1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định

101 581 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 787,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định Luận văn ths luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo thực tiễn tại tỉnh nam định

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN CƯỜNG

¸P DôNG PH¸P LUËT VÒ GI¸O DôC Vµ §µO T¹O -

THùC TIÔN T¹I TØNH NAM §ÞNH

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS MAI VĂN THẮNG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong Luận văn này đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất

cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Văn Cường

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ 9

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 9

1.1 Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật 9

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của áp dụng pháp luật 9

1.1.2 Hình thức và quy trình áp dụng pháp luật 12

1.2 Những vấn đề lý luận về giáo dục, đào tạo và pháp luật về giáo dục, đào tạo 23

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của giáo dục, đào tạo 23

1.2.2 Khái luận về hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam hiện nay 27

1.3 Lý luận áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo 35

1.3.1 Khái niệm về áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo 35

1.3.2 Những đặc điểm cơ bản của áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo 36 Kết luận chương 1 37

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬTTRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TẠI TỈNH NAM ĐỊNH 38

2.1 Khái quát về tỉnh Nam Định và bối cảnh, tình hình chung của tỉnh Nam Định trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo 38

2.1.1 Khái quát về tỉnh Nam Định 38

2.1.2 Bối cảnh, tình hình chung về hoạt động giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh Nam Định 39

2.2 Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Nam Định 43

2.2.1 Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo do các cơ quan trung ương ban hành 43

2.2.2 Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo do các cơ quan chức năng của tỉnh Nam Định ban hành 54

2.3 Thực tiễn và kết quả áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở các cấp học trên địa bàn Nam Định 58

2.3.1 Những đặc trưng cơ bản trong hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đào tạo tại tỉnh Nam Định 58

Trang 4

2.3.2 Thực tiễn và kết quả áp dụng pháp luật giáo dục, đào tạo tại tỉnh Nam Định ở

cấp mầm non và các cấp học phổ thông 59

2.3.3 Thực tiễn và kết quả áp dụng pháp luật dạy nghề, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học 71

2.4 Những hạn chế, bất cập trong áp dụng pháp luật về giáo dục, đào tạo tại tỉnh Nam Định và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó 73

2.4.1 Những hạn chế chung của nền giáo dục đào tạo tỉnh Nam Định 73

2.4.2 Những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo trên địa bàn tỉnh Nam Định 75

2.4.3 Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế 78

Kết luận chương 2 80

Chương 3 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 82

3.1 Những quan điểm, định hướng chung của việc áp dụng pháp luật về giáo dục, đào tạo 82

3.2 Những đề xuất, kiến nghị chung 83

3.2.1 Những đề xuất, kiến nghị chung hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật trên phạm vi cả nước 83

3.2.2 Những đề xuất, kiến nghị chung hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật trên phạm vi tỉnh Nam Định 83

3.3 Một số kiến nghị, đề xuất cụ thể 87

3.3.1 Những đề xuất kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật trên phạm vi cả nước 87

3.3.2 Những đề xuất, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật trên phạm vi tỉnh Nam Định 88

Kết luận chương 3 91

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Quy mô học sinh 39 Bảng 1.2: Quy mô học sinh/giáo viên 40 Bảng 1.3: Quy mô lớp học của các trường trung học 40

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CBQL: Cán bộ quản lý CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam CSDN: Cơ sở dạy nghề

CSVC: Cơ sở vật chất ĐH: Đại học GD&ĐT: Giáo dục và đào tạo HĐND: Hội đồng nhân dân LĐTBXH: Lao động – Thương binh và Xã hội PCGDTH: Phổ cập giáo dục trung học

TCCN: Trung cấp chuyên nghiệp TCN: Trung cấp nghề

THCS: Trung học cơ sở THPT: Trung học phổ thông UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt" và "Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam" Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã định hướng: "Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược" Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 nhằm quán triệt và cụ thể hóa các chủ trương, định hướng đổi mới giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 của đất nước

Để xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế chúng ta cần tháo gỡ 3 điểm nút, đó là: Một là có cơ chế chính sách phải đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều chỉnh được, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hai là phát triển cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, mặt bằng sản xuất cho các nhà đầu tư; ba là xây dựng được nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, có trình độ khoa học kỹ thuật, có khả năng ứng dụng thực tiễn, có kỷ luật lao động, có tư duy làm việc nhóm, hiệu quả [9]

Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: người học, chế độ chính sách, việc áp dụng các chế độ, chính sách đó, cơ sở vật chất, chương trình giáo trình, chất lượng đội ngũ giáo viên…

Chế độ, chính sách về giáo dục và đào tạo, việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực

có chất lượng cao theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp

Trang 8

hành Trung ương Đảng khoá XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Một khâu quan trọng trong việc phát triển giáo dục và đào tạo là việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực đó Việc xây dựng pháp luật về giáo dục và đào tạo như là cho một chiếc gậy vững chắc, nhưng việc áp dụng là việc chống gậy đó như thế nào, đầu nào cầm, đầu nào chống, chống đứng hay chống nghiêng để vững chắc nhất

Như vậy, việc áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo là khâu then chốt để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giáo dục và đào tạo Để áp dụng có hiệu lực, hiệu quả phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: chính sách áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo của địa phương đó có quyết liệt hay không; đội ngũ cán bộ, công chức thực thi việc áp dụng pháp luật như thế nào, trình độ của họ ra sao, sự áp dụng tiến bộ của khoa học công nghệ vào quản lý giáo dục và đào tạo như thế nào

Trong nhiều năm qua, giáo dục và đào tạo đã được Đảng, nhà nước quan tâm, đầu tư có sở vật chất, hệ thống trường, lớp đã được củng cố, mở rộng, đáp ứng phần lớn nhu cầu học tập của nhân dân; hệ thống pháp luật về giáo dục và đào tạo dần dần hoàn thiện, phù hợp với thực tiễn, thông lệ quốc tế và theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đội ngũ giáo viên được nâng cao cả về chất lượng và số lượng, đảm bảo cơ cấu các bộ môn và cơ cấu trình độ… Đặc biệt với Nam Định là tỉnh có truyền thống hiếu học, học giỏi, kết quả là tỉnh liên tục 20 năm trong tốp dẫn đầu toàn quốc về chất lượng giáo dục toàn diện, nhất là giáo dục phổ thông, hàng năm hoàn thành 10 đến 13/15 tiêu chí của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việc áp dụng pháp luật tại tỉnh được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền các cấp, các gia đình, dòng họ; vì vậy thu được nhiều kết quả cao, là điểm sáng về chất lượng giáo dục phổ thông của cả nước, nhiều

mô hình trường học thân thiện được xây dựng và là cơ sở để cả nước nhân rộng như trường “Xanh – Sạch – Đẹp – an toàn”, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực Tuy nhiên chất lượng chưa bền vững, đồng đều trong các trường, giáo dục chuyên nghiệp và giáo dục đại học chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng được phát triển kinh tế xã hội của địa phương, chưa là trung tâm giáo dục của tiểu vùng Nam đồng bằng sông Hồng

Trang 9

Bởi vì, trong mọi cơ chế, chính sách con người luôn được coi là trung tâm Hay nói cách khác, muốn đưa cơ chế, chính sách vào cuộc sống thì nâng cao trình độ, đổi mới tư duy, phương pháp thực hiện phải được thực hiện đầu tiên Công tác áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo mặc dù đã được quan tâm nhưng chưa linh hoạt, chưa đồng bộ, quyết liệt, nên vẫn còn một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa vào cuộc trong việc triển khai pháp luật giáo dục và đào tạo, có quan niệm cho rằng đó là công việc của riêng ngành giáo dục và đào tạo Nhằm góp phần hoàn thiện việc áp dụng pháp luật về giáo dục nói chung, trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng, cùng với mong muốn hoàn thiện hơn nữa công cuộc phát triển dân trí, nhân lực và nhân tài của Tỉnh, tôi

quyết định chọn đề tài “Áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo – thực tiễn tại tỉnh

Nam Định” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tính hình nghiên cứu đề tài

Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục đào tạo nói chung và áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo nói riêng bước đầu đáp ứng yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước, đã và đang thuộc đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học như: chính trị học, luật học, giáo dục học, đạo đức học Sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước đối với giáo dục đào tạo được xem là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định đến việc đào tạo nguồn nhân lực - tháo gỡ nút thứ 3 của đất nước đạt hiệu quả

Trong thực tiễn hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới để xây dựng đất nước, vai trò lãnh đạo của Đảng cả về lý luận và thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết Có thể nói đây là vấn đề quan trọng, thu hút được sự nghiên cứu của nhiều tác giả

Trong phạm vi đề tài đã được nghiên cứu có liên quan đến đề tài mà tác giả biết có thể liệt kê sơ bộ như sau:

- Đặng Quốc Bảo (2001), Kinh tế học giáo dục: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn và những ứng dụng trong việc xây dựng chiến lược giáo dục, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia;

- Đặng Quốc Bảo (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai: Vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia

Trang 10

- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Tài liệu nhiệm vụ năm học 2005-2006, Nhà

XB Giáo dục

- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Tài liệu nhiệm vụ năm học 2011-2012, Nhà

XB Giáo dục

- Phạm Minh Hạc, (2003), Về giáo dục, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Nguyễn Thị Hồi – Đại học Luật Hà Nội, Đề tài nghiên cứu cấp trường: Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay”; Hà Nội, năm 2009

Chủ trương về giáo dục và đào tạo là vấn đề đã và đang được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm và thường xuyên có những đổi mới nhằm góp phần vào việc xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, các chủ trương, pháp luật, Chương trình, Kế hoạch, Đề án do Đảng và Nhà nước ban hành chỉ mang tính chất điều chỉnh chung, ở mỗi địa phương cụ thể do điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau; đặc điểm tình hình khác nhau nên công tác áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo cũng có những điểm khác biệt mang tính đặc thù và do đó cũng

có những điểm khác nhau

Những công trình khoa học trên đây đã tập trung nghiên cứu việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước trong việc xây dựng, thực hiện pháp luật giáo dục nói chung và áp dụng pháp luật giáo dục đào tạo nói riêng trên phạm vi cả nước

Áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo là một đề tài rất rộng bao gồm pháp luật giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp; trong giáo dục phổ thông có giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở, giáo dục trung học phổ thông; trong giáo dục chuyên nghiệp

có giáo dục đại học, cao đẳng, giáo dục trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Giáo dục đại học có giáo dục đại học và giáo dục sau đại học, tuy nhiên trong phạm vi của luận văn này, tôi chỉ đi sâu nghiên cứu về áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo – thực tiễn tại tỉnh Nam Định, nhằm đưa ra giải pháp có tính hiệu quả ở tùng cấp học, bậc học

- Nhiệm vụ của luận văn: tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận của việc áp dụng

Trang 11

pháp luật về giáo dục và đào tạo, trong đó nghiên cứu sâu vào lý luận và hệ thống pháp luật về giáo dục và đào tạo của cả nước nói chung và tại tỉnh Nam Định nói riêng Tình hình áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại tỉnh Nam Định, nguyên nhân đạt được kết quả, những hạn chế yếu kém, giải pháp khắc phục và kiến nghị mô hình áp dụng pháp luật hiệu quả trong phạm vi cả nước

- Tình hình nghiên cứu: tại tỉnh Nam Định nói riêng và cả nước nói chung chưa

có đề tài nào nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, đây là

đề tài mới, chưa được nghiên cứu sâu, nên còn nhiều vấn đề chưa được đúc kết, xây dựng mô hình chuẩn cho cả nước và cho các địa phương trong khu vực có điều kiện kinh tế tương tự như Nam Định

Nhưng để đi sâu nghiên cứu vấn đề áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có chất lượng cao ở Nam Định để đảm bảo tính đồng đều và có mũi nhọn thì hiện tại chưa có đề tài nào Mặc dù vậy, các công trình khoa học trên đây là những tài liệu tham khảo có giá trị để nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong khuôn khổ chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:

- Lý luận chung về áp dụng pháp luật, về giáo dục và đào tạo; Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về giáo dục vào đào tạo ở cấp tỉnh

- Phân tích một cách khái luận hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo như là cơ sở để từ đó phân tích chuyên sâu về thực trạng công tác áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đào tạo trên địa bàn tỉnh Nam Định, trong đó nhấn mạnh thực trạng, nguyên nhân hạn chế, tích cực của áp dụng pháp luật giáo dục đào tạo;

- Phân tích những quan điểm, định hướng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương trong việc áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo;

Trang 12

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về mặt lý luận: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận của áp dụng pháp luật giáo dục đào tạo, trong đó nhấn mạnh đến áp dụng pháp luật giáo dục đào tạo trên địa bàn tỉnh Nam Định từ năm 2010 đến nay

- Về mặt thực tiễn: Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng, hiệu quả của công tác áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo trên đơn vị hành chính cấp tỉnh, cụ thể

là tỉnh Nam Định nhằm nêu lên thực trạng và qua đó đưa ra các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước cũng như đề xuất, kiến nghị của bản thân nhằm nâng cao công tác xây dựng và áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo

4 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

4.1 Mục đích

- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về công tác áp dụng pháp luật của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo

- Đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của chất lượng áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo, rút ra những bài học kinh nghiệm, trên

cơ sở đó xác định các giải pháp để đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh trong việc áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo nói riêng

4.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

- Làm rõ hơn một cách có hệ thống về hệ thống pháp luật giáo dục đào tạo bao gồm: các khái niệm về giáo dục đào tạo, pháp luật giáo dục đào tạo, áp dụng pháp luật giáo dục đào tạo; mục tiêu, nhiệm vụ của áp dụng pháp luật giáo dục đào tạo trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế;

- Làm rõ hơn những yêu cầu cơ bản về quy trình, nội dung, chủ thể áp dụng pháp luật giáo dục đào tạo và hiệu quả của công tác đó, chính là chất lượng giáo dục đào tạo của các cấp học trong phạm vi toàn tỉnh;

- Nêu và phân tích thực trạng áp dụng pháp luật giáo dục đào tạo, những kết

Trang 13

quả, hạn chế, nguyên nhân của công tác giáo dục đào tạo – sản phẩm của công tác áp dụng pháp luật

- Đề ra quan điểm và các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo Trong đó nêu ra những quan điểm, định hướng chung; quan điểm, định hướng của tỉnh Nam Định và đưa ra các kiến nghị, giải pháp cụ thể mang tính đặc thù của bản thân

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

- Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, vai trò công tác áp dụng pháp luật giáo dục đào tạo

- Mục tiêu, nhiệm vụ và sự cần thiết của sự nghiệp giáo dục đào tạo, thực sự là quốc sách hàng đầu theo đúng quan điểm của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, xem xét các sự vật, hiện tượng một cách toàn diện, có hệ thống, tìm ra được bản chất, mối liên hệ phổ biến; tránh chủ quan, duy ý chí Đồng thời, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: hệ thống, phân tích - tổng hợp, lịch sử -

cụ thể; kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như: So sánh, khảo sát thực

tế, thống kê, logic

6 Điểm mới và ý nghĩa của luận văn

6.1 Điểm mới của đề tài

- Chỉ ra một cách có hệ thống về pháp luật giáo dục và đào tạo và công tác áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo;

- Đã làm rõ những nguyên nhân của những hạn chế trong công tác áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo của đội ngũ cơ quan có thẩm quyền, những cán bộ có trách nhiệm trong quá trình áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo trên địa bàn tỉnh Nam Định

- Chỉ ra cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đồng thời nâng cao chất lượng đồng

Trang 14

đều trong giáo dục phổ thông, vừa xây dựng cơ sở giáo dục chất lượng cao cả trong giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp Từ đó rút ra bài học kinh nghiệp, nêu những giải pháp để nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo để nhân rộng cả nước

6.2 Ý nghĩa của Luận văn

- Kết quả luận văn góp phần đánh giá thực trạng công tác áp dụng pháp luật và chất lượng của giáo dục đào tạo trong phạm vi cấp tỉnh thông qua thực tiễn tại tỉnh Nam Định từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về giáo dục đào tạo và công tác áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo kịp thời đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo đối với các nhà lãnh đạo, nhà hoạch định chính sách trong sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự quản lý điều

hành của Nhà nước, sự thực hiện pháp luật của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc áp dụng pháp luật về giáo dục, đào tạo Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại

tỉnh Nam Định

Chương 3: Quan điểm, định hướng và những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện

hoạt động áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

1.1 Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của áp dụng pháp luật

1.1.1.1 Áp dụng pháp luật là hình thức đặc biệt của thực hiện pháp luật

Theo Từ điển Black/s Law, từ áp dụng (apply) có thể được hiểu theo nghĩa đưa vào sử dụng với một vụ việc của một chủ thể riêng biệt (áp dụng pháp luật trong thực

tế) [29, tr.96] Trong từ điển tiếng Việt, từ áp dụng có thể được hiểu là “Đem dùng

trong thực tế điều đã nhận thức được” [28, tr.9] Từ các cách hiểu về từ áp dụng

trong hai từ điển trên, có thể hiểu rằng áp dụng pháp luật là đem pháp luật ra dùng trong thực tế Nếu hiểu theo cách này thì áp dụng pháp luật có thể dùng để chỉ tất cả các hình thức thực hiện pháp luật mà không phải là một hình thức thực hiện pháp luật

cụ thể Trong thực tế đã có nhà nghiên cứu sử dụng thuật ngữ áp dụng pháp luật theo nghĩa này

Trong các sách báo pháp lý của Việt Nam, khái niệm áp dụng pháp luật được

đề cập với nội dung có những điểm khác nhau nhất định Đa số các nhà nghiên cứu coi áp dụng pháp luật chỉ là một trong các hình thức thực hiện pháp luật, song có nhà nghiên cứu lại coi áp dụng pháp luật đồng nghĩa với thực hiện pháp luật, tức là bao gồm tất cả các hình thức thực hiện pháp luật [14, tr.16]

Để đảm bảo cho các quy định của pháp luật được tôn trọng thực hiện trên thực

tế cần phải trải qua quá trình áp dụng pháp luật được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền Vì vậy người ta còn gọi áp dụng pháp luật là quá trình thể chế hoá quyền lực và ý chí nhà nước thông qua cơ chế điều chỉnh pháp luật trên thực tế

Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thì việc áp dụng pháp luật không thể tuỳ tiện của các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền, mà phải là các hoạt động, các hành vi áp dụng pháp luật được pháp luật quy định bằng các hình thức, cách

Trang 16

thức cụ thể, theo nguyên tắc “cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền chỉ được làm những gì mà pháp luật quy định”

Vậy, áp dụng pháp luật là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành để đưa ra quyết định có tính cá biệt nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội theo mục tiêu cụ thể

1.1.1.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật

Quan phân tích khái niệm nói trên, về cơ bản áp dụng pháp luật có các đặc điểm sau:

- Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính quyền lực nhà nước

Nhà nước ban hành pháp luật và đảm bảo pháp luật được thực hiện trên thực tế; áp dụng pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền nhân danh quyền lực nhà nước để thực thi Nhờ có sự đảm bảo của nhà nước nên pháp luật mới có sức mạnh bắt buộc đối với mọi chủ thể có liên quan Tính quyền lực thể hiện ở những điểm sau:

+ Áp dụng pháp luật chỉ được tiến hành bởi cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật

Không phải ai cũng có quyền áp dụng pháp luật, mà chỉ có cơ quan nhà nước,

cá nhân có thầm quyền Cũng là cơ quan nhà nước, nhưng không có thẩm quyền áp dụng pháp luật ở lĩnh vực đó cũng không được áp dụng pháp luật Ví dụ: Bộ Giao thông vận tải là cơ quan nhà nước, có chức năng quản lý nhà nước, áp dụng pháp luật

về lĩnh vực giao thông, vận tải trên phạm vi cả nước, nhưng không được áp dụng pháp luật ở lĩnh vực tài chính trên phạm vi cả nước, mà chỉ được áp dụng tài chính trong ngành giao thông vận tải Pháp luật quy định chặt chẽ về thẩm quyền, điều kiện áp dụng pháp luật theo từng lĩnh vực cũng như chế độ công vụ cụ thể để tránh tuỳ tiện hoặc vượt rào trên thực tế [14, tr.14]

+ Áp dụng pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước

Quá trình này có thể mang tính đơn phương của ý chí nhà nước, cũng có thể nhà nước thừa nhận ý chí của các chủ thể Xét về nội dung, áp dụng pháp luật phụ thuộc vào đặc điểm của các quan hệ xã hội có liên quan và các sự kiện pháp lý cụ thể trên thực tế [14, tr.15]

Trang 17

- Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức rất cao Áp dụng pháp luật có

tính tổ chức cao bởi vì nó vừa là hình thức thực hiện pháp luật vừa là hình thức nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật

Hoạt động này phải được tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do pháp luật quy định Trình tự, thủ tục này thường khác nhau trong các trường hợp áp dụng pháp luật khác nhau tuỳ theo quy định cụ thể của pháp luật Chẳng hạn, trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ thể khác với trình tự, thủ tục cấp đăng ký kết hôn hoặc khác trình tự thủ tục tuyển sinh, đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp Bằng tốt nghiệp cho người học

Nói chung, các quyết định do các chủ thể có thẩm quyền ban hành ra trong quá trình áp dụng pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của người được áp dụng, nó

có thể mang lại cho người ta lợi ích rất lớn (ví dụ, quyết định giao quyền sử dụng đất, quyết định lên lương, quyết định công nhận tốt nghiệp…), song nó cũng có thể bắt người ta phải gánh chịu những hậu quả rất nặng nề (ví dụ, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bản án hình sự…) Do vậy, để đảm bảo tính đúng đắn, chính xác của quá trình áp dụng pháp luật, hoạt động này không thể được tiến hành một cách tuỳ tiện mà phải theo những trình tự, thủ tục và trên cơ sở những điều kiện rất chặt chẽ do pháp luật quy định Đương nhiên, trình tự, thủ tục đó không thể như nhau trong tất cả các

vụ việc mà nó sẽ khác nhau từ vụ việc này sang vụ việc khác tuỳ theo tính chất của vụ việc Ví dụ, trình tự, thủ tục xem xét để cấp Đăng ký kết hôn sẽ khác với trình tự, thủ tục công nhận tốt nghiệp cho người học, càng khác với trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính… [14, tr.15]

- Áp dụng pháp luật có điều kiện, quy trình, thủ tục được pháp luật quy định

chặt chẽ Đó là quá trình đặc biệt của việc thực hiện pháp luật nhằm đảm bảo cho

pháp luật có giá trị trên thực tế, để tránh sự tuỳ tiện, hoạt động đó phải được quy định chặt chẽ về thủ tục, trình tự, thời gian cũng như hình thức; tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực mà có các trình tự, thủ tục, hình thức áp dụng pháp luật khác nhau, các quy định

về thủ tục có thể là đầy đủ hoặc rút gọn theo quy định của pháp luật, không có một trình tự chung cho tất cả các lĩnh vực áp dụng pháp luật trên thực tế

Trang 18

- Áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, hoạt động này có thể là cụ

thể hoá quyền, nghĩa vụ hoặc cá biệt hoá chế tài quy phạm pháp luật [14, tr.16] Về

phía chủ thể, nhờ có áp dụng pháp luật mới xác định được giới hạn pháp lý cần thiết

cả về nội dung của quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, cũng như trách nhiệm pháp lý có liên quan khi tham gia quan hệ pháp luật, áp dụng pháp luật là hoạt động cần phải dược chi tiết hoá một cách chính xác, tỉ mỉ về những yêu cầu chung thành những yêu cầu sát thực với chính điều kiện mà quy phạm đó tồn tại

- Áp dụng pháp luật là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo cao của chủ thể có

thẩm quyền Các chủ thể có thẩm quyền chủ động phân tích đánh giá các tình huống

có thể xảy ra để tìm kiếm khả năng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao nhất Tính sáng tạo trong quá trình áp dụng pháp luật đòi hỏi rất cao, không thụ động, máy móc, bởi nếu không sẽ không đảm bảo tính thời hiệu, thời hạn theo quy định của pháp luật đặt ra cho việc xử lý các vụ việc Sáng tạo chủ yếu là ở góc độ kỹ thuật, tổ chức, chứ không phải sáng tạo về mặt nội dung

- Kết quả của việc áp dụng pháp luật là ban hành các quyết định áp dụng pháp

luật mang tính cá biệt Đó là các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang

tính cá biệt của người có thẩm quyền để thực hiện các quy định của pháp luật

1.1.2 Hình thức và quy trình áp dụng pháp luật

1.1.2.1 Hình thức áp dụng pháp luật

Hình thức áp dụng pháp luật trên thực tế vô cùng đa dạng, linh hoạt, xét về khả năng hiện thực hoá quyền và nghĩa vụ pháp lý thì có thể thấy hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt

Xem xét nội dung các quy định cụ thể của pháp luật, ta thấy, mặc dù trong nhiều quy phạm pháp luật đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể, song các chủ thể không thể tự mình thực hiện được các quyền và nghĩa vụ đó mà cần phải có sự can thiệp của nhà nước thông qua hoạt động của các cơ quan, tổ chức hoặc

Trang 19

cá nhân có thẩm quyền Ví dụ, trong Hiến pháp và luật đã thừa nhận quyền và nghĩa

vụ học tập cho công dân, song công dân chỉ có thể thực hiện dược quyền và nghĩa vụ

ấy khi được gọi nhập học và theo học trong một cơ sở đào tạo nào đó Chính hoạt động chiêu sinh và tổ chức đào tạo của các cơ sở đào tạo đã giúp cho công dân thực hiện được quyền và nghĩa vụ học tập của mình Tương tự như vậy, nếu một người nào

đó không được bổ nhiệm vào một chức vụ cao hơn trong cơ quan thì quan hệ pháp luật giữa người đó với cơ quan không hề thay đổi Kể từ thời điểm có quyết định bổ nhiệm của người có thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ pháp lý của người được bổ nhiệm với cơ quan đã có sự thay đổi so với trước Nếu không có quyết định cho nghỉ hưu của cơ quan thì quan hệ pháp luật lao động giữa một người nào đó với cơ quan vẫn chưa chấm dứt Như vậy, có thể thấy, nếu không có sự can thiệp của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thì nhiều quan hệ pháp luật cụ thể không thể phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt Chính hoạt động áp dụng pháp luật của chủ thể có thẩm quyền đó sẽ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật

Thứ hai, khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể

mà họ không tự giải quyết được với nhau và yêu cầu có sự can thiệp của một chủ thể

có thẩm quyền

Nếu như trong trường hợp trên, phải nhờ hoạt động áp dụng pháp luật mới làm phát sinh một quan hệ pháp luật cụ thể thì trường hợp này khác ở chỗ một quan hệ pháp luật cụ thể đã phát sinh, các bên chủ thể đã có quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với nhau, nhưng một trong các bên hoặc tất cả các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý của mình nên dẫn đến tranh chấp mà

họ không tự giải quyết được với nhau và yêu cầu có sự can thiệp của một chủ thể có thẩm quyền Chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật sẽ đóng vai trò là trọng tài để giải quyết tranh chấp đó Ví dụ, một người cho thuê nhà kiện ra toà án đòi nhà cho thuê, toà án thụ lý và giải quyết vụ án đó tức là áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp giữa người cho thuê nhà với người thuê nhà

Trang 20

Thứ ba, khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với các chủ thể vi phạm pháp luật

Để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và tự giác bởi mọi chủ thể trong xã hội, nhiều quy phạm pháp luật đã quy định các biện pháp cưỡng chế nhà nước cần áp dụng với người vi phạm trong phần chế tài của nó Việc

áp dụng một biện pháp cưỡng chế nhà nước cụ thể với một chủ thể cụ thể là bắt họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi hay những sự thiệt hại nhất định về tài sản, về nhân thân, về tự do… Vì thế, để đảm bảo công bằng xã hội, chỉ có các chủ thể

có thẩm quyền mới có thể áp dụng và hoạt động áp dụng của họ phải được tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định Ví dụ cho trường hợp này là việc cảnh sát giao thông xử phạt người vi phạm luật giao thông, Hội đồng kỷ luật nhà trường xử lý kỷ luật đối với cán bộ, giáo viên hoặc sinh viên vi phạm kỷ luật

Thứ tư, khi cần áp dụng sự cưỡng chế của nhà nước đối với các chủ thể không

vi phạm pháp luật mà chỉ vì lợi ích chung của xã hội

Trong đời sống xã hội, mỗi người đều có và đều quan tâm đến lợi ích riêng của mình và những lợi ích chính đáng sẽ được nhà nước bảo hộ Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt, để bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, của cả cộng đồng, nhà nước buộc phải xâm hại đến lợi ích riêng của những chủ thể nhất định Để bảo đảm tính đúng đắn, hợp tình, hợp lý của sự “xâm hại” đó, nhà nước phải quy định cụ thể trong pháp luật các biện pháp “xâm hại”, chủ thể, điều kiện, trình tự, thủ tục để áp dụng các biện pháp đó Khi một chủ thể cụ thể nào đó bị áp dụng một trong các biện pháp đó có nghĩa là họ đã phải gánh chịu sự cưỡng chế của nhà nước, họ đã phải chịu những sự thiệt hại nhất định mặc dù họ không vi phạm pháp luật mà hoàn toàn chỉ vì lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng Ví dụ, để phục vụ cho việc xây dựng các công trình công cộng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã phải ra quyết định thu hồi đất của các chủ thể đang có quyền sử dụng hợp pháp trên diện tích đất đó, và đương nhiên, các chủ thể đang sử dụng phải giao lại đất đó cho nhà nước và nhận sự đền bù của nhà nước

Trang 21

Thứ năm, khi cần áp dụng các hình thức khen thưởng đối với các chủ thể có thành tích theo quy định của pháp luật

Pháp luật của các nhà nước đương đại không chỉ quy định các biện pháp trừng phạt đối với các chủ thể vi phạm pháp luật mà còn quy định nhiều hình thức khen thưởng đối với các chủ thể có thành tích trong những hoạt động nhất định hoặc trong việc thực hiện pháp luật Mục đích của việc quy định các biện pháp đó là nhằm đền đáp công ơn của những người có công với đất nước, với xã hội; để khuyến khích, động viên các chủ thể nhiệt tình công tác, phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong hoạt động của mình cũng như để khuyến khích các chủ thể tự giác thực hiện tốt pháp luật, làm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, tự giác hơn Vì thế, ở Việt Nam, bên cạnh Bộ luật hình sự và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính còn có Luật thi đua, khen thưởng, và trong đa số các văn bản quy phạm pháp luật đều có quy định việc khen thưởng những người thực hiện tốt những quy định trong văn bản trước khi quy định việc xử phạt đối với những người vi phạm nó Ví dụ, việc các chủ thể có thẩm quyền xét tặng bằng khen, danh hiệu vinh dự nhà nước cho một chủ thể nào đó chính là áp dụng pháp luật trong trường hợp này

Thứ sáu, khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong một số quan hệ pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật

Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, các chủ thể đều có quyền và nghĩa vụ nhất định do pháp luật quy định Có những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện nó chỉ liên quan đến lợi ích của cá nhân người thực hiện, song có những quyền

và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện nó lại liên quan đến lợi ích của các chủ thể khác, lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng Vì vậy, cần phải kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đó để đảm bảo tính đúng đắn, chính xác của nó Hoạt động kiểm tra, giám sát đó chỉ do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo trình

tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định Ví dụ: hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ… là nhằm áp dụng Luật giám sát của Quốc hội; hoạt động của cơ quan kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án…

Trang 22

Thứ bảy, khi cần phải xác nhận sự tồn tại của một sự kiện thực tế cụ thể nào

đó theo quy định của pháp luật

Trong thực tế có những thứ giấy tờ, bằng cấp, chứng chỉ có giá trị pháp lý lâu dài mà chủ thể của nó cần phải cất giữ cẩn thận Song thỉnh thoảng, các giấy tờ đó lại cần phải được sao chụp để chứng minh cho sự hiện diện và tồn tại của nó trong thực

tế Hoạt động chứng thực của uỷ ban nhân dân, của cơ quan công chứng nhằm tạo ra

cơ sở pháp lý cho các giấy tờ, văn bằng nhất định… là sự áp dụng các quy định của pháp luật công chứng trong thực tế

1.1.2.2 Quy trình áp dụng pháp luật

Quy trình là các bước, trình tự phải tuân theo khi tiến hành công việc nào đó

Áp dụng pháp luật là một quy trình bao gồm nhiều hoạt động có mối liên hệ hữu cơ với nhau, do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo qui định của pháp luật nhằm cá biệt hoá chế tài pháp luật hoặc cá thể hoá quyền nghĩa vụ pháp lý đối với chủ thể Do pháp luật điều chỉnh đa dạng các lĩnh vực nên việc áp dụng pháp luật cũng rất đa dạng Trên thực tế, sự khác biệt về nội dung, yêu cầu ở các lĩnh vực điều chỉnh của pháp luật đã đem lại sự khác biệt nhất định về quá trình thực thi và áp dụng pháp luật Không thể có qui trình áp dụng pháp luật chung cho mọi lĩnh vực, mọi quan hệ xã hội

Tóm lại, qui trình áp dụng pháp luật là trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt

động có mối liên hệ hữu cơ, thống nhất với nhau do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện nhằm hiện thực hoá nội dung các qui định pháp luật trong đời sống khi giải quyết các vụ việc pháp lý cụ thể [14, tr.22]

Qui trình áp dụng pháp luật có các đặc điểm cơ bản sau:

- Qui trình áp dụng pháp luật do pháp luật qui định

Áp dụng pháp luật là một hoạt động đặc thù của nhà nước trong quản lý xã hội

Áp dụng pháp luật mang tính quyền lực nhà nước Toàn bộ các hoạt động, các bước (hay giai đoạn) của qui trình áp dụng pháp luật do pháp luật qui định Các hoạt động trong quá trình áp dụng pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau Điều

đó đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật chỉ được thực hiện quyền nghĩa vụ của mình trong khuôn khổ qui định của pháp luật Ngay cả các chủ thể

Trang 23

không có thẩm quyền tiến hành áp dụng pháp luật nhưng có liên quan đến việc áp dụng pháp luật cũng không thể tuỳ tiện tiến hành các hoạt động trái hoặc không được pháp luật cho phép Do được pháp luật điều chỉnh nên, qui trình áp dụng pháp luật có liên quan đến cả hai loại quy phạm pháp luật là quy phạm pháp luật nội dung và qui phạm pháp luật hình thức hay qui phạm thủ tục

- Qui trình áp dụng pháp luật chịu sự quy định của nội dung và tính chất của

vụ việc cần giải quyết

Khi áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được nội dung và tính chất của vụ việc cần giải quyết rồi trên cơ sở đó mới có thể lựa chọn đúng quy trình cần tiến hành Nghĩa là chúng ta không thể lấy thủ tục áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này để tiến hành cho lĩnh vực khác Chẳng hạn, không thể lấy quy trình xét xử các vụ án hình sự được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự để thay thế cho thủ tục xét xử các vụ án dân sự được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự được Điều này cho thấy, qui trình áp dụng pháp luật bao gồm nhiều hoạt động cụ thể khác nhau và do nhiều chủ thể tiến hành nhưng nó có liên quan chặt chẽ đến nội dung của

vụ việc cần giải quyết

- Tham gia quy trình áp dụng pháp luật luôn có một chủ thể nhân danh nhà nước hoặc được phép sử dụng quyền lực nhà nước để tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật

Nói đến áp dụng pháp luật là nói đến vai trò của nhà nước trong giải quyết các vấn đề pháp lý thực tiễn Thực chất của áp dụng pháp luật là quá trình thể chế hóa quyền lực nhà nước để điều chỉnh sự kiện cụ thể Chính vì lẽ đó, tham gia qui trình áp dụng pháp luật luôn luôn có mặt chủ thể nhân danh nhà nước hoặc được phép sử dụng quyền lực nhà nước, chủ thể này trực tiếp tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật, có vai trò quyết định trong quá trình áp dụng pháp luật và là chủ thể có quyền đưa ra quyết định áp dụng pháp luật để giải quyết vụ việc Chủ thể đó chủ yếu là các cơ quan, tổ chức nhà nước hoặc các cá nhân đảm trách nhiệm vụ trong các cơ quan, tổ chức đó tiến hành, song cũng có thể do các cơ quan, tổ chức được nhà nước cho phép hoặc trao quyền tiến hành Ví dụ, các cơ sở đào tạo do Nhà nước thành lập hoặc cho phép thành lập đều có thể áp dụng pháp luật trong việc tổ chức tuyển sinh, đào tạo,

Trang 24

công nhận tốt nghiệp và cấp bằng cho người học

Các hoạt động áp dụng pháp luật đa dạng và cần được đảm bảo bởi sức mạnh quyền lực nhà nước thì các chủ thể có liên quan mới tôn trọng thực thi một cách hợp pháp

Qui trình áp dụng pháp luật có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau

- Dựa trên nội dung thực tế của hoạt động áp dụng pháp luật có thể phân thành qui trình truy cứu trách nhiệm pháp lý và qui trình cá thể hoá quyền, nghĩa vụ pháp lý Qui trình truy cứu trách nhiệm pháp lý là các bước tiến hành tố tụng bao gồm nhiều hoạt động do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành nhằm cá biệt hoá chế tài pháp luật,

áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với chủ thể vi phạm pháp luật Truy cứu trách nhiệm pháp lý là hoạt động được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau do đó, mỗi chủ thể tham gia vào một khâu nhất định trong các giai đoạn của qui trình đó Chẳng hạn, để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội cần trải qua các giai đoạn như khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử Các giai đoạn đó được quyết định bởi các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự như công an, viện kiểm sát, tòa án và có nhiều cơ quan, cá nhân khác tham gia tố tụng Qui trình cá thể hóa quyền, nghĩa vụ pháp lý có sự khác biệt với qui trình truy cứu trách nhiệm pháp lý là nó không liên quan đến vi phạm pháp luật mà đơn thuần chỉ xác định nội dung, phạm vi quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật mà thôi

- Dựa trên trình tự, thủ tục tiến hành hoạt động cụ thể trên thực tế có thể phân thành qui trình đầy đủ và qui trình rút gọn Qui trình đầy đủ là qui trình bao gồm đầy

đủ các hoạt động của các giai đoạn áp dụng pháp luật Còn qui trình rút gọn là qui trình không nhất thiết phải trải qua đầy đủ các hoạt động của các giai đoạn áp dụng pháp luật

- Qui trình áp dụng pháp luật có thể được nhận diện theo từng lĩnh vực điều chỉnh pháp luật, chẳng hạn như qui trình áp dụng pháp luật dân sự trong việc thừa nhận, bảo vệ quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu, trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự; quy trình áp dụng pháp luật đất đai trong việc cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, quy trình áp dụng pháp luật lao động trong

Trang 25

việc tuyển dụng lao động, trong việc tăng lương hoặc xử lý kỷ luật đối với người lao động v.v

Áp dụng pháp luật là hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để áp dụng các quy định của pháp luật vào cuộc sống, vì vậy nó cũng có các giai đoạn, quá trình áp dụng mang tính chung nhất, không chó riêng cho từng lĩnh vực, áp dụng cho từng lĩnh vực cần đòi hỏi tính sáng tạo Quy trình áp dụng pháp luật gồm các giai đoạn sau:

* Giai đoạn 1: Phân tích, đánh giá nội dung, điều kiện hoàn cảnh, sự kiện thực

tế cần áp dụng: Đây là giai đoạn khởi đầu của cả quá trình áp dụng pháp luật, nên nó

có tính chất bản lề, trước hết cần xác định rõ đối tượng, phạm vi, hoàn cảnh, bản chất pháp lý của sự kiện đó, nếu xác định bản chất pháp lý không chính xác thì toàn bộ quá trình áp dụng pháp luật sẽ sai và gây hậu quả pháp lý, hậu quả xã hội không dự toán hết được Vì vậy, cần áp dụng pháp luật thì phải làm rõ chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết sự kiện đó, điều chỉnh quan hệ pháp luật đó Cần chuẩn bị về mặt tổ chức, nhân sự, kỹ thuật, cũng như xác định thời gian, thời điểm tiến hành áp dụng pháp luật Đồng thời, cũng phải lường hết được những thuận lợi, khó khăn, hậu quả pháp lý, hậu quả xã hội, những rủi do có thể gây cản trở việc áp dụng pháp luật Đồng thời phải lựa chọn một hướng thuận lợi, tiết kiệm, hiệu quả về chi phí thời gian, sức lực, vật chất

Từ đó chuẩn bị một phương án tỉ mỉ, chi tiết cả về nội dung, hình thức cũng như phương thức, lịch trình tiến hành Nếu thấy chưa đủ hoặc không cần thiết phải tiến hành áp dụng pháp luật thì các chủ thể có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ việc

áp dụng pháp luật

* Giai đoạn 2: Lựa chọn quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc đưa ra

các quyết định áp dụng pháp luật: Đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình áp

dụng pháp luật, nếu không đưa ra cơ sở pháp lý có tính thuyết phục, phù hợp sẽ ảnh hưởng trực tiếp các giai đoạn sau Cần phải lựa chọn quy phạm pháp luật còn hiệu lực

và sát với quan hệ cần điều chỉnh, thuộc loại quan hệ nào, quan hệ pháp luật đó thuộc ngành luật nào điều chỉnh Trên thực tế, việc lựa chọn quan hệ pháp luật thường xảy

ra các khả năng sau:

Trang 26

- Có một quy phạm pháp luật đáp ứng đủ yêu cầu để làm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng Nếu trường hợp này thì rất dễ cho các chủ thể áp dụng pháp luật xác định được cơ sở pháp lý để sớm ban hành văn bản, quyết định áp dụng pháp luật đúng đắn, đúng thời hạn, thời hiệu theo quy định của pháp luật

- Có hai hoặc hiểu quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh quan hệ đó, những đưa

ra cách giải quyết khác nhau Đây là trường hợp xung đột quy phạm pháp luật Vì vậy người có thẩm quyền phải lựa chọn quy phạm pháp luật có tính cao hơn, nếu các quy phạm đó cùng có giá trị như nhau thì áp dụng quy phạm ban hành sau

- Không có quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng pháp luật đối với sự kiện, quan hệ đó Đây là thực trạng pháp lý tất nhiên ở tất cả các quốc gia nào, ngay cả ở quốc gia có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Trường hợp này chúng ta cần phải lựa chọn các quy phạm pháp luật tương tự để áp dụng pháp luật tương tự

Áp dụng pháp luật tương tự là hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc

cá nhân có thẩm quyền nhằm giải quyết các vụ việc xảy ra trên thực tế trong điều kiện không có quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp quan hệ xã hội đó Đây chính là hình thức khắc phục lỗ hỏng pháp lý, nên nó chỉ mang tính tạm thời Vậy việc áp dụng tương tự pháp luật phải thực sự hạn chế Đồng thời cũng phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định Để đảm bảo tính khách quan, đúng đắn trong quá trình áp dụng pháp luật tương tự đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền xem xét kỹ lưỡng các khía cạnh thực tế và có sự hiểu biết sâu về pháp luật và khoa học pháp lý Áp dụng pháp luật có hai hình thức:

+ Áp dụng tương tự quy phạm pháp luật là hình thức mà cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết các vụ việc xảy ra trên thực tế bằng cách dựa vào một quy phạm pháp luật có nội dung tương tự Tuy nhiên muốn áp dụng trường hợp này thì phải khẳng định được một cách chính xác là chưa có một quy phạm nào trong hệ thống pháp luật của nước đó trực tiếp điều chỉnh quan hệ xã hội đang xảy ra trên thực tế Phải tìm được quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội khác có nội dung tương tự như quan hệ xã hội đang cần điều chỉnh Phải làm sáng tỏ được nhu cầu thực tế cần phải giải quyết sự việc đó là thiết thực, có ý nghĩa đối với cộng đồng,

Trang 27

nhà nước và của công dân

+ Áp dụng tương tự pháp luật là hình thức các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có thầm quyền giải quyết các vụ việc xảy ra trên thực tế bằng cách dựa trên cơ

sở các nguyên tắc của pháp luật, pháp chế và ý thức pháp luật Khi áp dụng tương tự pháp luật ở trường hợp này cần phải tuân thủ một số nguyên tắc, đó là, phải khẳng định được một cách chính xác là trong hệ thống pháp luật chưa có quy phạm nào trực tiếp điều chỉnh quan hệ xã hội đang xảy ra trên thực tế và cũng không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ xã hội khác có nội dung tương tự như quan hệ cần điều chỉnh đang đặt ra Đồng thời, trên thực tế cũng không có một nguồn nào khác điều chỉnh, giải quyết sự việc đó (như tập quán pháp, tiền lệ pháp) Phải làm sáng tỏ được nhu cầu thực tế cần phải giải quyết sự việc đó là thiết thực, bức xúc, nếu không giải quyết nó sẽ đem lại hậu quả tiêu cực

* Giai đoạn 3: Đưa ra quyết định áp dụng pháp luật: Đây là giai đoạn quan

trọng, có yếu tố quyết định bởi nó phản ánh kết quả thực tế quá trình áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền Về bản chất, đây là giai đoạn chuyển hoá những quy định của pháp luật thành những quyết định cụ thể, cá biệt Các quyết định áp dụng pháp luật được đưa ra phải đảm bảo tính khách quan, hợp pháp cũng như sự phù hợp cả về nội dung, thể thức Sự phù hợp của quyết định pháp luật được đưa ra cần phải xem xét cả ở hai khía cạnh là pháp lý và thực tế Mức độ cá thể hoá càng chi tiết, sát thực về nội dung, yêu cầu và đảm bảo khách quan thì quyết định áp dụng pháp luật càng chính xác, hiệu quả

Đối với các quyết định được thể hiện bằng văn bản áp dụng pháp luật thì việc lựa chọn ngôn ngữ, văn phạm phải dễ hiểu, phải dùng từ đơn nghĩa, tránh dùng từ đa nghĩa dẫn đến mỗi người đọc có cách hiểu khác nhau Như vậy, văn bản áp dụng pháp luật là những văn bản do cơ quan nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền ban hành theo một trình tự, thủ tục, tên gọi luật định, chứa đựng quy tắc xử sự cá biệt, cụ thể và được thực hiện một lần trong đời sống pháp lý Văn bản áp dụng pháp luật có các đặc trung sau:

- Văn bản áp dụng pháp luật phải do cơ quan nhà nước hoặc cá nhân có thẩm

quyền được nhà nước trao quyền Chỉ những cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền

Trang 28

do pháp luật quy định mới có quyền ban hành văn bản áp dụng pháp luật, tránh sự lạm quyền, tuỳ tiện Ví dụ: Chỉ có Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam mới có quyền ban hành Quyết định tặng thưởng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo nhân dân, tặng thưởng các huân chương lao động, huân chương, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam không được quyền này

- Văn bản áp dụng pháp luật phải được ban hành với một trình tự, thủ tục,

hình thức và tên gọi theo luật định Điều này là hết sức cần thiết vì nếu không nó sẽ

không thống nhất về hình thức, tên gọi, quy trình; tạo vướng mắc, xung đột về nội dung thẩm quyền áp dụng Quy trình thủ tục của áp dụng pháp luật có thể đầy đủ hoặc rút gọn tuỳ thuộc vào quy định pháp luật cho từng lĩnh vực áp dụng pháp luật và điều kiện, hoàn cảnh thực tế về nội dung của sự việc được áp dụng

- Văn bản áp dụng pháp luật chưa đựng quy tắc xử sự các biệt, cụ thể, không

chứa đựng các quy phạm mang tính xử sự chung, mà nó chứ đựng quy tắc xử sự cụ thể áp dụng cho những tình huống cụ thể

- Văn bản áp dụng pháp luật được thực hiện một lần đối với chủ thể có liên

quan Đây là đặc điểm cơ bản của văn bản áp dụng pháp luật để phân biệt với văn bản

quy phạm pháp luật Văn bản áp dụng pháp luật nhằm cá thể hoá quyền, nghĩa vụ pháp lý hoặc cá biệt hoá chế tài pháp luật nên không thể vì một văn bản, quyết định

áp dụng pháp luật mà chủ thể được hoặc phải thực hiện nhiều lần trong đời sống pháp

- Văn bản áp dụng pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp nhà

nước, đó là các điều kiện để các văn bản áp dụng pháp luật có đủ khả năng được thực

thi trên thực tế một cách nghiêm chỉnh và hiệu quả, triệt để Đối với các chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ thì nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế bắt buộc thực hiện

* Giai đoạn 4: Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật trên thực tế, đây

được coi là giai đoạn cuối của quá trình áp dụng pháp luật, việc đảm bảo cho các văn bản áp dụng có hiệu lực trên thực tế có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi mục đích của việc điều chỉnh quan hệ xã hội bằng pháp luật mới đạt được Để các văn bản áp dụng

Trang 29

được các chủ thể liên quan tôn trọng thực hiện cần chuẩn bị tốt các điều kiện thiết yếu

để các chủ thể có khả năng thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp lý cũng như trách nhiệm, trách nhiệm pháp lý của họ Cần tiến hành hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực thi các văn bản áp dụng đối với các chủ thể có liên quan để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trên thực tế

1.2 Những vấn đề lý luận về giáo dục, đào tạo và pháp luật về giáo dục, đào tạo

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của giáo dục, đào tạo

Giáo dục ra đời và phát triển cùng với sự tồn tại của xã hộ loại người; duy trì, bảo tồn và phát triển các sáng tạo mà con người đã tích lũy được Giáo dục là tất yếu vĩnh hằng của loài người, ở đâu có con người thì ở đó có sự truyền đạt kinh nghiệm

và sáng tạo trong hoạt động sản xuất vì vậy ở một thời đại nào, quốc gia nào cũng phải xây dựng được một nền giáo dục để đào tạo ra một thế hệ con người phù hợp với chế độ đấy Giáo dục là môi trường chủ yếu, tốt nhất để truyền tài những tư tưởng thống trị, đồng thời cũng gợi ý, xuất hiện những tư tưởng tiến bộ mầm mống

C.Mác khẳng định rằng: “về mặt hiện thực, bản chất của con người là tổng hoà

các mối quan hệ xã hội” [4, tr.11] Tâm lý học và giáo dục Mác xít đã chứng minh rằng

mỗi con người tự tạo ra bản chất của riêng mình bằng con đường lĩnh hội và sáng tạo vốn

kinh nghiệm chung của loài người “Quá trình giáo dục chính là quá trình lãnh đạo tổ

chức, dẫn dắt các dạng hoạt động dạy và hoạt động học” [13, tr.85] Như vậy, giáo dục

đồng nghĩa với sự chọn lọc, phát triển văn minh nhân loại Đó là một quá trình bỏ những thói hư, tật xấu, những hủ tục lạc hậu, để tiếp thu cái tốt, cái mới, tiên tiến, văn minh, tiến

bộ Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra [27, tr.349]

Giáo dục là một quá trình đào tạo con người có mục đích, nhằm trang bị cho con người những kiến thức, yêu cầu khi tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thể hiện bằng cách truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch

Trang 30

sử, xã hội loài người

Giáo dục là một hoạt động đặc trưng, tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu để duy trì và phát triển con người trong xã hội Giáo dục là một quá trình tái sản xuất mở rộng tái sản xuất sức lao động, nhằm tạo ra một lao động mới có trình độ hơn, năng lực hơn, trẻ khoẻ hơn và kế thừa được những kinh nghiệm, tri thức trước đó của con người đã tích luỹ được Con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất; giáo dục và đào tạo vừa là động cơ, vừa là mục đích của sự phát triển

Trong thời đại kinh tế tri thức, ai là người làm chủ tri thức, khoa học công nghệ thì người đó là chủ xã hội, là chủ thế giới Mà muốn có tri thức không còn con đường nào khác là phải thông qua hoạt động giáo dục, con người sinh ra không thể có tri thức,

mà phải thông qua giáo dục mới có tri thức Trải qua hàng ngàn năm, giáo dục học phương Đông đã tổng kết được 4 mặt cơ bản nhất của giáo dục, đó là: Giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ [21, tr.105]

Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc trưng của xã hội loài người, giáo dục nảy sinh cùng với xã hội loài người, trở thành một chức năng không thể thiếu được và cũng không thể mất đi ở mọi giai đoạn phát triển của xã hội Là một hiện tượng xã hội, nên giáo dục mang tính lịch sử cụ thể, tính chất, mục đích, nhiệm

vụ, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục biến đổi theo giai đoạn phát triển của

xã hội, theo chế độ chính trị, kinh tế của xã hội, của quốc gia đó

Đào tạo là một quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho con người

đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người [22, tr.735]

Đào tạo là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Đào tạo gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách thường được giảng dạy và học tập trong nhà trường Kết quả của đào tạo còn phụ thuộc vào việc người đó thể hiện ra

Trang 31

ở việc tự học và tham gia xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút ra kinh nghiệm của người đó quyết định

Hiện tại, chúng ta chia đào tạo ra làm hai dạng, đó là đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp Hai loại hình đào tạo này gắn bó, hỗ trợ cho nhau, đan xen lẫn nhau, với những nội dung và thời điểm do đòi hỏi của quá trình sản xuất, các quan hệ

xã hội, trình độ khoa học kỹ thuật, và truyền thống, văn hoá của quốc gia

Khái niệm giáo dục thường bao hàm cả khái niệm đào tạo Hình thức đào tạo

cơ bản là các cơ sở giáo dục chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân Ngoài ra còn có loại hình đào tạo không chính quy (trong quản lý nhà nước thường gọi là không được cân đối ngân sách) đó là: đào tạo tại chức, đào tạo từ xa nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội

Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc, nguyên Trưởng ban khoa giáo Trung ương

Đảng cộng sản Việt Nam “Quá trình đào tạo bao gồm giáo dục và giáo dưỡng, dạy

dỗ và tập luyện, hình thành và phát triển nhân cách học sinh Đó là hoạt động truyền thụ và lĩnh hội của thầy và trò, của xã hội và thế hệ trẻ, của cha mẹ và con cái, v.v ”

[13, tr.85]

Giáo dục đào tạo có vai trò đặc biệt cần thiết đối với sự phát triển của mỗi con người, mỗi xã hội, nó làm cho con người trở nên có ích, có giá trị, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, bao gồm nâng cao toàn bộ thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, nhân cách, mỹ thuật Giáo dục đào tạo là đòn bẩy mạnh mẽ nhất để chúng ta tiến vào tương lai; giáo dục là quyền cơ bản nhất của con người, đó là quyền tự nhiên, quyền hiến định, là điều kiện tiên quyết để thực hiện nhân quyền, dân chủ, hợp tác trí tuệ, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau Vai trò của giáo dục đào tạo thể hiện ở một số đặc điểm sau:

- Giáo dục đào tạo là động lực, là đòn bẩy mọi sự phát triển của xã hội, của đất nước Lịch sử loài người đã chứng minh: Sự phát triển của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều yếu tố từ tài nguyên môi trường, cơ chế chính sách, nguồn nhân lực, vị trí địa

lý, truyền thống con người trong các nguồn lực này, nhân lực trở thành một nguồn lực chủ đạo (ví dụ như Nhật Bản, Hàn Quốc) có tính quyết định, trong đó nhân lực, tài

Trang 32

lực, vật lực là nguồn chủ yếu (người ta thường gọi là dân số vàng) Tài lực, vật lực chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng, chỉ trở thành sức mạnh khi có sự can thiệp của con người Con người can thiệp như thế nào, đúng, sai, với mức độ ra sao thì tài lực, vật lực sẽ tác động trở lại thành tích cực hay tiêu cực

Con người tồn tại với hai tư cách, vừa là chủ thể, vừa là khách thể của xã hội Với tư cách là chủ thể, con người trực tiếp tham gia vào mọi hoạt động nhằm phát triển xã hội, đất nước Sự phát triển đó như thế nào phụ thuộc trực tiếp vào chính chủ thể của xã hội; với tư cách này, con người là động lực, là đòn bẩy của mọi sự phát triển của xã hội Với tư cách là khách thể, thì mọi hoạt động đều nhằm mục đích phục

vụ con người, phát triển con người, vì vậy con người trở thành mục tiêu của sự phát triển

- Giáo dục và đào tạo là thước đo phát triển đất nước, những nước có điểm xuất phát về kinh tế xã hội như nhau, nhưng sau một thời gian thì có sự cách biệt về mặt phát triển kinh tế, phát triển xã hội Một nước phát triển nhanh, có trình độ khoa học kỹ thuật và đương nhiên là trình độ sản xuất ở bậc cao hơn, dẫn đến tính chất của quan hệ sản xuất cũng phát triển và ngược lại ở một quốc gia khác rơi vào tình trạng trì trệ, kém phát triển Nguyên nhân của điều này, đó là nước nào quan tâm, chú trọng đến giáo dục và đào tạo thì nước đó sẽ phát triển nhanh và ngược lại Nhà bác học Lê Quý Đôn đã từng tổng kết, khái quát thành một quy luật “phi công bất túc, phi nông bất ổn, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng” Trong Tam tự kinh của Vương Ứng Lân đã khẳng định: Ngọc bất trác bất thành khí, Nhân bất học bất tri lý Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một lần nữa là: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu; trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tháng 9 năm 1945, Người đã căn dặn: Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn công học tập của các cháu

- Giáo dục đào tạo là yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là một

Trang 33

cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, để cuộc cách mạng đó thành công thì bắt buộc phải đào tạo được một đội ngũ lao động có trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ cao, có tay nghề thành thạo, phục vụ đắc lực và kịp thời các lĩnh vực của nền kinh tế, trong khi đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của chúng ta còn thấp, vì vậy Đảng, Nhà nước ta đã thảo luận và ban hành nghị quyết về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Xây dựng nền giáo dục theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” thể hiện: Chuẩn hóa là chuẩn hóa về giáo trình, chương trình, nội dung giảng dạy, sách giáo khoa, quy trình kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục đào tạo [2, tr.237]

Hiện đại hóa là cập nhật với thời đại hiện nay, hiện đại hóa nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo, hiện đại hóa các phương tiện dạy và học, tăng cường các thiết bị thông tin, viễn thông [2, tr.238]

Xã hội hóa giáo dục là huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia vào quá trình giáo dục đào tạo, đồng thời tạo điều kiện cho mọi người dân được thụ hưởng thành quả do hoạt động giáo dục đem lại [2, tr.241]

1.2.2 Khái luận về hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam hiện nay

Giáo dục và đào tạo là hoạt động mang tính lâu dài, không thể nhìn ngay lợi nhuận, đầu tư lớn, đồng thời mang tính tái tạo lại sức lao động cho thế hệ sau; vì vậy, hệ thống giáo dục phải mang tính nhà nước Giáo dục đào tạo bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên Luật Giáo dục năm 2005 nêu rõ các cấp học gồm:

- Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;

- Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;

- Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;

- Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ [16, Điều 4, Khoản 2]

1.2.2.1 Giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non là cấp giáo dục quốc dân đầu tiên, có nhiệm vụ thực hiện việc

Trang 34

nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một

Giáo dục mầm non có nhiệm vụ giáo dục trẻ phát triển về thể chất, tránh việc thấp còi, nhẹ cân hoặc béo phì

Các cơ sở giáo dục mầm non bao gồm:

- Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi;

- Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi;

- Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em

từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi

Nhà nước phát động nhiều phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, phong trào xây dựng trường học an toàn, phong trào xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, khuyến khích các trường tiến hành kiểm định chất lượng, thực hiện cuộc vận động

“mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học, sáng tạo”…

1.2.2.2 Giáo dục phổ thông

Giáo dục phổ thông bao gồm giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở (bao gồm cả giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở), giáo dục trung học phổ thông (bao gồm cả giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông)

- Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi;

- Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi;

- Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở,

có tuổi là từ mười lăm tuổi

- Giáo dục thường xuyên cấp THPT được thực hiện trong 02 năm

Nội dung của giáo dục phổ thông:

Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện,

Trang 35

hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học

Nội dung giáo dục phổ thông phải là những kiến thức cơ bản, kiến thức của học sinh là giúp các em giải quyết những vấn đề thường ngày trong cuộc sống, toàn diện về những vấn đề toán học, hoá học, vật lý, sinh học, lịch sử, địa lý, văn học, kỹ thuật, âm nhạc, hội họa… những kiến thức đó không đòi hỏi cao xa, mang tính hàn lâm mà phải mang tính phổ thông, phù hợp với đa số các em học sinh

Giáo dục tiểu học phải bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về

tự nhiên, xã hội và con người; có kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán;

có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật

Giáo dục trung học cơ sở phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch

sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp

Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh để tiếp tục học tiếp lên đại học hoặc chuyển sang học nghề

Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh Phương pháp giáo dục phổ thông là lấy học sinh là trung tâm, giáo viên đóng vai trò như người nhạc trưởng để hướng học sinh tiếp thu kiến thức và phát huy tính sáng tạo, tự học

Mỗi xã, phường, thị trấn có ít nhất một trường tiểu học để giảng dạy, thực hiện chức năng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi trên địa bàn xã, phường, thị trấn

Trang 36

Theo đó học sinh hết 11 tuổi phải hoàn thành chương trình tiểu học do Bộ Giáo dục

và Đào tạo ban hành Việc đầu tư cơ sở vật chất do UBND các xã, phường, thị trấn đảm nhiệm Việc đầu tư trang thiết bị do nhà trường và thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục Việc xây dựng đội ngũ giáo viên do cơ quan quản lý nhà nước về gió dục đào tạo đảm nhiệm

1.2.2.3 Giáo dục nghề nghiệp

Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người

có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông;

Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ cấp,

từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng

Mục tiêu của giáo dục chuyên nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức,

kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh

Trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc

Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nhà nước có chính sách đầu tư cho dạy nghề về cơ sở vật chất, đầu tư mua sắm trang thiết bị Học sinh tốt nghiệp THCS đi học nghề được miễn học phí, các chính sách khác về giáo dục và đào tạo được đảm bảo đối với đối tượng là người có công với cách

Trang 37

mạng và thân nhân của họ, đối tượng thuộc hộ gia đình nghèo, cận nghèo, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo, vùng bãi ngang

- Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân

Mục tiêu cụ thể đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ về cơ bản bao gồm:

- Đào tạo trình độ cao đẳng để sinh viên có kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành thành thạo, hiểu biết được tác động của các nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội trong thực tiễn và có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc ngành được đào tạo;

- Đào tạo trình độ đại học để sinh viên có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào tạo;

- Đào tạo trình độ thạc sĩ để học viên có kiến thức khoa học nền tảng, có kỹ năng chuyên sâu cho nghiên cứu về một lĩnh vực khoa học hoặc hoạt động nghề nghiệp hiệu quả, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo;

- Đào tạo trình độ tiến sĩ để nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và ứng dụng, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát triển tri thức mới, phát hiện nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội và giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn

Cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân (Luật Giáo dục đại học năm 2012) bao gồm:

Trang 38

- Trường cao đẳng;

- Trường đại học, học viện;

- Đại học vùng, đại học quốc gia (sau đây gọi chung là đại học);

- Viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ

Cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được tổ chức theo các loại hình sau đây:

- Cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu

tư, xây dựng cơ sở vật chất;

- Cơ sở giáo dục đại học tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất

Cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài gồm:

- Cơ sở giáo dục đại học có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài;

- Cơ sở giáo dục đại học liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước [16, Điều 7]

1.2.3 Lý luận pháp luật về giáo dục và đào tạo

Từ hệ thống những tri thức lý luận về pháp luật cũng như những vấn đề có liên quan đến hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam như đã nói ở trên, có thể thấy pháp luật về giáo dục và đào tạo là một hệ thống những qui phạm pháp luật chuyên biệt điều chỉnh lĩnh vực quan hệ xã hội khá đặc thù – quan hệ liên quan đến hoạt động giáo dục và đào tạo

Trên thực tế, hiện nay trong khoa học pháp lý ở Việt Nam cũng như trên thế giới, quan niệm về pháp luật cũng còn khá khác nhau

Có quan niệm hiểu pháp luật theo trường phái pháp luật tự nhiên Theo đó, pháp luật được hiểu là tất cả những qui định phù hợp với lẽ tự nhiên, quyền tự nhiên của con người [30] Theo trường phái xã hội học pháp luật, pháp luật là tất cả những

gì xuất phát từ cuộc sống, hiện thân từ chính nhu cầu của cuộc sống Pháp luật là công

cụ điều hòa lợi ích xã hội, xuất phát từ chính cuộc sống và phục vụ cuộc sống mà không phải là theo ý chí của ai cả, hay của giai cấp cầm quyền nào cả, mà là sản phẩn của nhu cầu xã hội [31] Những đại diện theo trường phái thực chứng thì cho rằng pháp luật là những qui tắc sử xự do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận để điều chỉnh các

Trang 39

quan hệ xã hội và được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước [31], còn Mác-Lê-nin và những người theo quan điểm này thì cho rằng pháp luật luôn là những qui tắc do giai cấp cầm quyền đặt ra để điều chỉnh, quản lý xã hội theo ý chí của giai cấp cầm quyền [31]…

Rõ ràng, những quan điểm khác nhau về pháp luật sẽ dẫn đến các cách tiếp cận khác nhau về áp dụng pháp luật Bởi xét cho cùng, áp dụng pháp luật cũng chính là hoạt động đưa áp luật vào cuộc sống bằng một hình thức đặc biệt Điều này có nghĩa nếu hiểu pháp luật theo các nghĩa khác nhau thì qui trình, nội dung và mục đích của việc áp dụng nó cũng rất khác nhau

Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả tiếp cận theo quan điểm thực chứng bởi

lẽ nó phù hợp với nhận thức chung của pháp luật Việt Nam hiện nay và thực tế nó cũng khá rõ ràng và dễ hiểu để áp dụng các qui định của các văn bản pháp luật do các

cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền hay được ủy quyền ban hành (hoặc thừa nhận) vào cuộc sống

Pháp luật điều chỉnh rất nhiều các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Hầu hết, mọi lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội đều có pháp luật điều chỉnh, bảo vệ Trong những lĩnh vực ấy có giáo dục và đào tạo

Việt Nam, với truyền thống trọng việc học, luôn coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu

Tất cả các văn kiện, nghị quyết của đại hội Đảng trong những năm gần đây,

đặc biệt là từ khi có Nghị quyết trung ương 2 khoá VIII năm 1998 khẳng định “giáo

dục, đào tạo là điều kiện tiên quyết để chúng ta hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giải phóng sức lao động” [3] Đặc biệt gần đây, Đảng ta

tiếp tục quan tâm đến giáo dục đào tạo để tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng, phục

vụ sự nghiệp cách mạng của đất nước, vì vậy Đảng đã ban hành Nghị quyết số NQ/TW ngày 04/11/2013 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”

Giáo dục và đào tạo thực sự là quốc sách hàng đầu Đây là quan điểm xuyên suốt và được khẳng định trong văn kiện Đại hộ Đảng toàn quốc lần thứ VII, Nghị

Trang 40

quyết trung ương 2 khoá VIII năm 1998 [3], Văn kiện đại hội lần thứ IX [10], lần thứ

X [11], lần thứ XI [12], “giáo dục – đào tạo cùng với khoa học kỹ thuật là quốc sách hàng đầu…” thừa nhận giáo dục đào tạo là khâu then chốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bỏ vệ vững chắc tổ quốc; là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới

Quan điểm này đã được cụ thể hoá “Chiến lược con người” mà Đảng ta đã đưa

ra từ Đại hội VI Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, giáo dục và đào tạo sẽ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, làm cho người dân phát triển toàn diện về trí tuệ, thể chất, tâm hồn, đạo đức

Xây dựng một nền giáo dục có tính nhân dân, tính dân tộc, khoa học hiện đại, theo

định hướng xã hội chủ nghĩa Luật Giáo dục năm 2005 đã nêu “Nền giáo dục Việt Nam là

nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng” [16, Điều 3]

Phát triển giáo dục đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, với tiến bộ của khoa học và công nghệ, củng cố quốc phòng an ninh, với xu thế tiến bộ của thời đại Với tư cách là một bộ phận của mặt trận khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo phải hướng tới, gắn bó chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, phục vụ con người, kịp thời đáp ứng nhu cầu nhân lực về chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Chính vì lẽ đó, giáo dục và đào tạo ngày càng nhận được sự quan tâm lớn của Đảng và nhà nước Cụ thể là những qui định pháp luật về giáo dục đào tạo ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ để điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động quản lý giáo dục

và đào tạo, hoạt động giáo dục, đạo tạo, quan hệ giữa những chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục và đào tạo

Như vậy, có thể thấy, pháp luật về giáo dục và đào tạo là hệ thống những qui pháp pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh một lĩnh vực rất quan trọng của đời sống xã hội đó là hoạt động giáo dục và đào tạo cũng như công tác quản

lý nhà nước về giáo dục đào tạo với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi

Ngày đăng: 15/08/2015, 09:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đặng Quốc Bảo (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai: Vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai: Vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
3. BCH Đảng CS Việt Nam khóa VIII (1999), Nghị quyết số 02-NQ/HNTW ngày 24/12/1996, về định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 02-NQ/HNTW ngày 24/12/1996, về định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000
Tác giả: BCH Đảng CS Việt Nam khóa VIII
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1999
4. C Mác - F. Ănghen (1980), Tuyển tập, Tập 3, tr.11, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C Mác - F. Ănghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1980
9. Đại hội đại biểu toàn quốc (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Tác giả: Đại hội đại biểu toàn quốc
Năm: 2011
10. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đảng CS Việt Nam lần thứ IX Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng CS Việt Nam lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2001
12. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng CS Việt Nam lần thứ XI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam (2011)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
13. Phạm Minh Hạc (2003), Về giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
14. Nguyễn Thị Hồi (2009), Đề tài nghiên cứu cấp trường: Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài nghiên cứu cấp trường: Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Hồi
Năm: 2009
15. Nguyễn Huy Hồng Lam (2012), Lịch sử Pháp luật về giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Luận văn thạc sỹ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Pháp luật về giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Tác giả: Nguyễn Huy Hồng Lam
Năm: 2012
16. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2005
17. Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật giáo dục Đại học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục Đại học
Tác giả: Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2012
19. Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Nam Định (2013), Báo cáo thực hiện pháp luật về giáo dục mầm non, tỉnh Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực hiện pháp luật về giáo dục mầm non
Tác giả: Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Nam Định
Năm: 2013
20. Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Nam Định (2013), Báo cáo tổng kết năm học 2013 – 2014, tỉnh Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học 2013 – 2014
Tác giả: Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Nam Định
Năm: 2013
21. Vũ Văn Tảo, Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Văn Giao, Bùi Hiền (2001), Từ điển giáo dục học, Nxb từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giáo dục học
Tác giả: Vũ Văn Tảo, Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Văn Giao, Bùi Hiền
Nhà XB: Nxb từ điển Bách khoa
Năm: 2001
22. Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Quyển 1, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam
Tác giả: Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1995
23. UBND tỉnh Nam Định (2012), Kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 14/8/2012 về việc Thực hiện nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng đồng đều trong giáo dục phổ thông, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 14/8/2012 về việc Thực hiện nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng đồng đều trong giáo dục phổ thông
Tác giả: UBND tỉnh Nam Định
Năm: 2012
24. Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định (2012), Báo cáo phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, tỉnh Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định
Năm: 2012
25. Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định (2013), Báo cáo phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ II, tỉnh Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ II
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định
Năm: 2013
26. Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định (2013), Báo cáo thực hiện pháp luật về Dạy nghề, tỉnh Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thực hiện pháp luật về Dạy nghề
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định
Năm: 2013
27. Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Quy mô học sinh - Luận văn ths  luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo   thực tiễn tại tỉnh nam định
Bảng 1.1 Quy mô học sinh (Trang 45)
Bảng 1.3: Quy mô lớp học của các trường - Luận văn ths  luật áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo   thực tiễn tại tỉnh nam định
Bảng 1.3 Quy mô lớp học của các trường (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w