Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn ths luật cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN VIẾT KIÊN
C¥ QUAN §IÒU TRA CñA VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N -
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN VIẾT KIÊN
C¥ QUAN §IÒU TRA CñA VIÖN KIÓM S¸T NH¢N D¢N -
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Viết Kiên
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 9
1.1 Những vấn đề chung về Viện kiểm sát nhân dân 9
1.1.1 Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân 9
1.1.2 Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân 10
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân 11
1.2 Sự cần thiết và lịch sử hình hành Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân 15
1.2.1 Sự cần thiết của Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân 15
1.2.2 Lịch sử hình thành Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân 18
1.3 Khái niệm và đặc điểm Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân 23
1.3.1 Khái niệm Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân 23
1.3.2 Đặc điểm Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân 25
1.4 Tổ chức và hoạt động điều tra trong luật Tố tụng hình sự ở một số nước trên thế giới 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41
Trang 5Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN
HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN 43
2.1 Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật hiện hành 43
2.1.1 Cơ sở pháp lý về nhiệm vụ, quyền hạn 43
2.1.2 Đặc điểm về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao 44
2.1.3 Nội dung nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao 45
2.1.4 Về thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân 54
2.1.5 Về tổ chức bộ máy của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao 61
2.1.6 Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 62
2.2 Thực tiễn hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân 63
2.2.1 Những kết quả đạt được 63
2.2.2 Những hạn chế, vướng mắc 73
2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc 75
2.3.1 Những nguyên nhân khách quan 75
2.3.2 Những nguyên nhân chủ quan 78
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIẾM SÁT NHÂN DÂN 82
3.1 Sự cần thiết phải tiếp tục tổ chức Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân 82
Trang 63.2 Những giải pháp hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Cơ
quan điều tra viện kiểm sát nhân dân 90
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật 903.2.2 Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Viện
kiểm sát nhân dân 953.2.3 Đẩy mạnh công tác hướng dẫn và áp dụng pháp luật 983.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị hoạt động cho Cơ quan
điều tra Viện kiểm sát nhân dân, các chế độ chính sách đãi ngộ
phù hợp đối với cán bộ, điều tra viên 993.2.5 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng 993.2.6 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về hoạt động của Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát nhân dân 100
KẾT LUẬN 102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CHLB: Cộng hòa Liên Bang Đức CQĐT: Cơ quan điều tra
KSND: Kiểm sát nhân dân TAND: Tòa án nhân dân TPHS: Tƣ pháp hình sự TTHS: Tố tụng hình sự VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng phân tích số liệu tiếp nhận, phân loại và giải quyết
thông tin về vi phạm và tội phạm xâm phạm hoạt động tƣ
Bảng 2.2: Bảng phân tích số liệu kết quả giải quyết thông tin về vi
phạm và tội phạm xâm phạm hoạt động tƣ pháp trong 5
Bảng 2.3: Bảng phân tích số liệu khởi tố, thụ lý, điều tra tội phạm
xâm phạm hoạt động tƣ pháp của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân trong 5 năm gần đây (2009 – 2014) 67 Bảng 2.4: Bảng phân tích kết quả, điều tra, xử lý tội phạm xâm
phạm hoạt động tƣ pháp của Cơ quan điều tra Viện kiểm
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử tư pháp hình sự của Việt Nam từ năm 1945 đến nay cho thấy các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 (sửa đổi năm 2001) và Hiến pháp năm 2013, đều khẳng định chức năng của Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, 1981, 1992, 2002 và năm 2014 quy định về tổ chức và hoạt động của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, trong đó Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là một bộ phận không thể tách rời trong
cơ cấu tổ chức và trong chỉnh thể thực hiện chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân
Theo quy định của pháp luật hiện hành, chỉ quy định tổ chức hai Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, đó là ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao và ở Viện kiểm sát Quân sự trung ương Về phạm vi thẩm quyền cũng có những thay đổi theo hướng: Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân thực hiện điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội
là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét
xử của Tòa án nhân dân hoặc Tòa án quân sự
Sau hơn 50 năm được tổ chức và hoạt động, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đã thực hiện điều tra một khối lượng lớn các vụ án hình sự, góp phần rất tích cực cho thực hiện chức năng công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật nói riêng và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung Song thực tiễn cũng không tránh khỏi những hạn chế và có ý kiến cho rằng: Quyền điều tra không nằm trong phạm trù quyền kiểm sát tuân theo pháp luật; phải phân định rạch ròi chức năng điều tra và chức năng kiểm sát, trong khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát phê chuẩn các áp dụng các biện pháp ngăn chặn,
Trang 10phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, thực hiện truy tố mà Viện kiểm sát lại có quyền điều tra sẽ thiếu khách quan, là vừa đá bóng vừa thổi còi Thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân vẫn còn có những bất cập, mâu thuẫn đan xen với các Cơ quan điều tra khác Phạm vi thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân cũng chưa được xác định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự và pháp lệnh điều tra hình sự Đặc biệt là vấn đề cơ sở khoa học pháp lý trong tổ chức và hoạt động điều tra của
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân Nhưng cũng có ý kiến cho rằng nên mở rộng thẩm quyền điều tra các vụ án về chức vụ, tham nhũng cho
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân và tổ chức Cơ quan đều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở hai cấp hoặc thêm cấp khu vực
Những tồn tại và hạn chế nêu trên đã gây ra vướng mắc, lúng túng trong việc áp dụng pháp luật và có không ít trường hợp chưa thống nhất trong thi hành Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự Mặt khác, trong thực tiễn áp dụng, do chưa đánh giá hết vai trò, chức năng, kết quả hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nên dẫn đến những nhận thức phiến diện về hoạt động chức năng công tố của Viện kiểm sát nhân dân Tất cả những vấn đề này là nguyên nhân làm giảm hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp nói riêng
Trước đòi hỏi đó, việc nghiên cứu về sự cần thiết của CQĐT Viện kiểm sát cũng như địa vị pháp lý, tổ chức và hoạt động, thẩm quyền điều tra, nhất là phạm vi thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra này là hết sức cần thiết Vì vậy, để góp phần thực hiện cải cách tư pháp, triển khai thi hành Hiến pháp
2013 học viên lựa chọn đề tài: “Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, khoa học luật tố tụng hình sự là một trong những ngành
Trang 11khoa học pháp lý phát triển so với các ngành khoa học pháp lý khác Về Cơ quan điều tra đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, nhiều luận văn thạc
sỹ hay luận án tiến sỹ nghiên cứu nhưng mới tập trung nghiên cứu về Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân, trong Quân đội nhân dân hay các luận văn nghiên cứu về khía cạnh nào đó đề cập đến Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân Nhưng các công trình khoa học nghiên cứu tổng thể về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân còn rất hạn chế, hoặc đã không còn tính lịch sử mà chủ yếu là các nghiên cứu dưới một hay nhiều khía cạnh khác nhau
về vấn đề này như: “Quá trình hình thành và phát triển của Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát nhân dân tối cao qua các thời kỳ” – Lại Thị Loan, Tạp chí
Kiểm sát số 11 – tháng 6/2012; “Địa vị pháp lý và thẩm quyền của Cơ quan
điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao” – Lại Hồng Thanh, Tạp chí Kiểm sát
số 11 – tháng 6/2011; “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng két công
tác thực tiễn hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” – Nguyễn Tiến Sơn, Tạp chí kiểm sát số
11 – tháng 6/2012; “Quyền điều tra của Viện kiểm sát và sự cần thiết phải
giao trách nhiệm điều tra tội phạm về chức vụ, tham nhũng cho Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao” – TS Đỗ Văn Đương – Tài liệu tại Hội
thảo khoa học Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi về chế định cơ
quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao” Hà Nội, ngày 25/9/2013; “ Tổ
chức và hoạt động điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát/Viện công tố ở một số nước trên thế giới – những kinh nghiệm rút ra đối với việc đổi mới cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân” - PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí - Tài liệu
tại Hội thảo khoa học Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi về chế định cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao” Hà Nội, ngày
25/9/2013; “Đổi mới Cơ quan điều tra của viện kiểm sát trong cải cách tư
pháp đang tiến hành ở nước ta” – GS.TS Trần Ngọc Đường - Tài liệu tại Hội
Trang 12thảo khoa học Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi về chế định cơ
quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao” Hà Nội, ngày 25/9/2013; “Sự
cần thiết phải tiếp tục tổ chức Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân theo yêu cầu cải cách tư pháp” – Mai Văn Minh – Tạp chí Kiểm sát số 19 –
tháng 10/2013; “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra Viện
kiểm sát nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” – Lại Viết Quang –
Tạp chí Kiểm sát số 11 – tháng 6/2013; “Một số ý kiến về tổ chức và hoạt
động điều tra ở Việt Nam” – TS Đỗ Văn Đương – Tạp chí Kiểm sát số 13 –
tháng 7/2013; “Trao đổi về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và vấn đề bổ nhiệm thủ trưởng Cơ quan điều tra” –
TS Mai Thế Bày – Tạp chí Kiểm sát số 13 – tháng 7/2013
Tra cứu thông tin tại Trung tâm tư liệu – Khoa luật Đại học Quốc gia
Hà nội thì trong vòng 5 năm trở lại đây không có luận văn cấp thạc sỹ nào nghiên cứu về chế định Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân một
cách độc lập mà chỉ có luận văn thạc sỹ: “Các tội xâm phạm hoạt động tư
pháp mà người phạm tội là cán bộ các cơ quan tư pháp – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” – Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Nguyễn
Thị Thu Trang bảo vệ năm 2012, có đề cập đến Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở một khía cạnh rất hẹp Vì vậy, các bài viết nghiên cứu khoa học, các đề tài cấp độ thác sỹ về chế định Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân trong khuôn khổ phạm vi hẹp, thời gian nghiên cứu đến nay đã có những thay đổi, phát sinh nên việc nghiên cứu và mở rộng đề tài là điều cần thiết
Như vậy, tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây một lần nữa cho
phép khẳng định việc nghiên cứu đề tài “Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát
nhân dân – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” là đòi hỏi khách quan, cấp
thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn
Trang 133 Mục đích, nhiệm vụ
3.1 Mục đích
Thông qua việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân nhằm đưa ra khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển; khái quát các quy định của pháp luật Việt nam cũng như pháp luật một số nước trên thế giới
về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân (hay Viện Công tố) Từ đó giải quyết vấn đề về tổ chức hoạt động, nhiệm vụ, thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự Việt nam – Đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/05/2005 của Bộ Chính trị
3.2 Nhiệm vụ
Tổng hợp các quan điểm của các tác giả trong và ngoài nước về cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề chung về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
- Khái quát sự ra đời và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân trong lịch sử tư pháp của nước ta từ năm 1960 đến nay để rút ra những nhận xét, đánh giá;
- Đánh giá một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về những vấn
đề lý luận của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân;
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế xung quanh thực tiễn hoạt động và những nguyên nhân cơ bản của nó;
- Nghiên cứu các quy định cụ thể về tổ chức hoạt động, thẩm quyền của
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân trong pháp luật hiện hành của Việt
Nam, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá;
-Thông qua nghiên cứu, đánh giá thực trạng đưa ra những kiến nghị,
Trang 14giải pháp cụ thể, có tính khả thi nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật
tố tụng hình sự về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách tố tụng hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng IX, X, XI và các Nghị quyết
số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005
về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị
Trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học pháp lý như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học pháp lý và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
mà cụ thể là về cơ cấu tổ chức hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật hiện hành; kết quả hoạt động thực tiễn của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân trong đó tập trung từ năm 2009 đến nay
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của Pháp luật từ năm 1960, sau khi ngành kiểm sát nhân dân được thành lập theo Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
Trang 15Đề tài nghiên cứu giải quyết những vấn đề xung quanh tổ chức, hoạt động và thẩm quyền của cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật Việt Nam, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá so sánh với tổ chức, hoạt động, thẩm quyền của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân (hay Viện công tố) của một số quốc gia trên thế giới để rút ra những tiến bộ trong lập pháp có thể vận dụng đối với Việt Nam
Từ đó làm rõ các cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động, phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
6 Những đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện
lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, mà trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan tới tổ chức, hoạt động, thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Những điểm mới
cơ bản của luận văn là:
- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống, tương đối toàn diện về lịch sử hình thành, cơ sở lý luận và thực tiễn về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
- Luận văn phân tích và so sánh giữa Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam với Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân các nước có cùng chế độ, hay chức năng điều tra của Viện công tố trong pháp luật tố tụng của các nước khác trên thế giới để đúc rút ra những vấn đề tiến bộ có thể vận dụng ở nước ta
- Xuất phát từ thực tiễn yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay đưa ra những kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
Trang 16Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các cơ quan tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
7 Cơ cầu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,cơ cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Cơ quan điều tra của Viện kiểm
sát nhân dân
Chương 2: Các quy định của pháp luật và thực tiễn hoạt động của Cơ
quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Cơ quan điều tra
Viện kiêm sát nhân dân
Trang 17Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ QUAN ĐIỀU TRA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1 Những vấn đề chung về Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1 Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân
Trong gần 55 năm qua, theo quy định của Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2014, trong Bộ máy của nhà nước ta đã duy trì một hệ thống thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân Về tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự tạo thành một hệ thống, theo đó Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát các quân khu và khu vực do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội Bắt đầu từ Hiến pháp năm 1992 có thêm trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân địa phương báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân
Như vậy, xét về vị trí và về tổ chức, Viện kiểm sát nhân dân hiện nay ở Việt Nam là một hệ thống cơ quan độc lập và thống nhất do Hiến pháp quy định
Trang 18Tính thống nhất được thể hiện: Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự các quân khu và khu vực đều do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
Tính độc lâ ̣p thể hiện: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao người đứng đầu hệ thống thống nhất đó chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước Ở các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân
Vị trí và những chức năng của viện kiểm sát nhân dân là hoàn toàn phù hợp cho việc phát huy vai trò và tính chất của cơ quan giám sát công quyền –
Là một thiết chế quyền lực hoàn toàn đứng trên lập trường vì lợi ích chung của nhân dân, của Nhà nước để duy trì pháp luật, bảo đảm cho pháp luật và lợi ích của nhân dân, bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được tôn trọng và bảo vệ
1.1.2 Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)
và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát được tổ chức theo đơn vị hành chính, gồm có Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, bao gồm: a,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh); b,Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện); c,Viện kiểm sát
Trang 19quân sự (bao gồm: Viện kiểm sát quân sự Trung ương, Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương (gọi tắt là Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu) và Viện kiểm sát quân sự khu vực [22]
Hiến pháp năm 2013, có sự điều chỉnh về tổ chức của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, tại điều 107, quy định hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân gồm: Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao
và các Viện kiểm sát nhân dân khác do luật định [25]
Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (luật số 63/2014/QH13) được Quốc Hội khóa 13 thông qua ngày 24/11/2014,
có hiệu lực thi hành kể từ 01/06/2015, thì hệ thống Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: a.Viện kiểm sát nhân dân tối cao; b Viện kiểm sát nhân dân cấp cao; c Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh); d Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện); e Viện kiểm sát quân sự các cấp [26]
Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta nói chung và những nguyên tắc đặc thù: nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành và nguyên tắc độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ một cơ quan nhà nước nào ở địa phương
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân
Bất cứ Nhà nước nào trên thế giới cũng phải sử dụng quyền công tố để chống lại hành vi nguy hại đến sự thống trị và những lợi ích cơ bản của giai cấp cầm quyền và cũng để duy trì trật tự pháp luật, trật tự xã hội, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức,
cá nhân; bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội Lịch sử tư pháp và theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, thì quyền công tố được giao cho
Trang 20Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố thông qua chức năng và nhiệm vụ của mình
Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001), Hiến pháp năm 2013
và các Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, 2014 đều quy định Viện kiểm sát được giao thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình bằng những công tác sau đây: a) Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; b) Điều tra một
số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp; c) Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự; d) Kiểm sát việc giải quyết các
vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; e) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân; f) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù [22]
Điều 3, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì, thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự
để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự [26]
Theo đó, thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân nhằm
Trang 21đảm bảo phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội; đồng thời không
để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái pháp luật
Điều 4, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, thì kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [26]
Về nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân, Hiến pháp năm 2013 và Luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 có điều chỉnh theo hướng sắp xếp lại thứ tự quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ cho phù hợp với yêu cầu nhiệm
vụ cách mạng Viện Nam hiện nay và quy định Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, quy định các công tác của Viện kiểm sát nhân dân, gồm 3 nội dung cơ bản
Thứ nhất, các công tác của Viện kiểm sát nhân dân trong thực hiện chức năng thực hành quyền công tố bao gồm: thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; thực hành quyền công tố trong giai
Trang 22đoạn truy tố tội phạm; thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự; điều tra một số loại tội phạm; thực hành quyền công tố trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự
Thứ hai, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp bằng các công tác sau đây: kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; kiểm sát việc khởi tố, điều tra
vụ án hình sự; kiểm sát việc tuân theo pháp của người tham gia tố tụng trong giai đoạn truy tố; kiểm sát xét xử vụ án hình sự; kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự; kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật; kiểm sát việc thi hành án dân
sự, thi hành án hành chính; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền;
và cuối cùng là kiểm sat hoạt động tương trợ tư pháp
Thứ ba, các công tác khác của Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: công tác thống kê tội phạm; xây dựng pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng; nghiên cứu khoa học; hợp tác quốc tế và các công tác khác để xây dựng Viện kiểm sát nhân dân
Như vậy, so với luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, thì chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 không có sự thay đổi, điểm mới của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 là đã làm rõ nội hàm và phân biệt cụ thể khái niệm chức năng thực hành quyền công tố, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và quy định cô đọng nhưng đầy đủ hơn về các mặt công tác của Viện kiểm sát nhân dân Trong đó có điểm tiến bộ cần nhấn mạnh là tại mục 5, chương II, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, quy định
rõ về công tác điều tra của Viện kiểm sát nhân dân [26]
Trang 231.2 Sự cần thiết và lịch sử hình hành Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
1.2.1 Sự cần thiết của Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân
Hiện nay, quan điểm về tổ chức Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân có ý kiến khác nhau, có nhiều ý kiến đồng ý nên tổ chức Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân, nhưng cũng có ý kiến cho rằng quyền điều tra không nằm trong phạm trù quyền kiểm sát; phải phân định rạch ròi chức năng điều tra và chức năng kiểm sát Tuy nhiên, việc tổ chức
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là hoàn toàn cần thiết, vì các
lý do sau đây:
Thứ nhất, Điều tra là một trong những nội dung của quyền công tố:
Việc tổ chức Cơ quan điều tra ở Viện Kiểm sát nhân dân, xuất phát từ chức năng công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự Bởi vì, suy đến cùng cơ quan điều tra cho dù được tổ chức ở bộ, ngành nào thì cũng để phục vụ chức năng công tố, giúp cơ quan thực hành quyền công tố đưa vụ án
ra Tòa án và buộc tội người phạm tội trước Tòa án Thực tiễn hoạt động của ngành Kiểm sát đã chứng minh: Công tác điều tra tội phạm của Viện Kiểm sát
là một trong những mặt công tác quan trọng nhằm bảo đảm hơn để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện có hiệu quả, làm tốt hơn chức năng thực hành quyền công tố Viện Kiểm sát là cơ quan chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo đảm chống làm oan, sai, chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội Trong điều kiện hiện nay, Đảng ta chủ trương xây dựng nền công tố mạnh Nhằm thực hiện chủ trương của Đảng đã nêu trong Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị
là: “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra” [11]
Mặt khác, thông qua việc thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan có ưu thế trong việc nắm bắt, phát hiện các vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực hoạt động tư pháp; đồng thời kết
Trang 24quả hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân là cơ
sở để hỗ trợ cho Viện Kiểm sát thực hiện tốt hơn chức năng kiểm sát hoạt động
tư pháp Do đó, việc tổ chức Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra một số tội phạm là hoàn toàn cần thiết, nhất là các tội phạm xuất phát
từ hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ các cơ quan tư pháp
Thứ hai, Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát điều tra những tội phạm
mà chủ thể là những người trong các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ khách quan hơn, tránh được những áp lực không cần thiết trong việc xử lý tội phạm ở những cơ quan này, vì các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ công chức trong các cơ quan tư pháp thực hiện là tội phạm có chủ thể đặc biệt, có kiến thức pháp lý và kinh nghiệm trong hoạt động tư pháp, có khả năng che giấu hành vi phạm, phạm tội phạm trước, trong và sau khi thực hiện
và chống đối quyết liệt khi bị phát hiện, xử lý Nếu các cơ quan điều tra thuộc lực lượng khác điều tra sẽ không khách quan bởi sự giàng buộc trong mối quan hệ công tác giữa điều tra viên với người thực hiện hành vi phạm tội hay tâm lý, áp lực "người nhà"
Thứ ba, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân được giao thẩm
quyền điều tra những vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp, đây là lĩnh vực
“nhạy cảm” trong hoạt động tư pháp với một số tội danh như: Tội dùng nhục hình, Tội bức cung , là những tội danh xâm phạm quyền con người, xuất phát từ nhóm quan hệ tố tụng hình sự dễ bị tổn thương Việc giao thẩm quyền điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp cho Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là sự bảo đảm về thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng
Thứ tư, Tuy là Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân, nhưng
nó độc lập với Viện kiểm sát nhân dân về chức năng: Cơ quan điều tra của
Trang 25Viện kiểm sát nhân dân là một bộ phận hợp thành trong hệ thống các Cơ quan điều tra theo pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự, và các quy định khác của pháp luật để điều tra Khi thực hiện điều tra vụ án hình sự thì Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân (Cục điều tra) chịu sự kiểm sát tuân theo pháp luật của
chính Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Cụ thể theo Quy chế Tổ chức và hoạt
động của Cục Điều tra ban hành kèm theo Quyết định số 1169/QĐ-VKSTC- C6 ngày 19/8/2010 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Viết tắt
là Quy chế 1169/2010) thì hoạt động của Cục Điều tra chịu sự kiểm sát của
Vụ Thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra tội phạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội (viết tắt là vụ 1A) Về nội dung này đã được quy định chặt chẽ tại các điều 20, điều 21 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 Trong
đó điều 20 quy định về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương Đồng thời điều 21 quy định chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương đối với Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương Tóm lại, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật về hoạt động điều tra, độc lập với chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân, “nó” không thực hiện chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, mà có đơn vị khác thuộc Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân như những cơ quan điều tra thuộc lực lượng Công an nhân dân, quân đội nhân dân và các cơ quan khác được giao một số nhiệm vụ điều tra
Trang 261.2.2 Lịch sử hình thành Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nhân dân được thành lập trên cơ sở Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh
số 20/LCT ngày 26 tháng 7 năm 1960
Luật tổ chức viện kiểm sát năm 1960 nhấn mạnh:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp thi hành nhiệm vụ trên bằng cách: a) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng chính phủ và cơ quan nhà nước địa phương; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân; b) Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Tòa án nhân dân những người phạm pháp về hình sự; c)Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và cơ quan điều tra khác; d) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của các Tòa
án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án; e) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam; f) Khởi
tố, hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của nhà nước và của nhân dân [18], [36]
Ngày 18/4/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 12/LCT công bố Pháp lệnh quy định tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 16/4/1962) Tại Điều 5 của Pháp lệnh này quy định: Bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Vụ Điều tra thẩm cứu [29] Quy định này đã đánh dấu sự hình thành tổ chức Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân thực hiện điều tra những việc phạm pháp về hình sự theo quy định tại điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và được cụ thể hóa bằng Thông tư liên bộ số 427/LB ngày 25/6/1963
Trang 27của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an hướng dẫn quy định này cụ thể: Viện kiểm sát sẽ trực tiếp điều tra một số loại phạm pháp về kinh tế và trị
an xã hội mà kẻ phạm pháp và hành vi vi phạm đó tương đối rõ [44]
Ngay từ khi hình thành và trong toàn bộ quá trình phát triển của Viện kiểm sát nhân dân, hoạt động điều tra luôn được coi là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình thực hiện chức năng của ngành kiểm sát Tuy nhiên, quy mô phát triển, vị trí của hoạt động điều tra trong việc thực hiện chức năng kiểm sát trong mỗi giai đoạn có sự khác nhau Thời kỳ đầu, trong ngành Kiểm sát, hoạt động điều tra chỉ là một trong những quyền năng của công tác kiểm sát điều tra mà không được coi là khâu công tác riêng biệt Vì thế, Viện kiểm sát không có cơ quan điều tra riêng, mà chỉ ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới tổ chức thành một đơn vị là Phòng Điều tra thẩm cứu (Mặc dù Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 16/4/1962 quy định trong tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Vụ Điều tra thẩm cứu) Còn ở các địa phương, thì công tác điều tra thuộc nhiệm
vụ của các đơn vị kiểm sát điều tra (Điều 5 của Pháp lệnh quy định cụ thể về
tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 16/4/1962 và Pháp lệnh sửa đổi ngày 15/01/1970)
Mặc dù ở giai đoạn này chưa có lực lượng điều tra chuyên trách, nhưng hoạt động điều tra được thực hiện ờ cả 03 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện và điều tra với nhiều loại tội (trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia) Đã có thời điểm công tác điều tra còn có chiều hướng trội hơn các công tác khác của ngành Kiểm sát Tổng kết công tác những năm 1970 của ngành Kiểm sát nhân
dân đã nêu: “Trước năm 1970 Viện kiểm sát cấp huyện, thị làm công tác điều
tra đến 50% và cấp tỉnh điều tra đến 25% số vụ án thụ lý” [41], [16]
Năm 1978, Vụ điều tra thẩm cứu được thành lập trên cơ sở Phòng Điều tra thẩm cứu thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao Luật tổ chức Viện kiểm
Trang 28sát nhân dân năm 1981, tại khoản 1 Điều 10 quy định: “Trong trường hợp do
pháp luật quy định thì Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp tiến hành điều tra Đó
là các vụ án do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên giao và các vụ án Viện trưởng Viện kiểm sát thấy cần thiết phải trực tiếp điều tra” [19]
Trên thực tế, Viện kiểm sát nhân dân vẫn phải tiến hành điều tra khi thấy cần thiết trong các trường hợp: Do yêu cầu chính trị và cấp uỷ giao hoặc khi xét thấy các vụ án do cơ quan Công an điều tra không được khách quan, toàn diện, cán bộ điều tra vi phạm pháp luật tới mức nếu để họ tiếp tục điều tra sẽ dẫn đến lọt tội phạm, oan sai và dư luận xã hội không đồng tình
Ngày 28/6/1988, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước ta, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1989 Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm giải quyết vụ án hình sự, trong đó có hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra và Điều tra viên của Viện kiểm sát nhân dân Ngày 04/4/1989, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự cũng được ban hành nhằm cụ thể hoá một bước về tổ chức và hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra cũng như việc quy định các quyền và nghĩa vụ của Điều tra viên trong tố tụng hình sự Theo đó, có các hệ thống cơ quan điều tra chuyên trách gồm: Cơ quan điều tra của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Cơ quan điều tra của lực lượng An ninh nhân dân, Cơ quan điều tra An ninh Quân đội, Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 22/12/1988 đã có những quy định cụ thể, rõ ràng về công tác điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, coi đó là một cơ quan điều tra chuyên trách, độc lập Giai đoạn này, Kiểm sát viên không được tự tiến hành điều tra toàn bộ vụ án nữa, mà hoạt động này được giao cho Điều tra viên Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
Trang 29Về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân,
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 quy định có tính chất “mở”, cho phép Cơ quan điều tra trong Viện kiểm sát nhân dân có thể lựa chọn vụ việc để điều tra, nhằm phục vụ thực hiện chức năng của ngành Tại khoản 3 Điều 92 của
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và Điều 18 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 1989 quy định:
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân điều tra trong những trường hợp sau đây, khi Viện trưởng xét thấy cần thiết: a) Khi phát hiện việc điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng; b) Khi tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật, phát hiện những vụ phạm tội rõ ràng, không cần thiết phải chuyển cho cơ quan điều tra khác; c) Khi phát hiện tội phạm trong hoạt động tư pháp;
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể giao cho
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân điều tra trong những trường hợp khác [21], [30]
Trong giai đoạn này, hệ thống Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đã có nhiều nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao và đạt được những kết quả nhất định trong các năm từ 1989 đến năm 2002, đã tiếp nhận và giải quyết 5.385 tố giác, tin báo về tội phạm, trong đó có 3.197 tố giác, tin báo tội phạm
về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm phát sinh trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp; đã khởi tố điều tra được 585 vụ/1.175 bị can, trong đó có 177 vụ/297 bị can thuộc các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, 129 vụ/313 bị can thuộc các tội phạm chức vụ, 42 vụ về các tội xâm phạm quyền tự
do, dân chủ của công dân; số còn lại là các loại tội phạm khác [41], [16]
Với số lượng án được khởi tố, điều tra không nhiều nhưng qua hoạt động điều tra của mình, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ tư pháp, hạn chế tình trạng bỏ lọt tội
Trang 30phạm, làm oan người vô tội ; đồng thời, có tác dụng rất lớn trong việc “cảnh tình” các cơ quan, đơn vị tư pháp không được làm trái pháp luật; đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm minh, thống nhất, góp phần bảo đảm quyền
tự do, dân chủ của công dân
Đến năm 2000, theo tinh thần tại Thông báo số 136/TB-TW ngày 25/1/1996 của Bộ Chính trị đánh giá và định hướng cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, Chỉ thị số 01/2000/CT ngày 10/01/2000 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác điều tra năm
2000 đã khẳng định:
Thực hiện đổi mới Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng tăng cường tổ chức và hoạt động của Cục điều tra thuộc Viện kiếm sát nhân dân tối cao, chỉ để lại Phòng điều tra Viện kiểm sát cấp tỉnh ở những nơi xét thấy thật cần thiết Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân chỉ tập trung vào việc điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ của cơ quan tư pháp [35]
Thực hiện Chỉ thị trên, Ban cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã quyết định: Đối với các Phòng điều tra Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chỉ để lại một số nơi cần thiết, đó là những tỉnh, thành phố tội phạm hình
sự xảy ra nhiều, khởi tố vụ án nhiều, bắt tạm giam truy tố nhiều thì dễ xảy ra tội phạm tư pháp; nơi đó cần thiết có Phòng Điều tra Vì thế, thời gian này các Phòng điều tra Viện kiểm sát nhân dân chỉ còn tồn tại ở 10 tỉnh, thành phố (không kể Phòng điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương và 8 Ban Điều tra cấp thứ hai)
Giai đoạn từ năm 2003 đến nay, thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức duy nhất ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự trung ương
Trang 311.3 Khái niệm và đặc điểm Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
1.3.1 Khái niệm Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
Để tìm hiểu và đưa ra khái niệm về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân, trước hết phải xuất phát từ khái niệm chung về Cơ quan điều tra trong hoạt động tố tụng hình sự Qua tìm hiểu các tài liệu khoa học pháp
lý, nhất là các giáo trình giảng dạy trong các trường đại học chuyên ngành Luật đều không đưa ra khái niệm về Cơ quan điều tra một cách độc lập, chủ yếu định nghĩa, khái niệm về Cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Cơ quan điều tra
Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam – Nhà xuất bản giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội, thì:
Cơ quan tiến hành tố tụng là những cơ quan nhà nước có thẩm quyền được giao thực hiện chức năng tố tụng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án nhằm giải quyết vụ án khách quan, công bằng, bảo đảm và tôn trọng quyền con người, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, mọi hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa trên cơ sở
và trong phạm vi của pháp luật tố tụng hình sự [15]
Theo khái niệm này thì Cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra Tuy nhiên cũng không có khái khái niệm riêng biệt về từng cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có Cơ quan điều tra mà chỉ tập trung làm rõ
về cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động điều tra, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan điều tra
Tham khảo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội thì phần viết về Cơ quan tiến hành tố tụng không có khái
Trang 32niệm chung về cơ quan tiến hành tố tụng mà phân tích tưng Cơ quan tiến hành
tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Nội dung về từng
cơ quan tiến hành tố tụng cũng không đưa ra khái niệm riêng biệt mà chủ yếu
phân tích về tổ chức và nguyên tắc hoạt động; nhiệm vụ và quyền hạn [28]
Như vậy rất khó tìm hiểu về Cơ quan điều tra trên cơ sở một khái niệm hay định nghĩa pháp lý ở các tài liệu giảng dạy tại các trường chuyên ngành Luật ở bậc Đại học, do đó khái niệm về Cơ quan điều tra do PGS.TSKH Lê Văn Cảm – Đại học quốc gia Hà Nội – Khoa luật trong cuốn Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền là khái niệm đầy đủ nhất về Cơ quan điều tra:
Cơ quan điều tra là một chủ thể TTHS có thẩm quyền nhân danh Nhà nước (công quyền) thực hiện hoạt động bảo vệ pháp luật bằng việc tham gia vào quá trình điều tra vụ án hình sự để xác định sự thật khách quan của vụ án
và vấn đề TNHS của người phạm tội, đồng thời có các quyền hạn và nghĩa vụ nhất định do luật TTHS quy định căn cứ vào gia đoạn khởi tố - điều tra tương ứng với hoạt động của mình khi giải quyết các vụ án hình sự nhằm góp phần làm cho hoạt động của hệ thống TPHS đạt hiệu quả cao trong cuộc đấu tranh chống tội phạm [4]
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là một trong hệ thống của
Cơ quan điều tra nói chung nhưng có đối tượng điều tra (thẩm quyền và phạm
vi thẩm quyền) riêng biệt so với các Cơ quan điều tra khác và trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao Dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành có thể khái quát mang tính quy nạp về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân như sau:
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là một trong hệ thống Cơ quan điều tra của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, được tiến hành các hoạt động điều tra theo qui
Trang 33định của pháp luật nhằm thu thập, kiểm tra và đánh giá các chứng cứ chứng minh sự kiện phạm tội đối với các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp
1.3.2 Đặc điểm Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
Từ khái niệm về Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân như trên,
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân có những đặc điểm như sau:
1.3.2.1 Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân là một trong các
cơ quan điều tra của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Theo quy định tại Điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và tại Điều 1 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì hệ thống Cơ quan điều tra ở nước ta gồm có:
Trong Công an nhân dân có các Cơ quan điều tra sau đây: a) Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh); Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện); b) Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh)
Trong Quân đội nhân dân có các Cơ quan điều tra sau đây: a) Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng; Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương; Cơ quan điều tra hình sự khu vực; b) Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng; Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương
Ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao có các Cơ quan điều tra sau đây: a)
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; b) Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương
Trang 34Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm
có Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân [24], [31]
Như vậy, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là một trong hệ thống cơ quan điều tra của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, độc lập về tổ chức và hoạt động với các Cơ quan điều tra trong lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân cũng như các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ở các cơ quan khác như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân
- Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân - là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp, do vậy ở đây phải nhận thức rõ sự trực thuộc là về mặt tổ chức hành chính Điều đó được quy định tại điều 1 Quy chế
tổ chức và hoạt động của Cục điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (ban hành kèm theo Quyết định số 1169/2010QĐ-VKSTC-C6 ngày 19/08/2010 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao – gọi tắt là Quy chế 1169):
Cục điều tra là đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao có chức năng giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quản lý và thực hiện công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp … Cục điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao có con dấu, tài khoản riêng [42]
- Khác với các Cơ quan điều tra trong lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được tổ chức ở nhiều cấp, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân chỉ được tổ chức ở một cấp duy nhất Hiện nay, hệ thống Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân gồm có Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao Cụ thể, theo quy định tại Điều 17
Trang 35Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2009),
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có tổ chức như sau: Tổ chức của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có các phòng điều tra và bộ máy giúp việc Cơ quan điều tra Tổ chức của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương gồm có bộ phận điều tra và bộ máy giúp việc Cơ quan điều tra [31]
1.3.2.2 Thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
Theo Điều 18 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009), Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
thẩm quyền điều tra như sau:
- Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra các vụ án hình sự về một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét
xử của Toà án nhân dân
- Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương điều tra các vụ án hình sự về một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét
xử của Toà án quân sự [31]
Từ quy định trên, cho thấy về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân “hẹp” hơn so với thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân chỉ tiến hành điều tra một số tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc cơ quan tư pháp, nhưng
có sự khác biệt với thẩm quyền giữa Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan điều tra trong lực lượng công an nhân dân, Quân đội nhân dân là do chỉ được tổ chức ở một cấp duy nhất nên hoạt động điều tra các vụ
án hình sự xâm phạm hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của
Trang 36Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự các cấp (cấp tỉnh, cấp quân khu, cấp huyện, cấp khu vực)
Tuy nhiên theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014 thì phạm vi về thẩm quyền có sự điều chỉnh theo hướng mở rộng hơn,
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động
tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa
án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp
1.3.2.3 Các quyền hạn, trách nhiệm trong hoạt động điều tra
Là một bộ phận cấu thành của hệ thống các Cơ quan điều tra của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngoài những đặc điểm khác nhau giữa
Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân với các Cơ quan điều tra trong lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và các cơ quan được giao thực hiện một số hoạt động điều tra như nêu trên; giữa Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân và những Cơ quan điều tra khác có đặc điểm chung là được pháp luật quy định quyền hạn và trách nhiệm trong hoạt động điều tra
Trong hoạt động điều tra, ở phạm vi thẩm quyền của mình, Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân được thực thi các quyền hạn để tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật nói chung, các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự nói riêng nhằm thực hiện mục đích của hoạt động điều tra là thu nhận hình ảnh trung thực của thông tin về các sự kiện phạm tội thông qua những biện pháp tố tụng do luật định Tùy thuộc vào những mục đích khác nhau và những phương pháp tương ứng, hoạt động điều tra cho phép thu nhận được những thông tin khác nhau về nội dung và hình thức từ chính dấu vết đó Đồng thời phải thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm theo quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động điều tra của mình cũng như sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng
Trang 37trong hoạt động điều tra, trong đó phải chịu sự kiểm sát hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
1.3.2.4 Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân với Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tố tụng hình sự
Là một trong hệ thống Cơ quan điều tra của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và là một đơn vị trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, nhưng Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân cũng mang những đặc điểm chung như các Cơ quan điều tra khác trong mối quan hệ giữa với Viện kiểm sát nhân dân Mối quan hệ đó được thể hiện như sau:
* Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trong các mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng được Bộ luật tố tụng hình sự quy định, thì mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát là mối quan hệ quan trọng và phức tạp Quan trọng vì nó được thực hiện ở giai đoạn tố tụng ban đầu nhằm xác định tội phạm và người phạm tội; hoạt động của giai đoạn này là cơ sở, là “nền móng” góp phần quan trọng cho việc thực hiện tiếp các giai đoạn tố tụng sau, bảo đảm cho việc truy tố, xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là một trong những mối quan hệ phức tạp nhất trong tố tụng hình sự, bởi giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát vừa có mối quan hệ phối hợp vừa có mối quan hệ chế ước trong nhiều hoạt động tố tụng hình sự
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành thì mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát được xây dựng trên các nguyên tắc nhất định; đồng thời được thực hiện theo những hình thức cơ bản như sau:
Thứ nhất, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có mối quan hệ phối hợp
với nhau trong tố tụng hình sự
Trang 38Nguyên tắc tổ chức hoạt động của Bộ máy Nhà nước ta là thống nhất,
có sự phân công, phân định giữa các cơ quan Nhà nước Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VII nhấn mạnh quyền lực Nhà nước là thống nhất,
có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước: “Thực hiện thống
hợp là một trong các hình thức và nguyên tắc hoạt động chủ yếu của các cơ quan Nhà nước ta, trong đó có mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện
kiểm sát nhân dân
Trong tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đều có mục đích là nhằm phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm một cách nhanh chóng, có hiệu quả và đúng pháp luật, nên sự phối hợp giữa các cơ quan này là một tất yếu, khách quan Tuy nhiên, mỗi cơ quan có chức năng khác nhau, nên sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không phải là tổng hợp lực
để cùng điều tra, mà nó biểu hiện bằng những cách thức nhất định, mức độ nhất định, trong từng chế định tố tụng hình sự nhất định và thậm chí trong từng vụ án hình sự nhất định Ví dụ: Trong mọi trường hợp, trước khi tiến hành khám nghiệm, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết (Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự 2003); thông báo, cung cấp cho Viện kiểm sát về tài liệu, chứng cứ, các biện pháp tố tụng và tiến độ giải quyết vụ
án hình sự, các vấn đề phức tạp phát sinh để Viện kiểm sát giám sát và phối hợp giải quyết Sự phối hợp của Cơ quan điều tra còn thông qua việc thực hiện các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong việc điều tra vụ án hình
sự Ngược lại, trong quá trình kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát cũng có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan điều tra, như: Đề ra các yêu cầu điều tra, làm cho việc điều tra được tiến hành một cách toàn diện, đầy đủ; kiểm tra các thủ tục tố tụng thông qua hoạt động kiểm sát trực tiếp hoặc gián tiếp (nghiên cứu tài liệu) để phát hiện và yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục, bổ sung bảo đảm
Trang 39cho việc điều tra được tiến hành một cách khách quan và hợp pháp Trong công tác phối hợp, Viện kiểm sát cũng tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, cân nhắc một cách toàn diện giữa yêu cầu của pháp luật, yêu cầu điều tra và yêu cầu chính trị của địa phương để phối hợp với Cơ quan điều tra khám phá, điều tra vụ án hình sự
Thứ hai, Viện kiểm sát có quyền chế ước hoạt động điều tra của Cơ
quan điều tra trong tố tụng hình sự
Nhằm tăng cường nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp
1992 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 khẳng định: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định:
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội [24]
Để thực hiện chức năng này, trong một số hoạt động tố tụng, Viện kiểm sát có quyền chế ước hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra Theo từ điển
Hán Việt thì: “chế là phép định ra, làm ra, đặt ra; ước là bó buộc”[1] Sở dĩ dùng khái niệm chế ước vì quyền hạn của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra bao gồm tổng hợp các quyền năng pháp lý như: Giám sát, yêu cầu, hủy bỏ Những quyền năng này có bản chất là sự chế ước đối với hoạt động của cơ quan khác Trong đó, Viện kiểm sát giám sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của
Cơ quan điều tra, bắt buộc Cơ quan điều tra phải thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát, nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra hợp pháp, đúng theo một trình tự, thủ tục nhất định, ngăn ngừa mọi hoạt động xâm phạm đến quyền con người trong tố tụng hình sự
Trang 40Viện kiểm sát có quyền chế ước hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra là một nguyên tắc quan trọng Bởi vì, bất kỳ cơ chế hoạt động nào cũng phải có sự kiểm tra, nếu không hoạt động đó sẽ không được thực hiện một cách nghiêm chỉnh Bất kỳ quyền hạn nào cũng phải có cơ chế giám sát, nếu không sẽ dẫn đến lạm quyền Cho nên, hoạt động của Cơ quan điều tra chịu
sự chế ước của Viện kiểm sát là một yêu cầu tất yếu, khách quan trong hoạt động tố tụng hình sự Song tính ưu việt hoạt động chế ước của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra là chế ước trong phạm vi luật định chứ không phải
do Viện kiểm sát tự đặt ra và yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện Sự chế ước của Viện kiểm sát còn biểu hiện ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào tính chất của từng chế định tố tụng hình sự Trong Bộ luật tố tụng hình sự, quyền chế ước của Viện kiểm sát được luật quy định rất chặt chẽ đối với các hoạt động điều tra, đặc biệt là các hoạt động tố tụng làm hạn chế quyền tự do của con người như: Bắt, tạm giữ, tạm giam… Điều này biểu hiện rõ nét bản chất Nhà nước, bản chất pháp luật tố tụng hình sự nước ta là tôn trọng và bảo vệ quyền con người - quyền công dân được Hiến pháp ghi nhận
Quyền chế ước của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra bao gồm tổng hợp các hành vi tố tụng, các quyền năng đó tương đối đồng bộ, đầy đủ
và có hiệu lực thực tế Bởi lẽ nếu chỉ có quyền giám sát mà không có quyền hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra, thì quyền yêu cầu của Viện kiểm sát chỉ là hình thức Nghiên cứu các chế định tố tụng hình sự thấy rằng, quyền chế ước của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra được thực hiện bằng nhiều hình thức, trong đó có các hình thức cơ bản như:
- Viện kiểm sát có quyền giám sát các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra một các trực tiếp hoặc giám sát gián tiếp Quyền giám sát của Viện kiểm sát thể hiện rõ nhất trong việc kiểm sát các quyền năng và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra bằng việc nhất trí hoặc không nhất trí với cơ quan điều tra thông qua việc phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết định của