Mục đích Trên cơ sở làm rõ tính đặc thù của giá trị văn hóa dân tộc Mường, những yêu cầu cấp thiết của việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc ít người nói chung và dân tộc M
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NINH THỊ LIÊN
VAI TRÒ NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC MƯỜNG
TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NINH THỊ LIÊN
VAI TRÒ NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC MƯỜNG
TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN VĂN CƯ
HÀ NỘI - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHÂN TỐ CHỦ QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 7
1.1 Khái niệm nhân tố chủ quan, văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc 7
1.1.1 Khái niệm nhân tố chủ quan 7
1.1.2 Văn hóa dân tộc 16
1.1.3 Bản sắc văn hóa dân tộc 26
1.2 Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc 29
1.2.1 Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc phối hợp lãnh, chỉ đạo vấn đề xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 29
1.2.2 Vai trò nhân tố chủ quan thể hiện trong tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 33
Chương 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC MƯỜNG Ở NINH BÌNH HIỆN NAY 37
2.1 Vài nét về văn hoá dân tộc Mường 37
2.1.1 Lịch sử tộc người, đặc điểm cư trú, dân số 37
2.1.2 Về đặc điểm kinh tế 40
2.1.3 Về đặc điểm văn hóa, xã hội 41
2.2 Đặc điểm văn hoá dân tộc Mường ở Ninh Bình 47
2.2.1 Đặc điểm kinh tế và đời sống vật chất 47
2.2.2 Đặc điểm xã hội và lịch sử 49
2.2.3 Nét đặc thù trong văn hóa dân gian của người Mường ở Ninh Bình 54
2.3 Thực trạng vai trò nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Mường ở Ninh Bình và những vấn đề đặt ra 77
Trang 42.3.1 Thực trạng 77 2.3.2 Những vấn đề đặt ra 85
Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ NHÂN TỐ
CHỦ QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN
HOÁ DÂN TỘC MƯỜNG TỈNH NINH BÌNH HIỆN NAY 90
3.1 Quan điểm 90 3.1.1 Nâng cao vai trò của các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể nhân
dân trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở Ninh Bình hiện nay 90 3.1.2 Tổ chức việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường
trên địa bàn tỉnh Ninh Bình bằng hoạt động cụ thể, thiết thực 93 3.2 Giải pháp 96 3.2.1 Phát triển kinh tế, nâng cao dân trí phù hợp với đặc điểm đồng
bào dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình 96 3.2.2 Gắn tuyên truyền, vận động với những hoạt động thích hợp
nhằm nâng cao ý thức giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Mường ở Ninh Bình giai đoạn hiện nay 104 3.2.3 Bảo tồn, khôi phục, phát huy các giá trị văn hóa vật chất và tinh
thần phải trở thành hoạt động thường nhật của cả cộng đồng dân tộc Mường trong tỉnh 107 3.2.4 Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên là người Mường
phải đáp ứng yêu cầu giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường 108
KẾT LUẬN 113 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CNCS : Chủ nghĩa cộng sản
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
ĐKKQ : Điều kiện khách quan
HĐND : Hội đồng nhân dân
NTCQ : Nhân tố chủ quan
UBND : Uỷ ban nhân dân
UNESCO : Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên
Hợp Quốc
VH - TT - DL: Văn hoá - thể thao - du lịch
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc là 54 sắc màu văn hóa tạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, được phân bố ở các vùng, miền của Tổ quốc Do đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội và nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, đã hình thành nên các vùng văn hóa khác nhau, từ đó văn hóa của các dân tộc cũng có những điểm khác biệt và mang tính đặc thù Cùng với dòng chảy của thời gian và những biến động của lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc cùng vận động, biến đổi theo những quy luật nhất định, vừa liên tục, vừa đứt đoạn, vừa độc lập, vừa kế thừa, vừa có sự đan xen những yếu tố mới và cũ để làm nên những nét độc đáo rất riêng của mỗi dân tộc và góp phần tạo nên âm hưởng văn hóa chung của cả cộng đồng người Việt
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa mọi mặt của đời sống xã hội,
đã tạo điều kiện cho các quốc gia, dân tộc trên thế giới cơ hội để phát triển kinh
tế, nâng cao mức sống và thu nhập, có cơ hội giao lưu và tạo thêm nhiều giá trị văn hóa mới làm giàu thêm bản sắc văn hóa của dân tộc mình Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ, vận hội của sự phát triển là nguy cơ phân hóa giàu nghèo và
sự bất bình đẳng trong hưởng thụ văn hóa Hơn nữa các thế lực thù địch vẫn tiến hành âm mưu diễn biến hòa bình, đặc biệt là trên mặt trận văn hóa - tư tưởng, chống lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Do vậy khẳng định hệ giá trị văn hóa dân tộc đang là vấn đề cấp thiết vừa có tính thời sự vừa lâu dài đối với đất nước ta Đây là vấn đề không mới, rất nhiều văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước đã đề ra chủ trương, giải pháp cụ thể việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc đặc biệt là vùng văn hóa các dân tộc thiểu số Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) Đảng chủ trương: Phải tiếp tục cụ thể bằng hệ thống các chính sách mạnh, tạo điều kiện cần thiết
để văn hóa các dân tộc thiểu số phát triển trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Trang 7Trong cộng đồng đa dân tộc, dân tộc Mường chiếm tỷ lệ dân số đông thứ
4 sau các dân tộc Kinh, Tày, Thái, họ cư trú trên vùng địa bàn đồi núi thấp thuộc các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Tây (cũ) Đặc biệt với kiểu địa hình phân chia thành ba vùng tương đối rõ nét, vùng đồi núi ở phía Tây và Tây Bắc; vùng
đồng bằng và vùng ven biển phía Đông và phía Nam như tỉnh Ninh Bình, phù
hợp với phong tục tập quán canh tác, phát triển nghề thủ công của người Mường
Sự phong phú về cảnh quan, môi trường đã tác động rất lớn đến đời sống của người Mường ở đây, làm nên một đời sống văn hóa dân gian khá phong phú như
lễ hội, trang phục, thơ, ca, tín ngưỡng đậm tính triết lý nhân sinh Trước sự tác động và biến đổi của thế giới, đã có không ít những giá trị văn hóa truyền thống của người Mường chỉ còn tồn tại trong ký ức của những người già Trong rất nhiều nguyên nhân dẫn tới sự mai một, đứt gãy, những giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số, có nguyên nhân sâu xa nằm trong chính bản thân những con người, những tầng lớp kế thừa văn hóa của dân tộc ấy Cho nên, việc giáo dục
ý thức, thái độ tự vươn lên giữ gìn, phát huy tinh hoa văn hóa của mỗi tộc người là hết sức cần thiết
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Vai trò nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình hiện nay" cho luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về văn hóa và văn hóa dân tộc thiểu số ở nước ta không phải
là vấn đề mới, từ trước đến nay có khá nhiều công trình nghiên cứu với tầm cỡ, quy mô và khác cạnh khác nhau
- Các công trình, bài viết dưới góc độ triết học như: Vũ Thị Kim Dung,
Cách tiếp cận vấn đề văn hóa theo quan điểm triết học Mác, Tạp chí Triết học,
số 1/1998; Vũ Đức Khiển, Văn hóa với tư cách một khái niệm triết học và vấn đề xác định bản sắc văn hóa dân tộc, Tạp chí Triết học, số 6/2000; Nguyễn Huy Hoàng, Văn hóa trong nhận thức duy vật lịch sử của Các Mác, Nxb Văn hóa
Trang 8Thông tin, Hà Nội, 2000 và Mấy vấn đề triết học văn hóa, Nxb Văn hóa Thông
tin, Viện Văn hóa, Hà Nội, 2002
- Các công trình, bài viết về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển như:
Chương trình nghiên cứu cấp nhà nước KX.06, "Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội"; Trần Ngọc Hiên, "Văn hóa và phát triển - từ góc nhìn Việt Nam", Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993; Nguyễn Hồng Sơn, "Quan hệ biện chứng giữa văn hóa và sự phát triển xã hội trong quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam", Luận án phó tiến sĩ, 1995; Phạm Văn Đồng, "Văn hóa và đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Phạm Xuân Nam, "Văn hóa vì sự phát triển", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
- Các công trình bài viết về vai trò của văn hóa trong nền kinh tế thị
trường như: Đặng Hữu Toàn, "Vai trò của văn hóa trong sự phát triển lâu bền theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Tạp chí Triết học, số 2/1999; Hồ Sĩ Vịnh, "Văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1999
- Các công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn
hóa dân tộc thiểu số Việt Nam như: Trần Ngọc Thêm, "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", Nxb Thành phố Hồ Chí Minh; Đỗ Huy - Trường Lưu, "Bản sắc dân tộc của văn hóa", Viện Văn hóa, 1990; Huy Cận, "Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994; Ngô Văn Lệ, "Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam", Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998; Nguyễn Từ Chi, "Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người", Nxb Văn hóa Dân tộc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2003; Trần Văn Bính (chủ biên), "Văn hóa các dân tộc Tây Bắc - thực trạng và những vấn đề đặt ra", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Phan Hữu Dật, "Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam", Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2004
Ngoài các công trình nghiên cứu đã nêu thì trong các văn kiện của Đảng cũng nêu rõ vị trí, vai trò và nhiệm vụ của văn hóa trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn
Trang 9đề: "Vai trò nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình hiện nay"
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ tính đặc thù của giá trị văn hóa dân tộc Mường, những yêu cầu cấp thiết của việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc ít người nói chung và dân tộc Mường nói riêng, luận văn đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt mục đích đã nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là: Chỉ ra vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc
Hai là: Trình bày những điều kiện nảy sinh và tồn tại của văn hóa Mường;
chỉ rõ nét đặc thù của giá trị văn hóa dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình
Ba là: Tìm hiểu thực trạng và những vấn đề đặt ra của nhân tố chủ quan
trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Bốn là: Nêu một số quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò
nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở Ninh Bình hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là vai trò của nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
Văn hóa là một lĩnh vực hết sức rộng lớn, bao hàm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần; luận văn không trình bày toàn bộ các vấn đề thuộc về văn hoá của dân tộc mà chủ yếu tập trung nghiên cứu, làm rõ vai trò của nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã công bố, có nội dung liên quan tới vấn đề mà luận văn đề cập
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, lý giải, làm rõ các vấn đề; đồng thời kết hợp nhuần nhuyền các phương pháp: Lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch; điều tra - so sánh nhằm đạt tới mục đích mà luận văn đã
đề ra
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần điều tra, nghiên cứu những nét đặc thù của văn hóa dân tộc Mường ở Ninh Bình, từ đó đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở Ninh Bình hiện nay
- Luận văn có thể được sử dụng phục vụ cho công tác văn hóa tư tưởng của tỉnh Ninh Bình và làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy chuyên ngành: Triết học,, CNXHKH, Văn hóa ở các trường chính trị tỉnh hoặc các trường đại học, cao đẳng
Trang 117 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương, 7 tiết:
Chương 1: Nhân tố chủ quan và vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Thực trạng vai trò nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở Ninh Bình hiện nay
Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao vai trò nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường tỉnh Ninh Bình hiện nay
Trang 12Chương 1 NHÂN TỐ CHỦ QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Khái niệm nhân tố chủ quan, văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.1 Khái niệm nhân tố chủ quan
Cùng với quá trình hoạt động thực tiễn của con người, khái niệm nhân tố chủ quan (NTCQ) và điều kiện khách quan (ĐKKQ) từng bước được hình thành
và phát triển Để hiểu được nội dung của khái niệm này thì nhất thiết phải tìm hiểu đến những khái niệm có liên quan như khái niệm "chủ thể", "khách thể", chỉ khi nào hiểu được các khái niệm này thì mới hiểu được khái niệm NTCQ và ĐKKQ "Chủ thể", "khách thể" là những khái niệm rất quan trọng, trong mối quan hệ với khái niệm "NTCQ" và "ĐKKQ", nếu không hiểu được các khái niệm này thì cũng không thể hiểu được khái niệm "NTCQ" và "ĐKKQ" hoặc hiểu không đúng, dễ bị nhầm lẫn đồng nhất giữa các khái niệm
* Về khái niệm: “chủ thể”, “khách thể”:
Trong quá trình hoạt động của mình, con người đã tác động vào thế giới khách quan, cải tạo thế giới khách quan nhằm phục vụ lợi ích con người Vì vậy, con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, đồng thời vừa là chủ thể của hoạt động cải tạo hoàn cảnh, từ đó đã hình thành nên khái niệm chủ thể Khái niệm chủ thể đã được rất nhiều nhà triết học quan tâm nghiên cứu và đã đưa ra nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau Có quan niệm cho rằng "Chủ thể là con người (cá nhân hoặc nhóm.) tiến hành hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn" [49, tr.92] Quan điểm khác thì lại hiểu "Chủ thể là con người có ý thức và ý chí, và đối lập với khách thể bên ngoài" [50, tr.192]
Từ những khái niệm trên cho thấy: Tùy từng đối tượng được xem xét mà xác định chủ thể tương ứng, chủ thể có thể là cả loài người, một nhóm người,
Trang 13một giai cấp, một đảng phái hay một tổ chức chính trị - xã hội nào đó, bằng những hoạt động của mình nhằm cải tạo đối tượng khách thể, làm cho đối tượng
ấy (khách thể) biến đổi cho phù hợp với lợi ích của mình
Như vậy, có thể hiểu: chủ thể là con người có ý chí, có ý thức, mang tính sáng tạo với những cấp độ tồn tại khác nhau (cá nhân, nhóm, giai cấp) bằng hoạt động thực tiễn của mình đã và đang tác động đến khách thể
Con người ở đây với tư cách là chủ thể có ý thức và ý chí, bằng hoạt động mang tính sáng tạo của mình tác động vào đối tượng (khách thể) nhằm cải tạo đối tượng (tự nhiên và xã hội) cho phù hợp với mục đích của chủ thể và phục vụ chủ thể Năng lực sáng tạo của chủ thể được thể hiện bằng phương pháp, cách thức tác động vào đối tượng nhằm đạt được mục đích đề ra V.I.Lênin nói: "Khái niệm ấy (= con người) là khuynh hướng tự mình thực hiện mình, tự cho mình, qua bản thân mình, một tính khách quan trong thế giới quan và tự hoàn thiện (tự thực hiện) mình" [20, tr.228]
Với cách hiểu khái niệm “chủ thể” như vậy thì có thể quan niệm:
Khách thể là tất cả những đối tượng mà chủ thể bằng ý thức và hoạt động thực tiễn của mình tác động vào chúng nhằm nhận thức và cải tạo chúng cho phù hợp với mục đích con người
Khách thể không phải là toàn bộ hiện thực khách quan mà chỉ là một bộ phận của hiện thực khách quan Hiện thực khách quan vô cùng phong phú nên khách thể (với tư cách là bộ phận của thế giới khách quan) cũng vô cùng phong phú, khách thể có thể là những sự vật, hiện tượng hay quá trình trong tự nhiên cũng như trong đời sống xã hội, những quan hệ kinh tế, những quan hệ chính trị
- xã hội, kể cả những quan hệ tư tưởng cũng là những khách thể của những chủ thể tương ứng
Khách thể và chủ thể có mối quan hệ khăng khít với nhau, tồn tại song song với nhau, khách thể là khách thể của chủ thể xác định và ngược lại, chủ thể
là chủ thể của khách thể tương ứng, không có khách thể và chủ thể chung chung trừu tượng tồn tại một cách độc lập tách rời bất biến
Trang 14Như vậy, có thể nói khách thể và chủ thể có mối quan hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, mặt này là tiền đề tương tác của mặt kia, và con người chỉ trở thành chủ thể khi hoạt động tác động vào thế giới khách quan, biến thế giới khách quan ấy thành khách thể của quá trình hoạt động thực tiễn của mình Chủ thể nhận thức và cải tạo một cách chủ động sáng tạo khách thể theo mục đích của mình; nhưng chính khách thể bị tác động lại quy định chủ thể Bởi lẽ, khách thể tồn tại độc lập với chủ thể và luôn vận động theo những quy luật vốn có của nó, chỉ khi nào chủ thể nhận thức, hành động phù hợp với quy luật vận động của khách thể, khi đó hoạt động của chủ thể mới đem lại hiệu quả tích cực
* Khái niệm "Nhân tố chủ quan" và "Điều kiện khách quan"
Khi xem xét hoạt động của con người, người ta không chỉ nghiên cứu các khái niệm “chủ thể” và “khách thể”; mà còn quan tâm tới khái niệm "nhân tố chủ quan "và" điều kiện khách quan Bởi vì các khái niệm điều kiện và nhân tố chủ quan được dùng để chỉ mối quan hệ giữa hoạt động có ý thức của con người và hoàn cảnh mà trong đó con người hoạt động
- Khái niệm "Nhân tố chủ quan"
Khái niệm nhân tố chủ quan không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm chủ thể Hiện nay trên sách, báo tạp chí nghiên cứu xuất hiện nhiều những quan niệm khác nhau về khái niệm nhân tố chủ quan
Chẳng hạn, trong khi nghiên cứu khái niệm "nhân tố chủ quan", có tác giả đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có ý thức của con người nói chung
"Nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội là hoạt động có ý thức của những con người, những giai cấp, những chính đảng sáng tạo ra lịch sử" 31, tr.18 Cũng có tác giả lại giới hạn và đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động tự giác của con người Như vậy, nhóm quan niệm nêu trên thường nhấn mạnh đặc trưng sáng tạo của ý thức, tư tưởng, vai trò của ý thức trong việc phản ánh điều kiện khách quan Những quan niệm trên đây có nhiều giá trị và tính hợp lý, vì đã chỉ
ra vai trò của ý thức, tính tự giác trong hoạt động của con người Nhưng, nếu đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có thức của con người; hoặc giới hạn
Trang 15nhân tố chủ quan với hoạt động tự giác của con người, thì theo chúng tôi chưa thật đầy đủ và như vậy dễ dẫn đến tình trạng "chủ quan hoá" hoạt động của con người Bởi vì, hoạt động của con người không chỉ thuần tuý thuộc về nhân tố chủ quan mà còn bị chi phối và quy định của điều kiện khách quan
Theo chúng tôi, nói tới "nhân tố chủ quan", trước hết chúng ta cần đề cập tới đặc trưng cơ bản của nó là "tính tích cực, tính sáng tạo" của chủ thể hoạt động Bởi lẽ, các nguyên lý triết học Mác xít chỉ ra rằng, con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của mọi quá trình diễn ra trong lịch sử - xã hội loài người
Do đó, khi đặt con người với tư cách là chủ thể (Tuỳ ở cấp độ xem xét là nhóm, giai cấp ) trong trạng thái đang tích cực hoạt động trước một đối tượng cần nhận thức và cải tạo nó theo một mục đích nhất định, với đầy đủ các mặt yếu tố, động lực, phẩm chất và năng lực tạo thành Tính tích cực của chủ thể - Các nhân tố tạo thành nguyên nhân và điều kiện của mọi hoạt động tích cực của chủ thể, chúng ta có khách niệm nhân tố chủ quan và đối lập với nó là điều kiện khách quan 35, tr.18-19
Từ những nội dung phân tích trên đây, theo chúng tôi, giữa nhân tố chủ quan và chủ thể có sự thống nhất, nhưng không đồng nhất với nhau Sự thống nhất giữa khái niệm "chủ thể" và "nhân tố chủ quan" được thể hiện ở chỗ : nhân
tố chủ quan về tất yếu luôn thuộc về chủ thể Còn giữa các khái niệm này có sự khác nhau và tính độc lập tương đối Vì nhân tố chủ quan, là khái niệm để chỉ những yếu tố, đặc trưng cấu thành phẩm chất của chủ thể, được chủ thể huy động và trực tiếp tạo ra năng lực, cũng như động lực của chủ thể nhằm để biến đổi khách thể cụ thể Do đó:
Nhân tố chủ quan là những gì thuộc về chủ thể và tham gia trực tiếp vào một hoạt động cụ thể của chủ thể cũng như bản thân sự hoạt động đó
Với quan niệm về khái niệm nhân tố chủ quan nêu trên, theo chúng tôi xét
về cấu trúc nhân tố chủ quan, bao gồm
Thứ nhất: ý thức của chủ thể là nhân tố cấu thành nội dung khái niệm
nhân tố chủ quan Song điều đáng lưu ý đó là, không phải là ý thức nói chung
Trang 16của chủ thể là nhân tố chủ quan, mà là những bộ phận ý thức đã trở thành sự chỉ đạo, sự kích thích và là phương châm của hoạt động, nói cách khác là ý thức đã biến thành đặc điểm nhất định của hành vi, của hoạt động của chủ thể 40, tr.19
Thứ hai: Nói tới nhân tố chủ quan là nói tới hoạt động có ý thức của con
người (con người cụ thể, của giai cấp, của chính đảng ) để sáng tạo ra lịch sử; là nói tới tính tổ chức, ý chí và nghị lực của họ để giải quyết những nhiệm vụ lịch
sử nhất định Do đó, nhân tố chủ quan không chỉ thuần tuý là ý thưc của chủ thể
mà còn bao gồm cả bản thân quá trình hoạt động đó Vì ý thức của chủ thể cùng lắm mới chỉ dừng lại ở "giải thích thế giới" Điều đó, như trước đây Mác cũng đã từng khẳng định: "Tư tưởng căn bản không thực hiện được gì hết, muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn" 21, tr.12 Từ những nội dung trên đây, chúng tôi cho rằng, cấu thành nhân tố chủ quan còn bao gồm cả quá trình hoạt động cải tạo thực tiễn của chủ thể đối với một khách thể xác định
- Khái niệm "Điều kiện khách quan"
Trong nghiên cứu, khi đề cập tới khái niệm điều kiện khách quan các nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau và cũng đã đưa ra những quan niệm khác nhau về khái niệm đó, chẳng hạn:
+ Những điều kiện khách quan là tất cả những gì tạo nên một hoàn cảnh hiện thực quy định và tác động lên mọi hoạt động của chủ thể, tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể hoạt động 3, tr.19
+ Điều kiện khách quan là tổng thể các mặt, các nhân tố tạo nên một hoàn cảnh hiện thực tồn tại bên ngoài, độc lập với chủ thể và tác động vào hoạt động của chủ thể trong hoàn cảnh cụ thể đó 35, tr.12
Như chúng ta đều biết, bất cứ một chủ thể lịch sử - xã hội nào, cho dù ở các vị trí và địa vị xã hội khác nhau, trong hoạt động và tồn tại đều gắn liền với một điều kiện khách quan xác định cụ thể Do vậy, trong mỗi hoạt động của chủ thể, các yếu tố hợp thành điều kiện khách quan rất phong phú và đa dạng, bao gồm nhiều mặt Như, các yếu tố, các kết cấu vật chất tồn tại dưới dạng có sẵn
Trang 17trong tự nhiên; các yếu tố vật chất tồn tại dưới dạng xã hội Những yếu tố có tính vật chất, cùng với các yếu tố tinh thần như tư tưởng, tâm lý, tập quán đang tồn tại hiện thực trong xã hội hợp thành một hoàn cảnh để chủ thể tồn tại và hoạt động - Đó là điều kiện khách quan
Do vậy, theo chúng tôi điều kiện khách quan đó là:
Tổng thể những mặt, những nhân tố, những mối quan hệ tồn tại ở bên ngoài và độc lập với chủ thể, hợp thành một hoàn cảnh, một điều kiện hiện thực, thường xuyên tác động và quy định hoạt động của chủ thể trong những hoạt động xác định
Như vậy, ĐKKQ là hoàn cảnh mà trong đó chủ thể tồn tại và hoạt động,
nó quy định hoạt động của chủ thể Bất kỳ một hoạt động nào của chủ thể cũng
có thể được thực hiện khi có những điều kiện nhất định Những điều kiện đó đóng vai những tiền đề của hoạt động [53, tr.71-72]
Với quan niệm và những nội dung phân tích như trên, khi nói đến ĐKKQ thỡ trước hết phải nói đến những điều kiện vật chất tạo nên một hoàn cảnh hiện thực và độc lập với chủ thể xác định và quy định hoạt động của chủ thể đó Nếu các điều kiện vật chất luôn là ĐKKQ (xét trong mối quan hệ với ý thức), song ĐKKQ được xác định cụ thể lại không đơn thuần là điều kiện vật chất mà cũn bao gồm cả những yếu tố thuộc ý thức, tư tưởng, những ý thức, tư tưởng này tồn tại khách quan với chủ thể xác định và ảnh hưởng đến hoạt động của chủ thể, đó cũng là ĐKKQ
Như vậy, có thể nói ĐKKQ là những yếu tố vật chất và tinh thần tư tưởng tồn tại khách quan và không phụ thuộc vào chủ thể cụ thể, cấu thành hoàn cảnh
và tác động đến hoạt động của chủ thể
* Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan:
Thứ nhất, ĐKKQ quy định vai trò của NTCQ
Hoạt động của chủ thể là nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của chủ thể Mục đích, mục tiêu mà chủ thể đặt ra đều xuất phát từ điều kiện và khả năng của hiện thực, nếu chỉ căn cứ vào ý muốn chủ quan mà không xuất phát từ hiện thực
Trang 18khách quan thì hoạt động của con người sẽ không thể thành công được Điều đó được Lênin khẳng định: "Thật ra, mục đích của con người là do thế giới khách quan sản sinh ra và lấy thế giới khách quan làm tiền đề" [20, tr.201]
ĐKKQ quy định hoạt động thực tiễn của chủ thể, nó là yếu tố chi phối, quy định phương pháp, cách thức, phương tiện tác động của chủ thể, mọi hoạt động của chủ thể phải phù hợp với thực tiễn khách quan
Thứ hai, NTCQ có vai trò tác động tích cực đến sự biến đổi của ĐKKQ
NTCQ là những gì thuộc về chủ thể, cho nên NTCQ tuy bị ĐKKQ quy định nhưng nó không thụ động hoàn toàn mà có tính tích cực sáng tạo, tính độc lập tương đối so với ĐKKQ Vai trò tích cực sáng tạo của NTCQ thể hiện ở chỗ: Trong hoạt động thực tiễn, chủ thể vận dụng sáng tạo cái chủ quan của mình để tìm hiểu, nhận thức quy luật vận động của cái khách quan, khi cả hai tương thích
sẽ tạo nên sự chuyển hóa khả năng thành hiện thực
Với tư cách là chủ thể hoạt động, con người luôn chủ động lựa chọn những khả năng tốt nhất, vừa đáp ứng được nhu cầu, lợi ích của mình vừa không
đi ngược lại tiến trình phát triển của lịch sử Các quy luật khách quan vận động đan xen nhau, nhưng chủ thể hoạt động có khả năng dựa trên cơ sở những nhận thức đúng, phù hợp của mình để điều chỉnh hình thức, trật tự tác động của quy luật khách quan, có thể tạo ra những yếu tố làm xuất hiện những quy luật khách quan mới
Trong quá trình tác động trở lại quy luật khách quan, NTCQ cũng đồng thời tự nâng cao khả năng nhận thức của mình trong quá trình biến đổi thế giới khách quan Tuy nhiên, NTCQ có vai trò to lớn đến đâu, sức sáng tạo đến thế nào thì trong việc xem xét, giải quyết các vấn đề vẫn phải xuất phát từ thực tế khách quan và phải tuân thủ các nguyên tắc khách quan Hơn nữa, bản thân chủ thể hoạt động cũng là sản phẩm của thế giới khách quan, có nguồn gốc từ thế giới khách quan, toàn bộ cuộc sống, sinh hoạt, lao động, và phát triển của chủ thể đều phản ánh những điều kiện, quy luật của thế giới khách quan - Mọi sự cố gắng của chủ thể trong quá trình phản ánh, nhận thức và cải tạo thế giới cũng là
Trang 19để đáp ứng một cách tốt nhất những mục đích và nhu cầu sống của chính mình (cả vật chất lẫn tinh thần)
Nói tóm lại, trong mối quan hệ biện chứng giữa NTCQ và ĐKKQ thì ĐKKQ là tính thứ nhất, quy định NTCQ cả về nội dung, phương hướng và tổ chức hoạt động thực tiễn Nhưng NTCQ không bị động trước hoàn cảnh khách quan mà luôn lấy ĐKKQ là điểm xuất phát, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Phát hiện, nắm bắt những khả năng khách quan, tạo ra những tiền đề biến khả năng khách quan thành hiện thực, làm chủ cái khách quan, biến tính tất yếu khách quan thành nội dung hoạt động tự do sáng tạo của mình Tính biện chứng trong mối quan hệ giữa NTCQ và ĐKKQ còn thể hiện ở chỗ: để đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động thực tiễn thì bắt buộc NTCQ phải vận động, phát triển, tự hoàn thiện những phẩm chất, nâng cao nhận thức, khả năng vận dụng, tổ chức hoạt động thực tiễn của mình cho phù hợp với những quy luật vốn có của thế giới khách quan Bất cứ một sự tùy tiện, chủ quan, duy ý chí nào cũng sẽ dẫn tới những hành động vi phạm quy luật khách quan, kìm hãm sự phát triển của tự nhiên, xã hội, con người và của chính bản thân chủ thể đang tham gia hoạt động
ấy
Lịch sử xã hội loài người là lịch sử của chính con người Hành động làm nên lịch sử đầu tiên của con người, đó là những hoạt động lao động cải tạo tự nhiên để đáp ứng và thỏa mãn những nhu cầu tồn tại của mình Từ hoạt động lao động cải tạo thế giới tự nhiên đó, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội loài người được thiết lập, các quan hệ xã hội của loài người được hình thành (tự nhiên và khách quan) Cùng với tự nhiên, giống như
tự nhiên, xã hội loài người cũng không ngừng vận động và phát triển theo những quy luật nhất định Trong quá trình đó, cái khách quan và cái chủ quan, những ĐKKQ và NTCQ bao giờ cũng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất, biện chứng; trong đó ĐKKQ bao giờ cũng có vai trò quy định đối với NTCQ Thực tiễn lịch sử cho thấy, trong quá trình hoạt động lao động của con người, chỉ khi nào những quan hệ vật chất cần thiết đã phát triển chín muồi, hoặc ít ra cũng
Trang 20đang trong quá trình hình thành, thì khi đó NTCQ mới có cơ sở khách quan để biến những khả năng thành hiện thực, công cuộc cải biến xã hội mới thành công
Khi phân tích tình thế cách mạng ở Nga năm 1917, so sánh tình hình cách mạng ở Nga khi đó với những tình thế cách mạng trước đó cả ở Nga, ở Đức, và tất
cả các thời kỳ cách mạng Phương Tây trước đó V.I.Lênin đã khẳng định: Cũng là những ĐKKQ giống như thế, cũng là sự khủng hoảng chính trị của tầng lớp trên cùng, quần chúng nhân dân bị áp bức nặng nề, cũng là ý thức muốn vùng lên làm một cuộc cải biến xã hội… Nhưng các cuộc cách mạng trước đó không thể nổ ra
là vì thiếu đi sự chín muồi của NTCQ, của giai cấp cách mạng, tức là thiếu đi khả năng phát động, tổ chức, tập hợp quần chúng nhân dân tạo sức mạnh tổng hợp của
các giai cấp bị trị trong cuộc đấu tranh cách mạng ấy [19, tr.268] Như vậy, theo
V.I.Lênin, nếu không xuất hiện các tình thế cách mạng (ĐKKQ), hoặc nếu không
có sự biến đổi chủ quan của giai cấp cách mạng thì tình thế cách mạng (ĐKKQ)
chỉ là khả năng khách quan, mà không thể là hiện thực
Trên thực tế, không phải lúc nào các ĐKKQ cũng tự phát (tự nó) hình thành, mà có lúc các ĐKKQ cũng phải được xúc tiến, nảy sinh thông qua các hoạt động tích cực của con người Sự năng động chủ quan của con người phải được đo bằng hiệu quả vật chất chứ không chỉ là trong lý luận hay tư duy
Một vấn đề thực tiễn quan trọng trong nghiên cứu mối quan hệ giữa NTCQ và ĐKKQ là ở chỗ: phát huy vai trò NTCQ không thể tách rời những ĐKKQ đang có, không thể hoạt động một cách tùy tiện trước quy luật của tự nhiên, của xã hội Đó phải là sự biến đổi không ngừng của bản thân chủ thể (từ năng lực, phẩm chất, đạo đức… đến khả năng thiết kế, tổ chức hoạt động thực tiễn…) Khi đó mới thúc đẩy được kinh tế - xã hội phát triển, mới cải tạo thế giới khách quan thành công, mới ngày một nâng cao hơn chất lượng cuộc sống cho con người cả về vật chất lẫn tinh thần, con người (chủ thể hành động) ngày càng hoàn thiện bản thân mình, trang bị cho mình đầy đủ các điều kiện để vươn tới
cuộc sống đậm chất người hơn
Trang 211.1.2 Văn hóa dân tộc
Văn hóa - Cho đến nay, không phải tất cả mọi người đã đồng ý với nhau
về định nghĩa Từ cổ chí kim, trong lịch sử loài người, xuất phát từ cách tiếp cận
và nhận thức khác nhau mà hình thành các định nghĩa về văn hóa Năm 1952, các nhà dân tộc học người Mỹ đã thống kê được hơn 300 định nghĩa mà các tác giả thuộc nhiều nước khác nhau đã phát biểu về văn hóa, các định nghĩa ấy đã khai thác vấn đề văn hóa dưới từng góc độ, từng mặt khác nhau, nhưng ở khía cạnh nào đó cũng có sự thống nhất hoặc bổ sung cho nhau trong sự nhận thức về văn hóa
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhìn nhận văn hóa như là một sản phẩm của lịch sử, là sản phẩm của quá trình lao động cải tạo tự nhiên của các thế hệ người
Do vậy, trình độ phát triển của văn hóa phụ thuộc vào trình độ nhận thức và sức sáng tạo của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn của họ Nếu tách văn hóa ra khỏi đời sống của con người và xã hội loài người thì văn hóa chẳng còn ý nghĩa gì cả C.Mác cho rằng: “con người sản xuất” là một “thực thể song trùng” thống nhất giữa “cái tự nhiên và cái xã hội” Trong đó, yếu tố tự nhiên được cấu tạo như một sinh vật và nó vận động theo quy luật sinh học [25, tr.9] Nhưng điểm khác biệt giữa con người với động vật là ở chỗ con người mang bản chất xã hội Bản chất của con người thể hiện ra trong mối quan hệ giữa mỗi người với người khác, giữa mỗi người với cộng đồng xã hội và thể hiện trong kết cấu xã hội hiện thực, ở một không gian, thời gian xác định Trong luận cương về Phơbách, C.Mác viết: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [27, tr.11]
Con người được sinh ra và sống trong giới tự nhiên Nhưng con người không bị hòa tan hay lệ thuộc vào giới tự nhiên mà ngày càng tách mình ra khỏi giới tự nhiên và rồi quay lại giới tự nhiên, cải tạo nó, làm cho nó trở thành giới
tự nhiên thứ hai, giới tự nhiên của chính mình, đồng thời qua đó cải biến chính bản thân mình - Đó chính là văn hóa C.Mác viết:
Trang 22Cố nhiên, con vật cũng sản xuất… Nhưng súc vật sản xuất cái mà bản thân nó hoặc con nó trực tiếp cần đến; nó sản xuất một cách phiến diện, trong khi con người sản xuất một cách toàn diện; con vật chỉ sản xuất vì bị chi phối bởi nhu cầu thể xác trực tiếp, còn con người sản xuất ngay cả khi không bị nhu cầu thể xác ràng buộc, và chỉ khi không bị nhu cầu đó ràng buộc thì con người mới sản xuất theo ý nghĩa chân chính của từ đó; Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên [28, tr.137]
Con người là một thực thể có ý thức, sống, hoạt động trên cơ sở hiểu rõ bản thân, hiểu rõ đối tượng định tác động, từ đó tự chịu trách nhiệm về mục tiêu, thái độ, hành vi, phương hướng tác động đến đối tượng Sự tự ý thức của con người được thể hiện rõ nét trong đời sống tinh thần, trong sáng tạo nghệ thuật,
họ sản xuất và xây dựng “theo các quy luật cái đẹp” [29, tr.137], điều đó thể hiện
rõ đầu óc chiến lược, năng lực phân tích, tổng kết, dự báo, gắn với tầm nhìn và nhãn quan văn hóa của chủ thể hành động
Trong thế giới tự nhiên chỉ có duy nhất con người sống và hoạt động với
tư cách là chủ thể của bản thân mình, làm chủ giới tự nhiên, hòa vào giới tự nhiên nguyên sơ, để tạo nên một “thiên nhiên thứ hai” nhằm thỏa mãn những nhu cầu, ham muốn chinh phục tự nhiên, xã hội… của bản thân con người - Đó
là văn hóa C.Mác cho rằng, xét đến cùng, văn hóa có nguồn gốc từ lao động Bởi lẽ, mọi hoạt động sáng tạo của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội đều bắt đầu từ lao động Chính lao động đã sáng tạo ra con người và xã hội loài người, làm cho con người ngày càng thoát ra khỏi bản năng động vật, tiến dần đến trình độ trưởng thành về nhân cách, trình độ trưởng thành về văn hóa của mỗi cá nhân
Trong quá trình lao động, con người đã in dấu mình vào trong từng khâu, từng yếu tố, từng mặt, từng bộ phận… của thành quả lao động, làm cho tự nhiên
tự hiện hình trong hoạt động của con người
C.Mác viết: “…Bằng thực tiễn, bằng con đường cách mạng; họ sẽ làm cho
“tồn tại” của mình phù hợp với bản chất của mình” [29, tr.507]
Trang 23Như vậy, theo C.Mác, văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở sự hình thành và phát triển con người Thước đo của sự tiến bộ và phát triển này chính là mức độ hình thành và phát triển bản chất người trong quá trình con người chinh phục và biến đổi tự nhiên, trong mối quan hệ giữa con người với cộng đồng, mà bao trùm là quan hệ giữa đời sống tinh thần và không gian sống vật chất của con người và của xã hội loài người Nếu môi trường đầu tiên cho con người sự hình thành và phát triển, quyết định sự tồn tại của con người là sản xuất vật chất, thì môi trường thứ hai cho con người bộc lộ, phát huy những năng lực và bản chất người trong các hoạt động sống, đó chính là sản xuất văn hóa
Quan niệm của V.I.Lênin về văn hóa khá rộng và bao quát Từ cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội, V.I.Lênin cho rằng: Sự phát triển của văn hóa gắn liền với sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, mỗi một hình thái kinh tế
- xã hội có một nền văn hóa tinh thần đặc trưng (như một giá trị lịch sử), khi hình thái kinh tế - xã hội thay đổi, thì nền văn hóa tương ứng với nó cũng có sự thay đổi nhất định Đây không có nghĩa là sự đứt đoạn hay đoạn tuyệt với các giá trị văn hóa truyền thống, mà trong quá trình chuyển hóa, nền văn hóa mới luôn
kế thừa những di sản, thành tựu của nền văn hóa trước đó, đồng thời bổ sung những yếu tố mới phù hợp với những đặc điểm và quan hệ của hình thái kinh tế -
xã hội mới V.I.Lênin khẳng định: Ở đâu có hoạt động của con người thì ở đó có văn hóa và văn hóa không chỉ dừng lại ở văn hóa tinh thần mà còn bao hàm cả văn hóa vật chất Người coi văn hóa là phương tiện quan trọng nhất trong tất cả các loại hình hoạt động của con người và là kết quả của quá trình hoạt động đó
Vì vậy, trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới, V.I.Lênin nhấn mạnh nguyên tắc tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc, tính nhân loại trong văn hóa, cách mạng văn hóa, trước hết là cách mạng trong trí tuệ, trong ý thức của quần chúng Người khẳng định: hoạt động văn hóa và sản phẩm văn hóa phải là “của” nhân dân, chứ không phải “cho” nhân dân Người viết: “Chủ nghĩa xã hội được xây dựng không phải bằng mệnh lệnh từ trên Tinh thần của nó xa lạ với bộ máy nhà
Trang 24nước quan liêu; Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo, tức là sáng tạo của chính quần chúng” [18, tr.464]
Sáng kiến của Người đã khơi dậy tiềm năng, tính chủ động sáng tạo của quần chúng nhân dân, mở ra hướng đi và nhiệm vụ mới cho cách mạng vô sản - cách mạng văn hóa Đó là cuộc cách mạng giải phóng triệt để con người và xã hội loài người khỏi những áp bức bất công cả trong lao động cũng như trong mọi hoạt động sáng tạo của họ
Theo V.I.Lênin, muốn xây dựng một nền văn hóa mới, nền văn hóa vô sản
có khả năng phát triển toàn diện năng lực và bản chất người, cần phải kế thừa có phê phán các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại, đồng thời phát triển nó lên một tầm cao mới, mang đậm chất liệu văn hóa và bản chất người Người nói rằng:
Nền văn hóa vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không phải là do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản bịa đặt ra… văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của vốn kiến thức mà loài người đã tạo ra
dưới ách áp bức của xã hội Tư bản, địa chủ và của xã hội quan liêu [18, tr.402]
Người cũng chỉ ra rằng, chỉ có xây dựng thành công CNXH, CNCS thì con người mới có điều kiện thể hiện đầy đủ năng lực sáng tạo, trình độ làm chủ của mình trước tự nhiên, xã hội và ngay cả trước bản thân mình Từ đó, con người và xã hội loài người mới có điều kiện xây dựng và phát triển sự công bằng, bình đẳng, tự do cho bản thân, các tiêu chí: chân, thiện, mỹ… mới được xác lập và hoàn thiện, hoạt động sáng tạo của con người mới có đầy đủ điều kiện đạt tới trình độ nhân văn đích thực
Cũng như các bậc tiền bối của chủ nghĩa Mác, quan niệm về văn hóa của nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh cũng rất rộng; xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, từ truyền thống văn hiến ngàn đời của dân tộc Việt Nam, với tầm nhìn bao quát, Người đưa ra khái niệm về văn hóa như sau:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo
và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các
Trang 25phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [30, tr.431]
Quan điểm trên của Người đã khái quát được nội dung rộng nhất của phạm trù văn hóa Chỉ ra văn hóa không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con người mà còn bao hàm trong đó cả những hoạt động vật chất Người cũng chỉ ra nguồn gốc sâu xa của văn hóa đó chính là nhu cầu sinh tồn của con người, với tư cách là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội Nó biểu hiện sự thống nhất của yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội trong con người, biểu hiện khả năng và sức sáng tạo của con người Nghĩa văn hóa mà nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh đề cập được trải rộng trên cả hai lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, nhưng việc phân định hai lĩnh vực văn hóa như trên chỉ có tính chất tương đối, vì trên thực tế mỗi kết quả của hoạt động lao động của con người đều bao hàm trong đó
cả hai giá trị vật chất và tinh thần
Là người anh hùng giải phóng dân tộc, là Danh nhân văn hóa thế giới Trong hoạt động văn hóa Hồ Chí Minh rất chú ý đến con người Trong hành động cách mạng cũng như trong đối nhân xử thế Người luôn hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, yêu kính nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, Người biến tình cảm đó thành phương châm sống của chính mình một cách rất
tự nhiên, ở mọi lúc, mọi nơi Khi còn hoạt động ở Pháp người đã kịch liệt lên án chính sách ngu dân của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa;
để thực hiện mong muốn của mình, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Người đã chủ trương và thực hiện đồng thời chiến dịch chống giặc đói và chiến dịch chống giặc dốt Người cho rằng: văn hóa là tinh hoa của dân tộc, văn hóa phải góp phần khẳng định vị thế của dân tộc và một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Cho nên: “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc Đồng thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới, để xây dựng
Trang 26một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng” [31, tr.173]
Quan điểm coi trọng truyền thống văn hóa dân tộc, giữ gìn những tinh hoa, những yếu tố tích cực trong kho tàng văn hóa của cha ông cũng nói rõ quan điểm bảo tồn bản sắc văn hóa của Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh; Những điều
mà Người nói, Người viết rất giản dị, mộc mạc, nhưng mang ý nghĩa giáo dục và nhân văn sâu sắc: cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ… cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý… cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm… Người cũng nhấn mạnh nguyên tắc kế thừa và phát triển trong quan điểm về bảo tồn văn hóa; văn hóa phải thoát khỏi mọi biểu hiện kỳ thị chủng tộc, tránh xu hướng độc tôn, tránh phục cổ một cách máy móc, kế thừa phải đi đôi với sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại Đồng thời, trong quá trình giao lưu quốc tế, đòi hỏi mỗi quốc gia phải nghiên cứu kỹ, toàn diện văn hóa của các dân tộc khác, học lấy những gì tốt đẹp, làm giàu hơn cho văn hóa của chính mình, có như thế văn hóa Việt Nam mới thật có tinh thần thuần túy Việt Nam, mới đủ sức mạnh “soi đường cho quốc dân đi”
Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản tư tưởng vô cùng to lớn trong nhiều lĩnh vực, mà văn hóa là một trong những lĩnh vực ấy Những quan điểm của Người về văn hóa, về giữ gìn, bảo tồn văn hóa dân tộc đã trở thành phương châm hành động của Đảng, của Nhà nước, của Nhân dân ta, đặc biệt là các nhà văn hóa
Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn hóa” tại Pháp (21/1/1998), Tổng thư ký UNESCO định nghĩa:
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc
tự khẳng định bản sắc riêng của mình [38, tr.23]
Trang 27UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội,
có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xã hội Văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác
Nghiên cứu về văn hóa các nhà văn hóa Việt Nam cũng đưa nhiều định nghĩa khác nhau: “Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vật chất của hoạt động con người, là giá trị và phương thức xử thế được công nhận, đã khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho một cộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau” [7, tr.11] Định nghĩa này nhấn mạnh trong văn hóa bao gồm các sản phẩm vật chất và các hệ thống giá trị các mẫu mực xử thế
và các hệ thống hành vi Vấn đề cần được nhấn mạnh ở đây là trong khái niệm văn hóa, điều quan trọng là phải được thừa nhận hoặc có nhiều khả năng được thừa nhận trong một nhóm xã hội, và được truyền bá cho các cá thể hoặc các nhóm trong cộng đồng
“Văn hóa là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những năng lực bản chất người trong tất cả các dạng hoạt động của họ, là tổng thể các hệ thống giá trị - cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn và lịch sử xã hội của mình” [17, tr.13-14]
Như vậy, nói đến văn hóa là nói đến con người Lịch sử văn hóa là lịch sử của con người và loài người: Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con người trở thành người Điều đó có nghĩa là tất cả những gì liên quan đến con người, đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi là văn hóa Có thể nói, văn hóa là sự phát triển lực lượng vật chất và tinh thần, là sự thể hiện những lực lượng đó trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực sản xuất tinh thần của con người Từ đó, văn hóa được chia làm hai lĩnh vực cơ bản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối, bởi cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh thần không phải bao giờ
Trang 28cũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thường được “vật thể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất Ngoài ra, còn các giá trị tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể, nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục tập quán…
Ở Việt Nam, khi luận bàn về văn hóa của dân tộc thường được hiểu theo hai nghĩa, hai cấp độ khác nhau: ở phạm vi hẹp, văn hóa dân tộc đồng nghĩa với văn hóa của một tộc người, văn hóa dân tộc hoặc văn hóa tộc người + tộc danh,
là một chi tiết của văn hóa nói chung Phạm vi rộng, văn hóa dân tộc là văn hóa chung của cả cộng đồng tộc người (Nation) sống trong cùng một quốc gia
Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, cũng như những quan hệ xã hội được sáng tạo trong điều kiện môi trường sinh tụ của một tộc người, phản ánh những nhận thức, tâm lưý, tình cảm, tập quán riêng biệt được hình thành trong lịch sử của tộc người đó Ở các quốc gia đa dân tộc, văn hóa của các tộc người đan xen, hấp thụ lẫn nhau tạo nên nét chung của văn hóa quốc gia, của cả cộng đồng dân tộc, và mỗi nền văn hóa đều có những giá trị riêng của nó
Bản chất đặc trưng của văn hóa là chiều cạnh trí tuệ, năng lực sáng tạo, khát vọng nhân văn biểu hiện ở hoạt động sống của mỗi cá nhân, cộng đồng, dân tộc Mục đích của giá trị văn hóa là nhằm hướng tới các giá trị nhân bản, hướng tới sự hoàn thiện của mỗi cá nhân và của cộng đồng, dân tộc Mặc dù, tiêu chuẩn của các giá trị văn hóa của các cộng đồng, dân tộc là không như nhau Giá trị văn hóa còn mang tính khách quan, không phụ thuộc vào bất cứ cái gì từ bên ngoài áp đặt vào để trở thành văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc Không thể căn cứ vào văn hóa của một dân tộc nào đó để làm tiêu chí xem xét, đánh giá nền văn hóa của các dân tộc còn lại là cao hay thấp, phát triển hay không… điều
đó sẽ rơi vào bệnh chủ quan, tạo nên sự nô dịch hay sự áp đặt về văn hóa
Có thể nói, giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc như là “mật mã di truyền xã hội” của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc đó, đã được tích lũy lắng đọng trong quá trình hoạt động của mình Chính quá trình đó
Trang 29đã hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ Cộng đồng sẽ bền vững khi nó trở thành dân tộc Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa Một dân tộc đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc ấy đã đánh mất chính mình, một nền văn hóa có tính dân tộc, là nền văn hóa mang đầy đủ bản sắc của dân tộc Chính vì vậy, việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc, là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự tồn vong của mỗi dân tộc
Thấm nhuần lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Đảng và Nhà nước ta đã có sự đổi mới nhận thức về văn hóa trên mọi phương diện Nghị quyết bốn Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII); và đặc biệt, đến Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) đã đề cập đến toàn bộ các vấn đề văn hóa liên quan đến quốc tế dân sinh, đến xây dựng đời sống tinh thần cho con người Trong năm quan điểm chỉ đạo cơ bản của nghị quyết, quan điểm thứ nhất đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [10, tr.55], cho thấy: chính sách kinh tế trong văn hóa mà Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) đã đề cập nhằm mục đích gắn văn hóa với hoạt động kinh tế, khai thác các tiềm năng kinh
tế hỗ trợ cho các hoạt động phát triển văn hóa và đồng thời cũng đảm bảo được các yêu cầu về chính trị, tư tưởng của hoạt động văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Kế thừa những quan điểm nêu trên, có thể khái quát về văn hóa như sau:
Văn hóa là sự phản ánh tổng thể những năng lực bản chất người trong tất cả các dạng hoạt động của họ, là tổng thể các hệ thống giá trị (cả giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần) do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử xã hội của mình
Với cách hiểu văn hóa như vậy, chúng ta có thể thấy: Văn hóa là một hệ thống tổng thể quy định đời sống của một dân tộc, nó gắn với các biểu hiện phương thức tồn tại người, là sự thể hiện đầy đủ bản chất của con người trong tất
cả mọi dạng hoạt động, bao gồm hoạt động thực tiễn, hoạt động nhận thức và
Trang 30hoạt động giao tiếp v.v Hệ thống này bao gồm toàn bộ những gì thuộc về tư duy, tín ngưỡng, phong tục tập quán…, những gì thuộc về cơ tầng xã hội như hôn nhân, gia đình…, những gì thuộc về môi trường sinh thái, đảm bảo cho cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của một dân tộc Điều đó cũng có nghĩa tất cả những yếu tố có liên quan đến con người với tư cách là con người cá nhân, con người xã hội, liên quan đến mọi cách thức tồn tại của con người và cộng đồng người đều liên quan đến văn hóa - Văn hóa chính là sự phát triển, là sự thể hiện lực lượng vật chất, năng lực tinh thần của con người trong các lĩnh vực sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần Tuy nhiên, không thể phân chia văn hóa một cách rạch ròi thành “văn hóa vật chất” hay “văn hóa tinh thần” Bởi vì, cái gọi là “văn hóa vật chất” thực chất chỉ là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, bản thân các giá trị tinh thần cũng hiếm khi tồn tại dưới dạng tinh thần thuần túy, mà nó thường được “vật thể hóa” trong các dạng tồn tại của vật chất Ngay cả các giá trị tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể nhưng vẫn mang tính vật chất khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục, tập quán… khi tiếp cận vấn đề văn hóa cần phải xét văn hóa dưới dạng cấu trúc hoàn chỉnh và các chức năng tương ứng với cấu trúc ấy, trong đó chức năng vận hành đóng vai trò quyết định Trong văn hóa: chức năng là cơ chế vận hành của cấu trúc, nếu không có chức năng thì cấu trúc không vận hành, nếu cấu trúc văn hóa có bị phá hủy hay mai một vì nguyên nhân nào đó nhưng chức năng vận
hành vẫn còn thì cấu trúc sẽ được phục hồi và vấn đề chỉ là thời gian
Tóm lại, văn hóa gắn với toàn bộ hoạt động sống của con người, là “thiên
nhiên thứ hai” với tư cách là sản phẩm mang tính tộc loại của con người Văn hóa, về bản chất thường hướng tới mục tiêu “nhân đạo hóa” con người, hướng tới sự phát triển và giải phóng những năng lực bản chất của con người, nhằm phát triển toàn diện con người, hoàn thiện xã hội loài người Cho nên, trong quá trình phát triển của lịch sử, bên cạnh sự hội nhập, cố gắng phấn đấu để có thể ngang bằng nhau về kinh tế, mức sống, kỹ thuật, văn minh thì vấn đề giữ gìn, tôn
Trang 31vinh và phát huy những tinh hoa văn hóa sẽ làm nên sự khác biệt, sự độc đáo giữa các dân tộc về lối sống, phương thức sống và giá trị cuộc sống
1.1.3 Bản sắc văn hóa dân tộc
Vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc được rất nhiều quốc gia trên thể giới quan tâm (đặc biệt là các nước đang phát triển) Trong “thập kỷ thế giới văn hóa phát triển” (1988 - 1997) UNESCO ghi rõ: "Mối quan tâm lớn của những xã hội đương thời là việc giữ gìn những nét độc đáo trong bản sắc văn hóa của dân tộc mình và ngăn chặn sự sói mòn những giá trị văn hóa do sự biến đổi của thị hiếu, lối sống, ảnh hưởng của nước ngoài" [38, tr.79]
Văn hóa do con người sáng tạo ra, nhưng văn hóa không mất đi cùng với thế hệ người tạo ra nó, mà văn hóa tồn tại trong những lớp trầm tích các di sản, được bổ sung những cái tiên tiến, tạo nên dấu ấn riêng biệt cho mỗi dân tộc, đó chính là bản sắc văn hóa dân tộc
Có thể nói: Bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc, là những nét độc đáo rất riêng không hề trộn lẫn của dân tộc này với dân tộc khác
Theo từ điển Tiếng Việt, bản sắc chỉ tính chất, mầu sắc riêng, tạo thành phẩm cách đặc biệt của một vật [45]
Bản sắc văn hóa có thể hiểu là cái cốt lõi, nội dung, bản chất của một nền văn hóa cụ thể nào đó, là những nét văn hóa riêng có của nền văn hóa một dân tộc Những nét riêng ấy thường được biểu hiện qua các giá trị văn hóa vật chất
và tinh thần, vật thể và phi vật thể Các giá trị văn hóa này ra đời gắn với chính điều kiện môi sinh mà dân tộc ấy thích nghi và phát triển qua các giai đoạn phát triển khác nhau của một dân tộc Những giá trị văn hóa ấy, cho dù có trải qua những thăng trầm, biến cố của lịch sử nó không những không mất đi, mà cùng với thời gian, nó còn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp, cái phù hợp của văn hóa các dân tộc khác làm phong phú, đặc sắc hơn cho văn hóa dân tộc mình, làm cho
nó là nó chứ không phải là cái khác Khi nói đến một trong những nét đặc trưng
Trang 32văn hóa ấy, người ta có thể dễ dàng nhận ra đó là dân tộc nào mà không cần phải gọi tên
Bản sắc văn hóa là một sức mạnh, là sức mạnh nội tại của dân tộc Nó là hạt nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời này qua đời khác Bản sắc văn hóa làm cho một dân tộc luôn là chính mình:
Một dân tộc qua các biến cố lịch sử một lúc nào đó, một thời đại nào đó
có thể mất độc lập, bị người ngoài đô hộ nhưng nếu dân tộc ấy vẫn giữ được tiếng nói của mình, vẫn giữ được vốn văn nghệ dân gian, vẫn giữ và phát triển được bản sắc văn hóa của mình, thì dân tộc ấy vẫn nắm chắc trong tay chìa khóa của sự giải phóng, chìa khóa của tự do, độc lập [4, tr.48]
Bản sắc văn hóa còn là mối liên hệ thường xuyên, có định hướng của cái riêng (văn hóa dân tộc) và cái chung (văn hóa nhân loại) Mỗi dân tộc trong quá trình giao lưu văn hóa, sẽ cống hiến những gì đặc sắc của mình vào kho tàng văn hóa chung Đồng thời tiếp nhận có lựa chọn, nhào nặn thành giá trị của mình, tạo
ra sự khác biệt trong cái đồng nhất đó chính là bản sắc văn hóa của một dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc không phải là một biểu hiện nhất thời, nó có mối liên hệ lâu dài, sâu sắc và bền vững trong lịch sử và đời sống văn hóa dân tộc
Bản sắc dân tộc gắn liền với văn hóa và thường được biểu hiện thông qua văn hóa Vì vậy, có thể coi bản sắc dân tộc của văn hóa hoặc bản sắc văn hóa dân tộc: “Bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố văn hóa nào cũng được xếp vào bản sắc Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa nào giúp phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng đồng văn hóa khác là bản sắc” [34, tr.13]
“Bản sắc văn hóa dân tộc” là tổng hòa những khuynh hướng cơ bản trong sáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư tưởng… trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó” [45, tr.37]
Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có nghĩa là nói tới bản sắc riêng của dân tộc ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõi của bản
Trang 33sắc dân tộc Bởi bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ và rõ nét hơn ở văn hóa Sức sống trường tồn của một nền văn hóa khẳng định sự tồn tại của một dân tộc, khẳng định bản sắc và bản lĩnh của dân tộc ấy
Bản sắc văn hóa dân tộc có hai mặt giá trị Giá trị tinh thần bên trong và biểu hiện bên ngoài của bản sắc dân tộc có mối quan hệ khăng khít củng cố thúc đẩy nhau phát triển Văn hóa không được rèn đúc trong lòng dân tộc để có bản lĩnh, trở thành sức mạnh tiềm tàng bền vững thì bản sắc dân tộc của văn hóa sẽ
mờ phai Ngược lại, nếu văn hóa tự mình làm mất đi những màu sắc riêng biệt, độc đáo của mình, sẽ làm vơi chất keo gắn kết tạo thành sức mạnh bản lĩnh của văn hóa
Nguồn gốc tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc có thể do nhiều yếu tố như: hoàn cảnh địa lưý, nguồn gốc chủng tộc, đặc trưng tâm lý, phương thức hoạt động kinh tế Nhưng bản sắc văn hóa dân tộc, không thể không xuất phát từ những yếu tố tạo thành dân tộc Vì thế hiểu khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc phải hiểu theo khái niệm phát triển, khái niệm mở Nó không chỉ là hình thức mà còn là nội dung đời sống cộng đồng, gắn với bản lĩnh các thế hệ các dân tộc Việt Nam Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ V khóa VIII của Đảng đã chỉ rõ:
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã -
Tổ quốc… Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong cả hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo [10, tr.56]
Bản sắc văn hóa dân tộc là các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sức sống của từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa là các giá trị do lịch sử để lại được thế hệ sau tiếp nối, khai thác
và phát huy trong thời đại của họ để tạo nên dòng chảy liên tục của lịch sử văn hóa các dân tộc Khi đã được hình thành, truyền thống mang tính bền vững và có
Trang 34chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng Tuy nhiên, khái niệm bản sắc văn hóa không phải là sự bất biến, cố định hoặc khép kín mà nó luôn vận động mang tính lịch sử cụ thể Trong quá trình này nó luôn đào thải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu và tạo lập những yếu tố mới để thích nghi với đòi hỏi của thời đại Truyền thống cũng không phải chỉ bao hàm các giá trị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm cả các giá trị từ bên ngoài được tiếp nhận một cách sáng tạo và đồng hóa nó, biến nó thành nguồn lực nội sinh của dân tộc
Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gồm nhiều loại hình, nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều sắc màu, nhiều mức độ và quy mô khác nhau, tạo nên giá trị to lớn là nền tảng bền vững của bản sắc dân tộc Nguồn nuôi dưỡng vô tận tâm hồn và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc Đây là kho của cải vô giá, di sản vô cùng quý báu của văn hóa Việt Nam Việc nhận diện đúng về bản sắc văn hóa mỗi dân tộc và các dân tộc thành viên là việc làm hết sức có ưý nghĩa Bởi lẽ, việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc phải có
sự chặt chẽ, hài hòa và thực hiện theo định hướng, đường lối của Đảng, Nhà nước và ý thức dân chủ tự nguyện của nhân dân
1.2 Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc
văn hoá dân tộc
1.2.1 Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc phối hợp lãnh, chỉ đạo vấn đề xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Thứ nhất, vai trò nhân tố chủ quan giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc được thể hiện trong chủ trương đường lối, chính sách của Đảng
Trong Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) Đảng cộng sản Việt Nam ghi rõ: “Công nhân, nông dân, trí thức, là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước” [10, tr.57]
Trang 35Như vậy, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, trong đó tổ chức đảng với vai trò lãnh đạo chủ chốt vạch ra phương hướng, chiến lược, nhiệm vụ và các giải pháp lớn để lãnh đạo, thực hiện thành công các nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa theo đúng định hướng xây dựng và phát triển đất nước Các hoạt động liên quan tới văn hóa hết sức đa dạng và phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp, thống nhất chặt chẽ của các tổ chức, đòi hỏi chủ thể lãnh đạo phải có phẩm chất đạo đức, tâm huyết, tri thức, trình độ bao quát, hiểu biết sâu rộng mọi mặt của đời sống xã hội, có khả năng tuyên truyền, vận động,
tổ chức các lực lượng xã hội tạo sức mạnh tổng hợp Các quyết sách phải đảm bảo sự hài hòa, biện chứng giữa các yếu tố chính trị - văn hóa, kinh tế - văn hóa, đạo đức - văn hóa Trên thực tế chúng ta thường thấy, một số những tồn tại như: đường lối, chủ trương, nghị quyết đúng nhưng khâu tổ chức thực hiện lại yếu kém Trình độ của các cấp ủy đảng, ban ngành, đoàn thể chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển của văn hóa, cũng như việc giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh giữa chủ trương và thực tiễn quản lý đời sống văn hóa dân gian ở các địa phương Do vậy, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và nhà nước được thể hiện trước hết ở sự đồng bộ và tính khả thi của các thiết chế xã hội Các chính sách của nhà nước phải gắn với các cơ quan công quyền ở địa phương, phải bám sát thực tiễn Vì hơn ai hết họ là những người am hiểu về hoàn cảnh, con người, phong tục tập quán ở địa phương, từ đó có những phương pháp và cách giải quyết phù hợp Bất cứ sự “thương mại hóa văn hóa” hay “hành chính hóa văn hóa” đều dẫn tới hậu quả không có lợi cho sự sáng tạo văn hóa Ngoài vấn đề hoạch định chính sách, chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo còn có vai trò lựa chọn, bồi dưỡng năng lực cán bộ, và hình thành cơ chế phối hợp, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các ngành theo quan hệ hàng dọc, hoặc hàng ngang từ trung ương đến địa phương đảm bảo tính thống nhất, chặt chẽ và hiệu quả
Thứ hai, vai trò nhân tố chủ quan giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc thể hiện trong quản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền các cấp
Trang 36Hoạt động phối hợp quản lý, điều hành của Nhà nước và các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là kế hoạch đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Chủ thể quản lý và năng lực điều hành của họ sử dụng những lực lượng vật chất và tinh thần sẵn có để tác động biến đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích nhất định có giá trị đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng một môi trường văn hóa với hệ thống giá trị chân, thiện, mỹ, đảm bảo tính sáng tạo, tính hiệu quả cao trong tất cả các quá trình từ quản lý, tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế, hoạt động chính trị, điều chỉnh quan hệ xã hội, chuẩn mực đạo đức và một số phương diện xã hội khác theo tiêu chuẩn nhân văn với quy mô từ tổ chức gia đình tới cộng đồng quốc gia dân tộc
Trong thực tế, tất cả các phương diện của đời sống xã hội đều nảy sinh những yếu tố văn hóa, đến khi những giá trị văn hóa hình thành và phát triển
sẽ lại tác động tới những phương diện xã hội theo những mức độ nhất định
Do vậy, vai trò của chủ thể sẽ làm cho sự tương tác giữa văn hóa với cá c phương diện xã hội có xu hướng cùng chiều, vừa có tác dụng làm giàu thêm các giá trị văn hóa, vừa từng bước hoàn thiện các phương diện xã hội ấy theo các tiêu chuẩn tiến bộ cho con người và vì con người Hơn nữa, trong quá trình phối hợp hoạt động, chủ thể quản lý điều hành cũng có điều kiện bồi dưỡng năng lực cho bản thân, nâng cao vai trò NTCQ, đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động của chủ thể trước những đòi hỏi khách quan
Thứ ba, vai trò nhân tố chủ quan giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc thể hiện trong hoạt động phối hợp của các tổ chức đoàn thể nhân dân
Các tổ chức đoàn thể nhân dân bao gồm: Hội liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân, đứng đầu là Mặt trận Tổ quốc Chủ thể phối hợp của các tổ chức đoàn thể nhân dân, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, đa dạng về hình thức, cơ cấu, phạm vi và đối tượng tác động Những chủ thể này hoạt động mang tính chất xã hội cao, tổng hợp nhiều yếu tố từ chính trị, tín ngưỡng, nghề nghiệp, trong phạm vi quốc gia và quốc tế Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ
Trang 37chức đoàn thể phối hợp hoạt động với nhau, với nhà nước, với tổ chức chính quyền, đặc biệt là với các cơ quan quản lý văn hóa các cấp, vận động, thu hút quần chúng nhân dân tạo nên sức mạnh tổng hợp, thực hiện các chương trình kinh tế, chính trị, xã hội, làm sống dậy các phong trào giữ gìn, phát triển các giá trị văn hóa, sáng tạo văn hóa
Trong hoạt động phối hợp của các tổ chức đoàn thể nhân dân, vai trò NTCQ thể hiện trong cơ chế phối hợp khoa học của các tổ chức và khả năng hoạt động thực tiễn của bản thân mỗi chủ thể Phát huy vai trò NTCQ là phát huy khả năng hiểu biết, nắm bắt các đặc điểm của đối tượng được tác động, đặc điểm của môi trường mà trong đó đối tượng được tác động đang sống, hoạt động
và chịu ảnh hưởng trực tiếp Gắn những điều đó với các chủ trương, định hướng của đảng và nhà nước, sử dụng linh hoạt, mềm dẻo các kỹ năng vận động, thuyết phục và cả đạo đức cách mạng, phong cách, lối sống của chính mình để thu hút quần chúng nhân dân tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, giữ gìn và phát triển văn hóa
Trong hoạt động thực tiễn vai trò của các chủ thể được thể hiện đồng thời qua hai chức năng:
- Nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, phát hiện những hiện tượng tiêu cực, tư tưởng lệch lạc, và cả những nhân tố mới, tiến bộ; những khả năng khách quan có lợi cho sự nghiệp phát triển của cả xã hội, có kế hoạch cụ thể để hạn chế tiêu cực, bồi dưỡng, nhân rộng điển hình tiên tiến và tạo điều kiện thuận lợi biến khả năng thành hiện thực
- Phát hiện những bất cập trong cơ chế, chính sách, những yếu tố cản trở tính tích cực sáng tạo của quần chúng nhân dân Từ đó, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý cần thiết để có thể vừa đảm bảo sự tự do hưởng thụ, bảo tồn, sáng tạo văn hóa của các cá nhân, của cộng đồng dân tộc, vừa đảm bảo tính định hướng, mục tiêu phát triển của đất nước
Thứ tư, vai trò nhân tố chủ quan giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
thể hiện trong sự quản lý, hướng dẫn hoạt động của ngành văn hóa thông tin
Trang 38Là cơ quan hoạt động chuyên trách về văn hóa, nên vai trò của các chủ thể hoạt động trong ngành văn hóa thông tin đối với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là rất quan trọng - Vai trò ấy thể hiện trong nhiệm vụ tham mưu với các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân về những định hướng, giải pháp thực hiện có hiệu quả công tác văn hóa thông tin cấp mình phụ trách Trong việc tổ chức hướng dẫn và triển khai các chủ trương, đường lối, chính sách về văn hóa của cấp trên đến từng địa bàn cơ sở, nhất là các chính sách về đại đoàn kết dân tộc, chính sách phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng Tổ chức tuyên truyền và duy trì thường xuyên các hoạt động của thiết chế văn hóa, thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia sáng tạo, phổ biến
và hưởng thụ các giá trị văn hóa Tổ chức hội nghị sơ, tổng kết và thi đua khen thưởng trong phạm vi địa bàn một cách kịp thời Lên kế hoạch trang bị những phương tiện phục vụ cho các phong trào hoạt động, xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc Khuyến khích các cá nhân chủ động thâm nhập cộng đồng, tìm hiểu phong tục, tập quán và tâm lý địa phương, gây dựng, tạo nền móng cho phong trào từ cơ sở, từ bản thân những người chủ di sản
Nói một cách tổng quát, vai trò NTCQ trong công tác lãnh chỉ đạo việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thể hiện qua sự tổ chức, hoạt động một cách đồng bộ của các thiết chế văn hóa Qua sự phân công, phân nhiệm, liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa vai trò “tập thể lãnh đạo” và “cá nhân phụ trách” Qua sự điều chỉnh các xu hướng lệch lạc, loại bỏ những hủ tục, đảm bảo sự hài hòa giữa truyền thống với hiện đại trong xây dựng và phát triển văn hóa của các chủ thể
1.2.2 Vai trò nhân tố chủ quan thể hiện trong tính chủ động, sáng tạo của quần chúng nhân dân giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, chúng ta đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý điều hành của Nhà nước và các đoàn thể nhân dân xây dựng môi trường văn hóa, hỗ trợ, tổ chức các lực lượng vật chất và tinh thần cần thiết, tạo điều kiện cho quần chúng nhân dân
Trang 39phát huy vai trò chủ động sáng tạo của mình trong các lĩnh vực văn hóa - xã hội Nhưng chủ nhân thực sự của nền văn hóa dân tộc trong mọi thời đại là quần chúng nhân dân, họ vừa là người sáng tạo ra các giá trị văn hóa, vừa là người hưởng thụ, lưu truyền, gìn giữ những giá trị văn hóa đó Tính tích cực sáng tạo của quần chúng nhân dân gắn bó chặt chẽ với quá trình lao động sản xuất, với những nhu cầu và lợi ích vật chất của họ Do vậy, sự sáng tạo của quần chúng nhân dân chính là nhân tố cơ bản của sự tồn tại và phát triển của
xã hội Đề cập đến vấn đề này Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh đã nói:
Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo Nhưng quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội Quần chúng còn là những người sáng tác nữa… Những câu tục ngữ, những câu
vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng [32, tr.250]
Quần chúng nhân dân sáng tạo văn hóa bằng chính cuộc sống của mình Các giá trị văn hóa được hình thành trong lao động sản xuất, trong văn học nghệ thuật, trong tín ngưỡng, trong phong tục tập quán (ăn, ở, mặc, ngôn ngữ…) và được lưu truyền từ đời này qua đời khác Mỗi con người, mỗi gia đình đều có thể
là nơi chứa đựng những giá trị nhân văn của xã hội, là nơi bảo vệ, lưu truyền những giá trị nhân bản của con người Nhưng tính tích cực của quần chúng nhân dân trong các hoạt động văn hóa tinh thần không phải lúc nào cũng hàm chứa những yếu tố tiến bộ; cùng với quá trình sáng tạo, gìn giữ, lưu truyền những giá trị văn hóa mang ý nghĩa nhân văn thì những tư tưởng phong kiến, những yếu tố phi văn hóa, phản tiến bộ, những hủ tục cũng len lỏi đâu đó trong đời sống cộng đồng Do vậy, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, trở thành mục tiêu và động lực để phát triển kinh tế xã hội thì vai trò của đội ngũ trí thức đặc biệt quan trọng Nghị quyết Trung ương năm (khoá VIII) khẳng định:
“Đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa” [10, tr.57]
Sự hiện diện của đội ngũ trí thức trong sáng tạo văn hóa như là một biểu hiện của chất lượng cuộc sống Những phát minh khoa học, những công trình
Trang 40nghệ thuật, những sáng tác văn học, những sản phẩm lao động của đội ngũ trí thức thực sự quan trọng trong diện mạo tinh thần của mỗi quốc gia Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế tri thức như hiện nay, với những thiên chức riêng của mình, đội ngũ trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng giữ vững nền tảng tinh thần của xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa Xuất thân từ nhân dân, và là người hoạt động trí tuệ, có chức năng chủ yếu
là sáng tạo những giá trị tinh thần cho xã hội, nên ảnh hưởng của lực lượng trí thức đến quần chúng nhân dân là rất lớn Bằng những sáng tạo văn hóa, người trí thức có thể chuyển tải trong đó những tư tưởng, đạo đức, lối sống, những quan niệm tín ngưỡng, những triết lý nhân sinh đến quần chúng nhân dân Họ là lực lượng nòng cốt, là chủ thể trong toàn bộ quá trình tích hợp sức mạnh nội sinh, tiếp nhận, phát huy những tinh hoa văn hóa nhân loại, giữ gìn và phát triển văn hóa, có thể hướng công chúng đến cách nhìn tốt đẹp, nhân bản trong cuộc sống tinh thần Nhưng dù quan trọng như thế nào thì đội ngũ trí thức cũng từ nhân dân
mà ra, và họ không thuần nhất về trình độ và cảm quan nên khi tác động đến đời sống tinh thần họ bộc lộ cả mặt tích cực và tiêu cực
Nhìn chung, những yếu tố tích cực của quần chúng nhân dân biểu hiện trong quá trình phát triển kinh tế, ổn định chính trị và đặc biệt trong sáng tạo văn hóa Họ lao động, sáng tạo vì chính nhu cầu vật chất và mong muốn được thỏa mãn đời sống tinh thần của chính mình; nhu cầu hưởng thụ văn hóa càng cao, càng kích thích nhu cầu sáng tác, tăng sức sáng tạo của quần chúng nhân dân lao động Nhưng để phát huy vai trò và tính sáng tạo của trí thức, của quần chúng nhân dân trong phát triển xã hội, trong sáng tạo, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Đòi hỏi Đảng, nhà nước và các đoàn thể nhân dân phải nâng cao trình độ lý luận, bám sát thực tiễn, xây dựng môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa do con người và vì con người Quan tâm đúng mức, thỏa đáng đến đội ngũ trí thức, có chính sách thu hút, đãi ngộ hiền tài, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho đội ngũ cán bộ Phổ biến, tuyên truyền các chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và nhà nước đến quần chúng nhân dân, đảm bảo cho họ có