Đề tài tiến hành thực hiện thống kê đặc điểm và chỉ phí trực tiếp điều trị nội trú của bệnh nhân tự tử tại bệnh viện.. Bệnh viện chưa có nghiên cứu khoa học nào về đề tài tự tử, để nâng
Trang 1LVAA/918V4-7
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CONG
ĐẶNG THÀNH
ĐẶC ĐIỂM VÀ CHI PHÍ CỦA BỆNH NHÂN TỰ TỬ
DIEU TRI NOI TRU TAI BENH VIEN DA KHOA HUYỆN
DAKR’LAP, TINH DAK NONG GIAI DOAN 2010 — 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SÓ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Xuân Phú
HÀ NỘI, 2013
Trang 2Sau 2 năm học tập, giờ đây khi cuốn luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Quản ly bệnh viện đang được hoàn thành, tận đáy lòng mình, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thấy, cô giáo trường Đại học Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đở tôi hoàn thành chương trình học tập và hỗ trợ tôi trong quá
trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Với tắt cả tình cảm sâu sắc nhất, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới thây hướng
dẫn PGS-TS Vũ Xuân Phú, đã giúp đở tôi từ khi xác định vấn đề nghiên cứu, viết đề
cương, chia sẻ thông tin và hoàn thành luận văn Kiến thức về học thuật, sự tận tình trong giảng dạy của các thây cô đã giúp tôi có được những kiến thức, kinh nghiệm quí báu trong nghiên cứu khoa học
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc bệnh viện đa khoa huyện ĐăkR lấp, tỉnh Đăk Nông, nơi tôi đang công tác và tiến hành nghiên cứu, đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, góp ý, hướng dẫn và tham gia vào nghiên cứu
Xin cảm ơn tất cả các bạn đồng môn trong lớp cao học Quản lý bệnh viện khóa 4 Tây Nguyên, đã cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và giúp đở tôi trong 2 năm học qua
Cuối cùng, với những kết quả trong nghiên cứu, tôi xin cha sẻ với tắt cả các bạn đông nghiệp nhất là những ai quan tâm đến lĩnh vực này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Đặng Thành
Trang 3
MUC LUC
TÂN CÁM ỮN esdamtndloniGi.2S501388176058020:350114g00036.01300/865000454031/8I0EEE i
TPG LONG 5 Ie snes senor HE, SÙDT, 1 se pkkoxeeteoseseeefrermBsrsxerszssŠazsstfRaSDiS802rg8sSpi25/717EnIETTTSE ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTT -©©vveeeertrrrrrrrxrerrrrrrrrrer v
TÔM ẤT NGHIÊN CÚ „sen 22081800 23060001620.0816g8060/501088.0,0.Lnu viii
Chung 1 eessssescsssssecssssssessessneesencsnesenessssscessnsscsnsssccessansccessanasseeeconneseeesanasssennnassenentss
TONG QUAN TAI LIEU
1.1 Các khái niệm, thuật ngữ và một số kiến thức chung liên quan đến tự tử 4 PLE REE PIB VE HE HH cai gia 0x Goix6ES013131080816L833061101008820050084 4 WSL 2) WGI TELE TP con ssaniannarecovenansonavdtonassunesnecnvenasnnssnsnarnensnarsuntiaensssanenbeanetaansa 4 ToL Tridta chine Va QUIVER DREN HE Wa scccvesscsencsescvscererssnseeiovesceentuvansnenontonnane 5 1.1.4 Tự tử trong thanh thiếu niÊn cs-ccecSccessExerrierrtrrerirrrieirrrree 1
ÿ.Ì.5 Tụ Bề vũ Nôi thẪN esoeniadiniesdinaosiosesbdeasesrioirtbilloelusie 9
UDC, CECB PHONZ HEE HỆ FỮ oi-ssc bssgiasGGE0514841080188A001G8A5888659345810313034G1G484189385 9
1.1.7 Ngày Thế giới phòng chống tự tử 10/9/2012 xe TỶ
1.1.8 Khái niệm về chỉ phí, chỉ phí y l6 ĐI 7-0 ocec-ecExcEaeneesSEoTn-ESIEEE: 12
1.1.9 Chỉ phí trực tiếp điều trị nội rú -secccxcsc+rerrrrerkirertierrkeerrrree 14
1.2 Các nghiên cứu về tự tử trên thế giới và Việt Nam wh] 1.2.1 Các nghiên cứu về tự tử trên thế giới wo LT 1.2.2 Các nghiên cứu về tự tử tại Việt Nam .18 1.3 Các nghiên cứu về chỉ phí, chỉ phí y tẾ - 20 1.3.1 Nghiên cứu chính sách tài chính ở một số nước trên thế giới .- 20 1.3.2 Các phương pháp thường được sử dụng để tính toán chỉ phí bệnh viện 22 33) Che phi y (2 CHa ROAR VI HỆ Dễ toanbpsiiottisciegiiitbisligistis6400534603(05801469898141/a08 23 1.4 Khung ly thuyét sứ
1.5 Giới thiệu tóm tắt địa bàn nghiên cứu . -2- + +++++rs++rx++x+zvxee 25
Chương 2 -e-c-csssncnnhhnnhhhttrttrrrriirerrrrrerrirrrrirrrrriirrrrirrrrdirrrrrirrrridriir 26
ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tương nghiÊ GỮU cá nccceeeieiisasaeeanao 2Ó
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 26 2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu -2©+©++++r+r+rrrrrtr+rrrke 26
2.3 Thiết kế nghiên cứu La CC cốc EhuikeessseinsEieosE Ti eee 26
2.6.2 Thông tin từ phiếu thanh toán ra viện we
26.3, Cac BUC Tata 80 LEW asses orc onstasestessareisnnarmnreomencaatases tae 27
Trang 4
2.7 Các biến số nghiên CỨU: - 2-2 + +x++Exe+EtExrErkerrkerkkrerkerrrerrkrrrrree 27 2.8 Các khái niệm, thước do, tiêu chuẩn đánh giá TIỂU CÓ 2 5 <csczcecee 28 2.9 Phương pháp phân tích SỐ HỆ no nkngnnnnntesnsdkolE 2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu sẽ 2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 29 CƯỜNG 3: su nneesaenncebvoroEvt0A 0025 Ssa08521-x.501 xrlekeekssekgesekseeedsdSeicl8s8i0exesscesefxa co -Tkg 31
KET QUA NGHIEN CUU
3.1 Đặc điểm bệnh nhân tự tử điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa huyện
ĐăkR lấp, tỉnh Đăk Nông giai đoạn 2010-2012: . -c-«ccce+cccresercee 31
3.1.12 Sơ cứu ban đẩẫhu 40
3.2 Chi phí điêu trị nội trú của bệnh nhân tự tử tại Bệnh viện đa khoa huyện ĐăkR ' lấp, tỉnh Đăk Nông giai đoạn 2010-2012 -c-rccerreerrree 42 3.2.1 Chi phí trực tiếp cho điều trị nội trú 42 3.2.2 Chỉ phí trực tiếp cho điều trị nội trú theo nhóm tuổi „.43
3.2.3 Chỉ phí trực tiệp cho điều trị nội trú theo nghề nghiệp - 44
3.2.4 Chỉ phí trực tiếp cho điều trị nội trú theo phương tiện gây tự tử 44 3.2.5 Chỉ phí trực tiếp cho điều trị nội trú theo kết quả điều trị 45 CHHWHE Á c-c c2 -15604212281531163/8636135331S4E/16S05345351444018053.3MIĐA485048388 47
4.1 Đặc điểm bệnh nhân tự tử điều trị nội trú tại Bệnh viện đa khoa huyện
ĐăkR 'lấp, tỉnh Đăk Nông giai đoạn 2010-20 12 c ssccxxecrerreeree 47 BLT, GEOL TIM ssssscscsscesessssrsesssvocvsserssesssvssasaéeess 47
4.1.3 Dân tộc + 3Ơ 4.1.4 Nơi cư trú «51
Mk | 0 THƯỜNG HIỂM KỊ Hi cá dau vosconeenannsutteasenacssnaveneninennsedvvooneesaeionarayearoan] pest 54 4.1.7 Phân loại thuốc, hóa chất thường đùng -ccccccccccccerrrrecee 56
4.1.8 Tình huỗng xung đột xử
l4 1.0 Cúc vận đồ HÃM QIỂN-.ussccsicitix50051146x 3x8 gia shg4g 8316114 054ã380:53ã5138484 8x8878,TGE56 58
A4.1.10 Quan hệ gây lự Hữ <«seeeeieeririeeeiiisisiiaeieesenerasearskeicae 59 4.1.11 Thời gian từ lúc tự tử đến khi vào viện -© ccee©ccceetcccee 60
Trang 54.1.12 Sơ cứu ban dau
4.1.13 Kết quả điều trị
4.2 Chi i phi điêu trị nội trú của bệnh nhân tự tử tại Bệnh viện đa khoa huyện ĐăkR'"lấp, tỉnh Đăk Nông giai đoạn 2010-20 12 -cccseiceerrrrrere 4.2.1 Chỉ phí trực tiếp cho điều trị nội tr ú -cscccesccsrereerrterrserrrrvee 4.2.2 Chi phí trực tiệp điều trị nội trú theo nhóm tuổi -«-c «e- 4.2.3 Chỉ phí trực tiêp điều trị nội trú theo nghề nghiệp
4.2.4 Chi phí trực tiệp điều trị nội trú theo phương tiện tự tử
4.2.5 Chỉ phí trực tiếp điều trị nội trú theo kết quả điều trị
3518679000790 nwvesivsanvescecutedeaviseserinusioeucemmsvnses deals 5.1 Đặc điểm bệnh nhân tự tử điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa huyện
ĐăkR''lấp, tỉnh Đăk Nông giai đoạn 2010-2012 -©ccscsccrveesirreee 69
5.2 Chi phí điều trị nội trú của bệnh nhân tự tử tại bệnh viện đa khoa huyện
ĐăkR'lấp, tỉnh Đăk Nông giai đoạn 2010-2012 . -77ccvecccccrvveerrre 69 4i04518/i0mm ,.ÔỎ 70
Cần thiết tăng cường cảnh báo trong cộng HỒN 6 -hiese cs.-S0E2L S0 EE.000 l5 v2 70
Đối với cộng đồng dân cư và chính quyền địa phương see 10
BEIGE LUC cccstscssseescacevestecety Sucesrseesssnsascacesuen wold Phụ lục 1: Bảng các biến số nghiên cứu 2-2 +z+rxserrxerrkrrrsesrlxrrke 75 Phụ lục 2: Mẫu phiếu thanh toán viện phí điều trị nội trú . s-«e- 78 Phụ lục 3: Mẫu bệnh án thu thập nghiên cứu -¿ + 5< ++cescsxecc«e 80
Trang 6Thanh thiếu niên
Toan tính tự tử Yếu tố liên quan
Tổ chức y tế thế giới
Bảo hiểm y tế
Khám chữa bệnh
Trang 7DANH MUC CAC BANG
Bang 3.1 Phân loại theo giới tính - - <<} xe 31
Bảng 3.2 Phân loại theo nhóm tuổi - - ¿+ 2222222222212 22 22x se 32
Bang 3.3 Phấn loại theo Hơi GỨ THỦ: cái ca 4i sec s20 06 6864404643 Ö)95 104 38 01856578290 155 34 Bảng 3.4 Phân loại theo nghề nghiệp - 2 222cc c+sxccsccesxsc-e.235
Bảng 3.5 Phân loại theo thuốc và hóa chất - ¿+5 223222211 22 38
Bảng 3.6 Phân loại theo tình huống xung đột - 5-5555 55555555 << << 39 Bảng 3.7 Phân loại theo các vấn đề liên quan - c 5552225 ss s2 c+z 40 Hảng 3:8 Phần loại theo quan hệ LỰ LŨ i02 0116165626555686651560/066142sssi 41 Bảng 3.9 Phân loại theo thời sian nhập Vistiise ss cco ssseecesvesesevesesssevssicewen denned 42 Bảng 3.10 Phân loại theo sơ cứu ban HẦU Âu ceiiiiadeosieosstagdelllIỆC: 42 Bảng 3.11 Phân loại theo kết quả điều trị << << <1 scc++++s2 3x2 43
Bảng 3.12 Phân loại theo chỉ phí trực tiếp cho điều trị nội trú - - 44
Bảng 3.13 Phân loại chỉ phí trực tiếp điều trị nội trú theo nhóm tuổi 45
Bảng 3.14 Phân loại chỉ phí trực tiếp điều trị nội trú theo nghề nghiệp 46
Bảng 3.15 Phân loại chi phí trực tiếp điều trị theo phương tiện tự tử 47 Bảng 3.16 Phân loại chi phí trực tiếp theo kết quả điều trị - - «s4 48
Trang 8DANH MUC CAC BIEU DO Biểu đồ 3.1 Phân loại theo dân tộc
Biểu đồ 3.2 Phân loại theo phương tiện tự tử
Trang 9TOM TAT NGHIEN CUU
Hành vi tự tử là một bi kịch của gia đình và của chính từng cá thé, no gay ra những tổn thất nặng nề cho người thân và cộng đồng xung quanh, tốn kém kinh tế
gia đình và xã hội Đề tài tiến hành thực hiện thống kê đặc điểm và chỉ phí trực tiếp điều trị nội trú của bệnh nhân tự tử tại bệnh viện Đề xuất một số giải pháp ngăn
chặn, phòng ngừa tự tử, nâng cao chất lượng cấp cứu và điều trị, cảnh báo xu hướng
tự tử trong cộng đồng
Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả, hồi cứu, kết hợp định lượng, thực
hiện tại Bệnh viện đa khoa huyện ĐăkR' lấp, tỉnh Đăk Nông từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2013 Nghiên cứu định lượng dựa trên thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo
của bệnh viện Thu thập các thông tin liên quan đặc điểm và chỉ phí điều trị nội trú
qua hồ sơ bệnh án lưu từ năm 2010-2012, dựa theo biểu mẫu đã thiết kế sẵn và xử
lý bằng phần mềm excel
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong ba năm 2010-2012 có 62 bệnh nhân tự tử nhập viện cấp cứu và điều trị Nam 61,3%, nhóm tuổi tự tử nhiều nhất 31-55 tuổi,
dân tộc Kinh 75,8%, nơi cư trú chủ yếu ở vùng nông thôn (xã) 61,3%, nghề nghiệp
nông dân 88,7%, phương tiện thường dùng để tự tử là hóa chất bảo vệ thực vật 85,5% Tình huống xung đột gia đình 87,1%, liên quan tình cảm 54,8%, quan hệ vợ
chồng 30,6%, thời gian vào viện trước 2 giờ 75,8%, không sơ cứu ban đầu 77,4%, kết quả điều trị tốt 77,5% Tổng chỉ phí trực tiếp cho điều trị nội trú của bệnh nhân
tự tử 58.208.740 đồng Bình quân chỉ phí thanh toán một bệnh nhân 938.856 đồng Chi phí dùng cho nhóm thuốc, máu, dịch truyền là 44,05% Chỉ phí trực tiếp điều trị nội trú nhóm nghề nghiệp nông dân là 92,57%, nhóm phương tiện tự tử là hóa chất bảo vệ thực vật 91,3% Chỉ phí trực tiếp cho điều trị nội trú của bệnh nhân tự tử cao gấp 2,86 lần bệnh nhân bình thường Ngày điều trị bình quân 2,8 ngày, chuyển viện
11,2%
Từ kết quả nghiên cứu, khuyến nghị cơ bản là cần phải giải quyết tốt các
xung đột xảy ra và quản lý các phương tiện thường dùng để tự tử Đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục trong cộng đồng về tự tử và các nguyên nhân thường gặp,
Trang 10cach phong chống và biện pháp phòng ngừa Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật an toàn, hợp lý, cảnh báo tác hại và nguy cơ lạm dụng hóa chất đề tự tử.
Trang 11hay tìm cách tự tử có nguyên nhân sinh học, tâm lý, xã hội [2] Tự tử là nguyên nhân đứng hạng thứ 10 gây chết người trên toàn thế giới, với khoảng một triệu
người chết do tự tử hàng năm [32] Theo số liệu thống kê năm 2007, thì các vụ tự tử
ở Hoa Kỳ nhiều hơn gấp đôi số vụ giết người và là nguyên nhân gây tử vong xếp hang thir 11 6 Hoa Ky, xép trén ca bénh Gan va bénh Parkinson [31] Theo WHO thì các vụ tự tử ở Trung Quốc, Án Độ, Nhật Bản chiếm khoảng 40% tổng các vụ tự
tử trên thế giới [2] Dự báo của WHO đến năm 2020 tự tử sẽ là nguyên nhân hàng
đầu ở các nước phát triển và hàng thứ hai ở các nước đang phát triển [32]
Ở Việt Nam tự tử trong thanh thiếu niên cũng có xu hướng trẻ hóa và gia
tăng[4] Tỉ lệ các bạn trẻ từng nghỉ đến chuyện tự tử, từng tìm cách kết thúc cuộc đời của mình, da tang cao gấp đôi so với 5 năm trước [3] Nghiên cứu về các trẻ tự
tử, thực hiện tại khoa cấp cứu bệnh viện Nhi Đồng I Thành phố Hồ Chí Minh của
Bùi Quốc Thắng và cộng sự [25] Cho thấy tỉ lệ trẻ em nữ tự tử nhiều hơn trẻ em nam 60%, phần lớn sống với cha mẹ 88%, 90% nguyên nhân do xung đột gia đình
và hóa chất là phương tiện dùng để tự tử phổ biến nhất Khảo sát tình hình bệnh nhân có hành vi tự tử, điều trị tại Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương năm 2007-2008
của Phạm Anh Tuấn[28] Hành vi tự tử thường gặp ở nữ nhiều hơn nam, độ tuổi
thường dưới 25 tuổi, xảy ra nội thành nhiều hơn ngoại thành, đối tượng là công nhân học sinh sinh viên nhiều hơn đối tượng khác Trong các mâu thuẫn dẫn đến tự
tử thì yếu tố tình cảm và mâu thuẫn vợ chồng chiếm tỷ lệ cao nhất, phương tiện thường dùng là thuốc an thần và thuốc bảo vệ thực vật [28]
Hiện nay đã ra đời đường dây phòng chống tự tử, do Trung tâm tư vấn tâm lý
tình cảm Linh Tâm phối hợp với Trung tâm phòng chống khủng hoảng tâm lý lấy
ngày 10 tháng 9 là ngày phòng chống tự tử [9]
Tại Bệnh viện đa khoa huyện DakR’ lap, tình hình bệnh nhân tự tử vào cấp cứu và điều trị những năm gần đây tăng cao [22] Nam giới chiếm 2/3 so với nữ
giới, độ tuổi cao nhất từ 19 đến 55 tuổi, làm nông nghiệp, ở các địa phương vùng
nông thôn, vùng sâu Thời gian phát hiện và nhập viện điều trị thường từ 1 đến 2
Trang 12một tỉ lệ thấp bệnh nặng chuyển tuyến trên Chỉ phí điều trị nội trú cao, hồi cứu thực
tế từ phiếu thanh toán viện phí khi ra viện Là bệnh tự hủy hoại bản thân nên trực tiếp do người bệnh và người nhà chi trả viện phí
Là bệnh viện trung tâm của hai huyện mới tách, phục vụ khám chữa bệnh cho trên 100.000 đân Cộng đồng dân cư sử dụng một lượng lớn thuốc hóa chất bảo
vệ thực vật trong nông nghiệp Hệ thống phân phối nhỏ lẻ, tàng trữ tại nhà, lạm dụng làm phương tiện cho tự tử
Bệnh viện chưa có nghiên cứu khoa học nào về đề tài tự tử, để nâng cao hiệu quả cấp cứu và điều trị, cảnh báo và ngăn ngừa hành vi tự tử trong cộng đồng
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm và chỉ phí của bệnh nhân
tự tử điều trị nội trú tại Bệnh viện Da khoa Huyện ĐăkR 'lấp, Tỉnh Đăk Nông
giai đoạn 2010-2012 ”
Trang 13huyện ĐăkR' lấp, tỉnh Đăk Nông giai đoạn 2010-2012
2 Phân tích chỉ phí điều trị nội trú của bệnh nhân tự tử tại Bệnh viện giai đoạn 2010-2012.
Trang 141.1 Các khái niệm, thuật ngữ và một số kiến thức chung liên quan đến tự tử
1.1.1 Khái niệm về tự tử
Tự tử là tự giết hại chính mình[2] Suicide, tự tử là một hiện tượng phức tạp, hành động tự tử và những người có ý định hay tìm cách tự tử có nguyên nhân sinh học, tâm lý, xã hội Tự tử là một phản ứng với các tình huống bi kịch cuộc sống căng thang và tất cả những bi kịch hơn vì tự tử có thể được ngăn chặn Hành vi tự tử theo định nghĩa của WHO bao gồm 3 thành phẩn[2] : Ý tưởng tự sát chỉ thể hiện
trong ý nghĩ , toan tính tự sát có hành vi để tự tử nhưng không thành công, tự sát có hành vi tự tử đi đến tử vong Tự tử được coi là hành động nhằm giải tỏa những bế tắc, chấn động lớn, những stress mà con người không đủ sức tỉnh táo để phân giải
và vượt qua[9] Vấn đề tự tử là hậu quả của nhiều yếu tố liên quan đến văn hóa và
xã hội phức tạp, nó đặc biệt xảy ra trong những giai đoạn có nhiều biến đổi về kinh
tế, xã hội cũng như những tình huống khủng hoảng cá nhân, thất tình, mắt việc làm,
xung đột tình cảm
Tự sát và tự tử khác nhau, mặc dù cả hai đều mang nghĩa tự hủy hoại sinh mạng bản thân, tự sát có nghĩa rộng hơn tự tử[2] Tự sát còn có thể với mục đích hủy hoại sinh mạng khác, hoặc phá hoại các vật chất khác và việc gây tốn hại đến
các đối tượng đó có thể mới là mục đích chính của hành vi tự sát Tự sát có vẻ như
mang hàm nghĩa tự giết bằng hung khí như dao, súng, chất nỗ, tự thiêu Tự sát là giết chính mình kèm theo cái chết của người khác hoặc phá hoại một cái gì đó
thường ồn ào, táo bạo, gây nhiều sự chú ý
Trang 15Phương tiện được sử dụng để toan tính tự tử như treo cổ, hỏa khí, uống thuốc độc, tai nạn cũng là toan tính tự tử như lái xe hơi tốc độ cao đâm vào chướng ngại vật, đi bộ lao vào xe hơi hoặc xe máy đang chạy nhanh
Những yếu tố nguy cơ như tuổi tác, giới tính, tình trạng hôn nhân, hỗ trợ xã
hội, bệnh tật, bệnh sử trong gia đình, nguy cơ tự tử và khả năng cứu sống, lợi lộc do
hành vi tự tử, bản chất của các bệnh tâm thần, tình cảm và các kế hoạch tương lai
của toan tính tự tử Nguy cơ cao nhất xảy ra ở những người không bao giờ lập gia
đình, mức độ giảm dần như góa chồng, goa vg, ly than, ly dị, và kết hôn[9]
Có quan hệ giữa bệnh tật và nguy cơ tự tử: Các bệnh nhân nội khoa đặc biệt gây đau đớn và nan y có thể tìm lối thoát qua tự tử Các bệnh không phải tâm thần
thông thường liên kết với tự tử là các bệnh mãn tính như ung thư, bệnh phổi tắc
nghẽn mãn tính, bệnh HIV/AISD có tỷ lệ tự tử cao hơn so với tỷ lệ trung bình[9]
Ý nghĩa việc đánh giá thái độ và cảm xúc của bệnh nhân tự tử: Bệnh nhân có
vẻ như kiệt sức, không nơi nương tựa, vô vọng, hoặc đơn độc thường có nguy cơ tự
tử cao Bệnh nhân toan tính tự tử vì tức giận, hoặc trong cố gắng tìm cách phục thù thường có tiên lượng tốt hơn so với bệnh nhân trầm tĩnh, buồn rầu, mệt mỏi hoặc vô cảm
1.1.3 Triệu chứng và nguyên nhân tự tử
Các triệu chứng: Tự tử, dấu hiệu cảnh báo hoặc suy nghĩ tự tử bao gồm nói
về tự tử chẳng hạn như tôi sẻ giết bản thân mình, tôi ước gì tôi đã chết, tôi ước tôi
đã không được sinh ra Giữ phương tiện để tự tử như thuốc an thần, thuốc bảo vệ
thực vật Rút khỏi liên hệ xã hội và muốn ở lại một mình, có tính khí thất thường
như chán nản, vô vọng, u uất, đang bận tâm với cái chết hoặc bạo lực Thay đổi thói quen hàng ngày, làm nguy hiểm hoặc phá hủy những thứ tự như sử dụng thuốc hoặc
lái xe bất cân, cho đi đồ dùng, nói lời tạm biệt với mọi người, phát triển nhân cách
thay đổi trở nên nhút nhát Những dấu hiệu cảnh báo không phải luôn luôn rõ ràng, thường khác nhau, một số người thực hiện ý định của họ rõ ràng, một số người giữ
bí mật những suy nghĩ tự sát và cảm xúc[2]
Trang 16những gì có vẻ là một tình huống áp đảo Những tình huống này có thể bao gồm các vấn đề tài chính, cái chết của người thân yêu, chia tay một mối quan hệ hay bệnh tật suy nhược Nếu không có hy vọng cho tương lai, nhằm lẫn có thể nghĩ rằng tự tử là
một giải pháp, có thể trải nghiệm một loại tầm nhìn đường hầm, nơi ở giữa cuộc
khủng hoảng tin rằng tự tử là lối thoát duy nhất[9]
Yếu tố nguy cơ: Nghiên cứu những người đã tự tử, có rất nhiều yếu tố làm cho họ phải tự tử như không có việc làm, ly di, suy sup tinh than không thể chịu đựng được, lo lắng kéo dài, bỉ quan tuyệt vọng, ý nghĩ hẹp hòi Hẹp hòi trong tư tưởng, hoặc ý nghĩ chai sạn là một trong những dạng thường gặp nhất, tuyệt vọng
cô đơn, không còn hy vọng vào bất kỳ điều gì trên đời này nữa Bệnh tâm thần,
khoảng 90% người tự tử mắc chứng rối loạn tâm thần[9], thường là trầm cảm và rối loạn tâm thần phân liệt Tính hai mặt, người tự tử trong thâm tâm họ vừa muốn sống
và cũng muốn chết Những người dễ bị tổn thương trong tình cảm, có những ý kiến tiêu cực, không còn tin tưởng vào bản thân mình
Các biến chứng: Tự sát và ý nghĩ tự tử có nhiều biến chứng tiềm năng, rõ ràng và bi kịch tất nhiên là sự chết[9] Trong khi cố gắng tự tử là hành vi bốc đồng nhiều trong một thời điểm của cuộc khủng hoảng, có thể để lại với những chấn thương nghiêm trọng hoặc suy nhược thường xuyên như suy nhược đa phủ tạng, tốn
thương não Đối với những người bỏ lại sau khi tự sát, người được biết đến như là
nạn nhân tự tử, đau buồn, tức giận, trầm cảm và tội lỗi rất phổ biến
Phương pháp điều trị: Với tình huống khẩn cấp[9], nếu đã thực hiện cố gắng
tự tử cần phải đi ngay đến phòng cấp cứu Tại phòng cấp cứu có thể cần điều trị y tế cho bất cứ điều gì tổn thương có thể gây ra cho mình, sẻ cần có một ai đó hồ trợ,
giám sát khi nó thiết lập rõ ràng các mối nguy hiểm ngay lập tức tự sát đã qua, lưu
giữ bệnh nhân đến khi tinh thần ỗn định hoàn toàn Với tình huống không khẩn cấp
có thể cần điều trị ngoại trú gồm tâm lý trị liệu, thuốc, điều trị nghiện, hỗ trợ gia ; đình và giáo dục
Trang 17Theo những số liệu thống kê về tỷ lệ tự tử chung của thế giới tuổi từ 12-15 là
97-131 người/100.000 dân, nhóm tuổi từ 16-20 là 277-341 người/100.000 dân, tỷ lệ
này đang có xu hướng gia tăng và trẻ tuổi hóa[32] Ở Việt Nam tự tử trong thanh
thiếu niên cũng có xu hướng trẻ hóa và gia tăng[4].[24] Qua các phương tiện truyền thông đại chúng gần đây, chúng ta từng biết đến những vụ tự tử hết sức thương tâm
của các em học sinh vì những lý do không đáng như thi trượt đại học, bị bố mẹ mắng, bị phát hiện quay cóp hay do ng nan
Trước hết dưới góc độ sinh học[4], phải xác định rằng lứa tuổi thanh thiếu
niên 12-18 tuổi, là giai đoạn trong đó tính độc lập của trẻ thay thế tình trạng phụ thuộc vào cha mẹ và những người lớn khác Sợi dây ràng buộc với gia đình trở nên giãn ra do thanh thiếu niên dành nhiều thời gian hơn cho cuộc sống bên ngoài tổ ấm gia đình Các em có nhu cầu muốn có tình bạn thân thiết, muốn được bạn bè cùng trang lứa chấp nhận và tán thưởng ngày càng lớn Trong giai đoạn này các em có những sự biến đổi lớn về sinh học và cơ thể nên rất nhạy cảm và để bị tổn thương Nhận thức về các vấn đề về xã hội cũng sâu sắc hơn nên thích tranh cãi, phản kháng người lớn, khi phát hiện ra khiếm khuyết các em dễ trở nên thất vọng Những đặc điểm trên của lứa tuổi khiến cho nguy cơ tự tử của thanh thiếu niên ngày càng có xu hướng gia tăng
Các nhà xã hội học cho rằng[4] mỗi chúng ta đều thuộc về một nhóm xã hội
nào đó và chúng ta luôn có nhu cầu được mọi người trong nhóm chấp nhận những giá trị của mình Đặc biệt trong giai đoạn thanh thiếu niên, nhu cầu được người khác
chấp nhận và tán dashes rất lớn, một đứa trẻ thà hy sinh cuộc sống chứ không chịu
chấp nhận sự chối bỏ và chê bai của người khác Ngược lại một số em khác thu hút
sự tán thưởng của người khác bằng chính hành vi tự tử của mình, đó chính là tự tử
hàng loạt do bắt chước nhau
Áp lực xã hội cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tự tử[3], có thể nói hiện
nay thanh thiếu niên chịu rất nhiều áp lực xã hội trong đó áp lực nặng nè nhất có lẽ
là áp lực học tập Trong một môi trường đầy áp lực, với tính cách dễ bị tổn thương của lứa tuổi, mỗi sự kiện gây khó chịu từ nhẹ đên mạnh qua cách nhìn của các em
Trang 18bị bố mẹ đánh mắng, bố mẹ không quan tâm
Các nhà Tâm lý học[9], khi xem xét tự tử thường nhắn mạnh đến yếu tố nhân
cách của cá nhân, họ cho rằng các em tự tử thường có quan điểm niềm tin, suy nghĩ lệch lạc về thế giới và chính nó đã tạo nên ở các em những xúc cảm tiêu cực dẫn
đến những hành vi tiêu cực
Quan điểm của các nhà Y học thì cho rằng, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
việc tự tử là do bệnh trầm cảm Theo các số liệu thống kê thì có tới 2/3 số người tự
tử bị trầm cảm[9] Những trẻ trầm cảm thường có khí chất khó khăn, khó thích nghỉ, trầm buồn, có tính lệ thuộc cao và có khuynh hướng dễ bị suy sụp sau sự kiện bất
lợi như bị từ chối, hắt hủi hay thất bại Bệnh cơ thể cũng là một yếu tố đi kèm
thường gặp của tự sát như mắc bệnh nan y, bệnh mãn tính đau nhiều khó chữa trị, HIV/AIDS
Theo quan điểm của các nhà Giáo dục[9], thì nguyên nhân gây ra tự tử là do
sự thiếu hụt các kỹ năng xã hội, kỹ năng giải quyết vấn đề Đứng trước một vấn đề mâu thuân khó khăn, do không có kỹ năng giải quyết vấn đề nên các em trở nên bế tắc Các em lại không có kỹ năng xã hội nên không thể huy động các nguồn trợ giúp Sự bế tắc và cô đơn cùng cực trong giai đoạn khủng hoảng của lứa tuổi này góp phần làm nguy cơ tự tử tăng cao
Vậy chúng ta phải làm gì, đây là một vấn đề lớn và chúng ta không thẻ giải
quyết nó một cách đơn độc, cần có sự vào cuộc của các ban ngành cũng như sự kết hợp chuyên môn chặt chẻ của các nhà giáo dục học- y học — tâm lý học ở trường
học Đối với mỗi phụ huynh cần có thái độ nghiêm túc khi xem xét vấn đề này, hãy tìm hiểu về sự phát triển tâm lý lứa tuổi và quan tâm chăm sóc sức khỏe tỉnh thần của con em mình Tìm cách loại trừ tối đa các áp lực xã hội cũng như trang bị cách nhìn nhận các vấn đề xã hội một cách đúng đắn, kỹ năng đương đầu và giải quyết các vấn đề khó khăn Hãy theo đỏi các biểu hiện tâm lý của con em mình, khi cảm thấy có điều gì bất thường, hãy liên lạc ngay với các bác sỹ hoặc nhà tâm lý
Trang 19Hồ Chí Minh) thì nguyên nhân khiến người ta tìm đến cái chết là do bệnh trầm cảm,
đây là loại rối loạn sắc khí thường gặp trong tâm thần học Có thể xảy ra ở nhiều lứa
tuôi nhưng phổ biến nhất là 15-30 tuổi, phụ nữ nhiều hơn nam{9]
The WHO, bệnh trầm cảm cướp đi mỗi năm trung bình 850.000 mạng người
Ước tính có khoảng 3%-5% dân số thế giới có rối loạn trầm cảm rỏ rệt, hai nguyên
nhân dẫn đến trầm cảm là do bệnh lý và tâm lý[32] Bệnh lý thường là những người
đang hoặc đã mắc các bệnh về loạn thần, người bệnh thường ở trong trạng thái ảo thanh và hoang tưởng, họ thường nghe văng vắng bên tai lời xúi dục tìm cách chết
Còn nguyên nhân tự tử do tâm lý chiếm phần lớn Theo Thụy Vy áp lực cuộc sống,
những cú sốc đầu đời, gia đình bất ổn,áp lực học tập, thi cử, yêu đương hoặc bị ảnh
hưởng bởi game online khiến cho các em hoang mang lo lắng, tâm lý bất ổn
Mỗi bệnh trầm cảm[9] có những biểu hiện khác nhau, người thì mất hứng thú
và niềm vui trong sinh hoạt hàng ngày, thường xuyên biểu lộ trạng thái buồn bã hay
vô vọng hoặc những cơn khóc nức nở Tuy nhiên không phải ai cũng biểu lộ cảm xúc giống nhau, có nhiều người lại che giấu cảm xúc thực của mình Người trầm cảm thường có những triệu chứng như ngũ nhiều hay ít hơn bình thường, tư duy không rõ ràng hay mắt tập trung, dễ cáu gắt hay nổi nóng khi nào cũng mệt mỏi, cử động chậm chạp, ít chăm sóc bản thân, đoạn giao với bạn bè hay những thành viên trong gia đình Cảm giác bản thân mình vô dụng, tuyệt vọng thường xuyên nghĩ đến cái chết
1.1.6 Cách phòng ngừa tự tử
Các yếu tố như mất việc làm, mắt người thân yêu, ly dị tác động rất nhiều đến tự tử, người có gia đình ít tự tử hơn người độc thân, người ly dị, góa bụa Người
cô đơn tự tử nhiều hơn người sống có gắn bó với người thân[11] Với cộng đồng, tự
tử diễn ra ở các cộng đồng có nền văn hóa khác nhau, sự thay đổi về kinh tế và thời điểm biến chuyển đặc biệt cũng làm tăng tỉ lệ tự tử Các phương tiện có thể dùng làm phương tiện tự tử không được quản lý như thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, các
Trang 20loại thuốc an thần, giảm đau, hạ sốt Thanh thiếu niên bị lạm dụng tình dục, lạm
dụng ma túy, người già sa sút tâm thần cô đơn, đều có nguy cơ tự tử cao[ 16]
Nhưng có dấu hiệu bất thường[16][1 1], tự tử diễn ra trước hết là có ý định
mưu toan tự tử Thứ hai là có điệu bộ ám chỉ muốn tự tử một cách bất thường với các hành vi như khóc lóc kêu gọi giúp đở, đánh động chú ý Thứ ba là có hành động
mạo hiểm, hành động thách thức như khi uống thuốc nhưng tin rằng thân nhân sẻ
biết hoặc hiện diện trước khi cái chết xảy ra, người bệnh thách thức và nghĩ rằng họ
sẻ được cứu sống kịp thời Cuối cùng là người bệnh trở lại xem phản ứng của người
thân, được chăm sóc gì, người thân biết lỗi về cách cư xử gây ra ý định tự tử chưa, đây được xem là lời kêu gọi, vòi vĩnh giúp đở gián tiếp
Các nhà nghiên cứu cho rằng tiến trình tự tử thường diễn ra tương tự, nhưng
có thể quá nhanh ở bệnh nhân này và chậm ở bệnh nhân khác, vấn đề là các yếu tố
nguy cơ dẫn đến tự tử tương ứng với sự trằm trọng của ý định và mưu toan tự tử
Và phòng ngừa được[9][20], khi nhận được thông tin một người nhảy cầu cao, sông sâu, treo cổ, nhây lầu, uống thuốc quá liều, uống thuốc diệt ray, người lên rừng ăn lá ngón Chúng ta lầm tưởng họ bình thường nhưng sự thật hoàn toàn ngược lại, chắc chắn họ có các biểu hiện hoạt động tâm lý, tâm thần bất thường Nửa tháng trước khi tự tử có khoảng 20% trường hợp chưa kịp đến với bác sĩ, với
các chuyên viên tâm lý xã hội, gần 80% người tự tử đã đến mà bác sĩ không phát
hiện duge[20]
Khả năng đánh giá đầy đủ nguy cơ tự tử càng cao của các giới chuyên môn
thì khả năng giành lại cuộc sống cho người bệnh càng nhiều Vấn đề phòng chống
tự tử được đặt ra trước hết cho các bác sĩ chuyên khoa tâm thần, các chuyên viên
tâm lý, các đoàn thể và cả xã hội Hầu hết các nước đều có tổ chức nghiên cứu,
phòng chống tự tử hoạt động theo một số qui định chuyên môn nghiệp vụ nhất định,
đây thật sự là một nhu cầu cấp bách cần sự quan tâm của mọi người.
Trang 211.1.7 Ngày Thế giới phòng chống tự tử I0/9/2012
'
t
it
Phòng chống tự tử trên toàn cầu, tăng cường các yếu tô bảo vệ và thắm
nhuần hy vọng[34] Tự tử là một vân đề phức tạp liên quan đến các yếu tố tâm lý,
xã hội, sinh học, văn hóa và môi trường Các chiến lược liên quan đến việc hạn chế tiếp cận với các biện pháp tự tử phổ biến, chẳng hạn như quản lý chặt chẻ súng đạn, chất độc, thuốc trừ sâu Tuy nhiên cân phải áp dụng các phương pháp tiếp cận đa ngành với nhiều cấp độ can thiệp và hoạt động Trên Thế giới, công tác phòng chống tự tử chưa được thực hiện đây đủ, chủ yếu do nhận thức của mọi người chưa
coi tự tử là một vấn đề lớn[3] Công tác phòng chống tự tử đòi hỏi phải có sự can
thiệp bên ngoài ngành y tế và phải có một cách tiếp cận sáng tạo, đa ngành, toàn diện bao gồm cả ngành y tế và các bộ ngành khác như giáo dục, lao động, cảnh sát, hành pháp, tư pháp, tôn giáo , chính trị và kế cả các phương tiện truyền thông đại chúng Ngày thế giới phòng chống tự tử được hiệp hội phòng chống tự tử Quốc tế
phối hợp với tỗ chức y tế thé giới tổ chức vào ngày 10/9 hàng năm nhằm thúc đây
cam kết và hành động trên toàn thế giới ngăn chặn các vụ tự tử.
Trang 221.1.8 Khái niệm về chỉ phí, chỉ phí y tế
Chỉ phí: Chi phí là nguồn lực được sử dụng trong một trường hợp cụ thể để thực hiện một hoạt động nào đó[31] Trong lĩnh vực y tế, chỉ phí là giá trị của nguồn lực được sử dụng để tạo ra một dịch vụ y tế như một chương trình y tế hoặc một lần khám sức khỏe cộng đồng
Chỉ phí y tế: Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, có thể số tiền chi tra của người sử dụng dịch vụ y tế thấp hơn thực tế tổng chỉ phí tạo ra dịch vụ y tế đó Điều
đó có nghĩa là “giá” mà người tiêu dùng phải trả thấp hơn chỉ phí người sản xuất tạo
ra dịch vụ y tế[23] Ở Việt Nam, khi đến khám chữa bệnh tại các bệnh viện công,
người bệnh phải trả viện phí Đó mới chỉ là một phần chứ không phải toàn bộ chỉ phí tạo nên dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà người bệnh nhận được từ bệnh viện Phần còn lại do nhà nước hoặc các cơ chế chỉ trả trước chỉ trả
Chi phí y tế bao gồm chi phí trực tiếp như khám, chữa bệnh, nằm viện, mua thuốc, xét nghiệm và các chỉ phí gián tiếp như đi lại, ăn ở của bệnh nhân và người nhà, các khoản khác
Chi phi cho các dịch vụ y tế không chỉ là yếu tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định sử dụng dịch vụ và lựa chọn cơ sở y tế mà còn ảnh hưởng đến mức độ nghèo đói của nhân dân Chỉ phí y tế có liên quan mật thiết đến sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe Gánh nặng chỉ phí y tế là nguyên nhân hàng đầu làm cho những người có mức thu nhập thấp không tiếp cận được với những dịch vụ y tế có chất lượng cao
Chi phí khám chữa bệnh là các'chi phí do người dân phải chỉ trả cho một đợt
điều trị bao gồm: Chi phí khám bệnh, chi phí cho các chấn đoán cận lâm sang, chi phí mua thuốc điều trị, chi phí đi lại, ăn ở Chi phí khám chữa bệnh trực tiếp là
những chỉ phí bao gồm phí khám chữa bệnh, nằm viện, mua thuốc, xét nghiệm
Viện phí: Viện phí là một phần chỉ phí cho việc khám chữa bệnh, được tính
theo dịch vụ đối với người bệnh ngoại trú và theo ngày giường điều trị đối với người bệnh nội trú Một phần viện phí chủ yếu là chi phi trực tiếp cho người bệnh
như thuốc, xét nghiệm, vật tư tiêu hao, ngày giường điều trị Viện phí chưa bao gồm công lao động, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phi điện, nước, nhiên liệu
Trang 23Giá viện phí đầy đủ bao gồm các yếu tố:
(1) Khấu hao nhà cửa, máy móc, thiết bị y tế sử dụng cho khám chữa bệnh
(2) Chi phí nghiên cứu khoa học, đào tạo phục vụ trực tiếp cho khám chữa
bệnh
(3) Chỉ phí sửa chữa, duy tu nhà cửa, máy móc và thiết bị
(4) Chi phí hậu cần phục vụ cho khám chữa bệnh (bao gồm chi phí điện, nước, xăng, dầu, văn phòng phẩm, quản lý phí)
(5) Tiền lương, tiền công và phụ cấp cho cán bộ nhân viên y tế
(6) Các chỉ phí trực tiếp sử dụng cho người bệnh như: thuốc, máu, dịch
truyền, vật tư y tế tiêu hao
Chỉ phí viện phí: Chi phí (giá thành) là toàn bộ chi phí mà cơ sở cung cấp dich vụ phải bỏ ra đề chỉ trả cho công nhân, vật tư thiết bị nhà xưởng, phí quản lý hành chính , để có thể cung cấp một dịch vụ nào đó[23] Theo định nghĩa của các
nhà kinh tế học, chỉ phí là giá trị của các nguồn nhân lực, vật lực để sản xuất một
sản phẩm nào đó bao gồm một dịch vụ y tế cụ thể hay một nhóm các dịch vụ y
tế[31]
Phí khám chữa bệnh hay viện phí, là các khoản cơ sở khám chữa bệnh thu của bệnh nhân khi cung cấp các dịch vụ y tế cho họ, để bù dap mt phần hoặc toàn
bộ các chi phí mà đơn vị đó đã sử dụng để vận hành mọi hoạt động của cơ sở
Thuật ngữ phí khám chữa bệnh hay viện phí, là những thuật ngữ rất phổ biến
của một phương pháp thanh toán, đây cũng là một trong những công cụ cơ bản của
tài chính y tế Nhà cung cấp dịch vụ y tế nhận được tiền chỉ trả cho mỗi hoạt động
khám chữa bệnh và sản phẩm/dịch vụ y tế mà họ cung cấp cho người bệnh Phi này chi cho khám bệnh, thuốc, vật tư tiêu hao, và các xét nghiệm chẩn đoán, hoặc chi trả cho tất cả các khoản mục[23]
Hiện nay viện phí vẫn chưa được tính đủ mà chỉ tính được một phần chi phí
y tế Nếu được tính đủ tất cả các yếu tố cần khấu hao thì giá thành viện phí còn cao
hơn nhiều, nhất là khi áp dụng các kỹ thuật công nghệ hiện đại để phục vụ cho việc
khám chữa bệnh
Trang 24Các nội dung cơ bản của viện phí bao gồm: Dịch vụ khám bệnh, chẩn đoán,
dịch vụ điều trị ngoại trú, dịch vụ điều trị nội trú, dịch vụ buồng bệnh, dịch vụ sinh
hoạt khác, chi phi về thuốc, vật tư tiêu hao để phục vụ cho điều trị
Chế độ viện phí đang áp dụng:
Từ năm 1989 đến nay, các bệnh viện công ở nước ta đang áp dụng chế độ thu viện phí theo nguyên tắc chỉ thu một phần chỉ phí thực tế, với các nội dung thu cơ bản do Chính phủ qui dinh[1]
Với bệnh nhân ngoại trú: thu theo biểu giá (một phần chỉ phí thực tế) đối với các dịch vụ khám, chân đoán xét nghiệm, thủ thuật điều trị ngoại trú mà bệnh nhân
đã sử dụng, được tính theo chuyên khoa và từng tuyến điều trị cộng với chi phí thực
tế về thuốc, dịch truyền, vật tư y tế mà bệnh nhân đã được bệnh viện cung cấp
Với bệnh nhân nội trú: thu theo biểu giá tính theo số ngày điều trị nội trú của
bệnh nhân, được tính theo các mức khác nhau của từng chuyên khoa và từng tuyến điều trị, cộng với chỉ phí thực tế về thuốc, máu, dịch truyền, vật tư y tế được bệnh viện cung cấp
Còn có các qui định về miễn, giảm một phần viện phí cho bệnh nhân nghèo, chế độ chính sách Trích thưởng từ nguồn thu viện phí cho cán bộ y tế trực tiếp phục vụ người bệnh
1.1.9 Chỉ phí trực tiếp điều trị nội trú
Chi phí cho người sử dụng các dịch vụ y tế phải gánh chịu, là số tiền mà
bệnh nhân phải chỉ trả cho điều trị bệnh, đi lại, ăn uống Những chỉ phí này sẽ được phân chia thành chỉ phí trực tiếp cho điều trị và chỉ phí trực tiếp không cho điều trị
Chỉ phí trực tiếp cho điều trị bao gồm:
- _ Chỉ phí giá một lần khám bệnh x số lần khám bệnh
- _ Chi phí giường bệnh/ngày x số ngày nằm viện
- _ Chỉ phí thuốc sử dụng trong thời gian bệnh nhân điều trị
- Chi phi can lâm sàng như xét nghiệm, X quang, siêu âm Tổng số tiền chỉ
cho các kỹ thuật cận lâm sàng trong đợt điều trị
- Chi phi cho vật tư y tế
- Chi phi cho vật lý trị liệu, phục hồi chức năng.
Trang 25- _ Các dịch vụ điều trị theo yêu cầu
Chỉ tiết về một số loại chỉ phí điều trị nội trú
Chi phí buồng bệnh là chỉ phí giường lưu cho mỗi ngày điều trị, bao gồm
dịch vụ điều đưỡng 24/24 giờ, dịch vụ ăn uống, vệ sinh, sinh hoạt và các tiện nghỉ
sử dụng trong buồng bệnh
Chi phí chăm sóc, bao gồm các chỉ phí cho dịch vụ chăm sóc y tế bởi bác sỹ
điều trị và y tá, điều dưỡng phục vụ tại buồng bệnh Chỉ phí này được tính theo ngày điều trị cụ thể tại bệnh viện và tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của người
bệnh, như hồi sức cấp cứu, nội, ngoại phẫu thuật
Các chi phí liên quan đến phẫu thuật, thủ thuật, chẩn đoán, thuốc, dịch
truyền, máu, dụng cụ sử dụng và phí khám bác sỹ chuyên khoa, sẽ được tính vào hóa đơn thanh toán Để đảm bảo tính công khai, giá dịch vụ và vật tư được tính riêng từng khoản Hóa đơn thanh toán ghi riêng cho phần khám bệnh và từng hạng
mục chân đoán bằng xét nghiệm, hình ảnh, thuốc và vật tư khác Giá phẫu thuật, thủ
thuật bao gồm toàn bộ chi phí dịch vụ mổ, chỉ phí khám gây mê trước mổ, lần hẹn tái khám, nhưng không bao gồm tiền lưu viện, tiền thuốc và các điều trị khác trong thời gian lưu viện
Chi phi thuốc men, là chi phi cho các loại thuốc sử dụng trong suốt quá trình
điều trị tại bệnh viện, ngoài ra còn có các chỉ phí khác như chỉ phí hội chuẩn, chụp chiếu phát sinh trong quá trình điều trị
Tóm lại chỉ phí trực tiếp cho điều trị nội trú = chỉ phí khám bệnh + chi phi
giường bệnh + chi phi thuốc + chi phí cận lâm sàng + chỉ phí cho vật tư y tế + chỉ phí cho vật lý trị liệu, phục hồi chức năng + các dịch vụ điều trị theo yêu cầu
Chi phi trực tiếp không cho điều trị bao gồm: Chỉ phí đi lại, chỉ phí ăn uống
cho bệnh nhân và người nhà, chi phí khác phục vụ cho sinh hoạt bệnh nhân và người nhà trong thời gian nằm viện như lưu trú, van chuyén Chi phí này không thực hiện trong nội dung nghiên cứu
Viện phí là khái niệm riêng của Việt Nam và một số nước trong quá trình
chuyển đổi nền kinh tế[26] Viện phí là hình thức chỉ trả trực tiếp các chỉ phí khám
Trang 26chữa bệnh tại thời điểm người bệnh sử dụng dịch vụ y tế hay nói cách khác là khoản
phí mà người bệnh phải trả từ tiền túi của mình khi sử dụng dịch vụ y tế
Chi phí mà các cơ sở khám chữa bệnh, thu của người sử dụng dịch vụ y tế, hay thanh toán với BHYT hiện nay ở Việt Nam chỉ là một phần viện phí được qui
định theo Nghị định 95/CP ngày 27/8/1994 của Chính Phủ| 13]
Một phần viện phí là một phần trong tổng chỉ phí cho việc khám chữa bệnh
Một phần viện phí chỉ tính tiền thuốc, máu, dịch truyền, hóa chất, xét nghiệm, phim
X Quang, vật tư tiêu hao thiết yếu và dịch vụ khám chữa bệnh; không tính khấu hao
tài sản cố định, chỉ phí sửa chửa thường xuyên, ch phí hành chính, đào tạo, nghiên cứu khoa học, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị lớn
Đối với người bệnh nội trú, biểu giá thu một phần viện phí được tính theo
ngày giường điều trị nội trú, của từng chuyên khoa theo phân hạng bệnh viện và các khoản chỉ phí thực tế sử dụng trực tiếp cho người bệnh bao gồm: tiền thuốc, máu, dịch truyền, xét nghiệm thăm dò chức năng, thủ thuật và phẫu thuật, vật tư tiêu hao
( qui định tại thông tư liên bộ số 14/TTLB của Bộ Y tế và Bộ Tài chính)
Hiện nay viện phí được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình chung theo
Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 29/02/2012 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính[ 10], ban hành mức tối đa khung giá một số dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
trong các cơ sở khám bệnh chữa bệnh của nhà nước
Bệnh nhân tự tử là tự hủy hoại bản thân, không phải là căn bệnh, nên không được chỉ trả các chế độ như BHYT, mà trực tiếp thanh toán viện phí khi nằm viện.
Trang 27
1.2 Các nghiên cứu về tự tử trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Các nghiên cứu về tự tử trên thế giới
Bản đồ thế giới về tỷ lệ số ca tự tử/100.000 dân (Theo số liệu năm 201 1)
Theo một nghiên cứu đăng trên tạp chí Lancet ngày 5/11/2012 từ năm 2007
số bệnh nhân tử vong do tự tử đã tăng 4 lần, chỉ riêng tại Vương quốc Anh đã có khoảng 1.000 người chết trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế[32] Tiến sỹ Aaron Reeves Trường Đại học Cambridge (Anh), trưởng nhóm nghiên cứu cho biết, nghiên cứu này bổ sung cho các sô liệu của các nghiên cứu trước ở Châu âu
Suy thoái kinh tế tại các nước thuộc liên hiệp Châu âu, đã và đang gây ra một hậu quả chưa từng có và khó lường, đó là nạn tự tử do chán đời, tuyệt vọng vì thất
nghiệp Cuộc điều tra cho biết suy thoái kinh tế trầm trọng, thất nghiệp tăng cao và
các biện pháp thắt lưng buộc bụng đã đẩy hơn 1000 người Anh vào cảnh tự tử Tham cảnh này cũng xảy ra ở nhiều nước Châu âu khác như Hy lạp, Ireland với tỷ
lệ tăng hàng năm rất khủng khiếp
Theo kết quả điều tra từ năm 2008-2010 toàn nước Anh có 846 nam giới và
155 phụ nữ tự tử vì thất nghiệp, từ năm 2000-2010 tỉ lệ thất nghiệp hằng năm tăng
10%, gây hậu quả tỉ lệ nam giới tự tử tăng 1,4%[33], riêng năm 2010 số vụ tự tử giảm do tình trạng việc làm được cải thiện
Trang 28Theo Tân Hoa xã, Trung tâm kiểm soát và phòng bệnh của Trung Quốc
thông báo một thống kê về nạn tự tử ở Trung Quốc thật đáng kinh ngạc, mỗi năm
đất nước đông dân nhất thế giới có khoảng 287000 người tự tử, trung bình mỗi giờ
có hơn 200 người tự kết liễu đời mình, kỹ lục cao nhất thế giới Nguyên nhân tự tử
qua tìm hiểu của giới truyền thông cho rằng tình trạng thất nghiệp, đời sống khó khăn là một trong những nguyên nhân chính, nhất là đối với giới trẻ, tâm lý tuyệt vọng do các vấn đề xã hội gây ra cũng là nguyên nhân Người phát ngôn Sở Y tế Bắc Kinh Mao Ngọc viết trên Bắc kinh thanh niên nhật báo “ Trung Quốc là nước
có tỉ lệ người tự tử cao nhất thế giới, đáng lưu ý là hơn một nữa là phụ nữ và 3⁄4 số
vụ xảy ra ở nông thôn”
1.2.2 Các nghiên cứu về tự tử tại Việt Nam
Hồi cứu đữ liệu nghiên cứu đặc điểm dịch tế học các trẻ tự tử nhập Khoa Cấp
cứu Bệnh viện Nhi đồng I Thành phố Hồ Chí Minh năm 2001-2002 của Bùi Quốc Thắng và cộng sự[25], ghi nhận có 41 trẻ tự tử Nhận thấy hầu hết trẻ tự tử nằm
trong lứa tuổi dậy thì, trong đó nữ chiếm 61% và 65% ở độ tuổi 14 — 15 tuổi, đa số
các trường hợp tự tử đến từ tỉnh 51,21% và nội thành Thành phố Hồ chí Minh
31,72% Các trẻ sống trong gia đình lao động chân tay 87,5% và có trình độ học vấn thấp cấp I và 2 chiếm 79,4% Nguyên nhân tự tử phần lớn là do xung đột gia đình
87,8%, phương tiện thường được dùng là hóa chất và thuốc men, số trẻ dùng hóa chất để tự tử chiếm 65,86% Hành động tự tử thường được thực hiện tại nhà, thời điểm tự tử ghi nhận rải rác trong ngày, địa điểm trẻ tự tử là nơi dễ phát hiện, hành vi
sau tự tử là không làm gì cả 85,4% đến khi có triệu chứng thì được người nhà phát
hiện Về tiền căn bệnh sử ghi nhận có 2 trường hợp có gia đình tự tử, 2 trường hợp liên quan đến nghiện hút và chậm phát triển tâm thần
Qua khảo sát, tình hình bệnh nhân có hành vi tự tử điều trị tại bệnh viện cấp
cứu Trưng Vương năm 2007-2008[28] Ghi nhận trong khảo sát 310 trường hợp có
87 nam 28,1% nữ 223, 71,9%, nhóm tuổi dưới 25 tuổi chiếm 50%, nơi cư trú nội thành chiếm 64%, về nghề nghiệp nhóm công nhân chiếm tỷ lệ cao nhất 19% kế đến
là học sinh sinh viên Trình độ học vấn cao ở nhóm trung học cơ sở 46,5%, có 6,1%
có tiền căn tâm thần trước khi có hành vi tự tử Nguyên nhân dẫn đến hành vị tự tử
Trang 29nhiều nhất liên quan đến tình cảm 61,6%, trong đó xung đột vợ chồng 26,8%, tình
yêu nam nữ 19%, cha mẹ với con cái 17,7% Phương tiện gây tự tử chủ yếu là uống thuốc 97,7% trong đó nhóm thuốc bảo vệ thực vật là cao nhất 5 1,2% Hầu như tất cả bệnh nhân đều chọn nơi tự tử là ở nhà 92,9%, thời gian sau tự tử vào viện là đưới 6
giờ 87,7%, có 67,3% bệnh nhân được dùng than hoạt để xử lý ở tuyến trước Tỷ lệ điều trị phục hồi tốt là 67,7%, trốn viện 24,8% và tử vong 1,3%, tử vong chủ yếu do
ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật Có đến 90% bệnh nhân tự tử đã vô cùng hối hận về
hành vi của mình khi được bác sĩ phân tích, giải thích về trách nhiệm của họ với con cái, gia đình, cha mẹ và họ đã nhận thức hành động của mình là không đúng
Cách đây hơn 10 năm, một nghiên cứu về các trẻ tự tử thực hiện tại khoa cấp
cứu bệnh viện Nhi Đồng II cho thấy[18], tỷ lệ trẻ em nữ tự tử nhiều hơn nam 60%
và phần lớn trẻ sống với cha mẹ 88% Nguyên nhân tự tử gần 90% do xung đột
trong gia đình và hóa chất là phương tiện dùng để tự tử phổ biến nhất Một nghiên cứu khác tại Thành phố Đà Nẵng vào năm 2005 cũng ghi nhận gần 500 ca tự tử
[21] tăng gấp 4 lần so với năm trước đó Phần lớn ở độ tuổi 25-44, nguyên nhân
dẫn đến tự tử là do bức xúc về gia đình, xã hội, tình cảm, mắc bệnh mãn tính Tại
Hà Nội kết quả khảo sát trên 5000 người dân và hơn 500 bệnh nhân tự tử đến cấp
cứu tại bệnh viện Bạch Mai[1 5], cho thấy 2,6-25% có ý định tự tử, I-15% từng có
yếu là thuốc bảo vệ thực vật Bệnh nhân được sơ cứu tuyến trước 88%, tỷ lệ tử vong
là 12%, tử vong do hóa chất bảo vệ thực vật là 97,7%, tử vong cao ở nhóm từ 19-40
tuổi là 64,3% Chi phí điều trị trung bình từ 1.765.962 đồng/bệnh nhân, đặc biệt có
0,6% viện phí trên 20 triệu đồng Chỉ phí điều trị trung bình của nhóm thuốc và hóa chất là 1.749.080 đồng/bệnh nhân và ngày điều trị trung bình là 3,5 ngày Chỉ phí trung bình cao nhất là của nhóm 41-60 tuổi là 2.146.299 đồng/bệnh nhân Là địa
Trang 30phương có hoàn cảnh kinh tế và điều kiện địa lý , khí hậu, phong tục tập quán gần giống với địa điểm tiến hành nghiên cứu
Tại Bệnh viện đa khoa huyện DakR’lap[22], tinh Dak Nông qua đề tài nghiên cứu cấp cơ sở về khảo sát tình hình và đặc điểm bệnh nhân ngộ độc thuốc
bảo vệ thực vật do tự tử tại bệnh viện trong 3 năm từ năm 2009-2011 Ghi nhận có
142 bệnh nhân tự tử, trong đó ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật chiếm 78,9%, giới nữ
chiếm 72,3%, độ tuổi từ 18-30 chiếm tỷ lệ cao nhất 45,5% Nơi cư trú xảy ra nhiều
ở các địa phương vùng nông, nghề nghiệp nông dân chiếm 82,14%, có tiền căn rối
loạn tâm thần và nghiện rượu là 10% Nguyên nhân thường gặp nhất là do xung đột
gia đình 93,75%, phương tiện thường dùng là thuốc bảo vệ thực vật chiếm 78,9%
Thời điểm tự tử xảy ra rải rác trong ngày, thường tự tử tại nhà, nơi dé phat hién, vao viện sau khi phát hiện từ 1-2 giờ 81% Không xử lý gì hoặc xử lý sai tại nhà hoặc y
tế cơ sở trước khi tới bệnh viện, thời gian điều trị từ 4-7 ngày, không có bệnh nhân
tử vong, một số trường hợp nặng đã chuyền tuyến trên kịp thời
1.3 Các nghiên cứu về chỉ phí, chỉ phí y tế
1.3.1 Nghiên cứu chính sách tài chính ở một số nước trên thế giới
Chăm sóc sức khỏe cho người dân ở các quốc gia là khác nhau, một số nước việc chăm sóc chủ yếu dựa hoàn toàn vào ngân sách nhà nước, phần lớn được trích
từ thuế do người dân đóng góp Điển hình là hai nước Anh và Canada, ở Anh chỉ
tiêu y tế khu vực công chiếm đến 87,3% (2005), ở Pháp chiếm 79,7%, Luxembuor 90,9%, ngược lại ở Mỹ chỉ tiêu y tế tại khu vực tư nhân chiếm đến 54,2% Với một
nước phát triển như Mỹ, tỷ lệ chỉ cho y tế cao nhất thế giới năm 2006 chiếm 15,3%
GDP, năm 2007 tăng lên 16% GDP lại đưa ra quan điểm, sức khỏe là chuyện riêng của mỗi người, nhà nước chỉ lo các vấn đề liên quan đến y tế công cộng — sức khỏe
cộng đồng cho nên BHYT tư nhân ở Mỹ rất phát triển[26].
Trang 31Bảng 1.1 Chỉ phí y tẾ cao nhất của 10 nước trong khối OECD
Đơn vị tính: USD
quân | với quan | với quân | tế so
1 USD |GDP | USD | GDP | USD | véi
khoản y tế cá nhân, kết hợp với nhiều chương trình BHYT bổ sung
Tài chính y tế dựa trên thuế- Mô hình Beveridge: Chính phủ cung cấp toàn
bộ dich vụ y tế cho người dân thông qua tổ chức y tế quốc gia Đa số các bệnh viện
do Chính phủ quản lý, chỉ có một phần nhỏ bệnh viện và y tế tư nhân Các nước
Trang 32theo mô hình này như Anh, Canada, Ý, Tây Ban Nha, Na uy, Đan Mạch, Thụy
Điền, Hồng kông Mô hình này cung cấp BHYT một cách tổng quát cho mọi người Điển hình là tài chính y tế của Anh: Chăm sóc sức khỏe cho toàn bộ công dân ở liên
hiệp vương quốc Anh được thực hiện chủ yếu thông qua cơ quan BHYT quốc gia
trực thuộc Bộ Y tế Phần lớn việc chăm sóc y tế do ngân sách chỉ trả thông qua việc
đóng thuế của người dân Các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế ở Anh chủ yếu là nhà
nước Có khoảng 86% tổng chỉ y tế quốc gia đo ngân sách nhà nước đảm bảo thông qua cơ quan BHYT quốc gia Chỉ phí này chủ yếu chiếm 76% từ nguồn thu thuế,
BHYT chỉ là 19% và chỉ trả tiền túi là 11,9%[26] Được hưởng đầy đủ tất cả các quyền lợi như điều trị nội trú, ngoại trú, răng, kính mắt, phục hồi chức năng, thuốc, người dân tự do lựa chọn thầy thuốc KCB ban đầu cho mình ( Bác sỹ gia đình),
bệnh nhân phải thực hiện cùng chỉ trả đối với thuốc điều trị ngoại trú
1.3.2 Các phương pháp thường được sử dụng để tính toán chỉ phí bệnh viện
Phương pháp phân bước (Step - Down):
Một phương pháp phổ biến để ước tính chi phí bệnh viện là phương pháp
“phân bước” Theo phương pháp này, các đơn vị phát sinh chỉ phí của bệnh viện sẽ được xác định Các đơn vị này bao gồm các khoa điều trị trực tiếp (phòng mồ, khoa điều trị ), các khoa cận lâm sàng và hỗ trợ (chân đoán hình ảnh, xét nghiệm, dược.)
và khối hành chính Chi phí lao động của mỗi đơn vị bao gồm chỉ phí lương, phụ
cấp, tiền thưởng cho tất cả các cán bộ của khoa Chỉ phí khấu hao nhà cửa hàng năm thường được phân bỗ cho các đơn vị phát sinh chỉ phí, tỷ lệ với diện tích của đơn vị
cộng với khấu hao trang thiết bị sử dụng Chỉ phí gián tiếp (hành chính, vận hành)
thường được phân bổ tỷ lệ với chỉ phí lao động Thường số liệu có sẵn trong các
bệnh viện được sử dụng để phan bé chi phí của những khoa cận lâm sàng Kết qua
ước tính chỉ phí điều trị trực tiếp được tính bằng cách chia tổng chi phí của từng khoa cho một đầu ra thích hợp (ví dụ như số ngày nằm điều trị nội trú) Phương pháp phân bước có thể được sử dụng như một công cụ hữu ích, để kiểm tra nguồn lực được phân bỗ trong bệnh viện và có quan hệ với các nhóm đầu ra, thông qua các
don vi phat sinh chi phi
Trang 33Phương pháp tính toán theo chỉ phi nguén (Resource Costing Method):
Cách tiếp cận theo phương pháp phân tích chỉ phí nguồn, chính xác hơn
trong việc gắn chi phí đầu vào với các cách điều trị cụ thể của bệnh viện Hình thức
chỉ tiết và toàn điện nhất về phương pháp chỉ phí nguồn là tính ra chỉ phí trung bình
của một nhóm bệnh được chân đoán Hệ thống nhóm chân đoán (DRGs) được tiến hành đầu tiên ở Mỹ, để tạo ra mức thanh toán cho các cơ sở cung cấp dịch vụ nội trú cho các bệnh nhân BHYT thuộc hệ thống Medicare (Chương trình BHYT cho người cao tuổi) Định nghĩa các đầu vào cơ bản (ví dụ: dịch vụ y tế, vật tư y tế tiêu
hao, thuốc, xét nghiệm ) cần thiết để chẩn đoán và điều trị cho một nhóm bệnh
nhất định, ước chỉ phí thời gian và dịch vụ liên quan đến các đầu vào đó để ước tính
tổng chỉ phí trung binh cho điều trị một trường hợp bệnh
1.3.3 Chỉ phí y tế của hành vi tự tử
Thiệt hại về người và vật chat do tự tử ở Việt Nam mỗi năm, gây tổn thất lớn
về mặt kinh tế, chưa kể đến nguồn lực lớn của ngành y tế dành cho việc cứu chữa, phục hồi chức năng cho nạn nhân Đã và đang gây ra những hậu quả nặng nề làm tàn phế và mất khả năng lao động của con người, là gánh nặng về kinh tế cho mỗi gia đình và xã hội, còn gây nên gánh nặng cả về mặt tâm lý, xã hội và kinh tế cho
các gia đình có người tự tử, cho cộng đồng và xã hội Tổ chức y tế thế giới dự đoán
đến năm 2020 tình trạng tự tử sẻ tăng và chiếm 2,4% ngân sách chăm sóc sức
khỏe[26]
Theo nghiên cứu của Bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk[8], với ngày điều trị
trung bình là 3,6 ngày, tổng chỉ phí cho điều trị của 349 bệnh nhân tự tử là
616.320.809 đồng, trung bình cho một bệnh nhân là 1.765.962 đồng Có 53% bệnh nhân đóng viện phí dưới 1.000.000 đồng, 39% từ 1 đến 5 triệu đồng và 0,6% đóng
viện phí trên 20 triệu đồng Chi phí điều trị trung bình của hóa chất bảo vệ thực vật
là 1.742.741 đồng, của nhóm thuốc an thần là 2.132.448 đồng và ngày điều trị trung
bình là 3,5 ngày, các nhóm thuốc còn lại là 1.518.642 đồng và ngày điều trị trung bình là 4,08 ngày Chi phí điều trị trung bình cao nhất là nhóm từ 41-60 tuổi là 2.146.299 đồng, thấp nhất là nhóm tuổi 19-40 tuổi là 1.662.182 đồng.
Trang 341.4 Khung lý thuyết
Đặc điểm và chỉ phí Bệnh nhân tự tử Điều trị nội trú tại
Yếu tố liên quan
máu,
dịch truyền
Nhóm vật tư tiêu
hao
Nhóm ngày giường bệnh
Trang 351.5 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Huyện ĐăkR' lấp, nằm phía tây nam của tỉnh Đăk Nông, có tổng diện tích đất
tự nhiên là 63.420 ha, gồm 10 xã 1 thị trấn, 118 thôn bon, tổ dân phố, có 25 đồng
bào dân tộc sinh sống, dân số toàn huyện là 82.560 khẩu, tỷ lệ hộ nghèo chiếm
14,2%, chủ yếu là nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ
Bệnh viện đa khoa huyện ĐăkR) lấp, tỉnh Đăk Nông được thành lập từ năm
1986 với tên gọi ban đầu là Trung tâm y tế huyện ĐăkR”lấp, qua nhiều lần đổi tên
và sự thay đổi mô hình quản lý nhà nước về y tế tại địa phương, chính thức từ tháng
3 năm 2006 được mang tên là bệnh viện đa khoa huyện ĐăkR' lắp Bệnh viện được
xây dựng trên điện tích 35.000 m”, nằm tại Tổ dân phó 2, thị trấn Kiến Đức, huyện
ĐăkR'lấp, tỉnh Đăk Nông, ở vị trí trung tâm huyện
Bệnh viện là đơn vị sự nghiệp y tế có thu một phan, trực thuộc Sở Y tế tỉnh Đăk Nông Bệnh viện có 7 chức năng nhiệm vụ gồm khám chữa bệnh, phòng bệnh, đào tạo cán bộ, chỉ đạo tuyến, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và quản lý kinh
tế[4].[5].|6]
Là bệnh viện đa khoa tuyến huyện được giao 100 giường bệnh, với 108 biên chế, trong đó có 19 Bác sĩ, 1 dược sỹ đại học, cơ sở vật chất tương đối khang trang, trang thiết bị y tế còn nghèo nàn, thiếu và không đồng bộ Trong 5 năm gần đây với
mô hình tổ chức ốn định gồm 1 ban giám đốc, 3 phòng chức năng, 6 khoa lâm sàng,
1 đội cấp cứu ngoại viện Thực hiện được một số dịch vụ kỹ thuật y tế về hồi sức cấp cứu chống độc, phẫu thuật trung phẫu ngoại sản khoa, kết hợp xương, hệ thống chân đoán hình ảnh và xét nghiệm tương đối hoàn chỉnh, ngày càng được củng cố
và phát triển Bình quân hàng năm điều trị nội trú từ 4500-5600 bệnh nhân, hơn
40.000 lượt khám[4].[5],[6] giải quyết tốt các sơ cấp cứu ban đầu, kịp thời phục vụ
và đáp ứng một phần nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân
Trang 36Chương 2 ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân tự tử điều trị nội trú trong 3 năm 2010 —- 2012 tại bệnh viện
- Các báo cáo tổng kết, kiểm tra cuối năm, thanh toán Dược từ năm 2010-
2012
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh án được viết rõ ràng, đủ thông tin, có mã bệnh ICD 10, được lưu trữ theo qui định
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Hồ sơ rách nát, tây xóa, không đủ thông tin, không đúng mã bệnh ICD 10
- Bệnh nhân nghỉ ngờ do đầu độc, do uống nhằm thuốc/ hóa chất
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 đến tháng 9 năm 2013
- Địa điểm nghiên cứu: Tại Bệnh viên đa khoa huyện ĐăkR'lấp, tinh Dak
Nông
2.3 Thiết kế nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu mô tả
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: hồi cứu số liệu thứ cấp từ hồ sơ bệnh
án tự tử điều trị nội trú tại bệnh viện, từ năm 2010 — 2012 '
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
Toàn bộ bệnh nhân tự tử điều trị nội trú tại bệnh viện từ năm 2010-2012
2.5 Phương pháp chọn mẫu
- Chọn mẫu toàn bộ
- Hồi cứu số liệu thứ cáp, từ hồ sơ bệnh án bệnh nhân tự tử điều trị nội trú tại bệnh viện từ năm 2010- 2012, thu thập từ Phòng Kế hoạch nghiệp vụ Về kết quả
hoạt động khám chữa bệnh thu thập qua báo cáo tổng kết , báo cáo kiểm tra bệnh
viện hàng năm tại Phòng Kế hoạch nghiệp vụ Về chỉ phí khám chữa bệnh thu thập
Trang 37qua phiếu thanh toán viện phí, báo cáo tài chính hàng năm của Phòng Tài chính kế
toán và bộ phận thanh toán Dược
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Thông tin số liệu thứ cấp
Thu thập các thông tin liên quan và kết quả điều trị qua hồ sơ bệnh án lưu từ
năm 2010 — 2012, dựa theo mẫu thu thập thông tin đã thiết kế sẵn
2.6.2 Thông tin từ phiếu thanh toán ra viện
Nghiên cứu phân tích các phiếu thanh toán viện phí khi bệnh nhân xuất viện,
các phân tích sẽ đi sâu vào khía cạnh: tiền thuốc, tiền giường bệnh, tiền xét nghiệm
cận lâm sàng, tiền thủ thuật, tiền vật tư tiêu hao
Phiếu thanh toán chi phí viện phí của người bệnh được bộ phận tài chính
viện phí kiểm tra và tính viện phí trước khi ra viện
2.6.3 Các bước thu thập số liệu
Số liệu liên quan đến mô tả đặc điểm bệnh nhân tự tử điều trị nội trú tại bệnh
viện, thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án lưu trữ đúng qui định tại phòng Kế hoạch nghiệp vụ Các số liệu này được tách ra theo mục đích nghiên cứu như giới tính, nhóm tuổi, dân tộc, nghề nghiệp, nơi cư trú, phương tiện tự tử, tình huống xung đột,
các yếu tố liên quan và được điền vào mẫu bệnh án đã soạn sẵn
Số liệu liên quan đến chỉ phí trực tiếp cho điều trị nội trú, được thu thập từ
phiếu thanh toán viện phí, các khoản thanh toán cụ thể như thuốc, máu, dịch truyền, cận lâm sàng như xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, phẫu thuật thủ thuật, vật tư tiêu hao, ngày giường bệnh và được điền vào mẫu bệnh án đã soạn sẵn
2.7 Các biến số nghiên cứu:
Trong nghiên cứu này chúng tôi có hai nhóm biến số để làm rõ mục tiêu nghiên cứu, bao gồm:
-_ Nhóm biến số mô tả thông tin chung về đối tượng nghiên cứu như: Giới
tính, nhóm tuổi, dân tộc, nơi cư trú, nghề nghiệp, phương tiện tự tử, tình
huống xung đột, các yếu tố liên quan
- _ Nhóm biến số mô tả chỉ phí của bệnh nhân tự tử điều trị nội trú như : tiền
thuốc máu dịch truyền, chỉ phí xét nghiệm và thăm dò chức năng, chỉ phí
Trang 38cho thủ thuật, phẫu thuật, chỉ phí vật tư tiêu hao, chỉ phí ngày giường
bệnh, chỉ phí cho một đợt điều trị
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá:
- Người bệnh nội trú là người bệnh được nhập viện đẻ điều trị và ít nhất phải
ở trong bệnh viện một đêm
- Người bệnh ngoại trú là người bệnh không phải nhập viện và không ở lại bệnh viện điều trị qua đêm
- Ngày điều trị nội trú bình quân bằng tổng số ngày điều trị nội trú tại bệnh
viện trong năm /tong số lượt người điều trị nội trú tại bệnh viện trong năm
- Chi phí điều trị bình quân bằng tổng số tiền thanh toán điều trị nội trú/ tổng
số bệnh nhân điều trị nội trú
- Tâm thần phân liệt là một bệnh tâm thần nặng, có tính chất tiến triển chưa
rỏ nguyên nhân, làm biến đổi bệnh nhân theo hướng phân liệt, thể hiện bằng mất
thống nhất các hoạt động tâm thần, mắt dần liên hệ với thực tại, cảm xúc ngày càng khô lạnh, tư duy lệch lạc về hình thức cũng như nội dung, tac phong đị kỳ khó hiểu
- Bệnh trầm cảm là một trạng thái tâm thần bệnh lý rất phổ biến, biểu hiện một quá trình ức chế toàn bộ hoạt động tâm thần, rối loạn về cảm xúc biểu hiện lâm
sàng là trạng thái buồn rầu, chán chường, u uất
- Chi phí là toàn bộ chi phí mà cơ sở cung cấp dịch vụ phải bỏ ra để chỉ trả
cho công nhân, vật tư thiết bị nhà xưởng, phí quản lý hành chính , để có thể cung
cấp một dịch vụ nào đó Theo định nghĩa của các nhà kinh tế học, chi phí là giá trị của các nguồn nhân lực, vật lực để sản xuất một sản phẩm nào đó bao gồm một dịch
vụ y tế cụ thể hay một nhóm các dịch vụ y tế
- Phí khám chữa bệnh hay viện phí là các khoản cơ sở khám chữa bệnh thu của bệnh nhân khi cung cấp các dịch vụ y tế cho họ, để bù đắp một phần hoặc toàn
bộ các chi phi ma đơn vị đó đã sử dụng để vận hành mọi hoạt động của cơ sở
- Chỉ phí trực tiếp cho điều trị bao gồm: Chỉ phí giá một lần khám bệnh nhân với số lần khám bệnh, chỉ phí giường bệnh/ngày nhân với số ngày nằm viện, chỉ phí thuốc sử dụng trong thời gian bệnh nhân điều trị, chỉ phí cận lâm sàng như xét
Trang 39nghiệm, X quang, siêu âm, chỉ phí cho vật tư y tế, chỉ phí cho vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, các dịch vụ điều trị theo yêu cầu
2.9 Phương pháp phân tích số liệu
- Nghiên cứu định lượng: Số liệu từ các biểu mẫu thu thập được sau khi làm sạch, được nhập và được xử lý bằng phương pháp Excel mô tả thông thường
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
- Đây là một nghiên cứu hồi cứu, sử dụng các số liệu có sẵn trên hồ sơ bệnh
án chứ không can thiệp trực tiếp vào đối tượng Do đó, nghiên cứu không tiến hành bước xin ý kiến đồng ý tham gia nghiên cứu của đối tượng nghiên cứu
- Tất cả các thông tin được mã hóa và giữ bí mật
- Nghiên cứu được sự đồng thuận và hỗ trợ của Ban giám đốc bệnh viện
- Kết quả nghiên cứu chỉ phục vụ cung cấp tư liệu cho Ban giám đốc bệnh viện, cho các nhà nghiên cứu, không sử dụng cho mục đích khác
- Nghiên cứu được phê duyệt của Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y
tế Công cộng
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
- Do thời gian và nguồn lực có hạn nên nội dung của đề tài chỉ đi sâu phân
tích phần viện phí - phí điều trị mà người bệnh phải chỉ trả trực tiếp cho bệnh viện, trong quá trình điều trị được thể hiện trên hồ sơ bệnh án (thuốc, vật tư tiêu hao, hóa
chất, máu, dịch truyền, xét nghiệm, ngày giường nằm điều trị ) Không phân tích
và tính toán các phí đầu tư kết cấu trong chi cố định để có thể tính đủ hay những phí
gián tiếp
- Đây là nghiên cứu mô tả hồi cứu nên kết quả phụ thuộc nhiều vào sự chính
xác của các đữ liệu sẵn có từ các phiếu thanh toán phí điều trị của bệnh viện
- Số liệu được thu thập trong 3 năm 2010 và 2012, nên có thể không loại trừ hết được những biến động lớn về giá cả, lạm phát
- Nghiên cứu chỉ được tiến hành trên nhóm bệnh nhân điều trị do tự tử tại bệnh viện tuyến huyện nên không thể đại diện cho các bệnh viện khác trong tỉnh và
giải pháp chỉ mang tính áp dụng trong khuôn khổ bệnh viện
Trang 40Hồ sơ lưu trữ và phòng Kế hoạch tài chính của bệnh viện
- Các điều tra viên được tập huấn chỉ tiết về phương pháp thu thập các thông
tin theo bộ công cụ thu thập số liệu, bản thân nghiên cứu viên trực tiếp phân loại,
lựa chọn và thu thập thông tin cùng các điều tra viên