Hiện tại hệ thống bao gồm năm ngân hàng thương mại nhà nước NHTMNN, 34 ngân hàng thương mại cổ phần NHTMCP, bốn ngân hàng liên doanh NHLD, năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 100 chi nh
Trang 1BÁO CÁO NGÀNH LẦN ĐẦU
Tăng trưởng Huy động & Tín dụng
Thị phần Tín dụng (%)
Nợ xấu, 1H2013 (nghìn tỷ VND, %)
Ngành ngân hàng Việt Nam mới thực sự bắt đầu phát triển từ năm 1990
Từ hệ thống ngân hàng một cấp, đến nay ngành ngân hàng đã phát triển vượt bậc, trở thành một hệ thống đông đảo các ngân hàng và các tổ chức phi ngân hàng chỉ trong vòng 23 năm Hiện tại hệ thống bao gồm năm ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN), 34 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), bốn ngân hàng liên doanh (NHLD), năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 100 chi nhánh và phòng giao dịch ngân hàng nước ngoài (NHNNg), 18 công ty tài chính, 12 công ty cho thuê tài chính,
và gần 1.100 quỹ tín dụng Ngân hàng lớn nhất xét trên tổng tài sản là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, xét trên tổng vốn điều lệ
là Ngân hàng Công thương Hơn một nửa trong tổng số các NHTMCP có quy mô nhỏ với tổng tài sản nhỏ hơn 50.000 tỷ đồng và vốn điều lệ nhỏ hơn 5.000 tỷ đồng So với các ngân hàng trong khu vực, quy mô các ngân hàng Việt Nam còn khá khiêm tốn
Ngành ngân hàng có cấu trúc vừa tập trung vừa phân tán Các NHTMNN vẫn đang chiếm lĩnh thị trường mặc dù đang mất dần thị phần vào tay NHTMCP trong cả lĩnh vực huy động và cho vay Số lượng chi nhánh, phòng giao dịch, máy rút tiền tự động, tài khoản ngân hàng, thẻ đều tăng rất nhanh, tuy nhiên chỉ tập trung ở khu vực thành thị và các thành phố lớn Tỷ lệ thâm nhập thị trường của dịch vụ ngân hàng mới đạt 21%, tương đối thấp so với các nước trong khu vực Điều này làm cho ngành ngân hàng hấp dẫn trong dài hạn
Ngành ngân hàng Việt Nam đã tăng trưởng huy động và tín dụng rất ấn tượng trong quá khứ Tuy nhiên từ năm 2010 trở lại đây, tốc độ tăng trưởng đã giảm đáng kể Chúng tôi dự đoán năm 2014 ngành ngân hàng vẫn tiếp tục tăng trưởng chậm
Rất khó để ước tính được khối lượng nợ xấu do các ngân hàng Việt Nam không tuân thủ các quy tắc quốc tế khi phân loại nợ Tỷ lệ nợ xấu cuối tháng 11 năm 2013 được báo cáo là 4,55%, tuy nhiên con số này được thừa nhận rộng rãi là thấp hơn nhiều so với thực tế Công ty quản lý tài sản Việt Nam (VAMC) được thành lập vào tháng 7 năm 2013 với nhiệm vụ
xử lý nợ xấu ngành Ngân hàng Không thể phủ nhận vai trò của VAMC, tuy nhiên tính hiệu quả của các biện pháp VAMC sử dụng còn đang gây tranh cãi Thông tư 02, với các quy định thận trọng hơn về phân loại tài sản và phương pháp trích lập dự phòng rủi ro sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 06 năm 2014 và được kỳ vọng sẽ làm cho hoạt động của ngân hàng minh bạch hơn
Lợi nhuận các ngân hàng đã giảm kể từ năm 2011 Trong giai đoạn này, các NHTMNN và NHNNg đã ổn định hơn các NHTMCP Do các doanh nghiệp vẫn tiếp tục gặp khó khăn và tỷ lệ nợ xấu cao, triển vọng lợi nhuận của các ngân hàng trong năm 2014 tiếp tục bị cản trở bởi nợ xấu
Trang 2Nội dung
TỔNG QUAN NGÀNH NGÂN HÀNG THẾ GIỚI 3
CẬP NHẬT TÌNH HÌNH NGÀNH NGÂN HÀNG 3
NHỮNG NGÂN HÀNG ĐẦU NGÀNH 6
TỔNG QUAN NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM 11
LỊCH SỬ VÀ PHÁT TRIỂN 11
Ngân hàng thương mại nhà nước 12
Ngân hàng thương mại cổ phần 15
Ngân hàng nước ngoài 15
TĂNG TRƯỞNG ẤN TƯỢNG TRONG QUÁ KHỨ 18
Tăng trưởng tài sản 18
Tăng trưởng vốn 19
Tăng trưởng huy động và tín dụng 23
PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG 25
Thị phần 25
Cơ sở hạ tầng ngân hàng, phân phối, sự thâm nhập thị trường 27
MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG 31
Tình hình vĩ mô 31
Khung pháp lý 36
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG 38
So sánh ROA & ROE 38
Phân tích Dupont 39
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 40
Bảng cân đối Kế toán 43
Đánh giá chất lượng tín dụng 46
RỦI RO VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁC 47
Rủi ro thanh khoản 47
Rủi ro lãi suất 50
Rủi ro tín dụng và nợ xấu 51
VAMC và các giải pháp cho vấn đề nợ xấu 54
Sở hữu chéo 56
Ngân hàng Việt Nam trên con đường đến Basel 57
Các thương vụ mua bán và sáp nhập gần đây 59
Có cần thiết phải tách biệt ngân hàng và các công ty chứng khoán ở Việt Nam hay không? 60
TRIỂN VỌNG NGÀNH 61
Trang 3TỔNG QUAN NGÀNH NGÂN HÀNG THẾ GIỚI Trên thế giới hiện nay có nhiều hình thức ngân hàng tồn tại như ngân hàng tư nhân, ngân hàng quốc doanh, ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư Một số ngân hàng chú trọng vào các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống, trong khi số còn lại chỉ thực hiện nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, hoặc
cả hai
Ngân hàng thương mại có hai nguồn doanh thu chính: thu nhập lãi cho vay và thu nhập ngoài lãi Thu nhập lãi từ hoạt động cho vay là nghiệp vụ chính của ngân hàng Thu nhập ngoài lãi của ngân hàng thường bao gồm thu nhập từ phí và dịch vụ từ hoạt động ngân hàng, đầu tư chứng khoán,
và các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư như mua bán sáp nhập, quản lý tài sản, bảo lãnh phát hành và tư vấn tài chính
Đi cùng với các nguồn doanh thu, cơ cấu chi phí của mỗi ngân hàng thường có hai thành phần chính: chi phí hoạt động tại các điểm giao dịch
và chi phí lãi phải trả cho người gửi tiền Ngân hàng sử dụng nhiều kênh giao dịch khác nhau để tiếp cận khách hàng, từ mạng lưới các phòng giao dịch truyền thống đến máy giao dịch tự động, dịch vụ chăm sóc khách hàng qua điện thoại, hệ thống quầy giao dịch ngân hàng tới dịch vụ ngân hàng qua di động, ngân hàng qua Internet Các kênh giao dịch này thường tốn của ngân hàng một khoản chi phí lớn
Hiện nay có hai xu hướng trong các mô hình hệ thống tài chính Một số nước áp dụng các quy định tách các ngân hàng thương mai và ngân hàng đầu tư riêng biệt, trong khi một số nước cho phép sự kết hợp của hai loại hình dịch vụ này trong một tổ chức
CẬP NHẬT TÌNH HÌNH NGÀNH NGÂN HÀNG
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 ở Mỹ và cuộc khủng hoảng nợ công
ở châu Âu năm 2010 đã đẩy nhiều nền kinh tế rơi vào suy thoái và một loạt các định chế tài chính lớn trở nên mong manh hơn bao giờ hết trước những cú sốc tài chính Tại Mỹ, nhằm thúc đẩy nền kinh tế của nước mình, Cục dự trữ Liên Bang Mỹ (Fed) đã áp dụng chương trình Nới lỏng Định lượng (chương trình QE) Chương trình QE là một công cụ của nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng trung ương nhằm tăng cung tiền khi lãi suất cho vay đã thấp gần bằng không (0), từ đó duy trì được lãi suất và giá trị của đồng tiền ở mức thấp, thúc đẩy đầu tư và tiêu dùng Fed đã áp dụng chương trình QE từ tháng 10/2008 cho tới nay chia làm ba giai đoạn thông qua việc mua các trái phiếu dài hạn và một số tài sản khác Gần đây, nền kinh tế Mỹ đã liên tục có những tín hiệu tăng trưởng khởi sắc, với tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống trong một vài tháng và thị trường nhà đất đã ấm dần lên cùng với mức tiêu dùng nội địa tăng cao hơn trước Khi cuộc khủng hoảng tài chính đã qua, chính phủ Mỹ đã thể hiện rõ quan điểm cắt giảm chương trình QE, một trong những nỗ lực cuối cùng của Fed để kích thích cho vay và tăng trưởng kinh tế nói chung trong năm tới, mở đường cho lãi suất trái phiếu chính phủ tăng lên, qua đó thu hút dòng vốn quay trở lại Mỹ
Bức tranh của ngành ngân hàng toàn cầu và sự sụp đổ của kinh tế toàn cầu trong năm năm gần đây thực chất bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ Sự phát triển quá nóng của thị trường nhà đất của
Ngành ngân hàng trên toàn
Trang 4Mỹ đã bùng nổ thành cuộc khủng hoảng cho vay mua nhà thế chấp dưới chuẩn, tạo nên cuộc suy thoái lớn nhất trong lịch sử kể từ cuộc Đại suy thoái năm 1929 Từ tháng 10/2008, chính phủ Mỹ đã áp dụng một loạt giải pháp để tránh cho ngành ngân hàng khỏi sụp đổ, tăng cường ổn định thị trường, nâng cao sức khỏe của hệ thống tài chính, và tăng tính thanh khoản của thị trường
Chương trình giải cứu các tài sản có vấn đề (TARP) được đưa ra bởi đạo luật Bình ổn Kinh tế Khẩn cấp (EESA) lần đầu tiên được thông qua vào ngày 03/10/2008 với thời hạn kéo dài hai năm Trong TARP, bộ Tài chính
có quyền hoặc mua hoặc bảo đảm cho các tài sản có vấn đề của các tổ chức tài chính với số tiền lên tới 700 tỷ USD Khái niệm “tài sản có vấn đề”
và “tổ chức tài chính” khiến bộ Tài chính có thể linh hoạt trong việc lựa chọn tài sản nào sẽ được mua lại và tổ chức nào đủ tiêu chuẩn được coi là
tổ chức tài chính Chương trình TARP sau đó đã được sửa đổi, áp dụng các giới hạn chặt chẽ cho mức lương thưởng cho ban giám đốc và cắt giảm khoản tiền của chương trình xuống còn 475 tỷ USD
Chương trình mua vốn (CPP), nằm trong khuôn khổ của TARP, được đưa
ra lần đầu tiên vào ngày 14/10/2008 Theo chương trình này, các tổ chức tài chính đủ điều kiện sẽ được bán các cổ phiếu ưu đãi cho Bộ Tài chính với giá trị tương đương từ 1% đến 3% tổng tài sản “có” rủi ro của tổ chức
đó Các cổ phiếu ưu đãi bán được sẽ củng cố nguồn vốn cấp 1 cho tổ chức tài chính đó Tính tới nay đã có 707 tổ chức tài chính ở 48 bang nhận được nguồn vốn từ bộ Tài chính thông qua chương trình này CPP và các chương trình khác của TARP có thể chia nhỏ thành các nhóm chương trình sau: chương trình hỗ trợ ngân hàng, chương trình thị trường tín dụng, các chương trình đầu tư khác, và chương trình nhà ở
Các khoản giải ngân của Quỹ TARP (tỷ USD) tính đến 21/06/2013
Các chương trình của TARP Số tiền phân bổ Số tiền giải ngân thực tế Chương trình hỗ trợ ngân hàng 250,46 245,1
Nguồn: Dịch vụ Nghiên cứu Quốc hội
Sự yếu kém và dễ đổ vỡ của ngành ngân hàng sau cuộc khủng hoảng đã dấy lên yêu cầu cấp bách chấm dứt những thập niên gỡ bõ các quy định (giải quy) của ngân hàng và thiết lập những chuẩn mực nghiêm ngặt hơn cho một hệ thống tài chính toàn cầu an toàn hơn Khi TARP kết thúc vào 03/10/2010, Đạo luật Bảo vệ Người tiêu dùng và Cải cách Phố Wall Dodd-Frank (đạo luật Dodd-Frank) cũng đã được ban hành vào năm 2010, trở thành cuộc cải cách tài chính toàn diện nhất kể từ Đạo luật Steagall (năm 1933) Đạo luật Dodd-Frank đã xây dựng các chuẩn mực cẩn trọng và toàn diện hơn để giám sát các tổ chức tài chính và để tránh những trường hợp “quá lớn để sụp đổ” mới trong tương lai
Hiệp ước Basel đã được phát triển thành một khung tiêu chuẩn toàn cầu
để giải quyết yêu cầu cấp bách cho một thị trường tài chính an toàn hơn Phiên bản đầu tiên của Hiệp ước Basel, Basel I, được Ủy bản Basel về
TARP là biện pháp chưa có
tiền lệ được Chính phủ Mỹ sử
dụng để cứu hệ thống ngân
hàng khỏi cuộc khủng hoảng
tài chính năm 2008
Hiệp ước Basel và những
phiên bản của nó là khung
quy định toàn cầu về tiêu
chuẩn ngân hàng phổ biến
Trang 5giám sát ngân hàng (BCBS) soạn thảo, gồm đại diện của các ngân hàng trung ương của 12 quốc gia Hiệp ước ban đầu chỉ nhằm áp dụng cho các ngân hàng hoạt động trên quy mô quốc tế nhưng nó đã được rất nhiều quốc gia chào đón và được áp dụng rộng rãi ở cấp quốc gia Hiệp ước tập trung vào định nghĩa mức vốn tối thiểu, theo đó tất cả các tài sản trên bảng cân đối kế toán và các tài sản ngoại bảng được áp một mức tỷ trọng tương đương với mức độ rủi ro ước tính của tài sản đó Và các ngân hàng phải duy trì một mức vốn tối thiểu không nhỏ hơn 8% của tổng tài sản có rủi ro
BCBS tiếp tục sửa đổi các tiêu chuẩn về tỷ lệ an toàn vốn để nhằm tạo ra một sự phục hồi tốt hơn cho các ngân hàng toàn cầu với sự ra đời của Hiệp ước Basel II Mục tiêu mới trong Hiệp ước Basel II so với hiệp ước cũ
là thúc đẩy thông qua các biện pháp chặt chẽ hơn trong lĩnh vực quản trị rủi ro Bên cạnh vấn đề quản trị rủi ro tín dụng đã được nhắc đến từ đầu, Hiệp ước Basel II đưa rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động vào để xây dựng nên ba cột trụ Cột trụ thứ nhất tập trung vào các yêu cầu về vốn với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ở mức 8% như trước, trong đó tỷ lệ vốn góp tối thiểu là 3,5% và tỷ lệ vốn Cấp 1 tối thiểu là 4,5% Cách đánh giá tỷ trọng cho tài sản được đã được quy định rõ ràng hơn, cùng với những hướng dẫn quản lý các tài sản thế chấp một cách có hệ thống hơn Cột trụ thứ hai tập trung vào hệ thống kiểm soát nội bộ và giám sát của ngân hàng mà thông qua đó các nhà quản lý sẽ đánh giá hệ thống nội bộ và mô hình của ngân hàng xem cột trụ thứ nhất đã được thực hiện nghiêm túc ở ngân hàng đó hay chưa Nếu các nhà quản lý đánh giá mức vốn vẫn chưa
đủ, các ngân hàng sẽ được yêu cầu tăng mức vốn hoặc hạn chế số lượng tín dụng cấp mới Cột trụ thứ ba đưa ra các nguyên tắc của thị trường và các yêu cầu về công bố thông tin
Mặc dù có nhiều điểm cải tiến so với Basel I, cuộc khủng hoảng tài chính vẫn diễn ra, cho thấy Hiệp ước vẫn còn nhiều hạn chế Những hạn chế này
đã được sửa đổi bổ sung trong phiên bản mới, Hiệp ước Basel III nhằm tăng cường các quy định yêu cầu, hệ thống giám sát và quản lý rủi ro của khu vực ngân hàng Theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), tính đến tháng 10/2013, 14 nước thành viên hội đồng Basel đã thông qua các quy định về vốn dựa trên Basel III, bao gồm Úc, Canada, Trung Quốc, Đặc khu kinh tế Hồng Kông, Ấn Độ, Nhật Bản, Mê-hi-cô, Ả Rập Saudi, Singapore, Nam Phi và Thụy Sỹ 13 quốc gia thành viên còn lại, dù đã trễ thời hạn ngày 01/01/2013, vẫn đang tiếp tục ban hành các quy định theo chuẩn Basel III Các nước này gồm có chín nước thành viên Liên minh châu Âu, Indonesia, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ Hiệp ước Basel III đưa ra nhiều điểm mới so với Basel II với việc giới thiệu lần đầu các yêu cầu về thanh khoản, nâng mức vốn yêu cầu tối thiểu và những cải tiến ở các cột trụ còn lại
Trang 6Khác biệt giữa Basel II và Basel III
Nguồn : Moody’s
Ở cột trụ thứ nhất, tỷ lệ vốn tự có tối thiếu tăng lên 4,5% từ mức cũ 2,5%, và tỷ lệ vốn Cấp 1 tối thiếu nâng thêm 2% lên mức 6% Khoản vốn đệm để bảo toàn vốn được bổ sung từ nguồn vốn góp thông thường là một điểm mới được đưa vào nhằm tăng khả năng chịu đựng mất mát của các ngân hàng trước những cú sốc tài chính Nếu mức vốn đệm này rơi xuống thấp hơn 2,5%, ngân hàng bị buộc phải dừng việc trả cổ tức và thưởng cho nhân viên cho tới khi vốn đệm được khôi phục Liên quan đến việc cải thiện tình hình thiếu sự giám sát về mức chênh lệch giữa huy động và cho vay, một bộ tiêu chuẩn về thanh khoản gồm có tỷ lệ đảm bảo tính thanh khoản (LCR) và tỷ lệ cung cấp vốn bền vững thuần (NSFR) đã được đưa
ra, củng cố khả năng khôi phục của các ngân hàng trong ngắn hạn, đảm bảo cho ngân hàng có đầy đủ tài sản có tính thanh khoản chất lượng tốt
để vượt qua cơn sốc tài chính trong vòng một tháng Tiêu chuẩn tối thiểu cho tỷ lệ LCR và tỷ lệ NSFR đang được thảo luận và dự kiến sẽ đi đến quyết định vào năm 2015 và 2018 Việc áp dụng đúng hiệp ước Basel III
sẽ tăng cường tính minh bạch, khả năng có thể so sánh và nền tảng tài chính bền vững cho ngân hàng và các tổ chức tín dụng trên khắp thế giới
NHỮNG NGÂN HÀNG ĐẦU NGÀNH
Trong bối cảnh tài chính chưa ổn định như hiện nay, các ngân hàng Trung Quốc đã cải thiện thành công thứ hạng trên giới của mình khi năm 2012, ngân hàng Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc (ICBC) đã vượt qua ngân hàng JP Morgan & Chase (JPM) trở thành ngân hàng lớn nhất thế giới theo chỉ tiêu vốn cấp 1 Các ngân hàng Trung Quốc và Mỹ chia nhau nắm giữ sáu vị trí còn lại trong top 10 Hai vị trí còn lại thuộc về hai ngân hàng
ở Anh và Nhật Bản
Trang 7Một số chỉ số tài chính của top 10 ngân hàng lớn nhất thế giới theo vốn Cấp 1
Ngân hàng Xếp hạng theo vốn cấp 1 ROA ROE CAR
Nguồn: Báo cáo thường niên của các ngân hàng
Một số chỉ số tài chính của ngân hàng ICBC giai đoạn 2008 - 2012
Hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) 13,66 13,17 12,27 12,36 13,06
Nguồn: Báo cáo thường niên của ngân hàng ICBC
ICBC không chỉ thành công vươn tới vị trí số một thế giới về vốn Cấp 1 mà còn khẳng định vị thế dẫn đầu của mình ở mặt thu nhập lãi thuần
Các ngân hàng lớn nhất thế giới năm 2012 theo thu nhập lãi thuần (tỷ USD)
Nguồn: The Banker
Thực tế, ICBC đã đa dạng hóa nguồn lợi nhuận khá thành công trong suốt năm năm qua Doanh thu lãi thuần chỉ chiếm 79% tổng doanh thu của ngân hàng này, giảm so với mức 85% năm 2008, trong khi thu nhập từ phí dịch vụ tăng từ 15% lên 19% trong cùng kỳ Vị thế ngày càng lớn hơn
HSBC Banco Santander, Spain
Bank of China Bank of America Wells Fargo & Co
JP Morgan Chase & Co
Citigroup Agri Bank of China China Construction Bank
ICBC
Năm 2012, ICBC là ngân
hàng Trung Quốc đầu tiên
dành được vị trí ngân hàng
lớn nhất thế giới theo vốn
Cấp 1
Trang 8của doanh thu từ phí và hoa hồng đã cải thiện sự bền vững cho nguồn doanh thu của ngân hàng, giúp tăng vốn cho phát triển dài hạn
Cơ cấu thu nhập của ngân hàng ICBC năm 2008 và 2012
Nguồn: Báo cáo thường niên của ICBC
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các công ty ở Trung Quốc đang gia tăng nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng đầu tư Nhận thấy các cơ hội này, từ năm 2002, ICBC đã trở thành tổ chức tài chính đầu tiên ở Trung Quốc đại lục đưa ra dịch vụ ngân hàng đầu tư dựa trên khung ngân hàng thương mại sẵn có Ngân hàng ICBC đã tận dụng lợi thế để hỗ trợ hoạt động trong nước và các chi nhánh nước ngoài, tìm kiếm các cơ hội làm ăn mới và nâng cao tính chuyên nghiệp Hiện nay, ICBC đã trở thành một thương hiệu quốc tế có mặt trên gần 40 nước trải đều khắp sáu châu lục Theo báo cáo thường niên năm 2012, nhờ có mạng lưới rộng khắp gồm 17.125 chi nhánh nội địa và 393 chi nhánh quốc tế, các sản phẩm tài chính của ngân hàng đã phục vụ 4,38 triệu khách hàng doanh nghiệp và 393 triệu khách hàng cá nhân ICBC rõ ràng đang cạnh tranh với các đối thủ hàng đầu trong lĩnh vực để phục vụ những khách hàng cao cấp trên thị trường vốn toàn cầu
Nợ xấu của ngân hàng ICBC từ năm 2008-2012
Các nhóm nợ
Số tiền (triệu RMB) %
Số tiền (triệu RMB) %
Số tiền (triệu RMB) %
Số tiền (triệu RMB) %
Số tiền (triệu RMB) %
Nợ xấu 74.575 0,85 73.011 0,94 73.241 1,08 88.467 1,54 104.482 2,29
Nợ dưới tiêu chuẩn 29.418 0,33 24.092 0,31 18.932 0,28 31.842 0,56 37.694 0,82
Nợ nghi ngờ 36.482 0,41 38.712 0,50 41.765 0,62 43.413 0,76 55.641 1,22
Nợ có khả năng mất vốn 8.675 0,10 10.207 0,13 12.544 0,18 13.212 0,23 11.147 0,24 Tổng dư nợ 8.803.692 100,0 7.788.897 100,0 6.790.506 100,0 5.728.626 100,0 4.571.994 100,0
Nguồn: Báo cáo thường niên của ngân hàng ICBC
ICBC đã chứng tỏ sức cạnh tranh và tính bền vững của mình thông qua những con số nợ xấu hết sức ấn tượng trong những năm gần đây Ngân hàng này đã áp dụng một hệ thống quản lý rủi ro phức tạp để đảm bảo sự
Thu nhập lãi thuần 79%
Thu nhập
từ phí, hoa hồng thuần 20%
Khác 1%
2012
Thu nhập lãi thuần 85%
Thu nhập từ phí, hoa hồng thuần 14%
Khác
Trang 9an toàn của toàn hệ thống tín dụng, tỷ lệ nợ xấu nhờ vậy lần đầu tiên đã giảm xuống dưới mức 1% vào năm 2011 và tiếp tục thấp hơn trong năm
2012 và dự báo cả những năm tiếp theo Dư nợ tín dụng tăng trưởng bền vững nhưng cơ cấu của nợ xấu đã chuyển phần lớn sang dạng nợ dưới chuẩn và nợ nghi ngờ, nhờ đó giảm thiếu các khoản lỗ được ghi nhận
JP Morgan Chase & Co
JPM đã bị ICBC chiếm ngôi vị thứ nhất tính theo quy mô vốn cấp 1 nhưng định chế tài chính khổng lồ này vẫn giữ vị trí số một thế giời về doanh thu dịch vụ ngân hàng đầu tư tính đến Quý 3 năm 2013
Các ngân hàng có doanh thu từ phí dịch vụ ngân hàng đầu tư lớn nhất Quý 3/ 2013 (triệu USD)
Nguồn: Tạp chí Financial Times
Doanh thu từ dịch vụ ngân hàng đầu tư của JPM thực sự chỉ chiếm 6% trong tổng doanh thu Quý 3/2013 và 9% trong năm tài chính 2012 Doanh thu lãi thuần giữ vị trí chủ chốt trong tổng thu, khoảng 44% trong
ba quý đầu tiên của năm 2013 Những thành phần doanh thu lớn tiếp theo thuộc về doanh thu quản lý tài sản (15%) và giao dịch ủy thác (14%) Phần còn lại là doanh thu từ phí liên quan đến cho vay và huy động, doanh thu thẻ và phí cho vay thế chấp
Cơ cấu doanh thu của ngân hàng JPM 2008 – 2012
Nguồn: Báo cáo thường niên của ngân hàng JPM
JP Morgan Bank of America Goldman Sachs & Co Morgan Stanley Citi Group Deutsche Bank Barclays Credit Suisse Wells Fargo & Co
Lãi kinh doanh chứng khoán Quản lý tài sản
Phí liên quan đến cho vay và huy động
Giao dịch ủy thác Phí ngân hàng đầu tư
Trang 10Trong bối cảnh hỗn loạn tài chính những năm gần đây, JPM vẫn báo cáo con số kỷ lục 2,6 tỷ USD thu nhập thuần, tăng 12% so với năm trước Những con số ấn tượng này là những bằng chứng rõ ràng nhất rằng JPM vẫn là một công ty dịch vụ tài chính dẫn đầu thế giới và là một trong những ngân hàng lớn nhất nước Mỹ Tuy nhiên, JPM gần đây đã dính vào một vài rắc rối pháp luật Tháng 9/2013, ngân hàng này đã bị tòa án kết tội không thực hiện giám sát đầy đủ các giao dịch viên chứng khoán khi
họ định giá quá cao giá trị của các danh mục đầu tư so với thực tế để che giấu các khoản thua lỗ lớn JPM bị phạt khoản tiền trị giá 920 triệu USD, bao gồm 300 triệu USD cho Văn phòng kiểm soát tiền tệ của Mỹ, 200 triệu USD cho Fed, 200 triệu USD cho Ủy ban chứng khoán Mỹ và phần còn lại cho Cơ quan quản lý hoạt động tài chính của Anh
Trang 11TỔNG QUAN NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM
LỊCH SỬ VÀ PHÁT TRIỂN
Sự phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam có thể được đánh dấu từ sự
ra đời của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vào ngày 06/05/1951 Tuy nhiên các ngân hàng thương mại ở Việt Nam lại có một lịch sử hình thành mới mẻ cách đây 23 năm, cụ thể là vào tháng 5/1990 khi hai sắc lệnh quan trọng được ban hành: Sắc lệnh về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Sắc lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và các công ty tài chính Quy định này thực sự đưa Việt Nam từ một nước có hệ thống ngân hàng độc nhất sang hệ thống ngân hàng hai cấp mà ở đó chức năng của ngân hàng nhà nước được thu hẹp lại, chỉ còn giám sát chính sách tiền tệ, phát hành tiền, quản lý hệ thống tín dụng, giám sát các ngân hàng thương mại, quản lý dự trữ ngoại hối với mục tiêu hàng đầu là bình ổn tiền tệ và kiểm soát lạm phát, trong khi chức năng trung gian tài chính (huy động và phân bổ vốn) được chuyển sang cho các ngân hàng thương mại
Những bước phát triển quan trọng của hệ thống tài chính Việt Nam được tóm tắt theo bảng dưới đây:
Những phát triển quan trọng của hệ thống tài chính Việt Nam
Từ năm 1991 Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) được phép đi vào hoạt động và các ngân hàng nước ngoài được phép tham gia vào thị trường Việt Nam thông qua việc mở các chi nhánh hoặc liên
doanh với các ngân hàng trong nước
1993 Việt Nam bình thường hóa quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng quốc tế (Quỹ tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á)
1995 Nghị quyết về việc dỡ bỏ thuế doanh thu đối với hoạt động ngân hàng được Quốc hội thông qua Ngân hàng cho người nghèo được thành lập
1997 Luật về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật về các tổ chức tín dụng đã được Quốc hội khóa 10 thông qua vào ngày 02/12/1997 và có hiệu lực từ ngày 01/10/1998; Ngân hàng Phát triển Nhà
Đồng Bằng Sông Cửu Long được thành lập theo quyết định 769/TTg ban hành ngày 18/09/1997
1999 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được thành lập vào ngày 09/11/1999
2002 Lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng được tự do hóa – đây là bước cuối cùng để hoàn toàn tự do hóa lãi suất của thị trường tín dụng
2003
Tái cơ cấu toàn diện hoạt động các ngân hàng thương mại theo chuẩn quốc tế; Ngân hàng Chính sách Xã hội được thành lập, thay thế cho Ngân hàng dành cho người nghèo nhằm tách bạch tín dụng chính sách khỏi tín dụng thương mại theo cơ chế thị trường; Luật về Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi
Ngành ngân hàng Việt Nam
thực sự đi vào hoạt động vào
Trang 12Trong suốt hai thập kỷ kể từ lần cải cách đầu tiên, ngành ngân hàng đã phát triển mạnh mẽ, ít nhất là ở số lượng các ngân hàng Từ hệ thống một ngân hàng độc nhất – với ngân hàng nhà nước đồng thời kiêm cả chức năng của ngân hàng thương mại và ngân hàng trung ương, hệ thống ngân hàng đã trở nên đông đảo với 150 ngân hàng và hơn 1.100 tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ trong vòng 23 năm Sự phát triển tập trung vào hai giai đoạn và hai nhóm ngân hàng Thập niên 90’ là thời đại của các NHTMCP và giai đoạn đầu những năm 2000 đánh dấu thời điểm tham gia của các ngân hàng nước ngoài
Số lượng ngân hàng
Nguồn: NHNN
Số lượng các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) vẫn ổn định, từ bốn NHTMNN được thành lập ban đầu, chỉ có một ngân hàng Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long (MHB) được thành lập thêm vào năm 1997 Trong khi đó, số lượng các NHTMCP tăng mạnh trong thập kỷ 90’, lên đỉnh điểm với 51 ngân hàng trong năm 1996, nhưng đã giảm dần từ đó xuống còn
34 ngân hàng do các quy định liên quan tới vốn điều lệ tối thiểu và tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu, dẫn đến việc sáp nhập và hợp nhất của một loạt các ngân hàng nhỏ và yếu kém Chúng tôi sẽ bình luận thêm về ảnh hưởng của những quy định này lên khu vực ngân hàng ở phần sau của báo cáo, nhưng có thể nói rằng việc hợp nhất ở ngành ngân hàng có nhiều khả năng vẫn còn tiếp tục
Ngân hàng thương mại nhà nước
Hiện nay có năm NHTMNN ở Việt Nam, trong đó bốn ngân hàng lớn nhất
hệ thống: NHTMCP Ngoại thương (VCB), NHTMCP Công thương (CTG), NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank) NHTMNN còn lại là Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB) được thành lập năm 1997 với quy mô nhỏ
BIDV được thành lập từ năm 1957, tiền thân là Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam Năm 1981, được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt
0 10 20 30 40 50 60
Trang 13Nam và đổi thành tên như hiện nay vào 14/11/1990 Nhiệm vụ hàng đầu của BIDV là cung cấp nguồn vốn dài hạn cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và công trình công
VCB là ngân hàng có tổ chức tiền thân là Cục Ngoại Hối (một cơ quan chuyên ngành của NHNN) theo Nghị định Chính phủ số 115/CP năm 1962 với chức năng chính là hỗ trợ tài chính cho các hoạt động ngoại thương, quản lý ngoại hối và hỗ trợ các công ty nhà nước
Hai NHTMNN còn lại được thành lập sau cuộc cải cách ngân hàng Theo
đó, Agribank và CTG cung cấp tài chính cho các khu vực kinh tế tương ứng của mình, cụ thể là phát triển nông thôn, nông nghiệp và thương mại, công nghiệp Hiện nay, Agribank là ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam về tổng tài sản với 2.300 chi nhánh và văn phòng giao dịch khắp cả nước
Để hoàn thành quá trình mở cửa thị trường ngân hàng trong nước cho các nhà đầu tư nước ngoài và tăng tính cạnh tranh cho các ngân hàng trong nước, chính phủ đã ban hành Quyết định số 112/2006/QD-TTg, đặt mục tiêu cổ phần hóa các NHTMNN và cho tới năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ sở hữu của nhà nước ở các ngân hàng này xuống còn 51% Tuy nhiên quá trình
cổ phần hóa tất cả các NHTMNN đã diễn ra khá chậm so với mục tiêu của chính phủ Tính đến thời điểm tháng 04/2011, chỉ có VCB và CTG đã bán thành công cổ phần cho các nhà đầu tư cá nhân VCB trở thành NHTMNN đầu tiên chào bán cổ phần lần đầu tiên ra công chúng, với 6,5% cổ phần được bán ra trị giá 10,5 nghìn tỷ VND (khoảng 652 triệu USD) vào tháng 12/2007 CTG cũng thành công chào bán được 4% cổ phần trị giá 1,1 nghìn tỷ VND (khoảng 64 triệu USD) vào tháng 12/2008 Kế hoạch cổ phần hóa của ba NHTMNN còn lại bị hoãn lại do tình hình yếu kém của thị trường chứng khoán trong nước Kế hoạch bán 15% cổ phần cho nhà đầu
tư chiến lược và 14,34% cổ phần ra công chúng của MHB được thông qua vào tháng 04/2010 Tuy nhiên, phải đến tháng 07/2011, MHB mới huy động được 196,8 tỷ VND từ công chúng, tương đương với 9% cổ phần của ngân hàng BIDV ban đầu có kế hoạch chào bán cổ phần lần đầu tiên ra công chúng vào năm 2008 nhưng đã bị hoãn lại hai lần Ngân hàng này đã lên kế hoạch bán 20% cổ phần, trong đó 10% cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược Cuối cùng, trước kỳ vọng cao từ phía thị trường, BIDV đã chào bán 3,68% cổ phần trong lần phát hành đầu tiên ra công chúng vào tháng 12/2011, thu về 1.575 nghìn tỷ VND (tương đương 75 triệu USD), nhưng 40% sổ cổ phiếu được phát hành đã được mua bởi nhân viên BIDV và cổ phiếu ngân hàng này vẫn chưa được niêm yết Đối với trường hợp của Agribank, vào tháng 02/2009, NHNN đã chấp thuận kế hoạch để Agribank trở thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của nhà nước NHNN đã đề cập đến việc Agribank sẽ không tiến hành cổ phần hóa trong ít nhất năm năm tới
Quá trình cổ phần hóa các
NHTMNN diễn ra khá chậm
Tính đến nay, NHNN vẫn sở
hữu đa số cổ phần
Trang 14Sở hữu nhà nước ở các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước
Nguồn: VPBS tổng hợp
Tại diễn đàn Đối tác Phát triển Việt Nam vào tháng 12/2013, tình hình tư nhân hóa các NHTMNN đã được cập nhật Ở sự kiện này, Thủ tướng phát biểu rằng Nhà nước sẽ tiếp tục bán các cổ phần của mình ở bốn NHTMNN trong năm 2014 và 2015 Thêm vào đó, việc cổ phần hóa 500 doanh nghiệp nhà nước sẽ được khởi động, với mục tiêu hoàn thành kế hoạch vào năm 2020 Mặc dù diễn ra chậm hơn rất nhiều so với kế hoạch ban đầu, Chính phủ vẫn đang thể hiện cam kết của mình đối với kế hoạch tư nhân hóa các NHTMNN và doanh nghiệp nhà nước Tốc độ của quá trình cổ phần hóa và số lượng cổ phiếu của các NHTMNN sẽ được chào bán phụ thuộc chủ yếu vào diễn biến của thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm sắp tới Nguồn cung cổ phiếu ồ ạt nói chung có khả năng sẽ tạo áp lực khiến thị trường chứng khoán đi xuống
Hệ thống ngân hàng Việt Nam tính đến 30/06/2013
Ngân hàng chính sách xã hội
Ngân hàng phát triển
Ngân hàng thương mại
5 NHTMNN (Cấp 1) Agribank, CTG, VCB, BIDV, MHB
34 NHTMCP (Cấp 2)
- 9 NH quy mô lớn (tài sản > 100.000 tỷ VND) (TCB, ACB, MBB, EIB, STB, SCB, SHB, MSB, VPB)
- 7 NH quy mô vừa (100.000 tỷ VND> tài sản > 50.000 tỷ VND)
-18 NH quy mô nhỏ (tài sản < 50.000 tỷ VND)
109 NH nước ngoài (Cấp 3)
- 4 NH liên doanh (VID, Indovina, Vinasiam, Vietnam Russia)
- 5 NH 100% vốn nước ngoài (HSBC, Standard Chartered, Shinhan, ANZ, Hong Leong)
- 50 chi nhánh NH nước ngoài -50 phòng đại diện của NH nước ngoài
Phi ngân hàng:
-18 công ty tài chính
- 12 công ty cho thuê tài chính
- Gần 1.100 quỹ tín dụng hợp tác
xã
Trang 15Ngân hàng thương mại cổ phần
Tính đến 30/06/2013, Việt Nam có 34 NHTMCP với nhóm chín ngân hàng dẫn đầu có tổng tài sản trên 100 nghìn tỷ VND Tổng vốn điều lệ của các NHTMCP ở Việt Nam đạt trên 160 nghìn tỷ VND tại thời điểm 30/12/2012, lớn gấp đôi so với con số 75 nghìn tỷ VND ở khu vực NHTMNN Số lượng các NHTMCP áp đảo số lượng NHTMNN nhưng tính riêng vốn điều lệ của từng NHTMCP lại thấp hơn rất nhiều so với vốn điều lệ của một NHTMNN
Cụ thể, một nửa số NHTMCP có số vốn điều lệ dưới 4.000 tỷ VND và chỉ có bốn NHTMCP bao gồm NHTMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (EIB), NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (STB), NHTMCP Sài Gòn (SCB) và NHTMCP Quân đội (MBB) có số vốn điều lệ trên 10.000 tỷ VND Ngân hàng nhỏ nhất ở khu vực NHTMNN trừ MHB có số vốn điều lệ trên 23.000 tỷ VND trong khi EIB, NHTMCP lớn nhất, chỉ có 12.355 tỷ đồng vốn điều lệ Sáu trong 34 NHTMCP là công ty đại chúng bao gồm EIB, STB, MBB, NTMCP Á Châu (ACB), NHTMCP Sài Gòn (SHB) và NHTMCP Nam Việt (NVB)
NHTMCP là nhóm ngân hàng có nhiều thương vụ mua bán sáp nhập (M&A) diễn ra nhất trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam Trong khoảng thời gian trước năm 2005, phần lớn các thương vụ M&A diễn ra giữa các ngân hàng trong nước với nhau Khi đó, rất nhiều ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn đã được mua lại và sáp nhập NHTMCP Phương Nam đã mua lại các ngân hàng: NHTMCP Nông thôn Đồng Tháp, Ngân hàng Châu Phú, Ngân hàng Đại Nam và Ngân hàng Cái Sắn STB mua Ngân hàng Nông thôn Thanh Thắng, và NHTMCP Phương Tây mua Ngân hàng Nông thôn Tây Đô Từ sau năm 2005, các hoạt động M&A ở khu vực NHTMCP đã thay đổi nhờ sự tham gia của các nhà đầu tư trong nước và đặc biệt là các đối tác nước ngoài đầu tư vốn vào ngân hàng và trở thành nhà đầu tư chiến lược Sự tham gia của các đối tác nước ngoài ở các NHTMCP đã thực
sự trở thành xu hướng ngày càng gia tăng ở ngành ngân hàng Việt Nam Việc tham gia vào các NHTMCP sẽ giúp các nhà đầu tư nước ngoài tiết kiệm thời gian và chi phí khi lần đầu bước chân vào một thị trường mới và đổi lại, các NHTMCP sẽ nhận được không chỉ vốn mà còn có sự hỗ trợ chuyên môn và kỹ thuật tốt hơn từ những nhà đầu tư chiến lược này
Ngân hàng nước ngoài
Các ngân hàng nước ngoài (NH nước ngoài) có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, ngay sau khi Chính phủ Việt Nam dỡ bỏ hàng rào và cho phép các ngân hàng nước ngoài mở các chi nhánh hoặc thành lập các ngân hàng liên doanh với ngân hàng Việt Nam theo Sắc lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và các công ty tài chính năm 1990
Trong những năm đầu thập niên 90, chỉ có bốn ngân hàng liên doanh giữa NHTMNN và NH nước ngoài được thành lập
Trang 16Các ngân hàng liên doanh ở Việt Nam
Ngân hàng Năm thành lập Đối tác trong nước Đối tác nước ngoài Indovina Bank 1990 CTG (50%) Cathay United Bank, Đài Loan (50%) VID Public Bank 1991 BIDV (50%) Public Bank Berhad, Malaysia (50%) Shinhanvina Bank 1994 VCB (50%) Shinhan Bank, Hàn Quốc (50%) Vinasiam Bank 1995 Agribank(34%) Siam Commercial Bank, Thái Lan (33%) & Charoen Pokphand Group, Thái Lan (33%) Vietnam Russia Bank 2006 BIDV (50%) VTB, Nga (50%)
Ngân hàng Shinhanvina trở thành ngân hàng 100% vốn nước ngoài năm 2011 Nguồn: VPBS tổng hợp
Tuy vậy, phải đến tận năm 1999, một làn sóng các chi nhánh của các NH nước ngoài mới xuất hiện ở Việt Nam Trong vòng hai năm, con số này tăng lên thành 25 chi nhánh, và cho tới nay, nó đã vươn tới con số 50 Một số cái tên lớn có thể kể đến là Ngân hàng Deustche Bank Vietnam, Ngân hàng Citibank Vietnam, Ngân hàng Sumitomo Mitsui, Ngân hàng Tokyo- Mitsubishi UFJ
Một cách tiếp cận khác các NH nước ngoài thường dùng để tiếp cận thị trường Việt Nam là mở các ngân hàng 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam Đây cũng là một kết quả của việc Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 và chính thức mở cửa thị trường tài chính Cho tới nay, năm cái tên lớn đã nhận được giấy phép hoạt động để mở ngân hàng 100% vốn nước ngoài, đều vào năm 2008, bao gồm ngân hàng HSBC, ngân hàng ANZ, ngân hàng Standard Chartered, Ngân hàng Shinhan Việt Nam và Ngân hàng Hong Leong
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, các ngân hàng nước ngoài
có thể mua cổ phần ở các ngân hàng Việt Nam Sự hợp tác chiến lược này
có thể mang lại lợi ích cho cả hai bên Đối với các ngân hàng trong nước, quan hệ hợp tác chiến lược sẽ mang lại cơ hội tiếp cận với các sản phẩm tài chính, các quy trình chuyên nghiệp, chuyên môn và công nghệ hiện đại; còn đối với một ngân hàng nước ngoài thì mạng lưới chi nhánh và nguồn khách hàng trong nước là thứ mà họ nhắm đến trong mối quan hệ chiến lược này
Năm 2007 và 2008 được coi là thời kỳ đỉnh điểm của các hoạt động M&A ở khu vực ngân hàng Việt Nam với hơn 10 thương vụ thành công Tuy nhiên, năm 2011 và 2012 lại chứng kiến những thương vụ M&A với giá trị
kỷ lục Tiêu điểm của thị trường M&A năm 2011 là việc ngân hàng Mizuho mua lại 15% cổ phần của VCB trị giá 567,3 triệu USD Năm 2012, ngân hàng Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ trở thành đối tác chiến lược của CTG với thương vụ gây choáng váng trị giá 743 triệu USD để mua toàn bộ 20%
cổ phần ở ngân hàng này Hai thương vụ nhắm đến hai NHTMNN lớn là minh chứng lớn nhất cho sự chào đón từ khu vực ngân hàng, vốn là khu vực thận trọng nhất ở Việt Nam
Sau khi ký kết BTA với Mỹ
(2001) và gia nhập WTO
(2007), Việt Nam đã mở cửa
thị trường với các ngân hàng
nước ngoài Sự hiện diện của
ngân hàng nước ngoài đang
tăng lên đáng kể
Trang 17Các thương vụ M&A giữa nhà đầu tư nước ngoài và các NHTM ở Việt Nam
Ngân hàng Ngày Nhà đầu tư nước ngoài Tỷ lệ cổ phần mua trong thương vụ ACB 7/1/2005 Standard Chartered bank 8,80%
EIB 7/1/2007 Sumitomo Mitsui Bank 15%
ACB 7/1/2008 Standard Chartered bank 6,16%
Sourthern Bank 7/1/2008 United Overseas Bank 20%
Seabank 8/1/2008 France Societe Generale Bank 15%
VIB 9/1/2010 Common Wealth of Australia 15%
CTG 1/1/2011 International Finance Corporation 10%
CTG 12/1/2012 Bank of Tokyo Mitsubishi UFJ 19,73%
Nguồn: VPBS tổng hợp
Nghị Định 69/2007/NĐ-CP - Sở hữu cổ phần NH Việt Nam đối với nhà đầu tư nước ngoài
Mặc dù luật hiện nay cho phép các ngân hàng có vốn 100% nước ngoài được hoạt động ở Việt Nam, việc sở hữu các ngân hàng thương mại Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài vẫn bị giới hạn Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài (và người có liên quan của các nhà đầu tư nước ngoài đó) không được vượt quá 30% của ngân hàng Ngoài ra, một số hạn mức khác như sau:
- Mức sở hữu cổ phần tối đa của một nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư nước ngoài đó, không phải là tổ chức tín dụng nước ngoài hoặc nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, không vượt quá 5% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam
- Mức sở hữu cổ phần tối đa của bất kỳ một tổ chức tín dụng nước ngoài và người có liên quan của tổ chức tín dụng đó không vượt quá 10% vốn điều của một ngân hàng Việt Nam; và
- Mức sở hữu cổ phần của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đó không vượt quá 15% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam Trường hợp đặc biệt, dựa vào đề nghị của Thống đốc NHNN, Thủ Tướng sẽ xem xét và quyết định mức sở hữu cao hơn lên tới 20%
Nói chung, “nhà đầu tư chiến lược nước ngoài” là một tổ chức tín dụng nước ngoài có uy tín, có năng lực tài chính
và kinh nghiệm để có khả năng giúp đỡ ngân hàng Việt Nam trong việc phát triển và mang lại những lợi thế có tính chiến lược Các tiêu chuẩn bổ sung liên quan tới tổng tài sản tối thiểu, kinh nghiệm hoạt động về lĩnh vực ngân hàng trên toàn cầu, xếp hạng tín dụng quốc tế và các cam kết trong việc hỗ trợ ngân hàng Việt Nam Bên cạnh giới hạn tỷ lệ sở hữu, một tổ chức tín dụng chỉ được phép là nhà đầu tư nước ngoài chiến lược cho một ngân hàng ở Việt Nam Những hạn mức này áp dụng cho tất cả các khoản đầu tư của nước ngoài vào ngân hàng niêm yết và chưa niêm yết
Nguồn: Nghị định 69/2007/NĐ-CP, VPBS tổng hợp
Tính đến thời điểm này, tổng số vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào hệ thống ngân hàng Việt Nam là 24.547 tỷ VND, chiếm 6% tổng số vốn điều lệ So với giới hạn 30% cho tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn nhiều cơ hội tham gia vào hệ thống ngân hàng Việt Nam
Vào giữa tháng 11/2013, một dự thảo đã được Ủy ban chứng khoán Nhà nước trình lên Thủ Tướng đề nghị nâng trần tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu
tư nước ngoài lên tới 60% ở các công ty đã niêm yết và 49% cổ phần có quyền biểu quyết ở các công ty đại chúng Nếu dự thảo được thông qua, chúng tôi nhận định đó là một bước tiến bộ trên con đường tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam
Trang 18TĂNG TRƯỞNG ẤN TƯỢNG TRONG QUÁ KHỨ
Hệ thống ngân hàng Việt Nam trong 25 năm qua đã trải qua bao thăng trầm Câu chuyện về sự phát triển ngoạn mục luôn được nhắc đến đầu tiên Sự tăng trưởng của hệ thống ngân hàng có thể được nhận thấy qua
số lượng các ngân hàng, sự tăng trưởng về quy mô tài sản, vốn, tín dụng, huy động, số lượng chi nhánh, nhân viên ngân hàng và số lượng tài khoản ngân hàng, và số máy rút tiền tự động, v.v Chúng tôi sẽ điểm qua từng khía cạnh để có một đánh giá tổng thể về sự tăng trưởng này
Tăng trưởng tài sản
Cùng với sự tăng trưởng về số lượng, khu vực ngân hàng cũng chứng kiến
sự tăng trưởng đáng kể về quy mô tài sản Tổng tài sản khu vực ngân hàng tăng hơn gấp hai lần từ năm 2007 đến năm 2010, tăng từ 1.097 nghìn tỷ VND (tương đương 52,4 tỷ USD) lên 2.690 nghìn tỷ VND (tương đương 128,7 tỷ USD) theo số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Con số này đã đạt 5.637 nghìn tỷ VND tính đến 30/09/2013
Sự tăng trưởng Tài sản của một số NHTMNN và NHTMCP 2008-2012 (nghìn tỷ VND)
Nguồn: Báo cáo tài chính của các ngân hàng, VPBS tổng hợp
Trong thời kỳ này, các NHTMCP rõ ràng tăng trưởng nhanh hơn các NHTMNN Điều này có thể được giải thích bởi quy mô tài sản nhỏ hơn của nhóm này so với các NHTMNN Nói chung, quy mô càng nhỏ, tăng trưởng càng nhanh Ở nhóm NHTMNN, CTG phát triển nhanh nhất trong khi Agribank có tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) ở mức 10,21%, thấp nhất trong nhóm Ở nhóm NHTMCP, chỉ có ACB tăng trưởng thấp hơn 20% một năm, các ngân hàng còn lại đều tăng trưởng nhanh với tỷ lệ CAGR hơn 40% Các ngân hàng có con số ấn tượng nhất là SHB và VPB với tỷ lệ CAGR lần lượt là 69% và 53%
Tuy nhiên khi chúng tôi nhìn vào tỷ lệ CAGR từ năm 2011 đến Quý 3/2013, con số này đã giảm mạnh xuống chỉ còn 4,6% trên toàn hệ thống, cụ thể là 10,8%, -1% và 7,6% lần lượt ở các nhóm NHTMNN, NHTMCP, NH nước ngoài Nhóm NHTMNN tuy tăng trưởng chậm hơn so với những năm trước đó nhưng vẫn thành công khi tiếp tục tăng trưởng trong một năm đầy khó khăn như năm 2012 Trong khi đó, tài sản của một vài NHTMCP đã bốc hơi như ACB, EIB và MSB, cụ thể hơn ACB đã bị giảm đi
CAGR 10,2%
-AGR CTG BIDV VCB TCB ACB MBB EIB STB SCB SHB MSB VPB
2008 2009 2010 2011 2012
Tổng tài sản của các ngân
hàng có tỷ lệ CAGR khoảng
32% trong sáu năm gần đây
NHTMCP tăng trưởng nhanh
hơn NHTMNN Tuy nhiên, sự
tăng trưởng này đang chậm
dần
Trang 19một phần ba giá trị tài sản Tỷ lệ tăng trưởng cao nhưng thiếu bền vững của một vài NHTMCP là một biểu hiện của mức độ rủi ro cao hơn ở nhóm ngân hàng này
Mặc dù đã tăng trưởng vượt bậc, so với các ngân hàng trong khu vực, các ngân hàng Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn về quy mô tài sản
Tổng Tài sản của CTG và một số ngân hàng trong khu vực tại thời điểm
China Construction Bank Trung Quốc 2.241
từ năm 1996, quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu để thành lập một NHTMCP khá thấp và nó thay đổi phụ thuộc tùy thuộc vào nhiều yếu tố như ngân hàng được thành lập ở khu vực thành thị hay nông thôn, mở thêm hay không mở thêm chi nhánh Ví dụ, Ba tỷ VND là số vốn tối thiểu
để mở một ngân hàng mà không mở thêm chi nhánh ở khu vực nông thôn, trong khi để mở một ngân hàng ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cần ít nhất số vốn lần lượt 100 tỷ VND và 150 tỷ VND Do những yêu cầu về vốn thấp, khả năng sinh lời tương đối tốt và tính ổn định của ngành ngân hàng thời bấy giờ, đã có một làn sóng mạnh mẽ thành lập các NHTMCP cỡ nhỏ Tuy nhiên, không phải tất cả các ngân hàng nhỏ này đều hoạt động hiệu quả như mong đợi Đối với một vài ngân hàng, sự thiếu kiểm soát và kinh nghiệm, hoạt động cho vay nghèo nàn cùng sự cạnh tranh dữ dội đã đưa
họ đến tình trạng thiếu thanh khoản, mất khả năng thanh toán và âm vốn chủ sở hữu Nền tảng vốn mỏng không đủ khả năng hấp thụ thua lỗ do hoạt động yếu kém đã khiến các ngân hàng này không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phá sản hoặc bị mua lại bởi những ngân hàng mạnh hơn Đối với những ngân hàng nhỏ còn sống sót, họ ý thức rõ được sự cần thiết trong việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) và tích cực gia tăng vốn điều lệ
Với việc ban hành Nghị định 141 năm 2006, Chính phủ đã nâng mức vốn pháp định áp dụng cho tất cả các tổ chức tín dụng ở Việt Nam lên mức mới như sau:
Tăng trưởng vốn chủ yếu
diễn ra do thay đổi của quy
định liên quan đến vốn điều
Trang 20Mức vốn pháp định cho các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Các tổ chức tín dụng Mức vốn pháp định
NHTMNN 3.000 tỷ VND 3.000 tỷ VND NHTMCP 1.000 tỷ VND 3.000 tỷ VND
NH liên doanh 1.000 tỷ VND 3.000 tỷ VND
NH nước ngoài 1.000 tỷ VND 3.000 tỷ VND Chi nhánh NH nước ngoài 15 triệu USD 15 triệu USD
Nguồn: NHNN
Nghị định này quy định rằng bất kỳ ngân hàng thương mại nào không đáp ứng được yêu cầu về vốn điều lệ trước ngày 31/12/2010 sẽ bị buộc phải hợp nhất, thu hẹp quy mô hoạt động, hoặc bị rút giấy phép Chỉ có 20 ngân hàng đáp ứng được yêu cầu này đúng thời hạn 29 ngân hàng thương mại không có khả năng đáp ứng yêu cầu này đúng hạn một phần
do hoạt động yếu kém của thị trường chứng khoán, một phần do sự gia tăng phát hành cổ phiếu của một loạt ngân hàng muốn tăng vốn đồng thời Trước tình hình đó, chính phủ đã gia hạn tới ngày 31/12/2011 (theo Thông tư 10/2011/ND-CP) Quy định này làm giảm bớt áp lực lên việc tăng vốn ngay lập tức và giúp các ngân hàng có thêm thời gian để thực hiện kế hoạch tăng vốn trong năm 2011 Tính đến cuối 2011, chỉ còn hai ngân hàng chưa đáp ứng đủ yêu cầu về vốn, gồm có NHTMCP Xăng dầu Petrolimex (PGBank) với mức vốn 2.000 tỷ VND và NHTMCP Bảo Việt với mức vốn điều lệ 1.500 tỷ VND
Tính đến nay, tất cả các ngân hàng thương mại đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu về vốn điều lệ Tổng số vốn đăng ký của 39 ngân hàng thương mại Việt Nam là 298.383 tỷ VND, với quy mô trung bình là 7.651 tỷ VND một ngân hàng Bốn ngân hàng có số vốn điều lệ lớn nhất đều là NHTMNN, trong đó CTG giữ vị trí thứ nhất với số vốn điều lệ trị giá 32.661 tỷ VND
Trang 21Vốn điều lệ của các ngân hàng Việt Nam tại thời điểm Quý 3/2013 (tỷ VND)
Nguồn: Reuters
Trong 34 NHTMCP, chỉ có bốn ngân hàng có số vốn trên 10.000 tỷ VND Chúng tôi cũng nhận thấy độ lệch chuẩn của vốn điều lệ của các ngân hàng này khá lớn, và giá trị trung bình lớn hơn rất nhiều so với trung vị, điều này cho thấy hệ thống ngân hàng đang phân phối lệch về phía các ngân hàng nhỏ Khi chúng tôi so sánh quy mô của các ngân hàng đã niêm yết (màu xanh đậm), CTG, ngân hàng lớn nhất, thậm chí cũng không thể
so sánh được với các ngân hàng trong khu vực
3.000 3.000 3.000 3.000 3.000 3.000 3.000 3.002 3.010 3.018 3.080 3.098 3.101 3.234 3.369 3.750 4.000 4.000 4.250 4.798 5.000 5.000 5.335 5.550 5.770 6.460 8.000 8.848 8.866 9.000 9.377 10.625 10.740 12.295 12.355
23.012 23.174
29.605 32.661
Bac A Bank VNCB Viet Capital Bank
PG Bank Kien Long Bank Viet Bank Bao Viet Bank Nam A Bank NVB
GP Bank Saigon Bank Viet A Bank Dai A Bank Oricom Bank
MHB Mekong Development Bank
Southern Bank Ocean Bank VIB
An Binh Bank Dong A Bank HDBank SEA Bank TPB VPB Lien Viet Post Bank Maritime Bank
TCB SHB Pvcom Bank ACB MBB STB SCB EIB BIDV VCB VBARD CTG
Độ lệch chuẩn: 7.364 Trung vị: 4.798 Trung bình: 7.651
Trang 22Vốn cổ phần của CTG và một số ngân hàng trong khu vực
Nguồn: Forbes 2012 (xuất bản tháng 05/2013)
Vốn điều lệ của các ngân hàng giai đoạn 2011-Qúy3/2013 (nghìn tỷ VND) Vốn điều lệ của hệ thống tài chính năm 2012
Nguồn: NHNN
Chúng tôi kỳ vọng các động thái tăng vốn tiếp theo từ phần lớn các ngân hàng thương mại Dựa vào chỉ tiêu vốn điều lệ được báo cáo, con số dự kiến được bổ sung thêm sẽ trong khoảng 33.000 tỷ VND Thời điểm tăng vốn trong vòng năm năm tới sẽ dựa vào điều kiện thị trường
20 40 60 80 100 120 140 160 180 200
-NHTMNN NHTMCP NHNNg
2011 2012 2013
NHTMNN 36%
NHTMCP 40%
NHLD, NHNNg 22%
TCTD phi ngân hàng 2%
Trang 23Ngân hàng đã đăng ký (tỷ VND) Vốn điều lệ Chỉ tiêu vốn điều lệ (tỷ VND) Số vốn sẽ huy động thêm (tỷ VND)
Tăng trưởng huy động và tín dụng
Khu vực ngân hàng Việt Nam đã thể hiện sự tăng trưởng ấn tượng cả về huy động lẫn tín dụng từ năm 2000 Trong giai đoạn từ năm 2000 đến
2012, tỷ lệ CAGR là 28,87% đối với huy động và 28,28% đối với tín dụng Tốc độ tăng trưởng nhanh nhất diễn ra vào giai đoạn từ năm 2002 đến
2007, khi tỷ lệ CAGR đạt 37,5% đối với huy động và 35,8% đối với tín dụng Sự tăng trưởng này đạt đỉnh vào năm 2007 ở mức 51,49% đối với huy động và 53,89% với tín dụng Tăng trưởng của mức cung tiền M2 đạt
tỷ lệ CAGR ở mức 27,69% từ năm 2000 tới năm 2012
Tăng trưởng Huy động và Tín dụng giai đoạn 2001-2012
5,3% 6,8% 6,0% 5,0% 0%
Các ngân hàng Việt Nam đã
phát triển ấn tượng cả về huy
động lẫn tín dụng trong giai
đoạn 10 năm từ 2001 đến
2010 Tuy nhiên, mức tăng
trưởng giảm rõ rệt kể từ năm
2010
Trang 24Sự tăng trưởng tín dụng quá mức thường được coi là dấu hiệu của những vấn đề trong tương lai của khu vực tài chính và không nhất thiết là một điều hay Theo một nghiên cứu của Schularick & Taylor (2009), sự bùng
nổ tín dụng là một dự báo rõ ràng cho khủng hoảng tài chính Trong một khoảng thời gian kéo dài, tốc độ tăng trưởng tín dụng ở Việt Nam gấp bốn lần tốc độ tăng trưởng GDP Nói một cách khác, tín dụng đã tăng trưởng quá nóng
Tốc độ tăng trưởng trong ba năm gần đây đã giảm đáng kể Thị trường đã chứng kiến tốc độ tăng trưởng huy động và tín dụng thấp nhất kể từ thập niên 90’ Tăng trưởng tín dụng năm 2012 chỉ đạt 9,14% Trong ba quý đầu năm 2013, tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 6,87%, thấp hơn nhiêu chỉ tiêu 12% của NHNN đặt ra, và chậm hơn nhiều so với sự tăng trưởng huy động Lần đầu tiên từ năm 2000, tỷ lệ tín dụng/ huy động của toàn hệ thống ngân hàng rơi xuống thấp hơn một (đạt 0,94 vào Quý 3/2013)
Tổng Huy động và Tín dụng (nghìn tỷ VND) Tăng trưởng hàng năm của tổng Huy động và Tín dụng
Nguồn: IFS
Độ sâu tài chính, hay quy mô của ngành ngân hàng so với tổng thể nền kinh tế Việt Nam đã thay đổi đáng kể cùng với sự tăng trưởng tín dụng Năm 2000, tỷ lệ tín dụng/GDP chỉ đạt 35,1%, khá thấp so với các nước trong cùng khu vực (Thái Lan (138%), Singapore (78%), Philippines (58%), Trung Quốc (120%)) Tuy nhiên, sau mười năm tăng trưởng tín dụng quá mức, năm 2010, tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đạt đỉnh ở mức 135,8%
0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000
2008 2009 2010 2011 2012 3Q
2013 Huy động Tín dụng
Trang 25Tỷ lệ tín dụng/ GDP giai đoạn 2000-2012
Nguồn: WDI
Tỷ lệ tín dụng/GDP ở Việt Nam năm 2012 đạt 115,4% Tỷ lệ này dù sao vẫn thấp hơn so với mức trung bình của các nước đang phát triển trong khu vực, thể hiện rằng khu vực ngân hàng của Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng sẽ khiêm tốn hơn trước
So sánh tỷ lệ Tín dụng/GDP năm 2012
Nguồn: WDI
PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG Thị phần
Thị trường ngân hàng Việt Nam vừa tập trung, đồng thời cũng phân tán NHTMNN thống trị cả thị phần huy động lẫn thị phần tín dụng, chiếm tới 60% thị phần vào năm 2007 Con số này thậm chí còn cao hơn vào năm
2000, ở mức 70% Trong khi bốn NHTMNN lớn đều có được một thị phần khổng lồ, những NHTMCP, các ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tài chính khác phải tranh nhau miếng bánh còn lại Tuy nhiên, gần đây đã có một xu thế rõ rệt là các NHTMNN đang để mất dần thị phần về tay NHTMCP cả về huy động lẫn tín dụng Trong năm năm gần đây, NHTMCP
đã nắm giành được hơn 15% thị phần từ tay NHTMNN
Trang 26Thị phần Tín dụng (%) Thị phần Huy động (%)
Nguồn: VNEconomy
Trong ba năm qua, Agribank, ACB, EIB, STB và MSB là những ngân hàng
đã đánh mất thị phần, với Agribank bị mất thị phần nhiều nhất (1,91%) CTG trở thành ngân hàng thành công nhất với 1,32% thị phần tăng thêm
Thị phần của các ngân hàng lớn nhất giai đoạn
Nguồn: Báo cáo tài chính ngân hàng, SBV, VPBS
Đến cuối năm 2012, thị phần tín dụng của tất cả các NHTMNN (bao gồm
cả MHB) chỉ ở mức 46%, giảm 14% so với năm năm trước
59,3 58,1 54,1 51,4 51,3 51,8
27,7 26,5 32,0
35,1 35,5 34,8 9,2 11 9,1 9 8,6 8,5 NHTMNN NHTMCP NHLD, NHNNg Khác
59,5 57,1
49,7 45,1 43,6 43,4
30,4 33,1
40,8 46,7 47,1 47,1 8,8 8,1 7,5 6,6 7,6 7,2 NHTMNN NHTMCP NHLD, NHNNg Khác
CTG 10,8%
BIDV 11,0% VCB
7,8%
TCB 2,2%
ACB 3,3%
MBB 2,4%
EIB 2,4%
STB 3,1%
SCB 2,9%
SHB 1,8%
MSB 0,9%
VPB 1,2%
Khác 34,6%
Trang 27Cơ sở hạ tầng ngân hàng, phân phối, sự thâm nhập thị trường Chi nhánh
Các ngân hàng trong nước đã tăng cường mở rộng mạng lưới của mình qua những chi nhánh mới, các phòng giao dịch, và các máy rút tiền tự động Về khía cạnh này, các NHTMNN có nhiều thuận lợi hơn các NHTMCP
và NH nước ngoài Với một lịch sử dài hơn, nền tảng vốn lớn hơn cùng với mạng lưới khách hàng rộng, các NHTMNN vẫn đang dẫn đầu ngành với 1.320 chi nhánh và 3.154 phòng giao dịch
Với những nỗ lực không ngừng nhằm phát triển và mở rộng mạng lưới, vươn tới nhóm khách hàng đa dạng hơn, các NHTMCP gần đây đã có được 1.083 chi nhánh và 3.203 phòng giao dịch Một số ngân hàng như STB, TCB, và ACB đã có được mạng lưới bao phủ khá nhiều tỉnh thành trong cả nước Tuy nhiên, đại đa số các NHTMCP tập trung phát triển chi nhánh ở khu vực thành thị và các khu vực có nền kinh tế phát triển hơn Điều này tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các NHTMCP ở khu vực thành thị, tạo
áp lực lên lợi nhuận và gây ra sự mất cân bằng của dịch vụ ngân hàng giữa khu vực nông thôn và thành thị
Mạng lưới phân phối
Cùng với việc mở rộng mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch, các ngân hàng cũng tăng cường mở thêm các máy ATM và các máy chấp nhận thanh toán qua thẻ (POS) Số lượng máy ATM và POS tính đến tháng 09/2013 là 14.6 triệu và 119 triệu Mặc dù cơ sở hạ tầng hệ thống ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng, sự đầu tư và phát triển vẫn chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị, đặc biệt là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Bình quân số km2 có một điểm hoạt động ngân hàng (km2) 1,0 1,6 47,3 Bình quân một điểm hoạt động ngân hàng phục vụ (người) 3.554 3.211 12.418 Bình quân một máy ATM phục vụ (người) 2.010 2.674 6.367 Bình quân một máy POS phục vụ (người) 420 450 1.048
Nguồn: NHNN
Mạng lưới phân phối và cơ sở
hạ tầng ngân hàng đã phát
triển mạnh, nhưng chủ yếu
tập trung ở khu vực đô thị và
các thành phố lớn
Trang 28Số chi nhánh, phòng giao dịch, ATM của một số ngân hàng lớn (06/2013)
Nguồn:Báo cáo các ngân hàng, VPBS tổng hợp
Tài khoản ngân hàng
Năm 2006, Việt Nam chỉ có khoảng sáu triệu tài khoản ngân hàng, năm triệu trong số đó là tài khoản cá nhân Những con số này đã tăng trưởng nhanh chóng với tỷ lệ CAGR đạt gần 40% Theo NHNN, tính đến hết Quý 3/2013, số lượng tài khoản ngân hàng đã đạt tới con số 44,7 triệu Khi số lượng các tài khoản ngân hàng ngày càng nhiều và thị trường ngày một hoàn thiện, lúc đó tỷ lệ tăng trưởng sẽ chậm dần Năm ngoái, tỷ lệ tăng trưởng chỉ còn 16%
Số lượng tài khoản ngân hàng trong nước
Quý 2/2012 Qúy 3/2012 Qúy 4/2012 Qúy 1/2013 Qúy 2/2013 Qúy 3/2013 37.708.285 38.575.094 42.115.913 43.177.468 42.783.910 44.702.698
ở Việt Nam khá thấp Với tỷ lệ tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước đạt 55%, thẻ tín dụng vẫn có tiềm năng tăng trưởng tốt nhất trên thị trường thẻ ngân hàng, so với tỷ lệ tăng trưởng 22% của thẻ ghi nợ
Theo báo cáo nghiên cứu thị trường vào tháng 06/2011 của Nielsen, chỉ có 42% người được hỏi có nhận thức về dịch vụ thẻ tín dụng, và sau đây là những rào cản chính ở nhóm những người biết về thẻ tín dụng nhưng không sử dụng dịch vụ này:
Không thuận tiện, quy trình phức tạp: 18%
0 500 1000 1500 2000 2500
CN, PGD ATM
Trang 29Bên cạnh đó, do phần trăm số người trưởng thành sở hữu một thẻ tín dụng mới chỉ ở mức 1%, chúng tôi dự đoán nhu cầu về thẻ tín dụng sẽ tăng nhanh chóng và mang lại nguồn doanh thu tốt từ dịch vụ cho ngân hàng Tất nhiên, điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng phải thiết lập cơ
sở hạ tầng để đánh giá đúng đắn các yêu cầu đăng ký sử dụng thẻ tín dụng và phải đảm bảo việc thu hồi các khoản tiền, nếu không họ sẽ phải chịu những tổn thất ngày càng nhiều từ danh mục thẻ của mình
Tỷ lệ người trưởng thành (trên 15 tuổi) sử dụng thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng (năm 2011)
kể từ khi internet ra đời, với nhiều lợi ích trực tuyến cho cả ngân hàng và khách hàng thông qua ngân hàng điện tử
Ngân hàng điện tử giờ đã là một phần tất yếu trong cuộc sống hiện đại
Nó thực sự đã gõ cửa thị trường Việt Nam từ hơn một thập niên trước đây,
và bây giờ đã trở thành trọng tâm cho kế hoạch phát triển dài hạn của toàn hệ thống ngân hàng trong nước và nước ngoài
Ở Việt Nam, ngân hàng điện tử đã giúp các ngân hàng đa dạng hóa và đưa ra những sản phẩm và dịch vụ phù hợp riêng cho từng nhóm khách hàng Dịch vụ ngân hàng điện tử được tiếp cận dễ dàng và sẵn sàng sử dụng qua nhiều kênh khác nhau: ngân hàng trực tuyến, ngân hàng tại nhà, ngân hàng qua di động, trung tâm chăm sóc khách hàng qua điện thoại, ki-ốt ngân hàng, máy ATM, và máy POS Ngân hàng điện tử phục
vụ các tính năng như kiểm tra thông tin, chuyển khoản, thanh toán, đăng
ký, tư vấn và một số dịch vụ ngân hàng khác Các ngân hàng thương mại
đã thắt chặt mối quan hệ đối tác với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán và các công ty tài chính khác để giới thiệu những dịch vụ phù hợp cho từng nhóm khách hàng khác nhau liên quan đến ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, đầu tư, v.v
Ngân hàng điện tử còn giúp ngân hàng tăng doanh thu và giảm chi phí Có thể nói ngân hàng điện tử giống như đi mua sắm ở siêu thị, khác hàng có thể tự tạo giao dịch và kết nối với hệ thống ngân hàng mà không cần nhờ đến ngân viên ngân hàng suốt 24 giờ trong cả bảy ngày trong tuần Nhờ
đó, ngân hàng có thể giảm bớt chi phí mở các văn phòng giao dịch, chi nhánh Chi phí để mở các chi nhánh khá là cao Và có thể mất từ hai đến
ba năm để các chi nhánh này có thể tạo ra đủ lợi nhuận để bù đắp những đầu tư ban đầu Hơn nữa, các chi nhánh ngân hàng còn phát sinh thêm chi phí nhân lực Một điểm cộng thêm cho ngân hàng điện tử chính là sự minh bạch và chính xác mà nó mang lại trong mỗi giao dịch, do đó thu hút
Trang 30thêm càng nhiều khách hàng Kết quả là ngân hàng mở rộng được thị phần, nâng cao thương hiệu và tăng thêm một nguồn thu ổn định
Phí giao dịch bình quân của một số loại giao dịch ngân hàng
Hình thức giao dịch Chi phí bình quân mỗi giao dịch (USD) Giao dịch qua nhân viên ngân hàng 1,07
Nguồn: Stegman
Tính đến tháng 10/2013, Việt Nam có 90 triệu dân nhưng chỉ 20% trong
số đó có tài khoản ngân hàng Theo tổng cục thống kê, Việt Nam có 128,1 triệu thuê bao điện thoại di động, một con số ấn tượng so với số lượng nhỏ người dùng dịch vụ ngân hàng qua di động Hơn nữa, phần lớn người dân vẫn chưa có nhận thức đầy đủ về phương thức trả tiền qua ngân hàng
và tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán thống trị Bởi vậy, không có gì nghi ngờ rằng Việt Nam vẫn là một thị trường chưa được khai phá cho các
tổ chức tín dụng Trong những năm gần đây, thu nhập trên đầu người đã tăng đều đặn từ 639 USD/người/năm lên 1.200 USD/người/năm Mức sống bình quân đầu người trong những năm gần đây có xu hướng tăng lên, dẫn đến nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính nhiều hơn Ngoài ra,
sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử mới chỉ phố biến tại các thành phố lớn Dân số trẻ với tỷ lệ tiết kiệm cao và tiềm năng tăng trưởng thu nhập kết hợp với làn sóng hiện đại hóa đô thị sẽ đẩy nhanh sự phát triển
và mạng lưới của ngân hàng điện tử đến những thị trường tiềm năng mới
Thâm nhập thị trường ngân hàng
Theo một báo cáo gần đây của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ thâm nhập thị trường của ngân hàng ở Việt Nam năm 2011 đạt 21% Mặc dù đây là một
sự tăng trưởng đáng chú ý từ 6% cách đây sáu đến bảy năm, tỷ lệ này vẫn rất thấp khi só sánh với con số 55% ở khu vực Thái Bình Dương và Đông Á
Tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản ở một tổ chức tín dụng chính thống năm 2011
Nguồn: Ngân hàng Thế giới
Tỷ lệ thâm nhập thị trường ngân hàng ở Việt Nam là 30% ở khu vực thành thị, trong khi ở khu vực nông thôn chỉ có 17%
So với các ngân hàng trong
khu vực, Việt Nam vẫn có tỷ
lệ thâm nhập thị trường ngân
hàng thấp.
Trang 31Tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản ở một tổ chức tín dụng chính thống ở Việt Nam (%)
Nguồn: Ngân hàng Thế giới
Nhìn chung, tỷ lệ thâm nhập thị trường thấp khiến cho thị trường ngân hàng Việt Nam rất hấp dẫn về dài hạn
MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG Tình hình vĩ mô
Hoạt động của các ngân hàng thương mại bị ảnh hưởng nhiều bởi môi trường vĩ mô và cách NHNN điều hành các chính sách tiền tệ Ở đây, chúng tôi điểm lại những điểm nổi bật của tăng trưởng GDP và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ năm 2008 đến gần đây và một số thay đổi quan trọng trong quy định và cơ chế của NHNN trong quản lý chính sách tiền tệ
Tăng trưởng GDP và CPI
Tăng trưởng GDP so với cùng kỳ năm trước Tăng trưởng GDP theo khu vực kinh tế
Nguồn: Tổng cục thống kê
Năm 2008, kinh tế thế giới trải qua cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất
kể từ cuộc Đại Suy thoái năm 1929 Nền kinh tế Việt Nam cũng bị ảnh
0 10 20 30 40 50 60 70 80
Trang 32hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, với tăng trưởng GDP chậm lại chỉ còn 5,66% năm 2008 Mặc dù giảm thêm xuống mức 5,40% vào năm 2009, nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế phục hồi tốt nhất trong khu vực Nền kinh tế Việt Nam đã mạnh lên và tiếp tục tạo
ấn tượng so với các nước châu Á trong năm 2010, với tỷ lệ tăng trưởng GDP đạt 6,42% so với cùng kỳ năm trước Tuy nhiên, nền kinh tế sau đó
đã tăng trưởng chậm lại ở mức 6,24% năm 2011 và 5,25% năm
2012, đánh dấu tỷ lệ tăng trưởng thấp nhấp kể từ năm 1999 GDP của Việt Nam trong năm tài chính 2013 dự kiến tăng 5,42%
Năm 2008, cuộc khủng hoảng giá lương thực và giá dầu toàn cầu gây ra lạm phát cao ở Việt Nam ở mức 19,89% so với cùng kỳ năm trước Chỉ số CPI giảm xuống đáng kể từ Quý 2/2009 đến cuối năm 2009, kết thúc năm
ở mức 6,52% so với cùng kỳ năm trước Chỉ số này lại bắt đầu xu hướng
đi lên từ đầu năm 2010 khi nó đạt đỉnh ở mức 23,02% vào tháng 08/2011, một phần do chính sách nới rộng tiền tệ được thực hiện vào năm
2009 và nửa đầu năm 2010 Chỉ số này sau đó đã quay đầu giảm xuống chỉ còn 6,9% vào tháng 06/2012 Chỉ số CPI hàng tháng kể từ tháng sáu năm ngoái tới nay dao động ở mức 5% đến 7,5%
Tăng trưởng CPI giai đoạn 2008-2013 (%)
Tuy nhiên, việc thắt chặt tiền tệ không thể kéo dài trước nguy cơ kinh tế suy thoái do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu Từ tháng 09/2008, NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt hơn bao gồm việc cắt giảm lãi suất hoạt động Lãi suất cơ bản, lãi
-1 0 1 2 3 4 5
0 5 10 15 20 25 30
CPI MOM CPI YOY