Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam Luận văn ths luật sự lựa chọn mô hình bảo hiếm ở việt nam
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI HẢI ĐƯỜNG
SỰ LỰA CHỌN MÔ HÌNH BẢO HIẾN
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI HẢI ĐƯỜNG
SỰ LỰA CHỌN MÔ HÌNH BẢO HIẾN
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lý luận - Lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chủ tịch Hội đồng Người hướng dẫn
GS TS Phạm Hồng Thái TS Đặng Minh Tuấn
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và
đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
-Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ
Bùi Hải Đường
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU - 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC MÔ HÌNH BẢO HIẾN TRÊN THẾ GIỚI - 8
1.1 Khái niệm, vị trí vai trò của bảo hiến - 8
1.1.1 Khái niệm bảo hiến - 8
1.1.2 Vị trí, vai trò bảo hiến - 11
1.2 Sự hình thành và phát triển của các mô hình bảo hiến điển hình trên thế giới - 13
1.2.1 Mô hình hội đồng Hiến pháp ở Cộng hòa Pháp - 13
1.2.2 Mô hình bảo hiến bằng tòa án ở Hoa Kỳ - 19
1.2.3 Mô hình tòa án Hiến pháp ở Đức - 23
1.2.4.Mô hình bảo hiến Quốc hội - 25
1.3 Lý do lựa chọn mô hình bảo hiến trên thế giới - 26
1.3.1 Các yếu tố pháp luật - 27
1.3.2 Các yếu tố chính trị - 28
1.3.3 Sự ảnh hưởng mô hình bảo hiến nước ngoài - 30
1.3.4 Ưu, nhược điểm của mô hình bảo hiến - 31
CHƯƠNG II: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIẾN Ở VIỆT NAM - 34
2.1 Bảo hiến theo quy định của các Hiến pháp trong lịch sử - 34
2.1.1 Những nền tảng ban đầu cho sự hình thành bảo hiến theo Hiến pháp năm 1946 - 34
2.1.2 Bảo hiến theo Hiến pháp năm 1959 - 36
Trang 52.1.3 Bảo hiến theo Hiến pháp năm 1980 - 37
2.1.4 Bảo hiến theo Hiến pháp 1992 - 39
2.2 Mô hình bảo hiến theo Hiến pháp năm 2013 - 40
2.3 Những ưu điểm và hạn chế của mô hình bảo hiến ở Việt Nam 47
2.3.1 Ưu điểm - 49
2.3.2 Hạn chế - 50
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH BẢO HIẾN Ở VIỆT NAM - 57
3.1 Yêu cầu xây dựng cơ quan bảo hiến chuyên trách ở Việt Nam - 57
3.2 Cơ sở xây dựng cơ quan bảo hiến chuyên trách ở Việt Nam - 60
3.2.1 Tồn tại một bản Hiến pháp quy định tính pháp lý tối cao - 60
3.2.2 Từng bước hoàn thiện và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - 61
3.2.3 Cơ chế phân quyền có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước - 63
3.2.4 Quyền con người, quyền công dân được từng bước ghi nhận - 64
3.2.5 Sự thống nhất về tư tưởng hoàn thiện cơ chế bảo hiến - 65
3.3 Đánh giá sự phù hợp của các mô hình bảo hiến ở Việt Nam - 66
3.4 Đề xuất mô hình hội đồng Hiến pháp ở Việt Nam - 73
3.4.1 Mô hình hội đồng Hiến pháp ở Việt Nam - 75
3.4.2 Cách thức tổ chức hội đồng Hiến pháp - 78
3.4.3 Chức năng của hội đồng Hiến pháp - 79
3.4.4.Trình tự, thủ tục hoạt động của hội đồng Hiến pháp - 83
KẾT LUẬN - 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO - 88
Trang 61
PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử pháp lý thế giới đã ghi nhận Hiến pháp xuất hiện nhằm mục đích tạo sự cân bằng, kiểm soát quyền lực nhà nước, đặt ra một phạm vi giới hạn mà nhà nước buộc phải tuân thủ để bảo vệ quyền công dân Hiến pháp đại diện cho nền dân chủ đối với mỗi quốc gia, thể hiện ý chí và quyền lực nhân dân Tuy nhiên, Hiến pháp ở nhiều quốc gia chưa được coi trọng đúng giá trị Khi Hiến pháp không được bảo vệ giá trị pháp lý tối cao, không được ghi nhận là đạo luật nền tảng cho hệ thống pháp luật quốc gia thì nhu cầu về cơ chế bảo vệ Hiến pháp xuất hiện Cơ chế bảo vệ Hiến pháp nhằm mục đích bảo vệ Hiến pháp đồng thời bảo vệ nền dân chủ, bảo vệ quyền lực mà nhân dân đã trao cho nhà nước Hiến pháp và cơ chế bảo hiến trở thành công cụ thiết yếu để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong bất cứ một mô hình nhà nước dân chủ ở mọi giai đoạn của lịch sử nhân loại
Xây dựng mô hình bảo hiến nhằm bảo vệ giá trị pháp lý tối cao của Hiến pháp là một trong những nội dung quan trọng để hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay Đường lối và chính sách của nhà nước nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật đã chỉ rõ mục tiêu coi Hiến pháp là nền tảng hệ thống pháp luật, cần được bảo vệ giá trị pháp lý Nghị quyết 48 ngày 2/5/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2020: Xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng
và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập
Trang 72
quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 [1]
Trên cơ sở nghị quyết 48 ngày 2/5/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2020, báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng - Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X năm 2006 của Đảng tiếp tục ghi nhận: “tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” xác định “xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và tính hợp hiến và hợp pháp trong hoạt động và quyết định của cơ quan công quyền”, xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp” [2]
Hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp đã là mục tiêu hướng đến trong một khoảng thời gian rất dài tuy nhiên bởi nhiều lý do mà một cơ quan chuyên trách bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam chưa thể hình thành Việt Nam mới hoàn thiện và ban hành Hiến pháp 2013 nhưng nhu cầu hình thành một
mô hình bảo hiến chuyên trách trong thời kỳ mới vẫn còn tồn tại Hiến pháp 2013 là bản Hiến pháp của thời kỳ mới; trên cơ sở quán triệt và thể chế hoá các chủ trương, đường lối của Đảng; tạo cơ sở chính trị - pháp lý cho việc thực hiện công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội Hiến pháp năm 2013 sẽ tiếp tục sứ mệnh lịch sử của mình:
Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh [3]
Hiện nay bối cảnh tình hình thế giới đã có nhiều biến chuyển sâu sắc; trong khi đó ở Việt Nam quan điểm tôn trọng và tuân thủ tuyệt đối pháp luật vẫn chưa tồn tại trên thực tế Đối với hầu hết những công dân, người được Hiến pháp trực tiếp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thì đều không
Trang 83
hiểu hết tầm quan trọng của Hiến pháp và nhu cầu cần hạn chế sự vi phạm Hiến pháp
Thực tế cho thấy, các hành vi bị nhận định vi hiến thường xuyên đến
từ phía cơ quan nhà nước, đơn cử trong lĩnh vực rõ ràng nhất là việc ban hành các văn bản pháp luật Hiến pháp 2013 không ghi nhận mô hình bảo hiến chuyên trách khiến cho việc hạn chế, xử lý các hành vi hiến gặp nhiều khó khăn Thực trạng hiện nay, cần tìm ra mô hình bảo hiến chuyên trách phù hợp cho Việt Nam nhằm đề xuất vào các bản Hiến pháp trong tương lai Theo Hiến pháp 2013, Việt Nam cũng đã có cơ chế bảo vệ Hiến pháp thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan nhà nước, giữa công dân với cơ quan nhà nước tuy nhiên cơ chế trên thực tế vừa không đầy đủ, vừa yếu, lại không thống nhất, không đồng bộ, thiếu thủ tục trình tự dẫn đến việc tuyên bố một quyết định vi hiến ở Việt Nam là một việc nằm ngoài phạm vi thẩm quyền của cơ quan nhà nước Trong bối cảnh hiện tại, việc xây dựng một Hiến pháp tốt và xây dựng một cơ chế để bảo vệ Hiến
pháp hiệu quả là một nhu cầu chính đáng "Lịch sử không ban tặng cho một
quốc gia nhiều cơ hội như thế và khi cơ hội đến, phải vượt qua các thách thức vì tương lai của quốc gia bị đe dọa”[4] Mô hình bảo hiến nào thực sự
cần thiết với Việt Nam, các quốc gia trên thế giới đã lựa chọn mô hình bảo hiến thông qua những yếu tố như thế nào Nghiên cứu nhằm đánh giá mô hình phù hợp nhất với hoàn cảnh nước ta thời kỳ hiện tại
Từ những lý do trên, tôi xin lựa chọn đề tài: “Sự lựa chọn mô hình bảo hiến ở Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ chuyên nghành Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật Đây là đề tài có tính cần thiết, cấp bách, thời sự
2 Tình hình nghiên cứu của luận văn
Nghiên cứu về Hiến pháp, đặc biệt về cơ chế bảo hiến không phải là
đề tài quá mới với các nhà nghiên cứu cả ở thế giới và Việt Nam Đặc biệt
là trong giai đoạn sửa đổi Hiến pháp năm 1992, hàng loạt những hội nghị,
Trang 94
hội thảo, tọa đàm được tổ chức nhằm đưa ra những nghiên cứu, kiến nghị
về việc xây dựng mô hình bảo hiến chuyên trách trong Hiến pháp mới Tuy Hiến pháp 2013 không ghi nhận mô hình bảo hiến chuyên trách như kỳ vọng nhưng những nghiên cứu về mô hình bảo hiến đã tạo nền tảng cho việc tiếp tục xây dựng bảo hiến ở Việt Nam trong tương lai Trong thời gian qua đã có những nghiên cứu khoa học, công trình khoa học, bài viết, chuyên đề, sách chuyên khảo nổi bật và đáng chú ý bao gồm:
GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Chủ nghĩa Hiến pháp và vấn đề bảo
hiến ở Việt Nam, Kỷ yếu về Hội thảo quốc tế về bảo hiến, Văn phòng Quốc
hội năm, 2009
GS.TSKH Đào Trí Úc, Tài phán Hiến pháp và xây dựng tài phán
Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí nhà nước và pháp luật số 10, năm 2006
Sách chuyên khảo Về pháp quyền và chủ nghĩa hợp hiến, đồng chủ
biên, nhà xuất bản Lao động - xã hội, năm 2012
Sách chuyên khảo Mô hình tổ chức và hoạt động của Hội đồng Hiến
pháp ở một số nước trên thế giới, Ban Biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp
năm 1992, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2013
Sách chuyên khảo Các thiết chế hiến định độc lập kinh nghiệm quốc
tế và triển vọng ở Việt Nam, Viện chính sách công và pháp luật, nhà xuất
bản Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013
Sách chuyên khảo Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khoa luật - Đại
học Quốc gia Hà Nội, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011
Tài liệu tham khảo Kỷ yếu Hội thảo quốc tế về bảo hiến, Văn phòng
Quốc hội, nhà xuất bản Thời đại, năm 2009
Một số đề tài nghiên cứu thạc sỹ, tiến sĩ liên quan về đề tài bảo vệ Hiến pháp như:
Trang 105
Luận án tiến sĩ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp
luật “Bảo hiến trong nhà nước pháp quyền” của tác giả Nguyễn Mậu Tuân,
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011
Luận án tiến sĩ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp
luật “Cơ chế bảo hiến trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” tác giả
Tào Thị Quyên, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp
luật: Cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam của tác giả Bùi Thanh Cương,
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014
Các công trình khoa học nghiên cứu tập trung vào những vấn đề lý luận chung về bảo hiến, khái niệm, vai trò bảo hiến, cung cấp những nền tảng cơ bản về mô hình bảo hiến trên thế giới, mô hình bảo hiến hiện tại ở Việt Nam đồng thời chỉ rõ ra những kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo, cũng như lựa chọn cho mình một mô hình bảo hiến phù hợp với đặc thù quốc gia Những nghiên cứu đã thể hiện những ưu điểm, hạn chế của
mô hình bảo hiến Việt Nam hiện tại đồng thời đề xuất khắc phục hạn chế nhằm hoàn thiện cơ chế bảo hiến từ đó tạo nền tảng cho việc xây dựng cơ quan bảo hiến chuyên trách ở nước ta Những nghiên cứu khoa học trên là nguồn tham khảo, vận dụng và học hỏi quan trọng để đề tài luận văn có thể thực hiện hoàn chỉnh Bên cạnh đó, luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến lịch sử bảo hiến ở nước ta, các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn mô hình bảo hiến… để đóng góp một phần ý nghĩa thực tiễn và lý luận về cơ chế bảo hiến ở nước ta
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu
Mục đích của luận văn nhằm tìm hiểu cơ bản về các mô hình bảo hiến trên thế giới thông qua việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá những
Trang 11Để hoàn thành mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ:
- Nghiên cứu các đặc điểm của các cơ quan bảo vệ Hiến pháp trên thế giới Bên cạnh đó, tìm hiểu tại sao các quốc gia lại lựa chọn mô hình bảo hiến đó, nhằm tìm ra những mô hình phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn ở Việt Nam
- Nghiên cứu cơ chế bảo hiến ở Việt Nam hiện nay, yêu cầu cần thiết cho sự đổi mới của mô hình
- Nghiên cứu đưa ra các kiến nghị, kế thừa và phát triển một mô hình bảo hiến chuyên trách phù hợp với đặc điểm quốc gia đối với Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm đổi mới nhà nước và pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu: đề tài vận dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng; đồng thời sử dụng một số phương pháp là so sánh luật học, so sánh chính trị học
Trang 127
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một đề tài luận văn thạc sỹ, tôi xác định phạm
vi của đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề pháp lý liên quan đến việc hình thành mô hình bảo hiến chuyên trách ở Việt Nam; những thuận lợi và khó khăn, thách thức trong việc xây dựng mô hình bảo hiến, trên cơ sở đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng
có hiệu quả mô hình bảo hiến
6 Tính mới của nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trên nền tảng nhu cầu về mô hình bảo hiến chuyên trách ở Việt Nam, đưa ra những luận điểm khoa học về sự cần thiết phải tồn tại nhu cầu bảo hiến Đồng thời, nghiên cứu những đặc điểm tác động đến mô hình bảo hiến của một quốc gia, gắn với thực tiễn Việt Nam Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra đề xuất mô hình bảo hiến chuyên trách phù hợp với yêu cầu trong hoàn cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta Tác giả mong muốn luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu
7 Kết cấu của luận văn
Về kết cấu, Luận văn bao gồm Phần mở đầu, Phần Kết luận và ba chương: Chương I: Cơ sở hình thành và phát triển của các mô hình bảo hiến trên thế giới
Chương II: Sự hình thành và phát triển của bảo hiến ở Việt Nam Chương III: Đề xuất mô hình bảo hiến ở Việt Nam
Trang 138
Chương I:
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC MÔ HÌNH
BẢO HIẾN TRÊN THẾ GIỚI 1.1 Khái niệm, vị trí vai trò của bảo hiến
1.1.1 Khái niệm bảo hiến
Hiến pháp là đạo luật gốc, đạo luật tối cao của một quốc gia, Hiến
pháp ra đời thể hiện ý chí của nhân dân nhằm mục đích giới hạn quyền lực nhà nước, bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhân dân Hiến pháp là cơ sở để xem xét tính pháp lý của mọi văn bản, mọi quyết định và mọi hành vi của bộ máy nhà nước và công dân; là một dạng khế ước cam kết giữa nhân dân và nhà nước Nhân dân có quyền xem xét tính hợp hiến của pháp luật Hiến pháp xuất hiện trong một xã hội có nền dân chủ, có sự phân chia quyền lực nhà nước, phân công và phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước với nhau Hiến pháp đặt nền móng cho mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, nguyên tắc, chức năng, thẩm quyền bộ máy nhà nước đều theo sự điều chỉnh của Hiến pháp
Chủ nghĩa hợp hiến được hình thành bởi ý tưởng chính trị tự do ở Tây Âu và Hoa Kỳ là hình thức bảo vệ quyền cá nhân đối với sức khỏe, tài sản, tự do tôn giáo và ngôn luận Để đảm bảo những quyền trên, người soạn thảo Hiến pháp đã nhấn mạnh kiểm soát quyền lực nhà nước trong
mỗi ngành quyền lực Bất cứ cơ quan nào sử dụng đủ quyền lực để bảo vệ
tôi khỏi bị hàng xóm cướp bóc, tất có thể sử dụng đủ quyền lực để phá hủy hoặc nô lệ hóa tôi Nghịch lý này nằm trong gốc rễ của lý thuyết hiện đại
về tình trạng tự nhiên: Làm sao chúng ta thoát khỏi tình trạng vô chính phủ mà không sa vào chính thể chuyên quyền để điều khiển người bị trị mà vẫn có thể ngăn ngừa quyền hành tích lũy này không bị lạm dụng? Giải pháp dân chủ tự do cho vấn nạn này chính là chủ nghĩa hợp hiến [4]
Trang 149
Hiện nay, trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất, chính xác nào về bảo hiến Các thuật ngữ được dùng trong mỗi hoàn cảnh khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh quốc gia, điều kiện chính trị của quốc gia Bảo hiến hay cách gọi thông thường khác gọi là bảo vệ Hiến pháp hay tài phán Hiến pháp có thể hiểu là cách thức đánh giá tính hợp hiến của các văn bản pháp luật, các hành vi pháp lý của các cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện bởi một cơ quan hiến định
Theo nghĩa hẹp, bảo hiến được giải thích là bảo vệ tính hợp hiến của các đạo luật, mục đích nhằm tìm ra sự phù hợp giữa Hiến pháp, đạo luật gốc với những văn bản mang tính pháp lý khác, sự phù hợp ở đây không mang tính khuyến cáo mà là sự chính xác Mỗi văn bản có tính pháp lý được ban hành ở bất kỳ cơ quan nào đều cần có sự tuân thủ tuyệt đối Hiến pháp
Ở một góc độ theo nghĩa rộng hơn, bảo hiến là bảo vệ tinh thần và nội dung của Hiến pháp Tinh thần trong bản Hiến pháp mà các nhà lập hiến đã truyền tải vảo bản Hiến pháp, bảo vệ mối liên hệ giữa hành pháp, tư pháp và lập pháp, kiểm soát tính hợp hiến của các hành vi thực hiện bởi thiết chế nhà nước được quy định trong Hiến pháp Cơ chế bảo vệ Hiến pháp chỉ cách thức tổ chức thực hiện bảo vệ Hiến pháp của một quốc gia được thể hiện thông qua mô hình bảo hiến mà quốc gia đó lựa chọn Cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở mỗi quốc gia thường không giống nhau nhưng vẫn có
điểm chung nhất định
Nền móng của bảo hiến được cho là có thể xuất hiện vào thời Hy Lạp cổ đại Những hình thức sơ khai của mô hình bảo hiến xuất hiện ngày càng nhiều ở châu Âu trung đại, các quốc gia bắt đầu có những điều luật liên quan đến mô hình bảo hiến Tuy không thành chế định bảo hiến cụ thể nhưng lại có giá trị tham khảo rất lớn như: Đức, Pháp, Bồ Đầu Nha, Na Uy, Đan Mạch, Hy Lạp, Áo, Rumani Vương quốc Anh cũng có những đóng góp nhất định vào sự phát triển của cơ chế bảo hiến Anh quốc được coi là
Trang 1510
quê hương của nền dân chủ, quê hương của nghị viện hiện đại Với việc xuất hiện bản "Đại Hiến chương" hay Magna Carta là một trong những văn bản pháp luật quan trọng trong lịch sử nước Anh, không chỉ đơn thuần là cột mốc cho tự do, dân chủ của nước Anh; mà người ta xem Đại Hiến chương là một văn kiện đã góp phần không nhỏ trong sự phát triển của chủ nghĩa tự do và nền dân chủ trên thế giới, được ban hành vào năm 1215 Sự kiện này đã đánh dấu những bước chuyển biến lớn với lịch sử pháp luật nước Anh, trong đó có quan điểm về tính tối cao của Hiến pháp, mặc dù nước Anh không có một bản Hiến pháp thành văn Người Anh đã khởi xướng ra thủ tục luận tội quan chức nhà nước đồng thời đề xuất ra tính tối thượng của pháp luật và quyền được tào án xem xét tính hợp pháp của hoạt động chính phủ Thế kỷ XVIII, tòa án đã ra một phán quyết tuyên bố các luật của đế chế Anh không còn giá trị pháp lý trên lãnh thổ Hoa Kỳ Sự kiện xác nhận quyền bảo hiện của tòa án Hoa Kỳ mới được chính thức xác nhận hình thành mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ do những tòa án thường thực hiện
Từ sự ra đời của chế định bảo hiến ở Hoa Kỳ, đã mở đường cho hàng loạt các quốc gia khác với các bản Hiến pháp sau đó Tây Ban Nha và
Bồ Đào Nha thế kỷ 19, dưới sự ảnh hưởng của Hiến pháp Hoa Kỳ năm
1812 tại Tây Ban Nha, Hiến pháp Cadiz đã ra đời Sau đó, Hiến pháp này lại làm nền tảng cho Hiến pháp Bồ Đào Nha ra đời năm 1822 Các bản Hiến pháp này, dưới sự ảnh hưởng của Hiến pháp Hoa Kỳ đều mang những mầm mống của cơ chế bảo vệ Hiến pháp - tính tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật quốc gia; Na Uy, Đan Mạch, Hy Lạp đưa quyền giám sát Hiến pháp vào thế kỷ 19; năm 1867, Tòa án Liên bang Áo được trao quyền giải quyết những tranh chấp về thẩm quyền, Tòa án Tiểu bang được trao quyền ra quyết định với các vụ kiện vi phạm Hiến pháp
Tới giai đoạn 1918 - 1939 mô hình bảo hiến của Áo nổi lên, giai đoạn này được coi là "thời kỳ của nước Áo" (the Austrian Period) Nước
Trang 1611
Áo áp dụng công trình của hai nhà khoa học Hans Kelsen và Adolf Merkl sáng tạo ra mô hình bảo hiến tập trung Mô hình này đã mở đường cho hàng loạt các Tòa án Hiến pháp ở Châu Âu Hiến pháp năm 1920 ở Áo xác nhận nền tảng của Tòa án Hiến pháp Mô hình Tòa án Hiến pháp chịu trách nhiệm cơ bản bảo hiến như là một nhiệm vụ độc lập đã được xác nhận ở
Áo và phổ biến ra nhiều quốc gia khác nhất là ở châu Âu, trở thành một trong những mô hình cơ bản về cơ chế bảo hiến trên thế giới
Sau giai đoạn này, rất nhiều các quốc gia ở khắp các khu vực trên thế giới thành lập cơ quan bảo vệ Hiến pháp theo những mô hình khác nhau như Nhật Bản, Thái Lan, Ấn Độ, Myanma, Italia [5]… Ngoài tòa án (tòa án thường và tòa án Hiến pháp) như ở Mỹ và Áo, ở một số nước, pháp luật còn giao quyền bảo hiến cho một số cơ quan khác với những tên gọi,
ví dụ như hội đồng Hiến pháp, các tòa đặc biệt thuộc Toà án tối cao, hoặc cho bản thân Nghị viện Mô hình hội đồng Hiến pháp của Pháp năm 1958
và mô hình bảo hiến Quốc hội - nghị viện của Liên Xô đã mở ra thêm nhiều sự lựa chọn phù hợp hơn hoàn cảnh của mỗi quốc gia
Các mô hình bảo hiến trên thế giới hiện nay đã được phát triển nhanh chóng, được đa số các quốc gia trên thế giới ghi nhận là một trong những chế định bắt buộc tồn tại trong hệ thống pháp luật quốc gia, được quy định trong văn bản có giá trị pháp lý cao nhất của quốc gia đó ở dạng thành văn hoặc bất thành văn Tính đến nay theo những số liệu không chính thức đã có ít nhất hơn 80% các quốc gia trên thế giới quy định về vấn đề bảo vệ Hiến pháp dưới những hình thức khác nhau
1.1.2 Vị trí, vai trò bảo hiến
Bảo hiến đóng góp rất lớn cho sự hoàn thiện của pháp luật, nền dân chủ quốc gia cũng như sự phát triển của quốc gia Mô hình bảo hiến ở mỗi quốc gia tùy thuộc vào hoàn cảnh nên có những đặc điểm riêng biệt nhưng
Trang 1712
cơ bản bảo hiến được xây dựng với những vai trò và mục đích chung Mô hình bảo hiến được xây dựng với những mục tiêu cơ bản sau:
- Kiểm soát quyền lực nhà nước, duy trì hiệu quả hoạt động cả bộ máy
nhà nước, hoàn chỉnh chức năng của từng cơ quan trong bộ máy nhà nước
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật
Bảo hiến nhằm mục đích để bảo vệ giá trị pháp lý tối cao của Hiến
pháp, cũng như hoàn thiện các chế định pháp luật Hiến pháp như tên gọi
của nó, sẽ bảo vệ những giá trị cốt lõi, những điểm căn bản nhất của quốc gia cho dù bản Hiến pháp đó tồn tại ở bất kỳ dạng nào: thành văn hay bất thành văn Khi tiến hành xây dựng pháp luật, những văn bản pháp luật xây dựng có thể không hoàn toàn dựa trên cái nhìn khách quan về vấn đề mà còn mang nhiều tính hạn chế, cá nhân Việc tồn tại những điểm sai sót, không thống nhất, mâu thuẫn là điều không thể tránh khỏi trong thực tiễn
Mô hình bảo hiến được hình thành sẽ bảo vệ xã hội khỏi những văn bản, những điều luật mâu thuẫn, tạo nên sự thống nhất trong phạm vi của Hiến pháp và pháp luật Hiến pháp có thể hạn chế một phần hoặc toàn bộ những vấn đề có thể phát sinh trong việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật
Bảo hiến bảo vệ hoàn chỉnh quy trình “Lập hiến - lập pháp”, đưa quy trình vào trong thực tế và áp dụng Hệ thống pháp luật sẽ được xây
dựng hoàn chỉnh, đúng trình tự, có sự giám sát chặt chẽ, có sự điều chỉnh kịp thời khi cần Hiến pháp điều chỉnh những mối quan hệ xã hội đúng theo khuôn khổ pháp luật, theo những cốt lõi của Hiến pháp Hiến pháp hạn chế quyền lực của cơ quan nhà nước trong phạm vi mà Hiến pháp quy định, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, quyền công dân được xây dựng hoàn thiện trong Hiến pháp được bảo vệ tuyệt đối Nhân dân thông qua cơ quan bảo hiến thực hiện quyền giám sát của mình, yêu cầu cơ quan bảo
Trang 1813
hiến bảo vệ quyền và lợi ích của mình trước những văn bản vi hiến, hành vi
vi hiến của cơ quan quyền lực nhà nước hay của những cá nhân thẩm quyền
Bảo hiến là điều kiện tiên quyết để có thể đưa Hiến pháp vào thực tiễn cuộc sống, bảo đảm giá trị pháp lý của các quy phạm pháp luật, tạo nên sự thống nhất trong toàn bộ quá trình xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, khiến cho pháp luật có thể đi sâu vào thực tiễn Bảo hiến xây
dựng một cơ chế cụ thể không chỉ bảo vệ tính pháp lý của Hiến pháp đồng thời xây dựng cơ chế để công dân yêu cầu nhà nước xem xét tính hợp hiến của một điều luật, một đạo luật hay một hành vi bất kỳ vi hiến xảy ra Đối tượng bảo vệ Hiến pháp ở hướng tới là những hành vi vi hiến và cả những văn bản vi hiến
1.2 Sự hình thành và phát triển của các mô hình bảo hiến điển hình trên thế giới
Mô hình bảo hiến trên thế giới có thể phân chia thành các kiểu mô hình khác nhau Nếu phân chia theo cách thức giám sát thì có mô hình giám
sát Hiến pháp tập trung và mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung Cách
thức phân chia theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền cơ quan bảo hiến thông thường là cách phân chia được sử dụng nhiều nhất thì trên thế giới có bốn
mô hình bảo hiến điển hình được áp dụng như sau:
- Mô hình bảo hiến bằng tòa án Hiến pháp (điển hình tại Áo, Đức)
- Mô hình bảo hiến bằng tòa án tư pháp (điển hình tại Hoa Kỳ)
- Mô hình bảo hiến bằng hội đồng Hiến pháp (điển hình tại Pháp)
- Mô hình bảo hiến khác
1.2.1 Mô hình hội đồng Hiến pháp ở Cộng hòa Pháp
Bối cảnh hình thành của mô hình: Cộng hòa Pháp là một quốc gia
có nền pháp luật dân chủ hàng đầu trên thế giới, mô hình tài phán Hiến pháp cũng là một trong ba mô hình đặc thù được nhiều quốc gia lựa chọn
áp dụng
Trang 1914
Mô hình hội đồng Hiến pháp được hình thành đầu tiên ở cộng hòa Pháp và dần dần phát triển đến nhiều quốc gia, đa phần là những quốc gia chịu ảnh hưởng chính trị và pháp lý cũng như văn hóa từ cộng hòa Pháp
Để có thể xây dựng và áp dụng hiệu quả được mô hình hội đồng Hiến pháp, nước Pháp cũng đã phải trải qua một quá trình đấu tranh hàng trăm năm, bắt
nguồn từ thế kỷ 18
Hiến pháp năm 1799 đã chính thức ghi nhận sự xuất hiện của cơ chế bảo hiến với mục đích chính nhằm tìm sự cân bằng giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp Hiến pháp 1799 quy định trao quyền bảo hiến cho một trong hai viện thuộc nghị viện Tuy còn nhiều hạn chế, nhưng nhà nước Cộng hòa Pháp đã bắt đầu thừa nhận bảo hiến rất sớm Thượng viện có thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến, có thể tuyên bố hủy bỏ văn bản vi hiến không có giá trị pháp lý (mô hình có đôi nét gần giống với mô hình bảo hiến nghị viện của Liên Xô) Tất nhiên với trình tự và lập pháp vừa kiểm tra thì việc thượng viện kiểm tra tính hợp hiến chắc chắn chỉ mang tính hình thức Đến Hiến pháp năm 1892, cộng hòa Pháp vẫn thừa nhận sự tồn tại của bảo hiến thông qua Thượng viện Thượng viện vẫn được trao quyền kiểm tra, tuyên bố hủy bỏ văn bản không có giá trị pháp lý và thêm quyền đình chỉ văn bản pháp luật đang thi hành Quyền năng thì tăng lên nhưng Thượng viện lại không sử dụng quyền năng của mình vào bảo vệ Hiến pháp nên chỉ dừng lại ở những quy định mang đậm tính hình thức
Thời kỳ cộng hòa đệ Tam: Hiến pháp 1985 đã không còn thừa nhận
cơ chế bảo vệ Hiến pháp của Thượng viện, quy định về tài phán Hiến pháp hoàn toàn bị xóa bỏ trong bản Hiến pháp thời kỳ này Tuy vậy, các học giả
đã bắt đầu tìm hiểu được tầm quan trọng của mô hình bảo hiến đối với sự phát triển của cộng hòa Pháp Hiến pháp năm 1946 đã quy định thành lập một Ủy ban Hiến pháp do tổng thống đứng đầu, nhằm kiểm tra tính hợp hiến của dự luật cho được thông qua của nghị viện Đến thời điểm này mô hình bảo hiến vẫn chỉ mang tính hình thức Do nhiều nguyên nhân khi quy
Trang 2015
định Hiến pháp không có giá trị thực tế để kiểm soát những đạo luật dễ gây lên tình trạng vi hiến - vi phạm nghiêm trọng quyền về con người, gây lên những ảnh hưởng xấu cho xã hội Đến năm 1958, những mâu thuẫn bắt đầu bùng nổ, xã hội Pháp trở nên vô cùng phức tạp, Pháp kiều ở Algieri liên lục nổi dậy chống lại chính phủ Pháp Chính phủ Pháp được sự ủng hộ của nghị viện cũng không thể ổn định được tình hình xã hội Giữa năm 1958, chính phủ Pháp tuyên bố từ chức, nghị viện Pháp tìm mọi cách để thành lập
ra chính phủ mới nhưng đều không thành công Bất ổn chính trị ở nước Pháp kéo dài suốt từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến thời điểm này khiến cho lòng tin của nhân dân vào nghị viện và các Đảng phái chính trị hoàn toàn không còn Đứng trước hoàn cảnh khó khăn, nghị viện Pháp đã phải thay đổi thể chế, hoàn thiện lại chế độ chính trị nhằm tìm ra lối thoát cho sự khủng hoảng Tháng 9 năm 1958, tướng Đờ Gôn được mời làm thủ tướng cho một chính phủ mới, sự xuất hiện của anh hùng quốc gia với uy tín rất cao đã khiến cho sự ủng hộ của nhân dân tăng cao cho chính phủ Pháp Hiến pháp năm 1958 [6] do tướng Đờ Gôn khởi xướng được thông qua đã
mở ra một thời kỳ mới cho cộng hòa Pháp đồng thời đầu cho một trong những mô hình bảo hiến tiêu biểu trên thế giới được hình thành Bản Hiến pháp đã thiết lập nên một nền cộng hòa mới gắn liền với tướng Đờ gôn, Hiến pháp 1958 ra đời đã tiến hành giải quyết hai vấn đề chủ chốt mà suốt thời gian dài trước sức ép của nghị viện mà không thể tiến hành được
Thứ nhất, Hiến pháp 1958 đã tăng quyền hạn cho tổng thống, hạn
chế được sự tham gia của nghị viện vào mọi hoạt động của chính phủ
Thứ hai, Hiến pháp 1958 đã quy định thành lập thành công hội đồng
Hiến pháp đúng nghĩa để có thể xem xét hoạt động lập pháp, vốn là hoạt động quan trọng nhất của nghị viện Nghị viện có rất nhiều quyền hạn vào thời gian trước đã bị hạn chế thông qua bản Hiến pháp 1958 mang đậm chất tổng thống Đờ gôn Tại sao nước Pháp tại thời điểm đó lại lựa chọn
Trang 21lý khi xây dựng mô hình hội đồng Hiến pháp Nhận thức pháp lý của nhân dân Pháp tại thời điểm đó yêu cầu tồn tại mô hình bảo hiến để hạn chế quyền lực của nghị viện Mọi tầng lớp xã hội Pháp đều nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm khi để nghị viện quá nhiều quyền lực, cần thiết phải lên tiếng bảo vệ quyền lợi của mình Hiến pháp 1958 thể theo nguyện vọng nhân dân, xây dựng cơ chế đảm bảo sự phân chia quyền lực giữa các cơ quan nhà nước với nhau Cộng hòa Pháp với bản Hiến pháp
1958 đã thể hiện được sự nhìn nhận đúng đắn về tầm quan trọng của mô hình bảo hiến và mục đích đúng đắn khi xây dựng mô hình bảo hiến
Mô hình hội đồng Hiến pháp được xây dựng trong Hiến pháp 1958
đã đáp ứng được lợi ích của nhiều thành phần trong xã hội Hội đồng Hiến pháp trước hết hạn chế quyền lực nghị viện, phục vụ lợi ích của tổng thống
và chính phủ mới, đồng thời bảo vệ lợi ích chính trị của các tầng lớp trong
xã hội Mô hình hội đồng Hiến pháp về cơ bản phục vụ phần lớn lợi ích của
số đông nhân dân và lợi ích chính trị của chính phủ mà tướng Đề gôn đã xây dựng so với nghị viện
Cộng hòa Pháp chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nền pháp luật châu Âu lục địa, đồng thời là những ảnh hưởng nhất định từ những nền pháp luật tiến bộ khác như hệ thống pháp luật Anh - Mỹ Khi đề cập đến việc xây dựng mô hình bảo hiến, các nhà nghiên cứu khoa học Pháp đều hướng tới mô hình bảo hiến theo kiểu Anh Mỹ, mô hình bảo hiến bằng tòa án thường với hệ thống tòa án đã tồn tại ở Pháp Tuy nhiên, nhận thấy mô hình tòa án không thể phù hợp với hoàn cảnh xây dựng mô hình bảo hiến ở Pháp bởi vì: hệ
Trang 22Đặc điểm của mô hình hội đồng Hiến pháp:
Mô hình hội đồng Hiến pháp mang tính đặc thù so với những mô hình khác trên thế giới
Thứ nhất, mô hình không chỉ mang bản chất đúng của tài phán Hiến
pháp, mà còn mang đậm yếu tố tổ chức chính trị ở trong đó Mô hình hội đồng Hiến pháp vận hành hoạt động theo một cơ chế đặc biệt không công khai quy trình bảo hiến Thành viên mô hình cũng không phải toàn bộ là những nhà nghiên cứu pháp luật mà còn bao gồm những nhân vật được quy định trong đó có cả những tổng thống đã hết nhiệm kỳ Hội đồng Hiến pháp thời gian đầu xây dựng chỉ có nhiệm vụ kiểm tra dự án luật chưa được thông qua bởi nghị viện Tuy nhiên, sau một thời gian dài nhận thấy việc chỉ kiểm tra dự án đã làm mất đi tính thực tế của Hiến pháp Nhiều vấn đề pháp luật khi áp dụng và thực tiễn mới có thể phát hiện được sự vi hiến tồn tại trong quy phạm pháp luật, đến khi sửa đổi Hiến pháp đã quy định đầy
đủ quyền hạn của hội đồng Hiến pháp trong việc thẩm tra những dự án luật
và cả những văn bản pháp luật đã được thông qua bởi nghị viện Hội đồng Hiến pháp sau khi thẩm tra được tuyên bố văn bản hay hành vi là vi hiến,
có thể hủy bỏ hoặc sửa đổi những văn bản hay hành vi pháp luật có sự vi hiến Khi mới đầu xây dựng, các nhà lập pháp đã không nhất quán ý tưởng, cho rằng nhiều khả năng những quy định về hội đồng Hiến pháp mang tính hình thức Tuy nhiên, khi vận hành mô hình đã hoạt động mang lại sự hiệu quả, trở thành mô hình tiêu biểu trong các mô hình bảo hiến
Trang 2318
Thứ hai, mô hình hội đồng Hiến pháp là mô hình có thể phù hợp với
hoàn cảnh đặc thù và khó có thể áp dụng rộng rãi được Một thể chế mang bản chất chính trị phải có những cách thức riêng mới có thể tránh được sự ảnh hưởng của những cơ quan quyền lực nhà nước khác Hội đồng Hiến pháp là mô hình rất khó để áp dụng thành công nếu không thực sự phù hợp quốc gia lựa chọn mô hình
Sự phát triển của mô hình hội đồng Hiến pháp trên thế giới:
Mô hình hội đồng Hiến pháp đặc trưng về bảo hiến được hình thành đầu tiên ở Pháp Hội đồng Hiến pháp cũng có nhiều điểm tương đồng với mô hình tòa án Hiến pháp, tuy nhiên hội đồng Hiến pháp được xây dựng theo xu hướng một cơ quan thuộc hệ thống chính trị chức không thuộc ngành quyền lực tài phán, một dạng của hệ thống Tư pháp Hội đồng Hiến pháp đã được phát triển trong một khoảng thời gian dài và được ghi nhận như một trong ba
mô hình bảo hiến lớn trên thế giới Tuy nhiên, hội đồng Hiến pháp không phải là dạng mô hình bảo hiến có thể phổ biến và lan tỏa mạnh mẽ như Tòa
án Hiến pháp hay tòa án bảo hiến kiểu Mỹ Đây là mô hình chứa đựng những điểm đặc thù, các quốc gia trên thế giới hiện nay áp dụng mô hình hội đồng Hiến pháp không quá nhiều Hầu hết các nước áp dụng mô hình là ở Châu Phi, Trung Đông và Châu Á, Pháp là quốc gia duy nhất áp dụng mô hình tại châu Âu
Mô hình hội đồng bảo hiến mang đặc điểm của cơ quan chính trị trộn lẫn với cơ chế bảo hiến Chức năng, thẩm quyền và trình tự thực hiện bảo hiến của hội đồng Hiến pháp đều không giống cơ chế tài phán thông thường Các quốc gia khi lựa chọn mô hình hội đồng Hiến pháp đều phải chấp nhận những khó khăn nhất định Những quốc gia lựa chọn hội đồng bảo hiến đa phần chịu ảnh hưởng nhất định bởi cộng hòa Pháp như các nước Bắc Phi hoặc tìm ra điểm phù hợp của mô hình hội đồng Hiến pháp Trên thế giới đã
Trang 2419
có các quốc gia áp dụng mô hình hội đồng Hiến pháp bao gồm: Pháp, Tuynidi, Eetiopia, Senegal, Bờ Biển Ngà, Iran, Campuchia, Li băng…
1.2.2 Mô hình bảo hiến bằng tòa án ở Hoa Kỳ
Mô hình bảo hiến Hoa Kỳ là mô hình bảo hiến được áp dụng phổ biến, hiệu quả trên toàn thế giới Mô hình bảo hiến bằng tòa án tư pháp được đánh giá đã thể hiện được toàn bộ giá trị cần có của cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiệu quả
Bối cảnh hình thành của mô hình: Hoàn cảnh ra đời của mô hình
bảo hiến kiểu Hoa Kỳ cũng mang đúng bản chất sử dụng án lệ là nguồn luật của hệ thống pháp luật khi mô hình được xây dựng từ vụ án cụ thể Đầu thế kỷ 19, trong cuộc bầu cử tổng thống John Adams và đảng Federalist của ông thất cử, Thomas Jefferson người của đảng Dân chủ và Cộng hòa Hoa Kỳ trúng cử Tổng thống Trước khi rời khỏi ghế tổng thống, nhằm đảm bảo cho sự quyền lợi của mình sau khi rời vị trí, John Adams đã
bổ nhiệm hàng loạt thành viên của đảng Federalist vào chức vụ thẩm phán
và thẩm phán hòa giải Khi Jefferson lên làm tổng thống, các quyết định của John Adams đã được ký và đóng dấu nhưng lại chưa được chuyển đi hết Jefferson chỉ đạo cho James Madison, lúc đó là bộ trưởng bộ Ngoại giao không chuyển quyết định mà Adams đã ký cho những người có tên để
họ không thể nhận chức vụ Thẩm phán.Trong số những người không nhận được quyết định đó có William Marbury Khi không nhận được quyết định, William Marbury đã khởi kiện James Madison yêu cầu giải thích lý do tại sao các quyết định lại không được chuyển cho mình; đồng thời Marbury yêu cầu tòa án tối cao quyết định buộc trao quyết định để những người có liên quan thực thi nhiệm vụ của mình Chánh án lúc đó là John Marshall lúc đó, vì những tình huống chính trị, đã rất khó khăn khi giải quyết vụ việc này John Marshall đã đưa ra phán quyết cho vụ việc này:
Trang 2520
Thứ nhất, Madison đã vi phạm pháp luật vì không chuyển giao
quyết định cho những người liên quan
Thứ hai, Đạo luật thành lập các tòa án tư pháp năm 1789 cho phép
tòa án ban hành mệnh lệnh trên là trái với Hiến pháp Marshall đã tuyên bố tòa án tối cao liên bang không có quyền giải quyết vấn đề này, mặc dù mục
13 của Đạo luật Tư pháp liên bang trao cho tòa án thẩm quyền trong lĩnh vực đó nhưng quy định này trái với điều 3 của Hiến pháp Hoa Kỳ năm
1787 Ông cho rằng Hiến pháp là luật cơ bản của nhà nước và có hiệu lực pháp lý tối cao Vì vậy khi một đạo luật thông thường trái với Hiến pháp thì đạo luật đó phải bị tuyên bố là vô hiệu Cuối cùng, John Marshall đã đưa ra phán quyết lịch sử: Hiến pháp là luật tối cao của đất nước, những luật hay quyết định được đưa ra bởi cơ quan lập pháp là một bộ phận của Hiến pháp và không được trái với Hiến pháp Thẩm phán, người đã từng tuyên thệ bảo vệ Hiến pháp, phải tuyên bố hủy bỏ những luật, lệ quy định nào của cơ quan lập pháp mâu thuẫn với Hiến pháp
Ba phán quyết trên đây đã xác lập chức năng bảo vệ Hiến pháp của tòa án và quyền tài phán của tòa án về các quyết định của lập pháp và hành pháp liên quan đến Hiến pháp Với những tuyên bố trên đây và những đóng góp lớn lao cho ngành tư pháp, John Marshall được coi là Chánh án tòa án Tối cao vĩ đại nhất của Hoa Kỳ Ông đã thực sự khẳng định sức mạnh của nhánh quyền lực thứ ba trong ba nhánh quyền lực nhà nước Với phán quyết trên, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến thế giới, tòa án có quyền xem xét tính hợp hiến của một đạo luật đến từ hành pháp, đây được coi là lần xuất hiện chính thức đầu tiên của chế định bảo vệ Hiến pháp Vụ việc này cũng dẫn những đặc trưng trong mô hình bảo hiến kiểu Mỹ sau này Đó là việc chứng minh một đạo luật vi hiến luôn luôn là trách nhiệm của bên nguyên, và chỉ những người có quyền và lợi ích bị xâm phạm bởi đạo luật hay hành vi mới được quyền khởi kiện xem xét tính vi hiến
Trang 2621
Đặc điểm của mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ:
Thứ nhất, cơ quan bảo hiến Hoa Kỳ hoạt động dựa trên mô hình tòa
án tư pháp thông thường Từ tòa án địa phương cho đến tòa án liên bang
đều có thẩm quyền xét xử những vụ án liên quan đến vi hiến Tuy quyền
hạn trao cho tất cả các tòa án các cấp quyền bảo hiến nhưng các quyết định của các tòa án cấp cao nhất có ưu thế bởi chỉ những quyết định đó mới có tính bắt buộc với mọi tòa khác Sau khi tòa án cấp cao nhất phủ nhận tính hợp hiến của đạo luật thì đạo luật đó trên thực tế mới mất hiệu lực pháp lý
Thứ hai, tòa án thực hiện giám sát Hiến pháp sau khi văn bản pháp
luật được ban hành hoặc có hiệu lực Đây là một cái nhìn thực tiễn sâu sắc, mang màu sắc của án lệ, đặc trưng của hệ thống thông luật, mọi đạo luật đều được kiểm nghiệm tính pháp lý thông qua thực tiễn chứ không phải chỉ trên giấy tờ Sự ảnh hưởng của đạo luật nhất định phải được chứng minh
bằng thực tiễn áp dụng
Thứ ba, tòa án bảo vệ Hiến pháp trong từng sự việc cụ thể, điều này
một phần xuất phát từ triết lý chân lý luôn mang tính cụ thể của Hoa Kỳ Tòa án chỉ giám sát tính hợp hiến của văn bản pháp luật khi có những sự kiện pháp lý nhất định, hay nói cách khác kiện tụng chính là tiền đề để Tòa
án phán xét tính hợp hiến của một đạo luật Đây là ưu thế lớn của mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ khi mà ngay cả việc hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp mang dáng dấp của án lệ (Án lệ đánh dấu sự ra đời của Hiến pháp trong vụ kiến Marbury chống Madison với phán quyết của Chánh án Tòa
án Tối cao Marshall) Quyền bảo hiến chỉ được các Tòa án sử dụng trong trường hợp tìm thấy sự liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người đề nghị xem xét tính hợp hiến của các đạo luật Đặc điểm này xác định rõ ràng hơn phạm vi của quyền giám sát, tránh sự trừu tượng và kém hiệu quả Từ đây, mô hình này cho phép các bên có tranh chấp trong
vụ án bình thường, khi nhận ra những phán quyết hay những hành động
Trang 2722
trái Hiến pháp của bên còn lại gây ảnh hưởng đến lợi ích của mình thì đều
có quyền đề nghị thực hiện quyền bảo vệ Hiến pháp (xuất phát từ một hành
vi vi hiến ảnh hưởng trực tiếp đến mình)
Sự phát triển của mô hình bảo hiến tòa án kiểu Hoa Kỳ
Mô hình bảo hiến Hoa Kỳ mang đúng bản chất mô hình tài phán Hiến pháp khi tập trung hoàn toàn vào việc xét xử những vấn đề vi hiến Có thể khẳng định đây là một trong ba mô hình bảo vệ Hiến pháp lớn nhất trên thế giới Sau khi ra đời ở Hoa Kỳ, mô hình có sức lan tỏa vô cùng lớn, được rất nhiều các quốc gia lựa chọn để học tập kinh nghiệm để tiến hành xây dựng
Đánh giá về hiệu quả, mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ hoạt động hiệu quả bảo vệ giá tối cao của Hiến pháp, mọi đạo luật có dấu hiệu vi hiến đều
bị xem xét và được xử lý Có thể khẳng định đây là mô hình vô cùng hiệu quả trong hoạt động bảo vệ Hiến pháp Mô hình này sẽ giúp Hiến pháp được bảo vệ giá trị pháp lý tối cao, quyền con người được bảo đảm và thực hiện trên góc độ nhất định
Cơ sở cho sự phát triển rộng rãi của mô hình chính là hiệu quả trong việc bảo vệ Hiến pháp mà cơ chế bảo hiến mang lại, thừa nhận và lựa chọn
mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ đồng nghĩa với việc đảm bảo yêu cầu trong hoạt động bảo vệ Hiến pháp
Mô hình bảo hiến bằng tòa án tư pháp đã được lựa chọn áp dụng hiệu quả ở rất nhiều quốc gia trên thế giới: Hoa Kỳ, các nước Trung Đông, Châu
Âu Bắc Mỹ và các nước Mỹ La Tinh… Tuy nhiên, mô hình bảo hiến tòa án
tư pháp đòi hỏi yêu cầu rất khắt khe để các quốc gia lựa chọn có thể áp dụng hiệu quả Đó là yêu cầu về hệ thống pháp luật hoàn thiện, sử dụng án lệ làm nguồn pháp luật, áp dụng cơ chế phân quyền, cách thức đào tạo và bổ nhiệm thẩm phán luôn ở yêu cầu rất cao Chính những yêu cầu trên vừa đem lại hiệu quả cho mô hình và cũng là hạn chế đi sự phát triển, lan tỏa của mô hình trên thế giới Mô hình bảo hiến bằng tòa án kiểu Hoa Kỳ là mô hình chỉ
Trang 2823
có thể áp dụng hiệu quả khi có thể đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của mô hình Các nước khi xác định lựa chọn mô hình cần có sự nghiên cứu những điều kiện cụ thể sao cho đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của mô hình
1.2.3 Mô hình tòa án Hiến pháp ở Đức
Bối cảnh hình thành của mô hình
Giai đoạn 1918 được coi là "thời kỳ của nước Áo" (the Austrian Period) Nước Áo áp dụng công trình nghiên cứu của hai nhà khoa học Hans Kelsen và Adolf Merkl hình thành ra mô hình bảo hiến Tòa án Hiến pháp Mô hình đã mở đường cho hàng loạt các Tòa án Hiến pháp xuất hiện
ở Châu Âu Hiến pháp năm 1920 ở Áo xác nhận nền tảng của Tòa án Hiến pháp quốc gia Mô hình Tòa án Hiến pháp chịu trách nhiệm cơ bản bảo vệ Hiến pháp như là một nhiệm vụ độc lập đã được xác nhận ở Áo và phổ biến ra nhiều quốc gia khác nhất là ở châu Âu, trở thành một trong những
mô hình cơ bản về cơ chế bảo hiến trên thế giới Sau đó tại Đức, dựa trên những yêu cầu thực tiễn về một cơ quan bảo hiến chuyên trách nhằm bảo
vệ giá trị tối cao của Hiến pháp, đồng thời đánh giá những ưu nhược điểm của mô hình bảo hiến Hoa Kỳ và cộng hòa Áo, năm 1949, Cộng hòa Đức
đã quyết định xây dựng cơ quan chuyên trách theo hướng tòa án Hiến pháp, vẫn dựa vào học thuyết của Hans Kelsen và Adolf Merkl để đặt nền tảng cho tòa án Hiến pháp ở Đức Tại thời điểm Đức xây dựng mô hình Tòa án Hiến pháp, cơ chế bảo hiến bằng tòa án kiểu Hoa Kỳ đang thể hiện rất nhiều những nét ưu việt sau một thời gian sử dụng trong thực tiễn, nếu
có thể áp dụng sẽ đem lại những hiệu quả nhất định Tuy nhiên, mô hình tòa án bảo hiến kiểu Hoa Kỳ nếu muốn áp dụng sẽ tồn tại rất nhiều khó khăn bởi nguyên tắc “nghị viện tối cao” vẫn tồn tại rất mạnh mẽ ở châu Âu
và Đức Quyền lực tối cao của nghị viện sẽ bị ảnh hưởng khi mọi tòa án đều có quyền đưa ra những phán quyết về tính hợp hiến văn bản pháp luật của nghị viện Không những thế, nhận định mô hình bảo hiến Hoa Kỳ đòi
Trang 2924
hỏi yêu cầu rất khắt khe về đội ngũ thẩm phán cũng như cần một hệ thống nguồn pháp luật, án lệ hoàn chỉnh, mô hình này cũng đi ngược lại việc vẫn đang sử dụng tập quán pháp trong hệ thống pháp luật tại Đức Vậy nên, mô hình bảo hiến Hoa Kỳ không được thừa nhận và áp dụng tại Đức Từ những nguyên nhân kể trên, dựa trên nền tảng mô hình bảo hiến của Áo, nước Đức đã lựa chọn xây dựng tòa án Hiến pháp là cơ quan bảo hiến chuyên trách với những điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh đất nước
Đặc điểm mô hình tòa án Hiến pháp ở Đức
Thứ nhất, tòa án Hiến pháp tiến hành hoạt động xem xét văn bản
pháp lý, hành vi, sự kiện một cách độc lập, có trình tự và thủ tục hoạt động riêng, thống nhất và đồng bộ, không bị ảnh hưởng bởi hệ thống tư pháp Trình tự thủ tục bảo hiến được xây dựng theo tính đặc thù mô hình, không
bị trùng lập với bất kỳ thủ tục tố tụng dân sự, hình sự hay hành chính Tòa
án Hiến pháp xem xét tất cả những vấn đề liên quan đến bảo vệ Hiến pháp, thụ lý không chỉ những vụ việc mang tính cụ thể mà còn tiến hành xem xét
cả những vấn đề có dấu hiệu vi hiến Tòa án Hiến pháp sẽ thụ lý tất cả những vụ việc được yêu cầu đúng trình tự thủ tục tố tụng
Thứ hai, tòa án Hiến pháp hoạt động độc lập với hệ thống cơ quan
quyền lực nhà nước, không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp hay tư pháp Tòa án Hiến pháp có quyền tuyên bố những văn bản pháp lý là vi hiến, có quyền đình chỉ hay hủy bỏ văn bản pháp luật
đã có hiệu lực pháp luật
Thứ ba, tòa án Hiến pháp là hoạt động trên nguyên tắc công khai,
thông thường hướng đến việc xem xét kiểm hiến sau, kiểm tra các văn bản
đã có hiệu lực pháp luật chứ không thực hiện nhiệm vụ kiểm hiến trước Điều này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của nước Đức khi xây dựng cơ quan chuyên trách, đặc điểm trên vừa mang tính đặc thù, vừa là hạn chế
của tòa án Hiến pháp
Trang 3025
Sự phát triển của mô hình tòa án Hiến pháp ở Đức
Mô hình bảo hiến bằng Tòa Hiến pháp với ưu điểm là một thiết chế tài phán độc lập, riêng biệt, có quyền hạn đặc biệt so với hệ thống tư pháp cũng như các cơ quan quyền lực nhà nước, là một trong những mô hình có thể áp dụng một cách thống nhất và đồng bộ từ việc xây dựng cơ quan bảo hiến đến trình tự, thủ tục xem xét mô hình tòa án Hiến pháp
Mô hình tòa án Hiến pháp là mô hình bảo vệ Hiến pháp được nhiều nước sử dụng nhất trên thế giới, có sự phát triển và lan tỏa rộng rãi trên toàn thế giới Mô hình tòa án Hiến pháp được đánh giá hiệu quả bậc nhất trong hoạt động bảo hiến Mô hình thể hiện được ưu điểm tối ưu của một thiết chế bảo hiến tập trung với sức mạnh phán quyết của cơ quan tư pháp Mọi quyết định của tòa án Hiến pháp đều mang tính độc lập, có thẩm quyền quyết định chung thẩm, bắt buộc với mọi đối tượng
Mô hình tòa án Hiến pháp ra đời với những ưu điểm của mình đã
phát triển vô cùng mạnh mẽ ở châu Âu điển hình là Áo và Đức Sau đó rất
nhiều các quốc gia trên thế giới lựa chọn và áp dụng cơ chế bảo vệ Hiến pháp Đến nay, tòa án Hiến pháp đã trở thành mô hình bảo hiến mà rất nhiều quốc gia ở khắp các khu vực trên thế giới lựa chọn áp dụng: Đức, Tây Ban Nha, Bỉ, Nga, Ba Lan, Séc, Hunggari, Hàn Quốc, Thái Lan…
1.2.4 Mô hình bảo hiến Quốc hội
Ngoài ba mô hình đặc thù đã nêu ở trên, thì trong lịch sử hình thành
và phát triển cơ chế bảo hiến trên thế giới cũng đã xuất hiện các mô hình bảo hiến khác Trong đó, mô hình bảo hiến nghị viện là mô hình được áp dụng ở một số quốc gia và đem lại những giá trị nhất định
Mô hình bảo hiến mà Quốc hội là cơ quan đại diện cho nhân dân có quyền bảo hiến Mô hình bảo hiến bằng nghị viện được áp dụng ở một số quốc gia như Liên Xô, các nước Đông Âu cũ, ở Trung Quốc, Lào và Việt Nam Mô hình được áp dụng ở không nhiều quốc gia và đã bộc lộ nhiều
Trang 3126
những nhược điểm khiến cho vấn đề bảo vệ Hiến pháp không được hiệu quả
ở các quốc gia áp dụng Mô hình bảo hiến xây dựng cơ quan thuộc ngành quyền lực lập pháp để xem xét những hành vi vi hiến Bên cạnh đó, Quốc hội là cơ quan không đủ trình tự và thủ tục đặc biệt để tiến hành xem xét vấn
đề vi hiến Việc lựa chọn mô hình bảo hiến bằng Quốc hội sẽ đem lại rất nhiều những hạn chế trong quá trình thực hiện chức năng Hiến pháp ở mỗi quốc gia
Mô hình bảo hiến Quốc hội tuy có những điểm hạn chế nhưng tại thời điểm xây dựng thì đây có thể coi là mô hình phù hợp nhất với chế độ chính trị Xã hội chủ nghĩa [8]
Quốc hội là cơ quan chuyên trách thực hiện hai chức năng bao gồm: lập hiến và kiểm hiến Quyền hạn Quốc hội là cao nhất, Quốc hội có thể tự mình thực hiện việc bảo vệ Hiến pháp, kiểm tra văn bản pháp luật hoặc trao quyền cho một ủy ban trực thuộc tiến hành bảo hiến Thông thường Quốc hội trao quyền cho ủy ban trực thuộc thực hiện bảo hiến
Mô hình bảo hiến bằng Quốc hội có trình tự và thủ tục đặc biệt, không được công bố rộng rãi Cơ quan có thẩm quyền sẽ tự động xem xét những hành vi, văn bản có dấu hiệu vi hiến và thông báo lại cho Quốc hội
xử lý nếu phát hiện sự vi hiến Quốc hội là cơ quan cuối cùng quyết định tính hợp hiến của vấn đề
1.3 Lý do lựa chọn mô hình bảo hiến trên thế giới
Như đã nhận định ở trên, mô hình bảo vệ Hiến pháp tồn tại ở mỗi quốc gia sẽ có những điểm khác biệt Trong điều kiện xây dựng cơ chế bảo hiến ở mỗi quốc gia, việc lựa chọn xây dựng mô hình bảo hiến nào phục thuộc vào rất nhiều yếu tố tác động khác nhau Bao gồm những yếu tố nội tại của một quốc gia như hoàn cảnh xã hội, chế độ chính trị mà quốc gia đấy lựa chọn hay sự tác động của những yếu tố từ bên ngoài, khách quan mang lại Sự tác động sẽ dẫn đến hình thành những mô hình bảo hiến khác
Trang 32Bảo vệ Hiến pháp không chỉ là bảo vệ riêng một bản khế ước giữa nhân dân và nhà nước mà bảo vệ tính thống nhất của pháp luật Sự tồn tại của cơ chế bảo hiến sẽ khiến các yếu tố của pháp luật luôn được đặt trong
sự giới hạn bảo vệ mà mọi hành vi tác động của các chủ thể khác đều không tiến tới được Đánh giá đúng được vai trò của bảo vệ Hiến pháp là vấn đề mà bất cứ hệ thống pháp luật cũng cần phải thực hiện Các quy định của pháp luật cần thiết phải hoàn thiện, thống nhất và đầy đủ để có thể đưa
cơ chế bảo hiến vào thực tiễn xã hội Nếu các cơ quan xây dựng pháp luật chưa nhìn nhận đúng vai trò của cơ quan tài phán Hiến pháp, chưa nhìn nhận tầm quan trọng của Hiến pháp với hệ thống pháp luật sẽ khiến cho cơ chế bảo hiến cho dù tồn tại cũng sẽ không hoạt động hiệu quả
Sự du nhập pháp luật cũng ảnh hưởng nhất định đến sự hình thành cơ chế tài phán Hiến pháp Các quốc gia thông thường sẽ lựa chọn hệ thống pháp luật tương ứng với chế độ chính trị mà quốc gia đã xây dựng Việt Nam và các nước Đông Âu chọn hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa của
Trang 3328
Liên Xô để xây dựng hệ thống pháp luật của mình Đến khi Liên Xô sụp đổ mới bắt đầu có những thay đổi, hệ thống pháp luật của Liên Xô đề cao cơ chế tập quyền nhà nước không nhìn nhận đúng đắn về vai trò của cơ chế bảo hiến dẫn đến việc Việt Nam cũng đã từng có đường lối và định hướng tương tự
Mô hình bảo vệ Hiến pháp hiệu quả chỉ được xây dựng khi hệ thống pháp luật của một quốc gia hướng tới sự hoàn chỉnh, khi yêu cầu hệ thống pháp luật yêu cầu có sự bảo vệ Hiến pháp Mô hình bảo vệ Hiến pháp sẽ tương ứng phù hợp sẽ với độ nhận thức, tầm quan trọng của pháp luật Thực tế đã chứng minh không phải quốc gia nào cũng có thể nhận thức đúng đắn vai trò của cơ chế bảo hiến Tuy nhiên, sau từng bước nghiên cứu
và xây dựng sẽ khẳng định sự tồn tại của mô hình bảo hiến yêu cầu thiết thực
1.3.2 Các yếu tố chính trị
Lợi ích chính trị là yếu tố đầu tiên mà giai cấp thống trị hướng tới khi xây dựng nhà nước Lợi ích chính trị có thể được hiểu là quyền lực của một người (chế độ độc tài) của một nhóm người (chế độ tư sản) hay số đông nhân dân (chế độ xã hội chủ nghĩa) dùng các công cụ, phương pháp
để quản lý xã hội nhằm phục vụ nhu cầu của nhóm đối tượng mình Lợi ích chính trị liên quan mật thiết đến bản chất, mục tiêu, nhiệm vụ, các điều kiện
về mặt kinh tế, xã hội hay đặc biệt là mức độ dân chủ của nhà nước Các nhóm đối tượng đã sử dụng nhiều cách thức để phục vụ lợi ích chính trị của mình, thực hiện quyền lực nhà nước nhưng về cơ bản có hai phương pháp chính để giai cấp thống trị thể hiện quyển lực của mình bao gồm [10]:
- Phương pháp dân chủ: chế độ nhà nước dân chủ (chế độ nhà nước dân chủ chủ nô, nhà nước dân chủ phong kiến, nhà nước dân chủ tư sản, nhà nước dân chủ xã hội chủ nghĩa)
Trang 3429
- Phương pháp phản dân chủ: chế độ nhà nước phản dân chủ (chế độ nhà nước độc tài, chế độ nhà nước chuyên chế chủ nô, chế độ nhà nước độc tài chuyên chế phong kiến, chế độ độc tài phát xít tư sản)
Bản chất của nhà nước quyết định đến mô hình bảo hiến mà quốc gia đấy xây dựng Nhà nước được hình thành là một tổ chức chính trị xã hội đặc biệt có giai cấp, có chức năng quản lý xã hội để phục vụ lợi ích trước hết cho giai cấp thống trị và thực hiện những hoạt động nảy sinh từ bản chất của xã hội Pháp luật là công cụ mạnh mẽ nhất để nhà nước sử dụng để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị đồng thời điều chỉnh những quan hệ xã hội Pháp luật được xây dựng dựa trên hệ tư tưởng của giai cấp thống trị
Mô hình bảo hiến xây dựng nhằm mục đích cơ bản là bảo vệ Hiến pháp, hạn chế sự lạm quyền của cơ quan nhà nước, phục vụ giai cấp thống trị và bảo vệ lợi ích cho nhân dân Vậy nên, xét cho cùng không phải trong bất kỳ thực thể nhà nước nào, mô hình bảo hiến cũng có thể tồn tại đúng nghĩa, có những chế độ mà mô hình bảo hiến gần như không thể hoặc có tồn tại cũng chỉ mang nặng tính hình thức Đặc biệt là những chế độ phản dân chủ khi nhà nước chỉ được dựng lên trên danh nghĩa, chuyên phục vụ lợi ích cho một cá nhân hay một nhóm người cụ thể Trong chế độ như thế, sự lạm quyền hay vi hiến (nếu tồn tại Hiến pháp) là điều xảy ra hết sức nghiêm trọng Hiến pháp có tồn tại thì cũng không thể can thiệp vào những mô hình như thế
Bởi vậy, chỉ có những chế độ nhà nước tiến bộ, hướng tới nền dân chủ thì mới xây dựng và hoàn thiện được mô hình bảo hiến đúng nghĩa Như đã giải thích, một nhà nước bao giờ cũng mang bản chất phục vụ một giai cấp nhất định Tuy nhiên, lợi ích chính trị của giai cấp cần được điều chỉnh phù hợp sao cho để có thể phục vụ lợi ích của số đông nhân dân Mô hình bảo hiến được xây dựng trong một chế độ dựa trên nền tảng dân chủ (ở mức độ nhất định) trong đó lợi ích chính trị của giai cấp phải hài hòa với lợi ích chính trị của nhân dân trong quốc gia Các quốc gia khi xây dựng
Trang 3530
mô hình bảo hiến cũng sẽ lựa chọn mô hình bảo hiến phù hợp với lợi ích chính trị của giai cấp thống trị, đồng thời phục vụ cơ bản nhu cầu các giai cấp còn lại Mô hình bảo hiến sẽ chỉ được chấp nhận khi không gây ảnh hưởng quá lớn đến lợi ích của giai cấp thống trị
1.3.3 Sự ảnh hưởng mô hình bảo hiến nước ngoài
Các quốc gia khi lựa chọn xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp sẽ chịu ảnh hưởng của những yếu tố từ chủ quan đến khách quan, đặc biệt là sự du nhập các mô hình bảo hiến từ những quốc gia khác Một số quốc gia chịu ảnh hưởng từ sự du nhập bởi những yếu tố địa lý hay văn hóa, còn đa phần thì chịu ảnh hưởng bởi sự du nhập thông qua con đường chính trị hay chiến tranh, các quốc gia thuộc địa sau khi giành độc lập chắc chắn sẽ chịu ảnh hưởng đa phần từ hệ thống pháp luật từ quốc gia khác Điển hình như các nước Bắc Phi luôn chịu ảnh hưởng bởi hệ thống pháp luật của Pháp, sự ảnh hưởng còn bao hàm cả lĩnh vực kinh tế, văn hóa, tinh thần và xã hội Nước Nhật sau chiến tranh phụ thuộc hoàn toàn vào Hoa Kỳ, nên đã lựa chọn xây dựng Hiến pháp sau chiến tranh có những đặc điểm cơ bản của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ
Hệ thống pháp luật chịu sự du nhập thì mô hình bảo hiến cũng sẽ chịu ảnh hưởng tương ứng Thời điểm sau chiến tranh thế giới thứ II, các quốc gia giành được độc lập bắt đầu xây dựng hệ thống pháp luật của quốc gia mình, đồng thời các quốc gia từng bước lựa chọn mô hình tài phán phù hợp để bảo vệ Hiến pháp Nếu như hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa thường đi theo mô hình tòa án Hiến pháp, các nước theo hệ thống thông luật sẽ sử dụng mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ, các nước xã hội chủ nghĩa lựa chọn mô hình bảo hiến nghị viện Sự du nhập các mô hình bảo hiến có thể mang đến mô hình bảo hiến nhưng không đồng nghĩa với việc đảm bảo được phù hợp với mỗi quốc gia Vì vậy luôn cần có sự điều chỉnh khi xây dựng mô hình bảo hiến Sự khác biệt giữa du nhập và áp dụng hoàn toàn
Trang 3631
một mô hình là rất lớn, áp dụng rập khuôn một mô hình chắc chắn sẽ không mang lại tính hiệu quả, các quốc gia cần có sự điều chỉnh trong mô hình tài phán Hiến pháp để mô hình có thể thực sự hiệu quả trong vấn đề bảo vệ Hiến pháp
1.3.4 Ưu, nhược điểm của mô hình bảo hiến
Mỗi mô hình bảo hiến trên thế giới đều mang những ưu, nhược điểm của riêng mình Khi lựa chọn xây dựng mô hình bảo hiến các quốc gia đều
có nghiên cứu nhằm có sự điều chỉnh các đặc điểm cơ bản để phù hợp với chế độ chính trị, hoàn cảnh xã hội Sự điều chỉnh đều dựa trên những ưu, nhược điểm của mô hình tài phán Hiến pháp được lựa chọn.Việc lựa chọn
mô hình bảo hiến đều hướng tới sự phù hợp với bối cảnh quốc gia, hạn chế những nhược điểm và tận dụng những điểm mạnh của mô hình
Đối với mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ thực hiện tài phán Hiến pháp
sẽ tồn tại những ưu điểm chung nhất bao gồm: Mô hình bảo hiến sử dụng tòa án ngay trong hệ thống tòa án tư pháp mà không cần xây dựng mới bất
kỳ cơ quan mới để tiến hành xem xét những hành vi vi hiến, những vụ việc liên quan đến vấn đề Hiến pháp Mô hình được xây dựng một cách đồng nhất, luôn đạt được hiệu quả cao trong việc bảo vệ Hiến pháp Tuy nhiên,
mô hình bảo hiến bằng tòa án thường thì phán quyết của Tòa tối cao bao giờ cũng có giá trị chung thẩm quyết định mọi vấn đề Tòa án có thể tuyên
bố có sự vi hiến, không tiến hành sử dụng văn bản đó trong hoạt động tố tụng của mình, khuyến cáo đến cơ quan lập pháp là nghị viện chứ không thể tự mình tuyên bố văn bản đó không còn hiệu lực pháp lý do đây là thẩm quyền cơ quan lập pháp hay Quốc hội
Bên cạnh đó, mô hình Tòa án Tư pháp bảo hiến cần có những yêu cầu khắt khe: hệ thống Tư pháp có đủ sự độc lập, đội ngũ thẩm phán có năng lực, hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, sử dụng án lệ là nguồn pháp luật,
Trang 3833
KẾT LUẬN CHƯƠNG I Phần lớn các quốc gia trên thế giới đã thừa nhận tầm quan trọng của bảo vệ Hiến pháp đối với việc xây dựng hệ thống pháp luật, cũng như sự tôn trọng bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp Tư tưởng bảo vệ Hiến pháp đã xuất hiện được một thời gian rất dài, ghi nhận thành nhiều mô hình bảo hiến khác nhau nhưng đều chung mục đích đảm bảo giá trị pháp lý tối cao của Hiến pháp Các quốc gia lựa chọn mô hình bảo hiến không giống nhau tuỳ thuộc vào những điều kiện tác động đến việc lựa chọn một cách khách quan hay chủ quan
Dựa trên mục đích, những đặc điểm cơ bản của mô hình bảo hiến các quốc gia có thể nhận thấy việc lựa chọn mô hình bảo hiến thường dựa trên bốn yếu tố bao gồm: các yếu tố chính trị, pháp luật, sự ảnh hưởng các mô hình bảo hiến và các ưu, nhược điểm của mô hình Sự hiệu quả của mô hình bảo hiến không phải là yếu tố quyết định đến việc lựa chọn mô hình
do có thể điều chỉnh nhằm tăng tính hiệu quả trong quá trình hoạt động Điểm cốt yếu khi lựa chọn mô hình bảo hiến là tìm mô hình thực sự phù hợp với quốc gia, thể chế chính trị và đảm bảo sự phát triển, ổn định cho toàn xã hội
Trang 3934
CHƯƠNG II:
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIẾN
Ở VIỆT NAM 2.1 Bảo hiến theo quy định của các Hiến pháp trong lịch sử 2.1.1 Những nền tảng ban đầu cho sự hình thành bảo hiến theo Hiến pháp năm 1946
Bối cảnh ra đời: Hiến pháp năm 1946 - Hiến pháp dân chủ đầu tiên
của nước ta được ra đời sau khi cách mạng tháng Tám thành công đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hoà Hiến pháp 1946 được xây dựng trong hoàn cảnh chiến tranh vẫn đang còn tiếp diễn, thù trong giặc ngoài vẫn còn đe dọa đến nền độc lập non trẻ của đất nước Việc ban hành Hiến pháp 1946 tại thời điểm là một cố gắng rất lớn nhằm tạo dựng hệ thống pháp luật cho đất nước Tuy được xây dựng trong khoảng thời gian ngắn, gặp vô vàn những điều kiện khó khăn nhưng Hiến pháp 1946 vẫn để lại những giá trị to lớn trong lịch sử lập hiến của đất nước Bản Hiến pháp thành văn đầu tiên được xây dựng trong những ngày đầu đất nước, quy định những vấn đề cơ bản nhất của đất nước trong thời
kỳ đầu giành được độc lập
Những nền tảng hình thành bảo hiến: Hiến pháp 1946 chưa ghi
nhận một mô hình bảo hiến cụ thể nhưng đã đánh giá chính xác tầm quan trọng của Hiến pháp với thực tiễn Hiến pháp năm 1946 không có điều khoản ghi nhận giá trị pháp lý tối cao của Hiến pháp Tuy nhiên, Hiến pháp
1946 cũng để lại những nền tảng nhất định về tư tưởng để có thể xây dựng
mô hình bảo hiến ở nước ta trong những giai đoạn sau Thứ nhất, thông
qua những quy định về quyền hạn ban hành, sửa đổi, những quy định về thể chế, nội dung thì có thể nhận thấy Hiến pháp 1946 là đạo luật nền tảng và
cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất [11] Hiến pháp 1946 phân chia quyền lực nhà nước thành ba nghành quyền lực bao gồm: lập
Trang 4035
pháp, hành pháp, tư pháp Trong đó, nghị viên nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thể hiện quyền làm chủ của nhân dân Các cơ quan nhà nước được trao quyền thông qua sự quy định của Hiến pháp, bộ máy và hoạt động của các cơ quan nói trên đều tuân thủ quy định Hiến pháp
Thứ hai, Hiến pháp 1946 đã ghi nhận quyền quyết định hiệu lực tồn
tại của Hiến pháp thông qua phúc quyết của nhân dân Hiến pháp 1946 quy
định: Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ
đến vận mệnh quốc gia, theo Điều thứ 32 và 70 [11’]
Hiến pháp 1946 quy định là đạo luật cơ bản quốc gia trao quyền lực cho Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, quy định quyền nghĩa vụ công dân, cách thức tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương và địa phương-cơ quan hành pháp và tư pháp Về cơ bản, các cơ quan nhà nước thực hiện và chấp hành đầy đủ quy định của Hiến pháp về quyền hạn và nghĩa vụ
Thứ ba, Hiến pháp 1946 tuy không thể hiện mô hình bảo vệ Hiến
pháp cho quốc gia nhưng đã có quy định cụ thể và rõ ràng về cơ quan có nhiệm vụ kiểm tra giám sát các văn bản quy phạm pháp luật tại điều 31 cũng như điều 36 Cơ chế bảo vệ Hiến pháp tại giai đoạn đã bắt đầu ghi nhận sự bảo vệ Hiến pháp thông qua cơ chế kiểm tra, giám sát của Quốc hội với cơ quan trong bộ máy nhà nước Tuy nhiên, quyền kiểm tra giám sát đối với các cơ quan nhà nước vẫn thường dựng lại ở mức khuyến nghị, sự ràng buộc giữa những văn bản mang tính pháp lý và Hiến pháp chưa cao Quyền quyết định vẫn thuộc về các cơ quan ban hành văn bản Hiến pháp chưa được ghi nhận đúng giá trị, hệ thống pháp luật vẫn còn rất nhiều lỗ hổng
Cơ chế bảo hiến chưa được ghi nhận trong Hiến pháp 1946 là do những nguyên khách quan là chủ yếu Hiến pháp xây dựng trong một khoảng thời gian ngắn, chưa có sự tiếp cận những mô hình bảo hiến trên thế giới do thời điểm đó các cơ chế tài phán Hiến pháp chưa được phổ biến rộng rãi, bên cạnh đó hoàn cảnh chiến tranh nên không tránh khỏi những