1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

91 504 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 660,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Luận văn ths luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ GIANG THANH

QUYÒN SöA B¶N ¸N S¥ THÈM CñA TßA ¸N PHóC THÈM

THEO Bé LUËT Tè TôNG H×NH Sù N¡M 2003

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ GIANG THANH

QUYÒN SöA B¶N ¸N S¥ THÈM CñA TßA ¸N PHóC THÈM

THEO Bé LUËT Tè TôNG H×NH Sù N¡M 2003

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG QUANG PHƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Hoàng Thị Giang Thanh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN SỬA BẢN ÁN SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN PHÚC THẨM 7

1.1 Khái niệm quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án phúc thẩm 7

1.2 Điều kiện làm phát sinh quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án phúc thẩm 12

1.3 Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2003 về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án phúc thẩm 13

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960 13

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1988 14

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2003 16

1.4 Quyền sửa bản án sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới 17

Chương 2: QUYỀN SỬA BẢN ÁN SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN PHÚC THẨM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 23

2.1 Quyền miễn trách nhiệm hình sự và sửa tội danh 23

2.1.1 Quyền miễn trách nhiệm hình sự 23

2.1.2 Quyền sửa tội danh 29

2.2 Quyền miễn, giảm, tăng và chuyển hình phạt 32

2.2.1 Quyền miễn hình phạt 32

Trang 5

2.2.2 Quyền giảm hình phạt 35

2.2.3 Quyền tăng hình phạt 37

2.2.4 Quyền chuyển hình phạt 39

2.3 Quyền sửa bản án sơ thẩm về các quyết định khác 42

2.3.1 Quyền giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo 42

2.3.2 Quyền sửa về phần bồi thường thiệt hại 45

2.3.3 Quyền sửa về xử lý vật chứng và các vấn đề khác 49

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ QUYỀN SỬA BẢN ÁN SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN PHÚC THẨM 51

3.1 Những vi phạm, sai lầm của Tòa án phúc thẩm trong thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền sửa bản án sơ thẩm 51

3.1.1 Sửa tội danh không đúng 52

3.1.2 Giảm hình phạt không đúng 54

3.1.3 Tăng hình phạt không đúng 55

3.1.4 Chuyền hình phạt không đúng 57

3.1.5 Cho bị cáo hưởng án treo không đúng 58

3.1.6 Sửa trách nhiệm dân sự không đúng 60

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành quy định quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án phúc thẩm 61

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật 61

3.2.2 Giải pháp hướng dẫn áp dụng pháp luật, tổng kết công tác xét xử, xây dựng và công bố án lệ 65

3.2.3 Giải pháp tập huấn nghiệp vụ và công tác cán bộ 71

3.2.4 Các giải pháp khác 75

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật dân sự BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TTHS: Tố tụng hình sự

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Tổng số vụ án hình sự sơ thẩm kháng cáo, kháng nghị bị

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ Đại hội lần thứ VI (năm 1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề

ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước Cải cách tư pháp là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết để có thể thích ứng với những đổi mới về chính trị, kinh

tế, văn hóa, xã hội Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 “Về một số

nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” của Bộ Chính trị là

Nghị quyết quan trọng, đề ra các chủ trương lớn, có tính đột phá nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong cải cách tư pháp

Đã có nhiều quy định của pháp luật ra đời thể chế hóa các quan điểm đổi mới của Đảng, trong đó có BLTTHS năm 1988 Đây là BLTTHS đầu tiên thể hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ

VI Sau 15 năm thi hành, mặc dù đã được sửa đổi bổ sung 3 lần, song BLTTHS năm 1988 vẫn có nhiều bất cập, trong đó có những bất cập đối với quy định về Thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm Năm

2003, BLTTHS mới được ban hành, tuy đã có những sửa đổi bổ sung song các quy định về thủ tục phúc thẩm nói chung và quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án phúc thẩm nói riêng về cơ bản vẫn giống BLTTHS 1988 Do đó, vẫn còn những tồn tại về vấn đề này phát sinh trong thực tiễn mà chưa được sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn thi hành Cụ thể là, quy định về các nội dung của bản án sơ thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩm được quyền sửa còn chưa đầy

đủ, mâu thuẫn với các quy định khác Thực tế tại các địa phương khác nhau

có những ý kiến khác nhau về trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa những nội dung không được quy định trong Điều 249 BLTTHS Không những thế, hậu quả của việc sửa bản án sơ thẩm còn liên quan tới những vấn đề khác về thẩm quyền xét xử hoặc liên quan tới cả công tác thi hành án hình sự Vậy cần

Trang 9

có nhận thức như thế nào về các nội dung tại Điều 249 BLTTHS, làm thế nào

để các sai sót trong bản án hình sự sơ thẩm được sửa chữa khắc phục tại cấp phúc thẩm một cách chính xác, đảm bảo nguyên tắc công bằng và chính sách nhân đạo trong xử lý hình sự?

Trong chế định về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, quyền sửa bản án sơ thẩm là một quyền rất quan trọng của Tòa án cấp phúc thẩm Nếu không có quyền này, thì khi các bản án sơ thẩm có sai sót sẽ không được sửa chữa khắc phục kịp thời Nếu bất kì sai sót nào của bản án sơ thẩm cũng bị hủy để xét xử lại hoặc y án để xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm thì sẽ vừa gây tốn kém thời gian, kinh phí, vừa không kịp thời bảo vệ được quyền con người và tạo niềm tin của nhân dân vào pháp luật Quyền sửa bản án khắc phục được tất cả những điểm hạn chế đó nên cần thiết phải có sự nghiên cứu sâu nội dung này

Ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết số

49/NQ-TW “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, trong đó chỉ rõ nhiệm

vụ là: “Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp…” và

“trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân” Khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 đã quy định “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm”

Với những lý do trên, cho thấy việc nghiên cứu về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm là vấn đề rất cần thiết, góp phần thi hành đúng và thống nhất quy định của Điều 249 BLTTHS và có giải pháp hoàn thiện quy định của BLTTHS về những vấn đề liên quan đến quyền sửa bản án

sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Từ khi có BLTTHS 1988 ra đời, và sau đó là BLTTHS 2003, các quy

Trang 10

định về thủ tục xét xử phúc thẩm là đối tượng nghiên cứu cho nhiều tác giả Qua khảo sát tình hình nghiên cứu cho thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu

về thủ tục xét xử phúc thẩm của Tòa án, nhưng quyền sửa bản án sơ thẩm mới được giới thiệu và nêu tại các nghiên cứu chung về thủ tục xét xử phúc thẩm, hoặc nghiên cứu chung về quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm

Các luận án, luận văn nghiên cứu về thủ tục xét xử có: Luận án “Thẩm

quyền của Tòa án các cấp theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam” của TS Nguyễn

Văn Huyên năm 2002; luận án “Phúc thẩm trong Tố tụng hình sự” của TS Nguyễn Đức Mai năm 2004; luận án “Nguyên tắc hai cấp xét xử trong Tố tụng

hình sự Việt Nam” của TS Vũ Gia Lâm năm 2008; luận văn “Thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong Tố tụng hình sự” của Ths Nguyễn Văn Tiến năm

1997; luận văn “Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm trong Tố tụng hình

sự Việt Nam” của Ths Nguyễn Thị Thu Hồng năm 2010 v.v

Trước khi có BLTTHS 2003 có một số bài nghiên cứu trên các báo, tạp

chí như: Hoàng Thị Sơn “Quyền hạn của Tòa án khi xét xử phúc thẩm” và

“Sửa bản án sơ thẩm theo Điều 221 BLTTHS”, tạp chí luật học số 6/1997 và 5/1999; Nguyễn Nông “Về quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án cấp phúc

thẩm”, tạp chí Tòa án nhân dân số 8/1994; Vũ Gia Lâm “Phạm vi xét xử và quyền sửa bản án sơ thẩm”, Tạp chí luật học số 5/2010; “Hoàn thiện một số quy định về xét xử phúc thẩm hình sự nhằm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc hai cấp xét xử”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 23/2006; và “Một số vấn đề về phạm vi xét xử và quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự”,

Tạp chí Tòa án nhân dân số 18/2009 Đinh Văn Quế “Một số vấn đề về sửa bản

án sơ thẩm trong xét xử phúc thẩm theo Bộ luật TTHS năm 2003”, Tạp chí Tòa

án nhân dân số 13/2006 Ngoài ra còn được đề cập tới ở một số tài liệu khác như Giáo trình luật TTHS của Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật TTHS của Viện đại học mở… và các sách chuyên khảo về kĩ năng xét xử

Trang 11

Như vậy, nội dung cụ thể về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm chủ yếu là một phần trong các nội dung nghiên cứu về thủ tục phúc thẩm của luận án tiến sĩ hoặc luận văn thạc sĩ Các nghiên cứu riêng biệt hơn mới chỉ dừng lại ở cấp độ là các nghiên cứu trao đổi trên các báo và tạp chí, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Điều đó càng cho thấy việc nghiên cứu toàn diện về quy định này là rất cần thiết, tạo sự thống nhất trong nhận thức và chính xác trong thực tiễn áp dụng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn bao gồm:

- Góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận chung về quyền sửa bản án sơ thẩm, tìm hiểu quy định này trong lịch sử luật TTHS Việt Nam và pháp luật TTHS của một số nước trên thế giới; giải thích rõ các quy định của BLTTHS có liên quan đến quyền sửa bản án sơ thẩm, những nội dung của bản án sơ thẩm Tòa án cấp phúc thẩm được quyền sửa; những lưu ý đối với từng nội dung đó

- Phân tích làm rõ những điểm hạn chế, thiếu sót trong quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm, phân tích những tồn tại hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định đó

- Đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu đã được đặt ra, luận văn tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Góp phần làm rõ khái niệm chung về thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm, rút ra đặc điểm, lịch sử phát triển và so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới

- Phân tích đánh giá sâu từng trường hợp cụ thể về thẩm quyền sửa bản

án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm

Trang 12

- Tìm hiểu thực tiễn thi hành quy định quyền sửa bản án sơ thẩm thông qua việc tổng hợp số liệu giải quyết và đánh giá một số bản án sơ thẩm bị Tòa

án cấp phúc thẩm sửa

- Đề ra những giải pháp sửa đổi bổ sung và hoàn thiện quy định pháp luật về quyền sửa bản án sơ thẩm nói riêng và nâng cao hiệu quả quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm; thực tiễn thi hành các quy định của BLTTHS về quyền sửa bản án sơ thẩm; các công trình, bài viết liên quan đến đề tài của luận văn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quy định có liên quan trong lịch sử phát triển của pháp luật TTHS của nước ta; nghiên cứu pháp luật TTHS của một số nước trên thế giới, và trọng tâm là nghiên cứu quy định tại Điều 249 của BLTTHS Việt Nam năm 2003 về quyền sửa bản án sơ thẩm và các quy định tại các văn bản pháp luật khác có liên quan Nghiên cứu cụ thể các nội dung quy định tại Điều 249 trong mối tương quan phù hợp với các văn bản pháp luật khác như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự v.v Đồng thời, luận văn tổng hợp số liệu và phân tích thực tiễn áp dụng Điều 249 của các Tòa án nhân dân trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2013

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -

Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp quyền Các giải pháp luận văn đưa ra được nghiên cứu dựa trên các quan điểm định hướng chỉ đạo của Đảng và nhà nước ta về cải cách tư pháp và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn hiện nay

Trang 13

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình

sự như: phân tích, đối chiếu, tổng hợp Luận văn cũng tiến hành thu thập số liệu thống kê về thực tiễn xét xử phúc thẩm của TANDTC trong những năm gần đây, đồng thời so sánh và giải thích những quan điểm khác nhau đối với các vấn đề có liên quan tới đối tượng nghiên cứu

6 Ý nghĩa của luận văn

Đây là luận văn nghiên cứu một cách chuyên sâu về thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm Kết quả nghiên cứu của luận văn

có ý nghĩa trong việc góp phần nhận thức đúng đắn, thống nhất về nội dung của quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm Luận văn đưa ra các giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn đối với việc hoàn thiện pháp luật TTHS của nước ta trong thời kì mới Thông qua việc tổng hợp phân tích số liệu xét

xử phúc thẩm, luận văn đưa ra được một cái nhìn tổng thể về thực tiễn thi hành quy định về sửa bản án sơ thẩm, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm Luận văn cũng có thể được tham khảo trong việc xây dựng dự án BLTTHS (sửa đổi)

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa

án phúc thẩm

Chương 2: Quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án phúc thẩm theo Bộ

luật tố tụng hình sự năm 2003

Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành quy định của Bộ

luật tố tụng hình sự về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa

án phúc thẩm

Trang 14

Tòa án cấp có thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của nước ta

là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm, bao gồm: TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tòa phúc thẩm TANDTC, Tòa án quân sự cấp quân khu và Tòa án quân sự trung ương Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành, Tòa án cấp phúc thẩm có những quyền hạn nhất định Quyền ở đây được hiểu là thẩm quyền, là cái mà luật pháp cho phép đối với một tổ chức hoặc cá nhân

Để hiểu khái niệm về Quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc

Trang 15

thẩm, trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là thẩm quyền của của Tòa án cấp

phúc thẩm Theo từ điển luật học thì thẩm quyền của Tòa án là “quyền xem

xét để kết luận và định đoạn một vấn đề pháp luật” [27, tr.890] Như vậy,

thẩm quyền của Tòa án nói chung và thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm nói riêng phải bao gồm 2 yếu tố cần và đủ là “xem xét” và “kết luận, định đoạt” (quyết định) Hai yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, Tòa án chỉ có thể kết luận và định đoạt sau khi đã tiến hành xem xét, và sau khi xem xét phải đưa ra được kết luận và định đoạt thì việc xem xét mới có ý nghĩa Tiến sĩ Nguyễn Đức Mai đưa ra khái niệm về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm là “toàn bộ các quyền hạn mà pháp luật dành cho Tòa án cấp trên trực tiếp trong việc xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể về các vụ án hình

sự do các Tòa án cấp dưới xét xử sơ thẩm, mà bản án (quyết định) chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị” Theo chúng tôi đây là một khái niệm tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh

Khi sửa bản án sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm đã làm cho một phần hoặc toàn bộ nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm trở nên khác với ban đầu, hay nói cách khác là làm thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm Như vậy có thể rút ra khái niệm: Quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm là quyền mà pháp luật dành cho Tòa án cấp trên trực tiếp trong việc xem xét quyết định các vấn đề cụ thể nhằm làm thay đổi một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị

BLTTHS năm 2003 quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:

1 Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau: a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; b) Áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;

c) Giảm hình phạt cho bị cáo;

Trang 16

d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;

đ) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo

2 Nếu có căn cứ, Tòa án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo cho cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị

3 Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức bồi thường thiệt hại, nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại, nguyên đơn dân sự; nếu có căn cứ, Tòa

án vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự

về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại [24, Điều 249]

Qua nghiên cứu quy định trên cho thấy quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được quyền sửa các nội dung của

bản án sơ thẩm có sai sót liên quan đến trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân

sự, hình phạt, điều luật áp dụng đối với bị cáo, xử lý vật chứng, không sửa các sai sót liên quan đến thủ tục tiến hành tố tụng Điều này xuất phát từ lý

do các sai sót về thủ tục tố tụng là sai sót ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền, lợi ích chính đáng của đương sự và bị cáo, làm cho quá trình xác định sự thật của vụ án không khách quan toàn diện và đầy đủ Sai sót về thủ tục tố

Trang 17

tụng là những gì đã xảy ra không thể lặp lại được nên không thể sửa lại được Nếu không sai lầm vi phạm nghiêm trọng thì chỉ rút kinh nghiệm, rút

ra bài học, nếu là sai lầm, vi phạm nghiêm trọng thì chỉ có thể hủy bản án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại

Thứ hai, phạm vi quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm

được quy định theo hướng mở rộng quyền sửa bản án theo hướng có lợi cho

bị cáo, hạn chế quyền sửa bản án theo hướng bất lợi hơn cho bị cáo

Hầu như tất cả các vấn đề liên quan tới trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo Tòa án cấp phúc thẩm đều có thể xem xét và sửa theo hướng có lợi cho bị cáo Điều kiện để Tòa án phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng này được quy định khá mở rộng nhưng cũng không quá lỏng lẻo để tránh việc biến cấp phúc thẩm trở thành cấp sơ thẩm thứ hai Ngoài yêu cầu chung là có kháng cáo kháng nghị (kể cả kháng cáo, kháng nghị theo hướng không có lợi cho bị cáo) thì không có bất kì một hạn chế nào khác trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa phúc thẩm

Ngoại trừ trường hợp miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt và trường hợp giảm mức bồi thường thiệt hại, các trường hợp khác Tòa án phúc thẩm đều xem xét và áp dụng đối với cả bị cáo không kháng cáo hoặc không

bị kháng cáo kháng nghị Điều 241 BLTTHS quy định nguyên tắc, “Toà án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị”, tuy nhiên “nếu xét thấy cần thiết thì toà án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án” Điều 241 BLTTHS không quy định thế nào là trường hợp “cần thiết” và hiện nay cũng chỉ có Thông tư liên ngành số 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLN ngày 08/12/1988 của TANDTC và VKSNDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong BLTTHS giải thích “trường hợp cần thiết là trường hợp ở phần không bị kháng cáo hoặc kháng nghị có điểm cần được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo” Một điểm nữa là Tòa án

Trang 18

có thể xem xét sửa bản án sơ thẩm có lợi cho cả bị cáo bị kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng

Đối với việc sửa bản án theo hướng không có lợi cho bị cáo, Khoản 3 Điều 249 BLTTHS 2003 quy định rất rõ ràng về giới hạn Tòa án phúc thẩm chỉ được sửa tăng nặng ba vấn đề, đó là: Tăng hình phạt, áp dụng điều khoản

Bộ luật hình sự về tội nặng hơn và tăng mức bồi thường thiệt hại Điều kiện

để được sửa theo hướng này cũng bị ràng buộc với nhiều yêu cầu chặt chẽ hơn như: Nội dung kháng cáo, kháng nghị phải có yêu cầu Tòa án xem xét tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn hoặc tăng mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo; Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo hoặc Viện kiểm sát không được thay đổi nội dung kháng cáo kháng nghị làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; Mặt khác nếu người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo kháng nghị vắng mặt tại phiên tòa có

lý do chính đáng thì Tòa án có thể vẫn tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho bị cáo hoặc đương sự vắng mặt Đặc biệt, Tòa án phúc thẩm không xem xét tăng nặng đối với bị cáo không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo kháng nghị Quy định trên buộc người kháng cáo hoặc Viện kiểm sát phải thận trọng trong việc kháng cáo hoặc kháng nghị, buộc Tòa án cấp phúc thẩm phải thận trọng trong việc quyết định sửa án sơ thẩm theo hướng bất lợi

Thứ ba, Tòa án cấp phúc thẩm không sửa bản án sơ thẩm từ tuyên bố bị

cáo không có tội thành có tội Xuất phát từ nguyên tắc chung là “bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”, việc Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo không có tội thành có tội sẽ làm mất

đi quyền bào chữa và quyền kháng cáo của bị cáo đối với tội danh mới bị tuyên trong bản án phúc thẩm

Trang 19

Tóm lại, quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm là một quy định rất quan trọng Tòa án cấp phúc thẩm làm thay đổi các nội dung của bản án hình

sự sơ thẩm có sai sót để kịp thời sửa chữa khắc phục sai lầm trong công tác xét xử, kịp thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và đương

sự, đồng thời góp phần hạn chế tình trạng oan sai trong xử lý hình sự

1.2 Điều kiện làm phát sinh quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án phúc thẩm

Điều kiện làm phát sinh quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm chính là có kháng cáo hoặc kháng nghị hợp pháp theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật

Kháng cáo là việc những người tham gia tố tụng do pháp luật tố tụng quy định đề nghị Toà án cấp trên trực tiếp xét lại bản án và quyết định của tòa án cấp

sơ thẩm đang trong thời hạn kháng cáo nhằm bảo đảm cho họ có điều kiện bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tòa án xử lí vụ án [13, tr.192]

Theo quy định tại Điều 231 BLTTHS vàNghị quyết số HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS, chủ thể có quyền kháng cáo gồm có: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại; nguyên đơn dân

05/2005/NQ-sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ; người được Toà án tuyên bố là không có tội có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ không có tội Thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 234 BLTTHS: Đối với những người có mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Đối với những người vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết

Kháng nghị là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện việc

Trang 20

phản đối toàn bộ hay một phần nội dung bản án, quyết định của Toà án với mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công bằng đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án [27, tr.418] Chủ thể

có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật là Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cùng cấp hoặc Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp với Toà án đã ra bản án sơ thẩm Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm

1.3 Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2003

về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án phúc thẩm

Lịch sử pháp luật TTHS nước ta trong từng giai đoạn có những quy định khác nhau về quyền sửa bản án sơ thẩm

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960

Ngay sau khi giành được chính quyền, đáp ứng nhu cầu cấp bách của

xã hội, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật như: Sắc lệnh số 33c/SL ngày 13/9/1945, sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946, sắc lệnh 51/SL ngày 17/4/1946 quy định việc thành lập Tòa án quân sự và thẩm quyền xét

xử của Tòa án quân sự Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 và sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 nêu rõ việc phân định thẩm quyền của Tòa án quân sự, trong

đó đối với các vụ án hình sự thì Tòa án sơ cấp vừa có thẩm quyền xử sơ thẩm

và chung thẩm, Tòa án đệ nhị cấp có thẩm quyền xử chung thẩm những án vi cảnh của Tòa án sơ cấp bị kháng cáo, Tòa thượng thẩm có thẩm quyền xử chung thẩm những án kháng cáo sơ thẩm của Tòa đệ nhị cấp

Riêng đối với các vụ án phản cách mạng hoặc vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự thì giai đoạn 1946 - 1957 không xét xử đến cấp thứ hai, bản án sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật và được thi hành ngay (sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 và sắc lệnh số 156/SL ngày 17/11/1950)

Trang 21

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại ở miền Bắc, Thủ tướng Chính phủ ra nghị định số 300/TTg ngày 14/8/1959 thiết lập lại hệ thống Tòa

án, và khi đó Tòa án cấp phúc thẩm được chia tại 3 khu vực: Tại Hà Nội, Hải Phòng và Vinh, có nhiệm vụ xét xử lại các vụ án hình sự sơ thẩm bị kháng cáo kháng nghị Sau Nghị định 331/TTg ngày 20/10/1959, TAND tách khỏi

Bộ tư pháp và Tòa án tối cao được thành lập “có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm những vụ án do tòa án cấp dưới xét xử trong trường hợp có kháng nghị của cơ quan công tố”

Với đặc điểm tình hình đất nước có chiến tranh, bị chia cắt hai miền Nam Bắc nên trong giai đoạn này có khá nhiều văn bản pháp luật về TTHS được ban hành, tuy nhiên chủ yếu là các văn bản điều chỉnh về thiết lập và hoàn thiện hệ thống Tòa án nhân dân và thẩm quyền chung của các Tòa án

Hệ thống văn bản TTHS không có quy định nào xác định cụ thể khi xét xử phúc thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm có thẩm quyền sửa đổi nội dung gì của bản án sơ thẩm

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1988

Luật tổ chức TAND 1960 ra đời, sau đó là Pháp lệnh tổ chức TANDTC, Pháp lệnh tổ chức TAND địa phương, Điều lệ tổ chức của Tòa án các cấp trong khu tự trị Việt Bắc và Tây Bắc Điều 9 Luật tổ chức TAND

1960 quy định rõ “Tòa án nhân dân thực hành chế độ hai cấp xét xử”, trên cơ

sở đó nhà nước ban hành nhiều văn bản có quy định về phúc thẩm trong TTHS

Thông tư 03/NCPL ngày 19/5/1967 của TANDTC là văn bản đầu tiên quy định về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc xét lại bản án sơ thẩm có kháng cáo kháng nghị Theo đó Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án, kể cả đối với người không có kháng cáo hoặc kháng nghị Thông tư này đã đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết trong hoàn cảnh

Trang 22

pháp luật tố tụng nước ta còn thiếu và có tác dụng giúp công tác xét xử phúc thẩm tiến hành thuận lợi, nhưng qua một thời gian áp dụng đã bộc lộ nhược điểm là làm cho công tác xét xử phúc thẩm trở nên nặng nề Rút kinh nghiệm, TANDTC đã ban hành thông tư số 19-TATC ngày 02/10/1974 kèm theo bản hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc thẩm về hình sự, quy định đầy đủ và hợp lý hơn về thẩm quyền của Tòa án phúc thẩm trong việc xét lại bản án sơ thẩm

Về quyền sửa bản án sơ thẩm, thông tư đã quy định rất rõ ràng và cụ thể Các quyền mà Tòa án cấp phúc thẩm có thể sửa bản án bao gồm: Tòa án cấp phúc thẩm có thể tha miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Về hình phạt:

Có thể tha miễn hình phạt cho bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo nếu nhận định bản án sơ thẩm đã tuyên hình phạt quá nặng; Về tội danh: Có thể tuyên

bố bị cáo vô tội nếu xét thấy bản án sơ thẩm kết tội bị cáo không có căn cứ, có thể xác định lại tội danh nhẹ hơn so với tội danh Tòa án sơ thẩm đã tuyên Trong vụ án có cộng phạm có thể giải quyết cả cho bị cáo khác tuy không có kháng cáo kháng nghị

Tòa án được sửa bản án theo hướng làm bất lợi cho bị cáo với các trường hợp: có thể kết tội và tuyên hình phạt đối với bị cáo đã được bản án sơ thẩm tuyên vô tội hoặc tha miễn trách nhiệm hình sự, tha miễn hình phạt; có thể xử tội danh nặng hơn, tăng nặng hình phạt Đối với bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng nghị về phần hình phạt thì vấn đề sửa bản án sơ thẩm theo hướng nặng hơn không đặt ra Tuy nhiên Tòa án cấp phúc thẩm vẫn

có thể sửa tội danh và hình phạt trong một số trường hợp cụ thể như: có thể

xử tội danh nặng hơn nếu tại phiên tòa chính bị cáo cũng thừa nhận tội danh nặng hơn, có thể bổ sung thêm hình phạt phụ vào hình phạt chính mà hình phạt chính vẫn được giữ nguyên v.v Ngoài ra cũng có thể sửa về bồi thường thiệt hại và xử lý tang vật [31, tr 224-227]

Trang 23

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2003

Bộ luật TTHS 1988 ra đời trong giai đoạn đầu của thời kì đổi mới, đánh dấu bước ngoặt quan trọng Đây là Bộ luật đầu tiên quy định cụ thể, chi tiết thẩm quyền của Tòa án, trình tự tố tụng trong xét xử vụ án hình sự, trong đó

có quy định chi tiết về các trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm tại Điều 221 Điều luật quy định rất rõ ràng hai trường hợp Toà án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm, cụ thể:

1-Toà án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau: a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt cho bị cáo;

b) Áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;

c) Giảm hình phạt cho bị cáo;

d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng

2- Nếu có căn cứ, Toà án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn cho cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị 3- Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Toà án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức bồi thường thiệt hại, nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại, nguyên đơn dân sự; nếu có căn cứ, Toà

án vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự

về tội nhẹ hơn và giảm mức bồi thường thiệt hại [23, Điều 221] BLTTHS 1988 sau đó đã được sửa đổi bổ sung ba lần (tháng 7/1990, tháng 12/1992 và tháng 6/2000) và đến năm 2003 BLTTHS mới được ban hành Mặc dù quá trình thi hành Bộ luật cũ đã nảy sinh nhiều vướng mắc bất cập, nhưng về cơ bản quyền sửa bản án sơ thẩm tại BLTTHS năm 2003 vẫn

Trang 24

được quy định trên cơ sở kế thừa quy định tại BLTTHS năm 1988, gần như không thay đổi nhiều, chỉ bổ sung thêm trường hợp: “chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo”

Nhìn lại quá trình phát triển của pháp luật TTHS nước ta từ năm 1945 đến năm 2003 có thể thấy rõ sự linh hoạt trong việc lựa chọn xu hướng điều chỉnh thẩm quyền của Tòa án phúc thẩm trong từng thời kì Giai đoạn 1967-

1974, thực hiện theo thông tư số 03-NCPL ngày 19/5/1967, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xem xét lại toàn bộ vụ án và xem xét đối với cả người không kháng cáo hoặc bị kháng nghị Sau khi thông tư 19-TATC ngày 02/10/1974

ra đời thì thẩm quyền của Tòa án phúc thẩm được điều chỉnh thu hẹp, chỉ xem xét lại vụ án trong phạm vi kháng cáo kháng nghị yêu cầu, có mở rộng xem xét theo hướng có lợi đối với bị cáo đồng phạm khác tuy không có kháng cáo kháng nghị

Xét xử phúc thẩm là giai đoạn thể hiện rõ nét nhất tính nhân đạo của chính sách hình sự, có nhiệm vụ kịp thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị cáo, vì vậy việc hạn chế làm xấu hơn tình trạng của bị cáo là điều cần thiết Ngày nay, nguyên tắc này được ghi nhận trong pháp luật TTHS của nhiều quốc gia và được coi là một yêu cầu đặc trưng của thủ tục phúc thẩm trong TTHS Quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm trong pháp luật TTHS của nước ta từ năm 1960 trở lại đây và nhất là quy định tại BLTTHS năm 2003 cũng chịu ảnh hưởng và được phát triển dựa trên nguyên tắc trên

1.4 Quyền sửa bản án sơ thẩm trong pháp luật tố tụng hình sự một

số nước trên thế giới

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, pháp luật của các nước trên thế giới quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm theo hai xu hướng Một số nước điều chỉnh mở rộng thẩm quyền của Tòa án phúc thẩm (phúc thẩm mở rộng), ngược lại một số nước lại điều chỉnh thu hẹp thẩm quyền này (phúc

Trang 25

thẩm thu hẹp) Phúc thẩm mở rộng không hạn chế quyền xem xét quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm đối với bản án bị kháng cáo kháng nghị theo bất cứ hướng nào Ngược lại, phúc thẩm thu hẹp hạn chế phạm vi xem xét kháng cáo kháng nghị để không biến cấp phúc thẩm thành cấp sơ thẩm thứ hai [5, tr 39-42] Mỗi

xu hướng đều có những ưu nhược điểm riêng, việc các quốc gia lựa chọn xu hướng điều chỉnh nào đều phải căn cứ vào chế độ chính trị, mô hình tố tụng

và chính sách hình sự của quốc gia mình Qua nghiên cứu cho thấy dù đi theo

xu hướng nào, quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm trong pháp luật TTHS của đa số các nước đều có đặc trưng là không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo và mở rộng quyền sửa bán án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo

Luật TTHS của nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa, được Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc thông qua ngày 01 tháng 7 năm 1979, và được sửa đổi theo Quyết định sửa đổi Luật TTHS của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ngày 17 tháng 3 năm 1996 (sau đây gọi là luật TTHS Trung Quốc) Luật TTHS của Trung Quốc có cấu trúc tương tự như luật TTHS của Việt Nam, cũng quy định nguyên tắc hai cấp xét xử Đây là Bộ luật điển hình cho xu hướng điều chỉnh mở rộng thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc xem xét bản án sơ thẩm

Khi vụ án có kháng cáo hoặc bị kháng nghị thì:

Toà án cấp phúc thẩm phải tiến hành xem xét toàn diện các tình tiết và áp dụng pháp luật trong bản án sơ thẩm và không được giới hạn phạm vi kháng cáo, kháng nghị Nếu chỉ có một số bị cáo trong vụ án đồng phạm kháng cáo thì vẫn xem xét giải quyết toàn

bộ vụ án[42, Điều 186]

Đối với thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm, Khoản 2, 3 Điều 189 quy định:

Trang 26

Nếu phán quyết ban đầu không có sai sót trong việc xác định các tình tiết nhưng áp dụng pháp luật không chính xác hoặc hình phạt không phù hợp, Toà án phải sửa bản án và nếu những tình tiết trong phán quyết ban đầu không rõ ràng hoặc chứng cứ không đầy đủ, Toà

án có thể sửa đổi bản án sau khi điều tra rõ sự việc… [42]

Luật TTHS Trung Quốc cũng hạn chế việc sửa bản án sơ thẩm làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, Điều 190 quy định:

Khi xét xử những vụ án có kháng cáo của bị cáo hoặc của người đại diện theo pháp luật, người bào chữa hoặc họ hàng thân thích của họ, Toà án cấp phúc thẩm có thể không tăng hình phạt đối với bị cáo Những hạn chế quy định tại khoản trên sẽ không được

áp dụng đối với những vụ án có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân hoặc kháng cáo của tư tố viên [42]

Bộ luật TTHS Liên bang Nga (được Đuma Quốc gia thông qua ngày 22 tháng 11 năm 2001 và được Quốc hội phê chuẩn ngày 05 tháng 12 năm 2001) được điều chỉnh theo hướng phúc thẩm thu hẹp Bộ luật quy định các quyết định của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật có thể bị các bên kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục chống án hoặc thủ tục phúc thẩm, ở đây luận văn sẽ

để cập đến thủ tục phúc thẩm Điều 360 quy định phạm vi xét xử vụ án hình

sự của Toà án cấp phúc thẩm:

Khi giải quyết vụ án hình sự theo thủ tục phúc thẩm Toà án

có quyền giảm hình phạt cho người bị kết án hoặc áp dụng luật hình

sự về tội nhẹ hơn nhưng không có quyền tăng nặng hình phạt, áp dụng luật hình sự về tội nặng hơn

Toà án cấp phúc thẩm có quyền sửa đổi bản án kết tội cũng như bản án tuyên vô tội theo hướng áp dụng luật hình sự về tội nặng hơn hoặc tăng nặng hình phạt trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 383 và Điều 385 Bộ luật này [42]

Trang 27

Như vậy Bộ luật cũng quy định hạn chế việc Tòa án phúc thẩm sửa hoặc hủy bản án theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, và không hạn

chế việc sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho bị cáo Căn cứ sửa bản án

sơ thẩm được quy định tại Điều 379 bao gồm:

1) Kết luận của Toà án nêu trong bản án không phù hợp với những tình tiết thực tế của vụ án được Toà án cấp sơ thẩm hoặc cấp chống án xác định;

Bộ luật TTHS của Cộng hòa Pháp cũng quy định hạn chế việc sửa án

sơ thẩm theo hướng không có lợi cho bị cáo, mở rộng tối đa quyền sửa bản án theo hướng có lợi cho bị cáo Hệ thống Tòa án hình sự của Pháp gồm có Tòa đại hình (xét xử những các tội phạm có độ nguy hiểm cao, khung hình phạt trên 06 năm tù) và Tòa tiểu hình Trước năm 2000, các phán quyết của Tòa đại hình có tính chất chung thẩm, không bị kháng cáo kháng nghị Từ khi ra đời của Luật 15 tháng 6 năm 2000, các phán quyết của Tòa đại hình có thể bị kháng cáo và được xem xét lại ở một Tòa đại hình khác Liên quan tới sửa phán quyết sơ thẩm, Điều 380-3 BLTTHS Pháp quy định: “Toà đại hình, khi giải quyết việc truy tố dựa trên kháng cáo, không thể ấn định một hình phạt nghiêm khắc hơn đối với bị cáo khi chỉ có bị cáo kháng cáo” [42]

Trang 28

BLTTHS Pháp quy định:

Toà đại hình xét xử một vụ kiện dân sự có kháng cáo không thể làm xấu đi tình trạng của bị cáo nếu đó là bị cáo, người chịu trách nhiệm theo luật dân sự hoặc bên dân sự đã kháng cáo duy nhất Bên dân sự không được quyền đưa ra những đòi hỏi mới trong kháng cáo Tuy nhiên, họ có thể đòi hỏi tăng mức thiệt hại phải chịu từ lần phán quyết đầu tiên Thậm chí khi không có kháng cáo đối với phán quyết trong vụ kiện dân sự, nạn nhân được ghi trong hồ sơ là bên dân sự ở cấp sơ thẩm có thể thực hiện các quyền dành cho bên dân sự trước toà đại hình thụ lý kháng cáo cho đến khi kết thúc tố tụng Người này cũng có thể yêu cầu áp dụng các quy định của đoạn này cũng như của điều 375 [42, Điều 380-6] Đối với các kháng cáo phán quyết của Tòa tiểu hình thì được xét xử phúc thẩm tại Tòa tiểu hình phúc thẩm BLTTHS Pháp quy định:

Nếu Viện Công tố kháng nghị, Tòa tiểu hình phúc thẩm có thể giữ nguyên bản sơ thẩm hoặc sửa toàn bộ hoặc một phần theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo

(Luật số 83-608 ngày 8-7-1983) Nếu chỉ có kháng cáo của bị cáo, của người phải chịu trách nhiệm dân sự, của nguyên đơn dân

sự hoặc của người bảo hiểm của một trong những người nêu trên thì Tòa án không thể quyết định theo hướng tăng hình phạt đối với người kháng cáo

Khi kháng cáo, nguyên đơn dân sự không thể nếu bất cứ yêu cầu

gì mới; tuy nhiên, nguyên đơn dân sự có thể yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại phải chịu từ khi có quyết định sơ thẩm [42, Điều 515] BLTTHS của Nhật Bản hiện tại được ban hành năm 1948 quy định trong

vụ án hình sự bị cáo và bên công tố được kháng cáo lên Tòa án cấp trên Kháng

Trang 29

cáo lần đầu (kháng cáo koso) được trình lên Tòa án phúc thẩm và giải quyết theo thủ tục phán quyết nhanh Điều 402 quy định “Liên quan đến vụ án do bị cáo hoặc người thay mặt bị cáo kháng cáo Koso, không được tuyên hình phạt nặng hơn so với phán quyết ban đầu” Kháng cáo thứ hai (kháng cáo jokoku) được trình lên Tòa án tối cao Điều 415 quy định “Toà án cứu cánh cuối cùng

có thể, khi phát hiện ra các sai lầm trong nội dung phán quyết, cải sửa chúng bằng một phán quyết theo đơn của công tố viên, bị can, hoặc người bào chữa”,

và “Phán quyết cải sửa được ban hành không cần tranh luận” [42]

Trang 30

Chương 2

QUYỀN SỬA BẢN ÁN SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN PHÚC THẨM THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003

2.1 Quyền miễn trách nhiệm hình sự và sửa tội danh

2.1.1 Quyền miễn trách nhiệm hình sự

Theo TS Trịnh Tiến Việt, dưới góc độ khoa học pháp lý thì:

Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc một người đáp ứng những điều kiện nhất định phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội [39, tr 97]

Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã có đủ dấu hiệu cấu thành một tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS, lẽ ra họ phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng do có những sự kiện nhất định họ không bị buộc phải chịu trách nhiệm hình sự nữa, và việc không buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự vẫn bảo đảm được các yêu cầu của đấu tranh phòng ngừa tội phạm cũng như răn đe người khác phạm tội Theo quy định của BLHS hiện hành, khi bản án sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, phải chịu hoặc không phải chịu hình phạt, xét thấy việc buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là chưa đúng, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo

2.1.1.1 Miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 BLHS

Khi tiến hành xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm có thể miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nếu do sự chuyển biến của tình hình mà hành

vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Sự chuyển biến của tình hình được hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP

Trang 31

ngày 05/01/1986, tuy nhiên đây là hướng dẫn thi hành BLHS năm 1985, đó là

sự chuyển biến về “chính trị, kinh tế, xã hội” Việc miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo trong trường hợp này không phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan, tức là không phụ thuộc vào việc bị cáo có những hành động làm cho hành vi của mình hoặc bản thân mình không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, mà cơ sở của trường hợp này là do các yếu tố khách quan (sự chuyển biến của tình hình) làm cho chính hành vi của bị cáo hoặc chính bản thân bị cáo không còn nguy hiểm cho xã hội nữa

Do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi không còn nguy hiểm cho

xã hội nữa, tức là: vào thời điểm một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xã hội thì hành vi đó bị coi là tội phạm, nhưng sau khi khởi tố điều tra, truy tố hoặc xét xử, tình hình xã hội thay đổi và nếu đặt hành vi cũ vào hoàn cảnh mới thì hành vi đó không còn nguy hiểm nữa Khi hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, người thực hiện hành vi có thể phải chịu các hình thức xử lý khác (phạt tiền, kỷ luật, cảnh cáo…) mà không phải chịu trách nhiệm hình sự Cơ sở xác định sự chuyển biến tình hình chính là sự thay đổi

về chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Ví dụ: Người có hành vi trộm cắp tài sản trị giá 1.500.000đ theo BLHS năm 1999 bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng tại thời điểm xét xử BLHS năm 1999 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 có hiệu lực thì hành vi đó không bị coi là tội phạm và bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự, do BLHS sửa đổi năm 2009 đã nâng giá trị tài sản trộm cắp được nâng lên 2.000.000đ

Do sự chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, tức là trước khi có sự chuyển biến của tình hình người

đó là phần tử nguy hiểm cho xã hội, đáng phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mình đã thực hiện Tuy nhiên tại thời điểm bị điều tra, truy

tố hoặc xét xử, cùng với sự chuyển biến của tình hình thì người này không

Trang 32

còn là phần tử nguy hiểm cho xã hội nữa, không cần thiết phải xử lý trách nhiệm hình sự đối với họ Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự do các yếu tố khách quan tác động dẫn đến bản thân người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, không còn khả năng thực hiện tội phạm nữa, chứ không phải là do các yếu tố chủ quan của người phạm tội (như họ bị bệnh rất nặng hoặc có thành tích đặc biệt trong chiến đấu hoặc sản xuất…) Ví dụ: Một người sau khi phạm tội bị tai nạn liệt toàn thân hoặc phải sống cuộc sống thực vật, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự [39, tr 137]

2.1.1.2 Miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 25 BLHS

Bị cáo có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi đáp ứng đủ các điều kiện:

Thứ nhất, trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, bị cáo đã tự thú Khi

áp dụng quy định này chúng ta cần phân biệt để tránh nhầm lẫn giữa hai khái niệm “tự thú” và “đầu thú” “Tự thú” được hiểu là sau khi thực hiện hành vi phạm tội mặc dù chưa có cá nhân tổ chức nào phát hiện nhưng bị cáo không trốn tránh và đã chủ động khai báo về hành vi phạm tội mình đã gây ra Ngược lại, “Đầu thú” là trường hợp hành vi phạm tội của bị cáo đã bị phát giác, bị cáo biết mình không thể trốn tránh được nên chủ động ra trình diện

Thứ hai, khi tự thú bị cáo phải khai rõ sự việc phạm tội, không che giấu bất kỳ tình tiết nào Những thông tin bị cáo cung cấp giúp ích cho cơ quan điều tra trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ tội phạm Khi áp dụng điều kiện này Tòa án cấp phúc thẩm thường có sự nhầm lẫn với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm q Khoản 1 Điều 46 BLHS là “Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm”

Cả hai tình tiết trên đều xét tới các hành động tích cực của người phạm tội như: người phạm tội đã khai rõ sự việc, hoặc cung cấp các thông tin, về đồng phạm, tang vật, cung cấp tài liệu, bằng chứng… v.v những hành động đó có

Trang 33

ý nghĩa tích cực giúp cơ quan chức năng nhanh chóng phát hiện điều tra tội phạm Nhưng các hành động trên nếu đi kèm yếu tố “tự thú” thì bị cáo sẽ được xét miễn trách nhiệm hình sự, và nếu không có yếu tố “tự thú” thì đây chỉ là tình tiết để xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo

Thứ ba, cùng với việc tự thú thì bị cáo đã chủ động cố gắng hạn chế tới mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, và kết quả là thiệt hại đã không xảy ra hoặc đã xảy ra nhưng không đáng kể

Có thể nhận thấy, bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp này hoàn toàn do những hành vi chủ quan tích cực của bị cáo Đây là sự thể hiện chính sách nhân đạo trong xử lý hình sự, Nhà nước ta hướng người phạm tội thực hiện các hành vi tích cực để được hưởng sự khoan hồng

2.1.1.3 Miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 3 Điều 25 BLHS

Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại

xá Theo từ điển Luật học thì “đại xá” là việc miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt, hoặc thay hình phạt đã tuyên bằng một hình phạt nhẹ hơn đối với một loại phạm nhân nhất định Thẩm quyền ban hành quyết định đại xá thuộc

về Quốc hội, cơ sở để ban hành quyết định đại xá là trong dịp có sự kiện lịch

sử đặc biệt quan trọng của đất nước Quyết định đại xá có đối tượng áp dụng

là hành vi phạm tội, có hiệu lực đối với những hành vi được nêu trong quyết định và xảy ra trước khi ban hành quyết định đại xá Nếu hành vi đã bị khởi

tố, truy tố hoặc xét xử thì phải đình chỉ, nếu đã chấp hành xong hình phạt thì không được coi là có án tích

Khi miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội trong trường hợp này cần lưu ý với khái niệm “đặc xá”, “đặc xá” là miễn toàn bộ hay một phần hình phạt hoặc giảm nhẹ hình phạt, kể cả miễn trách nhiệm hình sự hoặc xóa án đối với một hay một số người nhất định Chủ tịch nước có nhiệm vụ và quyền hạn quyết định đặc xá Quyết định đặc xá có đối tượng áp dụng là các phạm nhân bị

Trang 34

kết án tù có thời hạn, hoặc tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước Người được đặc xá vẫn bị coi là có án tích [27, tr.146-147]

2.1.1.4 Miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội theo quy định tại Điều 19 BLHS

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là “tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản” Khi tội phạm mới được thực hiện nửa chừng thì bị cáo đã chấm dứt không thực hiện đến cùng Việc bị cáo chấm dứt thực hiện hành vi phạm tội là hoàn toàn tự nguyện, do bản thân bị cáo quyết định, không bị điều gì ngăn cản hay bị ai thúc ép, dứt khoát chấm dứt không thực hiện tội phạm đến cùng

Quá trình áp dụng quy định này cần lưu ý về ý chí chủ quan của bị cáo

là phải chấm đứt thực hiện tội phạm đến cùng, chứ không phải chấm dứt để chờ thời cơ thực hiện tội phạm khác, hay chấm dứt để chuẩn bị công cụ phương tiện tiếp tục phạm tội khi đủ điều kiện thuận lợi

2.1.1.5 Miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là người chưa thành niên phạm tội theo quy định tại Khoản 2 Điều 69 BLHS

Đối với bị cáo là người chưa thành niên có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn Khoản 2 Điều 69 BLHS quy định không rõ ràng nên dẫn đến một số hiểu nhầm là bị cáo chưa thành niên phạm một trong hai loại tội là “tội ít nghiêm trọng” và “tội nghiêm trọng, gây hại không lớn” Thực tế không có loại tội phạm nào là “tội nghiêm trọng” nhưng lại “gây hại không lớn”, và việc sử dụng cụm từ “gây hại không lớn” cũng không thống nhất với cụm từ “gây thiệt hại không lớn” được sử dụng tại một

số điều luật khác Quá trình nghiên cứu BLHS cần sửa đổi quy định này sao cho đồng nhất và tránh gây hiểu nhầm

Trang 35

Thứ hai, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, được hiểu là có từ hai tình tiết trở lên Khoản 2 Điều 69 BLHS không quy định rõ ràng nên các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 1, 2 Điều 46 BLHS đều được tính

Thứ ba, bị cáo được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục Đây là điều kiện đảm bảo khả năng người phạm tội là người chưa thành niên được giám sát, giáo dục, trở thành công dân tốt cho xã hội

2.1.1.6 Miễn trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp khác

Ngoài ra Tòa án cấp phúc thẩm có thể miễn trách nhiệm hình sự đối với một số loại tội phạm khi có các điều kiện cụ thể như:

Tội gián điệp (Khoản 3 Điều 80 BLHS): Người đã nhận làm gián điệp nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và tự thú, thành khẩn khai báo Tức là người phạm tội đã nhận nhiệm vụ thực hiện một trong số các hành vi quy định tại Khoản 1 Điều 80 BLHS cho nước ngoài, nhưng đã không thực hiện và ra tự thú, thành khẩn khai báo mọi tình tiết

Tội đưa hối lộ (Khoản 6 Điều 289 BLHS): Người đưa hối lộ tuy không

bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác Tức là người phạm tội sau khi thực hiện hành vi đưa hối lộ đã tự nguyện, tự giác khai nhận hành vi phạm tội của mình với cơ quan chức năng, mặc dù hành vi chưa bị phát giác và cũng không bị ai ép buộc về việc khai báo

Tội môi giới hối lộ (Khoản 6 Điều 290 BLHS): Người môi giới hối

lộ chủ động khai báo trước khi bị phát giác Tương tự như người đưa hối

lộ, người môi giới hối lộ được miễn trách nhiệm hình sự nếu sau khi phạm tội họ đã chủ động đến khai báo về hành vi của mình mặc dù hành vi chưa

bị phát giác

Tội không tố giác tội phạm (Khoản 3 Điều 314 BLHS): Người không

tố giác tội phạm đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm Người không tố giác tội phạm phải có hành động khuyên

Trang 36

bảo, ngăn cản người phạm tội, hoặc kịp thời có biện pháp xử lý để hạn chế tác hại của tội phạm

2.1.2 Quyền sửa tội danh

2.1.2.1 Quyền áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn

Trong giai đoạn phúc thẩm, nếu xét thấy bản án sơ thẩm áp dụng một điều khoản về tội nặng hơn đối với bị cáo, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đáng lẽ chỉ phải áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn, thì Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm Áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn bao gồm hai trường hợp Thứ nhất là chuyển từ áp dụng điều luật về tội danh nặng xuống tội danh khác nhẹ hơn, ví dụ: Bản án sơ thẩm tuyên bị cáo phạm tội “Giết người” theo Khoản 2 Điều 93 BLHS, cấp phúc thẩm sửa

án tuyên bị cáo phạm tội “Giết người trong trại thái tinh thần bị kích động mạnh” theo Khoản 1 Điều 95 BLHS Thứ hai là chuyển từ áp dụng khoản có khung hình phạt nặng xuống áp dụng khoản có khung nhẹ hơn trong cùng một điều luật Ví dụ: Tòa án sơ thẩm tuyên bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm d Khoản 2 Điều 138 BLHS do bị cáo dùng thủ đoạn xảo quyệt Tòa án cấp phúc thẩm xác định hành vi của bị cáo không phải dùng thủ đoạn xảo quyệt và sửa án sơ thẩm tuyên bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 BLHS

Để xác định tội nặng hơn, tội nhẹ hơn, khoản có khung hình phạt nặng hơn và khoản có khung hình phạt nhẹ hơn phải căn cứ vào các yếu tố quy định tại Điều 8 BLHS gồm: tính chất nguy hiểm cho xã hội (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng), mức độ nguy hiểm (gây nguy hại không lớn, gây nguy hại lớn, rất lớn và đặc biệt lớn) và mức cao nhất của chế tài áp dụng đối với tội phạm (đến ba năm, đến bảy năm, đến mười lăm năm, trên mười lăm năm, tù chung thân hoặc tử hình)

Tại Mục 2 Phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004

Trang 37

của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của BLTTHS 2003, hướng dẫn về cách xác định mức độ nặng nhẹ của các tội phạm như sau:

Trước hết xem xét hình phạt chính đối với hai tội phạm, nếu tội nào điều luật có quy định loại hình phạt nặng nhất nặng hơn thì tội đó nặng hơn

Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội là tù có thời hạn (không quy định hình phạt tử hình, hình phạt tù chung thân) thì tội nào, điều luật quy định mức hình phạt tù cao nhất đối với tội ấy cao hơn là tội đó nặng hơn

Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội đều tử hình hoặc đều tù chung thân hoặc đều tù có thời hạn và mức hình phạt tù cao nhất đối với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật quy định mức hình phạt tù khởi điểm cao hơn là tội đó nặng hơn

Trong trường hợp điều luật quy định loại hình phạt nặng nhất đối với cả hai tội đều là tù có thời hạn và mức hình phạt tù khởi điểm, mức hình phạt tù cao nhất như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định loại hình phạt chính khác nhẹ hơn (cải tạo không giam giữ, phạt tiền, cảnh cáo) thì tội đó nhẹ hơn Nếu điều luật cùng quy định các loại hình phạt như nhau, nhưng có mức cao nhất, mức khởi điểm khác nhau thì việc xác định tội nặng hơn, tội nhẹ hơn được thực hiện tương tự như hướng dẫn tại các Điểm b.2 và b.3 tiểu mục 2.2 mục 2 Phần II của Nghị quyết này

Trong trường hợp điều luật quy định các loại hình phạt chính đối với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định hình phạt bổ sung là tội đó nặng hơn Nếu điều luật cùng quy định hình phạt bổ sung như nhau, nhưng đối với tội này thì hình phạt bổ sung là bắt buộc, còn đối với tội khác hình phạt bổ sung có thể áp dụng, thì tội nào điều luật quy định hình phạt bổ sung bắt buộc là tội đó nặng hơn [6]

Trang 38

Tòa án cấp phúc thẩm chỉ áp dụng quy định này khi vụ án đã được điều tra đầy đủ, không có sai phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và Tòa án sơ thẩm sai sót do nhận định không đúng tính chất và mức độ hành vi, chưa xác định đúng động cơ mục đích phạm tội hoặc sai lầm trong nhận thức về các tình tiết định khung Việc áp dụng điều khoản về tội nhẹ hơn thường bao gồm

cả việc thêm hoặc bớt một số tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng tại Điều 46 và

48 BLHS Và khi đã tuyên bố bị cáo phạm một tội nhẹ hơn thì thông thường

sẽ kèm theo việc giảm hình phạt cho bị cáo hoặc chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn Trong vụ án có đồng phạm thì quy định này có thể được áp dụng cho

cả bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo kháng nghị

2.1.2.2 Quyền áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn

Ngược lại với việc áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn, khi Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo có yêu cầu, thì căn cứ vào Khoản 3 Điều 249 BLTTHS quy định Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn

Áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn bao gồm hai trường hợp Thứ nhất là chuyển từ áp dụng điều luật về tội danh nhẹ hơn sang áp dụng điều luật về tội danh nặng hơn trong giới hạn truy tố của Viện kiểm sát Thứ hai là chuyển từ áp dụng khoản có hình phạt nhẹ sang áp dụng khoản có hình phạt nặng hơn trong cùng một điều luật

Khi áp dụng quy định BLHS về tội nhẹ hơn, Tòa án cấp phúc thẩm không bị hạn chế việc sửa bản án sơ thẩm từ tội danh nặng thành tội danh nhẹ bởi nội dung này phù hợp với Điều 196 BLTTHS quy định về giới hạn của việc xét xử là: “Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản

mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố” Tương tự như vậy, khi sửa án sơ thẩm bằng hình thức áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn,

Trang 39

việc sửa tội danh từ tội danh nhẹ sang tội danh nặng hơn theo chúng tôi cũng phải nằm trong giới hạn Viện kiểm sát truy tố Tòa án cấp phúc thẩm không được phép sửa bản án sơ thẩm chuyển từ tội danh nhẹ sang tội danh khác nặng hơn vượt quá phạm vi của bản cáo trạng đã truy tố bị cáo, bởi lẽ như vậy là vi phạm nguyên tắc đã được quy định tại Điều 196 BLTTHS, hơn nữa việc này còn làm mất quyền kháng cáo của bị cáo đối với tội danh mới nặng hơn, vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo đối với những quyết định bất lợi hơn Ví dụ: Tại cấp sơ thẩm, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo tội “Giết người” theo Điều 93 BLHS, Tòa án cấp sơ thẩm xử

bị cáo tội “Cố ý gây thương tích” dẫn đến hậu quả chết người theo Khoản 4 Điều 104 BLHS Viện kiểm sát kháng nghị đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội

“Giết người”, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn có thể sửa án tuyên bị cáo phạm tội

“Giết người” theo Điều 93 BLHS

Tuy nhiên thực tiễn xét xử phúc thẩm cho thấy trong một số trường hợp

có kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên hoặc của người bị hại theo hướng

xử phạt tội danh khác nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố và Tòa án cấp

sơ thẩm đã kết án, thì Tòa án cấp phúc thẩm vẫn xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố và Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án Theo chúng tôi đây là sự vi phạm quy định về giới hạn xét xử

2.2 Quyền miễn, giảm, tăng và chuyển hình phạt

2.2.1 Quyền miễn hình phạt

Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, trường hợp miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo ít xảy ra, vì trong thực tế quá trình điều tra truy tố và xét xử sơ thẩm nếu có đủ những điều kiện quy định thì Viện kiểm sát hoặc Tòa án đã miễn cho họ rồi Tuy nhiên, cũng có những trường hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau nên Tòa án cấp sơ thẩm vẫn kết án và tuyên hình phạt đối với bị cáo, khi xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm

Trang 40

mới phát hiện bị cáo thuộc diện được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt nên sửa bản án sơ thẩm và quyết định miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo

Cần phân biệt là Tòa án cấp phúc thẩm “miễn hình phạt” cho bị cáo chứ không phải “miễn chấp hành hình phạt” cho bị cáo Miễn hình phạt được hiểu là với việc đã bị Tòa án kết tội, đáng lẽ bị cáo phải chịu hậu quả là bị áp dụng hình phạt (biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất), nhưng vì có các lý

do được quy định tại BLHS mà Tòa án quyết định miễn việc chịu hình phạt cho bị cáo Khi bản án sơ thẩm đã tuyên bị cáo có tội và tuyên hình phạt đối với bị cáo, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nếu thấy có căn cứ quy định tại Điều 54 BLHS là: “…phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản

1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự” thì tuyên miễn hình phạt cho bị cáo

Có ba điều kiện cần và đủ để Tòa án cấp phúc thẩm xét miễn hình phạt cho bị cáo Trước hết, bị cáo phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (từ hai tình tiết trở lên) quy định tại Khoản 1 Điều 46 BLHS, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 2 Điều 46 BLHS không được tính Tuy Điều 54 BLHS chỉ quy định việc bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng chúng ta cần hiểu để được miễn hình phạt thì bị cáo không được có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bởi lẽ điều đó liên quan đến điều kiện cần thứ hai

Điều kiện tiếp theo là bị cáo đáng được khoan hồng đặc biệt Hiện nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn giải thích như thế nào là “đáng được khoan hồng đặc biệt”, do đó để xác định và áp dụng chính xác thì Tòa án cấp phúc thẩm cần căn cứ vào các yêu cầu tại Điều 45 BLHS về quyết định hình phạt, xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, cũng như hậu quả của hành vi và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Chúng tôi đồng tình với

Ngày đăng: 15/08/2015, 09:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1:   Tổng số vụ án hình sự sơ thẩm kháng cáo, kháng nghị bị - Luận văn ths  luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Bảng 3.1 Tổng số vụ án hình sự sơ thẩm kháng cáo, kháng nghị bị (Trang 7)
Bảng 3.1: Tổng số vụ án hình sự sơ thẩm kháng cáo, kháng nghị bị - Luận văn ths  luật quyền sửa bản án sơ thẩm của tòa án phúc thẩm theo bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Bảng 3.1 Tổng số vụ án hình sự sơ thẩm kháng cáo, kháng nghị bị (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm