Từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Chi phí điều trị nội trú của người bệnh đái tháo đường tại khoa Nội tiết Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2013” với hai mục tiêu: 1 Xác địn
Trang 1LV03_ QLBV 4
BO GIAO DUC VA DAO TAO - BO Y TE
TRUONG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYÊN THỊ BÍCH THỦY
CHI PHÍ ĐIÊU TRỊ NỘI TRÚ CỦA NGƯỜI BỆNH pAI THAO DUONG TAI KHOA NOI TIET
BENH VIEN THANH NHAN NAM 2013
LUAN VAN THAC SY QUAN LY BENH VIEN
MA SO CHUYEN NGANH: 60.72.07.01
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS VU XUAN PHU
Tư vấn hỗ trợ: TH.S NGUYEN QUYNH ANH
HA NOI, 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu cùng các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Y tế Công Cộng đã trang bị kiến thức cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Phó giáo sư-Tiến sỹ Vũ Xuân Phú và Thạc sỹ Nguyễn Quỳnh Anh đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, đã đem đến cho tôi những kiến giải, chỉ
dẫn vô cùng quan trọng trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện của Lãnh
đạo Bệnh viện, Lãnh đạo khoa Nội tiết, Phòng Tài chính kế toán bệnh viện Thanh
Nhàn Xin cảm ơn các cộng tác viên công tác tại khoa Nội tiết và Phòng Tài chính
kế toán Bệnh viện đã tận tình giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình
thu thập số liệu
Thành công của luận văn này có phần góp sức không nhỏ của những người
bạn học chân tình Với kiến thức và tắm lòng bằng hữu, họ đã mang đến cho tôi
không chỉ là những quan điểm, những góc nhìn đa chiều và sáng suốt mà còn là những sự giúp đỡ tối cần thiết trong những thời điểm quyết định
Lòng biết ơn và tình yêu vô vàn tôi xin gửi đến những người thân trong gia
đình Gia đình đã luôn động viên, giúp đỡ tôi, là chỗ dựa vững chắc để tôi có thể
hoàn thành quá trình học tập
Xin trân trọng cảm ơn!
HàNội ngày tháng năm 2013
Học viên
Nguyễn Thị Bích Thủy
Trang 3
MUC LUC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTT 2 e°©2©+++ẻ9EEEEESSEEEEEEEEEE2E3222222222cc-Crseee Vv
DANE MIUG CAG BAIN G ae secccessszescossnzvsssspessusuces-cazssnssercernnnncoeaceernconsesseennprenserenscescral oath vi
II 9)28/19/99.(98:120020900077 5 .5A ne viii TÓM TẮT NGHIÊN CUU cesecssssscsssssssssssssessssssssssssssssssssuesecessesssssssssssucseseeeeeecesssssssssssnsessecs ix
DAT VAN DE .3B 1 Chuong 1: TONG QUAN TALI LIEU .ccccccccccsscssssesssssssssssssesecessesesssessnseeseessssveee 4
1.1 Bệnh đái tháo đường
In) nh ảOỒV Ố
1.1.2 Chẩn đoán và phân loại bệnh đái tháo đường ccc¿c22czcccez 4 1.1.3 Biến chứng của bệnh đái tháo đường . cc¿+22222E+222222EE2zzEEEsccz 5 1.1.4 Điều trị bệnh đái tháo đường -¿ ©2st222t2222EE2225522221E22EEEcEEEEee 6
1.2 Tình hình bệnh đái tháo đường trên Thế giới và tại Việt Nam - 7
1.2.1 Trên Thế giới
1.2.2 Tại Việt Nam
1.3 Chi phí điều trị nội trú, viện phí, chỉ phí thảm họa - 5 s+s+s+s+s+zszcsz 10
1.3.1 Các khái HiỆm: -c ok 0.1 HH n001 1115 H6 HH HH 0161616618411 5s k1 rsse 10 1.3.2 BEAD LOG GAL BINS se essssysrsussppslsi Cóc Hi DinDnHlittt3dt3d0NGi8a0gux=saiei 10 1.3.3 Phương pháp tính toán chỉ phí
1.3.4 Chi phí thảm họa (Cafa)) - 5 - can E11 11 1111 ng genhrecererececec
1.4 Một số nghiên cứu ngoài nước - -2++++++22E222222222222222222552222-.1eEee 16
1.4.1 Các nghiên cứu về chỉ phí điều trị nội trú của bệnh đái tháo đường 16 1.4.2 Nghiên cứu về chỉ phí thảm họa do điều trị bệnh đái tháo đường 19
1.5 Nghiên cứu trong ƯỚC -¿- + St +x22t x22 2t 2k x21 1111111111112 cxeE 21 1.5.1 Các nghiên cứu về chỉ phí điều trị nội trú của bệnh đái tháo đường ZL
1.5.2 Nghiên cứu về chỉ phí thảm họa do điều trị bệnh đái tháo đường 24
1.6 Thông tin về địa bàn nghiên cứu -2- ++++222EEEt2222255122222255222222225se2 25
1.7 Khung ly thuyét .ssceccsccssssssessscccssssssecsssssssssvecesessassuvsessessnsnuseseseessnsssevessesessses
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu -©2vv++++tt22EEE2222222222225522cce2
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.3 Thiết kế nghiên cứu -©222EEEEE12122tEEE1211212111111111111111111EEE se 29
Trang 41H
No nh 29
2.5 Phuong phap Chom pasesssosatsoatidiittidtdttitiissdessesseesaoElloiol 29
2.6 Phuong phap thu thap s6 liGu cccccccsssssssssesssssesssseecesssecsssuesssseesessseeecerenecssseees
2.7 Các biến số nghiên COU ceecscesscsssesssssssssssessssescsssscssssecssuesessuscersusssesssecssssecesssseee
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
2.8.3 Phương pháp tinh Chi phi ccsccccscssesssssssseessseessseessseessecessecessseessesesseseneees 38
2.9 Phuong phap phan tich $6 iGU sscccssssessesssesssseesssseessssesssssecsssseecsssevesssessesseesees 41 2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu ¿-+:+e+2E++tt+EEEE+22222E222225222EEeceer 42
2.11 Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục . -z cccs: 42
2.11.1 Hạn chế nghiên cứu - ¿+ ©s+2Et+EE2SEEESEEESESESEEEEEeEEEEEEEECEEEerrerrree 42
2.11.2 Sai số và biện pháp khắc phục -©+2++z+2EEke+ttEEEEEEcc22EEEeccez 43
Chương 3: KÉT QUÁ NGHIÊN CỨU 2-©22222EEE22EE222EE22EEE22EEE.EEEsrrei 44
3.1 Các thông tin Chung -¿-+- + +22 2t 123 12x£223132121 15151111111 11111111 xe, 3.1.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
3.1.2 Biến chứng do bệnh đái tháo đường - +: 222cvv222222222222222E22zcrr 3.1.3 Ngày điều trị trung bình -¿ -c©k2EEtt2EEE2EEEE2EE2221552222x2222EeeE sec 47
3.2 Chi phi điều trị nội trú của người bệnh đái tháo đường - 48
3.2.1 Chi phí trực tiếp chỉ cho y tẾ -s-©x++E2kEE11122E122211221511222112225e222xee2 48
3.2.2 Chi phí trực tiếp ngoài y tẾ s- 2s 2110111121121 50
3.2.3 Cơ cấu các chỉ phí theo đặc điểm nhân khẩu học . - 53 3.2.4 Cơ cầu các chỉ phí theo phương thức thanh toán khác nhau 63
3.2.5 Cơ cầu các chỉ phí theo biến chứng mạn tính của bệnh đái tháo đường 67
3.4 Chi phí thảm họa do điều trị bệnh Đái tháo TƯỜNG su nssnnnoseisasoosasalose 72
3.4.1 Mô tả tình trạng thu nhập và chỉ tiêu của hộ GĐ người bệnh ĐTĐ năm 2012 72 3.4.2 Tỷ lệ hộ gia đình người bệnh ĐTĐ phải gánh chịu chỉ phí thảm họa 77
Chương 4: BÀN LUẬN . 22222- 222 2111111121111 2211111202121 81
4.1 Những thông tin chung của đối tượng nghiên cứu -¿-22czzzcc2zzzze 81
4.1.1 Thông tin chung về nhân khâu học và tình trạng tham gia BHYT 81 4.1.2 Biến chứng mạn tính của bệnh đái tháo đường -cccczzz¿ 83 4.1.3 Ngày điều trị trung bình ¿-cs¿+22zszscczsz
4.2 Chỉ phí điều trị cho bệnh đái tháo đường
Trang 54.2.1 Chi phí trực tiếp chỉ Cho y 16 .ccecccsesssssssssessssesssecsssessssessssessssescssseseseeteseens 85
420) Ohi phí trựctiÊn:mgoÃI v' unggontnggiotdttidtietiittgistioibsssasssssxoszse|busl 86
4.2.3 Tổng chỉ phí trực tiếp của đối tượng nghiên cứu -cc+¿ 87
4.2.4 So sánh chỉ phí giữa các nhóm đối tượng có đặc điểm khác nhau 88 4.3 Chi phi thảm họa do điều trị bệnh Đái tháo đường
II: TU <cncorscooasescesssascoscarsnsane cos atensnerennanennste oncsssvensanentasetcnasepsomeaesorveeneen Se 4:10840)8i9:0N,⁄.“<
TÀI LIỆU THAM KHẢO 2 22-222 ESEEEEEAEEE111711121111211.2112 7 Xe
Phụ lục 1: Giấy đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn 2ccccczxererrscee
Phụ lục 2: Phiếu thu thập số liệu từ HSBA/Phiếu thanh toán ra viện của NB 111
Phụ lục 3: Phiếu phỏng vấn dành cho người bệnh 2 22 ©+e+22ze+z 115
Phụ lục 4: Tiêu chí chân đoán đái tháo đường 2- -s©x++Exxt+EE+Exz+rxszrxcee 121 Phụ lục 5: Các loại biến chứng mạn tính do đái tháo đường - - 122
Trang 6Chi phi
Chi phi diéu tri Chi phi điều trị nội tra Chi phi diéu tri trung binh
Chi phi tham hoa (catastrophic expenditure) Chăm sóc người bệnh
Cơ sở y tế Năm sống tàn tật hiệu chỉnh (Disability-adjusted life years) Dich vu y té
Đái tháo đường
Liên đoàn đái tháo đường quốc tế
(Internation Diabetes Federation)
Khám chữa bệnh
Người bệnh
Phẫu thuật, thủ thuật
Tăng huyết áp Vật tư tiêu hao
Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 7DANH MUC CAC BANG
Đặc điểm mẫu nghiên cứu 2-2 +t+EEEt2EEEtEEEEztEEEet2EEerrrrezrs 44
Bảng mô tả phân loại kinh tế hộ gia đình người bệnh ĐTĐ năm 201245
Đặc điểm về biến chứng bệnh của đối tượng nghiên cứu (n=198) 46
Bảng mô tả ngày điều trị trung bình của đối tượng nghiên cứu theo
phương thức thanh toán và biến chứng của bệnh + 47
Tổng chi phí điều trị của người bệnh ĐTĐ cho một đợt điều trị 48
Bảng mô tả chỉ phí trực tiếp chỉ cho y tế của NB cho một đợt điều trị49
Chỉ phí trực tiếp ngoài y tế của người bệnh cho một đợt điều ini 50
So sánh ngày điều trị, chỉ phí trực tiếp chi cho y tế 1 ngày và cho 1 đợt
điều trị nội trú của người bệnh theo đặc điểm nhân khẩu-xã hội học 53
So sánh ngày điều trị, chỉ phí trực tiếp ngoài y té 1 ngày và 1 đợt điều
trị nội trú của NB theo đặc điểm nhân khẩu-xã hội học 55
So sánh các khoản mục chỉ phí trực tiếp chi cho y tế theo đặc điểm nhân
khâu — xã hội học cho một đợt điều trị :-:-cccccccccccv+ 57
So sánh các khoản mục chỉ phí trực tiếp chỉ cho y tế theo đặc điểm nhân
khâu — xã hội học cho một ngày điều trị -c ¿22222zzczvzrzzsz 58
So sánh các khoản mục chỉ phí trực tiếp ngoài y tế theo đặc điểm nhân
khâu — xã hội học cho một đợt điều trị ::::cccccccz+vve 60
So sánh các khoản mục chỉ phí trực tiếp ngoài y tế theo đặc điểm nhân
khẩu — xã hội học cho một ngày điều "00 62
So sánh ngày điều trị, chỉ phí trực tiếp chỉ cho y té 1 ngày và 1 đợt điều trị nội trú của người bệnh theo phương thức thanh toán khác nhau 64
So sánh ngày điều trị, chỉ phí trực tiếp ngoài y tế 1 ngày và 1 đợt điều
trị nội trú của người bệnh theo phương thưc thanh toán khác nhau 64
So sánh ngày điều trị, chỉ phí trực tiếp chỉ cho y tế l ngày và 1 đợt điều trị nội trú của người bệnh có và không có biến chứng mạn tính 68
Trang 8So sánh ngày điều trị, chỉ phí trực tiếp ngoài y tế I ngày và 1 đợt điều
trị nội trú của người bệnh có và không có biến chứng mạn tính 69
Mô tả tình trạng thu nhập và chỉ tiêu của hộ gia đình người bénh DTD
So sánh tình trạng thu nhập và chỉ tiêu của hộ gia đình người bệnh
ĐTĐ năm 2012 theo đặc điểm nhân khẩu học - 74
So sánh tình trạng thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình người bệnh
ĐT có phương thức thanh toán khác nhau năm 2012 - 76
So sánh tình trạng thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình người bệnh ĐTĐ
có và không có biến chứng mạn tính năm 2012 :-=czz: 77 Tình trạng khó khăn về kinh tế của Hộ gia đình có người bệnh ĐTĐ 77
Tỷ lệ gia đình người bệnh DTD gánh chịu chỉ phí thảm họa 78
Tỷ lệ hộ gia đình người bệnh gánh chịu chi phí thảm họa phân theo đặc
điểm nhân khâu xã hội học ¿¿ccc22ccccccttrrrrrrrrccccczccve 78
Tỷ lệ hộ gia đình có người bệnh ĐTĐ gánh chịu chi phí thảm họa phân
theo tình trạng có, không có biến chứng mạn tính - 79
Tỷ lệ hộ gia đình có người bénh DTD gánh chịu chỉ phí thảm họa phân theo phương thức thanh toán khác nhau - 2-5 2 2 z£z+£szxzz 80
Trang 9DANH MUC BIEU DO
Phân bó đối tượng nghiên cứu theo phương thức thanh toán và tinh trạng có, không có biến chứng mạn tính . - +: 46
Chỉ phí trực tiếp chỉ cho y tế theo các nhóm chỉ phí 49
Đặc điểm về chỉ phí trực tiếp chỉ cho y tế trung bình cho một ngày điều trị 50
Đặc điểm chỉ phí trực tiếp ngoài y tế theo các nhóm chỉ phí cho một
ti accesses tr sngnisgtotthiddttBitGti8k08inglibucccorcgsl ae 51
Đặc điểm về chi phí trực tiếp ngoài y tế trung bình 1 ngày điều trị 52
Đặc điểm các chỉ phí trong nhóm đối tượng theo phương thức thanh toán khác nhau - ¿<5 S1 1*t*EEEEEEEEE11111 1121111111 rxry 63
So sánh các khoản mục chỉ phí trực tiếp chi cho y tế của người bệnh
ĐTĐ theo phương thức thanh toán khác nhau cho một đợt điều trị.65
So sánh các khoản mục chỉ phí điều trị trực tiếp ngoài y tế của người bệnh ĐTĐ theo phương thức thanh toán khác nhau cho một đợt điều trị 65
So sánh các khoản mục chỉ phí trực tiếp chỉ cho y tế của người bệnh
DTD theo phương thức thanh toán khác nhau cho một ngày điều trị 66
So sánh các khoản mục chỉ phí trực tiếp ngoài y tế của người bệnh theo phương thức thanh toán khác nhau cho một ngày điều trị 67 Đặc điểm các chi phí trong nhóm đối tượng nghiên cứu có, không có
biến chứng mạn tính/đợt điều trị . ccc+++22E2222vcc:zzz 67
So sánh các khoán mục trong chỉ phí điều trị trực tiếp chỉ cho y tế của người bệnh ĐTĐ có, không có biến chứng mạn tính cho một đợt
điều trị vcccv HH0 0 xe 69
So sánh các khoản mục trong chỉ phí điều trị trực tiếp ngoài y tế của người
bệnh ĐTĐ có, không có biến chứng mạn tính cho một đợt điều trị | 70
So sánh các khoán mục trong chỉ phí điều trị trực tiếp chi cho y tế
của người bệnh ĐTĐ có, không có biến chứng mạn tính cho một
Tỷ lệ chỉ tiêu cho y tế của hộ gia đình người bệnh DTD năm 2012 74
Trang 10ix
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bệnh viện Thanh Nhàn là BV đa khoa hạng I của Thành phố Hà Nội, với 540
giường kế hoạch, 317.480 lượt khám chữa bệnh, trong đó số lượt người khám Nội tiết là 32.945, trong tổng số 31.179 lượt người bệnh điều trị nội trú (năm 2012) có
1085 lượt người bệnh ĐTĐ vào điều trị tại khoa Nội tiết của BV, tinh đến nay, tại
BVTN chưa có một nghiên cứu nào được thực hiện để xác định chỉ phí điều trị nội trú và tỷ lệ hộ gia đình có người bệnh ĐTĐ phải gánh chịu chi phí thâm họa đo điều
trị căn bệnh này
Từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Chi phí điều trị nội trú
của người bệnh đái tháo đường tại khoa Nội tiết Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2013” với hai mục tiêu: (1) Xác định chỉ phí trực tiếp chỉ cho y tế và chỉ phí trực
tiếp chỉ ngoài y tế của người bệnh ĐTĐ tại khoa Nội tiết BVTN năm 2013; (2) Xác
định tỷ lệ hộ gia đình người bệnh ĐTĐ gánh chịu chỉ phí thảm họa do điều trị bệnh
ĐTĐ tại khoa Nội tiết BVTN năm 2013
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, sử dụng số liệu định
lượng, thu thập số liệu bằng phương pháp tiến cứu, thu thập phơi thanh toán ra viện
và phiếu trả lời câu hỏi của 198 người bệnh ĐTĐ điều trị nội trú Số liệu được tổng hợp, làm sạch và phân tích bằng phần mềm Excel và SPSS 16.0
Nghiên cứu thu được một số kết quả: chi phí điều trị của người bệnh ĐTĐ có giá trị trung bình là 4.540.846 đồng/đợt điều trị Chi phí thuốc chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các khoản mục cho chỉ phí trực tiếp chỉ cho y tế chiếm 56.4% Chỉ phí
ăn uống chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các khoản mục chỉ phí trực tiếp ngoài y tế
chiếm 56,8%
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong chỉ phí trực tiếp chỉ cho y tế đối với:
chỉ phí thuốc giữa các nhóm đối tượng có độ tuổi khác nhau và có tình trạng biến
chứng khác nhau; chỉ phí vật tư tiêu hao, tổng chỉ phí trực tiếp chỉ cho y tế trên đối
tượng có đặc điểm giới tính khác nhau; chỉ phí cận lâm sàng, tổng chỉ phí trực tiếp
chi cho y tế trên đối tượng có đặc điểm về tình trạng bệnh khác nhau;
Trang 11chỉ phí ăn giữa đối tượng có đặc điểm giới tính khác nhau và trên nhóm đối tượng
có tình trạng việc làm khác nhau nơi cư trú khác nhau và giữa các nhóm đối tượng
có tình trạng biến chứng khác; tông chỉ phí trực tiếp ngoài y tế cho một đợt điều trị
trên nhóm đối tượng có, không có biến chứng mạn tính và có ở từng khoản mục
trong chi phí trực tiếp ngoài y tế là chỉ phí ăn, chi phí khác; chỉ phí di lai, chi phi chung giữa đối tượng có đặc điểm giới tính khác nhau
Tỷ lệ hộ gia đình có người bénh DTD gánh chịu chi phí thảm họa do điều trị
bénh DTD là 18,7% Trong đó: Tỷ lệ hộ gia đình người bệnh mắc biến chứng mạn tính phải gánh chịu chi phí phí thảm họa là 23/101 tương đương 22.8% hộ gia đình người bệnh không mắc biến chứng mạn tính là 14/97 hộ tương đương 14,4%; Tỷ lệ
hộ gia đình người bệnh có BHYT phải gánh chịu chi phí phí thảm họa là 36/187 (chiếm 18.2%) hộ gia đình người bệnh không có BHYT phải gánh chịu chi phí phí thảm họa là 1/11 (chiếm 9,1%) Từ kết quả nghiên cứu một số khuyến nghị cơ bản
được đưa ra là:
1 Tổ chức, đào tạo bác sỹ chuyên khoa sâu giúp cho công tác chân đoán, điều
trị bệnh được kịp thời, chính xác nhằm giảm tình trạng mắc biến chứng của
bénh DTD
2 Tăng cường công tác giám sát, theo dõi việc chi định thuốc, xét nghiệm, tránh việc gia tăng chi phí điều trị trực tiếp chi cho y tế do việc tiến hành nhiều xét nghiệm hoặc sử dụng nhiều thuốc không cần thiết
3 Giam chi phí cho suất ăn mỗi ngày đối với người bệnh/người CSNB tại Bệnh viện nhằm hạn chế sự gia tăng chỉ phí điều trị trực tiếp ngoài y tế của người bệnh ĐTĐ và gia đình người bệnh ĐTĐ
4 Ngoài ra, cần có những nghiên cứu sâu sắc, với qui mô rộng hơn để tính toán được đầy đủ các nhóm chỉ phí, đưa ra được đầy đủ bức tranh về gánh nặng kinh tế với bệnh đái tháo đường
Trang 12DAT VAN DE
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một căn bệnh mạn tính hiện nay được xem như là một vấn đề sức khỏe cộng đồng Tỷ lệ bệnh ngày càng gia tăng trên toàn thế giới Theo báo cáo của Liên đoàn đái tháo đường quốc tế (IDF: Internation Diabetes Federation) nam
2012 số người mắc bệnh là 371 triệu người, 4,8 triệu người đã chết do căn bệnh này, và
đã tiêu tốn tới 471 tỷ đô la cho việc chăm sóc và điều trị bệnh [64] Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO: World Health Organization), gần 80% các ca tử vong do bệnh đái
tháo đường xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [71]
Việt Nam không phải là nước có tỷ lệ bệnh nhân DTD cao nhất thế giới nhưng lại là quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới về căn bệnh nay, qua
điều tra dịch té, ty 16 mic DTD trên toàn quốc đã tăng từ mức 2,7% vào năm 2002 lên 5,7% năm 2008 Ở các thành phó lớn và các khu công nghiệp tỷ lệ bệnh dao động từ 10%-12% [12] Trong một nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật và chấn
thương ở Việt Nam năm 2008, tác giả Nguyễn Thị Trang Nhung và cộng sự cho thấy: Đái tháo đường đứng hàng thứ ba ở nữ giới trong mười nguyên nhân tử vong hàng đầu dẫn đến gánh nặng bệnh tật và tử vong [29]
Sự gia tăng tỷ lệ bệnh ĐTĐ cũng có ý nghĩa gia tăng hơn nữa tỷ lệ những biến chứng của bệnh, nhất là biến chứng tim mạch.Các biến chứng này cùng với các stress về tâm lý không chỉ làm chất lượng cuộc sống của người bệnh giảm đi, mà
còn làm hao tổn cả tuổi thọ Tại Hội nghị lần thứ thứ 6 của Hiệp hội đái tháo đường quốc tế khu vực Tây Thái Bình Dương,tháng 10 năm 2005, bệnh được xem như là
“kẻ giết người thầm lặng — The silent killer” [16].Viéc didu tri higu qua phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tuổi, nghề nghiệp, bệnh mạn tính kèm theo, sự hiểu biết về bệnh tật, tâm lý điều trị Bệnh đái tháo đường đã, đang và sẽ là gánh nặng cho nền kinh
tế, xã hội của cả thế giới và mỗi quốc gia trong thế kỷ XXI
Trên toàn Thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về chỉ phí bệnh ĐTĐ, ở Việt Nam gần đây cũng đã tiến hành một số nghiên cứu về chỉ phí điều trị nội-ngoại trú
cho người bệnh ĐTĐ, nhưng có rất ít nghiên cứu tìm hiểu về gánh nặng chi phi hộ
gia đình cho chăm sóc và điều trị người bệnh DTD Việt Nam là nước đang phát
Trang 13kinh tế xã hội đáng lo ngại cho bản thân người bệnh, cho gia đình, cho cộng đồng
và toàn xã hội
Bệnh viện Thanh Nhàn (BVTN) là Bệnh viện đa khoa hạng I của Thành phố
Hà Nội, đầu ngành về Nội khoa và Chẩn đoàn hình ảnh, với 540 giường kế hoạch
(năm 2012) Hàng năm BV khám và điều trị nội trú từ 30.302 (2011) đến 31.179 (2012) lượt người bệnh [31] Trong những năm gần đây, mô hình bệnh tật tại BV có
nhiều thay đổi, bệnh không lây nhiễm tăng nhanh đặc biệt là bệnh ĐTĐ, số người bệnh đến điều trị nội trú tại khoa Nội tiết BV tăng từ 996 (2011) đến 1056 (2012), trong đó chủ yếu là đối tượng hưu trí và đã có nhiều trường hợp nhập viện nhiều lần
trong một năm, do đó chi phí dành cho điều trị bệnh trở lên rất tốn kém, ngoài
những chi phí mà người bệnh phải trả cho BV còn có cả những chỉ phí mà người bệnh chỉ trả trong quá trình nằm viện Chính vì vậy, vấn đề mà chúng tôi quan tâm
là gánh nặng chỉ trả thực tế của người bệnh ĐT tai BVTN ra sao? Khả năng chỉ trả thực tế của người bệnh đến đâu và ảnh hưởng đến thu nhập của người bệnh và hộ
gia đình như thế nào? Bao nhiêu phần trăm người bệnh và hộ gia đình rơi vào mức
chỉ phí thảm họa do điều trị ĐTĐ2
Vì những lý do trên, nhằm cung cấp những bằng chứng đáng tin cậy giúp cho việc cải thiện sức khỏe của người dân mắc bệnh ĐTĐ va nâng cao chất lượng cuộc
sống, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Chi phí điều trị nội trú của người bệnh
đái tháo đường tại khoa Nội tiết bệnh viện Thanh Nhàn năm 2013” đễ trả lời cho câu hỏi:
(1) Chi phi diéu tri nội trú trên từng nhóm người bệnh ĐTĐ có và không có biến chứng mạn tính và có phương thức chỉ trả khác nhau là bao nhiêu?
(2) Tỷ lệ hộ gia đình có người bệnh ĐTĐ gánh chịu chỉ phí thảm họa
do điều trị bệnh ĐTĐ là bao nhiêu?
Trang 14MỤC TIỂU NGHIÊN CỨU
1 Xác định chỉ phí trực tiếp chỉ cho y tế và chỉ phí trực tiếp chỉ ngoài y tế
của người bệnh đái tháo đường tại khoa Nội tiết Bệnh viện Thanh Nhàn
năm 2013
2 Xác định tỷ lệ hộ gia đình người bệnh đái tháo đường gánh chịu chi phí
thảm họa do điều trị bệnh đái tháo đường tại khoa Nội tiết Bệnh viện
Thanh Nhàn năm 2013
Trang 15TONG QUAN TAI LIEU
1.1 Bệnh đái tháo đường
1.1.1 Định nghĩa
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một nhóm các bệnh chuyển hóa có đặc điểm là
tang glucose mau, hau qua cua tình trạng thiếu hụt bài tiết insulin; khiếm khuyết trong hoat d6ng insulin; hoặc cả hai Tăng glucose máu mạn tính thường kết hợp với sự hủy hoại, sự rối loạn chức năng và sự suy yếu chức năng của nhiều cơ quan
đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [16]
1.1.2 Chẳn đoán và phân loại bệnh đái tháo đường
1.1.2.1 Chẩn đoán bệnh đái tháo đường
Tiêu chuẩn mới chẩn đoán ĐTĐ theo khuyến cáo của Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ
(ADA: The American Diabetes Association) năm 2010, đã được sự đồng thuận của
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đầu năm 2011 Chân đoán ĐTĐ khi có ít nhất một
trong bốn tiêu chuẩn sau [58]:
* Tiêu chuẩn 1: HbAIc> 6.5%
Xét nghiệm nên được thực hiện tại phòng xét nghiệm sử dụng phương pháp chuẩn
* Tiêu chuẩn 2: Đường huyết đói > 126mg/dl (7.0mmol/l)
Đường huyết đói được định nghĩa là đường huyết khi đo ở thời điểm nhịn đói
* Tiêu chuẩn 4: Người bệnh có triệu chứng cổ điển của tăng đường huyết
hay tăng đường huyết trầm trọng kèm theo xét nghiệm đường huyết ngẫu nhiên > 200mg/dl (11.1mmol/l)
Triệu chứng cô điển của ĐTĐ bao gồm: uống nhiều, tiểu nhiều và sụt cân
không giải thích được
Trang 16Đường huyết ngẫu nhiên là đường huyết đo ở thời điểm bất kỳ không liên
quan tới bữa ăn
1.1.2.2 Phân loại bệnh đái tháo đường
Theo Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2011, DTD duoc chia làm 4 loại: týp 1, týp 2, ĐTĐ thai kỳ và các týp đặc biệt khác [57]
Theo như tiêu chí phân loại trên, nhóm nghiên cứu chỉ dùng thuật ngữ chung
cho bệnh ĐTĐ chứ không phân loại theo cdc typ DTD cu thể vì mục đích của
nghiên cứu là tính chỉ phí điều trị nội trú cho bénh DTD chung
1.1.3 Biến chứng của bệnh đái tháo đường
Bệnh ĐTĐ nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời, bệnh sẽ tiến
triển nhanh chóng và sẽ xuất hiện các biến chứng cấp tính và mạn tính Các biến
chứng của ĐTĐ thường xuất hiện ngay sau khoảng 10 ngày bị tăng glucose huyét Thời gian tăng glucose huyết càng dài thì nguy cơ của các biến chứng mạn tính càng tăng [43]
1.1.3.1 Biến chứng cấp tính
Do đường huyết tăng cao, có thể gây hôn mê nhiễm toan ceton hay hôn mê
do tăng áp lực thâm thấu Nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong
Nhiễm toan ceton là biểu hiện nặng của rối loạn chuyển hóa glucid đo thiếu insulin gây tăng glucose máu, tăng phân hủy lipid, tăng sinh thể ceton gây toan hóa
tổ chức Mặc dù y học hiện đại đã có nhiều tiễn bộ về trang thiết bị, điều trị và chăm sóc nhưng tỷ lệ tử vong rất cao 5-10%
Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là tình trạng rối loạn glucose nặng, đường
huyết tăng cao Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu chiếm 5 — 10% Người bệnh đái tháo đường týp 2 nhiều tuổi (>60 tuổi) tỷ lệ tử vong cao 10 — 30% [35]
Hạ đường huyết là biến chứng cấp tính, thường do quá liều thuốc insulin gây nên Có thể do người bệnh nhịn đói, kiêng khem quá mức hay do uống nhiều rượu
Nếu không điều trị kịp thời có thể hôn mê và thậm chí tử vong
1.1.3.2 Biến chứng mạn tính của bệnh đái tháo đường
Biến chứng mạn tính cia DTD được phân chia thành hai loại là biến chứng
mạch máu và không phải mạch máu [63]
Trang 17mạch máu nhỏ (BCMMN) [63]
Các biến chứng không phải mạch máu bao gồm biến chứng xương khớp,
nhiễm trùng và những biểu hiện ở da (phụ lục 5) [41]
Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ tính chỉ phí cho nhóm biến chứng mạn tính
của bệnh ĐTĐ vì biến chứng cấp chiếm tỷ lệ rất thấp 5 - 10% [35], hơn nữa người bệnh có biến chứng này thường không điều trị hết đợt và có trường hợp tử vong
1.1.4 Điều trị bệnh đái tháo đường
Các đích điều trị đối với bệnh ĐTĐ là duy trì được một nồng độ đường huyết càng gần giá trị bình thường càng tốt và tránh để xảy ra hạ đường huyết [22]
Bộ Y tế ban hành quyết định số 3280/QĐ-BYT ngày 09 tháng 9 năm 2011 về
việc hướng dẫn chân đoán và điều trị bệnh ĐTĐ týp 2 được áp dụng tại các cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh trong cả nước [36]
Hướng dẫn này chỉ áp dụng cho những người mắc bệnh ĐTĐ týp 2 ở giai đoạn
không có những bệnh cấp tính, như nhồi máu cơ tim, nhiễm trùng cấp, hoặc phẫu thuật,
hoặc ung thư Không áp dụng cho người dưới 18 tuổi mắc bệnh ĐTĐ týp 2
Nguyên tắc điều trị:
1 Thuốc phải kết hợp với chế độ ăn và luyện tập Đây là bộ ba phương pháp điều trị bénh DTD
2 Phải phối hợp điều trị hạ glucose máu, điều chỉnh các rối loạn lipid, duy
trì số đo huyết áp hợp lý, phòng, chống các rối loạn đông máu
3 Khi cần phải dùng insulin (như trong các đợt cấp của bệnh mạn tính,
bệnh nhiễm trùng, )
Lựa chọn thuốc và phương pháp điều trị
Mục tiêu điều trị phải nhanh chóng đưa lượng glucose máu về mức quản lý tốt
nhất, đạt mục tiêu đưa HbAIc về khoảng từ 6,5 đến 7% trong vòng 3 tháng Không
áp dụng phương pháp điều trị bậc thang mà dùng thuốc phối hợp sớm Cụ thể:
- Nếu HbAIc trên 9,0% mà mức glucose huyết tương lúc đói trên 13,0 mmol1 có thể chỉ định hai loại thuốc viên hạ glucose máu phối hợp
Trang 18- Nếu HbAIc trên 9,0% mà mức glueose máu lúc đói trên 15,0 mmol/I có thể
xét chỉ định ding ngay insulin
- Bên cạnh việc điều chỉnh lượng glucose máu phải đồng thời lưu ý cân bằng các thành phần lipid máu, các thông số về đông máu, duy trì số đo huyết áp
- Theo dõi, đánh giá tình trạng kiểm soát mức glucose trong máu bao gồm mức glucose máu lúc đói, ølucose máu sau ăn, đặc biệt là mức HbAIc — được đo từ
3 đến 6 tháng/lần
- Thầy thuốc phải nắm vững cách sử dụng các thuốc hạ glucose mau bang đường uống, sử dụng insulin, cách phối hợp thuốc trong điều trị và những lưu ý đặc
biệt về tình trạng người bệnh khi điều trị bệnh ĐTĐ
- Đối với các cơ sở y tế không thực hiện xét nghiệm HbAIec, đánh giá theo mức ølucose huyết tương trung bình
1.2 Tình hình bệnh đái tháo đường trên Thế giới và tại Việt Nam
1.2.1 Trên Thế giới
Theo WHO “Thé fy} 21 la của các bệnh Nội tiết và rối loạn chuyển hóa, đặc
biét DTD sé là bệnh không lây phát triển nhanh nhất” Quốc gia có số lượng người
mắc cao nhất phải kế đến là Ấn Độ, Mỹ và Trung Quốc Năm 2009, An Độ là quốc
gia đứng đầu về số người mắc bệnh ĐTĐ với 50,8 triệu người, tiếp theo là Trung
Quốc với 43,2 triệu người Đứng thứ ba là Hoa Kỳ với 26,8 triệu người Tiếp theo
đó là Liên bang Nga 9,6 triệu người, Brazil 7,6 triệu, Đức 7,5 triệu Caribe là vùng
có tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ cao lên đến 20% dân số và là một trong những vùng
có ty lệ người ĐTĐ cao nhất liên quan đến cắt cụt chỉ dưới [59]
Trong báo cáo thường niên của Liên đoàn đái tháo đường quốc tế (IDFE:
Internation Diabetes Federation) ước tính trong năm 2012: số lượng người lớn sống
chung với bệnh ĐTĐ là 371 triệu người, trong số này có 183 triệu người không biết
họ có bệnh, 4,8 triệu ca tử vong do bệnh ĐTĐ [64], và dự tính số lượng người mắc
bệnh ĐTĐ sẽ tăng lên 552 triệu người vào năm 2030 [67] Cứ 10 giây có ba người trên thế giới mắc bệnh ĐTĐ và 8 giây có một người tử vong vì bệnh ĐTĐ, 4 triệu người chết mỗi năm, và bệnh ĐTĐ là một trong 10 nguyên nhân hàng đầu của
người khuyết tật trên toàn thế giới, 10 triệu người bệnh ĐTĐ với các biến chứng đe
Trang 19[67] Điều này cũng là nguyên nhân thường dẫn tới suy giảm chất lượng cuộc sống, tàn tật và giảm tuổi thọ Vì vậy, gánh nặng bệnh tật của bệnh ĐTĐ đang là vấn đề
nan giải, là gánh nặng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội Các quốc gia thường
phải dành một khoản ngân sách lớn của ngành Y tế để quản lý bệnh, trong đó chủ yếu là chi phi cho điều trị các biến chứng của bệnh
Tại các nước đang phát triển, gần 50% số người bị bệnh ĐTĐ không được
chân đoán Nếu không kịp thời chẩn đoán và điều trị đầy đủ, biến chứng và bệnh tật bệnh ĐTĐ tăng theo cấp số nhân Số tử vong do ĐTĐ trong năm 2010 gia tăng
5,5% so với năm 2007 Sự gia tăng tử vong này phần lớn là rơi vào các khu vực Bắc
Mỹ và Ca-ri-bê (29%), Đông Nam Á (12%) và Tây Thái Bình Dương (11%) Gánh nặng tài chính cho những người có bệnh ĐTĐ và gia đình của họ phụ thuộc vào tình
trạng kinh tế của người bệnh và các chính sách bảo hiểm xã hội của đất nước [65]
WHO đã xếp tiểu đường là một trong bốn bệnh không lây có tốc độ phát triển nhanh nhất Đây cũng là hậu quả của lối sống ít vận động, môi trường sống và
làm việc căng thẳng, chế độ ăn không cân đối Bên cạnh đó, tuổi thọ tăng cao, sự
phát triển nhanh của béo phì cũng là những nguyên nhân làm tăng nhanh tỷ lệ mắc bénh DTD [72]
Hiện nay, kế hoạch phòng ngừa bệnh ĐTĐ chủ yếu dựa vào ba mục tiêu: Cải thiện sức khỏe cho người bệnh ĐTĐ Ngăn chặn sự phát triển của bệnh ĐTĐ typ 2 Không phân biệt đối xử với người bệnh ĐTĐ [66] Thực hiện được mục tiêu này sẽ
giúp giảm chỉ phí hiệu quả bệnh ĐTĐ và hạn chế biến chứng do bệnh
1.2.2 Tại Việt Nam
Đái tháo đường là một trong những bệnh không lây có tốc độ phát triển nhanh nhất hiện nay, trở thành một dịch bệnh trong thời đại ngày nay Theo một kết
quả nghiên cứu được tiến hành trong năm 2008 về gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Trang Nhung và cộng sự cho thấy: Gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam chủ yếu là do các bệnh không truyền nhiễm gây ra (chiếm 70% tổng gánh nặng bệnh tật) Trong đó gánh nặng bệnh tật của bệnh ĐTĐ
là 358.000 DAL,Ys (chiếm 2,9% tổng gánh nặng bệnh tật) [29].
Trang 20Việt Nam không phải là nước có tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ cao nhất Thế
giới nhưng lại là quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới của căn bệnh này [12] Tình hình mắc bệnh PTD đang có chiều hướng gia tăng đặc biệt là tại các
thành phó lớn Theo số liệu điều tra năm 1990, tỷ lệ mắc ĐTĐ ở những người từ 15
tuổi trở lên ở Hà Nội là 1,2% [15], Huế 0,96%, Thành phố Hồ Chí Minh là 2,52% thì đến năm 2001 kết quả nghiên cứu của Tạ Văn Bình và cộng sự cho thấy, tỷ lệ ĐTĐ
tại khu vực nội thành của bốn thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Thành
phố Hồ Chí Minh) đã lên đến 4% [13] Tuy nhiên, khi tiến hành nghiên cứu cho riêng
từng Thành phó cũng có sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ trong năm 2001
Nghiên cứu của Nguyễn Kim Hưng và cộng sự (2001) tiến hành tại Thành phố
Hồ Chí Minh ở lứa tuổi >15 cũng cho thấy kết quả về tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ (chiếm 3,7%) khá tương đồng với kết quả nghiên cứu năm 2001 của Tạ Văn Bình (4%) [25]
Nghiên cứu của Nguyễn Huy Cường (2001) tại Thành Phố Hà Nội được tiến hành trên đối tượng có độ tuổi > 15 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 2,42% nhưng
có sự khác biệt giữa nội thành (4,31%) và ngoại thành (0,61%) [19] Đến năm 2002
tỷ lệ bệnh ĐTĐ toàn quốc ở lứa tuổi 30-64 là 2,7%, trong đó vùng thành thị có tỷ lệ bệnh cao nhất (4,4%)
Nghiên cứu của Tạ Văn Bình được tiến hành vào năm 2002 tại Thành phó
Hà Nội cho kết quả tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là tương đối cao 5,7% cho đối tượng có độ tuổi từ 20-74 [14]
Sự gia tăng tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ không dừng tại đó, theo kết quả thống
kê năm 2008, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ trong cả nước là 5,8%, tại các thành phố lớn và
khu công nghiệp có tỷ lệ bệnh dao động từ 10 đến 12% [12]
Để ngăn chặn sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm, đặc biệt là bệnh ĐTĐ là một trong những thách thức đối với sự phát triển trong thế kỷ XXI không những ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Trước tình hình đó, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình phòng chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2002-2010 tại
Quyết định số 77/2002/QĐ-TTg ngày 17/6/2002 (sau đây gọi tắt là Chương trình
phòng chống đái tháo đường quốc gia) Mục tiêu chung của Chương trình phòng
chống bệnh ĐTĐ là giảm tỷ lệ mắc bệnh, biến chứng và tỷ lệ tử vong của bệnh
Trang 21ĐTĐ Các mục tiêu cụ thể của Chương trình phòng chống ĐTĐ bao gồm: (1) Giảm
50% các yếu tố nguy cơ phát triển bệnh trong cộng đồng: (2) Điều trị và lập danh
sách theo dõi, hướng dẫn để 100% người bệnh ĐTĐ đã được phát hiện có thể tự
Các quan điểm khác nhau về chỉ phí [21]:
- Quan điểm của người trả tiền: đối với người trả tiền chỉ đơn giản là phí
tổn chấp nhận được và sẵn sàng chỉ trả
- Quan điểm của người cung cấp dich vụ: chỉ phí là tất cả các khoản ngudi
sử dụng phải chỉ trả trên cơ sở đã tính đúng, tính đủ của việc chuyén giao dich vụ
- Quan điểm của người bệnh: chỉ phí là tổng số tiền mà người bệnh phải có
để trả trực tiếp cho các dịch vụ, cộng thêm các chi phí khác cần bỏ ra trong thời
gian dưỡng bệnh và mắt mát do nghỉ bệnh gây nên
Tổng chỉ phí là tổng của tất cả các chỉ phí sản xuất tại một mức sản lượng
nhất định Tổng chỉ phí được chia thành chỉ phí cố định và chỉ phí biến đổi
* Khái niệm về viện phí: là các khoản cơ sở khám chữa bệnh thu của người bệnh khi cung cấp các DVYT cho họ, để bù đắp một phần hoặc toàn bộ các chỉ phí
mà đơn vị đó đã sử dụng để vận hành mọi hoạt động của cơ sở [21]
* Khái niệm về chỉ phí thảm hoa: Theo WHO, chi phí thảm họa là chi phí
dành cho y tế chỉ từ tiền túi hộ gia đình bằng hay vượt quá 40% khả năng chỉ trả
của hộ gia đình [74]
1.3.2 Phân loại chỉ phí:
Có rất nhiều cách phân loại chỉ phí khác nhau Lựa chọn cách phân loại nào
cho phù hợp phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu Tuy
Trang 2211
nhiên, dù chọn cách phân loại nào chăng nữa, cách phân loại đó phải đảm bảo được
hai yếu tố: (1) thuận tiện cho việc liệt kê đầy đủ các mục chỉ phí, và (2) tránh bỏ
sót và tránh trùng lặp [33] Cách phân loại hiện tại được biết đến rộng rãi trong ngành y tế là của Drummond và cộng sự [63] Theo đó, chỉ phí được phân loại theo
3 nhóm: chỉ phí trực tiếp cho diéu tri (direct medical cost), chỉ phí trực tiếp không cho điều trị (direct non-medical cost) và chỉ phí gián tiép (indirect cost) [18]
s* Chỉ phí trực tiếp [18]
Trong lĩnh vực y tế, chỉ phí trực tiếp là những chỉ phí phát sinh cho hệ thống
y tế, cho cộng đồng và cho gia đình người bệnh trong quá trình giải quyết trực tiếp
bệnh tật Chi phí này được chia thành hai loại:
Chỉ phí trực tiếp dành cho y tế: Bao gồm các chi phí chân đoán, điều trị, theo dõi, phục hồi chức năng (ví dụ như chỉ phí thuốc, ngày giường bệnh, xét nghiệm )
Chỉ phí trực tiếp không dành cho y tế: là các khoản chỉ tiêu trực tiếp của
người bệnh và người nhà trong quá trình điều trị cho người bệnh, ví dụ như chỉ cho
đi lại, thức ăn, nơi ở và các chăm sóc chính thức khác
s* Chỉ phí gián tiếp [18]
Là những chỉ phí thực tế không chi tra Chi phí này được định nghĩa là mắt
khả năng sản xuất do mắc bệnh mà bệnh nhân, gia đình họ, xã hội và ông chủ của
họ phải gánh chịu Chỉ phí này được chia thành hai loại
Chỉ phí do mắc bệnh: bao gồm giá trị của mắt khả năng sản xuất của những
người bệnh do bị nghỉ ốm phải nghỉ việc hoặc bị thất nghiệp
Chi phí do tử vong: được tính là giá trị hiện tại của mất khả năng sản xuất do
chết sớm hoặc mắt khả năng vận động vĩnh viễn do bị bệnh
s* Chỉ phí vô hình
Chi phí vô hình là các chỉ phí do đau đớn, lo sợ, chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình giảm sút, mắt thời gian nghỉ ngơi Tuy vậy, trong thực tế, các chi phí này thường ít được xem xét đến trong quá trình đánh giá gánh nặng kinh
tế của bệnh tật vì nó mang tính chủ quan cao và phụ thuộc rất nhiều vào văn hóa
Do vậy khó có thê định giá trị chỉ phí này thành tiền tệ [18].
Trang 23Trong nghiên cứu này, nhóm chỉ phí được quan tâm đến là chi phi trực tiếp dành cho y tế và chỉ phí trực tiếp không dành cho y tế vì nghiên cứu của chúng tôi tuy là nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu tiến cứu, nhưng do hạn chế về nguồn
lực, thời gian và quy mô đề tài nên các chỉ phí khác như: chỉ phí gián tiếp, chỉ phí
vô hình không được đề cập tới
1.3.3 Phương pháp tính toán chỉ phí
Phương pháp đo lường gánh nặng về kinh tế của bệnh tật (economic burden
Of disease), hay còn gọi là phương pháp đo lường chỉ phí bệnh tật (Cost of Illness —
COI) đang được sử dụng ngày càng phổ biến nhằm đưa ra những thông tin hỗ trợ
cho việc ra quyết định và xây dựng chính sách trong y tế Phương pháp đo lường chỉ
phí bệnh tat — COI lần đầu tiên được phát triển bởi Rice và cộng sự [85] nhằm ước
tính các chỉ phí kinh tế liên quan đến chẩn đoán và điều trị bệnh cũng như giá trị kinh tế của việc giảm sút sức khoẻ hay năm sống Các nghiên cứu COI đã được thực
hiện đối với nhiều nhóm bệnh, trong đó có ĐTĐ
1.3.3.1 Xác định góc độ đánh giá chỉ phí
Tính toán chi phi (CP) gồm ba bước cơ bản, bao gồm: Xác định nguồn lực đầu vào (liệt kê và quyết định đưa CP nào vào tính toán); đo lường các nguồn lực đầu vào (xác định số lượng và CP đơn vị cho mỗi đầu vào); và định giá các nguồn lực đầu vào (tính toán, phân tích các chỉ số về CP cần quan tâm) [33]
s* Xác định nguồn lực đầu vào
Trong tính toán CP, việc xác định các nguồn lực đầu vào được sử dụng là hết sức quan trọng Để có thể quyết định đưa CP nào vào tính toán, trước hết cần phải xác định quan điểm tính toán CP [33] Có ba góc độ nghiên cứu thường được
sử dụng, bao gồm: gan điểm từ nhà cung cấp dịch vụ (quan tâm đến CP của người
cung cấp dịch vụ y tế (DVYT) như CP của các cơ sở y tế (CSYT), qua đó có thể
cung cấp các thông tin hữu hiệu cho lập kế hoạch); gan điểm các nhân/hộ gia đình: (những khoản CP trực tiếp từ túi người bệnh và gia đình cùng những CP gián
tiếp như đau đớn, mất mát về tỉnh thần ); gan điểm xã hội (bao gồm tất cả các
nguồn lực mà xã hội đã sử dụng để điều trị bệnh)
Trang 2413
Trong phạm vi của nghiên cứu này, nghiên cứu viên tính toán chỉ phí dựa trên quan điểm từ phía nhà cung cấp dịch vụ và quan điểm cá nhân/hộ gia đình về những khoản chỉ phí trực tiếp từ túi người bệnh và gia đình người bệnh, không tính
chỉ phí gián tiếp như đau đớn, mắt mát về tỉnh than, dé tinh toán chi phi điều trị
nội trú (CPĐTNT) cho bệnh ĐTĐ tại Bệnh viện Từ góc độ này, nghiên cứu viên
quan tâm đến CPĐTNT cho bệnh ĐTĐ tại Bệnh viện thể hiện chỉ phí trực tiếp chỉ
cho y tế trong bảng kê viện phí khi ra viện của người bệnh hoặc cơ quan BHYT phải
chỉ trả bao gồm: CP ngày giường điều trị; CP thuốc, máu, dịch truyền; CP vật tư tiêu
hao (VTTH); CP phẫu thuật-thủ thuật (PT,TT); CP can lam sang (bao gồm CP cho các xét nghiệm và cho chân đoán hình anh(CDHA)); CP sử dụng vệ sinh, điện nước (SDVS,ĐN) và những khoản chỉ phí trực tiếp từ túi người bệnh và gia đình người bệnh thông qua quá trình phỏng vấn người bệnh trước khi ra viện bao gồm: CP ăn, uống (người bệnh (NB) và người chăm sóc người bệnh (CSNB); CP đi lại (NB và
người CSNB); CP ở trọ (người CSNB) và CP trông NB; không tính đến CP gián tiếp
như đau đớn, mất mát về tỉnh thần, CP khấu hao tài sản cố định, CP sửa chữa thường
xuyên, CP hành chính, đào tạo, nghiên cứu khoa học, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất
và trang thiết bị
s* Đo lường các nguôn lực đẫu vào
Các thông tin về các CP được quyết định đưa vào tính toán nói trên được thu
thập từ hóa đơn thanh toán và phiếu phỏng vấn khi NB ra viện Dựa vào hóa đơn thanh toán và phiếu phỏng vấn, các thông tin về ngày giường điều trị: thuốc; máu, dịch
truyền; VTTH; phẫu thuật-thủ thuật: xét nghiệm CLS; sử dụng vệ sinh, điện nước
được thống kê theo số lượng sử dụng của mỗi NB Những thông tin về CP ăn uống:
CP đi lại; CP ở trọ và CP trông NB được thống kê theo khả năng chi tra cua NB Chi phi đơn vị của từng loại chỉ cho y tế được áp dụng theo danh mục giá của BV
s* Định giá các nguồn luc dau vào
Sau khi thu thập đầy đủ các thông tin về số lượng và chỉ phí đơn vị cho từng loại nguồn lực đầu vào, bước cuối cùng là tiến hành tính toán và phân tích các chỉ sô về chi phí cân quan tâm
Trang 251.3.3.2 Cách tiếp cận để tính toán chỉ phí trực tiếp dành cho pte:
Nghiên cứu COI của ĐTĐ có thể áp dụng phương pháp ước tính chi phí từ trên xuống (top-down approach) hoặc từ dưới lên (bottom-up approach) hay kết hợp
cả hai [52]
Phương pháp tiếp cận “Top — Down”: cách tiếp cận này dựa trên mã ICD
cho tất cả các bệnh trong Bệnh viện, mỗi bệnh có tỷ lệ ước lượng riêng Chi phí cho
mỗi bệnh được tính toán dựa trên tỷ lệ ước lượng bệnh tật nhân với tổng chi phi của toàn bộ các dich vụ chăm sóc sức khỏe.Ví dụ: Tổng chỉ phí y tế cho bệnh DTD 6 BVTN trong năm 2012 sẽ được tính tính bằng tổng chi phí y tế của BVTN (cho tất
cả các loại bệnh tật) trong năm 2012 nhân với tỷ lệ phần trăm các dịch vụ y tế được
sử dụng bởi người bệnh ĐTĐ trong năm đó Ưu điểm của cách tiếp cận này là chỉ phí của một bệnh được tính trực tiếp từ tổng chỉ phí của bệnh tật trong BV (không cần phải ngoại suy), nhưng hạn chế của nó là đòi hỏi phải có số liệu có chất lượng
cao về nguồn lực sử dụng cho từng bệnh
Phương pháp tiếp cận “Botfom — Up”: Cách tiếp cận này được dựa trên chỉ
phí trung bình của toàn bộ các dịch vụ y tế đã tính cho người bệnh
Ví dụ:
Tổng chỉ phí điều trị cho bệnh ĐTĐ sẽ tính bằng cách nhân chỉ phí trung
bình một ngày điều trị cho tổng số ngày của đợt điều trị bệnh
Như vậy, hai cách tiếp cận trên ngược nhau, cách tiếp cận của mỗi phương
pháp đều có ưu điểm và hạn chế riêng, tùy theo mục tiêu của các nghiên cứu sử dụng phương pháp phù hợp để đánh giá chi phí Trong phạm vi của nghiên cứu này, Nhóm nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận chỉ phí bệnh tật (cost of illness approach) với phương pháp tính chỉ phí từ dưới lên (bottom-up approach, đối với các chỉ phí
trực tiếp dành cho y tế như chỉ phí thuốc, ngày giường, VTTH, xét nghiệm CLS, chỉ
phí sử dụng vệ sinh, điện nước và chi phí trực tiếp không dành cho y tế, ví dụ như
chi phí đi lại, ăn ở của NB và người nhà NB) để tinh chi phi điều trị bệnh ĐTĐ
trong nghiên cứu
Trang 2615
1.3.4 Chi phi tham hoa (cata)
e Phuong phap tính toán
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa và phương pháp tính toán của WHO [74] để xác định chỉ phí thảm họa cho hộ gia đình người bệnh ĐTĐ:
> Chi bang tiến túi cho y tế (øøp): là khoản chỉ trả của hộ gia đình khi NB sử
dụng dịch vụ y tế Thông thường, khoản chỉ trả này bao gồm chỉ phí thăm khám, chỉ phí mua thuốc, chỉ phí thanh toán khi ra viện, chỉ phí cho các phương pháp điều trị bệnh bổ sung, thay thế hay sử dụng thuốc cổ truyền, chỉ phí đi lại, ăn ở cho NB và người chăm sóc nằm ngoài khoản chi phi ma Bao hiểm thanh toán
> Chi phi cho lương thực, thực pham: là khoản chi tiêu dành cho lương thực
của hộ gia đình cộng thêm giá trị các sản phâm lương thực mà hộ gia đình tự sản xuất được tiêu dùng trong gia đình, tuy nhiên, khoản chỉ này không bao gồm chỉ cho đồ uống có cồn, thuốc lá và lương thực tiêu thụ bên ngoài (ví du như khách sạn và nhà hàng)
> Chỉ tiêu đảm bảo nhu cầu thiết yếu của cuộc sống (se) là khoản chỉ tiêu tối
thiểu cần thiết để duy trì cuộc sống của hộ gia đình
> Khả năng chỉ trả của hộ gia đình (cíp) Khả năng chỉ trả của hộ gia đình được
xác định là khoản chỉ tiêu ngoài khoản chỉ tiêu để đảm bảo các nhu cầu tối
thiểu của cuộc sống
* Trường hợp hộ gia đình có chỉ tiêu cho lương thực thấp hơn mức chỉ tiêu
tối thiểu (có thể do trong quá trình thu thập số liệu người trả lời phỏng vấn đã không thể liệt kê được giá trị bằng tiền của các loại lương thực do chính gia đình sản xuất,
khoản trợ cấp giá cho lương thực, ), khi đó chỉ tiêu ngoài lương thực (non-food expenditure) sẽ được sử dụng thay thế cho chỉ tiêu ngoài khoản chỉ tiêu đảm bảo các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống
Do đó, trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ sử dụng thông tin về chỉ tiêu ngoài
lương thực để thay thế cho chỉ tiêu ngoài các khoản chỉ tiêu đảm bảo nhu cầu tối
thiêu của cuộc sông.
Trang 271.4 Một số nghiên cứu ngoài nước
1.4.1 Các nghiên cứu về chỉ phí điều trị nội trú của bệnh đái tháo đường Nghiên cứu COI của ĐTĐ được thực hiện nhiều tại các nước phát triển, đặc
biệt là Mỹ Một nghiên cứu gần đây tại Mỹ đã cho thấy tổng chỉ phí y tế của bệnh DTD 1a 174 ty dé la, trong đó chỉ phí trực tiếp là 116 tỷ đô la (chỉ phí điều trị bệnh
DTD 1a 27 tỷ đô la, 58 tỷ cho điều trị các biến chứng mạn tính của bệnh ĐTĐ và 31
tỷ cho các chỉ phí y tế khác), chỉ phí gián tiếp là 58 tỷ đô la trong năm 2007 Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận dựa trên đặc điểm nhân khẩu học của dân số Hoa Kỳ trong năm 2007 với tỷ lệ “hiện mắc” bệnh DTD dé tinh chỉ phí chăm sóc sức khỏe cho bệnh ĐTĐ, tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu là chỉ đừng ở việc tính toán chỉ phí y tế (nhóm chỉ phí trực tiếp và chỉ phí gián tiếp) mà không tính đến các chỉ phí
vô hình như giá trị kinh tế của sự đau đớn, lo lắng do bệnh tật khiến chất lượng cuộc
sống giảm sút Chi phí y tế cho người có bệnh DTD cao gap 2,3 lần so với người không có bệnh ĐTĐ [56]
Hiệp hội đái tháo đường Quốc tế (IDF) ước tính chỉ phí chăm sóc sức khỏe
toàn cầu ĐTĐ năm 2011 là 465 tỷ đô la, tương đương với 11% chỉ tiêu cho chăm
sóc sức khỏe toàn cầu, dự tính số lượng người mắc bệnh ĐTĐ sẽ tăng lên 552 triệu
người vào năm 2030 [67] và ước tính tổng chỉ phí cho chăm sóc bệnh ĐTĐ khoảng trên 1000 tỷ đô la
Một nghiên cứu thực hiện tại Hàn Quốc để tính chi phí cho bệnh ĐTĐ týp 2 [51] tai các Bệnh viện trong năm 2011 cho thấy: có sự khác nhau rõ rệt về chi phí giữa người bệnh có và không có biến chứng mạn tính Đối với người bệnh ĐTĐ không có biến chứng chỉ phí khoảng 1.184.563 won (tương đương 1.184 đô la) cho mỗi người bệnh để chăm sóc sức khỏe hàng năm Ngược lại, với người bệnh có biến chứng mạn tính có sự khác nhau về chỉ phí giữa hai loại biến chứng mạch máu nhỏ
và biến chứng mạch máu lớn: người bệnh có biến chứng mạch máu nhỏ do ĐTĐ chỉ
phí gấp 4,7 lần và có biến chứng mạch máu lớn lên đến 10,7 lần so với chỉ phí hàng năm cho người bệnh ĐTĐ không có biến chứng Biến chứng bệnh ĐTĐ đã ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và là nguyên nhân gây tử vong Để
Trang 28phỏng vấn 147 cha mẹ của trẻ bệnh ĐTĐ týp1 và 822 người bệnh ĐTĐ týp 2
Nghiên cứu thu thập các số liệu liên quan đến các thông tin: về đặc điểm
nhân khẩu xã hội học, thu nhập của người bệnh và gia đình người bệnh, chi phí chăm sóc và điều trị bệnh ĐTĐ, đường huyết người bệnh đạt được Nghiên cứu
thuần tập trên 123 người bệnh ĐTĐ týp 2 được kiểm soát đường huyết HbA1c Kết quả nghiên cứu cho thấy hàng năm chỉ phí trung bình để chăm sóc bệnh ĐTĐ týp 1
là 283 đô la Mỹ cho mỗi người bệnh, trong đó thuốc insulin chiếm 36% Chỉ phi
trực tiếp cho bệnh ĐTĐ týp 2 là 175 đô la Mỹ bao gồm chỉ phí thuốc và chỉ phí điều
trị ngoại trú Các chỉ phí này chiếm 23% thu nhập của gia đình có bệnh DTD typ 1,
và 9% cho thu nhập của gia đình người bénh DTD týp 2 Cả hai nhóm bệnh ĐTĐ
typ 1 va typ 2 không kiểm soát đường huyết tốt (chiếm 86% và 77%) Ưu điểm của
nghiên cứu là đã đánh giá gánh nặng kinh tế bệnh ĐTĐ cho người bệnh ĐTĐ và gia đình của họ, đưa ra khuyến nghị cho chính sách y tế là nên áp dụng dịch vụ chăm
sóc sức khỏe ban đầu để kiểm soát bệnh ĐTĐ tốt hơn và giảm gánh nặng kinh tế
cho người bénh DTD
Nghiên cứu chỉ phí y té bénh DTD typ 2 tại Án Độ năm 2007 cho thấy chỉ
phí cho cấp cứu chiếm 18%, chỉ phí thuốc phòng chống ĐTĐ chiếm 7%, thuốc điều
trị liên quan bệnh 21%, chỉ phí trực tiếp cho điều trị nội trú là cao nhất chiếm 55%
tổng chỉ phi Chi phí trực tiếp cho điều trị biến chứng mạch máu nhỏ cao gấp 1.7 lần
so với người bệnh không có biến chứng, chỉ phí cao gấp 2 lần cho biến chứng mạch máu lớn với không có biến chứng và cao gấp 3,5 lần khi có cả hai biến chứng mạch
máu lớn và nhỏ [45] Đây cũng là một thực tế cho thấy gánh nặng kinh tế đối với
người bệnh ĐTĐ khi không được phát hiện và điều trị kịp thời
Một nghiên cứu khác về chỉ phí điều trị bệnh ĐTĐ được tiến hành nghiên
cứu tại Na Uy năm 2005 Nghiên cứu được tiến hành trên 584 người bệnh ĐTĐ
điều trị nội trú và ngoại trú Các chỉ phí được nghiên cứu bao gồm chỉ phí trực tiếp
Trang 29(chỉ phí cho thuốc; chỉ phí về trang thiết bị y tế; chỉ hướng dẫn châm cứu) và gián
tiếp thông qua phỏng vấn người bệnh dành cho điều trị Kết quả cho thấy chỉ phí
điều trị bệnh ĐTĐ chiếm khoảng 1,4% đến 2,6% tổng số các khoản chỉ phí chăm
sóc y tế ở Na Uy [50]
Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ phí y tế của người bệnh ĐTĐ từ cơ sở dữ liệu điện tử năm 2002 — 2003 của 2 Bệnh
viện tại Thái Lan cho thấy: chi phí y tế trung bình của người bệnh ĐTĐ cao hơn
những người không ĐTĐ cho cả hai nhóm người bệnh ngoại trú (3,768 đến 4,698
baht và 629 đến 1,011 baht tương đương với 123 đến 153 đô la Mỹ và 20,5 đến 33
đô la Mỹ) với nhóm người bệnh nội trú (13,754 đến 26,439 baht và 5,476 đến
11,330 baht tương đương với 448 đến 862 đô la Mỹ và 178 đến 369 đô la Mỹ) Kết
quả còn cho thấy: chỉ phí của người bệnh ĐTĐ có biến chứng cao gấp 2 lần người
bệnh ĐTĐ không có biến chứng (19,189 đến 24,848baht và 9,577 đến 11,071 baht tương đương với 588 đến 817 đô la Mỹ và 312 đến 361 đô la Mỹ) [73]
Một ví dụ tốt hơn cho một nghiên cứu chỉ phí bệnh tật của ĐTĐ, nghiên cứu
của tác giả Mehdi Javanbakht và cộng sự thực hiện tại Iran đo lường gánh nặng
kinh té cia DTD typ 2 [49] trong năm 2009
Nghiên cứu này đã tính toán được đầy đủ 2 nhóm chỉ phí: chỉ phí trực tiếp
(bao gồm chỉ phí chỉ cho y tế và chỉ phí ngoài y tế) và chỉ phí gián tiếp (bao gồm chỉ phí do nghỉ ốm hoặc về hưu sớm cũng như chỉ phí do tử vong sớm vì bệnh ĐTĐ)
Nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận “hiện mắc” nhưng có ước tính cả chỉ phí
gián tiếp bên cạnh chỉ phí trực tiếp của bệnh Nhằm ước tính chỉ phí trực tiếp trung
bình của một người bệnh ĐTĐ týp 2, 4500 người bệnh ĐTĐ ở Tehran và Tinh Fars được chọn ngẫu nhiên được lấy bảy cụm cho mỗi khu vực đại diện cho khu vực
nông thôn và thành thị ở Iran được lọc ra để xác định các nguồn lực đã sử dụng
trong điều trị Chỉ phí trực tiếp cho điều trị nội trú và ngoại trú ĐTĐ týp 2 được ước tính theo phương pháp phân bổ chỉ phí từ dưới lên (bottom-up approach) dé dua ra két qua vé chi phi trung bình 1 ngày điều trị của người bệnh Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận theo phương thức vốn con người (Human Capital Method - HCM) để
tính toán cho chỉ phí gián tiếp (bao gồm chỉ phí do tàn tật và chỉ phí do tử vong)
Trang 3019
Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng chi phí quốc gia cho bệnh ĐTĐ týp 2 ước tính 3,78 tỷ đô la Mỹ Chỉ phí trực tiếp và gián tiếp trung bình cho mỗi đầu người là
842,6 + 102 và 864,8 đô la Các thành phan chi phí lớn nhất của biến chứng bệnh
ĐTĐ là tim mạch (chiếm 42.3% của tổng sé chi phi biến chứng, bệnh thận (23%),
và các biến chứng ở mắt (14%) Chỉ phí gián tiếp bao gồm khuyết tật tạm thời
(335.7 triệu), tàn tật vĩnh viễn (452.4 triệu) và giảm năng suất do tỷ lệ tử vong sớm
(950.3 triệu) ĐTĐ là một bệnh có chỉ phí tốn kém trong hệ thống y tế của Iran và
tiêu tốn hơn 8,69% tổng chỉ tiêu y tế Những thông tin về chi phí này không chỉ
cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách một bức tranh về gánh nặng của bệnh
ĐTĐ, đặc biệt là những gánh nặng về kinh tế liên quan đến mỗi biến chứng của bệnh, một can thiệp dự phòng ĐTĐ cần được thể hiện bằng việc nâng cao nhận thức của người bệnh, quản lý chặt chẽ và hiệu quả bệnh đối với những nhà quản lý được xác định là một ưu tiên trong lĩnh vực y tế công cộng Nghiên cứu sẽ hoàn thiện hơn nếu có thê tính đến những chỉ phí vô hình của người bệnh (bao gồm nỗi đau đớn và
khổ sở của những NB, gia đình NB, và bạn bè NB, giảm chất lượng cuộc sống)
1.4.2 Nghiên cứu về chỉ phí thảm họa do điều trị bệnh đái tháo đường Gánh nặng kinh tế khi mắc các bệnh mạn tính nói chung từ trước cho đến nay
hiện vẫn đang là chủ đề được quan tâm trên toàn thế giới Các nghiên cứu thuộc chủ đề
này giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý y tế và những người quan tâm trả lời câu hỏi: “Người bệnh hay gia đình người bệnh hay đơn vị cung cấp dịch vụ y tế
hay chính phủ hay toàn xã hội phải chỉ trả bao nhiêu để điều trị bệnh?”
Năm 2006, Án Độ, một đại diện của các nước đang phát triển, cũng đã thực
hiện đánh giá gánh nặng bệnh tật của các bệnh không truyền nhiễm và của DTD nói
riêng với sự tài trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [75] Nghiên cứu cho thấy,
Ấn Độ đang phải trải qua một gánh nặng ngày càng tăng khi mắc các bệnh mạn
tính, chiếm 62% tổng gánh nặng bệnh tật Hơn 20% dân số mắc ít nhất 1 bệnh mạn
tính và hơn 10% có nhiều hơn một bệnh Đặc biệt, với bệnh ĐT, nghiên cứu chỉ ra
rằng chỉ phí điều trị bệnh đã tăng gấp đôi từ năm 1998 đến năm 2005, riêng đối với
nhóm có thu nhập thấp ở hộ gia đình sống tại thành thị thì chỉ phí họ phải bỏ ra điều
trị bệnh nhiều hơn so với thu nhập của họ (chiếm 34% so với nhóm có thu nhập cao
Trang 31sống tại thành thị) còn nhóm người nghèo ở nông thôn cũng chiếm một tỷ lệ cao hơn so với nhóm thu nhập cao ở nông thôn (27%) Nhìn chung, chỉ phí điều trị cho
một người bệnh ĐTĐ đã phải tiêu tốn 15 đến 25% tông thu nhập của hộ gia đình
Đi sâu hơn nữa, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách cũng như các nghiên
cứu viên cần hướng tới việc trả lời các câu hỏi phức tạp hơn: “Tỷ lệ người bệnh
phải trải qua các khó khăn về tài chính khi điều trị bệnh là bao nhiêu?”, Những khó khăn về tài chính do điều trị bệnh liệu có ảnh hưởng đến nhóm người bệnh nào
không? Liệu có sự ảnh hưởng khác nhau giữa các nhóm người bệnh này không?”,
“Điều trị bệnh có thể gây ra những thay đổi như thế nào đối với thu nhập của người
bệnh và hộ gia đình?” Năm 2007, nghiên cứu “Chi phí thảm họa cho y tế tại các
nước Châu Á” [78] đã được thực hiện tại 14 quốc gia và vùng lãnh thổ với dân số
chiếm 81% tổng dân số của khu vực Châu Á Nghiên cứu này sử dụng số liệu từ các cuộc khảo sát chỉ tiêu hộ gia đình mang tính chất đại điện cho cả quốc gia trong đó
có thông tin về các khoản chỉ trả bằng tiền túi cho y tế và tổng chỉ tiêu hộ gia đình
một cách chỉ tiết, do vậy kết quả tính toán quy mô của chỉ trả bằng tiền túi trong tổng ngân sách hộ gia đình khá chính xác Cụ thể, kết quả nghiên cứu cho thấy
Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam là những quốc gia mà người
dân nói chung phải chỉ trả bằng tiền túi nhiều và do vậy có tỷ lệ hộ gia đình phải
gánh chịu chỉ phí thảm họa cao nhất Sri Lanka, Thái Lan và Malaysia tuy là những nước có thu nhập thấp đến trung bình nhưng có khả năng khống chế mức chỉ trả bằng tiền túi cũng như ty lệ hộ gia đình phải gánh chịu chi phí thảm họa
Bên cạnh đó, Ke Xu và cộng sự [93] đã thực hiện nghiên cứu “Bảo vệ hộ gia đình khỏi tình trạng chi trả thảm họa cho y tế” năm 2007 Cuộc khảo sát được thực
hiện tại 89 quốc gia, chiếm 89% tổng dân số thế giới Kết quả cho thấy 150 triệu
người trên toàn thế giới phải gánh chịu chỉ phí thảm họa hàng năm cho y tế
Năm 2011, tác giả Saksena và cộng sự đã ghi nhận kết quả từ những nghiên
cứu về tác động của việc chỉ trả từ tiền túi của hộ gia đình khi điều trị các bệnh
không lây nhiễm tại nhiều quốc gia đang phát triển, ví dụ như Burkina Faso năm
2006 [91], Kenya năm 2007 [77], Trung Quốc năm 2009 [88] và 2010 [82].[87] Án
Độ năm 2008 [77] và 2012 [80] Saksena kết luận rằng hộ gia đình có người mắc
Trang 3221
bệnh mạn tính phải chỉ tiêu một phần đáng kể thu nhập của họ cho điều trị bệnh và
nhiều gia đình phải đối mặt với chi phí thảm họa do các khoản chỉ phí y tế đó [86]
Trên thực tế, điều này cũng được tác giả Engelgauet và cộng sự [79] thêm một lần
nữa khẳng định thực tế hộ gia đình có người mắc bệnh mạn tính tại các nước đang
phát triển phải gánh chịu rủi ro về mặt tài chính là dang ké, đặc biệt đối với các gia
đình nghèo và đễ bị tổn thương
1.5 Nghiên cứu trong nước
1.5.1 Các nghiên cứu về chỉ phí điều trị nội trú của bệnh đái tháo đường Tính toán chỉ phí điều trị của các bệnh có tỷ lệ mắc cao góp phần tăng cường
hiệu quả của việc dự toán thu chi cũng như quản lý tài chính của Bệnh viện [9]
Việc tính toán và phân tích chỉ phí này có ý nghĩa rất lớn đối với nhà quản lý trong việc theo dõi, giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động, đánh giá về mức độ công bằng cũng như phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự trù ngân sách và xác định thêm
các nguồn lực cần thiết [33] Tuy nhiên, trên thực tẾ, tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá được đầy đủ về gánh nặng kinh tế của bệnh tật trong lĩnh vực
phòng chống và kiểm soát bệnh ĐTĐ Các nghiện cứu đã được thực hiện chủ yếu là
các nghiên cứu đánh giá một phần những chỉ trả trực tiếp cho việc điều trị nội-ngoại trú, có rất ít những nghiên cứu tính đến những chỉ phí gián tiếp như: chỉ phí mất đi
thu nhập do nghỉ việc để điều trị; chi phí vô hình như đau đớn được tính đến
Nghiên cứu về gánh nặng chỉ trả của người bệnh ĐTĐ điều trị nội trú tại
Bệnh viện Nội tiết được tiến hành vào năm 2001 [27] của tác giả Phạm Thị Lan và
Tạ Văn Bình cho thấy bệnh nhân ĐTĐ phải chịu gánh nặng chỉ trả tương đối lớn cho điều trị, bao gồm chỉ phí trực tiếp cho y tế, chỉ phí trực tiếp không cho y tế, chỉ
phí gián tiếp do mắt ngày công lao động, chưa kể các chỉ phí vô hình khác Trung bình tổng chỉ phí cho một đợt điều trị nội trú (gồm chỉ phí y tế và chi phi ngoài y tế) xấp xỉ 1,5 triệu đồng; tổng chi phí y tế cho đợt điều trị nội trú là 895.077
đồng/người; trong đó chỉ phí trực tiếp cho y tế mà bệnh nhân thực trả trung bình là
498.862 đồng/người Chi phí này khác nhau tùy theo hình thức chỉ trả phí khám
chữa bệnh của bệnh nhân; Tổng chỉ phí ngoài y tế xấp xi 777.000 đồng/ đợt điều trị; Chỉ phí điều trị tăng lên theo số lượng biến chứng —- mức độ nặng của bệnh Chỉ phí
Trang 33điều tri tăng rõ rệt nếu bệnh nhân có các biến chứng tim mạch, tăng huyết áp, bệnh
lý bàn chân- nhiễm trùng cấp tính Đa số người bệnh không đủ khả năng tự chỉ trả,
dù đã hỗ trợ của Bảo hiểm Y tế (BHYT), người bệnh có đủ khả năng chỉ trả chỉ
chiếm 27,3%; phải bán đồ dùng có giá trị trong nhà để chỉ trả là 21.2%; vay mượn
để chỉ trả là 51.5%
Năm 2000, Đỗ Liên Anh Hà và Nguyễn Thy Khuê với nghiên cứu: “Chỉ phí điều trị bệnh đái tháo đường nội trú ” tại Khoa Thận-Nội tiết Bệnh viện Nhân dân Gia
Định Nghiên cứu hồi cứu, kết quả cho thấy: chi phí cho thuốc điều trị đặc hiệu ĐTĐ
chỉ chiếm 7,27% trong tổng chỉ phí thuốc, chỉ phí cho kháng sinh chiếm 55,93%, chỉ
phí điều trị bénh DTD là rất thấp và ĐTĐ có biến chứng là nguyên nhân của chi phí
cao Hạn chế của nghiên cứu chưa tính được chỉ phí cụ thể các biến chứng, chỉ phí
trực tiếp ngoài y tế và chỉ phí gián tiếp chưa đưa vào tính toán [4]
Năm 2003, nghiên cứu chi phi điều trị nhiễm trùng bàn chân ĐTĐ trên người
bệnh điều trị nội trú tại khoa Nội tiết Bệnh viện Chợ Rẫy của tác giả Nguyễn Thị
Bích Đào và cộng sự Nghiên cứu hồi cứu trên hồ sơ người bệnh ĐTĐ có nhiễm
trùng nhập viện từ tháng 6/1999 đến tháng 6/2000 Kết quả ghi nhận chỉ phí điều trị
trung bình cho một NB nhiễm trùng bàn chân cao gấp 1,6 lần so với chỉ phí điều trị
cho người bệnh mắc các nhiễm trùng khác, chỉ phí tiền thuốc kháng sinh chiếm 43.7% - 47.7% tổng chi phí điều trị nội trú của người bệnh ĐTĐ có nhiễm trùng
chân Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế bệnh lý nhiễm trùng bản chân, giảm chỉ phí điều trị cho NB: cần nâng cao chương trình giáo dục sức khỏe cộng đồng cho người dân về ĐTĐ, đặt biệt là chăm sóc bàn chân Tăng cường quản
lý sức khỏe cộng đồng ở tuyến dưới đối với người bệnh ĐTĐ và cần hỗ trợ về chi phí chăm sóc y tế của cộng đồng cho NB ĐTĐ Cũng như nghiên cứu trên, trong nghiên cứu này, các tác giả không tính được những chỉ phí khác như: chi phí trực
tiếp ngoài y tế, chỉ phí gián tiếp, hay chi phi vô hình khác [1]
Một ví dụ khác được cho là một nghiên cứu tốt hơn, tuy chỉ tiến hành nghiên cứu về chỉ phí điều trị ngoại trú của người bệnh ĐTĐ trong năm 2009 [8] cua tac
giả Huỳnh Thị Anh Thư Nghiên cứu được tiến hành trên 730 người bệnh ĐTĐ đến
khám và điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết bệnh viện Nhân Dân Gia Định và
Trang 3423
Trung tâm chân đoán y khoa tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ
01/3/2008 đến 30/5/2009 Nghiên cứu thu thập số liệu tiến cứu kết hợp với phỏng
vấn trực tiếp NB để tính chỉ phí điều trị trực tiếp cho NB (bao gồm chỉ phí trực tiếp cho y tế và chỉ phí trực tiếp ngoài y tế) Kết quả nghiên cứu cho thấy: các loại chỉ phí ở nhóm thu phí cao hơn nhóm BHYT, các biến chứng làm tăng chỉ phí điều trị, chỉ phí điều trị khá cao: xấp xỉ 24% so với mức thu nhập hàng tháng của NB Trong
đó chỉ phí thuốc trung bình chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các khoản chỉ phí y tế
(xấp xỉ 27 lần so với tiền khám bệnh trung bình và 4,6 lần so với tiền xét nghiệm
trung bình)
Gần đây nhất, trong năm 2012 Nguyễn Thị Tuyết Nhung với nghiên cứu về
chi phí điều trị nội trú của người bệnh ĐTĐ tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh Bình Định
[30] Nghiên cứu hồi cứu được tiến hành thu thập số liệu trên 381 người bệnh ĐTĐ
thông qua hồ sơ bệnh án người bệnh đã ra viện trong thời gian từ 01/1/2011 đến
31/12/2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy:chi phí điều trị cho một đợt điều trị là
2.245.603 đồng Trong đó tỷ lệ chỉ phí cho thuốc là cao nhất (61,9%); có sự khác
biệt về chỉ phí điều trị giữa người bệnh sống ở các vùng miễn (khu vực thành thị chỉ
phí thấp hơn: 1.893.108 đồng so với khu vực nông thôn: 2.502.401 đồng): chỉ phí
bệnh tăng theo biến chứng của bệnh (chỉ phí biến chứng mạch máu lớn là 3.919.649
đồng, chỉ phí cho biến chứng mạch máu nhỏ là 1.700.443 đồng)
Hạn chế của nghiên cứu là mới chỉ tính đến chỉ phí trực tiếp cho cơ sở y tế,
không tính được chỉ phí ngoài y tế do người bệnh phải trả trong thời gian nằm điều trị (bao gồm chỉ phí ăn uống, đi lại, chỉ phí CSNB, chỉ phí khác) và chỉ phí gián tiếp không tính được trong nghiên cứu Do đó không thể tính được tổng chỉ phí thực tế
mà người bệnh phải chỉ trả Đây cũng là những hạn chế mà đa phần các nghiên cứu thường gặp khi tính chi phí điều trị bệnh ĐTĐ
Trong nghiên cứu chúng tôi dự định tiến hành sẽ khắc phục được một số hạn
chế trên Nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu tiến cứu dựa trên hồ sơ bệnh án,
phiếu thanh toán ra viện, tiến hành phỏng vấn người bệnh trước khi ra viện một ngày nhằm tính toán chỉ phí điều trị trực tiếp chỉ cho y tế và ngoài y tế để xác định được tổng chỉ phí thực tế mà người bệnh phải trả là bao nhiêu, cũng như có thể xác
Trang 35định được sẽ có bao nhiêu hộ gia đình người bệnh phải gánh chịu chi phí thảm họa
do điều trị bệnh Từ kết quả này, chúng tôi hy vọng sẽ đưa ra được những khuyến
nghị xác thực nhất
1.5.2 Nghiên cứu về chỉ phí thảm họa do điều trị bệnh đái tháo đường Hiện nay ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, một giải pháp quan trọng và có ý nghĩa nhất để giảm bớt gánh nặng bệnh tật (đặc biệt là với người
nghèo) chính là Bảo hiểm Y tế (BHYT) với nhiều hình thức khác nhau, điều này
cũng đồng nghĩa với việc giảm bớt gánh nặng về tài chính, đâm bảo sự công bằng cho người bệnh tại Việt Nam Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, tỷ lệ người dân có BHYT chưa thật cao, chỉ tra cho y té bằng tiền túi từ hộ gia đình vẫn chiếm một tỷ
lệ khá cao Trong Hội nghị về tài chính y tế được tổ chức vào ngày 27/11/2012 vừa
qua, bài phát biểu của GS.TS Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt
Nam cho biết mức chỉ trả bằng tiền túi của hộ gia đình có giảm nhưng vẫn chiếm
đến 49% [28]
Thực tế này, điều này cũng đã từng được minh chứng trong một báo cáo về
tài chính y tế của Việt Nam, tác giả Trần Văn Tiến và cộng sự [89] đã khẳng định
mặc dù mức chỉ bằng tiền túi của hộ gia đình có giảm trong những năm gần đây, tuy
nhiên, vẫn rất cao và chiếm khoảng 55% tổng chỉ tiêu dành cho y tế Bên cạnh đó,
dựa trên hướng dẫn kỹ thuật của WHO [74] dé tinh toán chi phí thám họa, tại Việt Nam tỷ lệ hộ gia đình phải đối mặt với chi phí thảm họa tăng dan trong các năm gần
đây (ngoại trừ sự giảm nhẹ năm 2006), năm 1998 là 5,8%, năm 2002 là 7.6%, năm
2004 là 8,2% [90], năm 2006 là 5,1% và năm 2008 là 5,5% [81]
Tính đến nay, số lượng các nghiên cứu tại Việt Nam về chủ đề gánh nặng
kinh tế của một hay nhiều bệnh cụ thể cũng như xác định tỷ lệ người bệnh và gia
đình phải gánh chịu chỉ phí thảm họa vì bệnh đó còn rất hạn chế Năm 2004, Phạm
Thu Hiền và cộng sự [83] thực hiện nghiên cứu “Chỉ phí y tế của bệnh nhân tiểu
đường” Kết quả của nghiên cứu cho thấy 19% bệnh nhân tại nông thôn phải bán tài
sản, sử dụng hết số tiền tiết kiệm hay vay mượn hàng xóm, bạn bè để chỉ trả cho các
chỉ phí y tế
Nguyễn Thị Bích Thuận và cộng sự [84] đã thực hiện nghiên cứu tại Ba Vì —
là một khu vực nông thôn Việt Nam năm 2006 và cho thấy hộ gia đình phải chỉ trả cho điều trị các bệnh mạn tính rất lớn Nghiên cứu của Adam Wagstaff được thực
Trang 36t9 tì
hiện năm 2007 [92] cho thấy hộ gia đình tại Việt Nam không có khả năng duy trì mức tiêu dùng cho thực phẩm và phi thực phẩm khi họ phải đối mặt với suy giảm thu nhập và gia tăng chỉ tiêu cho y tế khi mắc các bệnh mạn tính
Với tầm quan trọng và tính cấp thiết trên, việc đi sâu vào nghiên cứu mô hình bệnh tật đặc biệt là bệnh mạn tính, trong đó có bệnh ĐTĐ, các khoản chi phí phải trả khi mắc bệnh sẽ cung cấp những thông tin vô cùng quý báu để có thé dua ra những kế hoạch và những can thiệp có hiệu quả giúp giảm bớt gánh nặng bệnh tật
do bệnh ĐTĐ gây ra Giúp cho việc giảm bớt gánh nặng về tài chính cho bản thân
người bệnh, gia đình người bệnh và cộng đồng, đặc biệt là đối với những hộ gia
đình nghèo
1.6 Thông tin về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Thanh Nhàn là BV đa khoa hạng I của Thành phố Hà Nội, với hai
chuyên khoa đầu ngành là Nội khoa và Chẩn đoán hình ảnh, có chức năng và nhiệm vụ: khám bệnh, chữa bệnh; Đào tạo cán bộ; Nghiên cứu khoa học; Chỉ đạo tuyến;
Phòng bệnh; Hợp tác quốc tế và Quản lý kinh tế trong BV Với 913 cán bộ viên
chức (thời điểm tháng 12/2012) Trong đó: biên chế 679 người, hợp đồng 234
người Chức năng, nhiệm vụ chính là khám chữa bệnh cho nhân dân thủ đô Hà Nội
Trước kia đối tượng phục vụ của BV chủ yếu là nhân dân khu vực nội thành,
đối tượng chính sách, cán bộ hưu; Trong các năm gần đây, nhằm đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng không những cho nhân dân thủ đô Hà Nội, mà còn
cho nhân dân từ các tỉnh thành khác trong cả nước Số giường kế hoạch cũng như số giường thực kê tăng đều trong các năm, tính đến thời điểm năm 2012, số giường kế
hoạch là 540 giường, giường thực kê là 750 giường bệnh, gồm 19 khoa lâm sang, 9 khoa cận lâm sàng, 9 phòng chức năng và 2 đơn nguyên BV đã không ngừng lớn mạnh cả về quy mô cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Hàng năm BV tiếp nhận khám và điều trị nội trú cho 30.302 người bệnh
(năm 2011), năm 2012 là 31.179 lượt người bệnh; trong đó tỷ lệ người bệnh điều trị
nội trú có thẻ BHYT chiếm khoảng 73%, (đa số người bệnh là đối tượng cán bộ hưu
trí chiếm xấp xỉ khoảng 70%) Mô hình bệnh tật thay đổi theo từng năm, các bệnh không lây nhiễm chiếm tỷ lệ khá cao tại BV, đặc biệt là bệnh ĐTĐ Kết quả cho
thấy: năm 2010 có 872 người bệnh ĐTĐ phải nằm viện; năm 2011: 996 người bệnh
ĐTĐ điều trị nội trú; năm 2012: số người bệnh ĐTĐ đã tăng lên 1056 Điều đáng
Trang 37nói, đa số những trường hợp phải nằm viện đều đã mắc ít nhất một biến chứng Đây
chính là nguyên nhân làm gia tăng những chi phí điều trị cho người bệnh
Ngoài ra, do tính chất đặc thù của đối tượng vào điều trị tại BV chủ yếu là
đối tượng cán bộ hưu, người bệnh vào điều tri mac nhiéu bénh, bénh nang, man
tinh, nén được Bảo hiểm xã hội thành phó Hà Nội định kỳ xem xét quyết toán bỗ
sung theo các quy định; nhằm vừa tháo gỡ khó khăn cho BV, vừa điều chỉnh các bắt cập nảy sinh Một thực trạng nữa là những kỹ thuật mới, kỹ thuật cao trong chân
đoán và điều trị được phát triển nhanh theo nhu cầu điều trị nhưng hệ thống văn bản
tài chính phục vụ cho thanh toán thường ra đời sau, có khi chậm dẫn đến việc thanh
quyết toán thiếu đồng bộ và không kịp thời Hệ quả là kinh phí phải bổ sung từng đợt quyết toán chênh lệch làm ảnh hưởng đến sự chủ động tài chính của BV, đôi lúc quyền lợi của người bệnh BHYT cũng bị ảnh hưởng Việc tăng cao chỉ phí điều trị
có thể lý giải theo các nguyên nhân về khách quan: giá thuốc, vật tư tiêu hao
(VTTH) tang, nhiéu dich vu kỹ thuật cao kèm theo được triển khai, ngoài ra, còn có
nguyên nhân chủ quan có thể do tính hợp lý trong việc chỉ định thuốc, xét nghiệm,
kỹ thuật CĐHA còn chưa chặt chẽ
Nhưng, trên thực tế, đa phần người bệnh điều trị tại BV sống ở khu vực thuộc Quận Hai bà Trưng và Quận Hoàng Mai, nơi có mức thu nhập bình quân/đầu người thấp hơn so với các khu vực nội thành khác của thành phố Hà Nội Điều này ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế gia đình người bệnh Đề có thể đi đến được những kết
luận chính xác và đưa ra được bằng chứng xác thực về sự ảnh hưởng đến cuộc sống
của bản thân người bệnh cũng như gia đình của họ khi điều trị bệnh ĐTĐ, nhóm
nghiên cứu chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài trên, nhằm giúp cho những nhà
hoạch định chính sách có thẻ đưa ra được những quyết sách đúng Thiết thực hơn, là
giúp cho lãnh đạo BV tính toán và phân bổ ngân sách hợp lý cho chi phí khám,
chữa bệnh Đặc biệt, giúp người bệnh nhận thức được những tác động về kinh tế khi
phải điều trị bệnh
1.7 Khung lý thuyết
Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, do điều kiện thời gian và nguồn lực có
hạn, chúng tôi chưa đề cập đến nghiên cứu về chỉ phí gián tiếp và chỉ phí trực tiếp
cho khấu hao tài sản có định, chi phí nhân lực, chỉ phí vận hành của cơ sở y tế.
Trang 38Khung lý thuyết: Các nhóm chỉ phí được tính toán
(thé hiện trong mau vang)[33]
Chi phí khấu hao
tài sản cô định, chi
Trang 39Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Số liệu thứ cấp:
Phiếu thanh toán ra viện của người bệnh và Hồ sơ bệnh án của người bệnh
ĐTĐ có và không có biến chứng mạn tính trong thời gian nghiên cứu
Thông tin được thu thập bao gồm: số liệu về chỉ phí điều trị trực tiếp chỉ cho
y té trong Phiếu thanh toán ra viện và số liệu về tình hình khám, chữa bệnh trong
Hồ sơ bệnh án của người bệnh (phụ lục 2)
se Người bệnh được bác sĩ chân đoán khi ra viện là mắc bệnh ĐTĐ theo tiêu
chuẩn chấn đoán của ADA (2011) [58] có và không có biến chứng mạn tính
(xem chỉ tiết phụ lục 4)
se _ Người bệnh ĐTĐ được bác sĩ chân đoán khi ra viện có một trong các biến chứng mạn tính của bệnh (phụ lục 5)
Các tiêu chí loại trừ:
s - Người bệnh ĐTĐ không đồng ý tham gia nghiên cứu
© _ Người bệnh ĐTĐ có chân đoán khi ra viện: có biến chứng cấp tính, có bệnh
kèm theo; bệnh nằm theo yêu cầu: trốn viện; tử vong
Trong trường hợp đối tượng là người già, trẻ nhỏ không đủ khả năng trả lời
bộ câu hỏi phỏng vấn, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành phỏng vấn người chăm sóc chính người bệnh
Thông tin được thu thập bao gồm: số liệu về chỉ phí trực tiếp chỉ ngoài y tế
của người bệnh được thu thập thông qua phỏng phỏng vấn người bệnh/người CS
Trang 4029
chính NB trước khi ra viện trong thời gian nghiên cứu từ tháng 02/2013 đến tháng 4/2013 (xem chỉ tiết phụ lục 3)
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 02/2013 đến tháng 4/2013
- Địa điểm: Khoa Nội tiết; Phòng thanh toán viện phí Bệnh viện Thanh Nhàn
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.4 Cỡ mẫu
Phỏng vấn toàn bộ người bệnh khi ra viện chân đoán ĐTĐ thỏa mãn tiêu
chuẩn lựa chọn và loại trừ trong thời gian tiến hành thu thập số liệu Tổng số 198
người bệnh ĐTĐ ra viện trong thời gian thu thập số liệu được chọn vào nghiên cứu
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu toàn bộ Lựa chọn được 198 người bệnh đủ tiêu chuẩn tham gia trả lời phỏng vấn được tiến hành như sau:
- Tiến hành lập và cập nhật danh sách (dựa trên mã Hồ sơ bệnh án) cho toàn
bộ những người bệnh chuẩn bị ra viện điều trị nội trú tại Khoa Nội tiết được chân đoán mắc bệnh ĐTĐ thỏa mãn tiêu chí lựa chọn và loại trừ trong thời gian tiến hành thu thập số liệu từ tháng 2/2013 đến tháng 4/2013
- Khi người bệnh ĐTĐ thỏa mãn tiêu chí lựa chọn ra viện, phát giấy mời tham gia nghiên cứu, toàn bộ người bệnh ĐTĐ có và không có biến chứng mạn tính đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được tiến hành phỏng vấn tại khoa Nội tiết từ tháng 2/2013 đến tháng 4/2013 và thu thập phiếu thanh toán ra viện tại Phòng thanh toán viện phí của BV trong thời gian trên
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
- Sử dụng thư mời phỏng vấn người bệnh để mời người bệnh tham gia vào nghiên cứu (phụ lục 1)
- Bộ câu hỏi được thử nghiệm trên 09 người bệnh tại Khoa Nội tiết Bệnh viện Thanh Nhàn, sau đó được điều chỉnh để ngắn gọn, đễ hiểu, thu thập thông tin được
chính xác hơn Sau khi điều chỉnh được sử dụng dé phỏng vấn 198 người bệnh.