Miền Đông Bắc là xứ sở của những dãy núi hình vòng cung, xen kẽ lànhững thung lũng sông cho phép các tuyến đường thuỷ, đường bộ men theo đểthông thương từ đồng bằng lên miền núi.. Đường
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Khoa Ngôn ngữ học
Trần Thị Hồng HạnhĐỊA LÝ VIỆT NAM
(Tài liệu dùng cho sinh viên Học viện Ngoại ngữ -
Đại học DT Quảng Tây )
Hà Nội, tháng 9 năm 2014
(Lưu hành nội bộ)
Trang 2Việt Nam nằm ở phần phía Đông bán đảo Đông Dương Phía Bắc giápnước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) với đường biên giới dài tới
1400 km; phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với đường biêngiới là 2067 km và giáp Vương quốc Căm-pu-chia với đường biên giới là 1080km; phía Đông, phía Nam là biển Đông và vịnh Thái Lan dài 3260 km Vùngbiển Việt Nam tiếp giáp với vùng biển của nhiều nước và vùng lãnh thổ là TrungQuốc, Đài Loan, Phi-lip-pin, In-đô-nê-xi-a, Bru-nây, Ma-lai-xi-a, Căm-pu-chia
Trang 3Bán đảo Đông Dương
Vị trí địa lý Việt Nam có nét độc đáo là nằm ở chỗ nối tiếp giữa ĐôngNam á lục địa và Đông Nam á hải đảo, đồng thời nằm giữa hai tiểu lục địa ấn
Trang 4Độ và Trung Quốc Vì thế, đây là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều hệ thống tựnhiên, của các nền văn hoá lớn và của nhiều luồng di dân trong lịch sử Nhờ thế
mà thiên nhiên Việt Nam trở nên đa dạng và vô cùng phong phú, cư dân ViệtNam là một cộng đồng đa dân tộc, đa văn hoá
II Những nét phác thảo về địa hình.
Trang 5Việt Nam có tới hơn 3 phần 4 diện tích là núi và đồi, không quá 1 phần 4
là đồng bằng Điều kiện địa hình núi đồi làm cho thiên nhiên phân hoá rất đadạng Các dãy núi lớn thường làm thành ranh giới giữa những vùng tự nhiênkhác nhau và tương ứng với những vùng ấy là những vùng khí hậu khác nhau
Trang 6Vùng núi của Việt Nam là cấu trúc cổ được vận động Tân kiến tạo làm trẻ
lại Hướng sơn văn phần lớn là dốc từ Tây Bắc xuống Đông Nam và hướngvòng cung Mỗi miền tự nhiên đều có những đặc điểm địa hình rất đặc trưng vàrất đa dạng
Miền Đông Bắc là xứ sở của những dãy núi hình vòng cung, xen kẽ lànhững thung lũng sông cho phép các tuyến đường thuỷ, đường bộ men theo đểthông thương từ đồng bằng lên miền núi Hướng núi vòng cung và độ cao thấpxen kẽ nhau nên không cản trở gió lạnh từ phía Bắc tràn xuống làm cho vùngnày là nơi lạnh nhất về mùa Đông ở Việt Nam
Đường đèo qua Hoàng Liên SơnTiếp nối vùng núi cao phía Bắc với vùng đồng bằng sông Hồng là vùngtrung du đồi núi thấp, trập trùng có rất nhiều triển vọng về phát triển kinh tế.Miền Tây Bắc là xứ sở của những dãy núi cao, những khe sâu nên địa hình vôcùng hiểm trở Các dãy núi thường có độ cao trung bình 1500-2500m như Tà
Trang 7Phình, Pu Đen Đinh, Pu Sam Sao chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam xen kẽvới những dãy núi thấp hơn và cao nguyên đá vôi Đặc biệt, dãy Hoàng LiênSơn với đỉnh Phan-xi-păng cao 3.143m, cao nhất bán đảo Đông Dương, như bứctường chắn ở mặt phía Đông làm cho miền Tây Bắc về mùa Đông ít bị lạnh hơnrất nhiều
Miền Trường Sơn Bắc là miền có những dãy núi già bị chia cắt dữ dội,với những đỉnh núi cao trung bình khoảng 1.000m Nối tiếp là vùng gò đồi thấp,thoải dần xuống dải đồng bằng ven biển nhỏ hẹp miền Trung Miền Trường SơnNam có đặc trưng là các gờ núi cấu tạo bằng đá gra-nít, đá phun trào ri-ô-lít hayđa-xít khá đồ sộ, với nhiều nhánh đâm ngang ra biển tạo nên nhiều vũng vịnhkín đáo Những gờ núi của miền này làm thành đường viền bao lấy các caonguyên ba-dan của vùng Tây Nguyên mầu mỡ và giầu có
Cùng với Tây Nguyên là vùng Đông Nam Bộ với địa hình lượn sóng củacác cao nguyên đất đỏ ba-dan và phù sa cổ, rất thuận lợi cho việc phát triểnnông, lâm nghiệp và công nghiệp Trong thực tế, các đường sống núi (hay còngọi là các đường phân thuỷ) thường làm thành ranh giới tự nhiên để xác địnhbiên giới quốc gia hay địa giới các đơn vị hành chính trong nước
Việt Nam có hai đồng bằng lớn là đồng bằng châu thổ sông Hồng ở phíaBắc (còn gọi là đồng bằng Bắc Bộ) và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long ởphía Nam (còn gọi là đồng bằng Nam Bộ) Đây thực sự là hai vựa lúa quantrọng của cả nước Ngoài ra, ở ven biển miền Trung còn có những đồng bằngnhỏ như đồng bằng sông Mã ở Thanh Hoá, đồng bằng sông Cả ở NghệAn Vùng đồng bằng là nơi có những điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để pháttriển kinh tế của đất nước
Trang 8Đồng bằng sông Mê Công nhìn từ vệ tinh (nguồn: vietnamnet.com)Như vậy, địa lý tự nhiên của Việt Nam từ bắc vào nam được chia thành
nhiều vùng khác nhau và mỗi vùng lại có miền núi, trung du và đồng bằng Điều
đó cho thấy địa hình Việt Nam rất đa dạng và phong phú Mỗi vùng miền nhưthế sẽ có những tiềm năng kinh tế, những thuận lợi và những khó khăn rất khácnhau Nhờ đó, chúng sẽ bổ sung cho nhau trong việc phát triển nền kinh tế củađất nước
III Khí hậu Việt Nam.
1.Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa ẩm.
Tính chất nhiệt đới của Việt Nam thể hiện ở tổng xạ trên miền Bắc là hơn
120 kcal/cm2/năm (ki lô ca lo trên một xăng ti mét vuông một năm) và miền
Nam là 130 kcal/cm2/năm Cân bằng bức xạ quanh năm dương với miền Bắc là
86 kcal/cm2/năm và miền Nam là 112 kcal/cm2/năm Nhiệt độ trung bình năm là22-27oc, trong khi đó tiêu chuẩn nhiệt đới là 21oc Mỗi năm ở Việt Nam, chủ yếu
là phần phía Bắc đất nước, có bốn mùa rõ rệt là mùa Xuân, mùa Hạ (hay mùa Hè), mùa Thu và mùa Đông.
Trang 9Mùa xuân - Hoa ban tím ở Tây Bắc (nguồn: vietnamnet.com)Mùa Xuân (thường bắt đầu vào tháng Giêng Âm lịch), thời tiết ấm áp và
ẩm ướt, cây cối đâm chồi nảy lộc sau một mùa Đông rụng lá Về mùa Hạ(thường bắt đầu vào tháng Tư Âm lịch), thời tiết nắng nóng với những cơn mưarào và vào cuối mùa có những ngày trời nắng chói chang như đổ lửa Mùa Thu(thường bắt đầu vào tháng Bảy Âm lịch), nửa đầu trời còn nóng, nửa sau thờitiết khô hanh, trời dịu mát với những ngọn gió heo may thổi nhẹ Còn mùa Đông(thường bắt đầu vào tháng Mười Âm lịch), nửa cuối thời tiết lạnh và rét, trờithường có những ngày mưa phùn kéo dài, nhiều loại cây cối rụng lá để chờ tớimùa Xuân Từ phía Bắc chuyển dần vào phía Nam, đặc trưng bốn mùa nói trêngiảm dần
Tính chất gió mùa làm cho khí hậu Việt Nam phân hoá và biến động rấtphức tạp Khoảng cuối tháng 10 đến tháng 4 Dương lịch năm sau, từ khối núiBạch Mã ở tỉnh Thừa Thiên-Huế (vĩ tuyến 160 B ) trở ra Bắc, có gió Đông Bắcthổi về gây ra lạnh và rét vào mùa Đông, gây ra lạnh vào đầu mùa Xuân và ẩm
Trang 10ướt vào nửa cuối mùa Xuân Còn từ phía Nam khối núi Bạch Mã trở vào Nam làgió biển Thái Bình Dương thổi vào nên thời tiết mát mẻ
Đèo Hải Vân - Bạch Mã (nguồn: vietnamnet.com)Sang mùa Hạ và mùa Thu (tức là từ tháng 5 đến cuối tháng 10 Dươnglịch), chế độ gió ở Việt Nam rất phức tạp Nửa đầu (tương ứng với mùa Hạ), gió
từ vịnh Ben-gan theo hướng Tây Nam thổi vào Việt Nam gây ra thời tiết khô vàrất nóng ở vùng Tây Bắc Bắc Bộ và vùng Bắc Trung Bộ (người Việt Nam
thường gọi gió này là gió Lào hay gió Nam chướng) nhưng lại gây mưa lớn ở
vùng Tây Nguyên và Nam Bộ Nửa sau (tương ứng với đầu mùa Thu), vừathường xuyên có gió thổi theo hướng Tây Nam vào vùng Tây Nguyên và Nam
Bộ, vừa có gió theo hướng Nam vào miền Trung và theo hướng Đông Nam vàoBắc Bộ Những luồng gió này hay gây ra mưa lớn, lụt lội kéo dài cho cả haimiền Nam Bắc, nhất là khi gặp các nhiễu động khí quyển như bão, áp thấp nhiệt
đới hay hội tụ nội chí tuyến.Vào nửa cuối mùa Thu ở Bắc Bộ, gió heo may hay gió may (từ hướng Tây Bắc thổi về) làm cho trời dịu mát và sau đó chuyển dần
sang gió mùa Đông Bắc là đặc trưng của mùa Đông lạnh giá
Trang 11Tính chất ẩm của Việt Nam thể hiện ở lượng mưa trung bình năm từ1500-2000 mm ở những nơi đón gió của nhiều dãy núi, lượng mưa có khi đạttới 3500-4000 mm/năm, trong khi đó những nơi khô hạn như Ninh Thuận, BìnhThuận ở phía Nam Trung Bộ lượng mưa chỉ khoảng 700-800 mm/năm Độ ẩmkhông khí ở Việt Nam thường xuyên đạt trên 80% Ngoài ra, ở Việt Nam, nhất
là ở vùng Bắc Bộ, có hai tháng 3 và 4 là những tháng ẩm ướt, độ ẩm không khí
có khi là 100% gọi là trời Nồm, gây cho người ta cảm giác ẩm ướt rất khó chịu.
Bão ở biển Đông (nguồn:wikipedia)
2 Các vùng khí hậu ở Việt Nam.
Do chế độ mưa và chế độ nhiệt rất phức tạp nên khí hậu Việt Nam vừaphân hoá rất rõ theo từng thời gian cụ thể trong năm, lại vừa phân hoá theo
Trang 12không gian, tức là phân hoá theo chiều dài của đất nước từ bắc vào nam Trên cơ
sở sự khác nhau đó, người ta phân chia thành các vùng khí hậu khác nhau trênlãnh thổ Việt Nam như sau
Vùng khí hậu phía Bắc tính từ dãy núi Hoành Sơn, hay còn gọi là đèoNgang, giữa tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình (vĩ tuyến 18oB) trở ra Bắc Đây làvùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa Đông lạnh và rét rõ nét nhất Vùng khíhậu này được chia làm năm tiểu vùng là: vùng núi Đông Bắc, vùng núi Việt Bắchay là vùng núi phía Bắc, vùng đồng bằng Bắc Bộ, vùng núi Tây Bắc và vùngBắc Trung Bộ
Lụt năm 2007 ở Ninh Bình (nguồn: việtnamnet.com)Vùng khí hậu phía Nam gồm phần lãnh thổ Trung Bộ thuộc sườn phíaTây dãy Trường Sơn (vùng cao nguyên Tây Nguyên), phần lãnh thổ Đông Nam
Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Đây tuy cũng là vùng khí hậu nhiệt đới giómùa nhưng về mùa Đông thời tiết lại mát mẻ Vùng khí hậu này chỉ có hai tiểu
Trang 13vùng nhỏ là: tiểu vùng Tây Nguyên, tiểu vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sôngCửu Long (hay Tây Nam Bộ).
Vùng khí hậu phía Đông dãy Trường Sơn bao gồm phần lãnh thổ phíaĐông Trường Sơn từ Nam dãy núi Hoành Sơn trở vào đến khoảng vĩ tuyến
12oB Đây là vùng chuyển tiếp giữa hai vùng khí hậu chủ yếu phía Bắc và phíaNam đã nói ở trên ở đây có ba tiểu vùng nhỏ tính từ Bắc vào Nam là: vùng Bình
- Trị - Thiên, vùng Trung Trung Bộ và vùng Nam Trung Bộ
Tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm cũng như sự đa dạng về thời gian vàkhông gian của khí hậu làm cho Việt Nam vừa có thuận lợi, vừa có khó khăn.Thuận lợi là cây cối đa dạng, mùa nào thức nấy, các miền có thể bổ sung sảnphẩm nông nghiệp, hoa quả cho nhau Khó khăn là suốt năm thiên tai như bãogió, lụt lội lần lượt đe doạ hầu hết các vùng khác nhau của đất nước, thời vụnông nghiệp thì rất khắt khe và thời tiết luôn ảnh hưởng đến giao thông vận tải.Đồng thời, khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạtđộng công nghiệp do máy móc dễ bị ẩm mốc, dễ bị không khí ăn mòn Có thểnói điều kiện khí hậu có tác động mạnh mẽ cả tốt lẫn xấu đến mọi hoạt độngkinh tế xã hội của Việt Nam
IV Tài nguyên.
Việt Nam là một nước có tài nguyên vừa đa dạng, vừa phong phú vềchủng loại Tuy nhiên, theo đánh giá chung của các chuyên gia kinh tế, nguồntài nguyên thiên nhiên ấy rất phức tạp về cấu trúc cũng như khả năng sử dụng đểphục vụ cho việc phát triển kinh tế đất nước Người ta có thể nói đến một sốnguồn tài nguyên chính sau đây ở Việt Nam
1 Những con sông chính ở Việt Nam.
Mạng lưới sông ngòi ở Việt Nam dày đặc, trung bình khoảng 0,5-1,0km/km2 Cả nước có 2360 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên Đây là mộtnguồn tài nguyên rất quan trọng của đất nước Nó vừa là nguồn cung cấp nước
Trang 14chủ yếu cho những vùng nông nghiệp và địa bàn sinh sống của cư dân Việt Nam, vừa là nơi có một tiềm năng thuỷ điện rất to lớn để phát triển đất nước.
Sông dài nhất là sông Mê Kông (Mê Công) Con sông này dài khoảng
4500 km từ Trung Quốc qua Mi-an-ma, Thái Lan, Lào, Căm-pu-chia rồi chảyvào Việt Nam ở vùng Nam Bộ với tên gọi là sông Cửu Long (cũng có tên gọikhác là sông Tiền và sông Hậu) Đây là con sông có lưọng dòng chảy trong nămlớn nhất, tạo nên đồng bằng Nam Bộ rộng 4 triệu ha (héc ta) và rất mầu mỡ Tuynhiên, đây cũng là con sông thường gây lụt lớn ở diện rộng từ tháng 6 đến tháng
11 hàng năm Nhịp thở của sông Cửu Long đã trở thành nhịp sống của đồngbằng trù phú và rộng lớn nhất nước Việt Nam này
Trang 15Sông Mê Công (nguồn wikipedia)Sông Hồng cũng bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc là sông có độ dàiđứng sau sông Mê Kông Vào Việt Nam, nó nhận thêm nước của hai con sônglớn khác là sông Đà, sông Lô ở Việt Trì tỉnh Phú Thọ rồi chảy về xuôi và hợpvới sông Thái Bình làm thành đồng bằng châu thổ sông Hồng rộng 1,5 triệu ha.Đây cũng là con sông thường gây nên lũ lụt lớn và đột xuất Cho nên, ngay từthế kỷ thứ XI người Việt Nam đã xây dựng hệ thống đê điều để chế ngự nó vàđến nay hệ thống này đã phát triển khá hoàn chỉnh Hệ thống đê điều chế ngự
Trang 16sông Hồng là một công trình văn hoá rất đáng tự hào trong lịch sử xây dựng vàphát triển đất nước của người Việt Nam.
Lưu vực sông Hồng (nguồn wikipedia)Sông Đồng Nai cùng với sông Vàm Cỏ ở miền Đông Nam Bộ và NamTây Nguyên làm thành một hệ thống có diện tích lưu vực ở trong lãnh thổ ViệtNam là 36.261 km2 Những con sông này hàng năm thường có nước lũ về mùa
Hạ (từ tháng 6 đến tháng 9) nhưng các tháng 3 và 4 nước lại rất kiệt Đây là lưuvực sông thuộc một vùng địa lý có nền kinh tế đang phát triển năng động nhất ởViệt Nam hiện nay
Sông Mã và sông Chu ở Thanh Hoá làm thành một lưu vực rộng 28.400
km2 Nó bắt nguồn từ vùng Tây Bắc Việt Nam chảy qua Lào rồi sau đó chủ yếunằm trong địa phận Thanh Hoá Sông Mã cũng thường có lũ lụt lớn từ tháng 6đến tháng 10 hàng năm Hệ thống sông Mã cung cấp phù sa tạo nên đồng bằngThanh Hoá, một tỉnh đông dân nhất Việt Nam hiện nay
Sông Cả (có tên gọi khác là sông Lam) bắt nguồn từ Lào chảy vào Nghệ
An rồi hợp lưu với một vài con sông nhỏ khác làm nên diện tích lưu vực 27.200
Trang 17km2 Con sông này cũng thường có lũ lụt từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm vànước cạn kiệt từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau Sông Cả nhận thêm nước củanhững con sông nhỏ trong vùng tạo nên đồng bằng Xứ Nghệ trù phú, nối liềnvới đồng bằng Thanh Hoá ở phía Bắc làm thành một dải đồng bằng ven biểnBắc Trung Bộ.
Đà Lạt - Tây Nguyên (nguồn: việtnamnet.com)Trên vùng Tây Nguyên, có những sông nhánh khá quan trọng thuộc tảngạn sông Mê Kông là sông Xê Xan và sông Xrê-pok Những con sông này có ýnghĩa rất lớn trong việc phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên Nó là nguồn cungcấp nước cho vùng cây công nghiệp quan trọng nhất đất nước Đồng thời, nó cótiềm năng thuỷ điện rất lớn không chỉ cho Tây Nguyên mà cho cả nước
Ngoài ra, ở dọc ven biển miền Trung có các sông như sông Gianh ởQuảng Bình, sông Hiếu ở Quảng Trị, sông Hương ở Huế, sông Thu Bồn ởQuảng Nam, sông Côn ở Bình Định, sông Đà Rằng (hay sông Ba) ở Phú Yên,
Trang 18sông Cái Nha Trang ở Khánh Hoà Đây là những con sông tuy không dài lắmnhưng có vai trò quan trọng đối với đời sống cư dân trong mỗi vùng.
2 Hệ sinh thái rừng và tài nguyên sinh vật ở Việt Nam.
Do vị trí địa lý và điều kiện khí hậu, ở Việt Nam cả thực vật và động vậtrất phong phú về thành phần loài Ngoài các loài bản địa (chiếm khoảng một nửa
số loài), còn có các loài thuộc luồng Hi-ma-lay-a, luồng Ma-lai-xi-a - xi-a, luồng ấn Độ - Mi-an-ma và các loài nội nhập về sau Các loài nói trên phân
In-đô-nê-bố khá rõ nét dựa vào điều kiện địa hình và lịch sử lâu dài hình thành lãnh thổcũng như điều kiện và sự phân hoá về khí hậu
Hệ sinh thái rừng Việt Nam gồm có rừng rậm nhiệt đới, rừng thưa nhiệtđới và rừng trên các loại thổ nhưỡng đặc biệt
Rừng rậm nhiệt đới lại có nhiều kiểu khác nhau Đó là rừng rậm nhiệt đới
ẩm thường xuyên xanh với kết cấu nhiều tầng và có sức sống mãnh liệt phân bốchủ yếu ở Đông Trường Sơn Loại rừng này có nhiều loại gỗ quý hiếm như Lim,Sến, Táu, Chò, Gụ, Sao.v.v có giá trị kinh tế cao Đó là rừng rậm nhiệt đới giómùa nửa rụng lá phát triển trong điều kiện có mùa Đông lạnh và mùa khô kéodài trong vài ba tháng Loại rừng này, phổ biến ở miền Bắc và những vùng cómùa khô rõ rệt như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ Đây là rừng có kết cấu nhiềutầng tán vừa có cây xanh thường xuyên vừa có cây lá rụng và là rừng có trữlượng gỗ lớn Đó là rừng rậm nhiệt đới gió mùa rụng lá ở nơi ít mưa, mùa khôkéo dài từ 4 đến 6 tháng Loại rừng này phân bố chủ yếu ở vùng Tây Nguyên,Nam Trung Bộ và Nam Bộ Về mùa khô hầu hết cây cối trong loại rừng này đềurụng lá trơ cành Trong những khu rừng loại này cây họ Dầu là cây chủ yếu, do
đó, rừng có trữ lượng gỗ rất thấp
Rừng thưa nhiệt đới cũng có nhiều kiểu khác nhau Trước hết là rừng thưanhiệt đới khô có lá rộng Loại rừng này mọc ở những vùng đất khô hạn nhưNinh Thuận, Bình Thuận và Mường Xén (Nghệ An) và nó thường chỉ có loại
Trang 19cây một tầng lá Sau đó là rừng thưa nhiệt đới khô có lá kim Loại này chủ yếu
là rừng thông trên đất trơ sỏi đá như Quảng Ninh và Lâm Đồng Cuối cùng làrừng thưa nhiệt đới khô cằn Loại này chủ yếu là rừng chỉ có những tầng cỏ vàbụi cây thấp mọc rải rác trên mặt đất như ở vùng khô Ninh Thuận, Bình Thuận
và vùng đồi thấp Quảng Trị
Rừng ngập mặn (nguồn: vacne.org.com.vn)Rừng trên thổ nhưỡng đặc biệt có kiểu rừng nhiệt đới lá rộng xanh quanhnăm, sống trên núi đá vôi Loại này phân bố ở miền Bắc Kết cấu rừng đơn giản,cây cối sinh trưởng chậm nhưng đều là loại cây quý như Nghiến, Trai Đây lànhững khu rừng thường được quy hoạch thành khu dự trữ thiên nhiên hay vườnquốc gia Kiểu rừng nhiệt đới trên đất phèn, điển hình là vùng U Minh ở Nam
Bộ với cây chính là cây Tràm, cũng là loại rừng đặc biệt này Rừng Tràm UMinh là một khu rừng hiếm có ở Việt Nam, là nơi sinh sống của nhiều loài độngvật quý hiếm và là nơi tập trung trú ngụ đông đúc của nhiều loài chim Ngoài ra,
Trang 20còn có rừng ngập mặn phân bố ở các cửa sông ven biển Đông Bắc, vùng đồngbằng sông Hồng, duyên hải miền Trung và đồng bằng Nam Bộ Cây ở loại rừngnày chủ yếu là những loại như cây Sú, cây Vẹt, cây Đước
So với những quốc gia khác trên thế giới có cùng quy mô lãnh thổ, ViệtNam là một nước có sự đa dạng sinh học khá nổi bật Cả nước có tới 14.624 loàithực vật thuộc gần 300 họ, có tới 11.217 loài và phân loài động vật, trong đó có
1009 loài và phân loài chim, 265 loài thú, 439 loài bò sát lưỡng cư, 2000 loài cábiển, hơn 500 loài cá nước ngọt và hàng ngàn loài thuỷ sinh vật khác Đây thực
sự là nguồn tài nguyên quý không chỉ của Việt Nam mà cả của thế giới Chẳnghạn, vài năm trước đây, người ta đã phát hiện giống hươu Sao La ở vùng rừngPhù Mát (Nghệ An) là loại động vật quý hiếm trên thế giới Tuy nhiên, trongnhiều năm gần đây, nguồn tài nguyên này đang ngày một bị suy giảm
3 Tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam.
Việt Nam có lịch sử hình thành địa chất lãnh thổ lâu dài và phức tạp Vìthế, nguồn tài nguyên khoáng sản ở đây tuy được đánh giá là rất phong phú vềthể loại nhưng lại khá phức tạp về cấu trúc Do đó, người ta cho rằng nó rất hạnchế về khả năng sử dụng và tiềm năng phát triển kinh tế
Trang 21Giàn khoan dầu ở biển (nguồn: wikipedia)Dầu khí thiên nhiên là nguồn tài nguyên khoáng sản quan trọng hàng đầu
ở Việt Nam Kết quả thăm dò cho biết dầu khí có ở các bể trầm tích như bể sôngHồng, các bể Trung Bộ, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Thổ Chu - Mã Lai Dự báotrữ lượng địa chất là khoảng 10 tỉ tấn dầu Các mỏ hiện nay đã khai thác là mỏTiền Hải ở phía Bắc, các mỏ Bạch Hổ, Đại Hùng ở vùng biển phía Nam Ngoài
ra, gần đây cũng đã phát hiện thêm một vài mỏ mới có thể khai thác công nghiệpnhư mỏ thuộc lô Yên Tử nằm ở bể trầm tích sông Hồng
Đi chợ ở Hà Giang (nguồn: vietnamnet.com)Than đá cũng là nguồn tài nguyên khoáng sản quan trọng ở Việt Nam.Vùng than lớn nhất là bể than vùng Đông Bắc, chủ yếu ở tỉnh Quảng Ninh.Trước kia, ở đây người ta thường khai thác lộ thiên nhưng hiện nay và trongtương lai phần lớn sẽ phải khai thác hầm lò Than Việt Nam chủ yếu là thannăng lượng; loại than mỡ chuyên dùng cho luyện kim ít, chỉ có ở một vài nơinhư Phấn Mễ, Làng Cẩm, Chợ Đồn v.v
Trang 22Việt Nam có nhiều khoáng sản kim loại Các mỏ kim loại đen gồm có: sắt
ở Trại Cau (Thái Nguyên) và Thạch Khê (Hà Tĩnh) , man-gan ở Trùng Khánh
và Trà Lĩnh (Cao Bằng), crô-mit ở Cổ Định (Thanh Hoá), ti-tan ở Núi Chúa(Thái Nguyên) Các mỏ kim loại màu ở Việt Nam thường là mỏ đa kim, trữlượng nhỏ và điều kiện khai thác khó khăn
Khoáng sản không kim loại ở Việt Nam cũng rất phong phú Đó là mỏ pa-tit ở vùng Cam Đường (Lào Cai) Các mỏ đá quý (chủ yếu là ru-bi và sa-phia) nằm rải rác nhiều nơi như ở Lục Yên (Yên Bái) và Quỳ Hợp (Nghệ An).Cát thuỷ tinh ở Việt Nam có trữ lượng khoảng 1,1 tỉ tấn, tập trung ở 6 mỏ lớn làCửa Tùng (Quảng Trị), Quảng Ngãi, Tuy Hoà (Phú Yên), Nha Trang - CamRanh (Khánh Hoà), Phan Rang (Ninh Thuận) và Phan Thiết (Bình Thuận).Ngoài ra, đá vôi cũng là một nguồn tài nguyên quý giá dùng làm chất trợ dungcho luyện gang và là nguyên liệu chính để sản xuất xi-măng Loại nguyên liệunày tập trung nhiều từ Thừa Thiên Huế trở ra Bắc, ở vùng Quảng Nam, Đà Nẵng
a-và Hà Tiên (Kiên Giang) Chính nhờ có nguồn nguyên liệu phong phú này màhiện nay ngành công nghiệp xi-măng ở Việt Nam ngày càng phát triển khôngngừng
Trang 23Mường Chăm ở Hoà Bình (nguồn: vietnamnet.com)Nguồn nước khoáng trong lòng đất Việt Nam cũng rất phong phú Cảnước có trên 300 nguồn nước khoáng, nước nóng lộ ra ngoài mặt đất Trong số
đó có 62 nguồn lộ ra có nhiệt độ trên 500c Nhiều nguồn nước khoáng, nướcnóng có giá trị chữa bệnh tốt đã được khai thác như Mỹ Lâm ( ở Tuyên Quang),Kim Bôi (ở Hoà Bình), Thạch Bích (ở Quảng Ngãi), Vĩnh Hảo (ở Bình Thuận).Đây là nguồn tài nguyên quý giá, là tiềm năng quan trọng phục vụ cho du lịch
và dịch vụ nghỉ ngơi ở Việt Nam Tuy nhiên cho đến nay, nguồn tài nguyên nàyvẫn còn chưa được khai thác tốt, đáp ứng nhu cầu của ngành du lịch
Trang 24Ruộng bậc thang (nguồn: vietnamnet.com)
Trang 25Chương II.
Các đơn vị hành chính ở Việt Nam
I Phân chia đơn vị hành chính hiện nay và những thay đổi trước đây.
1 Cách phân chia đơn vị hành chính hiện nay.
Các đơn vị hành chính ở Việt Nam hiện nay được phân định theo nguyêntắc như sau:
- Cả nước chia thành tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương
- Sau đó, cấp tỉnh được chia thành thành phố thuộc tỉnh, thị xã và huyện Còn thành phố trực thuộc trung ương được chia thành thành phố trực thuộc, quận, thị xã và huyện
- Sau đó nữa, thành phố trực thuộc, thành phố thuộc tỉnh và thị xã chia thành thị trấn, phường và xã; cấp quận thì chia thành phường; còn huyện thì chia ra thành thị trấn và xã
Như vậy, những đơn vị có tên gọi là tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là cấp trực thuộc trung ương; quận, huyện, thành phố trực thuộc, thành phố thuộc tỉnh, thị xã là cấp trực thuộc tỉnh; phường, xã, thị trấn là là cấp trực
thuộc huyện và là đơn vị hành chính cấp cơ sở
Đó là các đơn vị hành chính chính thức hiện nay ở Việt Nam
ở cấp độ nước có Quốc hội do nhân dân bầu ra là cơ quan quyền lực cao nhất Quốc hội sẽ bầu ra Chủ tịch nước là người đứng đầu quốc gia (nguyên thủ quốc gia) Quốc hội sẽ bầu Thủ tướng (người đứng đầu Chính phủ) và bầu
Chính phủ gồm các Bộ trưởng là chính quyền cấp trung ương của đất nước
Từ tỉnh trở xuống đến huyện và xã, ở mỗi một đơn vị hành chính như thế
nhân dân sẽ bầu ra Hội đồng nhân dân Sau đó Hội đồng nhân dân bầu ra Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và Uỷ ban nhân dân Đây là những tổ chức chính quyền
địa phương thuộc các cấp khác nhau
Trang 26Ngoài ra, ở nông thôn đồng bằng miền Bắc và miền Trung, các xã thường
có các làng hay có nơi gọi là thôn ở đồng bằng Nam Bộ dưới đơn vị xã có nhiều nơi gọi là các ấp Tuỳ theo thói quen từng vùng, mỗi làng lại được chia
Trang 27thành nhiều xóm ở thành thị, dưới các phường thường có tổ dân phố ở miền núi vùng dân tộc thiểu số phía Bắc, các xã thường có các thị tứ và các bản là những điểm tụ cư của người dân Còn ở miền Trung và Tây Nguyên mỗi xã bao gồm các buôn hay plây tuỳ theo cách gọi của từng dân tộc thiểu số Những đơn vị cư trú như làng, thôn, xóm, ấp, hay bản, buôn, plây chỉ là những điểm định cư của
người dân, không phải là đơn vị hành chính Tuy nhiên, chúng lại có vai trò hếtsức quan trọng trong đời sống cộng đồng của người Việt Nam, đặc biệt là các
làng ở vùng đồng bằng và các bản hay buôn ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu
số miền núi Đây chính là những điểm cư trú mang đậm dấu ấn văn hoá truyềnthống của mỗi một cộng đồng cư dân ở Việt Nam
2 Một số thay đổi về các đơn vị cấp tỉnh trước đây ở Việt Nam.
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, người Pháp chia nước Việt Nam
thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ gồm 69 đơn vị hành chính cấp tỉnh Cụ thể
như sau (xếp theo thứ tự ABC):
a, Bắc Kỳ có 29 đơn vị hành chính Đó là hai thành phố Hà Nội, Hải
Phòng và các tỉnh Bắc Cạn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Đông, HàGiang, Hà Nam, Hải Dương, Hoà Bình, Hưng Yên, Kiến An, Lai Châu, LạngSơn, Lào Cai, Hải Ninh, Nam Định, Ninh Bình, Phúc Yên, Phú Thọ, QuảngYên, Sơn La, Sơn Tây, Thái Bình, Thái Nguyên,Tuyên Quang, Vĩnh Yên, YênBái
b, Trung Kỳ có 19 đơn vị hành chính Đó là thành phố Đà Nẵng và các
tỉnh Bình Định, Bình Thuận, Đarlac, Đồng Nai Thượng, Hà Tĩnh, Khánh Hoà,Kontum, Lâm Viên, Nghệ An, Phan Rang, Phú Yêng, Pleiku, Quảng Bình,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Thanh Hoá, Thừa Thiên
c, Nam Kỳ có 21 đơn vị hành chính Đó là khu Sài Gòn - Chợ Lớn và các
tỉnh Bà Rịa, Bạc Liêu, Bến Tre, Biên Hoà, Cần Thơ, Châu Đốc, Chợ Lớn, Gia
Trang 28Định, Gò Công, Hà Tiên, Long Xuyên, Mỹ Tho, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng,Tân An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Vĩnh Long.
Sau Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam trở thành nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đổi tên gọi Kỳ thành Bộ và các tên gọi cũ là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ trở thành tên gọi Bắc
Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ là từ đó Năm 1946, nước Việt Nam được chia thành 12 Khu hành chính và quân sự là:
a, Khu I ( gồm Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Phúc Yên).
b, Khu II (gồm Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hoà
Bình, Sơn La, Lai Châu)
c, Khu III (gồm Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương).
d, Khu IV (gồm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,
Thừa Thiên)
đ, Khu V (gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Công Tum, Gia
Lai)
e, Khu VI (gồm Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lắc,
Lâm Viên, Đồng Nai Thượng)
g, Khu VII (gồm Bà Rịa, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định,
Trang 29m, Khu XII (gồm Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Ninh, Hòn Gai,
Quảng Yên)
Hiện nay, những tên gọi này đã có sự thay đổi
Năm 1954, theo Hiệp định Giơ - ne - vơ, nước Viêt Nam bị chia thànhmiền Bắc và miền Nam Phần miền Bắc gồm từ vĩ tuyến 170B trở ra Bắc và tiếptục là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phần miền Nam gồm từ vĩ tuyến 170Btrở vào Nam có tên gọi là Việt Nam Cộng hoà với một chính quyền do người
Mỹ dựng nên
Nhờ thắng lợi của cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc, năm 1975 ViệtNam thống nhất đất nước và trở thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam Qua nhiều lần đổi tên và sát nhập ở cả hai miền Nam Bắc, vào thời điểm
lúc bấy giờ Việt Nam có 38 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là:
a, Ba thành phố trực thuộc trung ương gồm: 1, T.p Hà Nội; 2, T.p Hồ Chí Minh (tên mới của T.p Sài Gòn); 3, T.p Hải Phòng (từ tháng 10 năm 1962 bao
gồm cả tỉnh Kiến An cũ)
b, Những tỉnh miền Bắc (tính từ bắc xuống nam, từ tây sang đông) gồm:
4, Tỉnh Hà Tuyên (nhập Hà Giang và Tuyên Quang tháng 12 năm 1975); 5, Tỉnh Cao Lạng (nhập Cao Bằng và Lạng Sơn tháng 12 năm 1975); 6, Tỉnh Hoàng Liên Sơn (nhập Lào Cai, Nghĩa Lộ và Yên Bái tháng 12 năm 1975); 7, Tỉnh Lai Châu; 8, Tỉnh Bắc Thái (nhập Bắc Cạn và Thái Nguyên tháng 4 năm 1965); 9, Tỉnh Sơn La; 10, Tỉnh Quảng Ninh (tháng 10 năm 1963 nhập Hải Ninh và Hồng
Quảng, nhưng trước đó đã nhập Hồng Gai với Quảng Yên thành Hồng Quảng);
11, Tỉnh Vĩnh Phú (nhập Phú Thọ với Vĩnh Phúc tháng 1 năm 1968, trước đó tháng 2 năm 1950 nhập Vĩnh Yên và Phúc Yên thành Vĩnh Phúc); 12, Tỉnh Hà Bắc (tháng 10 năm 1962 nhập Bắc Giang và Bắc Ninh); 13, Tỉnh Hà Sơn Bình
(tháng 12 năm 1975 nhập Hoà Bình và Hà Tây, trước đó tháng 4 năm 1965 đã
nhập tỉnh Hà Đông với tỉnh Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây); 14, Tỉnh Hải Hưng
Trang 30(nhập Hải Dương và Hưng Yên tháng 1 năm 1968); 15, Tỉnh Thái Bình; 16, Tỉnh Hà Nam Ninh ( nhập Ninh Bình và Nam Hà tháng 12 năm 1975, trước đó
tháng 4 năm 1965 đã nhập Nam Định và Hà Nam thành Nam Hà); 17, Tỉnh
Thanh Hoá; 18, Tỉnh Nghệ Tĩnh (nhập Nghệ An và Hà Tĩnh tháng 12 năm 1975); 19, Tỉnh Bình Trị Thiên (nhập Quảng Bình và Quảng Trị với Thừa Thiên
tháng 2 năm 1976 và đây cũng là thời điểm sáp nhập các tỉnh có số thứ tự tiếptheo sau dưới đây)
c, Những tỉnh miền Nam gồm: 20, Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (nhập Quảng Nam và Quảng Đà); 21, Tỉnh Nghĩa Bình (nhập Quảng Ngãi và Bình Định); 22, Tỉnh Gia Lai-Kon Tum (nhập Gia Lai và Kon Tum); 23, Tỉnh Đắc Lắc (gồm cả Quảng Đức cũ); 24, Tỉnh Phú Khánh (nhập Phú Yên và Khánh Hoà); 25, Tỉnh Lâm Đồng (gồm cả Tuyên Đức); 26, Tỉnh Thuận Hải (nhập Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy); 27, Tỉnh Sông Bé (nhập Bình Phước và Thủ Dầu Một); 28, Tỉnh Tây Ninh; 29, Tỉnh Đồng Nai (nhập Biên Hoà, Bà Rịa và Long Khánh); 30, Tỉnh Long An (gồm cả Kiến Tường); 31, Tỉnh Tiền Giang (nhập Mỹ Tho và Gò Công); 32, Tỉnh Bến Tre; 33, Tỉnh Đồng Tháp (gồm Sa
Đéc, Kiến Phong cũ và một phần của Long Châu Tiền, Long Châu Hà); 34, Tỉnh
Cửu Long (nhập Vĩnh Long và Trà Vinh); 35, Tỉnh An Giang (gồm Long
Xuyên, Tân An, Châu Đốc và một phần của Long Châu Tiền, Long Châu Hà);
36, Tỉnh Hậu Giang (nhập Cần Thơ và Sóc Trăng); 37, Tỉnh Kiên Giang (gồm
Hà Tiên, Rạch Giá và một phần Long Châu Hà); 38, Tỉnh Minh Hải (nhập Cà
Trang 31b, Tháng 6 năm 1989, quyết định tách các tỉnh: 1, Nghĩa Bình thành tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định; 2, Phú Khánh thành tỉnh Phú Yên và Khánh Hoà; 3, Bình Trị Thiên thành ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và tỉnh Thừa Thiên Tỉnh Thừa thiên được đổi thành tên gọi mới là tỉnh Thừa Thiên-Huế như hiện nay.
c, Tháng 8 năm 1991, lại quyết định tách các tỉnh: 1, Nghệ Tĩnh thành tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh; 2, Hoàng Liên Sơn thành tỉnh Lào Cai và Yên Bái; 3, Hà Tuyên thành Hà Giang và Tuyên Quang; 4, Gia Lai-Kon Tum thành tỉnh Gia Lai
và Kon Tum; 5, Hà Sơn Bình thành tỉnh Hoà Bình và Hà Tây; 6, Lập mới tỉnh
Bà Rịa-Vũng Tàu trên cơ sở đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo cũ và 3 huyện của tỉnh
Đồng Nai
d, Tháng 12 năm 1991, lại quyết định tách thêm các tỉnh: 1, Thuận Hải thành tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận; 2, Hậu Giang thành tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng; 3, Cửu Long thành tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh; 4, Hà Nam Ninh thành tỉnh Nam Hà và Ninh Bình.
đ, Tháng 11 năm 1996, quyết định tách thêm các tỉnh: 1, Bắc Thái thành tỉnh Băc Cạn và Thái Nguyên; 2, Hà Bắc thành tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh; 3, Hải Hưng thành tỉnh Hải Dương và Hưng Yên; 4, Minh Hải thành tỉnh Bạc Liêu
và Cà Mau; 5, Nam Hà thành tỉnh Nam Định và Hà Nam; 6, Quảng Nam-Đà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam và t.p Đà Nẵng; 7, Sông Bé thành tỉnh Bình Dương
và Bình Phước; 8, Vĩnh Phú thành tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc.
e, Theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26.11.2003 của Quốc hội có
ba tỉnh thuộc danh sách trên được chia tách thành các tỉnh và thành phố mới: 1,
Tỉnh Cần Thơ tách thành thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; 2, Đắc Lắc (Đắk Lắk) tách thành tỉnh Đắc Lắc và tỉnh Đắc Nông; 3, Lai Châu tách thành tỉnh Lai Châu và tỉnh Điện Biên.
g, Cuối cùng, trong phiên họp ngày 29 tháng 5 năm 2008, Quốc hội ViệtNam khoá XII đã thông qua nghị quyết với 92,9% đại biểu tán thành từ ngày 1
Trang 32tháng 8 năm 2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây, 04 xã của huyện Lương Sơn (HoàBình), huyện Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc) sẽ sáp nhập vào thành phố Hà Nội.
Việc điều chỉnh địa giới Hà Nội năm 2008 là lần điều chỉnh địa giới hànhchính mới nhất của Việt Nam
II Danh sách các đơn vị hành chính ở Việt Nam hiện nay.
Như vậy, sau nhiều lần sáp nhập và chia tách, cho đến ngày 1 tháng 8
năm 2008, Việt Nam có 63 đơn vị hành chính gồm 5 thành phố trực thuộc trung ương và 58 tỉnh.
1 Danh sách các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương.
Để tiện theo dõi trên bản đồ hành chính Việt Nam, tên gọi các tỉnh thànhphố được kể về cơ bản theo trật tự từ bắc xuống nam, từ tây sang đông Đó là:
a, Phần Bắc Bộ có: 1 Hà Giang, 2 Cao Bằng, 3 Lạng Sơn, 4 Lào Cai, 5.
Tuyên Quang, 6 Bắc Cạn, 7 Thái Nguyên, 8 Bắc Giang, 9 Quảng Ninh, 10.Lai Châu, 11 Điện Biên, 12 Yên Bái, 13 Phú Thọ, 14, Vĩnh Phúc, 15 BắcNinh, 16 Hà Nội, 17 Hải Dương, 18 Hưng Yên, 19 Sơn La, 20 Hoà Bình, 21
Hà Nam, 22 Nam Định, 23 Thái Bình, 24 Ninh Bình, 25 Hải Phòng