Tuy xuất phát từ những khó khăn chủ quan và khách quan, thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình còn gặp nhiều hạn chế và rào cản về các “nguồn vốn”, khả năng và điều kiện tham gia mưu sin
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Phản biện 1: PGS TS Nguyễn Duy Thiệu
Phản biện 2: PGS TS Nguyễn Duy Bính
Phản biện 3: PGS.TS Phạm Văn Lợi
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sỹ cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học Xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân,
Hà Nội vào hồi giờ ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thƣ viện Quốc gia Việt Nam
- Thƣ viện Học viện Khoa học Xã hội
- Thƣ viện Dân tộc học
Trang 3CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Nguyễn Phú Trường (2016), Vấn đề mưu sinh của thanh niên tỉnh Hòa Bình – Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 383 tháng 5
2 Nguyễn Phú Trường (2016), Nâng cao năng suất lao động và hỗ trợ
thanh niên khởi nghiệp - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 388 tháng 10
Trang 41
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thanh niên Việt Nam là lực lượng xã hội hùng hậu Trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thanh niên đang thể hiện vai trò tiên phong, là lực lượng quan trọng tham gia xây dựng đất nước
Hòa Bình là tỉnh miền núi phía Bắc có điều kiện kinh tế còn khó khăn, với dân số khoảng gần 1 triệu và 13 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Mường chiếm trên 60% Hòa Bình
có cơ cấu dân số trẻ, trong đó thanh niên dân tộc Mường chiếm đa số Với tiềm năng đông về
số lượng, giàu sức sống, ngày càng có tri thức và học vấn tốt hơn, thanh niên là động lực quan trọng đối với sự phát triển của Hòa Bình Tuy xuất phát từ những khó khăn chủ quan và khách quan, thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình còn gặp nhiều hạn chế và rào cản về các “nguồn vốn”, khả năng và điều kiện tham gia mưu sinh, lập nghiệp, phát triển kinh tế xây dựng quê hương
Khả năng và các điều kiện tham gia mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường có sự biến đổi mạnh mẽ qua hai giai đoạn trước và từ Đổi mới đến nay Trong những năm gần đây, khả năng tham gia mưu sinh của thanh niên bị tác động bởi điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đan xen giữa các yếu tố kinh tế và văn hóa Phần lớn thanh niên có khát vọng
và ước muốn tham gia lao động phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu Nhiều thanh niên để tìm kiếm việc làm đã phải di cư hoặc tham gia xuất khẩu lao động Nhiều thanh niên có ý thức tìm tòi, khởi nghiệp, tham gia các hoạt động kinh tế dựa trên phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương Tuy nhiên cũng có không ít thanh niên vẫn chưa tiếp cận được nhịp sống mới, ngần ngại trước cơ hội, thiếu chủ động nắm bắt cơ hội và mong ước duy trì một cuộc sống bình yên với những công việc không cần đầu tư nhiều nỗ lực, có mức thu nhập vừa phải,
đủ ăn
Mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường có thể được nhìn theo chiều dọc như một sự kết nối các phương thức mưu sinh từ quá khứ, hiện tại và tương lai nhưng cũng có thể được nhìn ở những lát cắt ngang, nơi đó có sự đan xen ảnh hưởng của các yếu tố như sức khỏe, tri thức, vốn, cơ chế chính sách Với ý nghĩa như vậy, luận án muốn tìm hiểu mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình từ góc độ nhân học văn hóa, trong mối liên hệ giữa các yếu tố kinh tế và văn hóa trong điều kiện thay đổi về địa lý, giao thương gắn với nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân Hòa Bình đang cố gắng xây dựng một tỉnh miền núi Tây Bắc phát triển tương xứng tiềm năng
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thực tiễn mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình đồng thời chỉ
ra sự biến đổi trong phương thức mưu sinh của họ qua những giai đoạn từ trước Đổi mới và
từ Đổi mới đến nay Từ đó đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm tạo điều kiện tốt hơn trong việc mưu sinh lập thân lập nghiệp cho thanh niên dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu thì luận án có những nhiệm vụ như sau:
- Khái quát những vấn đề lý luận về mưu sinh của thanh niên nói chung và thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình nói riêng
- Khảo sát thực trạng mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình trước và từ sau giai đoạn Đổi mới (1986) cho đến nay
Trang 52
- Đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm hỗ trợ thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình mưu sinh, tham gia phát triển kinh tế xã hội địa phương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Không gian nghiên cứu: Không gian nghiên cứu của đề tài tập trung tại 3 huyện là
Kim Bôi, Cao Phong và Lương Sơn
3.2.2 Thời gian nghiên cứu: Qua hai giai đoạn trước Đổi mới (1986) và từ sau Đổi mới
trở lại đây, tập trung sâu vào giai đoạn từ sau Đổi mới đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận Dân tộc học/Nhân học làm trọng tâm, kết hợp phương pháp nghiên cứu xã hội học:
4.1 Phương pháp điền dã dân tộc học tại các điểm nghiên cứu: Thu thập các tài liệu
thực địa với nhiều phương pháp cụ thể triển khai trong quá trình ba cùng với người dân bao gồm quan sát, quan sát tham dự và phỏng vấn sâu Luận án đã lựa chọn phỏng vấn sâu đối với
40 thanh niên và người dân trong các độ tuổi khác nhau ở các xã Đông Phong, huyện Cao Phong; xã Tân Vinh, Hòa Sơn, huyện Lương Sơn; xã Thượng Bì, Hạ Bì, Kim Tiến huyện Kim Bôi
4.2 Phương pháp kế thừa các loại lài liệu sẵn có: Đọc và kế thừa kết quả nghiên cứu
từ các công trình sách, tạp chí đã xuất bản; kết quả các chương trình, dự án nghiên cứu do các
cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế thực hiện; kết hợp đối chiếu, so sánh và kiểm tra chéo bằng các tài liệu cấp 1 thu được trên thực địa
4.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Triển khai 300 bảng hỏi trong đó 225 bảng
dành cho thanh niên và 75 bảng dành cho người dân tại địa bàn 3 xã Thượng Bì, Hạ Bì, Kim Tiến thuộc huyện Kim Bôi và xã Đông Phong thuộc huyện Cao Phong, xã Tân Vinh huyện Lương Sơn
4.4 Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học
về công tác thanh niên, công tác dân tộc tại Trung ương Đoàn, Ủy ban Dân tộc, ý kiến từ cán
bộ, lãnh đạo địa phương như lãnh đạo tỉnh Đoàn/huyện đoàn/xã đoàn, Sở Nội vụ phụ trách Phòng Thanh niên; lãnh đạo UBND huyện/xã phụ trách kinh tế, cán bộ Trung tâm dạy nghề, giới thiệu việc làm, đại biểu Quốc hội tỉnh
5 Đóng góp mới của luận án
- Cung cấp cho ngành nhân học và các ngành liên quan nguồn tư liệu mới về mưu sinh
Vẽ lên bức tranh về mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình trong sự biến đổi
từ trước và sau Đổi mới cho đến nay
- Góp thêm tư liệu vào các nghiên cứu về thanh niên, vai trò và những giải pháp phát huy thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Vận dụng phương pháp tiếp cận liên ngành giữa dân tộc học, xã hội học để làm nổi bật thực trạng, những biến đổi của thanh niên trong tham gia mưu sinh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận: Góp phần bổ sung cho các lý thuyết chuyên ngành như lý thuyết về
khung sinh kế bền vững…cũng như các chủ trương, quan điểm về công tác thanh niên, dân tộc của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Trang 63
- Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp những luận cứ khoa học góp phần xây dựng và thực hiện
những cơ chế, chính sách đối với thanh niên, đặc biệt là thanh niên dân tộc Mường, cụ thể là của tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn hiện nay
- Đề xuất một số kiến nghị khoa học nhằm thực hiện tốt hơn công tác chăm lo, phát huy thanh niên, đặc biệt là là thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm 4 chương sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và địa bàn nghiên cứu Chương 2: Khả năng mưu sinh của thanh niên
Chương 3: Thực trạng mưu sinh của thanh niên
Chương 4: Một số vấn đề đặt ra và những khuyến nghị, giải pháp đối với mưu sinh của thanh niên
Trang 74
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1.Tình hình nghiên cứu về hoạt động mưu sinh
Khi nghiên cứu về kinh tế các tác giả A.Schultz và H.Lavenda đã sử dụng những khái
niệm “Phương cách sinh tồn” và “Phương thức mưu sinh” Mưu sinh hay còn gọi là sinh kế
đã được giới thiệu trong các nghiên cứu của Robert Chambers vào giữa những năm 80 và sau
đó được Chambers và Conway phát triển thêm vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX Cùng với phát triển bền vững, sự biến đổi của môi trường sống, năm 2003, tác giả Koos Neefjes đã
cho ra mắt cuốn Môi trường và sinh kế: các chiến lược phát triển bền vững, nghiên cứu điển
hình rút ra từ những kinh nghiệm phong phú của Oxfam về công tác phát triển và về cứu trợ
với các cộng đồng bị lề hóa, cả ở nông thôn lẫn thành thị
Ở Việt Nam, hoạt động mưu sinh là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như kinh tế học, xã hội học, dân tộc học/nhân học Trong những năm 60 của thế kỷ XX, đã có một số lượng đáng kể bài viết của tác giả mang tính chuyên đề về các hoạt động kinh tế của các dân tộc Từ năm 1975 đến nay, đất nước được thống nhất đã tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu các lĩnh vực đời sống, trong đó có kinh tế của các dân tộc thiểu số trên địa bàn cả nước Đến những năm cuối của thập niên 80 thế kỷ trước, nghèo đói được Chính phủ Việt Nam chính thức đặt ra như một vấn đề mang tính quốc gia cần được đối mặt
và giải quyết Theo đó, xu hướng tìm hiểu về thực trạng sinh kế với mục tiêu xóa đói giảm nghèo cũng như kế thừa tri thức địa phương trong phát triển sinh kế ngày càng nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học
Trong nghiên cứu ứng dụng hiện nay, nhiều tác giả đã đi theo tiếp cận và phân tích các vấn đề có liên quan tới phát triển bền vững tộc người Sinh kế được nhìn nhận một cách khách quan, có hệ thống và nằm trong mối quan hệ tổng hòa, biện chứng với các lĩnh vực khác của đời sống tộc người Các tác giả đã tìm tòi, phân tích và đề ra những giải pháp cụ thể nhằm giải quyết những bất cập đang nảy sinh trong phát triển kinh tế của các dân tộc, các nhóm dân cư cụ thể trên cả nước
Việc đánh giá sinh kế bền vững từ góc độ phân tích vốn hay còn gọi là nguồn lực sinh
kế cũng đang là một hướng tiếp cận mới và bắt đầu được áp dụng trong các nghiên cứu, dự án phát triển… Phần lớn các nghiên cứu cho rằng, trong điều kiện mới, những hoạt động kinh tế truyền thống ngày càng bộc lộ những mâu thuẫn cần phải cải tạo để hướng tới một sinh kế bền vững Trong đó, xu hướng đi tìm giải pháp cho một số vấn đề như an toàn lương thực, xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế kết hợp với ổn định xã hội và bảo về tài nguyên môi sinh đón nhận được nhiều sự quan tâm hơn cả Nhiều nghiên cứu tập trung các vấn đề như
sự phát triển của nông thôn và môi trường; các chính sách về đất đai cho người nghèo; ảnh hưởng của đô thị hoá đối với đời sống nông thôn… phân tích mối quan hệ của bối cảnh sinh
kế chính là quá trình đô thị hóa với các yếu tố tác động đến các nguồn vốn sinh kế
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về dân tộc Mường và mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường tỉnh Hòa Bình
Từ năm 1948, tác giả Jeanne Cuisiner đã viết cuốn Người Mường - địa lý nhân văn và
xã hội học Các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng có những nỗ lực và đóng góp rất lớn để
Trang 85
tạo nên những công trình công phu về người Mường như Từ Chi với Cạp váy Mường và Vũ
trụ luận người Mường
Trong thời gian gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về người Mường, tập trung vào lĩnh vực văn hóa, phong tục tập quán đã được xuất bản đã giới thiệu một số đặc trưng trong cưới hỏi, trang phục, hội hè của người Mường, thông qua đó bàn luận tới vấn đề bảo tồn và phát huy vốn văn hoá truyền thống, đổi mới các loại hình hoạt động văn hoá ở bản Mường Các tác giả tập trung tìm hiểu về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của tộc người này, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới và phát triển hiện nay Nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra những phân tích sâu sắc về đời sống văn hóa, vốn tri thức địa phương cũng như những biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa của người Mường trong đó có người Mường tại tỉnh Hòa Bình
Trong nghiên cứu về thanh niên, đã có nhiều công trình, chương trình dự án trong và ngoài nước tiếp cận nhóm đối tượng thanh niên từ nhiều góc độ như kinh tế, văn hóa, chỉ ra thực trạng về sức khỏe, giáo dục và đào tạo, nghề nghiệp và việc làm của thanh niên, các chính sách đối với thanh niên Tuy nhiên những công trình nghiên cứu riêng về thanh niên dân tộc thiểu số nói chung và thanh niên dân tộc Mường nói riêng còn rất hạn chế, hầu như chưa có công trình nghiên cứu tổng thể nào về hoạt động mưu sinh của thanh niên dân tộc Mường
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Mưu sinh
Hiểu theo nghĩa thông thường “Mưu sinh” là những phương cách kiếm sống, những
hoạt động cần thiết của con người để đáp ứng được những nhu cầu về của cải vật nhằm duy trì cuộc sống Học giả Tôn Thu Vân cho rằng một xã hội sinh tồn được phải thỏa mãn một loạt các nhu cầu của các thành viên trong đó – khống chế và quy phạm hành vi con người, đảm bảo an ninh xã hội, kết hôn nam nữ, nuôi dưỡng và giáo dục thế hệ sau, trong đó, quan trọng nhất là phải phát triển một bộ phương pháp có thể mưu cầu ăn, mặc và ở Trong luận án này, mưu sinh được hiểu là những cách thức, những phương cách kiếm sống, những hoạt động lao động sản xuất nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất: ăn, mặc, ở và sinh hoạt của con người, của cộng đồng và của các tộc người
1.2.1.2 Sinh kế
Theo định nghĩa trong khung phân tích sinh kế bền vững của DFID thì “sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản và các hoạt động cần thiết để kiếm sống” Đây là khái niệm được dùng phổ biến trong các nghiên cứu dân tộc học/nhân học cũng như trong các nghiên cứu giảm nghèo ở nông thôn
Phần lớn các học giả nước ta đều quan niệm rằng “sinh kế” của một hộ hay một cộng
đồng bao gồm tập hợp các nguồn lực và khả năng con người, kết hợp với những quyết định
và hành động mà họ thực hiện để đảm bảo nhu cầu kiếm sống Từ điển tiếng Việt định nghĩa
“Sinh kế là việc làm để kiếm ăn, để mưu sống” Luận án sử dụng thuật ngữ theo định nghĩa
của Từ điển tiếng Việt
Trang 96
1.2.1.3 Thanh niên
Trong tiếng Anh, bộ từ điển Oxford giải thích mục từ “youth” (thanh niên) như
sau:“Là người trẻ tuổi, trong giai đoạn giữa tuổi thơ ấu và tuổi người lớn, hăng hái, nhiệt
tình hoặc thiếu kinh nghiệm hoặc chỉ những đặc trưng khác của độ tuổi này Khi được dùng ở dạng số nhiều thì từ này chỉ tập hợp những người trẻ tuổi” Theo Từ điển Tiếng Việt do Viện
ngôn ngữ học công bố vào năm 2003 thì mục từ “Thanh niên” được giải thích như sau:
“Người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành”
Theo Chiến lược phát triển Việt Nam đến năm 2010 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kèm theo Quyết định số 70/2003/QĐ-TTg ngày 29/4/2003 thì thanh niên được cho là những công dân Việt Nam có độ tuổi từ 15 đến 34 Luật Thanh niên được Quốc hội khóa XI
thông qua đã quy định tại Điều 1: “Thanh niên quy định trong luật này là công dân Việt Nam
từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi” Đây cũng là điều được ghi nhận trong, Điều 1, mục 2 của Điều lệ
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, khái niệm "thanh niên" được hiểu là lực lượng
tham gia hoạt động mưu sinh bao gồm những những người từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi, hiện đang có việc làm hoặc thất nghiệp
1.2.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.2.1 Lý thuyết về khung sinh kế bền vững
Lý thuyết về sinh kế bền vững của DFID được coi là một cách tiếp cận toàn diện trong phân tích về sinh kế và đói nghèo Theo đó, các yếu tố hợp thành sinh kế gồm: (1).Các
ưu tiên mà con người có thể nhận biết được; (2).Các chiến lược mà họ lựa chọn để theo đuổi các ưu tiên đó; (3).Các thể chế, chính sách, và tổ chức quyết định đến sự tiếp cận của họ đối với các loại tài sản hay cơ hội và các kết quả mà họ thu được; (4) Các tiếp cận của họ đối với năm loại vốn và khả năng sử dụng hiệu quả các loại vốn mình có; (5) Bối cảnh sống của con người, bao gồm các xu hướng kinh tế, công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ
Luận án sử dụng lý thuyết về khung sinh kế bền vững để nghiên cứu về sinh kế của thanh niên dân tộc Mường từ khi Đổi mới đến nay dưới góc độ sở hữu và tiếp cận các loại
Nguồn vốn sinh kế hay còn gọi là Nguồn lực mưu sinh Theo lý thuyết này, con người dựa
vào vốn (capital) để đảm bảo an ninh sinh kế hay giảm nghèo Quan điểm mà DFID công bố vào năm 1999, 5 loại đó là: vốn vật chất (physical capital), vốn tài chính (financial capital),
vốn xã hội (social capital), vốn con người (human capital) và vốn tự nhiên (natural capital)
Luận án áp dụng cách phân tích khung sinh kế bền vững tuy nhiên có những vận dụng riêng phù hợp với địa bàn, đối tượng và mục tiêu nghiên cứu của luận án
1.2.2.2 Lý thuyết Sinh thái văn hoá
Lý thuyết Sinh thái văn hoá, giải thích mối quan hệ giữa môi trường sinh sống với văn hoá của các cư dân, các cộng đồng người và các tộc người, rõ nét là các cư dân, cộng đồng và các tộc người sinh sống ở trình độ tiền công nghiệp hoặc ít chịu tác động của xã hội công nghiệp Môi trường tự nhiên hay môi trường cảnh quan được hiểu là tập hợp của nhiều điều kiện khác nhau, trong đó, chủ yếu là các điều kiện địa hình, đất đai, khí hậu, nguồn nước, rừng, động vật, thực vật và các tài nguyên thiên nhiên nói chung Văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ những sáng tạo của con người trong tiến trình lịch sử, với bốn thành tố chính là văn hoá mưu sinh, văn hoá xã hội, văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể
Trang 107
Triết lý căn bản và cốt lõi của lý thuyết sinh thái văn hóa là nền văn hoá, với những khía cạnh, những giá trị đặc trưng văn hóa của mỗi nhóm người, mỗi tộc người, mỗi quốc gia, rộng hơn, có thể là của mỗi khu vực trên thế giới hình thành, tồn tại và phát triển đều là kết quả của quá trình làm quen, thể nghiệm và thích nghi với điều kiện tự nhiên, với môi trường cảnh quan nơi cư trú
Từ các lý thuyết trên, luận án xác lập khung lý thuyết nghiên cứu như sau:
1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Khái quát về tỉnh Hòa Bình
Hòa Bình là quê hương của nền “Văn hóa Hòa Bình”, là miền đất của sử thi huyền thoại "Đẻ đất, đẻ nước", của những lễ hội giàu bản sắc Trong những năm gần đây tỉnh Hòa Bình đã tích cực vươn lên, đổi mới trên mọi lĩnh vực và thu được kết quả khá toàn diện
Về kinh tế, Hòa Bình đang có sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành dịch vụ, công nghiệp, xây dựng Thương mại dịch vụ, du lịch từng bước phát triển; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được đầu tư nâng cấp Văn hóa, xã hội, sự nghiệp giáo dục - đào tạo có bước tiến bộ Tỉnh đã xây dựng và phát triển nhiều mô hình kinh tế, thương hiệu nông sản Công tác xóa đói, giảm nghèo,chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt nhiều kết quả
Bên cạnh đó, Hòa Bình là tỉnh nằm trong vùng Thủ đô Hà Nội, có lợi thế trở thành vùng cung cấp hàng hóa nông sản, thực phẩm, dịch vụ cho thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận Tỉnh có thuận lợi về thổ nhưỡng để phát triển lâm nghiệp, thủy sản, nông sản Hòa Bình cũng giàu có về cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và nền văn hóa đa dạng, giàu bản sắc thuận lợi cho phát triển du lịch
Hòa Bình hiện đang thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển kinh tế nhanh hơn, bền vững hơn Xây dựng cơ chế chính sách cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để thu hút mọi nguồn lực cho phát triển, phát huy lợi thế so sánh khai thác tiềm năng của địa phương, nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới, tăng cường ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ, chú trọng đào tạo lao động và dạy nghề; đẩy mạnh các hoạt động
Biến đổi văn hóa
Quá trình Đổi mới:
- Công nghiệp hóa
- Nhận thức và nhu cầu
- Trình độ học vấn
- Điều kiện sức khỏe
- Kỹ năng nghề nghiệp
- Vốn tài chính
- Vốn thông tin
- Vốn xã hội
Phương thức mưu sinh của thanh niên:
*Biến đổi trong các hình thức mưu sinh truyền thống:
- Nông nghiệp
- Tiểu thủ công nghiệp
* Xuất hiện các hình thức mưu sinh mới:
- Công nghiệp
- Buôn bán, du lịch dịch vụ
- Xuất khẩu lao động,
đi làm ăn xa
Kết quả mưu sinh của thanh niên:
- Nâng cao năng xuất lao động
- Nâng cao thu nhập
- Giảm phụ thuộc thiên nhiên
- Mở rộng thị trường hàng hóa
- Tạo cơ hội cho thanh niên
Trang 111.3.2 Khái quát về huyện Cao Phong
Trong những năm gần đây, Cao Phong đã trở thành mảnh đất của nhiều sản phẩm nông nghiệp mà nổi bật là cam Đến nay, toàn huyện có 2.078 ha cây ăn quả có múi, trong đó diện tích thời kỳ kinh doanh là 900 ha, sản lượng 23.000 tấn, giá trị thu nhập khoảng 700 triệu đồng/ha, các giống cam chủ yếu là CS1, Xã Đoài cao, xã Đoài lùn, quýt Ôn Châu, V2, cam canh
Cùng với sự phát triển kinh tế nông nghiệp, bộ mặt nông thôn của Cao Phong cũng có nhiều thay đổi, nhiều nhà mới được xây dựng, đã nâng cấp thành 2 tầng như phố trong làng Bên cạnh trồng trọt, huyện đã quan tâm phát triển đàn gia súc, gia cầm, các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, văn hóa - xã hội Cơ sở vật chất, hạ tầng giao thông, thủy lợi đang được đầu tư, tạo cú hích cho sản xuất, tạo thuận lợi cho sản xuất, chăm sóc mía, cam
Phát huy thế mạnh nông nghiệp, Cao Phong đang chú trọng khai thác tốt nguồn lực đất đai, cải tạo vườn tạp, chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi, trong đó chú trọng đầu tư thâm canh, phát triển cây có múi và mía Người dân Cao Phong, trong đó có thanh niên từng bước có cuộc sống đã từng bước dư dả, thuận lợi hơn
1.3.3 Khái quát về huyện Lương Sơn
Lương Sơn là huyện cửa ngõ phía đông của tỉnh Hòa Bình, tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, liền kề với khu công nghệ cao Hòa Lạc, khu đô thị Phú Cát, Miếu Môn, Đại học Quốc gia, Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam
Với những lợi thế về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và dân số, Lương Sơn tập trung phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực nâng cao tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, tiếp đến là thương mại - du lịch - dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp, tiến tới xây dựng huyện Lương Sơn sớm trở thành hạt nhân vùng động lực kinh tế của tỉnh Hòa Bình Đến năm 2015, huyện đã thu hút được 156 dự án trong và ngoài nước đến đầu tư vào địa bàn, tạo việc làm cho người lao động, góp phần tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương và thúc đẩy nền kinh tế của huyện phát triển mạnh theo
Thanh niên Lương Sơn, bên cạnh tham gia sản xuất nông nghiệp đang có xu hướng chuyển dịch sang các ngành nghề công nghiệp, dịch vụ, đời sống của họ đang có sự giao thoa mạnh mẽ giữa nông nghiệp và đô thị
1.3.4 Khái quát về huyện Kim Bôi
Điều kiện kinh tế xã hội huyện Kim Bôi những năm gần đây đạt được nhiều kết quả nổi bật, cơ cấu kinh tế tập trung vào thế mạnh sản xuất nông - lâm nghiệp Trên địa bàn đã xuất hiện những vùng sản xuất hàng hóa, vùng trồng cây ăn quả như ở các xã Sơn Thủy, Mỹ Hòa; trồng rừng ở Đú Sáng, Vĩnh Đồng, Kim Sơn; vùng trồng cây vụ đông ở Kim Bôi, Vĩnh Đồng, Hạ Bì, Nam Thượng; vùng phát triển du lịch ở Hạ Bì, Vĩnh Tiến, Tú Sơn
Trang 129
Kim Bôi đã tập trung cao chỉ đạo công tác tuyên truyền, quảng bá tiềm năng, lợi thế, đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo sự thân thiện, thu hút các nhà đầu tư Huyện đã quan tâm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, phát triển du lịch nhất là
du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tâm linh, phát triển văn hóa xã hội Các dự án du lịch đã góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống cho người dân
Trong thời gian tới, Kim Bôi sẽ tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng giao thông, ưu tiên đầu tư phát triển du lịch, sản xuất nông nghiệp, nhất là chế biến và tiêu thụ nông nghiệp
CHƯƠNG 2 KHẢ NĂNG THAM GIA MƯU SINH CỦA THANH NIÊN DÂN TỘC MƯỜNG TỈNH HÒA BÌNH
2.1 Nhận thức và nhu cầu về mưu sinh của thanh niên
Nghề nghiệp, việc làm là một trong những vấn đề được quan tâm nhất trong cuộc sống của thanh niên Khi được hỏi lựa chọn nào là quan trọng nhất đối với bạn hiện nay, 84,3%
thanh niên trả lời đó là nghề nghiệp việc làm và 89% thanh niên trả lời đó là sức khỏe
2.2.Trình độ học học vấn của thanh niên
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, trình độ học vấn của thanh niên Hòa Bình ngày càng được cải thiện Sự quan tâm đầu tư cho giáo dục có những chuyển biến, tạo thuận lợi
cho thanh niên tham gia học tập
Theo kết quả khảo sát, nhóm thanh niên có trình độ THCS có tỷ lệ cao nhất, chiếm 35,5% Đứng thứ hai là nhóm thanh niên có trình độ THPT, chiếm 32,7% Nhóm thanh niên
có trình độ trung cấp chiếm 14,3%, có trình độ cao đẳng, đại học chiếm 13,7% Tỷ lệ thanh niên có trình độ tiểu học ở vị trí thứ năm với 2,7% và cuối cùng là nhóm thanh niên không biết chữ với tỷ lệ 0,3% So với mặt bằng trong cả nước, thanh niên dân tộc Mường có mặt bằng học vấn trung bình để tham gia mưu sinh, khởi nghiệp
2.3 Điều kiện sức khỏe của thanh niên
Tỷ lệ thanh niên cho rằng sức khỏe mình ở mức bình thường là50,3 %, có sức khỏe tốt
là 31%, có sức khỏe rất tốt là 14%, không tốt là 4,7% Thanh niên có thế mạnh về sức khỏe
để có thể tham gia các hoạt động mưu sinh, lập nghiệp
Tỷ lệ thanh niên tham gia tập thể dục thể thao là 76,3%, không tham gia là 23,7% Tỷ lệ thanh niên thỉnh thoảng tập thể dục thể thao chiếm tỷ lệ cao nhất với 58,3%, thường xuyên tập là 13%, chỉ có 5,5% thanh niên hiếm khi tập thể dục thể thao Việc chăm lo rèn luyện sức khỏe là yếu tố góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ của địa phương
2.4 Kỹ năng nghề nghiệp của thanh niên
Kết quả khảo sát cho thấy đa số thanh niên có việc làm Tỷ lệ thanh niên có việc làm đạt 91%, không có việc làm ở mức 9%
Tỷ lệ thanh niên dân tộc Mường ở Hòa Bình làm nông nghiệp chiếm số lượng lớn nhất trong các nhóm thanh niên Tuy nhiên, trong năm thanh niên thời gian dành cho làm
Trang 13Đa phần thanh niên tham gia lớp đào tạo nghề sơ cấp, ngắn hạn Thời gian học nghề từ
1 tháng trở lên đến 1 năm chiếm tỷ lệ 45,2%, từ 1 đến 3 năm là 38,1%, từ 3 năm trở lên là 14,8%, dưới một tháng chiếm vị trí thấp nhất là 1,9%
Tỷ lệ thanh niên tham gia học nghề tại các trung tâm, trường của nhà nước là 71,6%, tham gia các lớp dạy nghề do tư nhân tổ chức là 25,8% và theo học tại các trung tâm, lớp trường của nước ngoài chiếm tỷ lệ nhỏ nhất là 2,6%
51% số thanh niên tham gia học nghề mất phí và 49% không mất phí Tỷ lệ thanh niên qua đào tạo nghề có việc làm đạt 45,8%, thấp hơn so với số liệu công bố của Sở Lao động và Thương binh xã hội tỉnh Hòa Bình, năm 2014, lao động qua học nghề có việc làm đạt 70% Trong các nguyên nhân thanh niên sau đào tạo nghề không có việc làm, nguyên nhân không biết nơi cần việc đúng ngành nghề chiếm tỷ lệ lớn nhất với 27,1% Đứng thứ hai là nguyên nhân ngành đào tạo không phù hợp thị trường với 20,0%, sau đó là các nguyên nhân
do không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng là 17,1%, do chỉ muốn tìm chỗ làm nhà nước là 14,5%
2.5 Điều kiện vốn tài chính của thanh niên
Số thanh niên có thu nhập trung bình/tháng từ 3 triệu đến 5 triệu chiếm tỷ lệ lớn nhất là 32,4% Đứng thứ hai là tỷ lệ thanh niên có thu nhập từ 1 triệu đến 3 triệu với 29,7% Tỷ lệ thanh niên có mức thu nhập thấp dưới 1 triệu đồng là 24,2 % đứng ở vị trí thứ ba Trong khi
đó số thanh niên có thu nhập từ 5 đến 7 triệu chiếm vị trí thứ tư với 8,8% Thấp nhất là tỷ lệ thanh niên có thu nhập từ 7 triệu trở lên với 4,8%
Đa số thanh niên người Mường ở Hòa Bình làm nông nghiệp, đem lại thu nhập thấp Nhưng cũng có một số trường hợp có mức thu nhập tương đối cao ngay cả khi chỉ làm nông nghiệp
Chính vì những bấp bênh trong thu nhập nên một bộ phận lớn thanh niên người Mường chưa yên tâm với công việc của mình, kết quả khảo sát chỉ ra có đến 42,9% thanh niên có ý định thay đổi công việc làm chính của mình
Tuy nhiên, một tín hiệu tốt là bối cảnh thu nhập chưa cao, trong vòng 5 năm gần đây,
có hơn một nửa số thanh niên đã vay mượn tiền, chiếm 55,7% và phần nhiều trong đó vay để đầu tư cho sản xuất, là 58,7%
Thanh niên Hòa Bình có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất, tuy nhiên nguồn vốn vay cho thanh niên chủ yếu đến từ người thân và các nguồn vốn mang tính hỗ trợ Xét về nguồn vay của thanh niên thì Ngân hàng chính sách xã hội là lựa chọn hàng đầu với tỷ lệ 48,5% Đứng thứ hai là nguồn vay từ người thân, họ hàng, bạn bè với tỷ lệ 41,9% Tiếp đó là nguồn vay từ các ngân hàng thương mại và các quỹ tín dụng của các hội/đoàn thể với tỷ lệ