDP tăng 1% thì dân số sẽ tăng 4,3%, tuy nhiên do R = 78,4% nên về cơ bản GDP chỉ lý giải được 78,4% cho dân số, cũng có nghĩa hai biến này ít tương quan Trong tính toán số học là như vậy, thực tế tại nhiều nước phát triển trên thế giới, GDP có tăng nhưng dân
số vẫn giảm Vì vậy, với nền kinh tế đang đi lên của Việt Nam, mặc
dù dân số tăng cùng mức tăng GDP nhưng tới một thời điểm nhất định trong tương lai, GDP tăng chưa chắc đã làm dân số tăng theo Điều này rất có thể xảy ra bởi vì:
Nền kinh tế càng lớn, giá trị tăng lớn nhưng tốc độ tăng lại chậm Dân số càng đông, phân bổ thu nhập bình quân càng giảm