1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mưu sinh của thanh niên dân tộc mường tỉnh hòa bình

217 282 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 2,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 Mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường đang có những biến đổi mạnh mẽ, có sự đan xen tác động giữa các yếu số kinh tế và văn hóa.. nhưng cũng không thể thiếu các yếu tố tác động từ văn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1 GS TS ĐẶNG CẢNH KHANH

2 PGS TSKH TRỊNH THỊ KIM NGỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi; các số liệu nêu trong luận án tiến sĩ là trung thực Những kết luận khoa học luận án tiến sĩ của tôi chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ

Nguyễn Phú Trường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới GS.TS Đặng Cảnh Khanh và PGS.TSKH Trịnh Thị Kim Ngọc đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận án này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, các cô là giảng viên của khoa Dân tộc học

và Nhân học, Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; các lãnh đạo và đồng nghiệp trong cơ quan Trung ương Đoàn, Ban Thường

vụ tỉnh Đoàn Hòa Bình; lãnh đạo, bà con nhân dân và các bạn thanh niên các huyện Kim Bôi, Lương Sơn, Cao Phong của tỉnh Hòa Bình đã hỗ trợ, giúp đỡ cũng như tạo điều kiện và cung cấp các tư liệu quý giá để tôi thực hiện luận án này

Hà Nội , ngày tháng 5 năm 2017 TÁC GIẢ

Nguyễn Phú Trường

Trang 5

NXB: Nhà xuất bản GS.TS: Giáo sư tiến sĩ HND: Hội nông dân HPN: Hội phụ nữ HĐND: Hội đồng nhân dân PGS.TS: Phó giáo sư tiến sĩ PVS: Phỏng vấn sâu THCS: Trung học cơ sở THP: Trung học phổ thông TN: Thanh niên

TNCS: Thanh niên cộng sản TSKH Tiến sĩ khoa học UBND: Ủy ban nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa VAC: Vườn ao chuồng

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU, BIỂU ĐỒ

Trang

Bảng 2.1: Dân số Hòa Bình từ 2011 – 2015 42

Bảng 2.2: Dân số tại các huyện thuộc địa bàn nghiên cứu 42

Bảng 2.3: Nguồn nhân lực trẻ từ 10 - 34 tuổi của một số dân tộc 43

Bảng 2.4: Lực lƣợng lao động từ 15 tuổi trở nên 43 Bảng 2.5: Số lƣợng học sinh, sinh viên 46

Bảng 3.1: Số trang trại tại địa bàn nghiên cứu 95

Biểu đồ 2.1: Những lựa chọn quan trọng nhất của thanh niên 44

Biểu đồ 2.2: Trình độ học vấn của thanh niên 47

Biểu đồ 2.3: Tự đánh giá về sức khỏe của thanh niên 48

Biểu đồ 2.4: Mức độ tập thể dục thể thao của thanh niên 48

Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ hút thuốc của nam thanh niên 49

Biểu đồ 2.6: Tỷ lệ uống bia rƣợu của thanh niên 50

Biểu đồ 2.7: Thực trạng nghề nghiệp thanh niên 50

Biểu đồ 2.8: Cơ cấu nghề nghiệp của thanh niên 51

Biểu đồ 2.9: Thành phần chủ sở hữu lao động 54

Biểu đồ 2.10: Tình trạng hợp đồng lao động của thanh niên 55

Biểu đồ 2.11 Tình trạng đƣợc đào tạo nghề của thanh niên 55

Biểu đồ 2.12 Nghề đƣợc đào tạo của thanh niên 56

Biểu đồ 2.13 Thời gian đào tạo nghề của thanh niên 56

Trang 7

Biểu đồ 2.19 Mức thu nhập của thanh niên 61

Biểu đồ 2.20 Ý định thay đổi việc làm chính của thanh niên 62

Biểu đồ 2.21 Lý do muốn đổi nghề của thanh niên 63

Biểu đồ 2.22 Sự hài lòng của thanh niên về công việc 64

Biểu đồ 2.23 Tỷ lệ vay vốn của thanh niên 65

Biểu đồ 2.24 Lý do vay vốn của thanh niên 66

Biểu đồ 2.25 Nguồn vay vốn của thanh niên 67

Biểu đồ 2.26 Nguồn thông tin về đào tạo, nghề nghiệp cho thanh

Biểu đồ 2.27 Nguồn trợ giúp thanh niên để học nghề, lập nghiệp 69

Biểu đồ 2.28 Các hoạt động hỗ trợ sản suất cho thanh niên 71

Biểu đồ 4.1 Tương quan nhu cầu lao động và nghề nghiệp của

Biểu đồ 4.2 Các hành vi sau khi uống rượu của thanh niên 129

Biểu đồ 4.3 Sự chấp nhận đi xa để mưu sinh của thanh niên 131

Trang 8

MỤC LỤC

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ

LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 2: KHẢ NĂNG MƯU SINH CỦA THANH NIÊN

2.1 Nhận thức và nhu cầu về mưu sinh của thanh niên

2.2.Trình độ học học vấn của thanh niên

44

45

2.5 Điều kiện vốn tài chính của thanh niên

2.6 Điều kiện vốn thông tin của thanh niên

60

67

Chương 3: THỰC TRẠNG MƯU SINH CỦA THANH NIÊN

3.1 Mưu sinh của thanh niên giai đoạn trước Đổi mới 74

3.2 Mưu sinh của thanh niên giai đoạn từ Đổi mới đến nay 89 CHƯƠNG 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ NHỮNG

KHUYẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI MƯU SINH CỦA

4.3 Một số khuyến nghị, giải pháp về mưu sinh của thanh niên trong

giai đoạn hiện nay

131

Phụ lục

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong mỗi cộng đồng quốc gia, dân tộc, thanh niên luôn là nhóm xã hội được

ưu tiên và chiếm vai trò quan trọng Thanh niên Việt Nam là lực lượng xã hội hùng hậu, có đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Chủ tịch Hồ Chí Minh khi viết về thanh niên đã chỉ rõ: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà,…nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn

là do các thanh niên” [47] Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm chăm lo thanh niên và công tác thanh niên, Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo” [21]

Nhiều nghiên cứu gần đây tiếp tục khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của thanh niên Việt Nam như năng động, sáng tạo, yêu lao động… đồng thời cũng chỉ không ít hạn chế như: học vấn của một bộ phận thanh niên còn thấp, đa phần thanh niên thiếu kiến thức và kỹ năng hội nhập; năng lực thực hành, khởi nghiệp sau đào tạo của thanh niên còn yếu

Hòa Bình là một tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện kinh tế còn khó khăn, với dân số khoảng gần 1 triệu và 13 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Mường chiếm trên 60% Với tiềm năng số lượng đông, giàu sức sống, ngày càng có tri thức và học vấn tốt hơn, thanh niên là động lực quan trọng đối với sự phát triển của Hòa Bình Tuy nhiên do điều kiện phát triển kinh tế xã hội còn khó khăn, thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình còn hạn chế trên nhiều mặt về trình độ học vấn, kỹ năng

và các điều kiện tiếp cận việc mưu sinh, lập nghiệp

Trang 10

2

Mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường đang có những biến đổi mạnh mẽ,

có sự đan xen tác động giữa các yếu số kinh tế và văn hóa Trong khi phần lớn thanh niên có khát vọng và ước muốn vươn lên làm giàu, vẫn có một bộ phận đáng

kể thanh niên mong ước duy trì một cuộc sống bình yên với những công việc không cần đầu tư nhiều nỗ lực, có mức thu nhập vừa phải Trong làn sóng thanh niên di cư

ra các khu đô thị tìm kiếm việc làm hay xuất khẩu lao động ra nước ngoài vẫn có

bộ phận ngại ngần, mang tâm lý ở lại bám trụ quê hương cho dù rất thiếu các cơ hội việc làm Cùng với nhịp sống ngày càng trở nên năng động, mang tính công nghiệp vẫn tồn tại trong một bộ phận thanh niên những hạn chế của thói quen làm việc tùy tiện, thiếu kỷ luật, thiếu tính tổ chức

Mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường có thể được nhìn theo chiều dọc như một sự kết nối tự nhiên giữa quá khứ, hiện tại và tương lai nhưng cũng có thể được nhìn ở những lát cắt ngang, nơi đó có sự đan xen ảnh hưởng của các yếu tố như sức khỏe, tri thức, vốn, cơ chế chính sách nhưng cũng không thể thiếu các yếu tố tác động từ văn hóa như thói quen, tập tục, định hướng giá trị Với ý nghĩa như vậy, luận án muốn tìm hiểu mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình từ góc độ nhân học, trong mối liên hệ giữa các yếu tố phát triển kinh tế với văn hóa trong các điều kiện thay đổi về địa lý, giao thương gắn với nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân Hòa Bình đang cố gắng xây dựng một tỉnh miền núi Tây Bắc phát triển tương xứng tiềm năng

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ thực trạng mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình đồng thời chỉ ra sự biến đổi trong phương thức mưu sinh của họ qua những giai đoạn từ trước Đổi mới và từ Đổi mới đến nay Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận

án đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm tạo điều kiện tốt hơn trong việc

Trang 11

3

mưu sinh lập thân lập nghiệp cho thanh niên dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu thì luận án có những nhiệm vụ như sau:

- Khái quát những vấn đề lý luận về mưu sinh của thanh niên nói chung và thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình nói riêng

- Khảo sát thực trạng mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình

từ trước và sau giai đoạn Đổi mới (1986) cho đến nay

- Đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm hỗ trợ thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình mưu sinh, tham gia phát triển kinh tế xã hội địa phương

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các hoạt động mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi không gian nghiên cứu: của luận án tập trung tại 3 huyện là

Kim Bôi, Cao Phong và Lương Sơn, đều là những vùng đất Mường cổ, lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, tập tục, phương thức mưu sinh truyền thống của người Mường tỉnh Hòa Bình Các địa phương trên đang có sự đổi mới về phương thức sản xuất kinh tế, trong đó Kim Bôi tập trung vào nông nghiệp và du lịch, Cao Phong tập trung vào đổi mới cây, con, giống và mô hình sản xuất nông nghiệp còn Lương Sơn, giáp ranh với đô thị Xuân Mai của Hà Nội đang có sự chuyển hướng mạnh sang du lịch, dịch vụ và công nghiệp Những định hướng và thay đổi như vậy có tác động mạnh mẽ đến vấn đề mưu sinh của thanh niên

3.2.2 Phạm vi thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các hoạt

động mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường qua hai giai đoạn trước Đổi mới và

từ Đổi mới (1986) trở lại đây Tuy nhiên nghiên cứu sẽ tập trung sâu vào giai đoạn

Trang 12

4

từ sau Đổi mới đến nay để xem xét hoạt động mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường trong bối cảnh Đổi mới, phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Đáp ứng mục tiêu và căn cứ chuyên ngành đào tạo, luận án sử dụng đồng thời nhiều phương pháp khác nhau của khoa học xã hội, lấy phương pháp tiếp cận Dân tộc học/Nhân học làm trọng tâm Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được áp dụng trong quá trình hoàn thành luận án:

4.1 Phương pháp điền dã dân tộc học

Phương pháp điền dã dân tộc học được sử dụng nhằm thu thập các tài liệu thực địa với nhiều phương pháp cụ thể Đây là một hệ thống các phương pháp bộ phận, triển khai trong quá trình ba cùng với người dân (cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc), bao gồm quan sát, quan sát tham dự, phỏng vấn hồi cố, phỏng vấn đương đại, đo đạc, chụp ảnh…

- Quan sát: Mục đích nhằm hình dung được cảnh quan, điều kiện tự nhiên, đặc

điểm cư trú, hệ thống sản xuất, buôn bán, lối sống sinh hoạt nhằm thu thập những thông tin ban đầu về đối tượng nghiên cứu để xác định chính xác hơn những mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, đồng thời bao quát được các nội dung nghiên cứu cơ bản, trên cơ sở đó góp phần nhận biết và chọn lọc các thông tin khác nhau trong quá trình nghiên cứu thực địa

- Quan sát tham dự: Với mục đích trải nghiệm bối cảnh nghiên cứu thông qua

các kinh nghiệm trực tiếp của cá nhân tại thực địa như quan sát tham dự vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, mưu sinh của thanh niên Nghiên cứu sinh có thể chứng kiến được các hoạt động lao động, sản xuất một cách chân thực nhất, đồng thời thiết lập được mối quan hệ thân thiết với cộng đồng và đối tượng nghiên cứu giúp cho việc thu thập những thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động mưu sinh của thanh niên

Trang 13

5

- Phỏng vấn sâu: là kỹ thuật quan trọng được sử dụng để thu thập các thông

tin cơ bản nhất của đề tài Với đối tượng nghiên cứu là những hình thức mưu sinh của thanh niên, đề tài lựa chọn đối tượng phỏng vấn là những thanh niên trong độ tuổi, giới tính và nghề nghiệp khác nhau, qua đó có thể tìm hiểu vấn đề mưu sinh của thanh niên từ nhiều góc độ Bên cạnh đó, tác giả luận án cũng tiến hành phỏng vấn sâu các đối tượng người dân có tác động đến vấn đề mưu sinh của thanh niên như cha mẹ, thầy cô, chức sắc tôn giáo, lãnh đạo chính quyền tại địa phương để làm rõ những định hướng, yếu tố tác động đến vấn đề mưu sinh của thanh niên Tác giả luận án đã lựa chọn phỏng vấn sâu 40 thanh niên và người dân trong các độ tuổi khác nhau ở các xã Đông Phong, huyện Cao Phong; xã Tân Vinh, Hòa Sơn, huyện Lương Sơn; xã Thượng Bì, Hạ Bì, Kim Tiến huyện Kim Bôi

4.2 Phương pháp kế thừa các loại lài liệu sẵn có

Phương pháp phân tích tài liệu, bao gồm đọc và kế thừa kết quả nghiên cứu từ các công trình sách, tạp chí đã xuất bản; kết quả các chương trình, dự án nghiên cứu do các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế thực hiện; tài liệu thống kê, các báo cáo của địa phương Khi áp dụng phương pháp này, tác giả luận án cố gắng thận trọng trong việc phân tích và xử lý các tài liệu có sẵn, vì đây là tài liệu thứ cấp, chỉ có ý nghĩa tham khảo, nhất là các tài liệu thống kê ở vùng dân tộc, như các tài liệu về diện tích, năng suất, tài sản hộ gia đình, tỷ lệ nghèo đói… Vì vậy khi sử dụng phải đối chiếu, so sánh và kiểm tra chéo bằng các tài liệu cấp 1 thu được trên thực địa

4.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được sử dụng nhằm thu thập thông tin thực tế về thực trạng mưu sinh hiện nay của thanh niên dân tộc Mường Địa bàn khảo sát được chọn là 3 xã Thượng Bì, Hạ Bì, Kim Tiến thuộc huyện Kim Bôi, xã Đông Phong thuộc huyện Cao Phong và các xã Tân Vinh, Hòa Sơn huyện Lương Sơn Các xã được chọn tiến hành nghiên cứu là những xã có đông người Mường

Trang 14

6

nhất của huyện Đối tượng được khảo sát bao gồm những thanh niên từ 16 đến 30 tuổi và một số người dân được lựa chọn ngẫu nhiên Số lượng bảng hỏi là 300 bảng trong đó 225 bảng dành cho thanh niên và 75 bảng dành cho người trưởng thành

4.4 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình thực hiện luận án, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia cũng được sử dụng nhằm thẩm định các lập luận, giải thiết nghiên cứu và các nội dung nghiên cứu Tác giả luận án đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học về công tác thanh niên, công tác dân tộc tại Trung ương Đoàn, Ủy ban Dân tộc Tại Hòa Bình, luận án đã có sự tham khảo ý kiến cán bộ, lãnh đạo địa phương như lãnh đạo tỉnh Đoàn/huyện đoàn/xã đoàn, lãnh đạo Sở Nội vụ phụ trách Phòng Thanh niên; lãnh đạo UBND huyện/xã phụ trách kinh tế, cán bộ Trung tâm dạy nghề, giới thiệu việc làm, đại biểu Quốc hội tỉnh

5 Đóng góp mới của luận án

Đề tài “Mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình” có những

đóng góp mới sau:

Đây là công trình nghiên cứu về mưu sinh gắn với một nhóm đối tượng đặc thù là thanh niên dân tộc Mường tại tỉnh Hòa Bình Nếu như trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về mưu sinh, về thanh niên hay nhiều khía cạnh khác trong đời sống văn hóa, kinh tế xã hội của Hòa Bình, thì công trình này đi sâu nghiên cứu

về mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường dưới góc độ nhân học, xem xét sự biến đổi mưu sinh của thanh niên qua thời gian cũng như qua tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa địa phương Vì vậy luận án góp phần vào việc:

- Cung cấp cho ngành nhân học và các ngành liên quan nguồn tư liệu mới về mưu sinh của một nhóm dân số gắn với những đặc thù riêng về độ tuổi, dân tộc và khu vực sinh sống Vẽ lên bức tranh về mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình trong sự biến đổi từ trước và sau Đổi mới cho đến nay

Trang 15

7

- Góp thêm tư liệu vào các nghiên cứu về thanh niên, vai trò và những giải pháp phát huy thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Góp phần đánh giá mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế với văn hóa, sự biến đổi từ truyền thống đến hiện tại và định hướng tương lai thể hiện qua sự lựa chọn, tham gia các hoạt động mưu sinh của thanh niên

- Nhìn nhận đánh giá các đặc điểm văn hóa tộc người có ảnh hưởng tích cực

và chưa tích cực đến quá trình biến đổi trong hoạt động mưu sinh, tiếp nhận khoa học kỹ thuật trong mưu sinh của thanh niên

- Vận dụng phương pháp tiếp cận liên ngành giữa dân tộc học, xã hội học để làm nổi bật thực trạng, những biến đổi của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình trong tham gia các hoạt động mưu sinh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa lý luận: Luận án được nghiên cứu dựa trên những cơ sở lý thuyết

quan trọng của ngành nhân học là Lý thuyết về khung sinh kế bền vững, Lý thuyết

Sinh thái văn hoá Cùng với đó là những quan điểm của Đảng, Nhà nước và Hòa

Bình về các vấn đề dân tộc, thanh niên, công tác dân tộc, công tác thanh niên, để phát huy thanh niên trong đó có thanh niên dân tộc thiểu số tham gia phát triển kinh

tế xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Kết quả luận án góp phần bổ sung cho các

lý thuyết và chủ trương, quan điểm trên

- Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp những luận cứ khoa học góp phần xây dựng và

thực hiện những cơ chế, chính sách đối với thanh niên, đặc biệt là thanh niên dân tộc Mường, cụ thể là của tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay

- Đề xuất một số kiến nghị khoa học nhằm thực hiện tốt hơn công tác chăm lo cho thanh niên, đặc biệt là là thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình, giúp khơi dậy tiềm năng, phát huy vai trò và sự đóng góp của thanh niên trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, xây dựng và phát triển đất nước

Trang 16

8

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm 4 chương sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Khả năng mưu sinh của thanh niên

Chương 3: Thực trạng mưu sinh của thanh niên

Chương 4: Một số vấn đề đặt ra và những khuyến nghị, giải pháp về mưu sinh của thanh niên

Trang 17

9

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT

VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Liên quan đến lịch sử nghiên cứu của đề tài, có 2 vấn đề cần tập trung làm

rõ, đó là tình hình nghiên cứu về hoạt động mưu sinh nói chung và nghiên cứu về hoạt động mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường nói riêng

1.1.1.Tình hình nghiên cứu về hoạt động mưu sinh

Khi nghiên cứu về kinh tế các tác giả A.Schultz và H.Lavenda đã sử dụng

những khái niệm “Phương cách sinh tồn” và “Phương thức mưu sinh” [100], cho

rằng con người tự tạo ra những phương thức sử dụng các mối quan hệ giữa họ với nhau và với môi trường tự nhiên để kiếm sống Sinh tồn là một từ thường dùng để chỉ việc thỏa mãn những nhu cầu vật chất thiết yếu nhất để tồn tại của con người, chủ yếu về thức ăn, quần áo và chỗ ở Những cách khác nhau mà con người ở các

xã hội khác nhau dùng để thỏa mãn những nhu cầu này được gọi là những

“Phương cách sinh tồn”

Mưu sinh hay còn gọi là sinh kế đã được giới thiệu trong các nghiên cứu của Robert Chambers vào giữa những năm 80 và sau đó được Chambers và Conway phát triển thêm vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX Theo hai nhà khoa học này, sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (gồm cả nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết như phương cách để sinh tồn Sinh kế là bền vững khi nó có thể giúp con người đối mặt, vượt qua sự căng thẳng và những thương tổn, bảo toàn hay tăng thêm các khả năng, các tài sản hiện tại và tương lai mà không hủy hoại nguồn tài nguyên tự nhiên là nền tảng của sự phát triển bền vững, không gây biến đổi môi trường sống

Trang 18

10

Năm 2003, tác giả Koos Neefies đã cho ra mắt cuốn “Môi trường và sinh kế: các chiến lược phát triển bền vững” Công trình này có những đề xuất thực tiễn

dựa trên các nghiên cứu điển hình được rút ra từ những kinh nghiệm phong phú của

tổ chức Oxfam về công tác phát triển và cứu trợ các cộng đồng bị lề hóa, cả ở nông thôn lẫn thành thị, ủng hộ các cuộc vận động của các tổ chức phát triển địa phương

và quốc tế, cải thiện việc soạn thảo và thực thi các chiến lược phát triển và tăng cường các dự án hoạch định, giám sát với sự tham gia, đánh giá tác động [102]

Ở Việt Nam, hoạt động mưu sinh là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như kinh tế học, xã hội học, dân tộc học/nhân học…Trong dân tộc học/ nhân học, mưu sinh được nhìn nhận dưới khía cạnh là hoạt động kinh tế của tộc người, là một thành tố của văn hoá tộc người

Trong những năm 60 của thế kỷ XX, đã có một số lượng đáng kể bài viết của tác giả mang tính chuyên đề về các hoạt động kinh tế của các dân tộc, đăng trên tạp chí và thông báo khoa học chuyên ngành Từ sau năm 1975, đất nước được thống nhất đã tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu các lĩnh vực đời sống, trong đó có kinh tế của các dân tộc thiểu số trên địa bàn cả nước Những nghiên cứu này tập trung vào các vấn đề như định canh định cư, sự chuyển đổi từ sản xuất

tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi Từ đó, bước đầu đưa ra những xu hướng, quan điểm trong vấn đề cải tạo

và phát triển trong sản xuất nông nghiệp vùng cao

Những năm cuối của thập niên 80 thế kỷ trước, nghèo đói được Chính phủ Việt Nam chính thức đặt ra như một vấn đề mang tính quốc gia cần được đối mặt

và giải quyết Theo đó, xu hướng tìm hiểu về thực trạng sinh kế với mục tiêu xóa đói giảm nghèo ngày càng nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học Cùng với nghèo đói, vấn đề kế thừa tri thức địa phương trong phát triển sinh kế cũng ngày càng được quan tâm trong những nghiên cứu về nông nghiệp và nông thôn Đã có một thời gian dài, kiến thức bản địa không được coi trọng trong phát triển sinh kế,

Trang 19

11

bị coi là lạc hậu và đang dần bị xói mòn Hiện nay, các tác giả đều chỉ ra rằng, sự tôn trọng tri thức tộc người mới có thể làm tăng tính hiệu quả cho các dự án phát triển nông thôn

Trong nghiên cứu ứng dụng hiện nay, qua tìm hiểu và đánh giá thực trạng sinh kế, các tác giả thường đi tới tiếp cận và phân tích các vấn đề có liên quan tới phát triển bền vững tộc người Không ít các chương trình, dự án giảm nghèo của các tổ chức phi chính phủ quốc tế như Ngân hàng phát triển Châu Á, Ngân hàng Thế giới các tổ chức phi chính phủ, các viện nghiên cứu lớn ở Việt Nam đã có những tài trợ hoặc nghiên cứu độc lập về các vấn đề nêu trên Kết quả của những nghiên cứu này cho thấy, mặc dù đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ từ các chính sách của Đảng và Nhà nước nhưng nền kinh tế ở các dân tộc thiểu số và miền núi nước ta đang phát cần thực hiện các giải pháp như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, tạo thị trường tiêu thụ nông sản ổn định, tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật

Năm 2001, tác giả Trần Bình đã cho ra mắt cuốn sách “Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam” và đến năm 2005 xuất bản thêm cuốn “Tập quán mưu sinh của các dân tộc thiểu số ở Đông Bắc Việt Nam” Từ cách

tiếp cận dân tộc học, trên cơ sở kết quả điền dã thực địa, tác giả đã làm rõ các hoạt động kinh tế, mưu sinh của người La Hủ, Si La, Xinh mun, Khơ mú, Thái ở vùng Tây Bắc và người Tày, Dao, Sán Chay, Hà Nhì, Cơ Lao… gắn với môi trường tự nhiên và xã hội tộc người sinh sống Từ đó, tác giả đã khẳng định hoạt động mưu sinh là một bộ phận quan trọng trong hệ thống các giá trị văn hóa tộc người Đồng thời phân tích được sự khác biệt và thế mạnh, môi trường tiềm năng giữa các vùng khác nhau, góp phần tìm hiểu được quá trình giao lưu kinh tế - văn hóa của các tộc người, vai trò của tộc người với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội [8], [9]

Năm 2005, nhóm tác giả Trần Đức Viên, Nguyễn Vinh Quang trong công

trình “Phân cấp trong quản lý tài nguyên rừng và sinh kế người dân”, là kết quả

Trang 20

12

nghiên cứu giữa Trung tâm Sinh thái Nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp I

Hà Nội với Viện Tài nguyên thế giới (WRI) đã chỉ ra quá trình thực hiện phân quyền trong quản lý tài nguyên rừng tại các cộng đồng được nghiên cứu; chỉ ra tác động của chính sách phân quyền đến sự thay đổi tài nguyên rừng ở các vùng khác nhau; xác định ảnh hưởng của chính sách phân quyền đến sinh kế của người dân địa phương và một số kiến nghị nhằm quản lý tốt hơn tài nguyên rừng [93] Năm

2008, các nghiên cứu liên quan tới chính sách đất đai và vấn đề sinh kế của người dân nông thôn như: sự phát triển của nông thôn và môi trường; các chính sách về đất đai cho người nghèo; ảnh hưởng của đô thị hoá đối với đời sống nông thôn…

còn được tập hợp trong công trình “Phát triển nông thôn bền vững - chính sách đất đai và sinh kế: Một số kết quả nghiên cứu 2004 – 2007” của các tác giả Võ Tòng

Xuân, Trần Thị Phương, Lê Cảnh Tùng [96]

Dự án nghiên cứu “Sinh kế của nhóm thanh niên vùng ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa” của tác giả Dương Chí Thiện đã đề cập đến những biến đổi

trong lựa chọn sinh kế của thanh niên ven đô Hà Nội khi chuyển rời từ chiến lược sinh kế dựa trên nông nghiệp sang chiến lược sinh kế dựa vào các hoạt động phi nông nghiệp tạo thu nhập cao hơn Tác giả phân tích mối quan hệ của bối cảnh sinh

kế chính là quá trình đô thị hóa với các yếu tố như thu hồi đất, xây dựng các khu thương mại đã tác động đến các nguồn vốn sinh kế của thanh niên như vốn tự nhiên, vốn tài sản, vốn tài chính, vốn con người, vốn xã hội, vốn thông tin qua đó tác động đến chiến lược và kết quả sinh kế của thanh niên [65]

Năm 2014, tác giả Nguyễn Văn Sửu trong công trình “Công nghiệp hoá, đô thị hoá và biến đổi sinh kế ở ven đô Hà Nội”, đã xác định rõ khái niệm sinh kế bền

vững, khung phân tích sinh kế khi nghiên cứu vấn đề biến đổi sinh kế ở làng Phú Điền và làng Gia Minh Tác giả chỉ rõ cơ hội thách thức và luận bàn gợi ý chính sách phát triển trong bối cảnh của công nghiệp hoá và đô thị hoá ở vùng ven đô Hà Nội [58]

Trang 21

13

Trước tầm quan trọng của việc nghiên cứu văn hoá mưu sinh, hay còn gọi là sinh kế của cộng đồng các tộc người thiểu số trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa để hướng tới phát triển bền vững, trong những năm gần đây chủ đề này được nhiều nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Dân tộc học/Nhân học, Văn hóa học lựa chọn làm nội dung nghiên cứu

Từ tiếp cận nhân học, Nguyễn Thị Tám với luận án “Sinh kế của cư dân các làng chài dọc sông Lô thuộc 2 tỉnh Tuyên Quang và Phú Thọ” đã đưa ra nhận diện

sinh kế truyền thống và tìm hiểu sự biến đổi trong sinh kế của cư dân các làng chài dọc sông Lô, tìm hiểu khả năng thích ứng của dân chài sông Lô trước sự biến đổi

của cuộc sống [59] Bùi Thị Bích Lan trong luận án “Hoạt động mưu sinh của người Kháng xã Chiềng Bôm huyện Thuận Châu” đã vận dụng lý thuyết sinh thái

học nhân văn đi sâu nghiên cứu về mưu sinh của người Kháng qua 2 giai đoạn trước và sau Đổi mới, qua đó đã chỉ ra những biến đổi của phương thức mưu sinh dưới những tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, cơ chế chính sách, với những nguồn lực như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người, nguồn lực xã hội, nguồn lực vật chất và nguồn lực tài chính đã dẫn đến những biến đổi về cây trồng vật nuôi, kết hợp tri thức bản địa với kiến thức khoa học công nghệ, nâng cao năng xuất nông nghiệp, hình thành thị trường hàng hóa đã dẫn đến những tác động sinh

kế bền vững, tác động đến văn hóa và môi trường sống [42]

Các nghiên cứu khác như luận án “Biến đổi sinh kế ở làng Gia Trung (huyện

Mê Linh, thành phố Hà Nội) trong tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa” của Phạm Thị Ngọc [51]; luận văn “Phương thức mưu sinh của nhóm người Đan Lai (Thổ) ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An” của Bùi Minh Thuận [70]; luận án “Biến đổi sinh kế của người Mường vùng lòng hồ thuỷ điện Hòa Bình ở nơi tái định cư” của Trịnh Thị Hạnh [30], luận án “Phương thức mưu sinh của người Mường ở xã Đồng Xuân, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” của Giang Thị Bình [7] đã đề

Trang 22

Định” đã tiếp cận theo hướng gắn kết khung sinh kế bền vững với yếu tố biến đổi

khí hậu để phân tích khả năng bị tổn thương của sinh kế ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu và chỉ ra cơ chế tác động, đưa ra bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững về kinh tế - xã hội - môi trường - thể chế và thích ứng với biến đổi khí hậu của sinh kế [69]

Nguyễn Thị Mỹ Vân trong luận án “Chính sách giao đất giao rừng và sinh

kế bền vững cho cộng đồng các dân tộc thiểu số ở vùng núi tỉnh Thừa Thiên Huế”

từ dữ liệu khảo sát thực tế tại các cộng đồng tộc người, gồm Kinh, Tà Ôi và Cơ Tu trên địa bàn 6 xã của huyện A Lưới, đã vẽ ra một bức tranh tương đối đầy đủ về quá trình triển khai chính sách giao đất giao rừng; mô tả và phân tích những điểm nổi bật nhất về sinh kế hiện nay của 4 tộc người trên địa bàn, đặc biệt là vấn đề nghèo đói, mất an ninh lương thực và suy giảm đất canh tác của các hộ gia đình[91]

Nguyễn Đức Hữu qua luận án “Sinh kế của người nông dân bị mất đất trong quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa: Nghiên cứu trường hợp tỉnh Hải Dương”

cũng đã sử dụng khung sinh kế bền vững của Bộ phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) làm cơ sở lý luận và phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu, phân tích mối quan hệ giữa việc thu hồi đất và các chính sách đền bù, hỗ trợ và tái định cư đối với sinh kế của người nông dân ở nông thôn Việt Nam, từ đó có các định hướng và cơ sở để giải quyết sinh kế của người dân khu vực nông thôn [34]

Nhìn chung, qua những nghiên cứu về hoạt động mưu sinh hiện nay, các tác giả đã thể hiện sự đổi mới trong cách tiếp cận cũng như phân tích vấn đề Bên cạnh

đó, việc đánh giá sinh kế bền vững từ góc độ phân tích vốn hay còn gọi là nguồn

Trang 23

Như vậy, ở những công trình trên, vấn đề mưu sinh của các nhóm dân cư, xã hội, các tộc người bước đầu đã được đề cập ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên, những phân tích, lý giải về hoạt động mưu sinh của thanh niên như một bộ phận đông đảo, quan trọng, giàu năng lượng, sức sống đang trực tiếp tham gia các hoạt động mưu sinh và có đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương, tộc người còn chưa thực sự được làm rõ Chính vì vậy, hướng nghiên cứu về mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình có thể được coi là có tính mới mẻ, có giá trị thực tiễn và cung cấp thêm nguồn tư liệu cho ngành Dân tộc học/nhân học

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về dân tộc Mường và mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình

Trang 24

16

Cho đến nay, Mường là một dân tộc thu hút được khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Nghiên cứu văn hóa Mường ở Việt Nam được các nhà nghiên cứu thực hiện từ rất sớm Ngay từ năm 1948, tác giả Jeanne Cuisiner đã

viết cuốn “Người Mường - địa lý nhân văn và xã hội học” (Viện Dân tộc học Pari,

1948) Đây là một trong những bộ sưu tập dân tộc học công phu và lớn nhất về người Mường cho đến nay Tác phẩm đề cập đến một số tục lệ: làm nhà, ăn uống, cưới xin, tang ma của người Mường [15] Tiếp nối những khám phá của Jeanne Cuisiner về văn hóa người Mường, các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng có những nỗ lực và đóng góp rất lớn để tạo nên những công trình công phu về tộc

người này Trong đó phải kể tới Từ Chi với “Cạp váy Mường” và “Vũ trụ luận người Mường”, được viết bằng hai thứ tiếng (Việt và Pháp) Tác phẩm “Cạp váy Mường” đã giới thiệu cho bạn đọc về các hoa văn trên cạp váy, quá trình tạo ra và

ý nghĩa của các hoa văn đó Còn trong tác phẩm “Vũ trụ luận người Mường”, tác

giả Từ Chi đã dẫn dắt người đọc đến với 12 ngày đêm trong lễ tang truyền thống của người Mường [13]

Năm 1978, Viện Dân tộc học Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam cũng đã

cho ra đời công trình nghiên cứu “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc)” Trong cuốn sách này, diện mạo đời sống của các dân tộc ít người Việt Nam

đã được trình bày một cách khái quát, trong đó đời sống của người Mường cũng được tìm hiểu và giới thiệu Cuốn sách được Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam bổ sung, chỉnh sửa và tái bản vào năm 2015 nhằm cung cấp một bức tranh đầy đủ hơn về văn hóa, kinh tế, xã hội của cộng đồng cư dân Mường trong truyền thống và quá trình biến đổi hiện nay Năm 1997, Trung tâm

Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia đã cho ra đời cuốn sách “Người Mường ở Việt Nam” Đây là kết quả của nhiều dự án nghiên cứu khoa học của các viện thuộc

Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia Việt Nam - Viện Dân tộc học, Viện Ngôn ngữ học Cuốn sách đã tìm hiểu và giới thiệu được mọi mặt của đời

Trang 25

17

sống văn hóa người Mường từ nguồn gốc, lịch sử cư trú tới các biểu hiện của văn hóa vật chất, tinh thần, xã hội của họ

Trong thời gian gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về người Mường, tập

trung vào lĩnh vực văn hóa, phong tục tập quán đã được xuất bản Cuốn sách “Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Huy (1997) đã đề

cập một cách khái quát về 54 dân tộc Việt Nam, trong đó có dân tộc Mường [35]

Tác phẩm “Tiếp cận với văn hoá Bản Mường: Nghiên cứu và tiểu luận”, của

Vương Anh (2001) đã giới thiệu một số đặc trưng trong cưới hỏi, trang phục, hội

hè, sử thi "Đẻ đất đẻ nước" của người Mường Thông qua đó, tác giả bàn luận tới

vấn đề bảo tồn và phát huy vốn văn hoá truyền thống, đổi mới các loại hình hoạt động văn hoá ở bản Mường; cũng như công tác quản lí nhà nước về văn hoá truyền

thống các dân tộc thiểu số [1] Trong “Đời sống văn hoá dân tộc Mường”, Phạm

Hổ Đấu và Trần Thị Liên (2011) đã giới thiệu khái quát về dân tộc Mường ở Việt Nam nói chung và ở Thanh Hoá nói riêng Các tác giả tập trung tìm hiểu về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc này đồng thời nêu lên vai trò của văn hoá truyền thống Mường xứ Thanh trong sự phát triển của văn hoá dân tộc [25]

“Văn hoá bản Mường Việt Nam” là công trình của Vũ Ngọc Khánh tìm hiểu về văn

hoá Mường Trong đó, tác giả tập trung làm rõ kho tàng văn hoá dân gian của tộc người này qua một số bình diện khác như luật tục, lễ hội và miêu tả một vài bản Mường trong cuộc sống hiện nay [40]

“Văn hoá người Mường huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình” do Hoàng Hữu Bình chủ biên (2009) [10], “Tri thức địa phương của người Mường trong sử dụng và quản lý tài nguyên” của Nguyễn Ngọc Thanh (2006) [61], “Điều tra cơ bản các dân tộc vùng Tây Bắc” (2006 – 2009) của Phạm Quang Hoan đã đưa ra những

phân tích rất sâu sắc về đời sống văn hóa, vốn tri thức địa phương cũng như những biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa của người Mường trong đó có người Mường tại tỉnh Hòa Bình [31] Tác giả Nguyễn Thị Song Hà, với rất nhiều nghiên

Trang 26

Trong nghiên cứu về thanh niên, đã nhiều công trình, chương trình dự án trong và ngoài nước tiếp cận nhóm đối tượng này từ nhiều góc độ như kinh tế, văn hóa, tham gia phát triển hay mưu sinh lập nghiệp Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam UNFPA thường niên có báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam, chỉ ra thực trạng về sức khỏe, giáo dục và đào tạo, nghề nghiệp và việc làm của thanh niên, các chính sách đối với thanh niên Viện Nghiên cứu Thanh niên thuộc Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh hàng năm hoặc theo từng nhiệm kỳ Đại hội Đoàn toàn quốc có những nghiên cứu đánh giá về thanh niên từ tư tưởng, tâm lý, các vấn

đề sức khỏe, nghề nghiệp việc làm, các phong trào thanh niên và cơ chế, chính sách đối với thanh niên Tuy nhiên những công trình nghiên cứu riêng về thanh niên dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Mường nói riêng còn rất hạn chế Năm 2002, tác

giả Đặng Cảnh Khanh trong cuốn sách “Nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số”

đã vẽ ra bức tranh khá toàn diện về nguồn nhân lực trong đó có phân tích sâu về trình độ học vấn chuyên môn, về cơ cấu nghề nghiệp, tình hình thể chất, sức khỏe, tình hình học tập lao động, về đời sống văn hóa tinh thần Trong bức tranh chung

đó cũng có những đề cập một cách tổng quan về thanh niên dân Mường như dân số, sức khỏe, tình hình học vấn, lao động việc làm [38]

Như vậy, giới nghiên cứu trong đó có dân tộc học Việt Nam đã cho ra đời nhiều công trình tìm hiểu về phong tục tập quán, các lĩnh vực đời sống văn hóa của dân tộc Mường Tuy nhiên, hầu như chưa có công trình nghiên cứu tổng thể về hoạt động mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường Do vậy luận án sẽ tập trung làm rõ vấn đề này

Trang 27

19

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Mưu sinh

Hiểu theo nghĩa thông thường “Mưu sinh” là những phương cách kiếm sống,

những hoạt động cần thiết của con người để đáp ứng được những nhu cầu về của

cải vật chất (nhà cửa, lương thực, quần áo ) nhằm duy trì cuộc sống Mưu sinh có

tác động mật thiết và có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đối với các thành tố khác như chính trị, văn hóa, xã hội…

Khi phân tích về khái niệm này, học giả Tôn Thu Vân (Trung Quốc) cho rằng một xã hội sinh tồn được phải thỏa mãn một loạt các nhu cầu của các thành viên trong đó – khống chế và quy phạm hành vi con người, đảm bảo an ninh xã hội, kết hôn nam nữ, nuôi dưỡng và giáo dục thế hệ sau, trong đó, quan trọng nhất là phải phát triển một bộ phương pháp có thể mưu cầu ăn, mặc và ở Để có thể duy trì

sinh tồn cần phải có sinh kế (subsistence) hoặc gọi là chiến lược sinh tồn (survive strategy); còn phương thức sinh kế là thủ đoạn mưu sinh của các quần thể nhân loại

áp dụng để thích ứng với các môi trường khác nhau [111]

Mưu sinh thường được sử dụng song hành các thuật ngữ “hoạt động kinh tế”, “sinh kế tộc người”, “phương thức mưu sinh”, “tập quán mưu sinh”, “văn hóa sản xuất”, hay “phương cách sinh tồn”… Nhìn chung khái niệm này được sử

dụng để chỉ chung các hoạt động sản xuất hay săn bắt, thu hái, trao đổi… nhằm tạo

ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở và sinh hoạt của con người, của từng hay các tộc người

Về mặt ngữ nghĩa, “mưu sinh” hay “hoạt động mưu sinh” của một tộc người

chính là cốt lõi của “kinh tế tộc người”, “hoạt động kinh tế tộc người” Các cụm từ

này thường được dùng trong nghiên cứu dân tộc học trước Đổi mới, chủ yếu nghiên cứu các vấn đề truyền thống còn trong các đề tài, dự án phát triển kinh tế - xã hội

và xóa đói giảm nghèo, nghiên cứu không chỉ những vấn đề truyền thống mà còn

Trang 28

20

những vấn đề hiện tại Tuy có chút khác biệt về sắc thái và cách sử dụng nhưng

nhìn chung, giữa thuật ngữ “hoạt động mưu sinh”, và các thuật ngữ “tập quán mưu sinh”, “hoạt động sinh kế”, “kinh tế tộc người”,… về cơ bản có sự tương đồng với

mục tiêu chung là nghiên cứu cách thức kiếm sống của con người, nhằm đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở và sinh hoạt

Trong luận án này, mưu sinh được hiểu là những cách thức, những phương cách kiếm sống, những hoạt động lao động sản xuất nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất: ăn, mặc, ở và sinh hoạt của con người, của cộng đồng và của các tộc người

1.2.1.2 Sinh kế

Thuật ngữ “sinh kế” (livelihood) từ lâu đã được sử dụng rộng rãi trên thế

giới Robert Champers được coi là một trong những người đầu tiên tiếp cận khái

niệm này vào những năm 80 thế kỷ trước Ông cho rằng “sinh kế” gồm năng lực,

tài sản, cách tiếp cận (dự trữ, tài nguyên, quyền sở hữu, quyền sử dụng) và các hoạt động cần thiết cho cuộc sống

Còn theo định nghĩa trong khung phân tích sinh kế bền vững của DFID thì

“sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống” [99] Đây là khái niệm được dùng phổ biến trong các nghiên cứu dân tộc học/nhân học cũng như trong các nghiên cứu

giảm nghèo ở nông thôn Tuy nhiên trong nhân học hiện nay, “sinh kế” là khái

niệm có thể hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau

Phần lớn các học giả nước ta đều quan niệm rằng “sinh kế” của một hộ hay

một cộng đồng bao gồm tập hợp các nguồn lực và khả năng con người, kết hợp với những quyết định và hành động mà họ thực hiện để đảm bảo nhu cầu kiếm sống

Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Sinh kế là việc làm để kiếm ăn, để mưu sống” [94]

Luận án sử dụng thuật ngữ theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt

1.2.1.3 Thanh niên

Trang 29

21

Thanh niên là một khái niệm được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Nó là một đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau Tùy theo nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên

Trong tiếng Anh, bộ từ điển Oxford giải thích mục từ “youth” (thanh niên)

như sau:“Là người trẻ tuổi, trong giai đoạn giữa tuổi thơ ấu và tuổi người lớn, hăng hái, nhiệt tình hoặc thiếu kinh nghiệm hoặc chỉ những đặc trưng khác của độ tuổi này Khi được dùng ở dạng số nhiều thì từ này chỉ tập hợp những người trẻ tuổi”

Theo “Từ điển Tiếng Việt” do Viện ngôn ngữ học công bố vào năm 2003 (in lần thứ 9, có sửa đổi, bổ sung) thì mục từ “Thanh niên” được giải thích như sau:

“Người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành” [94]

Theo Chiến lược phát triển Việt Nam đến năm 2010 do Thủ tướng Chính phủ ký phê duyệt kèm theo Quyết định số 70/2003/QĐ-TTg ngày 29-4-2003 thì thanh niên nước ta được cho là những công dân Việt Nam có độ tuổi từ 15 đến 34 Chỉ hai năm sau, Luật Thanh niên (Luật số 53/2003/QH11) được Quốc hội khóa XI

thông qua đã quy định tại Điều 1: “Thanh niên quy định trong luật này là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi” Đây cũng là điều được ghi nhận trong Điều 1,

mục 2 của Điều lệ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2012)

Tùy theo góc độ tiếp cận của mỗi ngành khoa học mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên

Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn xác định

trong quá trình tiến hoá của cơ thể, trong đó thấy rõ sự cường tráng về thể lực, sự phát triển về trí tuệ, sự trưởng thành về sinh dục, tính dục

Các nhà tâm lý học lại thường nhìn nhận thanh niên gắn với những quy luật

biến đổi, phát triển tâm lý lứa tuổi và thế hệ như sự phát triển khả năng phân tích và

Trang 30

22

suy luận, ham thích cái mới, sự hăng say hoạt động và sáng tạo, sự tự khẳng định,

tự ý thức

Các nhà xã hội học lại xem thanh niên là một giai đoạn xã hội hoá cá nhân,

giai đoạn tiếp thu các giá trị xã hội để hình thành nhân cách; là thời kỳ chuyển tiếp

từ tuổi thơ phụ thuộc sang giai đoạn xác lập vai trò cá nhân qua các hoạt động độc

lập, từng bước hình thành ý thức trách nhiệm công dân, chuẩn bị và tự nâng cao kiến thức để lao động, cống hiến

Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên chủ yếu được nhìn nhận là lực lượng lao

động xã hội hùng hậu, là nguồn lực thường xuyên bổ sung cho đội ngũ lao động trên mọi lĩnh vực, là bộ phận quan trọng cấu thành lực lượng sản xuất, rất năng động, nhạy cảm, gắn bó với tiến trình phát triển xã hội với tư cách là lớp người xung kích, đi đầu trong cuộc đấu tranh sáng tạo ra xã hội mới

Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, truyền thống… mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau Nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 14 hoặc 15 Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là 30 và cũng có nước cho đó là tuổi 40 Nhưng xu thế chung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổi thanh niên

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, khái niệm "thanh niên" được hiểu là

lực lượng tham gia hoạt động mưu sinh bao gồm những những người từ 16 tuổi đến

30 tuổi, hiện đang có việc làm hoặc thất nghiệp

1.2.2 Cơ sở lý thuyết

1.2.2.1 Lý thuyết về khung sinh kế bền vững

Hiện nay, lý thuyết về sinh kế bền vững của DFID (Bộ phát triển quốc tế Anh) đang được ứng dụng ở nhiều nước trên thế giới Lý thuyết này được coi là một cách tiếp cận toàn diện trong phân tích về sinh kế và đói nghèo Theo đó, các yếu tố hợp thành sinh kế gồm: (1).Các ưu tiên mà con người có thể nhận biết được;

Trang 31

23

(2).Các chiến lược mà họ lựa chọn để theo đuổi các ưu tiên đó; (3).Các thể chế, chính sách, và tổ chức quyết định đến sự tiếp cận của họ đối với các loại tài sản hay

cơ hội và các kết quả mà họ thu được; (4) Các tiếp cận của họ đối với năm loại vốn

và khả năng sử dụng hiệu quả các loại vốn mình có; (5) Bối cảnh sống của con người, bao gồm các xu hướng kinh tế, công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ [99]

Luận án sử dụng lý thuyết về khung sinh kế bền vững để nghiên cứu về sinh

kế của thanh niên dân tộc Mường từ khi Đổi mới đến nay dưới góc độ sở hữu và

tiếp cận các loại Nguồn vốn sinh kế hay còn gọi là Nguồn lực mưu sinh Theo lý thuyết này, con người dựa vào vốn (capital) để đảm bảo an ninh sinh kế hay giảm nghèo Quan điểm mà DFID công bố vào năm 1999, 5 loại đó là: vốn vật chất (physical capital), vốn tài chính (financial capital), vốn xã hội (social capital), vốn con người (human capital) và vốn tự nhiên (natural capital) Hiện nay, quan điểm

về sự phân chia 5 nguồn vốn của DFID nhận được sự quan tâm, chia sẻ và được coi

là cơ sở để các nhà nghiên cứu, các tổ chức trong nước và trên thế giới làm công tác phát triển

Tương tự, Kooos Neefies, trong một nghiên cứu đã cho rằng, vốn sinh kế

“bao gồm các tài sản trừu tượng, có thể gọi là vốn con người, vốn xã hội, vốn tài chính, vốn vật thể và vốn thiên nhiên” [102] Theo tác giả, khái niệm vốn bao hàm

sự định giá một dự trữ của cải vô hình và hữu hình Một dự trữ là một đại lượng và

vốn là một đại lượng có đơn vị giá nhất định Không những thế, vốn còn là một đơn

vị biến chuyển từ loại hình vốn này sang loại hình vốn khác

Gần đây, một số nhà nghiên cứu nước ngoài còn đưa ra những quan điểm khác so với cách phân chia phổ biến nêu trên Ví dụ, 5 loại vốn mà Bebbington đưa

ra: vốn sản xuất (produced capital), vốn con người (human capital), vốn tự nhiên (natural capital), vốn xã hội (social capital) và vốn văn hóa (cultural capital) Một cách phân chia khác của Ian Scoones, nguồn lực sinh kế chỉ gồm 4 loại: vốn tự

Trang 32

24

nhiên, vốn kinh tế/tài chính, vốn con người và vốn xã hội [110] Như vậy, so với

định nghĩa của DFID và Kooos Neefies, thì Bebbington [97] không xem xét đến

vốn tài chính và vốn vật chất và thay vào đó là vốn sản xuất và vốn văn hóa, còn Ian Scoones thì loại bỏ loại hình vốn vật chất trong cách tiếp cận của mình Trên

thực tế, những loại hình vốn đã được các nhà nghiên cứu khái niệm hóa với mục đích phát triển những mô hình và lý thuyết nhằm nâng cao hiểu biết về sự tương tác giữa các quá trình xã hội và sự thay đổi của môi trường

Luận án này tham khảo lý thuyết về các nguồn vốn của DFID, một cách tiếp cận trong nghiên cứu về sinh kế đang được áp dụng phổ biến nhất hiện nay để lý giải những vấn đề liên quan đến biến đổi sinh kế và phát triển kinh tế bền vững của thanh niên dân tộc Mường trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay Theo đó, nguồn lực mưu sinh bao gồm những nguồn lực cụ thể do con người tạo nên, sử dụng, duy dưỡng, cải thiện nhằm phục vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của con người

Đó được xem là những tài sản cần thiết, bao gồm tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, tiền mặt, vốn xã hội và quan trọng hơn cả là vốn nhân lực (lao động, kỹ năng, kiến thức) Mỗi cá nhân thanh niên có thể có hoặc không có những nguồn vốn khác nhau trong khi theo đuổi các chiến lược sinh kế của họ

Trong luận án, tác giả áp dụng cách phân tích khung sinh kế bền vững tuy nhiên có những vận dụng riêng phù hợp với địa bàn, đối tượng và mục tiêu nghiên cứu của luận án

1.2.2.2 Lý thuyết Sinh thái văn hoá

Lý thuyết Sinh thái văn hoá xuất hiện vào thập niên giữa của Thế kỷ XX

Thuật ngữ Sinh thái văn hoá (Cultural ecology) do một số nhà nhân học người Mỹ khởi xướng, trong đó có J H Steward, tiếp nối và phát triển là M Beits, Andrew P Vayda, Roy A Rappaport,…

Lý thuyết Sinh thái văn hoá, giải thích mối quan hệ giữa môi trường sinh sống với văn hoá của các cư dân, các cộng đồng người và các tộc người, rõ nét là các cư

Trang 33

25

dân, cộng đồng và các tộc người sinh sống ở xã hội tiền công nghiệp hoặc ít chịu tác động của xã hội công nghiệp Môi trường tự nhiên hay môi trường cảnh quan được hiểu là tập hợp của nhiều điều kiện khác nhau, trong đó, chủ yếu là các điều kiện địa hình, đất đai, khí hậu, nguồn nước, rừng, động vật, thực vật và các tài nguyên thiên nhiên nói chung Văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn

bộ những sáng tạo của con người trong tiến trình lịch sử, với bốn thành tố chính là văn hoá mưu sinh, văn hoá xã hội, văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể

Triết lý căn bản và cốt lõi của lý thuyết sinh thái văn hóa là nền văn hoá, với những khía cạnh, những giá trị đặc trưng văn hóa của mỗi nhóm người, mỗi tộc người, mỗi quốc gia, rộng hơn, có thể là của mỗi khu vực trên thế giới hình thành, tồn tại và phát triển đều là kết quả của quá trình làm quen, thể nghiệm và thích nghi với điều kiện tự nhiên, với môi trường cảnh quan nơi cư trú Càng về quá khứ xa xưa, khi một cộng đồng người, một dân tộc ít chịu ảnh hưởng của các văn hoá lớn bên ngoài thì diện mạo, bản sắc văn hoá phụ thuộc chặt chẽ và phản ánh cảnh quan, môi trường địa lý và điều kiện tự nhiên mà con người sinh sống và phụ thuộc Nói cách khác, có mối quan hệ qua lại chặt chẽ và biện chứng giữa môi trường tự nhiên với xã hội và văn hoá Trong chừng mực nhất định, có thể nói, môi trường tự nhiên nào thì xã hội, văn hoá đó Thuyết sinh thái văn hoá quan tâm đến những đặc tính chung của các nền văn hóa cách xa nhau về địa lý, nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường trong sự biến đổi mang tính tiến hóa của văn hóa Lý thuyết sinh thái văn hoá hướng đến việc làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường từ quan điểm coi con người là chủ thể tồn tại thích ứng với môi trường thông qua văn hóa, đến lượt mình, văn hóa chịu tác động lớn của điều kiện tự nhiên, đặc biệt là của các loại tài nguyên môi trường do con người sử dụng Lý giải sự giống nhau giữa các nền văn hoá trong những khu vực khác nhau nhưng có môi trường giống nhau và cách thức khai thác môi trường giống nhau cũng là mục tiêu hướng đến của lý thuyết sinh thái văn hoá

Trang 34

26

Trong nghiên cứu sinh thái văn hoá, cần triển khai ba thao tác quan trọng Thứ nhất, chứng minh được tính đúng đắn của các kỹ thuật và phương pháp được người dân dùng để khai thác môi trường sống Thứ hai, xem xét những mô thức ứng xử văn hóa của con người liên quan đến việc sử dụng môi trường Thứ ba, đánh giá

khả năng tác động của những mô thức trên đối với các bình diện khác của văn hóa

Lý thuyết sinh thái văn hoá được áp dụng vào luận án này nhằm giải thích sự tồn tại và biến đổi của văn hóa mưu sinh trước năm 1986 so với hiện nay của thanh niên dân tộc Mường ở tỉnh Hoà Bình

Từ các lý thuyết trên, luận án xác lập khung lý thuyết nghiên cứu như sau:

* Khung Quá trình đổi mới:

Quá trình Đổi mới được khởi xướng từ năm 1986 đã mang lại nhiều thay đổi, với Hòa Bình và có tác động mạnh mẽ đến các điều kiện và khả năng mưu sinh của thanh niên, đó là:

Biến đổi văn hóa

Quá trình Đổi mới:

- Công nghiệp hóa

- Nhận thức và nhu cầu

- Trình độ học vấn

- Điều kiện sức khỏe

- Kỹ năng nghề nghiệp

- Vốn tài chính

- Vốn thông tin

- Vốn xã hội

Phương thức mưu sinh của thanh niên:

*Biến đổi trong các hình thức mưu sinh truyền thống:

- Nông nghiệp

- Tiểu thủ công nghiệp

* Xuất hiện các hình thức mưu sinh mới:

- Công nghiệp

- Buôn bán, du lịch dịch vụ

- Xuất khẩu lao động, đi làm ăn xa

Kết quả mưu sinh của thanh niên:

- Nâng cao năng xuất lao động

- Nâng cao thu nhập

- Giảm phụ thuộc thiên nhiên

- Mở rộng thị trường hàng hóa

- Tạo cơ hội cho thanh niên

Trang 35

- Sự thay đổi của quá trình sản xuất nông nghiệp, từ sản xuất nhỏ lẻ manh mún chuyển sang sản xuất lớn, sự xuất hiện các trang trại, các loại cây phục vụ nhu cầu thị trường

- Sự xuất hiện và tăng cường các ngành du lịch, dịch vụ tạo ra những điều kiện thuận lợi cũng như những ngành nghề mới đối với thanh niên

- Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước có những cơ chế chính sách

hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội cũng như thanh niên

- Những yếu tố này cơ bản tạo ra những điều kiện tích cực, kèm theo cả cơ hội và thách thức cho thanh niên trong tham gia mưu sinh

*Khung Biến đổi văn hóa:

Trong mưu sinh của thanh niên, bên cạnh các yếu tố kinh tế thì văn hóa cũng

có những tác động, đặc biệt là thanh niên các dân tộc thiểu số các yếu tố văn hóa càng trở nên có tác động mạnh mẽ, khát vọng làm giàu, phát triển kinh tế, mong muốn, định hướng giá trị, thang đo hạnh phúc có những tác động rõ rệt đến định hướng và hành vi mưu sinh của thanh niên Có những giá trị văn hóa tác động tích cực đến hành vi mưu sinh của thanh niên nhưng cũng có không ít các yếu tố có tác động tiêu cực, tạo rào cản với khả năng và điều kiện tham gia mưu sinh của thanh niên

* Khung Khả năng mưu sinh:

Vận dụng lý thuyết về khung sinh kế bền vững, kết hợp với kết quả khảo sát

và thực tế của thanh niên dân tộc Mường, khung khả năng mưu sinh của thanh niên được luận án chia thanh các yếu tố cụ thể như sau:

Trang 36

28

- Nhận thức và nhu cầu của thanh niên về mưu sinh

- Điều kiện sức khỏe của thanh niên

- Trình độ học vấn của thanh niên

- Kỹ năng nghề nghiệp của thanh niên

- Vốn tài chính của thanh niên

- Vốn thông tin của thanh niên

- Vốn xã hội của thanh niên

Các điều kiện trên là cơ sở tác động, quyết định đến lựa chọn các phương thức của thanh niên trong tham gia mưu sinh

* Khung phương thức mưu sinh:

Bao gồm 2 thành tố, trước hết là dưới sự tác động của quá trình Đổi mới, các điều kiện khả năng của mưu sinh của thanh niên dẫn đến những biến đổi trước hết ngay cả trong các hình thức mưu sinh truyền thống của người Mường như:

- Nông nghiệp

- Tiểu thủ công nghiệp…

Các hình thức, phương pháp sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trước kia được kế thừa nhưng cũng có những thay đổi mạnh mẽ Bên cạnh đó là sự xuất hiện những hình thức mưu sinh mới như:

- Công nghiệp

- Buôn bán, du lịch dịch vụ

- Xuất khẩu lao động, đi làm ăn xa

Trước và sau Đổi mới, mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình có nhiều biến đổi

* Khung kết quả mưu sinh:

Trên cơ sở những điều kiện và thay đổi trên, kết quả mưu sinh của thanh niên

người Mường tỉnh Hòa Bình có những thay đổi theo chiều hướng thuận lợi hơn:

- Nâng cao năng suất lao động

Trang 37

29

- Nâng cao thu nhập

- Giảm phụ thuộc thiên nhiên

- Mở rộng thị trường hàng hóa

- Tạo nhiều cơ hội hơn cho thanh niên

1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Khái quát về tỉnh Hòa Bình

1.3.1.1 Lịch sử hình thành và địa giới hành chính

Tỉnh Mường (nay là tỉnh Hòa Bình) được người Pháp thành lập ngày 22/06/1886, quan kinh lược Bắc Kỳ ký nghị định 85 cắt một phần các tỉnh Hưng Hóa, Sơn Tây, Hà Nội và Ninh Bình để thành lập tỉnh Mường Tỉnh lỵ tỉnh Mường

đặt tại chợ Bờ bên sông Đà, nên con gọi là tỉnh Bờ Sau cuộc tấn công bất ngờ của

Nghĩa quân Đốc Ngữ vào chợ Bờ đêm 29 rạng ngày 30/01/1891 Ngày 18/03/1891 thực dân Pháp hoảng sợ chuyển một bộ phận hành chính của tỉnh lỵ về xã Hòa Bình (châu Kỳ Sơn) phía bờ trái Sông Đà, đối diện với Phương Lâm, đến ngày 05/09/1896 hoàn tất việc di chuyển, tỉnh lỵ tỉnh Mường, tỉnh Bờ chuyển về đóng tại

thị xã Hòa Bình, từ đó tỉnh Mường được gọi là tỉnh Hòa Bình

Trải qua hơn 125 năm tồn tại và phát triển có nhiều biến động, thay đổi, điều chỉnh về địa giới hành chính Đến năm 2015, tỉnh Hòa Bình có diện tích tự nhiên là 4.596,4 km2, bao gồm 10 huyện, 1 thành phố, 210 đơn vị hành chính cấp xã (11 thị

trấn, 8 phường và 191 xã) [85]

Tỉnh Hoà Bình nằm trong giới hạn 20°19‟ - 21°08‟ vĩ bắc và 104°48‟ - 105°50‟ kinh đông, phía bắc giáp với tỉnh Phú Thọ, phía đông giáp với tỉnh Hà Tây (cũ), phía tây giáp với tỉnh Sơn La, phía nam giáp với tỉnh Ninh Bình, Hà Nam và

Thanh Hoá

Là cửa ngõ của vùng Tây Bắc tiếp giáp với đồng bằng sông Hồng ở cả ba hướng Bắc - Đông - Nam, thông qua nhiều tuyến giao thông đường thủy, đường bộ nối liền với các tỉnh Phú Thọ, Sơn La, Hà Nội, Hà Nam và Ninh Bình Phía Tây

Trang 38

30

Nam tiếp giáp với vùng núi phía tây Thanh Hóa, nơi mở đầu dãy núi Trường Sơn

Là đầu mối giao tiếp cửa ngõ Tây Bắc, Hòa Bình có vai trò quan trọng trong phát

triển kinh tế của vùng Tây Bắc nói riêng và cả nước nói chung

1.3.1.2 Điều kiện tự nhiên

Về địa hình, tỉnh Hòa Bình có đặc điểm nổi bật là chia cắt mạnh và dốc theo

hướng tây bắc – đông nam Các hệ núi kéo dài từ Lai Châu, Sơn La về Hòa Bình thấp dần xen kẽ các thung lũng tạo nên các vùng ruộng lúa tập trung tương đối rộng lớn, các dải ruộng bậc thang thích hợp với canh tác cây màu lương thực, cây công nghiệp và cây ăn quả Các vùng núi cao thích hợp cho việc hình thành kinh tế đồi rừng Núi rừng Hòa Bình có địa thế, địa hình khá hiểm trở, chia thành hai tiểu vùng

rõ rệt Các vùng thung lũng các dải đồi tương đối thấp, có điều kiện khai hoang và tưới nước đã được khai thác trở thành những cánh đồng khu vực, các dải ruộng bậc thang từ lâu đời và ngày càng mở rộng trong canh tác nông nghiệp Các vùng đồi thấp có hướng phát triển thành những vùng đất canh tác cây màu lương thực, cây công nghiệp và cây ăn quả Các vùng đồi núi cao thích hợp cho kinh doanh phát triển nghề rừng Sự phân bố tài nguyên đất phù hợp với sản xuất nông, lâm nghiệp thủy sản trên địa bàn toàn tỉnh không đồng đều, các huyện vùng thấp có tỷ lệ đất nông nghiệp cao, trong khi các huyện vùng cao có tỷ lệ lại có tỷ lệ đất lâm nghiệp lớn hơn

Về khí hậu, tỉnh Hòa Bình thuộc khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với

mùa đông ngắn, lạnh, ít mưa, mùa hè dài, nóng, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 230C Khí hậu như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, trồng trọt đặc biệt là về trồng trọt cây công nghiệp dài và ngắn ngày, cây lương thực và rau các loại, về chăn nuôi gồm trâu, bò,

dê và các loại gia súc, gia cầm khác Khí hậu đó cũng đòi hỏi con người phải thường xuyên quan tâm ứng phó trong tổ chức sản xuất và đời sống nhằm tránh

những tổn thất do những biến động bất thường của tự nhiên

Trang 39

31

Về tài nguyên nước, tỉnh Hòa Bình có tài nguyên nước rất dồi dào, khối

lượng mưa bình quân lớn 1.500 – 2.500 mm, tập trung vào mùa mưa 85 – 90%, thừa nước vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, thiếu nước vào mùa khô, từ tháng

11 đến tháng 4 Tổng lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm trên địa bàn toàn tỉnh khoảng 5 tỷ m3, trong đó hệ thống sông Đà chiếm tỷ trọng chủ yếu Hoà Bình

có nhiều sông suối nên nguồn thuỷ điện rất phong phú, có điều kiện phát triển thuỷ điện nhỏ trên phạm vi rộng Đặc biệt là là nguồn năng lượng của sông Đà rất lớn Năm 1979, với sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô, công trình thuỷ điện trên sông Đà

được khởi công xây dựng

Về tài nguyên rừng, rừng là một trong những nguồn tài nguyên quí giá, là

yếu tố quan trọng nhất cấu thành sự cân bằng tự nhiên của tỉnh Hòa Bình Trước đây rừng Hòa Bình có hệ động thực vật rất đa dạng và có giá trị kinh tế lớn như: dổi, lim, sến, táu, chò chỉ… rừng ở đây còn có nhiều loại cây thuốc quý với 400 loại cây thuốc, trong đó có quế, sa nhân, hoài sơn, thổ phục linh, sâm đại hành… Nhiều năm qua do sự canh tác nương rẫy và khai thác gỗ nên diện tích rừng tự nhiên bị giảm, hiện tỉnh đã phát triển hệ thống rừng trồng và rừng khoanh nuôi tái

sinh

Về tài nguyên khoáng sản, đây là nguồn tài nguyên tương đối dồi dào, được

phân bổ ở khắp các vùng khác nhau Than đá được phân bổ tập trung ở Lạc Thủy, Kim Bôi, Yên Thủy, Đà Bắc, Kỳ Sơn; Kim loại màu: đồng, chì, kẽm và nhiều kim loại màu khác ở các vùng Đà Bắc, Cao Phong, Lạc Thủy, Tân Lạc… Kim loại quý hiếm chủ yếu là vàng gốc và vàng sa khoáng, các mỏ vàng gốc được xác định ở Lương Sơn, vàng sa khoáng và quặng đá có vàng phân bổ ở nhiều nơi nhưng tập trung chủ yếu ở vùng Kim Bôi, vùng cao Tân Lạc và Mai Châu Nước khoáng: đã khai thác và đưa vào sử dụng mỏ nước khoáng Mớ Đá, xã Hạ Bì, có tác dụng chữa bệnh, giải khát và phục vụ cho nhu cầu du lịch Nước khoáng, nước nóng cũng là

Trang 40

1.3.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội

Hòa Bình tự hào là quê hương của một nền văn hóa, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình hình thành, phát triển của loài người, đó là nền “Văn hóa Hòa Bình”; là miền đất của sử thi huyền thoại "Đẻ đất, đẻ nước", của những lễ hội giàu bản sắc Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình có truyền thống đoàn kết, cần cù trong lao động sản xuất, anh dũng, kiên cường trong đấu tranh dựng nước và giữ nước

Trong những năm gần đây tỉnh Hòa Bình đã tích cực vươn lên, đổi mới trên mọi lĩnh vực và thu được kết quả khá toàn diện Kinh tế tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp, xây dựng Tỉnh đã xây dựng và phát triển nhiều mô hình kinh

tế, thương hiệu nông sản Thương mại dịch vụ, du lịch đang từng bước phát triển; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được đầu tư nâng cấp Văn hóa, xã hội có bước phát triển; sự nghiệp giáo dục - đào tạo có tiến bộ Công tác xóa đói, giảm nghèo,chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh đạt kết quả khá, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần các tầng lớp nhân dân

Hòa Bình nằm trong vùng Thủ đô Hà Nội, có nhiều tiềm năng để phát triển,

có lợi thế trở thành vùng cung cấp hàng hóa nông sản, thực phẩm, dịch vụ cho thủ

đô và các tỉnh lân cận Trong những năm gần đây, Hòa Bình đạt được nhiều kết quả tích cực trong khai thác những thuận lợi về thổ nhưỡng để phát triển lâm nghiệp,

Ngày đăng: 08/05/2017, 14:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:   Dân số Hòa Bình từ 2011 – 2015 42 - Mưu sinh của thanh niên dân tộc mường tỉnh hòa bình
Bảng 2.1 Dân số Hòa Bình từ 2011 – 2015 42 (Trang 6)
Hình sản xuất - Mưu sinh của thanh niên dân tộc mường tỉnh hòa bình
Hình s ản xuất (Trang 34)
Hình 1: Bản đồ tỉnh Hoà Bình - Mưu sinh của thanh niên dân tộc mường tỉnh hòa bình
Hình 1 Bản đồ tỉnh Hoà Bình (Trang 168)
4.1. Hình ảnh về cảnh quan, đời sống xã hội tại địa bàn nghiên cứu - Mưu sinh của thanh niên dân tộc mường tỉnh hòa bình
4.1. Hình ảnh về cảnh quan, đời sống xã hội tại địa bàn nghiên cứu (Trang 188)
4.2. Hình ảnh về mưu sinh của thanh niên Mường ở Hoà Bình - Mưu sinh của thanh niên dân tộc mường tỉnh hòa bình
4.2. Hình ảnh về mưu sinh của thanh niên Mường ở Hoà Bình (Trang 199)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w