Trang 4 của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong các khu côngnghiệp đối với 03 doanh nghiệp hạ tầng khu công nghiệp; xét đề nghị củaUBND thành phố Hải Phòng các công
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hải Phòng là đô thị loại 1 cấp quốc gia, là thành phố Công nghiệp Thương mại - Du lịch quan trọng, có cảng biển lâu đời và lớn nhất miền BắcViệt Nam, cùng hệ thống đường bộ, đường sông và đường hàng không thuậntiện cho việc vận chuyển giao lưu hàng hóa, phát triển quan hệ kinh tế trongnước và quốc tế Ngay những ngày đầu của thời kỳ đổi mới, Hải Phòng đãxác định lợi thế so sánh, xu hướng phát triển của hội nhập và mở cửa, khẳngđịnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những giải phápquan trọng để thúc đẩy, phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện thắng lợi côngcuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá Do vậy, thành phố là một trong nhữngđịa phương đi tiên phong so với cả nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặcbiệt hơn, là một trong những địa phương đầu tiên “khai sinh” doanh nghiệpliên doanh có vốn góp nhà nước
-Năm 1994 Công ty phát triển Khu công nghiệp Nomura - Hải Phòng(NHIZ) được thành lập theo Giấy phép đầu tư số 1091/GP ngày 23/12/1994của Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư).Đây là doanh nghiệp liên doanh đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp đầu tiênđược thành lập và Khu công nghiệp Nomura - Hải Phòng là Khu công nghiệp(KCN) đầu tiên trên toàn quốc hoạt động theo Quy chế Khu công nghiệp mớiđược ban hành thời gian đó
Liên tiếp các năm sau đó, các doanh nghiệp FDI, bao gồm các doanhnghiệp liên doanh được thành lập Trong đó, riêng năm 1997 có 02 doanhnghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước lớn đồng thời kinh doanh trong lĩnhvực hạ tầng KCN được cấp phép trên địa bàn thành phố, là Công ty cổ phầnkhu công nghiệp Đình Vũ (DEEP C) và Công ty liên doanh khu công nghiệp
Đồ Sơn (DSIZ) Cùng với NHIZ, đây là các doanh nghiệp liên doanh có vốn
Trang 2góp nhà nước đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của thànhphố trong 25 năm qua.
Có thể thấy rằng, FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn, khoa học côngnghệ, cơ hội hội nhập kinh tế quốc tế cho các nước tiếp nhận đầu tư mà còntạo ra động lực để phát huy tiềm năng trong nước, kích thích phát triển mạnh
mẽ hạ tầng kỹ thuật, cũng như cải cách thể chế, hệ thống pháp luật theo xu thếchung của toàn cầu hóa, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phát triển SongFDI cũng đang làm nảy sinh không ít vấn đề tiêu cực ảnh hưởng lớn đến sựphát triển bền vững, trong đó có vần đề ô nhiễm môi trường, rửa tiền, chuyểngiá, tội phạm tham nhũng… Chính vì vậy, việc nghiên cứu và tìm ra các giảipháp phòng, chống tham nhũng tại các doanh nghiệp này trở thành đề tài có ýnghĩa lý luận quan trọng, nhất là trong bối cảnh Nhà nước đang tăng cườngquản lý FDI và quyết liệt phòng, chống tham nhũng như hiện nay
Để nghiên cứu và tìm ra các giải pháp phòng, chống tham nhũng tại cácdoanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước do UBND thành phố HảiPhòng làm đại diện chủ sở hữu, tác giả lựa chọn khảo sát NHIZ, DEEP C vàDSIZ bởi:
Theo các Nghị định số 151/2013/NĐ-CP ngày 01/11/2013 của Chínhphủ về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Tổng công ty Đầu tư vàKinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và Nghị định 147/2017/NĐ-CP ngày25/12/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 151/2013/NĐ-CP;Nghị định số 148/2017/NĐ- CP ngày 25/12/2017 của Chính phủ về Điều lệ tổchức và hoạt động của SCIC (thay thế Nghị định số 57/2014/NĐ-CP ngày16/6/2014 của Chính phủ); Thông tư 83/2018/TT-BTC ngày 30/8/2018 của
Bộ Tài chính hướng dẫn việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhànước tại SCIC (thay thế Thông tư 118/2014/TT-BTC ngày 21/8/2014 của BộTài chính hướng dẫn việc chuyển giao chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữunhà nước tại SCIC), SCIC thực hiện tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu nhà
Trang 3nước tại các công ty liên doanh có vốn góp nhà nước do các Bộ, UBND cấptỉnh làm đại diện chủ sở hữu.
Như vậy, doanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước do các UBNDcấp tỉnh làm đại diện chủ sở hữu là đối tượng phải chuyển giao quyền đại diệnchủ sở hữu nhà nước từ UBND cấp tỉnh về SCIC Cơ sở pháp lý về việcchuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước về SCIC đã đầy đủ,trong đó có Nghị quyết 60/2018/QH14 ngày 15/06/2018 của Quốc hội về tiếptục hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý,
sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệpnhà nước; Nghị quyết 73/NQ-CP ngày 23/9/2019 của Chính phủ ban hànhChương trình hành động của Chính phủ triển khai Nghị quyết số60/2018/QH14 Thủ tướng Chính phủ còn ban hành Công văn 655/Ttg-ĐMDN ngày 11/5/2015, Văn phòng Chính phủ ban hành Công văn10382/VPCP-ĐMDN ngày 11/11/2015, 3014/VPCP-ĐMDN ngày 03/4/2018
và 4918/VPCP-ĐMDN ngày 25/5/2018 hối thúc việc khẩn trương bàn giao,chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước về SCIC
Đến nay, tại thành phố Hải Phòng còn 06 doanh nghiệp liên doanh cóvốn góp nhà nước do UBND thành phố Hải Phòng làm đại diện chủ sở hữu,bao gồm: Công ty cổ phần khu công nghiệp Đình Vũ, Công ty liên doanh khucông nghiệp Đồ Sơn, Công ty phát triển khu công nghiệp Nomura - HảiPhòng, Công ty cổ phần cáp điện và hệ thống LS-Vina, Công ty Xi măngChinfon và Công ty liên doanh hữu hạn Hải Thành (riêng Công ty liên doanhhữu hạn Hải Thành đầu tư Trung tâm thương mại Chợ Sắt hoạt động kémhiệu quả, thành phố Hải Phòng đang lập phương án thoái vốn Nhà nước trongLiên doanh)
Do đặc thù liên doanh với đối tác là pháp nhân nước ngoài theo Hợpđồng liên doanh với những điều khoản vô cùng chặt chẽ về các bên trong liêndoanh, căn cứ thực tế đóng góp với phát triển kinh tế địa phương và đề xuất
Trang 4của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong các khu côngnghiệp (đối với 03 doanh nghiệp hạ tầng khu công nghiệp); xét đề nghị củaUBND thành phố Hải Phòng (các công văn 785/UBND-ĐMDN ngày01/6/2016 và 255/UBND-ĐMDN ngày 11/3/2016; ý kiến các Bộ Tài chính(công văn 5204/BTC-TCDN ngày 15/4/2016) và Kế hoạch và Đầu tư (côngvăn 2519/BKHĐT-QLKKT ngày 04/4/2016); ngày 14.6.2016 tại công văn số4751/VPCP-ĐMDN, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ đã có ý
kiến: đồng ý UBND thành phố Hải Phòng tiếp tục làm đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại 06 doanh nghiệp liên doanh nêu trên.
Như vậy, trong bối cảnh các doanh nghiệp có phần vốn góp nhà nướcđều đã, đang và sẽ được chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước từcác Bộ, UBND cấp tỉnh về SCIC, 06 doanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhànước do UBND thành phố Hải Phòng làm đại diện chủ sở hữu là trường hợp
đặc thù, cần có mô hình, biện pháp phòng chống tham nhũng riêng tại các
doanh nghiệp này, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi Luật Phòng chốngtham nhũng 2018 đã có hiệu lực từ ngày 01.7.2019
Về mặt lý luận, cho đến nay chưa từng có công trình nào nghiên cứucông phu, toàn diện về chủ đề này Chủ đề có phạm vi giới hạn: hiện nay trêntoàn quốc còn duy nhất thành phố Hải Phòng tồn tại mô hình doanh nghiệpliên doanh do UBND cấp tỉnh làm đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước Vì vậy
đề tài nghiên cứu sẽ đóng góp về mặt lý luận vào kho tàng lý luận pháp luật
về phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, đồng thời có tính mới,không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đó
Kết quả nghiên cứu và các giải pháp phòng, chống tham nhũng tại cácdoanh nghiệp NHIZ, DEEP C và DSIZ sẽ được áp dụng vào tất cả 06 doanhnghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước do UBND thành phố Hải Phòng làmđại diện chủ sở hữu nói riêng và các doanh nghiệp ngoài nhà nước nói chung.Kết quả nghiên cứu góp phần tham khảo cho hoàn thiện sự quản lý khoa học,
Trang 5hiệu quả phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệuquả quản trị nhà nước và phòng, chống tham nhũng tại Việt Nam.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về phòng, chống thamnhũng trong doanh nghiệp, khu vực tư dưới góc độ pháp lý như:
- Đỗ Thu Huyền (2018), Pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam; Luận án Tiến sĩ, Chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp
luật; Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
- Phạm Thị Huệ (2016), Phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay; Luận án Tiến sĩ, Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật
Hành chính; Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội ViệtNam
- Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2014), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về các tội tham nhũng theo Luật hình sự Việt Nam; Luận văn Thạc sỹ, Chuyên
ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự; Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
- Vũ Việt Tường (2014), Các tội phạm về hối lộ theo Luật hình sự Việt Nam và Công ước quốc tế của Liên hiệp quốc về chống tham nhũng; Luận
văn Thạc sỹ, Chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự; Khoa Luật - Đạihọc Quốc gia Hà Nội
- Trần Đăng Vinh (2012), Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay; Luận án Tiến sĩ, Chuyên ngành Lý luận và lịch
sử Nhà nước và Pháp luật; Trường Đại học Luật Hà Nội
- Trần Văn Đạt (2012), Các tội phạm về tham nhũng theo pháp luật hình sự Việt Nam; Luận án Tiến sĩ, Chuyên ngành Luật hình sự; Học viện
Khoa học xã hội - Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Trang 6- Trần Anh Tuấn (2006), Hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay; Luận văn Thạc sỹ, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh
- Ngọ Duy Hiểu (2001), Đổi mới tư duy pháp lý về đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay; Luận văn Thạc sĩ, Chuyên ngành Lý
luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội
Các công trình nghiên cứu về phòng, chống tham nhũng trong doanhnghiệp, khu vực tư nói trên ở mức độ nhất định đã nêu được thực trạng và giảipháp phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư nói chung và trong cácdoanh nghiệp nói riêng Tuy nhiên, các công trình này hầu như có thời giannghiên cứu, khảo sát đã lâu và đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng khác biệtvới đề tài mà tác giả sẽ tiến hành: phòng, chống tham nhũng tại các doanhnghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước do UBND thành phố Hải Phòng làmđại diện chủ sở hữu Nói cách khác, đề tài luận văn không có sự trùng lặp.Như vậy, phòng, chống tham nhũng tại các doanh nghiệp liên doanh có vốngóp nhà nước do UBND thành phố Hải Phòng làm đại diện chủ sở hữu là vấn
đề chưa từng được nghiên cứu Việc nghiên cứu đề tài hứa hẹn sẽ có nhữngđóng góp mới cho lý luận phòng, chống tham nhũng tại các doanh nghiệpngoài nhà nước cũng như trong hoạt động thực tiễn tại các tổ chức, cơ quan
Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 7- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan tới phòng chống thamnhũng tại các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhànước;
- Phân tích, đánh giá thực trạng phòng chống tham nhũng tại các doanhnghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước do UBND thành phố Hải Phòng làmđại diện chủ sở hữu;
- Đề xuất các biện pháp, giải pháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh phòngchống tham nhũng tại các doanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước doUBND thành phố Hải Phòng làm đại diện chủ sở hữu
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các lý thuyết về phòng chống tham nhũng,thực tiễn phòng chống tham nhũng và các mô hình, giải pháp phòng chốngtham nhũng tại các doanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước do UBNDthành phố Hải Phòng làm đại diện chủ sở hữu
Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng phòng chống tham nhũng tại 03
doanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước do UBND thành phố HảiPhòng làm đại diện chủ sở hữu, bao gồm: Công ty cổ phần khu công nghiệpĐình Vũ, Công ty liên doanh khu công nghiệp Đồ Sơn, Công ty phát triển khucông nghiệp Nomura - Hải Phòng từ năm 1994 đến nay Đây là các doanhnghiệp liên doanh có điểm chung: do UBND thành phố Hải Phòng làm đạidiện chủ sở hữu trực tiếp từ 25% đến 30% vốn điều lệ; được thành lập trêndưới 20 năm và có đóng góp lớn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hộithành phố; cả 03 liên doanh đều do UBND thành phố góp vốn bằng giá trịquyền sử dụng đất và trực tiếp đứng tên là bên góp vốn phía Việt Nam trênGiấy CNĐT Cả ba doanh nghiệp đều là những lá cờ đầu trong khối FDI tạiHải phòng, do vậy việc sớm hoàn thành mô hình, giải pháp phòng chống tham
Trang 8nhũng tại các doanh nghiệp này là vô cùng quan trọng trong bối cảnh thànhphố được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cơ bản hoàn thành công nghiệp hóa,hiện đại hóa trước năm 2025 (sớm hơn cả nước 5 năm, đến năm 2030 HảiPhòng trở thành thành phố công nghiệp phát triển hiện đại, thông minh, bềnvững tầm cỡ khu vực Đông Nam Á).
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Chọn lọc và nghiên cứu các tài
liệu liên quan đến FDI và phòng, chống tham nhũng như: sách, giáo trình, bàiphát biểu, tham luận, bài báo, website, nghị định, nghị quyết, các văn bản doĐảng và Nhà nước, UBND tỉnh/thành phố ban hành
- Phương pháp thống kê, điều tra xã hội học: Lập phiếu khảo sát để
thống kê, phân tích, so sánh các hoạt động và lĩnh vực có khả năng phát sinhtham nhũng trong 03 doanh nghiệp liên doanh NHIZ, DEEP C và DSIZ
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 03 cuộc phỏng vấn: 01 lãnh
đạo cơ quan có chức năng phòng, chống tham nhũng; 01 lãnh đạo cơ quanquản lý về FDI; 01 lãnh đạo trong các doanh nghiệp liên doanh (NHIZ, DEEP
C hoặc DSIZ);
- Phương pháp điều tra xã hội học (bảng hỏi anket): Lập và phát 150
phiếu khảo sát cho người lao động, cán bộ quản lý, chuyên gia làm việc trong
và ngoài khu vực FDI
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Gồm các phương pháp xử lý dữ liệu định
lượng và định tính
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
6 Đóng góp và điểm mới của luận văn
Các doanh nghiệp có phần vốn góp nhà nước đều đã, đang và sẽ đượcchuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước từ các Bộ, UBND cấp tỉnh
về SCIC, do vậy các doanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước do UBND
Trang 9thành phố Hải Phòng làm đại diện chủ sở hữu là trường hợp đặc thù, có sựđan xen giữa công và tư, giữa tài sản và vốn nhà nước với tài sản và vốndoanh nghiệp Bên cạnh đó, nhà đầu tư lại có yếu tố nước ngoài, những quan
hệ, giao dịch dân sự, thương mại phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuấtkinh doanh có phạm vi quốc tế Do vậy cần có mô hình, biện pháp phòngchống tham nhũng hiệu quả tại các doanh nghiệp này
Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV diễn ra từ ngày 22/10 đến21/11/2018 đã thống nhất thông qua nhiều Luật mới, trong đó, Luật Phòngchống tham nhũng 2018 gồm 10 chương, 96 điều (hiệu lực thi hành từ ngày01/7/2019) nhận được nhiều sự quan tâm của cử tri cả nước Luật Phòng,chống tham nhũng 2018 mang đến hy vọng sẽ hạn chế, ngăn chặn, xóa bỏđược những "kẻ hở" mà các đối tượng tham nhũng có thể lợi dụng để "láchluật" Bên cạnh đó, thay mặt Bộ Chính trị, ngày 20/8/2019, Tổng Bí thưNguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 50- NQ/TW về định hướnghoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tưnước ngoài đến năm 2030
Đề tài nghiên cứu sẽ góp một tiếng nói vào công cuộc nêu trên, đưa ramột số giải pháp có thể tham khảo bởi các nhà quản lý thực tiễn trong phòng,chống tham nhũng hiệu quả, triệt để đối với các hành vi tham nhũng cả trong
và ngoài khu vực nhà nước (cụ thể là khối FDI), đặc biệt trong bối cảnh HảiPhòng còn là địa phương đứng chót bảng so với 63 tỉnh, thành phố về kiểmsoát tham nhũng
Về mặt lý luận, kết qủa nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu thamkhảo bổ ích cho các nhà nghiên cứu, cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiêncứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Quản trị nhànước và phòng chống tham nhũng, chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước
và pháp luật, Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
7 Kết cấu của luận văn
Trang 10Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÕNG, CHỐNG THAM
NHŨNG TRONG DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH CÓ VỐN GÓP NHÀNƯỚC
- Chương 2: THỰC TRẠNG PHÕNG, CHỐNG THAM NHŨNG
TRONG DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH CÓ VỐN GÓP NHÀ NƯỚC DOUBND THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG LÀM ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU
- Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP PHÕNG, CHỐNG THAM
NHŨNG TRONG DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH CÓ VỐN GÓP NHÀNƯỚC DO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LÀM ĐẠI DIỆN CHỦ SỞHỮU
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH CÓ VỐN GÓP NHÀ NƯỚC 1.1 Phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp liên doanh
1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1.1.1.1 Tổng quan về FDI
a/ Khái niệm và đặc điểm chung của FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình đầu tư quốc tế dựa trên cơ
sở của quá trình dịch chuyển tư bản giữa các quốc gia, với nhiều khái niệmkhác nhau được các Tổ chức quốc tế đưa ra:
* Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế - IMF (International Monetary Fund): đầu
tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập cácmối quan hệ lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của mộtnền kinh tế khác nền kinh thế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư làgiành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp
* Theo Ngân hàng thế giới (World Bank): đầu tư trực tiếp nước ngoài
là dòng vốn đầu tư ròng để thu được lợi ích quản lý lâu dài (từ 10% trở lên cổphiếu có quyền biểu quyết) trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nềnkinh tế không phải là nhà đầu tư Đây là tổng vốn cổ phần, tái đầu tư thunhập, vốn dài hạn khác và vốn ngắn hạn như thể hiện trong cán cân thanhtoán
* Theo Tổ chức Thương mại thế giới - WTO (World TradeOrganization): đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ mộtnước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hútđầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phânbiệt đầu tư trực tiếp nước ngoài với các công cụ tài chính khác
Trang 12* Theo Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD): đầu tư trực tiếpnước ngoài phản ánh mục đích thu được lợi nhuận lâu dài của một thực thểthường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) tại một thực thể thường trú
ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tưtrực tiếp) Đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm mọi giao dịch ban đầu và cácgiao dịch vốn về sau giữa hai thực thể đó; cũng như giữa các doanh nghiệpliên doanh, kể cả hợp nhất và không hợp nhất [5, tr.22]
* Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987: "Đầu tư nướcngoài" là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Namvốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Namchấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xínghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định củaLuật này [17, Điều 2.3]
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 đã quy định rộng hơn vềđầu tư trực tiếp nước ngoài: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tưnước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiếnhành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này [18, Điều 2.1]
Luật Đầu tư 2005: “Đầu tư nước ngoài” là việc nhà đầu tư nước ngoàiđưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hànhhoạt động đầu tư Trong đó đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tàisản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu
tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liênquan; đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và thamgia quản lý hoạt động đầu tư [19, Điều 3.12, Điều 3.1, Điều 3.2]
* Theo Luật Đầu tư 2014: “đầu tư trực tiếp” ở nước ta đã được bao hàmtrong khái niệm “đầu tư kinh doanh”, là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thựchiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tưgóp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình
Trang 13thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư Bên cạnh đó, có khái niệm “Nhàđầu tư” là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhàđầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài Trong đó nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nướcngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tưkinh doanh tại Việt Nam; tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chứckinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông [21, Điều 3.5,Điều 3.13, Điều 3.14].
Như vậy, có thể hiểu Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của các tổ chức, cá nhân nước này vào nước khác bằng việc trực tiếp góp vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản hợp pháp nào để thành lập doanh nghiệp hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm kinh doanh có lợi nhuận.
Đặc điểm chủ yếu của FDI
Một là, FDI gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư (tiền, các tài sản
khác) giữa các quốc gia, do đó lượng tiền và tài sản giảm đi ở nền kinh tếnước đi đầu tư và tăng lên ở nước tiếp nhận đầu tư
Hai là, FDI được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập doanh
nghiệp mới, hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lại các chi nhánh, doanhnghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức chi phối hoặc tiến hành các hoạt độnghợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp
Ba là, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc
cùng sở hữu vốn đầu tư với một tỉ lệ nhất định đủ để trực tiếp tham gia quản
lý hoạt động của doanh nghiệp
Bốn là, FDI chủ yếu do các Công ty xuyên quốc gia thực hiện và là
hoạt động đầu tư của tư nhân nhằm thu lợi nhuận cao nhất có thể, chịu sự điềutiết của quan hệ thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng bởi các mối
Trang 14quan hệ chính trị giữa các quốc gia Nhà đầu tư tham gia kiểm soát, điều hànhquá trình đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp.
Các hình thức FDI ở Việt Nam hiện nay được quy định tại Luật Đầu
tư 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2015):
Thứ nhất, thành lập tổ chức kinh tế (Điều 22) Trong đó, trước khi
thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thựchiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37của Luật Đầu tư 2014 và phải đáp ứng các điều kiện theo quy định
Thứ hai, thực hiện hoạt động đầu tư của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài (Điều 23)
Thứ ba, đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào
tổ chức kinh tế (Điều 24, 25, 26)
Thứ tư, đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP (đối tác công tư: Public
-Private Partnership) là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩmquyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án đầu tư xây dựngmới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu
hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công (Điều 27)
Thứ năm, hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC - Business Cooperation
Contract) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanhphân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập tổ chức kinh tế;trong đó hợp đồng BCC được ký kết giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu
tư nước ngoài hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp Giấychứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định (Điều 28)
b/ Tác động của FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
* Đóng góp đáng ghi nhận của FDI
Trang 15FDI làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của nhiều tỉnh thành trong cảnước, đóng góp đáng kể vào nguồn vốn đầu tư toàn xã hội ở nước ta hiện nay
và có tốc độ tăng trưởng tốt theo từng giai đoạn:
Bảng 1.1 Vốn đầu tư toàn xã hội theo giá hiện hành thực hiện 6 tháng đầu
các năm 2017-2019 so với cùng kỳ năm trước
%
6 thángnăm 2017
6 thángnăm 2018
6 thángnăm 2019
và đến cuối năm 2017 tăng lên gần 4 triệu lao động (chiếm 26% tổng số laođộng khu vực doanh nghiệp) Mặc dù không tạo ra nhiều việc làm so với khuvực trong nước (chỉ chiếm khoảng 5% tổng lao động đang làm việc), nhưngtốc độ tăng của lao động khu vực FDI khá cao, đạt bình quân 7,6%/năm giaiđoạn 2005 - 2017, cao gấp gần 4 lần tăng trưởng lao động của nền kinh tế
Ngoài lao động trực tiếp, FDI còn gián tiếp tạo ra rất nhiều việc làm,đạt khoảng 5 - 6 triệu lao động gián tiếp Chất lượng lao động cũng tăng lênđáng kể bởi người lao động có điều kiện được đào tạo, bồi dưỡng thườngxuyên về trình độ khoa học, quản lý… phù hợp với công nghệ và phương
Trang 16FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triển nhiều ngành công nghiệp, giúp ổn định thị trường vàgiá cả FDI trong công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng hơn 50%, hìnhthành một số ngành công nghiệp chủ lực tại các địa phương, đơn cử như khaithác dầu khí (liên doanh dầu khí Vietsovpetro tại Bà Rịa - Vũng Tàu), côngnghiệp ô tô (Honda Việt Nam tại Vĩnh Phúc), điện tử (LG Display và LGElectronics tại Hải Phòng)… FDI cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu nôngnghiệp, nâng cao chất lượng, giá trị hàng hóa nông sản, phát triển nôngnghiệp theo hướng công nghệ cao.
-Theo Báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư),trong năm 2018 xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI (kể cả dầu thô) đạt175,5 tỷ USD, chiếm đến gần 71,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2017; các doanh nghiệp FDI đã xuấtsiêu 32,8 tỷ USD kể cả dầu thô và xuất siêu 30,5 tỷ USD không kể dầu thô(Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Đối với thành phố Hải Phòng, FDI bổ sung nguồn vốn cho đầu tư pháttriển, đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước, đáp ứng yêu cầu tăngtrưởng GDP:
Trang 17Biểu đồ 1.1 Kinh tế đầu tư nước ngoài chiếm gần 30% tổng vốn đầu tư
phát triển tại Hải Phòng
(Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng năm 2019)
* Tác động tiêu cực của FDI
Trang 18Cùng với những kết quả tích cực nêu trên, FDI tại Việt Nam vẫn chứađựng nhiều bất cập, hạn chế cơ bản như sau: chuyển giá gây thất thu ngânsách và cạnh tranh thiếu lành mạnh (đơn cử như vụ việc Metro Cash và Carrychuyển giá sau 12 năm hoạt động tại Việt Nam; ngành Thuế đã truy thu hơn
500 tỷ đồng cho ngân sách nhà nước); tác động xấu tới môi trường (một số dự
án FDI vi phạm nghiêm trọng pháp luật gây ô nhiễm môi trường như Vedan(Đồng Nai), Pangrim Neotex (Phú Thọ), Formosa (Hà Tĩnh), Nhiệt điện VĩnhTân 2 (Bình Thuận), Lee&Man (Hậu Giang)…); chất lượng và thu nhập củangười lao động còn thấp; vấn đề chuyển giao công nghệ chưa hiệu quả, thiếubền vững
1.1.1.2 Liên doanh
Ngay sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975, Đại
hội Đảng lần thứ 4 năm 1976 đã khẳng định “việc đẩy mạnh quan hệ phân chia và hợp tác song phương trong lĩnh vực kinh tế và phát triển các quan hệ kinh tế với các nước khác có một vai trò vô cùng quan trọng” Thực hiện chủ
trương này, ngày 18/4/1977, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/CP kèm
theo Điều lệ đầu tư nước ngoài, quy định hình thức xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp, trong đó “xí nghiệp” được định nghĩa là: bên nước ngoài và một tổ
chức kinh tế quốc doanh Việt Nam hùn vốn lập một xí nghiệp hoặc công tyhỗn hợp dưới hình thức công ty vô danh hoặc công ty trách nhiệm có hạn,theo đó xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp được khẳng định là một pháp nhânthành lập theo luật pháp Việt nam, hoạt động theo các điều khoản của hợpđồng hợp doanh và điều lệ của xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp
Có thể nói, xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp, chính là tiền đề của hình
thức liên doanh ngày nay Ngay sau Đổi mới 1986, Luật Đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam 1987 ra đời và quy định 03 hình thức mà các tổ chức, cá nhân nướcngoài được đầu tư vào Việt Nam, bao gồm Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp
Trang 19đồng hợp tác kinh doanh; Xí nghiệp hoặc Công ty liên doanh (gọi chung là xínghiệp liên doanh); và Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài (Điều 4).
Như vậy, năm 1987 chính thức đánh dấu sự ra đời khái niệm “liêndoanh” tại Việt Nam
Theo Điều 2.10 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, “Xí nghiệp liên doanh là xí nghiệp do Bên nước ngoài và Bên Việt Nam hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc Hiệp định ký giữa Chính phủ Cộng hoà XHCN Việt Nam với Chính phủ nước ngoài” Xí
nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam (Điều 6)
Bên nước ngoài là một bên gồm một hoặc nhiều tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoặc cá nhân nước ngoài; Bên Việt Nam là một bên gồm một hoặc
nhiều tổ chức kinh tế Việt Nam có tư cách pháp nhân; các tư nhân Việt Nam
có thể chung vốn với tổ chức kinh tế Việt Nam thành Bên Việt Nam để hợptác kinh doanh với Bên nước ngoài Như vậy, tại thời điểm đó Nhà nước chỉcho phép xí nghiệp liên doanh gồm hai bên là Bên nước ngoài và Bên ViệtNam, nếu có nhiều pháp nhân hoặc cá nhân muốn hợp tác đầu tư thì cũng phảithoả thuận lại thành một Bên nước ngoài và một Bên Việt Nam để liên doanhvới nhau Ngoài ra, còn có một dạng liên doanh được thành lập trên cơ sởHiệp định giữa hai Chính phủ Liên Xô và Việt Nam là Liên doanh dầu khíViệt-Xô (trên thực tế liên doanh dầu khí Việt-Xô là dạng liên doanh duy nhấttheo mô hình Hiệp định giữa hai Chính phủ như vậy)
Theo Điều 2.6 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, "Hợpđồng liên doanh" là văn bản ký giữa Bên nước ngoài và Bên Việt Nam vềviệc thành lập xí nghiệp liên doanh
Ta thấy, khái niệm liên doanh ở Việt Nam ngay từ khi được khai sinh
đã gắn kèm với việc tồn tại pháp nhân liên doanh (Xí nghiệp hoặc Công tyliên doanh) Có thể thấy, liên doanh là khái niệm “độc quyền” chỉ dành chokhối FDI Nhắc đến liên doanh là nhắc đến việc Bên nước ngoài và Bên Việt
Trang 20Nam ký Hợp đồng liên doanh và thành lập pháp nhân để cùng nhau đầu tưkinh d oanh trên lãnh thổ Việt Nam Không có khái niệm các doanh nghiệptrong nước (các Bên Việt Nam) liên doanh với nhau.
Điều 4 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 quy định, các nhàđầu tư nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam dưới ba hình thức: Hợp tác kinhdoanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh; Doanh nghiệp liên doanh;Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Như vậy, 10 năm sau Đổi mới, khái niệm “liên doanh” được tiếp tụcnhấn mạnh là một hình thức quan trọng của FDI tại nước Cộng hoà XHCNViệt Nam, gắn chặt với việc thành lập doanh nghiệp liên doanh Nói cách
khác, đã liên doanh là phải lập doanh nghiệp để cùng “liên kết kinh
doanh”, trên cơ sở Hợp đồng liên doanh là văn bản ký kết giữa các bên.Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệmhữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam (Điều 6 Luật Đầu tưnước ngoài tại Việt Nam 1996)
Luật Đầu tư 2005 (hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006) của Việt Namtiếp tục khẳng định khái niệm liên doanh, quy định việc thành lập tổ chứckinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài làmột trong các hình thức đầu tư trực tiếp (Điều 21.2 Luật Đầu tư 2005) Đếnthời điểm này, nhắc đến liên doanh vẫn là nhắc đến việc Bên nước ngoài vàBên Việt Nam thành lập pháp nhân để cùng nhau đầu tư kinh doanh trên lãnhthổ Việt Nam, tuy Luật Đầu tư 2005 đã không còn quy định khái niệm về Hợpđồng liên doanh do không còn cần thiết Có thể hiểu rằng, vẫn không cóchuyện các doanh nghiệp trong nước (các Bên Việt Nam) liên doanh vớinhau
Đến Luật Đầu tư 2014 của Việt Nam, do những yêu cầu của việc “mởcửa” ngày càng mạnh mẽ đối với các hình thức FDI, bao gồm cả việc thànhlập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức
Trang 21kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư; kháiniệm liên doanh đã không được nhắc đến trực tiếp như trước đó Tuy nhiênLuật quy định khái niệm “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổchức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông” (Điều 3.17Luật Đầu tư 2014), đây chính là sự “liên doanh” nếu có bên Việt Nam thamgia góp vốn trong những tổ chức này.
1.1.1.3 Doanh nghiệp liên doanh
Theo Điều 4 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, xí nghiệp hoặc Công
ty liên doanh được gọi chung là xí nghiệp liên doanh Quy định này đánh dấu
sự ra đời chính thức, đầy đủ của khái niệm Doanh nghiệp liên doanh ở ViệtNam, với quy định rõ rang về hình thức, vốn góp, phân chia lợi nhuận, bộmáy lãnh đạo và thời hạn hoạt động (không quá 20 năm; trong trường hợp cầnthiết có thể dài hơn) Riêng về hình thức, các Công ty liên doanh giai đoạnnày đều là Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
Luật quy định phần góp vốn của Bên nước ngoài vào vốn pháp địnhcủa xí nghiệp liên doanh không bị hạn chế về mức cao nhất, theo sự thoảthuận của hai bên nhưng không dưới 30% tổng số vốn Giá trị phần góp vốncủa mỗi bên được xác định trên cơ sở giá thị trường quốc tế và được ghi vàovăn bản thành lập bằng tiền Việt Nam hoặc tiền nước ngoài do hai bên thoảthuận Hai bên chia lợi nhuận và chịu những rủi ro của xí nghiệp liên doanhtheo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên
Cơ quan lãnh đạo của xí nghiệp liên doanh là Hội đồng quản trị Mỗibên chỉ định người của mình tham gia Hội đồng quản trị theo tỷ lệ tương ứngvới phần góp vốn nhưng ít nhất có hai thành viên trong Hội đồng Chủ tịchHội đồng do hai bên thoả thuận cử ra Tổng giám đốc và các Phó Tổng giámđốc do Hội đồng quản trị cử ra để điều hành các hoạt động hàng ngày của xínghiệp và chịu trách nhiệm trước Hội đồng về hoạt động của xí nghiệp Tổnggiám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc thứ nhất là công dân Việt Nam Những
Trang 22vấn đề quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của xí nghiệp liên doanhnhư phương hướng hoạt động, kế hoạch kinh doanh, cán bộ chủ chốt của xínghiệp do Hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắc nhất trí.
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 không thể tránh khỏi những thiếu sóthạn chế mà trong quá trình thực hiện mới bộc lộ hoặc được phát hiện, trong
đó có nội dung chỉ hạn chế liên doanh hai bên (Điều 6); Bên Việt Nam chỉgiới hạn được phép hợp tác đầu tư qua các tổ chức kinh tế có tư cách phápnhân; riêng tư nhân phải chung vốn với tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân
để thành bên Việt Nam (Điều 2.2)
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 đã sửa được những điểmnày, quy định "Doanh nghiệp liên doanh" là doanh nghiệp do hai bên hoặcnhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặchiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và Chính phủnước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàihợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tácvới nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh
Như vậy, 10 năm sau Đổi mới, doanh nghiệp liên doanh ở Việt Namđược xác định rõ vị thế: thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữuhạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam (Điều 6 Luật Đầu tư nướcngoài tại Việt Nam 1996)
Cùng với quy định của Luật về việc doanh nghiệp 100% vốn đầu tưnước ngoài được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và có
tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, có thể thấy giai đoạn từ 1996 đến01/7/2006 (thời điểm Luật Đầu tư 2005 có hiệu lực), các doanh nghiệp có vốnFDI ở Việt Nam đều theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Điều này đã
có phần tạo ra rào cản trong việc huy động vốn đối với doanh nghiệp, do chưa
có hình thức công ty cổ phần Tuy nhiên, đầu năm 2005 Bộ Kế hoạch và Đầu
tư đã trình Chính phủ đề án thí điểm thành lập mô hình Công ty cổ phần đối
Trang 23với doanh nghiệp liên doanh nói riêng và doanh nghiệp FDI nói chung, đơn
cử như trường hợp Công ty cổ phần Công nghiệp Gốm sứ Taicera (Tháng08/2005 Công ty là 01 trong 06 doanh nghiệp FDI đầu tiên tại Việt Nam được
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho phép chuyển đổi thành Công ty cổ phần hoạtđộng theo Luật Doanh nghiệp)
Luật Đầu tư 2005 không còn quy định khái niệm về Hợp đồng liêndoanh, nhưng vẫn quy định Hợp đồng liên doanh là văn bản bắt buộc trong
Hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận đầu tư (Điều 46.2.c) hoặc trong Hồ sơthẩm tra và cấp Giấy chứng nhận đầu tư (Điều 48.1.đ); đồng thời tiếp tụckhẳng định khái niệm liên doanh thông qua quy định việc thành lập tổ chứckinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài làmột trong các hình thức đầu tư trực tiếp (Điều 21.2)
Điều 3.6 Luật Đầu tư 2005 quy định Doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiệnhoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nướcngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại Như vậy, đến 01/7/2006 doanh nghiệpliên doanh ở Việt Nam được xác định đầy đủ hình thức thành lập là Công tyTNHH 2 thành viên trở lên, Công ty cổ phần và Công ty hợp danh (Không cóhình thức doanh nghiệp tư nhân do doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp domột cá nhân làm chủ; mặt khác việc đầu tư thành lập doanh nghiệp tư nhâncủa nhà đầu tư nước ngoài phải do Thủ tướng Chính phủ có quy định riêngtheo quy định tại Điều 87 Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quyđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư 2005) Trongdoanh nghiệp liên doanh có bên nước ngoài là Nhà đầu tư nước ngoài lần đầuđầu tư vào Việt Nam thì Nhà đầu tư này “phải có dự án đầu tư và làm thủ tụcđăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư đểđược cấp Giấy chứng nhận đầu tư Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh” (Điều 50 Luật Đầu tư 2005)
Trang 24Đến 01/7/2015 khi Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực, trước khi thành lập tổchức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tụccấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (Điều 22.1) Theo Điều 23,1, tổ chứckinh tế phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đốivới nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư gópvốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế thuộc một trong cáctrường hợp sau đây:
- Có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có
đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế làcông ty hợp danh;
- Có tổ chức kinh tế quy định tại điểm a khoản này nắm giữ từ 51% vốnđiều lệ trở lên;
- Có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế quy định tại điểm akhoản này nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên
Như vậy, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không thuộc trườnghợp quy định trên sẽ thực hiện điều kiện và thủ tục đầu tư theo quy định đốivới nhà đầu tư trong nước khi đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư theohình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế Nói cáchkhác, nếu nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ dưới 51% vốn điều lệ, doanh nghiệpliên doanh đã hoàn toàn “hòa lẫn” cùng các doanh nghiệp 100% vốn đầu tưnước ngoài và 100% vốn đầu tư trong nước với các hình thức Công ty TNHH
2 thành viên trở lên, Công ty cổ phần và Công ty hợp danh
1.1.2 Tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp liên doanh
1.1.2.1 Tham nhũng và hành vi tham nhũng
Theo Từ điển Tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của.
Trang 25Theo Thanh tra Chính phủ, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi (Website của
vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; đ) Những người khác được giao thựchiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công
vụ vì vụ lợi; e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với ngườikhác để trục lợi; g) Giả mạo trong công tác vì vụ lợi; h) Đưa hối lộ, môi giớihối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì
Trang 26vụ lợi; i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụlợi; k) Nhũng nhiễu vì vụ lợi; l) Không thực hiện, thực hiện không đúng hoặckhông đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; m) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn
để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, canthiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra,truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi
Ba hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước do người cóchức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thựchiện bao gồm: a) Tham ô tài sản; b) Nhận hối lộ; c) Đưa hối lộ, môi giới hối
lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi
Có thể thấy rằng, không như một số người nhầm tưởng chỉ có “quanchức”, “đảng viên” mới có thể tham nhũng, trên thực tế các hành vi thamnhũng trong khu vực ngoài nhà nước là rất đáng kể, xuất phát cả từ người giữchức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức lẫn những ngườiđược giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiệnnhiệm vụ, công vụ đó Như vậy, ngay cả một nhân viên của doanh nghiệp, tổchức cũng có thể có hành vi tham nhũng nếu người đó “được giao thực hiệnnhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ”
Điều 352 Bộ luật Hình sự hợp nhất số 01/VBHN-VPQH (Hợp nhất Bộluật Hình sự số 100/2015/QH13 và Bổ sung Luật số 12/2017/QH14 ngày20/6/2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số100/2015/QH13; có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) quy định: Các tội phạm vềchức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức
do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ Trong
đó, người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc domột hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giaothực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực
hiện công vụ, nhiệm vụ Luật quy định: các tội phạm tham nhũng thuộc
Trang 27loại tội phạm về chức vụ, bao gồm 7 loại tội danh sau: Tội tham ô tài sản;
Tội nhận hối lộ; Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; Tội lợidụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; Tội lạm quyền trong khithi hành công vụ; Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối vớingười khác để trục lợi và Tội giả mạo trong công tác (các Điều từ 353 đến359) Theo đó, với những hành vi tham nhũng hội đủ các dấu hiệu cấu thànhtội phạm được xác định là tội phạm tham nhũng, thì mức xử lý hình sự thấpnhất là bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm trởlên, mức cao nhất bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình Người phạmtội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 nămđến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồnghoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
Riêng Tội tham ô tài sản và Tội nhận hối lộ, Luật quy định rõ: Người
có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước màtham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này (Điều 353.6 Bộ luậtHình sự hợp nhất); Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổchức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này(Điều 354.6 Bộ luật Hình sự hợp nhất) Như vậy, có thể thấy ở nước ta, tộiphạm tham nhũng liên quan đến tham ô, nhận hối lộ đã không có sự phân biệtkhu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước, thể hiện sự quyết tâm đấutranh không khoan nhượng của Đảng, Nhà nước ta đối với loại tội phạm nguyhiểm này
Về các hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc củadoanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi trong khu vực ngoài nhà nước, LuậtHình sự quy định Tội đưa hối lộ và Tội môi giới hối lộ (Các tội phạm khác vềchức vụ), theo đó Người nào đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nướcngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanhnghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định (Điều 364 Bộ
Trang 28luật Hình sự hợp nhất) và Người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp,
tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định (Điều 365 Bộ luật Hình
sự hợp nhất) Nếu các hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết côngviệc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi trong khu vực ngoài nhà nước
là do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoàinhà nước thực hiện thì được coi là hành vi tham nhũng, vừa chịu sự điềuchỉnh của pháp luật hình sự với tội danh tương ứng nếu cấu thành tội phạm,vừa chịu sự điều chỉnh của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018
Có thể thấy, đối với khu vực ngoài nhà nước, pháp luật Hình sự đã quyđịnh đầy đủ hành lang pháp lý cho việc định tội và xử lý các tội danh thamnhũng
Đối với khu vực nhà nước, trên thực tế các hành vi từ thứ 8 (Đưa hối
lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặcđịa phương vì vụ lợi) đến hành vi thứ 12 (Lợi dụng chức vụ, quyền hạn đểbao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệptrái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi) theo Điều 2 Luật phòng, chống tham nhũngnăm 2018 đang diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp, được xác định là các hành
vi tham nhũng nhưng chưa cấu thành tội phạm nên thường được xử lý bằngbiện pháp kỷ luật hành chính Riêng hành vi “nhũng nhiễu (cửa quyền, háchdịch, đòi hỏi, gây khó khăn, phiền hà của người có chức vụ, quyền hạn trongkhi thực hiện nhiệm vụ, công vụ) vì vụ lợi” hiện nay xuất hiện rất nhiều vàtinh vi trong hoạt động của các cơ quan hành chính, nơi trực tiếp giải quyếtcông việc của công dân và doanh nghiệp, thực chất chính là sự ép buộc đưahối lộ được che đậy dưới nhiều hình thức, rất khó có căn cứ để xử lý
Hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp liên doanh là toàn bộ nhữnghành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước bao gồm tham ô tài sản,nhận hối lộ và đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh
Trang 29nghiệp vì vụ lợi Tuy nhiên, nhà đầu tư trong doanh nghiệp liên doanh có yếu
tố nước ngoài, do vậy những quan hệ, giao dịch dân sự, thương mại phát sinhtrong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tính chất,phạm vi quốc tế Vì vậy, các hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp liêndoanh luôn tiềm ẩn yếu tố phức tạp, khó nhận diện và khó xử lý triệt để hơn
1.1.2.2 Phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp liên doanh
Phòng, chống tham nhũng được hiểu là tổng thể các thiết chế, thể chế
cơ chế, biện pháp pháp lý và xã hội nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhấtnguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng; phát hiện, xử lý tham nhũngtheo quy định của pháp luật
Phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp liên doanh được hiểu làtổng thể các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm giảm thiểu đếnmức thấp nhất nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng trong doanhnghiệp liên doanh nói riêng và khu vực tư nói chung; phát hiện, xử lý thamnhũng trong doanh nghiệp liên doanh theo quy định của pháp luật; giảm thiểutác hạn do tham nhũng trong doanh nghiệp liên doanh gây ra đối với đời sốngNhà nước và xã hội
Điều 4 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định rõ tráchnhiệm phòng, chống tham nhũng của cơ quan, tổ chức, đơn vị và doanhnghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước, trong đó Cơ quan, tổ chức, đơn vị,trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm: a) Thực hiệncác biện pháp phòng ngừa tham nhũng; kịp thời phát hiện, xử lý theo thẩmquyền và kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý tham nhũng trong
cơ quan, tổ chức, đơn vị mình; thực hiện quy định khác của pháp luật vềphòng, chống tham nhũng; b) Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngườiphản ánh, báo cáo, tố cáo, tố giác, báo tin, cung cấp thông tin về hành vi thamnhũng; c) Tiếp nhận, xử lý kịp thời phản ánh, báo cáo, tố cáo, tố giác, tin báo
về hành vi tham nhũng; d) Kịp thời cung cấp thông tin và thực hiện yêu cầu
Trang 30của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình pháthiện, xử lý tham nhũng Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước cótrách nhiệm: a) Thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; kịp thờiphát hiện, phản ánh và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngănchặn, xử lý tham nhũng xảy ra trong doanh nghiệp, tổ chức mình theo quyđịnh của pháp luật và điều lệ, quy chế, quy định của doanh nghiệp, tổ chức; b)Kịp thời cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng của người có chức vụ,quyền hạn và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngăn chặn, xử
Điều 4 Bộ luật Hình sự hợp nhất quy định trách nhiệm phòng ngừa vàđấu tranh chống tội phạm như sau:
- Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơquan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhànước, tổ chức, cá nhân phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giám sát vàgiáo dục người phạm tội tại cộng đồng
- Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyềnquản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật,tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháploại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức củamình
Trang 31- Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.Điều 3 Bộ luật Hình sự hợp nhất quy định một số nguyên tắc xử lý đốivới người phạm tội như sau: a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phảiđược phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giớitính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội; c) Nghiêm trịngười chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguyhiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; d) Nghiêm trị người phạm tộidùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gâyhậu quả đặc biệt nghiêm trọng Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú,thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tácvới cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trìnhgiải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hạigây ra.
Bên cạnh quy định công minh, khoa học của pháp luật như nêu trên,Chính phủ Việt Nam luôn khẳng định quan điểm "không có vùng cấm, không
có ngoại lệ, bất kể người đó là ai" trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.Theo Báo cáo của Chính phủ, riêng năm 2019 cơ quan điều tra đã khởi tố mới
214 vụ, 487 bị can tham nhũng; thiệt hại trên 1.028 tỷ đồng và 22.069m2 đất;thu hồi 615.06 tỷ đồng và 11.867m2 đất; kê biên trên 795 tỷ đồng Đã kếtluận điều tra đề nghị truy tố 217 vụ, 653 bị can Tòa án nhân dân các cấp thụ
lý theo thủ tục sơ thẩm 344 vụ, 849 bị cáo (tăng 31 vụ so với năm 2018); đãxét xử sơ thẩm 240 vụ, 517 bị cáo về các tội danh tham nhũng Có 9 bị cáo bịtuyên phạt mức án tử hình, tù chung thân (Tổng Thanh tra Chính phủ LêMinh Khái báo cáo tại phiên họp thứ 37 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội -Website của Thanh tra Chính phủ)
Như vậy, chúng ta thấy phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệpliên doanh nói riêng cũng như phòng, chống tội phạm tham nhũng (là một
Trang 32trong những loại tội phạm về chức vụ như đã nêu) và phòng, chống thamnhũng nói chung là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân Pháp luật Việt Nam
đã quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; cũngnhư quy định rõ quyền và nghĩa vụ của công dân đối với công cuộc đấu tranhcam go, phức tạp, lâu dài này
1.2 Đặc điểm, vai trò của phòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn góp Nhà nước
1.2.1 Đặc điểm
Chúng ta biết rằng, điểm nổi bật nhất của liên doanh là Bên nước ngoài
và Bên Việt Nam cùng nhau đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam(không có khái niệm các doanh nghiệp trong nước “liên doanh” với nhau).Bên cạnh đó, tham nhũng, bao gồm cả tham nhũng trong khu vực tư, có thểđược tiếp cận ở nhiều chiều cạnh khác nhau, phụ thuộc vào lĩnh vực hoạtđộng của các chủ thể tham nhũng, vào tính chất, mức độ hoặc quy mô củatham nhũng, vào loại hành vi tham nhũng, v.v Do đó, có thể nói đặc điểmquan trọng nhất của phòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp liên
doanh là yếu tố quốc tế trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các hành vi tham
nhũng cả trong nội bộ doanh nghiệp (khu vực ngoài nhà nước) và trong khuvực nhà nước, nhất là với các cơ quan có các thủ tục hành chính liên quan đếndoanh nghiệp
Hành vi lợi dụng nhiệm vụ được giao vì vụ lợi (the abuse of entrustedpower for private gain) khu vực ngoài nhà nước luôn luôn có cơ hội xuất hiệntrong chính các doanh nghiệp liên doanh, giống như mọi doanh nghiệp khác
Dễ thấy nhất chính là tham nhũng trong kinh doanh (business relatedcorruption) bao gồm hối lộ, kế toán gian dối, trốn thuế, kinh doanh nội gián,rửa tiền, tham ô và giả mạo văn bản Tham nhũng trong nội bộ doanh nghiệp
là hình thức tham nhũng gây thiệt hại cho bản thân doanh nghiệp, do vậy biệnpháp phòng, chống tham nhũng chủ đạo là doanh nghiệp chủ động đẩy mạnh
Trang 33các biện pháp phòng ngừa, nhất là ở các khâu, các bộ phận dễ nảy sinh tiêucực: tuyển dụng nhân sự, mua sắm tài sản, phụ trách mua hàng…
Trong các doanh nghiệp liên doanh tồn tại dạng phổ biến nhất của thamnhũng là hối lộ, tức là việc đưa hoặc nhận tiền, quà tặng hoặc các lợi ích kháctrong và ngoài doanh nghiệp vì vụ lợi để làm điều trái quy định, trái pháp luật
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, yếu tố quốc tế sẽ
làm cho hành vi tham nhũng liên quan nhiều đến người nước ngoài hơn, độphức tạp của tham nhũng sẽ đậm nét hơn so với các doanh nghiệp trong nước
Và như vậy, phòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp liên doanh,hay nói cách khác là phòng, chống nguy cơ và hành vi tham nhũng xuất hiệntrong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp liên doanh là cam go hơn, đòihỏi nhiều công sức, trí tuệ và bản lĩnh hơn, nhất là trong bối cảnh toàn cầuhóa và hội nhập sâu rộng như hiện nay
Phòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp liên doanh có vốngóp Nhà nước bao gồm tất cả các đặc điểm trên, bên cạnh đó có đặc thù là sựđan xen giữa công và tư, giữa tài sản và vốn nhà nước với tài sản và vốndoanh nghiệp Do đó, nếu tự thân các doanh nghiệp liên doanh có vốn gópNhà nước khai thác được yếu tố văn hóa và thói quen Công khai, Minh bạchcủa nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình hoạt động thì sẽ góp phần bảo toàn,phát huy hiệu quả vốn và tài sản Nhà nước, thúc đẩy phòng, chống thamnhũng có hiệu quả cao, và ngược lại Ngoài ra nhiều Tập đoàn kinh tế, doanhnghiệp đa quốc gia là đối tác nước ngoài trong các doanh nghiệp liên doanh
có vốn góp Nhà nước luôn quan tâm gìn giữ uy tín để bảo vệ hình ảnh, tránh
“mất mặt” với đối tác Việt Nam Do vậy, đây là thuận lợi rất đáng kể chocông tác phòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp liên doanh có vốngóp Nhà nước nếu biết tận dụng, phát huy được những lợi thế về quản trị nội
bộ đã được đúc rút sau hàng chục, thậm chí hàng trăm năm xây dựng và pháttriển của các Tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp đa quốc gia này
Trang 34Thứ hai, tăng cơ hội kinh doanh, đặc biệt đối với doanh nghiệp trẻ,doanh nghiệp start-up khi mới tiếp cận thị trường, tham gia hoạt động đấuthầu, huy động vốn mở rộng kinh doanh, hoặc chiến lược liên doanh, liên kết
do các đối tác biết được uy tín, sự minh bạch và trách nhiệm cao trong phòng,chống tham nhũng Phòng, chống có hiệu quả tham nhũng trong các doanhnghiệp liên doanh cũng làm giảm thiểu nguy cơ chịu hậu quả pháp lý, trongnhiều trường hợp là rất nghiêm khắc đối với người trực tiếp hoặc gián tiếpliên quan đến hành vi tham nhũng, bao gồm cả trách nhiệm dân sự, tráchnhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự khi có liên quan đến hành vi thamnhũng; trong đó có những hậu quả nặng nề, như chấp hành hình phạt tù, mấtviệc làm hoặc hạn chế cơ hội tìm kiếm công việc trong tương lai
Thứ ba, khơi thông sự phát triển của các thị trường, nhất là các thịtrường ngách và tăng cường dòng vốn đầu tư toàn xã hội, đặc biệt đối với cácnhà đầu tư nước ngoài do sự tâm lý thêm tin tưởng và cảm giác “an toàn” khi
ra các quyết định đầu tư Nâng cao hình ảnh của chế độ pháp quyền với cácnguyên tắc công bằng, bình đẳng, khách quan trong việc bảo vệ quyền và lợiích chính đáng của các chủ thể kinh doanh; qua đó thúc đẩy năng lực cạnhtranh của nền kinh tế nhất là khi tham gia vào các khu vực thương mại tự do,thực hiện cam kết cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan
Trang 35Thứ tư, bảo toàn, phát triển vốn và tài sản Nhà nước, trên cơ sở đặt quátrình phòng, chống tham nhũng trong điều kiện hội nhập, chủ động hợp táchiệu quả với các quốc gia, các tổ chức quốc tế cũng như chú trọng tổng kếtthực tiễn và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài trong công tácphòng, chống tham nhũng.
Thứ năm, có tác dụng biểu dương, cổ vũ, khích lệ kịp thời các tấmgương, các điển hình phòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp; tạo
ra phong trào thi đua sôi nổi về phòng, chống tham nhũng trong khu vực tưnói chung và trong các doanh nghiệp liên doanh nói riêng, nhất là đối với cácdoanh nghiệp liên doanh mà phần vốn nước ngoài là chủ đạo, chiếm ưu thế
1.3 Các yếu tố tác động và điều kiện bảo đảm cho phòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn góp Nhà nước
Tham nhũng trong khu vực tư được hiểu là hành vi lợi dụng quyền hạnhoặc ảnh hưởng của cá nhân trong tổ chức nội bộ và hoạt động của doanhnghiệp khu vực tư vì vụ lợi Do vậy, công tác phòng, chống tham nhũng trongkhu vực tư nói chung và trong các doanh nghiệp liên doanh nói riêng chịu cácyếu tố tác động đặc thù và điều kiện bảo đảm đặc thù, trong bối cảnh phòng,chống tham nhũng cần phải được xác định là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấpbách vừa lâu dài, xuyên suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
1.3.1 Các yếu tố tác động đến phòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn góp Nhà nước
- Nền công vụ hiệu quả, minh bạch, phục vụ nhân dân và xã hội, vớiđội ngũ cán bộ, công chức trung trực, công tâm, liêm khiết, tận tụy, chuyênnghiệp và được trả lương hợp lý; các chuẩn mực đạo đức công vụ, đạo đứcnghề nghiệp được củng cố và phát triển
Trang 36- Công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan, đơn vị chuyên trách vềphòng, chống tham nhũng và các cơ quan dân cử; trong đó có việc thực thiquyền lực nhà nước, việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi và các điềukiện, cơ hội phát sinh tham nhũng trong việc hoạch định chính sách, xây dựng
và thực hiện pháp luật
- Môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, công bằng, minh bạchnhằm thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, góp phần thúc đẩy tăng trưởngkinh tế; nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; từng bước giảmthiểu tệ hối lộ trong quan hệ giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước vàtrong giao dịch kinh doanh
- Tính trách nhiệm, tính chuyên nghiệp, sức chiến đấu và hiệu quả hoạtđộng của các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan, đơn vị chuyên tráchchống tham nhũng được nâng cao, giữ vai trò nòng cốt trong phát hiện và xử
lý tham nhũng
- Nhận thức của xã hội về tham nhũng, về chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng; qua đó tácđộng tới sự tham gia chủ động của các tổ chức, đoàn thể xã hội, các phươngtiện truyền thông và mọi công dân trong nỗ lực phòng, chống tham nhũng;xây dựng văn hóa và tạo ra thói quen phòng, chống tham nhũng trong đờisống của cán bộ, công chức và trong các tầng lớp nhân dân, cùng như trongnội bộ doanh nghiệp
- Sự chủ động, tích cực của bên Việt Nam trong các doanh nghiệp liêndoanh trong công tác phòng, chống tham nhũng gắn với thực hành tiết kiệm,chống quan liêu, lãng phí; qua đó tạo dựng hình ảnh tốt đẹp, làm gương chobên nước ngoài trong liên doanh
- Nhận thức của chính các nhà đầu tư nước ngoài trong việc chấp hànhnghiêm chỉnh pháp luật Việt Nam, coi Việt Nam là điểm đến đầu tư để tìmkiếm lợi nhuận hợp pháp chứ không phải là mảnh đất dung dưỡng cho tiêu
Trang 37cực, sai phạm Thông qua nhận thức đúng đắn của các nhà đầu tư nước ngoàitrong liên doanh, các quy định nội bộ như Quy chế Đạo đức doanh nghiệp,Quy chế Ứng xử nội bộ, Thỏa ước lao động tập thể… mới phát huy hết ýnghĩa, tác dụng, đóng góp vào tiến trình phòng, chống tham nhũng tại doanhnghiệp.
1.3.2 Điều kiện bảo đảm cho phòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn góp Nhà nước
Một là, công tác tuyển dụng và quản lý cán bộ, nhân viên của cácdoanh nghiệp liên doanh phải đảm bảo hiệu quả, có chất lượng cao Doanhnghiệp phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thứctrách nhiệm của cả người sử dụng lao động và người lao động về phòng,chống tham nhũng Xây dựng và thực hiện nghiêm túc các Quy chế Đạo đứcdoanh nghiệp, Quy chế Ứng xử nội bộ… nhằm bảo đảm sự liêm chính củacán bộ, nhân viên trong hoạt động sản xuất kinh doanh Bên cạnh đó cần bảo
vệ hiệu quả, biểu dương, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thànhtích tốt trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng
Hai là, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp luật phù hợp vớitình hình thực tế và đổi mới không ngừng công tác cán bộ phục vụ nhiệm vụphòng, chống tham nhũng Sửa đổi, bổ sung các quy định về công tác cán bộ,bảo đảm công khai, dân chủ; chấn chỉnh công tác thi tuyển, tiếp nhận cán bộ,công chức Thực hiện nghiêm túc việc chuyển đổi vị trí công tác trong hệthống chính trị và việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị đểxảy ra tham nhũng Xây dựng lộ trình cải cách tiền lương trong những nămtới theo hướng tăng thu nhập cao hơn cho cán bộ, công chức Đề cao vai trò,trách nhiệm của báo chí trong phòng, chống tham nhũng
Ba là, bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan,
tổ chức Thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch; bổ sungquy định bảo đảm minh bạch quá trình ra quyết định, bao gồm cả chính sách,
Trang 38văn bản quy phạm pháp luật và quyết định giải quyết một vụ việc cụ thể của
cơ quan nhà nước các cấp Hoàn thiện, công khai hóa và thực hiện đúng cácchế độ, định mức, tiêu chuẩn sử dụng lao động, ngân sách và tài sản công
Bốn là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế xã hội.Thực hiện nghiêm các quy định về quản lý và sử dụng đất đai, công sở Chấnchỉnh, bảo đảm công khai, minh bạch trong quy hoạch và quản lý, sử dụng tàisản công Chấn chỉnh công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản Công khai,minh bạch trong quyết định, chủ trương đầu tư và các hoạt động mua sắmcông, kể cả việc công khai hóa các khoản hoa hồng từ mua sắm Thực hiện thíđiểm mô hình mua sắm công tập trung Chấn chỉnh công tác thu, chi ngânsách Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các định mức, tiêu chuẩn, chế độ chitiêu ngân sách, trang bị tài sản, phương tiện đi lại, thiết bị làm việc Tăngcường quản lý vốn, tài sản nhà nước và nhân sự tại doanh nghiệp có vốn nhànước
Năm là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra,kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng Tập trung kiểm tra,thanh tra, kiểm toán một số lĩnh vực trọng điểm như: đầu tư xây dựng cơ bản,quản lý đất đai, thu, chi ngân sách, quản lý tài sản công và hệ thống ngânhàng thương mại Nghiên cứu tổ chức các cơ quan phòng, chống tham nhũngtheo hướng bảo đảm sự độc lập cần thiết với các cơ quan quản lý nhà nướctheo cấp lãnh thổ và sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Trung ương Tăngcường cán bộ cho các cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, tòa án
và kiểm tra của Đảng, đồng thời kiểm soát hoạt động của các cơ quan này.Người có hành vi tham nhũng phải bị xử lý kiên quyết, kịp thời, nghiêm minh
về trách nhiệm chính trị, hành chính hoặc hình sự, bất kể người đó là ai và ởcương vị nào Chú trọng thu hồi tài sản tham nhũng áp dụng chính sáchkhoan hồng đối với những người phạm tội nhưng có thái độ thành khẩn, đãbồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả kinh tế, hợp tác tốt với cơ quan
Trang 39chức năng Trừng trị nghiêm khắc những đối tượng tham nhũng có tổ chức,gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Sáu là, tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng Chủđộng tham gia các chương trình, sáng kiến, diễn đàn quốc tế về phòng, chốngtham nhũng phù hợp với điều kiện Việt Nam Thực hiện các cam kết quốc tế
về phòng, chống tham nhũng, chú trọng tới các cam kết về xây dựng môitrường đầu tư, kinh doanh minh bạch
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đã trình bày những kiến thức lý luận cơ bản vềcác khái niệm và tổng quan chung xoay quanh đề tài luận văn như: đầu tưnước ngoài, liên doanh, tham nhũng và phòng, chống tham nhũng Nội dungchủ yếu của chương này là làm sáng tỏ quá trình hình thành và phát triển củacác doanh nghiệp liên doanh tại Việt Nam; tầm quan trọng của công tácphòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhànước do UBND thành phố Hải Phòng làm đại diện chủ sở hữu
Tác giả đã làm rõ những nội dung liên quan đến việc doanh nghiệp liêndoanh có vốn góp nhà nước do UBND thành phố Hải Phòng làm đại diện chủ
sở hữu là trường hợp đặc thù, cần có mô hình, biện pháp phòng chống thamnhũng riêng tại các doanh nghiệp này, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khiLuật Phòng chống tham nhũng 2018 đã có hiệu lực từ ngày 01.7.2019 Đồngthời, tác giả đưa ra những yếu tố cơ bản, giữ vai trò quyết định của công tácphòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp liên doanh
Những phân tích và lý giải ở chương 1 sẽ là cơ sở để khảo sát, nghiêncứu, phân tích rạch ròi, tỉ mỉ về công tác phòng, chống tham nhũng trong cácdoanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước do UBND thành phố HảiPhòng làm đại diện chủ sở hữu
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG PHÕNG, CHỐNG THAM NHŨNG TRONG DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH CÓ VỐN GÓP NHÀ NƯỚC DO ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG LÀM ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ
HỮU 2.1 Bối cảnh, đặc điểm của các doanh nghiệp liên doanh có vốn góp nhà nước do UBND thành phố Hải Phòng làm đại diện chủ sở hữu
2.1.1 Bối cảnh
Thành phố Hải Phòng có vị trí địa lý mang tầm chiến lược, do vậy ngay
từ khi “khai sinh” Hải Phòng năm 1888, người Pháp đã định hướng thành phốtrở thành trung tâm công nghiệp lớn của cả Đông Dương Cuối thế kỷ 19, Nhàmáy xi măng Hải Phòng đã được xây dựng, là biểu tượng công nghiệp mộtthời của Hải Phòng nói riêng và Việt Nam nói chung Cùng với đó, các ngànhcông nghiệp khác của Hải Phòng như cơ khí đóng tàu, cơ khí chế tạo… cũngphát triển mạnh mẽ Trải qua hàng trăm năm phát triền, đến nay nhiều ngànhcông nghiệp đã tạo lên những địa danh quen thuộc gắn liền với đời sống dânsinh thành phố như: Máy Tơ (dệt), Máy Chai (thủy tinh), Xi măng, Máy Đá
Năm 1955, thời điểm lực lượng cách mạng vào tiếp quản Hải Phòng,những nhà máy điển hình như cơ khí “Ca-rông”, “Com-ben”, “Sắc-rích”…chỉ còn lại là những đống đổ nát Tuy nhiên, với những nỗ lực thi đua vượtqua khó khăn của toàn thành phố, các cơ sở công nghiệp quan trọng đã nhanhchóng được phục hồi Hoàn thành kế hoạch 3 năm (1958-1960), các cơ sở sảnxuất Hải Phòng đã đóng góp chủ đạo, giúp tỷ trọng công nghiệp trong nềnkinh tế miền Bắc tăng từ 16,9% lên 40% Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhấttiến hành cải tạo kinh tế, cơ khí Duyên Hải của Hải Phòng đã trở thành lá cờđầu của phong trào thi đua cả nước