1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

TRẺ EM dân tộc MƯỜNG, TỈNH hòa BÌNH, năm 2012

4 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 284,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẺ EM DÂN TỘC MƯỜNG, TỈNH HÒA BÌNH, NĂM 2012 TRẦN THANH TÚ, PHẠM THỊ LAN LIÊN Viện nghiên cứu sức khỏe Trẻ em - Bệnh viện Nhi Trung ương LÊ THỊ KIM ÁNH - Trường Đại học Y tế Công cộn

Trang 1

Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 117

thước u trung bình 2,75  1,15cm, nhỏ nhất 0,5cm, lớn

nhất 5cm

Kết quả điều trị ung thư bàng quang nông với thời

gian mổ trung bình là 38  13,4 phút, thời gian nằm

viện trung bình 4,2  2,1 ngày Phẫu thuật nội soi vừa

rút ngắn được thời gian điều trị và tương đối an toàn

trong điều trị, chỉ gặp 1/30 trường hợp chảy máu do

không cắt hết u, trường hợp này u lớn nằm ở vị trí góc

khuất của ổ bàng quang, 1/30 trường hợp chuyển mổ

dẫn lưu bàng quang do tổn thương niệu đạo sau khi

cắt u và 1/30 trường hợp thủng bàng quang phải

chuyển mổ mở

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu ứng dụng nội soi chẩn đoán và

can thiệp trên 30 ca ung thư bàng quang nông cho

thấy:

Bệnh nhân nam nhiều hơn nữ, nhóm tuổi hay gặp

từ 50 – 70 tuổi, dấu hiệu lâm sàng điển hình là đái

máu

Phát hiện bệnh chủ yếu dựa vào siêu âm và soi

bàng quang, với thể u nhú dạng có cuống và u đơn

độc chiếm đa số, kích thước u đa số < 3cm, vị trí hay

gặp nhất là ở 2 thành bên

Thể mô bệnh học chủ yếu là ung thư tế bào

chuyển tiếp chiếm 96,7%

Phẫu thuật nội soi cắt u qua niệu đạo là phương

pháp có thể triển khai có hiệu quả, thời gian mổ và thời

gian hậu phẫu ngắn và tương đối an toàn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Bá Đức (2007), “Chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư”, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội

2 Nguyễn Bá Đức, Trần Văn Thuấn, Phạm Duy Hiển

và cộng sự (2006), “Phòng và phát hiện sớm bệnh ung thư”, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội

3 Đỗ Xuân hợp (1997), “Giải phẫu bàng quang”, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội: 285 – 287

4 Nguyễn Kỳ (1995), “U bàng quang”, Bệnh học tiết niệu, Nhà xuất bản Y học: 423 – 443

5 Đỗ Trường Thành (2004), “Kết quả điều trị phẫu thuật ung thư bàng quang tại bệnh viện Việt Đức trong 3 năm (2000-2002)”, Y học thực hành số 491:466 – 469

6 Trần Văn Thuấn (2007), “Sàng lọc phát hiện sớm ung thư bàng quang”, Sàng lọc phát hiện sớm bệnh ung thư, Nhà xuất bản Y học: 103 – 106

7 Cheng Chiwai, Peter Chen S.F, Chan L.W.et al (2005), “Twelve year follow up of a randomized prooective trial compaing bacillus Calmette-Guerin and epirubicin á

ad juvant therapy in superficial bladder cancer”, Internationmal Jour of Uro, volume 12, issue 5: 449

8 De Braud F and Massimo Maffezzini (2012),

“Bladder cancer”, Critical reviews in Oncology Hematology, volume 41, issue 1: 89 – 106

9 Epstein J.I (2003), “The new World Health Organization/International Society of Urological Pathology (WHO/ISUP) classification for Ta, T1 bladder tumour: is it

an improvement? “Critical reviews in Oncology/Hematology, volume 47, issue 2: 83 – 89

TRẺ EM DÂN TỘC MƯỜNG, TỈNH HÒA BÌNH, NĂM 2012

TRẦN THANH TÚ, PHẠM THỊ LAN LIÊN

Viện nghiên cứu sức khỏe Trẻ em - Bệnh viện Nhi Trung ương

LÊ THỊ KIM ÁNH - Trường Đại học Y tế Công cộng

TÓM TẮT

Vẫn còn khoảng cách lớn về tỷ lệ suy dinh dưỡng

trẻ em dưới 5 tuổi giữa các vùng miền, khu vực, giữa

các nhóm dân tộc, đặc biệt là dân tộc thiểu số Hòa

Bình là một trong những tỉnh tập trung cộng đồng

người dân tộc thiểu số và có tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng

cao so với cả nước Nghiên cứu được thực hiện nhằm

xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên

quan ở trẻ em dân tộc Mường tại huyện Tân Lạc – tỉnh

Hòa Bình Đối tượng nghiên cứu: 187 cặp bà mẹ - trẻ

em dưới 5 tuổi dân tộc Mường Phương pháp nghiên

cứu: Cắt ngang mô tả có phân tích, sử dụng bộ câu

hỏi để phỏng vấn bà mẹ, trẻ em được đo chiều cao,

cân nặng Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ dân tộc

Mường bị suy dinh dưỡng các thể thiếu cân, thấp còi,

gầy còm lần lượt là 13,4%; 41,2% và 3,2% Yếu tố

trình độ học vấn của mẹ, cân nặng sơ sinh của trẻ là

những yếu tố liên quan đến tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ

em dân tộc Mường (p <0,05)

Từ khóa: Tỷ lệ suy dinh dưỡng, dinh dưỡng, trẻ

em, dân tộc thiểu số

SUMMARY

PREVALANCE OF MALNUTRITION AND

RELATED FACTORS IN ETHNIC MINORITY

CHILDREN IN HOA BINH AND NGHE AN

PROVINCES, 2012

Significant disparity exists in the incidence of

malnutrition in children under years between the major

city and rural areas of Vietnam This study identify

significal nutritical and physical growth issue in this population of children In Hoa Binh province there is high proportions of mulnutrion in children of some ethnic minority communities Objectives: To assess the nutritional status and identify factors contributing to malnutrition in ethnic minority children under five years

of age in Muong ethnic minority in Tan Lap district, Hoa Binh provinces Methods: A community based cross – sectional study using a survey questionnaire was conducted involving 187 mother and child pairs in Tan Lap, with Muong ethnic minority children less than 5 years of age The weight and height of the children was measured by clinician and compared to relevant data nutritional statistic from the WHO/CDC/NCHS Results: The prevalence of underweight was 13.4%, growth stunting was 41.2% and body wasting was 3.2% Some factors contributing to this issue in these ethnic children were mothers’ education and birth weight of babies

Keywords: Prevalance of malnutrition, nutrition,

children, Muong ethnicity

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy dinh dưỡng (SDD) làm tăng tỷ lệ tử vong và làm tăng gánh nặng cho xã hội Ước tính mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 2,1 triệu cái chết và 21% DALYs (91 triệu DALYs – Số năm sống tàn tật hiệu chỉnh) ở trẻ dưới 5 tuổi vì lý do SDD; đồng thời SDD cũng gây ra 35% gánh nặng bệnh tật ở trẻ

Trang 2

Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 118

dưới 5 tuổi, làm cản trở sự phát triển toàn vẹn của

trẻ trong tương lai

Trong năm 2012, ước tính trên thế giới khoảng 51

triệu (8%) trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD cân nặng/chiều

cao (CN/CC), trong đó gần 70% thuộc khu vực châu Á

Mặc dù tỷ lệ SDD chiều cao/tuổi (CC/T) giảm một phần

ba, nhưng tỷ lệ SDD cân nặng/tuổi (CN/T) giảm với tốc

độ khá chậm và phần lớn vẫn tập trung ở châu Á

(67%), châu Phi (29%) và chưa đủ để đạt Mục tiêu

phát triển Thiên niên kỷ là giảm một nửa tỷ lệ SDD vào

năm 2015

Việt Nam là một trong những nước được đánh giá

có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng cũng đang

đối diện với nhiều thách thức Năm 2012, tỷ lệ trẻ dưới

5 tuổi của cả nước bị SDD CN/T là 16,2%, SDD CC/T

là 26,7% giảm một cách đáng kể so với các năm trước

đó Tuy nhiên, tỷ lệ SDD CC/T so với tiêu chuẩn của

Tổ chức Y tế Thế giới thì vẫn còn ở mức khá cao

Phân bố SDD ngay tại Việt Nam cũng không đồng đều

giữa các tỉnh, các vùng sinh thái, giữa nông thôn và

thành thị, giữa các nhóm dân tộc Đặc biệt, các tỉnh

miền núi phía Bắc, Trung du và Tây Nguyên là các khu

vực dẫn đầu cả nước về tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi

theo cả 3 chỉ tiêu CN/T, CC/T và CN/CC [8]

Nhằm tìm hiểu về tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi tại

một số vùng nông thôn, miền núi, đặc biệt ở người dân

tộc thiểu số, năm 2012 Viện Nghiên cứu Sức khỏe Trẻ

em - Bệnh viện Nhi Trung ương đã tiến hành triển khai

nghiên cứu tại một số tỉnh phía Bắc Bài báo này là kết

quả của một cấu phần của dự án được tiến hành tại

huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình với hai mục tiêu chính:

(1) Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi

dân tộc Mường tại huyện Tân Lạc – tỉnh Hòa Bình (2)

Xác định một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ suy dinh

dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc Mường tại huyện

Tân Lạc – tỉnh Hòa Bình

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang phân tích được thực hiện

trên 187 cặp bà mẹ - trẻ em 1 đến ≤ 60 tháng tuổi,

người dân tộc Mường tại xã Lũng Vân và Nam Sơn,

huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình với tiêu chí:

(i) Bà mẹ chăm sóc liên tục cho trẻ từ khi trẻ sinh ra

đến thời điểm điều tra, không bị tâm thần, không bị rối

loạn trí nhớ và đồng ý tham gia nghiên cứu;

(ii) Trẻ ≤ 60 tháng tuổi có mặt tại thời điểm và trên

địa bàn nghiên cứu được lựa chọn, không bị bệnh

bẩm sinh phức tạp

Số lượng cặp bà mẹ - trẻ em được ước lượng dựa

vào công thức tính cỡ mẫu ước lượng 1 tỷ lệ, với p =

0,214 là tỷ lệ SDD chung của Hòa Bình năm 2011 và

d=0,06, cỡ mẫu cần là 180 (theo phần mềm Sample

Size của WHO) Do điều kiện là vùng núi, khó khăn

trong việc đi lại và các nhà khá xa nhau nên chọn mẫu

thuận tiện nhà liền nhà cho đến khi đủ mẫu: chọn ngẫu

nhiên 1 nhà trong xã và từ đó chọn nhà liền nhà

Thu thập số liệu

Nghiên cứu đã phỏng vấn bà mẹ và khám, đo chỉ

số nhân trắc của trẻ Bộ câu hỏi có cấu trúc phỏng

vấn bà mẹ được thử nghiệm và chỉnh sửa trước khi

đưa vào thu thập số liệu chính thức Phiếu phỏng vấn

gồm có 03 phần: (i) Thông tin chung về gia đình của

trẻ; (ii) Thực hành của bà mẹ trong việc cho trẻ bú sữa mẹ, ăn bổ sung, cai sữa và (iii) Thông tin về một

số đặc tính, tình trạng sức khỏe của trẻ Phỏng vấn là cán bộ Viện Nghiên cứu sức khỏe Trẻ em có kiến thức và kinh nghiệm trong nghiên cứu tại cộng đồng, được tập huấn trước khi tiến hành Việc thăm khám

và đánh giá dinh dưỡng trẻ do bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương thực hiện

Phân tích số liệu

Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ được đánh giá bởi chỉ số Z – scores, chiều cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC) và cân nặng theo tuổi (CC/T), được so sánh với quần thể tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2006 và được hỗ trợ bởi phần mềm WHO Anthro Dựa vào chỉ số Z - scores, những trẻ em được phân loại là thấp còi (CC/T < - 2 SD), gầy còm (CN/CC < - 2 SD), thiếu cân (CN/T < - 2SD) và bình thường Các thao tác thống kê mô tả và phân tích được sử dụng để mô tả thực trạng SDD của trẻ và các yếu tố liên quan Các kiểm định được thực hiện ở mức

ý nghĩa 5%

KẾT QUẢ

Trung bình tuổi của 187 bà mẹ trong nghiên cứu

là 25 tuổi, tuổi thấp nhất là 16, cao nhất là 42 tuổi Có 70,5% bà mẹ có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông và 29,5% là từ trung học phổ thông trở lên Hầu hết các bà mẹ làm nông nghiệp (95,7%) và hơn một nửa hộ gia đình là nghèo và cận nghèo (nghèo 40,1%, cận nghèo 10,7%) Trong nghiên cứu, có 101 trẻ nam và 86 trẻ nữ, 26 trẻ (13,9%) có tiền sử cân nặng sơ sinh thấp

Bảng 1 Thông tin chung về mẹ và trẻ (n=187)

Tuổi mẹ

< 22

22 – 35

> 35 Trung bình tuổi (25,1) Min-Max (16-42)

90

78

19

48,1 41,7 10,2

Nghề nghiệp của mẹ Nông dân Cán bộ CNVC

179

8

95,7 4,3 Trình độ học vấn của mẹ

Mù chữ Tiểu học THCS PTTH Cao đẳng và đại học

1

21

110

47

8

0,5 11,2 58,8 25,2 4,3

Số con trong gia đình

≤ 2 con

> 2 con

184

3

98,4 1,6

Số thành viên trong gia đình

< 6 người

≥ 6 người

106

81

56,7 43,3

Nhóm tuổi 1-6 tháng

> 06 - 12 tháng

> 12 - 18 tháng

> 18 - 24 tháng

> 24 - 36 tháng

> 36 - 48 tháng

12

26

23

15

46

31

6,4 13,9 12,3 8,0 24,6 16,6

Trang 3

Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 119

Giới

Nam

Nữ

101

86

54

46 Cân nặng sơ sinh

< 2500 gam

≥ 2500 gam

26

161

13,9 86,1 Sống cùng ông

Không

120

67

64,2 35,8 Tình trạng kinh tế

Nghèo

Cận nghèo

Trung bình trở lên

75

20

92

40,1 10,7 49,2 Nghiên cứu chỉ ra tổng số có 83/187 (44,4%) trẻ bị

suy dinh dưỡng Trong đó 22/187 (11,8%) trẻ SDD cả

thể thiếu cân và thấp còi, 3 (1,6%) trẻ SDD cả thể thiếu

cân và gày còm Số liệu từ bảng 1 cho thấy trong 3 thể

SDD thì SDD thể thấp còi (CC/T) chiếm tỷ lệ cao nhất

(41,2%), tiếp đến là SDD thể thiếu cân (CN/T, 13,4%),

chỉ có 3,2% trẻ bị SDD thể gầy còm (CN/CC) Khi xem

xét tỷ lệ SDD trong từng nhóm tuổi, thì tỷ lệ cũng khác nhau ở các thể, điều này được thể hiện chi tiết tại bảng 2 ở dưới

Bảng 2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ theo các thể

SDD CN/T (n,%)

SDD CC/T (n,%)

SDD CN/CC (N,%)

> 12 - 24

> 24 - 36

> 36 - 48

> 48 - 60

Ghi chú: Tỷ lệ % tính theo n từng nhóm tuổi

Do tỷ lệ SDD CN/CC của trẻ thấp 3,2% (6 trường hợp), do đó nghiên cứu chỉ phân tích xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng CN/T

và CC/T

Bảng 3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng SDD của trẻ em

cộng

Tình trạng kinh tế

Nghèo

Không nghèo

187

75

112

25

9 (12,0)

16 (14,3)

0,6

0,8 (0,3 – 2,1)

77

29 (38,7)

48 (42,9)

0,6

0,8 (0,4 – 1,6) Học vấn của mẹ

Dưới THCS

Từ THCS trở lên

187

26

161

25

10 (38,4)

15 (9,3)

< 0,001

6,1 (2,0 - 17,2)

77

14 (53,8)

63 (39,1)

0,2

1,8 (0,7- 4,6) Giới tính trẻ

Gái

Trai

187

86

101

25

11 (12,8)

14 (13,9)

0,8

0,9 (0,3 – 2,3)

77

34 (39,6)

43 (42,6)

0,7

1,1 (0,6 – 2,1) Cân nặng sơ sinh

< 2500g

≥2500g

187

26

161

25

9 (34,6)

16 (9,9)

0,002

4,8 (1,6 -13,6)

77

13 (50,0)

64 (39,7)

0,3

1,5 (0,6 – 3,8) Thời gian BSMHT

Dưới 6 tháng

Trong 6 tháng

187

55

132

25

7 (12,7)

18 (13,6)

0,5

0,9 (0,3 – 2,5)

77

19 (34,6)

58 (43,9)

0,2

0,7 (0,3 – 1,4) Thời điểm bắt đầu ăn bổ

sung

<4 hoặc >6 tháng

4 – 6 tháng

169

79

90

22

9 (11,4)

13 (14,4)

0,6

0,7 (0,2 – 2,1)

73

37 (46,8)

36 (40,0)

0,4

1,2 (0,6 – 2,5)

NKĐHH 2 tuần qua

Không

187

151

36

25

19 (12,6)

6 (16,7)

0,5

0,7 (0,3 – 2,3)

Bị tiêu chảy trong 2 tuần qua

Không

187

76

111

25 8(10,5)

17 (15,3)

0,4

0,6 (0,2 – 1,7)

Kết quả bảng 3 cho thấy có mối liên quan giữa

trình độ học vấn của mẹ, cân nặng sơ sinh với tình

trạng SDD CN/T của trẻ em Con của những bà mẹ có

trình độ học vấn dưới THCS có nguy cơ bị SDD CN/T

cao gấp 6 lần những đứa trẻ là con của các bà mẹ học

vấn từ THCS trở lên Những trẻ có cân nặng sơ sinh

thấp (<2500g) có nguy cơ bị SDD cao hơn gần 5 lần

so với trẻ có cân nặng sơ sinh bình thường Những sự

khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p <0,05) Tuy nhiên

nghiên cứu lại chưa tìm được mối liên quan giữa các

yếu tố này với tỷ lệ SDD CC/T của trẻ em dân tộc Mường

Kết quả phân tích chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố tình trạng kinh tế gia đình, giới tính của trẻ, thời gian bú sữa mẹ hoàn toàn, thời điểm bắt đầu ăn bổ sung với tình trạng SDD CN/T, SDD CC/T của trẻ (p>0,05)

Chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng SDD CN/T của trẻ với việc trẻ bị mắc nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính, bệnh tiêu chảy

Trang 4

Y HỌC THỰC HÀNH (914) - SỐ 4/2014 120

trong vòng 2 tuần trước thời điểm nghiên cứu

(p>0,05)

BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy SDD còn khá phổ

biến ở trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc Mường (Hòa Bình)

Tỷ lệ SDD CC/T (41,2%) cao hơn nhiều so với SDD

CN/T (13,4%) và SDD CN/CC (3,2%), chứng tỏ tình

trạng SDD mạn tính đang phổ biến tại địa bàn nghiên

cứu và cũng phù hợp với xu thế chung của quốc gia

Tỷ lệ SDD CC/T được coi là chỉ tiêu phản ánh sự phát

triển của xã hội, phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng

kéo dài hoặc SDD trong quá khứ làm cho trẻ bị thấp

còi và là chỉ số đánh giá hậu quả của sự đói nghèo

Địa bàn nghiên cứu là những xã miền núi với tỷ lệ đói

nghèo của dân tộc thiểu số còn cao, hơn một nửa hộ

gia đình thuộc diện nghèo và cận nghèo, điều đó có

thể lý giải cho tỷ lệ SDD CC/T tại đây rất cao và cao

hơn so với mặt bằng chung của toàn tỉnh Hòa Bình

(26,7%) cũng như một số tỉnh miền núi phía Bắc, như

Cao Bằng (34,0%), Bắc Cạn (30,8%), Thái Nguyên

(25,0), Tuyên Quang (27,2%)[8] Tuy nhiên, số liệu của

các tỉnh này là số liệu chung của toàn thể các dân tộc

trong cộng đồng chung của một tỉnh, chưa có số liệu

chi tiết riêng biệt giữa các nhóm dân tộc thiểu số

Tỷ lệ SDD thể thiếu cân (13,4%) và gày còm

(3,2%) của trẻ em dân tộc Mường tại Tân Lạc thấp

hơn so với toàn tỉnh Hòa Bình (19,5% và 6,4%) và một

số tỉnh phía Bắc như Lào Cai (22,1%, 5,4%), Điện

Biên (19,7%, 6,8%), Lai Châu (23,9%, 6,4%) Những

trẻ bị coi là SDD thể gầy còm phản ánh tình trạng thiếu

dinh dưỡng cấp tính, làm cho trẻ ngừng lên cân hoặc

tụt cân, trong khi chiều cao không thay đổi Một số

nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan giữa việc trẻ bị

mắc tiêu chảy, viêm đường hô hấp cấp tính với tình

trạng dinh dưỡng của trẻ [3, 9] Trong khi đó, đối với

trẻ dân tộc Mường tại Tân Lạc lại chưa tìm thấy mối

liên quan này và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thiếu

cân và gày còm cũng thấp hơn, do đó có thể thấy

được vấn đề tiêu chảy cấp và viêm đường hô hấp cấp

tính ở đây không ảnh hưởng đến tình trạng dinh

dưỡng của trẻ tại thời điểm nghiên cứu

Trẻ em dân tộc Mường có cân nặng sơ sinh thấp

có nguy cơ bị SDD CN/T cao hơn gần 5 lần so với trẻ

có cân nặng sơ sinh bình thường Nhiều nghiên cứu

cũng đã chỉ ra mối liên quan giữa cân nặng sơ sinh và

tình trạng dinh dưỡng của trẻ [1, 3], giữa cân nặng,

chiều dài sơ sinh của trẻ với yếu tố thuộc về dinh

dưỡng của người mẹ [4] Và đặc biệt là còn tồn tại

khoảng cách lớn từ kiến thức đến thực hành của các

bà mẹ nuôi trẻ nhỏ [10] Trong nghiên cứu này cũng

đã chỉ ra trình độ học vấn của bà mẹ dân tộc Mường

đều có mối liên quan đến tỷ lệ trẻ em bị SDD CN/T,

những trẻ có bà mẹ có trình độ học vấn dưới THCS có

nguy cơ mắc SDD thể thiếu cân cao hơn khoảng 6 lần

so với nhóm có bà mẹ có trình độ học vấn cao hơn

Như vậy có thể kiến thức về chăm sóc dinh dưỡng cho

trẻ em của các bà mẹ dân tộc Mường còn chưa được

tốt

Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan có ý

nghĩa thống kê giữa thời gian cho trẻ bú sữa mẹ

hoàn toàn, thời gian cai sữa với tình trạng dinh dưỡng của trẻ Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác cho thấy các yếu tố thực hành dinh dưỡng không hợp lý có thể dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng, làm trẻ chậm lớn [2] phụ thuộc vào dân số, địa điểm, thời gian, mùa vụ và thường kết hợp với những nguyên nhân khác như bệnh nhiễm trùng và thiếu thực phẩm [5] Một số nghiên cứu ở các vùng miền núi, dân tộc thiểu số khác như ở dân tộc Sán Chay (Thái Nguyên)

và dân tộc Tày (Hà Giang) đều cũng đã khẳng định

có sự ảnh hưởng của việc nuôi con bằng sữa mẹ với

tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em [6] [7] và việc cho trẻ bắt đầu ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn đều là cho trẻ có nguy cơ bị suy dinh dưỡng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Văn Điển và Nguyễn Ngọc Sáng (2010)

"Thực trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan

ở trẻ em dưới 5 tuổi tại thị trấn Núi Đối - Kiến Thụy Hải

Phòng năm 2008", Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm,

6(2)

2 Lương Thị Thu Hà (2008) Nghiên cứu thực trạng suy dinh dưỡng thiếu protein, năng lượng ở trẻ em dưới

5 tuổi tại hai xã của huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Y học dự phòng, Đại học

Thái Nguyên

3 Nguyễn Thị Hoa, Hoàng Thị Tín, Hoàng Thị Thanh Thủy, Đặng Thị Phương Lan và các cộng sự (2010)

"Tình trạng dinh dưỡng trẻ em tại bệnh viện trong các

năm 1997, 2001, 2003, 2006 và 2007", Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, 6(1)

4 Lê Thị Hợp và Nguyễn Đỗ Huy (2012) "Một số yếu tố liên quan đến cân nặng và chiều dài trẻ sơ sinh

tại 4 xã miền núi, tỉnh Bắc Giang", Tạp chí Dinh dưỡng

và thực phẩm, 8(3)

5 Nguyễn Thị Vũ Thành (2005) Thực trạng và một

số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ

em dưới 5 tuổi tại xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, tỉnh

Hà Tây năm 2005, Luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng,

Trường Đại học Y tế công cộng

6 Nguyễn Minh Tuấn (2010) Huy động nguồn lực cộng đồng chăm sóc dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc Sán chay tại Thái Nguyên, Luận án Tiến sĩ Y học,

Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương

7 Nguyễn Trần Tuấn (2003) Nghiên cứu thực trạng dinh dưỡng, bệnh tật và một số yếu tố liên quan ở bà mẹ

và trẻ em dưới 2 tuổi tại xã Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học

Y khoa Thái Nguyên

8 Viện Dinh dưỡng (2013) Số liệu thống kê về tình trạng dinh dưỡng trẻ em qua các năm (1999 - 2013), Hà

Nội

9 Nguyễn Anh Vũ và Lê Thị Hương (2011) "Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em

dưới 5 tuổi tại huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên", Tạp chí Dinh dưỡng và thực phẩm, 7(1)

10 D 7Kumar, N K Goel, M Kalia, H M Swami,

et al (2008) "Gap between awareness and practices regarding maternal and child health among women in

an urban slum community", Indian J Pediatr, 75(5), pp

455-8

Ngày đăng: 19/08/2015, 15:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Thông tin chung về mẹ và trẻ (n=187) - TRẺ EM dân tộc MƯỜNG, TỈNH hòa BÌNH, năm 2012
Bảng 1. Thông tin chung về mẹ và trẻ (n=187) (Trang 2)
Bảng 2. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ theo các thể  Nhóm tuổi  n - TRẺ EM dân tộc MƯỜNG, TỈNH hòa BÌNH, năm 2012
Bảng 2. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ theo các thể Nhóm tuổi n (Trang 3)
Bảng 3. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng SDD của trẻ em - TRẺ EM dân tộc MƯỜNG, TỈNH hòa BÌNH, năm 2012
Bảng 3. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng SDD của trẻ em (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w