báo cáo luật ngân hàng
Trang 1Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới, bên cạnh những cố gắng hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ được giao để có đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển của nền kinh tế, Các tổ chức tín dụng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong quá trình xây dựng, trưởng thành
Cụ thể: Đóng vai trò quan trong trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỷ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ
mô, môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu
tư và sản xuất kinh doanh, hoạt động xuất nhập khẩu….Để được thành quả đó không thể không kể đến sự đóng góp của “hành lang pháp lý” của luật TCTD Luật các TCTD 1997 được quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/12/1997, có hiệu lực thi hành từ 01/07/1998 và được sửa đổi, bổ sung năm 2004.Có thể nói các quy định của Luật các TCTD 1997 đã có những đóng góp quan trọng trong việc tạo môi trường pháp lý lành mạnh cho tổ chức và hoạt động của hệ thống các Tổ chức tín dụng Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Luật các TCTD và luật sửa đổi cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập cản trở sự phát triển của hệ thống tổ chức tín dụng cần được sửa đổi Cụ thể:
Theo thời gian cùng với công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế đất nước theo
xu hướng “công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước” Cùng với sự phát triển không ngừng về số lượng: các ngân hàng, dịch vụ ngân hàng, mạng lưới giao dịch, năng lực tài chính, chất lượng sản phẩm không những về số lượng mà cả chất lượng Những bất cập trong Luật TCTD 1997 làm cản trở sự phát triển và
Trang 2hoạt động kinh doanh của cac TCTD, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, thanh tra, giám sát an toàn của NHNN đối với hệ thống TCTD….Hơn cả trong điều kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)-một môi trường cạnh tranh khốc liệt khi mà “vòng” bảo hộ cho ngân hàng thương mại trong nước không còn Vì vậy, để các hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài trong giai đoạn hội nhập thì cần phải phát triển dịch vụ cả về số lượng lẫn chất lượng…Và phát triển như thế nào để vừa hiệu quả lại vừa bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân trong nước Đó là câu hỏi lớn mà nhà nước cùng hệ thống ngân hàng Việt Nam luôn đặt lên hàng đầu.
Do đó, cùng với các tồn tại và bất cập kể trên và một số lý do khác Ngày 16/06/2010 luật TCTD 2010 đã được Quốc Hội thông qua và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2011
Để tìm hiểu và thấy được một cách cụ thể nhất những sửa đổi của luật TCTD
2010 so với luật TCTD 1997 (có sửa đổi bổ sung vào năm 2004) phù hợp và cải tiến ở những điểm nảo thuận lợi cho hoạt động của hệ thống ngân hàng hiện nay Chúng ta sẽ cùng nhau giải thích và phân tích, bình luận những điểm sau:
Trang 3Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2004) đã có những đóng góp quan trọng trong việc tạo môi trường pháp lý lành mạnh cho tổ chức và hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Luật các TCTD năm 1997 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, cản trở sự phát triển của hệ thống các TCTD, cần phải được sửa đổi, hoàn thiện Do
đó, việc ban hành Luật các TCTD mới là rất cần thiết Luật các TCTD năm
20102 đã được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011
Điều 1 của Luật các TCTD năm 20103 xác định rõ phạm vi điều chỉnh bao gồm việc thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng (TCTD); thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác
có hoạt động ngân hàng
Thay đổi quan trọng của Luật các TCTD năm 2010 là đã xác định lại phạm vi điều chỉnh trên cơ sở thay đổi khái niệm “hoạt động ngân hàng” và sử dụng khái niệm này làm tiêu chí để xác định thế nào là một TCTD Khác với Luật các TCTD năm 1997 (“hoạt động ngân hàng” được hiểu phải bao gồm cả hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn huy động để cấp tín dụng và làm dịch vụ thanh toán), Luật các TCTD năm 2010 quy định “hoạt động ngân hàng” là hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ: nhận tiền gửi; cấp
Trang 4tín dụng; và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản (khoản 12 Điều 4) Theo
đó, tùy theo loại hình hoạt động, TCTD có thể thực hiện một hoặc một số hoặc
cả ba hoạt động ngân hàng nêu trên khi được NHNN cấp Giấy phép thành lập và hoat động
Ngoài ra, Luật các TCTD năm 2010 bỏ phần quy định về "các tổ chức khác
có hoạt động ngân hàng" Bởi vì, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh
có điều kiện Những điều kiện để được hoạt động ngân hàng đều rất chặt chẽ, từ
tổ chức bộ máy đến quản lý nội bộ, quản trị rủi ro Những điều kiện này thông thường các tổ chức khác không phải là TCTD đều không đáp ứng được Đó là lý
do Chính phủ không thể ban hành được các văn bản hướng dẫn Luật các TCTD năm 1997 về hoạt động ngân hàng của tổ chức khác Điều này có nghĩa là để được cấp phép hoạt động ngân hàng các tổ chức phải được thành lập như là một TCTD Những tổ chức nào có hoạt động ngân hàng đều phải được tổ chức lại dưới hình thức là một TCTD hoặc phải chấm dứt hoạt động này (trừ việc công ty chứng khoán thực hiện giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán) Mặt khác, phạm vi điều chỉnh của Luật các TCTD năm 2010 đã được quy định
cụ thể hơn Phạm vi điều chỉnh của Luật được mở rộng từ chỗ chỉ điều chỉnh chủ yếu về hoạt động sang điều chỉnh về tổ chức quản lý và hoạt động của TCTD Ngoài ra, Luật các TCTD năm 2010 đã điều chỉnh việc thành lập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài có hoạt động ngân hàng tại Việt Nam
4 http://www.chinhphu.vn/portal/page?
_pageid=578,33345598&_dad=portal&_schema=PORTAL&docid=3342
Trang 5 Nhìn chung, về phạm vi điều chỉnh, Luật 2010 đã có những bước đổi mới theo hướng tích cực và phù hợp hơn với thực tế sự phát triển của nền kinh tế và yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
2 KHÁI NIỆM CƠ BẢN:
Ngày 16/6/2010, Luật các tổ chức tín dụng 2010 được Quốc hội thông qua với 10 chương, 163 điều thay thế Luật các tổ chức tín dụng ban hành năm 1997, sửa đổi bổ sung năm 2004
Luật các TCTD thay đổi tiêu chí xác định một tổ chức là TCTD bằng việc thay đổi nội hàm của khái niệm "hoạt động ngân hàng"5: bao gồm một trong ba hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán thay cho việc phải đồng thời thực hiện cả ba hoạt động trên Khái niệm “hoạt động ngân hàng”6 theo luật TCTD 1997 không đồng bộ với các Luật khác
Thực tế theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế cho rằng, trong quá trình thực hiện Luật Các tổ chức tín dụng (CTCTD) gặp không ít bất cập, nhiều quy định của Luật hiện hành không còn thích hợp đã trở nên gò bó, làm giảm tính tự chủ của tổ chức tín dụng, không đồng bộ với các luật khác mới ban hành (Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán…) và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước đã có nhiều thay đổi, Việt Nam đã trở thành thành viên tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế toàn cầu Việc hội nhập đặt ra những yêu cầu tất yếu như: đa dạng hóa các hoạt động, dịch vụ ngân hàng; đối xử bình đẳng giữa các loại hình TCTD thuộc các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài; từng bước áp dụng các chuẩn mực quản trị ngân hàng theo thông lệ quốc tế
5 Khoản 12 điều 4 trong luật TCTD năm
6 Khoản 7 điều 20 trong luật TCTD năm 1997(sữa đổi, bổ sung 2004)
Trang 6Ví dụ:
Ngày 21/7/2011 đã đánh một dấu mốc quan trọng khi MB và Deloitte7 lần đầu tiên ký kết hợp tác mang ý nghĩa chiến lược liên quan đến Quản trị rủi ro hoạt động MB cũng là một trong những ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam thực hiện xây dựng hệ thống Quản trị rủi ro hoạt động một cách bài bản theo tiêu chuẩn quốc tế.8
Tối ngày 06/01/201, tại Khách sạn Hozison – Hà nội, Sở giao dịch Agribank long trọng tổ chức Hội nghị khách hàng và Lễ đón chứng nhận ISO 9001:2008.9
Việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 giúp
Sở giao dịch Agribank đảm bảo mọi hoạt động được định hướng và kiểm soát nhằm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách hàng.Với phương châm hoạt động là: ”Cung cấp sản phẩm dịch vụ có chất lượng, phù hợp với thỏa thuận và tuân thủ quy định của Pháp luật” Sở giao dịch Agribank không ngừng cải tiến hệ thống quản lý chất lượng, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ cho khách hàng như cam kết
Mặt khác, quá trình cổ phần hóa các Ngân hàng thương mại Nhà nước đã và đang được triển khai, vì vậy, trong thời gian tới sẽ không còn loại hình Ngân hàng thương mại Nhà nước như quy định của Luật hiện hành
Tính đến tháng 2-2007 đã có 34 ngân hàng thương mại hoàn tất việc cổ phần hóa với tổng số vốn điều lệ trên 21.000 tỷ đồng Đến quý 2/2009 có cả thảy 5
7 quan-tri-rui-ro-hoat-dong.htm6
http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Kinh-te/517694/mb-va-deloitte-hop-tac-8http://www.sbv.gov.vn/wps/portal/!
ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3hnd0cPE3MfAwN_DxdLA08LL2-fEMMA4zBTc_2CbEdFAD7aYVM!l
9 giao-dich-agribank-don-chung-nhan-iso-9001 2008.aspx
Trang 7http://www.vbard.com/31/820/tin-tuc/hoat-dong-agribank/2011/01/3130/so-Ngân hàng thương mại niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB), Ngân hàng Công thương Việt Nam (CTG), Ngân hàng Sài Gòn Thương tín (STB), Ngân hàng Á Châu (ACB) và Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB), trong đó VCB và CTG là các ngân hàng quốc doanh.
Luật các TCTD thay đổi tiêu chí xác định một tổ chức là TCTD bằng việc thay đổi nội hàm của khái niệm "hoạt động ngân hàng"(1): bao gồm một trong ba hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán thay cho việc phải đồng thời thực hiện cả ba hoạt động trên Khái niệm “hoạt động ngân hàng” theo luật TCTD 1997 không đồng bộ với các Luật khác.:
Ở Điều 4 Khoản 13 quy định “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ
chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận” Đối với tiền gửi không kỳ hạn thì
khi gửi tiền khách hàng sẽ nhận lãi suất không kỳ hạn, còn đối với tiền gửi
có kỳ hạn thì khách hàng sẽ được hưởng lãi suất cao hơn lãi suất không kỳ hạn và kỳ hạn gửi có thể là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng,… Nhưng khi rút trước hạn thì khách hàng sẽ chỉ nhận được lãi suất không kỳ hạn, thông thường hình thức gửi tiền này có khách hàng là tổ chức, còn tiền gửi tiết kiệm thường có khách hàng là các cá nhân Ngoài ra, chứng chỉ tiền gửi,
kỳ phiếu, tín phiếu là các công cụ nợ ngắn hạn
Điều 4 Khoản 14 “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử
dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo
Trang 8nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”, khi đã được cấp tín dụng thì bên được cấp tín dụng phải sử dụng
các khoản vay đúng mục đích
Đối với Điều 4 Khoản 15 quy định “Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài
khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ Ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng”, nhờ có những dịch vụ thanh toán này mà khách
hàng có thể tiết kiệm thời gian, giảm rủi ro khi sử dụng phương thức thanh toán bằng tiền mặt, tiếp cận được với các dịch vụ Ngân hàng, đặc biệt việc cung ứng các dich vụ này sẽ làm cho tiền mặt được hạn chế
phép Theo Khoản 11, Điều 4 “Giấy phép bao gồm Giấy phép thành lập và hoạt
động của TCTD, Giấy phép thành lập chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, Giấy phép thành lập văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động Ngân hàng do NHNN cấp Văn bản của NHNN về sửa đổi, bổ sung Giấy phép là một bộ phận không tách rời của Giấy phép” Trong đó, Giấy
phép Thành lập là giấy phép được NHNN cấp nhằm công nhận sự hiện diện của các TCTD và Giấy phép Hoạt động là giấy phép quyết định phạm vi kinh doanh của các TCTD đó
Ngoài ra, mỗi TCTD sẽ được cấp duy nhất một Giấy phép Thành lập và Hoạt
động điều này nhằm làm giảm bớt các giấy phép nhỏ khác với các TCTD và tất
cả nội dung hoạt động của TCTD sẽ được thể hiện rõ trong Giấy phép Trong
Trang 9quá trình hoạt động kinh doanh khi các TCTD có nhu cầu rộng hoặc thu hẹp nội
dung hoạt động sẽ được NHNN cho phép bằng Quyết định sửa đổi, bổ sung Giấy phép.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa khái niệm “hoạt động ngân hàng” là các hoạt động chỉ có thể được thực hiện bởi các TCTD và khái niệm “các hoạt động kinh doanh khác của các TCTD” là các hoạt động không chỉ TCTD mà các tổ chức khác cũng có thể được thực hiện.Theo cách tiếp cận này, các nghiệp vụ tư vấn tài chính, môi giới tiền tệ, lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng là những nghiệp
vụ mà TCTD được phép thực hiện nhưng không phải là “hoạt động ngân hàng” Ngoài ra TCTD còn được phép trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua công ty con, công ty liên kết) thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư
Theo các chuyên gia ngân hàng thì phạm vi của các hoạt động ngân hàng vẫn còn mù mờ, chưa rõ ràng,10 11 vẫn có thể có các cách hiểu khác nhau về khái niệm nghiệp vụ ngân hàng và TCTD phi ngân hàng, mà các tổ chức có thể lợi dụng nếu pháp luật quy định không chặt chẽ Trong Luật các TCTD 2010, tiêu chí phân biệt giữa ngân hàng và các TCTD phi ngân hàng đã được quy định rõ hơn trên cơ sở phạm vi hoạt động của hai loại hình này Theo đó, các TCTD phi
ngân hàng không được phép nhận tiền gửi của cá nhân, không được cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Quy định này phù hợp hơn
với thông lệ áp dụng tại hầu hết các nước và tạo điều kiện để một mặt giảm bớt rủi ro cho hệ thống TCTD, mặt khác cho phép các TCTD phi ngân hàng được
10moi-va-cu.aspx
http://www.vcci.com.vn/nghien-cuu/20110215084842107/nhan-dinh-cua-cac-chuyen-gia-khi-ty-gia-20693-dongusd.htm
Trang 10mở rộng phạm vi cung ứng các dịch vụ ngân hàng khác của mình do các quy định về an toàn sẽ được áp dụng ở mức độ thấp hơn so với các ngân hàng thương mại là những tổ chức nhận tiền gửi của dân cư và tham gia vào hệ thống thanh toán.
Luật 2010 quy định rõ mỗi TCTD sẽ được cấp duy nhất một Giấy phép thành
lập và hoạt động, trong đó xác định rõ phạm vi hoạt động của từng TCTD trên cơ
sở nhu cầu và khả năng đáp ứng các điều kiện của từng TCTD mà trong luật TCTD 1997 không quy định rõ vấn đề này tại điều 20 Trong quá trình hoạt động, TCTD có thể mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi hoạt động và sẽ được NHNN chấp thuận bằng Quyết định sửa đổi, bổ sung Giấy phép; Quyết định này sẽ là một bộ phận không tách rời của Giấy phép thành lập và hoạt động
Về mức giới hạn sở hữu cổ phần tại phần khái niệm của điều 6 quy định sửa đổi của năm 1997 so với luật TCTD năm 2010 đối với cổ đông là cá nhân từ 10% xuống 5%; cổ đông là pháp nhân từ 20% xuống 15% (trừ trường hợp sở hữu cổ phần theo quyết định của NHNN để xử lý tổ chức tín dụng gặp khó khăn, bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng; sở hữu cổ phần nhà nước tại các tổ chức tín dụng cổ phần hóa; sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài) Khái niệm ở năm 2010 làm rõ hơn về cổ đông lớn của tổ chức tín dụng và mức sở hữu
về % vốn cổ phần cũng thấp hơn sở dĩ có sự thấp hơn này là do có qui định tăng vốn điều lệ ở năm 2010 của các tổ chức tín dụng nên sự thay đổi này cũng khá hợp lý
Cổ đông và những người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng Các tỷ lệ sở hữu nêu trên bao gồm cả phần vốn ủy thác cho các tổ chức, cá nhân khác mua cổ phần
Trang 11Tại khái niệm Khoản 4, Điều 4 và Điểm a, Khoản 1, Điều 108, Luật các tổ chức tín dụng có quy định công ty tài chính không được nhận tiền gửi của cá nhân, chỉ được nhận tiền gửi của tổ chức Trong khi tại Luật các tổ chức tín dụng
1997, sửa đổi bổ sung 2004 công ty tài chính vẫn được nhận tiền gửi của tổ chức,
cá nhân có kỳ hạn từ 1 năm trở lên.12
Việc pháp luật quy định không được nhận tiền gửi của cá nhân là một điểm khá tương đồng so với pháp luật quốc tế, tuy nhiên lại khiến cho các tổ chức tín dụng phi ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong huy động vốn Bên cạnh các công
ty tài chính thành lập để tiến hành hoạt động thu xếp vốn nội bộ cũng có những công ty tài chính thành lập với mục đích chính là cung cấp các dịch vụ tín dụng
cá nhân, tín dụng tiêu dùng như các công ty tài chính 100% vốn nước ngoài Vì vậy việc quy định mới có hiệu lực thi hành sẽ gây ra những khó khăn nhất định đối với hoạt động huy động vốn của các công ty tài chính
Theo NGHỊ ĐỊNH Quy định về hoạt động của công ty tài chính và công ty
cho thuê tài chính tại khoản 1 điều 5 nói về Nhận tiền gửi của tổ chức “Công ty
tài chính (trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này) được nhận tiền gửi có
kỳ hạn trên 01(một) năm của tổ chức Khách hàng gửi tiền không được rút trước hạn.”
Đồng thời với quy định trên, hiện nay luật hiện hành có quy định các tổ chức tín dụng phi ngân hàng được nhận tiền gửi của các tổ chức nhưng không ghi rõ nhận tiền gửi không kỳ hạn hay có kỳ hạn, kỳ hạn là bao nhiêu dẫn đến nhiều tranh cãi Dự thảo nghị định hướng dẫn về công ty tài chính được ban hành với
12 cac-to-chuc-tin-dung-2010
Trang 12http://www.petrotimes.vn/dien-dan-kinh-te/2011/08/cong-ty-tai-chinh-voi-luat-quy định rằng, công ty tài chính chỉ được nhận tiền gửi của tổ chức với kỳ hạn trên 1 năm Quy định này nếu được ban hành sẽ hạn chế rất lớn khả năng huy động vốn của các công ty tài chính, trong khi Luật mới đã không cho công ty tài chính huy động tiền gửi cá nhân.
Ngoài những sự mở rộng và thay đổi trên,luật tổ chức tín dụng năm 2010 còn
có những khái niệm mới về:
Sở hữu gián tiếp là việc tổ chức, cá nhân sở hữu vốn điều lệ, vốn cổ phần
của tổ chức tín dụng thông qua người có liên quan hoặc thông qua ủy thác đầu tư
Người có liên quan là tổ chức, cá nhân có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp
với tổ chức, cá nhân khác thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Công ty mẹ với công ty con và ngược lại; tổ chức tín dụng với công ty con của tổ chức tín dụng và ngược lại; các công ty con của cùng một công ty
mẹ hoặc của cùng một tổ chức tín dụng với nhau; người quản lý, thành viên Ban kiểm soát của công ty mẹ hoặc của tổ chức tín dụng, cá nhân hoặc tổ chức có thẩm quyền bổ nhiệm những người này với công ty con và ngược lại;
Công ty hoặc tổ chức tín dụng với người quản lý, thành viên Ban kiểm soát của công ty hoặc tổ chức tín dụng đó hoặc với công ty, tổ chức có thẩm quyền bổ nhiệm những người đó và ngược lại;
Công ty hoặc tổ chức tín dụng với tổ chức, cá nhân sở hữu từ 5% vốn điều
lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên tại công ty hoặc tổ chức tín dụng đó và ngược lại;
Cá nhân với vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em của người này;
Trang 13 Công ty hoặc tổ chức tín dụng với cá nhân theo quy định tại điểm d khoản này của người quản lý, thành viên Ban kiểm soát, thành viên góp vốn hoặc
cổ đông sở hữu từ 5% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của công ty hoặc tổ chức tín dụng đó và ngược lại;
Cá nhân được ủy quyền đại diện cho tổ chức, cá nhân quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này với tổ chức, cá nhân ủy quyền; các cá nhân được ủy quyền đại diện phần vốn góp của cùng một tổ chức với nhau
Công ty liên kết của tổ chức tín dụng là công ty trong đó tổ chức tín dụng
hoặc tổ chức tín dụng và người có liên quan của tổ chức tín dụng sở hữu trên 11% vốn điều lệ hoặc trên 11% vốn cổ phần có quyền biểu quyết, nhưng không phải là công ty con của tổ chức tín dụng đó
Công ty con của tổ chức tín dụng là công ty thuộc một trong các trường
hợp sau đây:
Tổ chức tín dụng hoặc tổ chức tín dụng và người có liên quan của tổ chức tín dụng sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn cổ phần có quyền biểu quyết;
Tổ chức tín dụng có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất
cả thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Tổng giám đốc (Giám đốc) của công ty con;
Tổ chức tín dụng có quyền sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty con;
Tổ chức tín dụng và người có liên quan của tổ chức tín dụng trực tiếp hay gián tiếp kiểm soát việc thông qua nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của công ty con
Người quản lý tổ chức tín dụng bao gồm Chủ tịch, thành viên Hội đồng
quản trị; Chủ tịch, thành viên Hội đồng thành viên; Tổng giám đốc (Giám
Trang 14đốc) và các chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng.
Người điều hành tổ chức tín dụng bao gồm Tổng giám đốc (Giám đốc),
Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng, Giám đốc chi nhánh
và các chức danh tương đương theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng
Luật 2010 bổ sung những khái niệm mới vì những phát sinh mới khi bắt đầu
cổ phần hóa cho phù hợp với những cam kết khi gia nhập WTO và phù hợp với
xu thế phát triển hiện nay
3 NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG LUẬT CỦA TCTD:
3.1 Luật các TCTD được ưu tiên áp dụng Luật:
3.1.1 Các TCTD áp dụng Luật:
Trước đây Luật các TCTD năm 1997 (có bổ sung năm 2004) chỉ đưa ra các đối tượng áp dụng là TCTD và các tổ chức khác hoạt động ngân hàng Nay với luật TCTD mới (Điều 2 Luật TCTD năm 2010) đã xác định cụ thể từng đối tượng áp dụng
Các đối tượng áp dụng được nêu cụ thể như sau:
• Tổ chức tín dụng;
• Chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
• Văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng;
• Tổ chức các nhân có liên quan đến việc thành lập, tổ chúc, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của TCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng
Trang 15 So với Luật các TCTD năm 1997 (có bổ sung năm 2004) thì đối tượng áp dụng luật được qui định rõ và cụ thể, không nêu một cách khái quát chung chung Qua đó xác định rõ hơn phạm vi và quyền hạn của từng đối tượng áp dụng luật, đồng thời tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhà nước trong việc quản lý hoạt động của TCTD được dễ dàng hơn.
3.1.2 Điều kiện ưu tiên áp dụng Luật:
Về cơ bản Điều 3 của Luật các TCTD 2010 bao gồm cả hai điều (Điều 2 và Điều 3) trong Luật các TCTD 1997, bên cạnh đó Luật các TCTD 2010 quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng về việc thành lập, tổ chức và hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng,…13 của các TCTD trong nước nói chung và các TCTD nước ngoài nói riêng Việc thành lập, tổ chức và hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng,…không đưa những ra đối tượng thực hiện một cách khái quát, mà chỉ rõ ra các tổ chức có hoạt động TCTD của nước ngoài tại Việt Nam Các quy định này được xây dựng dựa trên
cơ sở của Luật DN và Luật Hợp tác xã, việc quy định này một mặt đảm bảo công bằng đối với các TCTD và làm cho thị trường hoạt động lành mạnh hơn Bên cạnh đó việc áp dụng theo luật các TCTD còn đảm bảo an toàn cho các TCTD trong quá trình hoạt động
Ví dụ: Khái niệm “Cổ đông lớn” quy định không nhất quán giữa Luật các
TCTD 1997 với Luật Chứng khoán 2006, Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán ban hành kèm theo Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 12/02/2007 của Bộ Tài chính 14
13 Trích Điều 3 luật các TCTD 2010
14http://www.hastc.org.vn/default.asp?
actType=2&TypeGrp=1&ID_News=4051&menuid=106120&menuup=&menulink=&stocktype=2
Trang 16Cụ thể, khoản 6 Điều 20 Luật các TCTD 1997 quy định “Cổ đông lớn là tổ chức hoặc cá nhân sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc nắm giữ trên 10% vốn cổ phần có quyền bỏ phiếu của một tổ chức tín dụng” Trong khi khoản 9 Điều 6 Luật Chứng khoán năm 2006 quy định “Cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 05% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành”.
Trong trường hợp này, mặc dù pháp luật đã quy định nguyên tắc áp dụng luật trong trường hợp có xung đột giữa các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng việc chấp thuận nội dung điều lệ của ngân hàng được quy định theo một trong hai quy định nêu trên là không đơn giản, nó phụ thuộc vào cách hiểu và quan điểm của những người trực tiếp thẩm định điều lệ Đối với ngân hàng có cổ phiếu niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán, điều lệ không chỉ được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chuẩn y mà còn phải được sở giao dịch chứng khoán nơi niêm yết cổ phiếu chấp thuận Tất nhiên, khi xem xét điều lệ của ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán phải ưu tiên đối chiếu với các văn bản quy phạm pháp luật của ngành mình để thẩm định và yêu cầu chỉnh sửa nếu quy định tại điều lệ của ngân hàng mâu thuẫn, trái hoặc không phù hợp với quy định tương ứng của ngành Ngân hàng hoặc pháp luật về chứng khoán, thị trường chứng khoán Pháp luật về ngành Ngân hàng chỉ chấp nhận cho ưu tiên áp dụng các quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán trong trường hợp chuyển nhượng cổ phần của ngân hàng niêm yết
Vì vậy, các ngân hàng không dễ dàng giải trình, thuyết phục Ngân hàng Nhà nước chấp nhận quy định “Cổ đông lớn” trong điều lệ của mình theo quy định của Luật Chứng khoán; ngược lại, ngân hàng cũng khó giải trình, thuyết phục Sở Giao dịch chứng khoán chấp nhận quy định “Cổ đông lớn” trong điều lệ của
Trang 17mình theo quy định của Luật các TCTD Và cứ như vậy, bất kỳ quy định nào trong điều lệ của tổ chức tín dụng không phù hợp với quy định của pháp luật thuộc ngành có cơ quan thẩm định điều lệ đều khó có thể được chấp thuận.15
Để giải quyết vấn đề trên luật TCTD năm 2010 đã có sự đổi mới trong khái niệm quy định về “Cổ đông lớn” phù hợp với tình hình chung như sau: Theo
khoản 6 Điều 4 luật TCTD 2010 quy định “Cổ đông lớn của tổ chức tín dụng cổ
phần là cổ đông sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu
quyết trở lên của tổ chức tín dụng cổ phần đó.” 16
Ví dụ:
Ngày 9/10/2008 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
Giấy phép số 268/GP-NHNN cho phép Ngân hàng Australia and New Zealand Banking Group Limited được thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.17
Theo đó Ngân hàng ANZ được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, có con dấu riêng và có tài khoản được mở tại ngân hàng theo quy định của pháp luật Việt Nam Thời hạn hoạt động của Ngân hàng này tại Việt Nam là 99 năm và loại hình hoạt động là ngân hàng thương mại
15
http://www.sbv.gov.vn/wps/wcm/connect/dd0d58804794e9d4877cd78a2a12afeb/Lu%C3%9F%C2%A6%C2%A1t+c%2B%C3%ADc+TCTD+2010+
Trang 18 Vốn điều lệ của Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên ANZ (Việt Nam) là 1.000 tỷ đồng do Ngân hàng Australia and New Zealand Banking Group Limited cấp
Về nội dung hoạt động, ANZ Bank (Vietnam) được thực hiện các nghiệp
vụ như: Huy động vốn; hoạt động tín dụng; dịch vụ thanh toán và ngân quỹ; và các hoạt động khác, được quy định cụ thể trong Giấy phép
Bên cạnh đó Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính
phủ quy định về tăng vốn điều lệ 18 đối với các ngân hàng thương mại, mức vốn pháp định áp dụng cho đến 31/12/2010 là 3.000 tỷ đồng; chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 15 triệu USD; với ngân hàng chính sách, ngân hàng phát triển là 5.000 tỷ đồng; ngân hàng đầu tư, ngân hàng hợp tác và quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là 3.000 tỷ đồng; với công ty tài chính là 500 tỷ đồng; công ty cho thuê tài chính là 150 tỷ đồng
Để thực hiện theo quy định chung của NHNN và theo luật các TCTD, đồng thời bảo đảm an toàn trong hoạt động, ngân hàng ANZ tính đến tháng 12/2010 đã tăng vốn điều lệ lên 3.200 tỷ đồng
Việc ban hành nghị định 141 của Chính phủ không những bảo đảm an toàn trong hoạt động của riêng ngân hàng ANZ mà còn bảo đảm an toàn cho toàn hệ thống ngân hàng
Các tập quán thương mại trong Luật các TCTD 2010 có điểm mới hơn so với Luật các TCTD 1997 là quy định cụ thể phải là Tập quán thương mại quốc tế do Phòng thương mại quốc tế ban hành.19
183000-ty.rainbi171.35D1443B.html
http://blog.yume.vn/xem-blog/ap-luc-tang-von-dieu-le-ngan-hang-nho-len-19Trích khoản a Điều 4 luật các TCTD 2010
Trang 19Qua đó việc áp dụng theo tập quán quốc tế chung, làm cho các quan hệ trong quá trình kinh doanh được cụ thể hóa cho từng đối tượng áp dụng, dẫn đến giải quyết dễ dàng khi có phát sinh tranh chấp.
Ví dụ: Quyết định ngày 26/3/2002 Số 226/2002/QĐ-NHNN 20 của NHNN quy định Về việc ban hành Quy chế hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán, qua đó qui định rõ các TCTD nào được thực hiện
hoạt động thanh toán và qui định các hình thức thanh toán cụ thể.
Ví dụ: Ngày 17/8/2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức
Hội nghị phổ biến Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng dưới sự chủ trì của Đ/c Đặng Thanh Bình - Phó Thống đốc NHNN Tham
dự Hội nghị có Thủ trưởng các đơn vị, Vụ, Cục thuộc NHNN; đại diện lãnh đạo Hiệp hội Ngân hàng; Giám đốc NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố và Tổng Giám đốc, Giám đốc tổ chức tín dụng (TCTD) có Trụ sở chính từ Thanh Hóa trở ra.
“Tại Hội nghị, Đ/c Dương Quốc Anh – Chánh Thanh tra, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trình bày Luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 Luật các TCTD năm 2010 khắc phục được những bất cập của Luật các TCTD năm 1997 như vấn đề về quyền tự chủ kinh doanh và tự chịu trách nhiệm của các TCTD; đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong lĩnh vực ngân hàng cũng như nhu cầu đa dạng hóa, tính năng động, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh của các TCTD… Luật TCTD năm 2010 cũng đáp ứng được yêu cầu của quá trình
http://www.fijocoship.com/printpage.asp?menu=news&id=225
20http://csdl.thutuchanhchinh.vn/ho_so_vb/ngan_hang_nha_nuoc/b_nha_012137_vb_quyet_dinh_so_226_2002_qd_nhnn_ngay_26_thang_3_nam_2002_cua_thong_doc_ngan_hang_nha_nuoc_ve_viec_ban_hanh_quy_che_hoat_dong_thanh_toan_qua_cac_to_chuc_cung_ung_dich_vu_thanh_toan
Trang 20hội nhập và xây dựng hệ thống các TCTD hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế, đảm bảo sự đồng bộ giữa các quy định của Luật các TCTD và các luật khác như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật Cạnh tranh, Luật Hợp tác xã, Luật Phá sản…” 21
Theo ý kiến riêng của cá nhân, Luật các TCTD năm 2010 so với Luật các TCTD năm 1997 (sửa đổi năm 2004) trước hết là đưa ra những quy định cụ thể,
rõ ràng trong các trường hợp áp dụng luật, đặc biệt là các TCTD nước ngoài khi tham gia thị trường tại Việt Nam, việc áp dụng đồng bộ giữa các tổ chức trong nước nói chung và nước ngoài nói riêng trước hết đảm bảo sự công bằng, công khai, minh bạch trên thị trường, và một yếu tố quan trọng nữa là giúp NHNN trong quá trình quản lý, giám sát, và đưa ra các biện pháp khi có biến động trên thị trường
Nhận định:
Luật các TCTD 2010 có điểm mới so với Luật các TCTD năm 1997 là xác định rõ nguyên tắc áp dụng Luật theo hướng: Luật các TCTD quy định cụ thể các đặc thù trong việc thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của TCTD; khi có các quy định khác nhau giữa Luật các TCTD và luật khác thì Luật các TCTD sẽ được ưu tiên áp dụng
Việc ưu tiên áp dụng luật không những giúp giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động của các TCTD trong nước một cách công khai, minh bạch, đúng luật, mà bên cạnh đó khi các TCTD nước ngoài tham gia vào thị trường tài chính
21 http://www.ocb.com.vn/newsdetail-lag-1-tid-2-id-1135.html
Trang 21trong nước, thì việc phân định rõ về luật là cơ sở để giải quyết các tranh chấp trong hoạt động kinh doanh.
3.2 Nội dung của luật TCTD quy định áp dụng luật doanh nghiệp, luật hợp tác xã:
3.2.1 Những điểm mới của luật TCTD quy định luật DN, luật HTX:
Trong luật các TCTD 2010, tiêu chí phân biệt giữa ngân hàng và các TCTD phi ngân hàng đã được quy định rõ hơn trên cơ sở phạm vi hoạt động của hai loại hình này Các TCTD phi ngân hàng không được phép nhận tiền gửi cá nhân, không được cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng
Luật TCTD 2010 quy định mô hình ngân hàng thương mại ở Việt Nam là mô hình “ngân hàng thương mại đa năng hạn chế”, các NHTM được thực hiện các hoạt động ngân hàng truyền thống (như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán) và tùy theo mức độ rủi ro thị trường của từng nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, các NHTM được phép trực tiếp ( Đ 107 ) hoặc gián tiếp(thông qua công ty con, công ty liên kết ( Đ 103 )
Rõ ràng, chặt chẽ hơn: Luật TCTD 2010 quy định TCTD được tổ chức theo
các hình thức pháp lý của luật Doanh nghiệp (hoặc luật HTX), cụ thể: NHTM
trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần ( trừ NHTM nhà nước được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ) ; TCTD phi ngân hàng trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn ; TCTD 100% vốn nước ngoài, TCTD liên doanh được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn; Ngân hàng Hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợp tác xã; Tổ chức tài chính vi mô được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu
Trang 22hạn Như vậy, các quy định về quản trị, điều hành, kiểm soát được phân loại theo hình thức pháp lý của TCTD.
Bên cạnh đó, Luật TCTD 2010 cũng khẳng định quan điểm không có ngân hàng tư nhân bằng việc quy định: NHTM chỉ được thành lập dưới hình thức duy nhất là công ty cổ phần đại chúng, với tối thiểu là 100 cổ đông, trừ 2 trường hợp ngoại lệ là ngân hàng 100% vốn nhà nước và ngân hàng 100% vốn nước ngoài Đối với QTD: Các hoạt động của QTD được thực hiện đã quy định tại Điều
118 Luật các tổ chức tín dụng.( Quỹ tín dụng HTX của Hội Phụ nữ, HTX nông lâm nghiệp Nhữ Hán, Quỹ tín dụng thị trấn Yên Lạc, Quỹ tín dụng HTX Thái Bình…)
Ví dụ: Nhân sự của ngân hàng cũng là một trong những nội dung bị quản lý
rất chặt chẽ Chẳng hạn, những người bị kết án, bất kể về tội gì đối với các tội
thuộc khung hình phạt trên 3 năm tù, dù được xóa án tích ( pháp luật coi như chưa phạm tội) vẫn không bao giờ được làm kế toán trưởng hay giữ chức danh
từ giám đốc chi nhánh trở lên (điều 33) Hoặc nếu luật Doanh nghiệp chỉ cấm Tổng giám đốc của công ty cổ phần không được làm Tổng giám đốc của một doanh nghiệp khác, thì Luật các TCTD năm 2010 cấm cả Phó tổng giám đốc ngân hàng không được làm phó tổng giám đốc của doanh nghiệp khác ( điều 34) Và nếu vi phạm đương nhiên bị mất tư cách hoặc sẽ bị NHNN đình chỉ việc thực thi quyền hạn ( điều 36 và 37).
* Thông tư 2822
22
http://www.tinmoi.vn/ngan-hang-het-thoi-vung-tien-mua-trai-phieu-09580177.html
Trang 23Thông tư 28 do Phó thống đốc Nguyễn Đồng Tiến ký ban hành hôm 1/9 quy định chặt chẽ hơn về việc mua trái phiếu doanh nghiệp của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Theo đó, việc mua trái phiếu doanh nghiệp của các đơn vị phải tuân thủ quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan Dư nợ mua trái phiếu doanh nghiệp sẽ được tính vào dư nợ cấp tín dụng thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ Việc mua trái phiếu doanh nghiệp chuyển đổi phải thực hiện theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước về góp vốn, mua cổ phần Chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được mua trái phiếu chuyển đổi Đồng tiền thực hiện trong giao dịch mua trái phiếu doanh nghiệp phải là đồng Việt Nam
Thông tư 28 được Ngân hàng Nhà nước ban hành sau khi có hiện tượng ngân hàng ồ ạt mua trái phiếu Theo quy định của Luật các Tổ chức Tín dụng lẽ ra từ đầu năm nay, dư nợ mua trái phiếu doanh nghiệp đã phải được tính vào tổng dư
nợ tín dụng của ngân hàng Tuy nhiên, tranh thủ lúc quy định này chưa được triển khai, các ngân hàng đã chớp cơ hội mua trái phiếu lãi suất cao vào cuối tháng 6 đầu tháng 7 Việc mua trái phiếu vừa giúp ngân hàng đẩy được lượng vốn huy động với lãi suất cao mà không thể cho vay ra, đồng thời lách được hạn
* Thông tư 3023
23http://www.sbv.gov.vn/wps/portal/!
ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3g3I0czIzcPIwMLEwNjA08TV8tAf_cw4wATM_2CbEdFAIam2Fk!/?
WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/sbv_vn/sbv_vn/vn.sbv.news.communi/c5aba480487ea6b4a788afcdc9c9376a
Trang 24Để khắc phục tình trạng trên, đảm bảo an toàn hoạt động của các TCTD; NHNN ban hành Thông tư số 30/2011/TT-NHNN ngày 28 tháng 9 năm 2011 quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt nam của tổ chức, cá nhân tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
16 ngân hàng đồng thuận thực hiện nghiêm Thông tư 30 gồm 24 (cam kết không vượt trần hai mức lãi suất 14% và 6% của NHNN.): Vietcombank, VietinBank, Agribank, VDB (Ngân hàng Phát triển VN), Techcombank, MaritimeBank (Ngân hàng Hàng hải), VIB (Ngân hàng Quốc tế), VPBank (Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng), PGBank (Ngân hàng Xăng dầu), ngân hàng Bảo Việt, GPBank (Ngân hàng Dầu khí toàn cầu), Ngân hàng Quân đội, OceanBank (Ngân hàng Đại Dương), SHB (Ngân hàng Sài Gòn- Hà Nội), Ngân hàng Bắc Á, Ngân hàng Tiên Phong
Thông tư 30/2011/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ban hành hôm 28/9 Theo đó, lãi suất cao nhất đối với các khoản gửi kỳ hạn tháng là 14% một năm Với kỳ hạn tuần, ngày, lãi suất tối đa được áp dụng là 6% một năm
Nhận định:
Luật Các TCTD năm 1997 còn nhiều vướng mắc, chưa rõ ràng, cụ thể về quy định luật DN và luật HTX Nó không quy định phân biệt phạm vi hoạt động của từng loại hình TCTD nên khi triển khai thực hiện đã gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt trong việc xác định loại nghiệp vụ mà một loại hình TCTD cụ thể được phép thực hiện Do vậy, đã ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển của các loại hình TCTD
24 tran-lai-suat-ngan-han.chn
Trang 25Luật TCTD 2010 đã quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn về phạm vi hoạt động, hình thức tổ chức, quản trị, điều hành và về cấp giấy phép thành lập TCTD…
Bổ sung thêm nhiều quy định về tổ chức, quản trị, điều hành TCTD do Luật các TCTD năm 1997 thiếu các quy định cụ thể, đặc thù về tổ chức, quản trị, điều hành các TCTD Vì vậy, trong thực tiễn đã phát sinh xung đột luật giữa các quy định hướng dẫn của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (có giá trị pháp lý thấp hơn
so với các Luật) với các quy định của Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, Luật đầu tư, Luật chứng khoán…
Điều này đã gây khó khăn cho việc xác định tính đặc thù trong việc tổ chức, quản trị, điều hành TCTD so với các loại hình doanh nghiệp khác Từ đó, ảnh hưởng lớn đến việc quản lý và bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD và hệ thống các TCTD
4 LOẠI HÌNH TỔ CHỨC:
Luật các TCTD 2010 được xây dựng theo hướng điều chỉnh cụ thể, rõ ràng, chi tiết hơn cả về mặt tổ chức, quản lý và hoạt động của các loại hình TCTD so với Luật Tổ chức Tín dụng năm 1997, trong đó các quy định chung áp dụng cho tất cả các TCTD và các quy định cụ thể áp dụng cho từng loại hình TCTD Các quy định về quản trị, điều hành, kiểm soát được phân loại theo hình thức pháp lý của TCTD (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã); trong khi các quy định về hoạt động của Luật được phân loại theo loại hình hoạt động của TCTD (ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân) Kết cấu Luật TCTD mới giảm bớt được các quy định trùng lặp, đồng thời đảm bảo tính chặt chẽ, logic
Các quy định về tổ chức, quản trị, điều hành đối với TCTD là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn về cơ bản được xây dựng dựa trên cơ sở các
Trang 26quy định của Luật doanh nghiệp đối với loại hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, đồng thời kế thừa các quy định pháp luật hiện hành từ các Nghị định của Chính phủ, văn bản của Ngân hàng Nhà nước còn phù hợp và tham khảo các thông lệ quốc tế Các quy định về tổ chức, quản trị, điều hành đối với TCTD là hợp tác xã về cơ bản được xây dựng trên cơ sở các quy định của Luật hợp tác xã và trên cơ sở kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành Mặc dù, các quy định về tổ chức, quản trị, điều hành đối với các TCTD được xây dựng trên cơ sở các quy định của Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã nhưng có rất nhiều điểm khác biệt so với các Luật này để phù hợp với đặc thù trong hoạt động của các TCTD, trên nguyên tắc là đưa ra các yêu cầu cao hơn
về tổ chức, quản trị, điều hành TCTD so với các doanh nghiệp thông thường
Do đó, các quy định về tổ chức, quản trị, điều hành đối với các TCTD thường được thiết kế chặt chẽ hơn so với các doanh nghiệp khác trong nền kinh
tế Đây cũng là một thông lệ chung được thừa nhận rộng rãi trên bình diện quốc
tế (nguyên tắc số 3 và 7 của 25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng hiệu quả của Uỷ ban Basel, Luật ngân hàng Singapore, Luật ngân hàng Canada…).25
Những nội dung có thể áp dụng được Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã không được quy định lại trong Luật các TCTD năm 2010 để tránh trùng lắp và bảo đảm để những quy định chung vẫn có thể được áp dụng khi có thay đổi trong Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã
Tổ chức, quản trị, điều hành TCTD khác với tổ chức, quản trị, điều hành các doanh nghiệp thông thường, vì hoạt động của TCTD có liên quan đến quyền lợi của công chúng gửi tiền và liên quan đến sự ổn định, phát triển của nền kinh tế
25http://www.sbv.gov.vn/wps/wcm/connect/a4c34a0043636a09a148e9ad7097747d/30E42B67d01.pdf?
MOD=AJPERES&CACHEID=a4c34a0043636a09a148e9ad7097747d
Trang 27Nói chung các quy định về tổ chức, quản trị, điều hành TCTD tại Luật các TCTD được xây dựng trên cơ sở các quy định của Luật doanh nghiệp nhưng trên nguyên tắc là đưa ra các yêu cầu, điều kiện cao hơn so với tổ chức, quản trị, điều hành các doanh nghiệp thông thường để phù hợp với đặc thù của loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ
Cũng tại Hội nghị phổ biến Luật Ngân hàng nhà Nước và Luật các Tổ chức Tín dụng , Đ/c Dương Quốc Anh – Chánh Thanh tra, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trình bày “Luật TCTD năm 2010 cũng đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập và xây dựng hệ thống các TCTD hiện đại, phù hợp với thông
lệ quốc tế, đảm bảo sự đồng bộ giữa các quy định của Luật các TCTD và các luật khác như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán, Luật Cạnh tranh, Luật Hợp tác xã, Luật Phá sản…”26 Nguyên tắc áp dụng Luật cũng được xác định theo hướng quy định cụ thể các đặc thù trong việc thành lập, tổ chức, quản
lý và hoạt động của TCTD trong Luật các TCTD; khi có các quy định khác nhau giữa Luật các TCTD và luật khác thì Luật các TCTD sẽ được ưu tiên áp dụng; tùy theo hình thức pháp lý của TCTD, các nội dung không được quy định trong Luật sẽ được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã Luật các TCTD quy định TCTD được tổ chức theo các hình thức pháp lý của
Luật doanh nghiệp (hoặc Luật Hợp tác xã) nhằm mục tiêu " phát triển hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam đa dạng về sở hữu và loại hình tổ chức, áp dụng đầy đủ các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về quản trị ngân hàng Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước 27 Cụ thể như sau:
26http://cafef.vn/20110301031922292CA34/luat-cac-to-chuc-tin-dung cu.chn
Trang 28moi-va- Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần(trừ ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ (Nước ta chỉ có một Ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước là công ty TNHH MTV: NHNN đã ban hành Quyết định chuyển đổi Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) thành công ty TNHH MTV do Nhà nước làm chủ sở hữu).
TCTD phi ngân hàng trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
TCTD 100% vốn nước ngoài, TCTD liên doanh được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
Ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợp tác xã
Tổ chức tài chính vi mô được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
27Theo báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX:
Trang 295 GIẤY PHÉP THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG (TCTD):
Theo Điều 4 Luật TCTD 2010: Tổ Chức Tín Dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng TCTD bao gồm TCTD ngân hàng, TCTD phi ngân hàng, Tổ Chức Tài Chính Vi Mô và Quỹ Tín Dụng Nhân Dân.28
Đặc điểm :
TCTD là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh chủ yếu, thường xuyên
và mang tính nghề nghiệp
TCTD chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN)
5.1 Cấp giấy phép thành lập và hoạt động đối với TCTD là Ngân Hàng và Phi Ngân Hàng :
5.1.1 Hoạt động TCTD Ngân Hàng:
Ngân hàng là loại hình TCTD có thể thực hiện được tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Ngân hàng gồm có: Ngân hàng thương mại (NHTM), Ngân hàng chính sách (NHCS), Ngân hàng hợp tác xã (NHHTX)
5.1.1.1 Ngân hàng thương mại (NHTM):
NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận thông qua nguồn vốn ngắn hạn là chủ yếu
28 Theo Điều 4 Luật TCTD 2010
Trang 30NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên.29
Theo Luật ngân hàng 1997 thì NHTM là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng thường xuyên nhận tiền gửi và sử dụng để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán.30
Theo luật ngân hàng 2010 thì NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.31
So với Luật 1997 các TCTD phải thực hiện cả 3 hoạt động ngân hàng mới chịu sự quản lý của nhà nước thì Luật 2010 rõ ràng chi tiết hơn trong việc ràng buộc các TCTD chịu sự quản lý của NHNN
Đặc điểm:
NHTM là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất trong nền
kinh tế thực hiện chức năng trung gian tài chính vừa là người đi vay và vừa là người cho vay qua đó thu lời từ sự chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi Các hoạt động chủ yếu và thường xuyên của NHTM bao gồm:
Nghiệp vụ nợ (Huy động vốn) gồm Nhận tiền gửi, Phát hành giấy
tờ có giá, Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng, Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước
29mai.html
http://www.kinhdoanh.edu.vn/tin-tuc/mot-so-khai-niem-ve-ngan-hang-thuong-30 Theo Luật Ngân Hàng 1997
31 Theo Luật Ngân Hàng 2010
Trang 31 Nghiệp vụ có là việc Ngân Hàng sử dụng nguồn vốn của mình để kinh doanh thu lợi.
Nghiệp vụ trung gian thanh toán
5.1.1.2 Ngân hàng chính sách (NHCS):
NHCS là Ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước, do nhà nước thành lập,
hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà phục vụ chủ yếu cho các đối tượng chính sách nhằm thực hiện chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước Mục tiêu
an sinh xã hội.32
Đặc điểm:
Dự trữ bắt buộc bằng không
Không tham gia bảo hiểm, không đóng thuế cho nhà nước
Theo Luật TCTD 1997 Ngân hàng phát triển cho vay đối với doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng, xây dựng các khu chế xuất, khu công nghiệp
Theo Luật TCTD 2010 Ngân hàng phát triển đổi thành NHCS phục vụ chính sách cho vay đối với sinh viên, người nghèo và phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn
33NHCS phát triển tạo ra nhiều cơ hội để cải thiện đời sống người nghèo, phụ nữ bất hạnh, ví dụ như sau khi thành lập và đi vào hoạt động (tháng 3/2003), dư nợ bàn giao từ NHNo&PTNT chuyển sang cho NHCSXH chưa đầy 200 tỷ đồng, trong khi Lào Cai là một tỉnh đặc biệt khó khăn với hơn 50.000 hộ nghèo (thời điểm lúc bấy giờ), chiếm tỷ lệ trên 50% tổng số hộ toàn
32http://tailieu.vn/tag/tailieu/Ng%C3%A2n%20h%C3%A0ng%20Ch
%C3%ADnh%20s%C3%A1ch%20x%C3%A3%20h%E1%BB%99i.html
33 http://www.vbsp.org.vn/viewbaibantin.php?id_bai=764&nam=2010
Trang 32tỉnh Rất nhiều hộ nghèo và đối tượng chính sách không tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ qua kênh ngân hàng người nghèo trước đây vì cho vay hộ nghèo chỉ là việc làm kiêm nhiệm của các NHTM Sau khi Chính phủ cho thành lập NHCSXH ở các địa phương, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh coi đây là cơ hội tốt để những hộ nghèo được tiếp cận đầy đủ nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ phát triển sản xuất, học tập, tạo việc làm tăng thu nhập và giao nhiệm vụ cho NHCSXH phục vụ các đối tượng vì mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững Được sự quan tâm chỉ đạo của NHCSXH Việt Nam, bộ máy tác nghiệp của NHCSXH tỉnh Lào Cai đã sớm ổn định tổ chức, thành lập mạng lưới hoạt động từ Hội sở tỉnh đến 9 Phòng giao dịch cấp huyện, thực hiện tiếp nhận nguồn vốn và giải ngân theo các “kênh” tín dụng quy định dành cho các đối tượng hộ nghèo, hộ diện chính sách dưới sự trực tiếp chỉ đạo, điều hành Ban đại diện HĐQT NHCSXH tỉnh do một Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban và các Sở, ban, ngành, đoàn thể có liên quan làm thành viên theo đúng quy định của Trung Ương.
34Trước đây khi chưa có NHCSXH, người nghèo vay vốn rất khó khăn và cũng không biết vay vốn làm gì, thì bây giờ thông qua các tổ chức hội, đoàn thể làm tín chấp, thông qua việc lồng ghép các chương trình, tập huấn khuyến nông, khuyến lâm, đã tạo ra một sự chuyển biến mới về nhận thức và hành động, hộ nghèo đã đi lên bằng chính mình, không còn trông chờ, ỷ lại vào xã hội Nhiều mô hình dự án vay vốn phát triển kinh tế đã được bà con các dân tộc áp dụng có hiệu quả
Ví dụ:
34 http://www.vbsp.org.vn/viewbaibantin.php?id_bai=764&nam=2010
Trang 33Sau 5 năm hoạt động từ chỗ chỉ cho vay 2 chương trình là hộ nghèo và GQVL, đến nay chi nhánh NHCSXH tỉnh Lào Cai đã đảm nhận cho vay 12 chương trình, dự án35 Sau hơn 5 năm đi vào hoạt động, năm nào chi nhánh cũng hoàn thành tốt chỉ tiêu kế hoạch Trung ương giao, được đánh giá là một trong những đơn vị có tốc độ tăng trưởng dư nợ cao trong toàn hệ thống, với hơn 38.000 lượt hộ vay vốn, doanh số cho vay năm 2009 đạt 635.700 triệu đồng; doanh số thu nợ đạt 319.800 triệu đồng; đạt mức dư nợ 1.167 tỷ 500 triệu đồng, tăng 315.800 triệu (tăng trưởng 37%) so với 2008 Trong đó, dư nợ
cụ thể 12 chương trình như sau:
Cho vay hộ nghèo: 534 tỷ đồng, với 43.300 hộ dư nợ, bình quân dư nợ hộ nghèo 12,34 triệu đồng/hộ, tăng 3 triệu đồng/hộ so với 2008; cho vay hộ gia đình SXKDVKK (chương trình mới được Chính phủ giao, từ giữa năm 2007 trở lại đây) doanh số cho vay được 230 tỷ đồng, với 398,7 tỷ đồng dư nợ; cho vay HSSV 96,6 tỷ đồng với 9.600 hộ gia đình và HSSV vay; cho vay NS&VSMTNT 38,5 tỷ đồng với 6.628 hộ còn dư nợ; cho vay GQVL 43,2 tỷ đồng với 2.700 hộ vay vốn GQVL cho 1.250 lao động mới; 11,5 tỷ đồng cho 2.300 hộ đồng bào DTTS ĐBKK vay; cho vay hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167 đạt 34,466 tỷ đồng với 4.309 hộ (riêng 3 huyện nghèo đã cho vay 13,230 tỷ đồng với 1.654 hộ vay vốn, đạt kế hoạch của Ban chỉ đạo xoá nhà tạm của tỉnh) Cho vay thương nhân hoạt động thương mại tại VKK đạt 7,060 tỷ đồng với 238 hộ vay vốn
Việc khai trương hoạt động NHCSXH vào mùa xuân 2003 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Ngân Hàng không chỉ đánh
35http://www.baolaocai.vn/Index.asp?
tabid=10&CategoriesID=159&NewsID=42236
Trang 34dấu sự ra đời của một định chế tài chính đặc thù của nền kinh tế với vai trò thực hiện nguồn tín dụng ưu đãi của Nhà nước đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, mà còn đánh dấu mốc lễ xuất quân của một binh chủng mới trên mặt trận chống đói nghèo ngay từ đầu thế kỷ này Kể từ đây,
từ mùa xuân 2003, một trọng trách hết sức nặng nề nhưng cũng đầy vinh hạnh được đặt lên đôi vai đội ngũ cán bộ nhân viên NHCSXH Bằng chính lương tâm trách nhiệm của một tập thể được Đảng, Nhà nước giao phó và có sự hỗ trợ nhiệt thành của các cấp, các ngành, NHCSXH đã trải qua 5 năm xây dựng
và trưởng thành 5 mùa xuân qua, vị thế của ngân hàng được khẳng định trong lòng dân ở mọi miền đất nước
Đây chính là một ngân hàng của dân, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà chỉ vì mục tiêu cao cả cho sự nghiệp giảm nghèo xây dựng xã hội dân chủ, văn minh
5.1.1.3 Ngân hàng Hợp tác xã :
NHHTX là Ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân do các quỹ tín
dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của luật nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng 36
Theo Luật TCTD 1997 chưa có NHHTX
Theo Luật TCTD 2010 đang lên kế hoạch liên kết quỹ tín dụng nhân dân lại thành lập NHHTX
Theo Luật Hợp Tác Xã: đối tượng cho vay đối với NHHTX chính là người thành lập ra nó Xã viên, chỉ cho vay bên ngoài khi có sự đồng ý của 2/3 thành viên
36 Theo Ngân Hàng 2010
Trang 35 Tại Việt Nam, Quỹ Tín dụng nhân dân là tổ chức hoạt động theo mô hình hợp tác xã trong lĩnh vực cho vay vốn ở địa bàn các xã (phường) Đây là kênh huy động vốn hiệu quả của Nhà nước đặc biệt là tại các vùng nông thôn nơi người dân chưa có thói quen giao dịch với ngân hàng Hiệp hội quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam (VAPCF) được thành lập năn 2005 Mục tiêu là tương trợ các thành viên, phát huy sức mạnh tập thể
5.1.2 Cấp giấy phép đối với TCTD là Ngân hàng và phi ngân hàng:
37 Điều 18, Luật các TCTD 2010
38 Khoản 11, Điều 4, Luật các TCTD 2010
Trang 365.1.2.2 Vốn pháp định: Chính phủ quy định mức vốn pháp định đối với
từng loại hình TCTD 39
39 Danh mục mức vốn pháp định, ban hành kèm theo NĐ 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ:
doi-Nghi-dinh-141-2006-ND-CP-muc-von-phap-dinh-vb118293t11.aspx
Trang 373.000
tỷ đồng
b Ngân hàng thương
mại cổ phần
1.000
tỷ đồng
3.000
tỷ đồng
c Ngân hàng liên
doanh
1.000
tỷ đồng
3.000
tỷ đồng
d Ngân hàng 100%
vốn nước ngoài
1.000
tỷ đồng
3.000
tỷ đồng
đ Chi nhánh Ngân
hàng nước ngoài
15 triệu USD
15 triệu USD
2 Ngân hàng chính
sách
5.000
tỷ đồng
5.000
tỷ đồng
3.000
tỷ đồng
3.000
tỷ đồng
4 Ngân hàng phát
triển
5.000
tỷ đồng
5.000
tỷ đồng
1.000
tỷ đồng
3.000
tỷ đồng
dân
Trang 38cổ tức năm 2010 cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 12% Những Ngân hàng nhỏ cũng khá vất vả để hoàn thành đúng tiến độ Ngày 09/07/2010, NHNN đã có
công văn số 5158/NHNN-TTGSNH chấp thuận cho NHTM CP Phát Triển Mê
Kông (MDB) tăng vốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng.40
40 http://www.mdb.com.vn/vn/homepage/62/9/news-detail/