Mỗi cơ quan, chủ thể trong bộ máy nhà nước có vai trò và vị trí khác nhau, nhưng đều dưới sự lãnh đạo chung nhất của Đảng Cộng sản, bằng việc cụ thể hóa chủ chương đường lối của mình, Đả
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá
nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đỗ Phú Hải
Các số liệu sử dụng trong luận văn có trích dẫn nguồn rõ ràng, không sao chép của người khác Các kết luận nghiên cứu trong luận văn được đúc kết từ cơ sở
lý luận đến thực tiễn của vấn đề luận văn cần giải quyết
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./
TÁC GIẢ
Nguyễn Thế Tài
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc Học viện Khoa học Xã hội, khoa Chính sách công đã tạo điều kiện cho tôi được học tập và nghiên cứu tại Học viện và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể quý thầy, cô giảng dạy chương trình thạc sỹ Chính sách công, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về kiến thức nói chung và các kiến thức chuyên môn nói riêng, đó là cơ sở giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, lời chúc sức khỏe đến PGS.TS Đỗ Phú Hải, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn Những góp ý, chỉ bảo của thầy không chỉ giúp tôi hoàn thành luận văn mà còn là kinh nghiệm trong nghiên cứu hoạt động sau này
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất về mặt tinh thần cho tôi yên tâm học tập và nghiên cứu
Do thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều, nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy, cô và anh chị học viên./
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ
Nguyễn Thế Tài
Trang 3DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
HĐND : Hội đồng nhân dân
MTTQVN : Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
UBND : Ủy ban nhân dân
UBTVQH : Uỷ ban thường vụ Quốc Hội
HĐBT : Hội đồng Bộ trưởng
Trang 42
Trang 52
Trang 62
Trang 71
Mục Lục
1.Tính cấp thiết của đề tài 2
2.Tình hình nghiên cứu 4
3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
6.Ý nghĩa của Luận văn 8
7 Cơ cấu của Luận Văn 8
Chương 1 Lý luận giám sát thực hiện Chính sách công 9
1 Khái niệm giám sát thực hiện Chính sách công 9
2 Vị trí, vai trò của Giám sát thực hiện Chính sách công 9
3 Mục đích của Giám sát thực hiện Chính sách công 10
4 Bản chất của giám sát thực hiện Chính sách công 10
5 Chức năng, hình thức, công cụ của Giám sát thực hiện chính sách công.11 7 Các yếu tố ảnh hưởng đến Giám sát thực hiện chính sách công 14
Chương 2 Thực tiễn giám sát thực hiện Chính sách công ở nước ta trong giai đoạn hiện nay 17
1 Hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công trong thời kỳ đổi mới 17
2 Giám sát thực hiện Chính sách công của Đảng 21
3 Giám sát của Quốc hội trong thực hiện Chính sách công 29
4.Giám sát thực hiện Chính sách công của Hội đồng nhân dân 41
5 Giám sát thực hiện Chính sách công của cơ quan Hành chính nhà nước.52 6 Hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công của các tổ chức Chính trị xã hội 59
7 Hoạt động giám sát thực hiện chính sách công của các tổ chức xã hội và người dân 65
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện giám sát thực hiện Chính sách công tại Việt Nam 73
1 Quan điểm và mục tiêu 73
2 Giải pháp hoàn thiện các hoạt động Giám sát thực hiện Chính sách công hiệnnay……….76
Trang 82
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Như đã biết “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm quyền”[PGS.TS Đỗ Phú Hải]
Với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới trong giai đoạn hiện nay, việc ban hành chính sách thực ra là cụ thể hóa đường lối chính trị của đảng cầm quyền Tại Việt Nam với tính chất là đảng cầm quyền duy nhất, các chính sách công là sự cụ thể hóa chủ trương đường lối của Đảng Cộng sản, yếu tố kỹ thuật và yếu tố chính trị trong chính sách công là không tách rời Vì thế nên vấn đề cần quan tâm là trong toàn bộ quá trình của chính sách công các chủ thể nào sẽ tham gia?Họ đóng vai trò thế nào?
Và quan trọng nhất: Trong quá trình thực hiện chính sách công ấy những chủ thể nào đóng vai trò giám sát? Bằng cơ chế nào và công cụ nào?Đây là vấn đề chưa
được nghiên cứu nhiều
Như đã biết, trong toàn bộ quy trình chính sách thì việc thực hiện chính sách
có vai trò quan trọng nhất, quyết định sự thành công hay thất bại của chính sách.Hiện nay việc thực hiện chính sách còn nhiều bất cập, tất nhiên những bất cập
đó là không thể tránh khỏi, với mỗi chính sách khác nhau thì sẽ có những vấn đề chính sách khác nhau Đối với mỗi chính sách khác nhau đều có những chủ thể khác nhau, thường đã được quy định ngay trong đề án chính sách Nhưng rất ít, thậm chí hầu như trong các chính sách không đề cập đến chủ thể giám sát việc thực hiện chính sách ấy
Một vấn đề nữa cần phải lưu tâm, đó là như đã nói ở trên, bản chất của chính sách công là tập hợp các quyết định của đảng cầm quyền Ở nước ta là cụ thể hóa chủ trương đường lối của Đảng, yếu tố chính trị rất rõ ràng Vậy trong việc thực hiện chính sách công ở nước ta Đảng Cộng sản có giám sát hay không? Giám sát ở
Trang 93
mức độ nào và bằng công cụ nào Việc làm rõ điều đó là vô cùng quan trọng, bởi
theo quy định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật thì “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước ở Trung ương có quyền giám sát tối cao”
Khoản 2 điều 70 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định rõ:
“Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu
cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;”
Như vậy vai trò giám sát tối cao thuộc về Quốc hội; tại địa phương thì vai trò
đó thuộc về cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương tức Hội đồng nhân dân; do vậy việc làm rõ vai trò giám sát thực hiện chính sách giữa Đảng và cơ quan quyền lực nhà nước cũng như những cơ quan nhà nước khác là vô cùng cần thiết để làm cơ
sở lý luận và thực tiễn trong giám sát thực hiện chính sách
Ngoài ra Luận văn cũng muốn làm rõ hơn vai trò của các cơ quan Nhà nước khác và vai trò của xã hội, người dân cùng các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức
xã hội tác động như thế nào đến việc giám sát thực hiện chính sách Họ có vai trò gì? Và có tham gia vào việc giám sát thực hiện chính sách công hay không?
Do khoa học về Chính sách công vẫn còn mới mẻ, có nhiều quan điểm và xu hướng khác nhau nên những nghiên cứu về việc giám sát chính sách công nói chung
và giám sát thực hiện chính sách công nói riêng cũng tương đối mới mẻ và chưa được phổ biến, nhất là ở Việt Nam do điều kiện đặc thù và chế độ chính trị với mô hình nhà nước Xã hội chủ nghĩa nên những nghiên cứu và công bố về vấn đề này lại càng ít Vì thế việc nghiên cứu, hệ thống hóa nhằm làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn vấn đề giám sát thực hiện chính sách công tại nước ta là cần thiết, từ đó đưa ra những đề xuất và giải pháp cụ thể để góp phần thực hiện hiệu quả các Chính sách công
Trên cơ sở đó tôi đã lựa chọn Luận văn với nội dung “Giám sát thực hiện Chính sách công - từ lý luận đến thực tiễn tại Việt Nam giai đoạn hiện nay” làm
Trang 104
đề tài nghiên cứu, bởi tôi xác định những nghiên cứu, quan điểm về vấn đề này là nghiêm túc và hết sức cần thiết trong Chính sách công nói chung và việc thực hiện chính sách công nói riêng tại Việt Nam giai đoạn hiện nay
2.Tình hình nghiên cứu
Như đã nói ở trên, trên góc độ khoa học chính sách thì Chính sách công vốn là
một ngành khoa học mới, do vậy những nghiên cứu về nó chưa phong phú so với nhiều ngành khoa học xã hội khác Giám sát thực hiện chính sách cũng không ngoại
lệ, những nghiên cứu mang tính hệ thống về nó là không nhiều Trên thế giới do đặc thù của các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau nên chính sách công nói chung
và giám sát thực hiện chính sách công nói riêng có những sự khác biệt rất lớn đối với nước ta Tại Việt nam với đặc thù của mình thì giám sát thực hiện chính sách công có những nét riêng nhất định, vì thế các tài liệu và công trình nghiên cứu lại càng ít
Trên góc độ tổ chức bộ máy: Thì cơ chế phân công vai trò, trách nhiệm và giám
sát lẫn nhau của các cơ quan Nhà nước là cần thiết Mỗi cơ quan, chủ thể trong bộ máy nhà nước có vai trò và vị trí khác nhau, nhưng đều dưới sự lãnh đạo chung nhất của Đảng Cộng sản, bằng việc cụ thể hóa chủ chương đường lối của mình, Đảng hoạch định, xây dựng và đưa chính sách vào thực tiễn thông qua các cơ quan nhà nước, như vậy việc nghiên cứu làm rõ vai trò giám sát của Đảng, cơ quan quyền lực nhà nước hay các tổ chức xã hội – người dân trong quá trìnhchính sách công ấy được thực hiện cũng là vấn đề vô cùng quan trọng cần phải nghiên cứu Việc nghiên cứu này phải có trách nhiệm chỉ ra được cơ sở lý luận – pháp lý và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam Tuy vậy, xét trên góc độ này thì các tài liệu và công trình nghiên cứu cũng không nhiều, chủ yếu tồn tại dưới hình thức các bài viết, bài báo, các báo cáo đánh giá, tổng kết v.v… vì vậy việc nghiên cứu dưới giác độ hệ thống hóa là cần thiết
Trang 115
3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ những nội dung đã trình bày, mục đích nghiên cứu của Luận văn là:
- Chỉ ra được một cách có hệ thống cơ sở lý luận, pháp lý và thực trạng giám sát thực hiện chính sách công tại Việt Nam giai đoạn hiện nay
- Trên cơ sở đó chỉ ra được những vấn đề tồn tại nhằm đề xuất, khuyến nghị các giải pháp hoàn thiện, đồng thời cố gắng đưa ra được những dự báo về sự phát triển của vấn đề này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu làm rõ mặt lý luận của vấn đề “Giám sát thực hiện chính sách công tại Việt Nam”
- Làm rõ thực trạng “Giám sát thực hiện chính sách công tại Việt Nam” trong gian đoạn hiện nay như thế nào, sự tác động và ảnh hưởng của việc giám sát thực hiện chính sách đến hiệu quả của chính sách công ra sao?
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đó là vấn đề giám sát thực hiện chính sách công trên cơ sở lý luận và thực tế tại Việt nam giai đoạn hiện nay Tức là Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về vấn đề giám sát trong quá trình thực hiện chính sách công với những cơ chế cụ thể
4.2.Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Do tính chất nghiên cứu chung nên phạm vi không
gian của Luận văn không giới hạn tại một đơn vị hành chính cụ thể nào, mà là nghiên cứu ở phạm vi lý thuyết và thực trạng chung về vấn đề giám sát thực hiện chính sách tại nước ta, tức là trên phạm vi toàn quốc gia
- Phạm vi thời gian: Đây là vấn đề tương đối bao quát trên một kía cạnh cụ
thể liên quan đến thực thi chính sách, nghiên cứu về nội dung này phải dựa trên lý luận và để đánh giá được tổng thể thì những quy định của Hiến pháp và Pháp luật
về thể chế và cơ chế giám sát là vô cùng quan trọng, do đó đề tài chủ yếu tập trung
Trang 126
vào những vấn đề lý luận, thực tiện ở giai đoạn hiện nay, cụ thể là từ 2010 đến 2015
là khoảng thời gian Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001 còn hiệu lực và Hiến pháp 2013 chính thức được áp dụng Ngoài ra để có tính đối chiếu rộng hơn thì Luận văn có thể nghiên cứu và dẫn chiếu các quy định ở thời điểm xa hơn để cung cấp một cái nhìn tổng thể
- Phạm vi nội dung: Luận văn sẽ không nghiên cứu về vấn đề giám sát chính
sách công nói chung mà sẽ chỉ giới hạn nội dung nghiên cứu về vấn đề “giám sát” của các chủ thể nhà nước và xã hội đối với một khâu cụ thể trong chu trình chính sách đó là khâu “thực hiện chính sách công” tại Việt Nam
5.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học Tiếp cận và vận dụng các phương pháp nghiên cứu của chính sách công, trong đó đặc biệt chú trọng đến khâu thực hiện chính sách để làm rõ vai trò, vị trí chức năng của các chủ thể trong vấn đề giám sát thực hiện chính sách công
5.2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào một số câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Những vấn đề lý luận về giám sát thực hiện chính công là gì?
- Cơ sở pháp lý nào cho việc giám sát thực hiện chính sách công?
- Thực trạng giám sát thực hiện chính sách công tại Việt Nam hiện nay như thế nào? Các chủ thể nào tham gia và vị trí, chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể đó trong giám sát chính sách công ra sao?
- Giải pháp, khuyến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế giám sát thực hiện chính sách công ở Việt Nam hiện nay
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng
Trang 137
- Phương pháp định tính:Phỏng vấn chuyên sâu một số cán bộ, công chức
hoặc người dân về vấn đề giám thực hiện chính sách công và quan sát, phán đoán, phân tích các nội dung liên quan đến giám sát thực hiện chính sách Đây chỉ là phương pháp mang tính tham khảo nhằm cung cấp thêm luận chứng cho các vấn đề được nghiên cứu
- Phương pháp định lượng: Do tính chất là đề tài nghiên cứu thiên về nghiên
cứu lý thuyết nên Luận văn không áp dụng phương pháp định lượng dưới hình thức lập bảng hỏi phỏng vấn trực tiếp, mà chủ yếu thông qua việc thống kê, thu thập dữ liệu để cung cấp các luận cứ để làm rõ vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp giả thuyết: Đó là đưa ra các giả thuyết về mô hình, mang tính
dự đoán về mô hình và sự phát triển của vấn đề
- Phương pháp so sánh:Để đảm bảo tình toàn diện, biện chứng, Luận văn sẽ
sử dụng phương pháp so sánh trong nghiên cứu, đó là so sánh về việc thực hiện việc giám sát thực hiện chính sách tại Việt Nam giai đoạn hiện nay với những giai đoạn trước; nếu có thể sẽ so sánh với mô hình tại một số quốc gia trên thế giới Dựa vào việc so sánh này Luận văn sẽ cung cấp cái nhìn toàn thể hơn để đánh giá xác đáng hơn về vấn đề giám sát thực hiện chính sách công ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
- Phương pháp phân tích thông tin: dựa vào việc nghiên cứu tìm hiểu các
thông tin, Luận văn sẽ phân tích các thông tin thu thập được, bao gồm cả số liệu và các vấn đề mang tính lý luận để làm cơ sở cho việc làm rõ vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, thu thập dữ liệu:
+ Dữ liệu thứ cấp: Các dữ liệu về vấn đề giám sát thực hiện chính sách công tại
Việt Nam hiện nay
+ Dữ liệu sơ cấp: Đó là qua việc thu thập dữ liệu thực tế, điều tra, quan sát và
đánh giá dựa trên một số chính sách cụ thể đã được thực hiện tại Việt Nam
Trang 146.2 ý nghĩa thực tiễn
Qua nghiên cứu vấn đề giám sát thực hiện chính sách – từ lý luận đến thực tiễn tại Việt Nam, đề tài muốn chỉ ra được những vấn đề lý luận – pháp lý liên quan đến giám sát thực hiện chính sách và thực trạng vấn đề trong thực tế hiện nay; đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm cơ sở cho các chủ thể có chức năng, thẩm quyền giám sát thực hiện chính sách tham khảo để có cơ sở lý luận và thực tiễn để vận dụng, điều chỉnh và tổ chức thực hiện trong thực tiễn
7 Cơ cấu của Luận Văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục viết tắt, ghi chú và danh mục các hình và bảng, danh mục tài liệu tham khảo; Luận văn được bố cục theo 3 chương sau:
Chương 1: Lý luận giám sát thực hiện chính sách công
Chương 2: Thực tiễn giám sát thực hiện Chính sách công ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện giám sát thực hiện chính sách công ở nước ta
Trang 159
Chương 1
Lý luận giám sát thực hiện Chính sách công
1 Khái niệm giám sát thực hiện Chính sách công
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ giám sát
Theo từ điển tiếng việt thì thuật ngữ giám sát được hiểu là “Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không”
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội số: 05/2003/QH11năm 2003 có quy
định “giám sát là việc Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.”
Còn theo Ngân hàng Thế giới: Giám sát có thể định nghĩa là một chức năng được thực một cách liên tục nhằm cung cấp cho cấp quản lý và các bên có liên quan các dấu hiệu về tác động thành công hoặc không thành công ban đầu của các hoạt động, dự án, chương trình đang triển khai
Tại Việt Nam khái niệm giám sát thực hiện Chính sách công do P.GS TS
Đỗ Phú Hải đưa ra là một khái niệm tương đối sát và được thừa nhận rộng rãi: Giám sát thực hiện chính sách công là hoạt động kiểm tra sự phù hợp, hiệu quả và tác động của chính sách bởi các tiêu chí cụ thể nhằm cải thiện để xây dựng chính sách
để giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội Đó là những quy định, luật, quy tắc, nguyên tắc, thông lệ của một nhóm hoặc tổ chức sử dụng để thực hiện các vấn đề liên quan đến giám sát”
2 Vị trí, vai trò của Giám sát thực hiện Chính sách công
Giám sát thực hiện Chính sách công có vị trí và vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách Nó có vị trí như một cơ chế tồn tại song song trong suốt quá trình thực thi chính sách, đồng thời lại là một bộ phận của thực hiện chính
Trang 1610
sách.Vai trò của nó thể hiện ở hiệu quả của nó mang lại, đó là thiết chế đảm bảo chính sách được thực thi đúng, phù hợp và đảm bảo hiệu quả như mục tiêu mà nó được xây dựng từ ban đầu Bên cạnh đó nó còn có vai trò quan trọng làm cơ sở cho việc đánh giá tính hiệu quả của chính sách
3 Mục đích của Giám sát thực hiện Chính sách công
Hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công góp phần phát hiện những điều phù hợp, tốt hơn để phát huy; ngăn ngừa các vi phạm, giữ cho việc thực hiện chính sách đúng với đề án chính sách đã được xây dựng ban đầu, quá trình thực hiện phù hợp với thực tiễn, có những linh hoạt và điều chỉnh cần thiết cho phù hợp với tình hình thực tiễn Mục đích của giám sát thực hiện Chính sách công là rất rõ ràng:
- Đảm bảo cho việc thực thi chính sách phù hợp với đề án chính sách đã được xây dựng
- Đảm bảo quá trình thực hiện chính sách phù hợp với thực tiễn: trong đó bao gồm và phù hợp với những quy định của pháp luật, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hay cộng đồng dân cư mà chính sách đó tồn tại hoặc hướng tới
- Giám sát thực hiện chính sách sẽ giúp phát hiện những nhân tố tiến bộ, hợp
lý, những cách làm hay, hiệu quả để thúc đẩy thành công chính sách Đồng thời nó
sẽ giúp cho việc phát hiện những sai sót, những tồn tại và bất ổn trong thực hiện chính sách để có những điều chỉnh, những biện pháp xử lý phù hợp
4 Bản chất của giám sát thực hiện Chính sách công
Bản chất của giám sát thực hiện Chính sách công là một chức năng cũng như hoạt động chỉ việc chủ thể trên cơ sở thu tập thông tin liên tục để theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động thực hiện chính sách công nhằm đưa ra những lựa chọn cũng như phương án hành động để đảm bảo việc thực hiện chính sách công diễn ra một cách phù hợp với đề án chính sách và đảm bảo chính sách được thực thi một cách hiệu quả, liên tục, tạo cơ sở cho việc hoàn thành chính sách
Trang 1711
Giám sát thực hiện Chính sách công không phải là một hoạt động đơn thuần không có chủ định Nó đồng thời còn là công cụ quan trọng mà các cơ quan Nhà nước, các chủ thể có liên quan đến chính sách, các tổ chức xã hội và người dân sử dụng để tham gia vào quá trình thực thi chính sách thông qua việc theo dõi, đánh giá, kết luận và đề xuất những giải pháp, những điều chỉnh về chính sách trong trường hợp cần thiết
Như vậy đây đồng thời là một hoạt động mang tính kỹ thuật của quá trình thực hiện Chính sách công, đồng thời là một hoạt động mang tính chính trị của các chủ thể khác nhau trong việc giám sát hoạt động của nhau
5 Chức năng, hình thức, công cụ của Giám sát thực hiện chính sách công
- Về mặt chức năng: Khi nói đó là một chức năng, tức là nói đến những
phương diện hoạt động chủ yếu của hoạt động giám sát thực hiện chính sách nhằm
để thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước những yêu cầu của thực tế Chức năng giám sát thực hiện Chính sách công được xác định xuất phát từ bản chất hoạt động thực thi chính sách do vai trò quan trọng của bước này trong chu trình chính sách quyết định rất lớn đến sự thành công hay thất bại của chính sách Chức năng của hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công là cơ sở để trả lời cho các câu hỏi: Giám sát thực hiện Chính sách công để làm gì? Giám sát nhằm mục đích gì? Giám sát thực hiện Chính sách công bằng những phương pháp, biện pháp, cách thức nào?
Giám sát thực hiện Chính sách công về cơ bản có bốn chức năng chính là:
+ Giám sát sự tuân thủ pháp luật trong quá trình thực hiện chính sách: Chủ
thể thực hiện là Quốc hội và HĐND các cấp, chức năng này giúp giám sát việc thi hành chính sách phù hợp với luật, Nghị quyết của Quốc hội và HĐND để đảm bảo Luật, Nghị quyết của Quốc hội và HĐND được thực hiện đầy đủ, đúng và phù hợp với thực tiễn
+ Giám sát sự phù hợp của chính sách: Là hoạt động giám sát để đảm bảo
chính sách được thực hiện không chỉ đúng với đề án chính sách ban đầu mà còn phải phù hợp với tình hình thực tế
Trang 1812
+ Giám sát quá trình thực hiện chính sách: Đó là hoạt động theo dõi, giám
sát liên tục những vấn đề cụ thể trong quá trình thực hiện chính sách Thông thường
do chính chủ thể thực hiện chính sách giám sát, đó là quá trình giám sát liên tục, vừa làm vừa giám sát để đảm bảo thực hiện một cách hiệu quả
+ Giám sát hiệu quả, kết quả và tác động của Chính sách công: Đó là việc
giám sát để đưa ra những đánh giá về tác động của quá trình thực hiện chính sách Tác động của chính sách đến đâu? Ở phạm vi nào? Tích cực hay tiêu cực? Là những câu hỏi cần phải trả lời Chức năng này không chỉ dùng để nói đến hoạt động đánh giá hậu thực thi mà nó phải diễn ra trong cả quá trình thực hiện chính sách, tức là chủ thể thực hiện và chủ thể giám sát, đồng thời phải liên tục đánh giá tác động của chính sách trong quá trình thực thi, đây là chức năng để đảm bảo tính dự báo của giám sát
- Hình thức: Là cách thức biểu hiện của hoạt động giám sát thực hiện Chính
sách, nó là cách thức tồn tại của hoạt động mà chủ thể sử dụng đến tiến hành hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công Các hình thức này khá đa dạng, phụ thuộc vào chức năng nhiệm vụ và quyền hạn củ chủ thể tiến hành giám sát Có hình thức bên ngoài và hình thức bên trong; có hình thức giám sát thông qua các kỳ họp, thành lập đoàn giám sát như Quốc hội và HĐND; có hình thức thông qua hoạt động thanh tra của cơ quan thanh tra như giám sát của cơ quan Hành chính; có hình thức giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp của người dân và các tổ chức xã hội v.v…
- Công cụ giám sát thực hiện Chính sách:
+ Công cụ pháp lý: Đây là công cụ cơ bản và quan trọng nhất, nó giữ vai trò
chủ đạo tạo cơ sở cho các chủ thể thực hiện hoạt động giám sát thông qua xác định thẩm quyền, vai trò, vị trí, chức năng và trách nhiệm của mình đối với giám sát thực hiện Chính sách công; đồng thời công cụ pháp lý cũng cho phép chủ thể thực hiện Chính sách công xác định thẩm quyền và trách nhiệm của mình trong vấn đề cung cấp thông tin, giải trình thực trạng quá trình thực hiện chính sách; bên cạnh đó công
cụ pháp lý còn là cơ sở để xác định trách nhiệm, cơ chế pháp lý xử lý những vi pham trong quá trình giám sát thực hiện Chính sách công
Trang 1913
+ Công cụ kinh tế:Giữ vai trò quan trọng thứ hai, với tư cách là công cụ đảm
bảo các nguồn lực vật chất cho hoạt động giám sát thực hiện chính sách, công cụ kinh tế sẽ quyết định đến việc lựa chọn phương án, hình thức và nội dung giám sát của chủ thể giám sát Song song với đó công cụ kinh tế sẽ quyết định đến thành công hay thất bại của hoạt động giám sát cụ thể khi nó có khả năng cung cấp được công nghệ để phục vụ hoạt động giám sát hay không
+ Công cụ hành chính – tổ chức:Là công cụ cung cấp nhân tố con người, bộ
máy và cách thức sắp xếp hoạt động của bộ máy trước – trong quá trình giám sát
Nó còn đảm bảo trình tự, thủ tục của hoạt động giám sát Đồng thời công cụ này với
cơ chế mệnh lệnh hành chính đơn phương cũng sẽ thúc đẩy tính bắt buộc và trách nhiệm đối với hoạt động giám sát thực hiện Chính sách Công cụ này với việc tổ chức bộ máy và cách thức làm việc cũng sẽ quyết định đến thành công hay thất bại của hoạt động giám sát thực hiện chính sách
6 Nguyên tắc giám sát thực hiện chính sách công
- Nguyên tắc khách quan: Đó là việc đảm bảo quá trình giám sát thực hiện
chính sách phải diễn ra một cách khách quan, không vụ lợi, không thiên vị và có cái nhìn bao quát, toàn thể
- Nguyên tắc minh bạch: Hoạt động giám sát luôn phải đảm bảo yếu tố minh
bạch hóa thông tin, để giám sát đạt hiệu quả và có độ tin cậy thì việc thực hiện nguyên tắc minh bạch là cần thiết Sự minh bạch không chỉ ở việc chủ thể chịu sự giám sát phải cung cấp thông tin đầy đủ, công khai cho chủ thể thực hiện giám sát,
mà sự minh bạch còn thể hiện ở việc chủ thể thực hiện hoạt động giám sát phải công khai thông tin đầy đủ cho các cơ quan nhà nước khác và xã hội, cộng đồng dân
cư được biết
- Nguyên tắc tuân thủ pháp luật: Tất cả các chủ thể thực hiện hoạt động giám
sát và chủ thể chịu sự giám sát đều phải đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trên cơ sở quy định của pháp luật Bên cạnh đó trình tự, thủ tục của hoạt động
Trang 20+ Thể chế chính trị: Thể chế chính trị là toàn bộ các yếu tố liên quan đến việc
tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Giám sát thực hiện Chính sách công cần phải căn cứ vào phương pháp, cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước để tiến hành theo đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục
+ Sự tham gia của các cơ quan Nhà nước, bao gồm Quốc hội, Chính phủ, HĐND, UBND, các Bộ, cơ quan ngang bộ là sự tham gia quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công
- Nguồn lực kinh tế
Vai trò của yếu tố kinh tế là không thể phủ nhận với bất cứ hoạt động nào Nguồn lực kinh tế là cơ sở vật chất của hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công Nguồn lực kinh tế mạnh hay yếu sẽ quyết định đến lựa chọn phương án và cách thức thực hiện giám sát chính sách Các chủ thể thực hiện chính sách và cả các chủ thể giám sát chính sách luôn cần đến sự hỗ trợ của nguồn lực vật chất để đảm bảo hoạt động của mình hiệu quả Nếu không có nguồn lực kinh tế thì mọi yếu tố khác hầu như đều là bất khả thi
- Yếu tố thuộc về bên trong cơ quan, tổ chức tiến hành giám sát thực hiện chính sách
+ Năng lực chủ thể giám sát: giữ vai trò quan trọng hoạt động giám sát thực hiện chính sách Năng lực này thể hiện ở khả năng nắm bắt thông tin về tình hình
Trang 2115
thực thi chính sách, khả năng dự đoán sự phát triển của chính sách, khả năng điều phối và đề xuất phương án thay thế khi phát hiện chính sách có vấn đề trong quá tình giám sát …
+ Sự tương tác giữa các chủ thể giám sát: Cũng giống như Chính sách công, hoạt động giám sát thực hiện chính sách có khi là sự tham gia của nhiều người, nhiều chủ thể, nhất là trong những trường hợp khi đồng thời các chủ thể ấy cùng tiến hành hoạt động giám sát thực hiện chính sách thì sự tương tác giữa các chủ thể trong quá trình giám sát thực hiện chính sách đóng vai trò cô cùng quan trọng
- Yếu tố bên ngoài
+ Yếu tố dư luận, truyền thông: Luôn đóng vai trò rất lớn trong hoạt động giám sát thực hiện Chính sách Sự tác động của dư luận và truyền thông là rất lớn,
có khi nó là nguyên nhân dẫn đến yêu cầu phải tổ chức hoạt động giám sát thực hiên chính sách, cũng có khi nó là kênh giám sát rất hiệu quả; dẫu vậy ảnh hưởng của dư luận và truyền thông cũng có khi mang tính chất tiêu cực ảnh hưởng xấu đến quá trình giám sát thực hiện chính sách
+ Sự tác động của các nhóm lợi ích, nhóm xã hội khác bên ngoài chủ thể giám sát và chủ thể thực hiện chính sách: Các nhóm đối tượng này luôn muốn thông qua lobby hoặc bằng những cách khác nhau tác động đến quá trình thực thi chính sách và cả hoạt động giám sát thực thi chính sách để tạo ra những thay đổi có lợi cho họ
8 Chủ thể hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công
Giám sát thực hiện Chính sách công là hoạt động không chỉ được thực hiện bởi một chủ thể, mà nó được thực hiện bởi rất nhiều chủ thể khác nhau, các chủ thể
đó có thể là cơ quan Nhà nước, cũng có thể là các tổ chức, cộng đồng bên ngoài Nhà nước thực hiện Về cơ bản có các chủ thể sau:
- Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp: Là cơ quan dân bầu, Quốc hội là cơ quan có quyền giám sát tối cao với mọi mặt đời sống trong xã hội, giám sát thực
Trang 22- Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức Chính trị xã hội: Có vai trò quan trọng trong giám sát thực hiện Chính sách công, không chỉ với ngành, lĩnh vực có liên quan mà còn ở mọi cấp chính quyền, mọi chính sách nói chung
- Các tổ chức xã hội và người dân: Chủ thể này cũng tham gia vào hoạt động giám sát thực hiên chính sách, vì họ đồng thời vừa là đối tượng thụ hưởng chính sách, đồng thời những chủ thể này sống, tồn tại trong môi trường chính sách thực thi nên có những đánh giá sát với thực tế và rất khách quan
Trang 2317
Chương 2 Thực tiễn giám sát thực hiện Chính sách công
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
1 Hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công trong thời kỳ đổi mới
Do ảnh hưởng của chiến tranh, sự cô lập, cấm vận của Mỹ và các nước phương Tây, kinh tế Việt Nam giai đoạn những năm 1980 gặp vô vàn khó khăn thách thức,
sự đình trệ của các ngành sản xuất, lạc hậu về khoa học công nghệ, yếu kém về quản lý và việc áp dụng dập khuôn mô hình quản lý tập trung quan liêu bao cấp của Liên Xô đã khiến đất nước chúng ta phải trả giá nặng nề Giám sát thực hiện Chính sách công trong giai đoạn này có thể nói là có nhiều nét đặc thù so với hiện nay Cơ chế, hình thức, biện pháp giám sát đều dự trên nền tảng cơ bản là Hiến pháp 1980
và các Nghị quyết của Đảng Bản chất của Hiến pháp 1980 vẫn đề cao tính tập thể với cơ chế quản lý tập trung, nhà nước bao cấp và chịu trách nhiệm sản xuất, phân phối toàn bộ của cải vật chất trong xã hội thông qua hình thức tem phiếu Một số vấn đề cơ bản về giám sát thực hiện Chính sách công trong thời kỳ này như sau:
Thứ nhất,cơ sở lý luận về Chính sách công và giám sát thực hiện Chính sách công cơ bản rất hạn chế: Ở giai đoạn thời kỳ đổi mới các nghiên cứu về Chính sách
công cũng như thừa nhận về Chính sách công là không nhiều Việc giám sát thực hiện Chính sách công cũng không nằm ngoài quy luật đó; ở giai đoạn này, cơ sở lý luận về giám sát thực hiện Chính sách công chưa được tiếp cận một cách đầy đủ, toàn diện Các lý thuyết về giám sát thực hiện Chính sách công xây dựng trên cơ sở pháp luật của đất nước và học tập theo mô hình, lý thuyết của các nước phe Xã hội chủ nghĩa của Liên Xô và Đông Âu, áp dụng mô hình quản lý tập trung, tập thể giám sát, tập thể chịu trách nhiệm Các lý thuyết về giám sát thực thi chính sách của các nước khác hầu như ít được đề cập và nghiên cứu úng dụng
Thứ hai, về mặt thực tiễn hoạt động giám sát, cơ quan có thẩm quyền giám sát
tối cao với tất cả các mặt của đời sống xã hội trong đó có thực hiện Chính sách công
Trang 24Tại khoản 3 điều 83 cũng đề cập đến thẩm quyền của Quốc hội với hoạt động
giám sát: “Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật.”
Tuy nhiên có một hạn chế thấy rõ ở giai đoạn này đó là hầu như không có cơ chế pháp lý rõ ràng cho Quốc hội thực hiện quyền giám sát thực hiện Chính sách công của mình Mặc dù Hiến pháp đã đề cập, nhưng không có các luật hay văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể, đầy đủ Do vậy hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công của Quốc hội giai đoạn này chỉ được thực hiện qua hai hình thức chính là các
kỳ họp và hoạt động của các Ủy ban thường trực của Quốc hội
Thứ ba, có một thiết chế đặc biệt thực hiện hoạt động giám sát thực hiện
Chính sách công ở phạm vi quốc gia trong giai đoạn này đó là “Hội đồng nhà nước”:
“Hội đồng Nhà nước là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hội đồng Nhà nước thực hiện những nhiệm vụ và sử dụng những quyền hạn được Hiếp pháp, các luật và nghị quyết của Quốc hội giao cho, quyết định những vấn đề quan trọng về xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, giám sát việc thi hành Hiến pháp, các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội và của Hội đồng Nhà nước, giám sát hoạt động của bộ máy Nhà nước
Hội đồng Nhà nước, thông qua Chủ tịch Hội đồng, thay mặt nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại
Hội đồng Nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.”
[Điều 98 – Hiến pháp năm 1980]
Thực ra thiết chế Hội đồng Nhà nước là một thiết chế chung tồn tại ở hầu hết các nước thuộc phe Xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn này do chịu ảnh hưởng của
Trang 2519
Liên bang Xô Viết Thiết chế Hội đồng Nhà nước là sự kết hợp các cơ quan bao gồm Chủ tịch nước và Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày này Hội đồng Nhà nước ở giai đoạn đổi mới (đến trước khi Hiến pháp năm 1992 có hiệu lực) có vai trò và quyền lực rất lớn, quyết định, điều hành và giám sát việc thực hiện hầu hết các chính sách của đất nước
Rất khó để đánh giá vai trò giám sát thực hiện Chính sách công của Hội đồng Nhà nước trong giai đoạn này vì nó còn liên quan đến hiệu quả thực hiện và chất lượng những chính sách cụ thể
Thứ tư, Hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công của cơ quan Hành chính về cơ bản là không rõ ràng
Cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương giai đoạn này là Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) Có thể nói hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công của cơ quan Hành chính trong giai đoạn 1980 – 1992 là không rõ về thẩm quyền Cơ chế pháp lý để các cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng là không có Hiến pháp giai đoạn này không quy định về việc HĐBT có quyền giám sát nói chung và giám sát thực hiện Chính sách công, cụ thể tại điều 104 Hiến pháp năm 1980
Các quy định khác của Hiến pháp về thẩm quyền giám sát thực hiện Chính sách công của HĐBT cũng không có đề cập rõ ràng Nhưng thực tế thì với vai trò là
cơ quan chịu trách nhiệm quản lý điều hành xã hội, tổ chức thực thi chính sách HĐBT chắc chắn phải có trách nhiệm và phải thực hiện chức năng giám sát thực hiện Chính sách công Không một chủ thể nào thực hiện được chính sách mà không giám sát quá trình thực hiện đó vì nó liên quan đến việc điều phối nguồn lực, đôn đốc nhắc nhở, đánh giá tiến độ và chất lượng thực hiện chính sách theo giai đoạn v.v… do vậy khi đề cập đến giám sát thực hiện Chính sách công trong thời kỳ đổi mới của cơ quan hành chính nước là chủ yếu để đánh giá vấn đề cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát của cơ quan này còn rất hạn chế, thực quyền và hiệu quả hoạt động giám sát chưa cao
Trang 2620
Thứ năm, tại địa phương giám sát thực hiện Chính sách công thuộc về
HĐND và UBND hai cơ quan chịu trách nhiệm xây dựng và điều hành chính sách tại địa phương:
“Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và chính quyền cấp trên
Hội đồng nhân dân quyết định và thực hiện các biện pháp nhằm xây dựng địa phương về mọi mặt, bảo đảm phát triển kinh tế và văn hoá, nâng cao đời sống của nhân dân địa phương và hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao cho
Trong hoạt động của mình, Hội đồng nhân dân dựa vào sự cộng tác chặt chẽ của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và sự tham gia rộng rãi của công dân.”
(Điều 114 - Hiến pháp năm 1980)
“Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương
Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp; Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước Hội đồng Bộ trưởng”
(Điều 121 – Hiến pháp năm 1980)
Đánh giá chung thì cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp khiến cho việc giám sát thực hiện chính sách thiếu tính độc lập và ít trách nhiệm cụ thể Ngay cả việc phát hiện sai phạm hay cần điều chỉnh trong quá trình thực hiện chính sách cũng mất rất nhiều thời gian và công đoạn để tiến hành do cơ chế làm việc tập thể nên cần phải tổ chức họp bàn, biểu quyết, đánh giá Quá trình này vốn đã mất thời gian, nhưng lại tồn tại thêm một hạn chế là do làm việc tập thể nên việc tranh cãi và khác biệt về quan điểm cá nhân là không tránh khỏi vì vậy việc quyết định lựa chọn phương án đã khó, thêm vào đó trách nhiệm cá nhân là không có nên hiệu quả khi đưa những điều chỉnh hay lựa chọn phương án thực thi chính lại lại càng khó hơn
Trang 2721
nhiều Không quy trách nhiệm cá nhân thì không thể đảm bảo hoạt động giám sát thực sự hiệu quả
Thứ sáu, trong giai đoạn này vai trò giám sát thực hiện Chính sách công của
Đảng giữ vị trí quan trọng và có vai trò lớn nhất
Xuyên suốt trong quá trình hình thành và phát triển từ khi lãnh đạo đất nước, Đảng luôn giữ vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong lãnh đạo đất nước và xã hội Đảng thực hiện việc lãnh đạo và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức cá nhân thông qua công tác nhân sự, công tác tổ chức, công tác thanh tra kiểm tra giám sát và công tác xây dựng chính sách pháp luật
Trong thời kỳ đổi mới với việc đề cao trách nhiệm và phương pháp làm việc tập thể và giám sát thống nhất nên Đảng thực hiện hoạt động giám sát thực hiện chính sách rất chặt chẽ
2 Giám sát thực hiện Chính sách công của Đảng.
Trải qua hơn 80 năm hình thành và phát triển, với việc lãnh đạo đất nước và nhân dân lật đổ ách thống trị của thực dân pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước, đưa nước ta trên con đường xây dựng Chủ nghĩa xã hội Vai trò và vị trí của Đảng cộng sản Việt Nam đã được khẳng định Hiến pháp năm 2013 tại điều 4 đã hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với đất nước và nhân dân:
“1 Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời
là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội
2 Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân,chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình
3 Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”
Trang 2822
Tại Việt Nam, với việc Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất giữ vai trò lãnh đạo đất nước, vị trí của Đảng rất quan trọng trong cả hệ thống chính trị
Mục đích của giám sát của Đảng: Do tính chất quan trọng hoạt động giám
của Đảng nên việc làm rõ mục đích hoạt động giám sát là rất quan trọng Mục đích của việc giám sát của Đảng được quy định tại rất nhiều các văn bản của Ban chấp hành Trung ương và Bộ chính trị Về cơ bản giám sát của Đảng đối với việc thực hiện các Chính sách công nhằm một số mục đích sau đây:
- Chủ động nắm chắc tình hình và đánh giá đúng việc thực hiện chính sách công của tổ các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân có liên quan, các tổ chức đảng, đảng viên thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý;
- Phát huy ưu điểm; phát hiện hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm, kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh, khắc phục; cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm của chủ thể thực hiện chính sách
- Góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong thực hiện chính sách; ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác
Chế độ giám sát: Tại hướng dẫn số 06 06-HD/UBKTTW của Ủy ban kiểm
tra Trung ương về việc thực hiện chế độ giám sát trong Đảng ngay tại điều 4 đã quy định rất rõ về chế độ giám sát trong Đảng, theo đó các chủ thể giảm sát theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện giám sát như sau:
- Lãnh đạo, chỉ đạo công tác giám sát
- Xây dựng phương hướng, nhiệm vụ; chương trình, kế hoạch giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên
- Hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác giám sát thường xuyên và giám sát theo chương trình, kế hoạch
- Kiểm tra, sơ kết, tổng kết thực hiện công tác giám sát
Tuy nhiên cũng phải lưu ý rằng, những quy định về chế độ giám sát bên trên
Trang 2923
thuộc chế độ giám sát trong Đảng, tức là giám sát nội bộ của các tổ chức Đảng, của
tổ chức Đảng cấp trên với tổ chức Đảng cấp dưới, của tổ chức Đảng đối với Đảng viên Những quy định trên không đề cập đến giám sát của Đảng với các chủ thể thực hiện chính sách ngoài đảng như các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các cá nhân Tuy nhiên đây là cơ sở quan trọng và là cơ chế để Đảng tiến hành hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công theo chế độ tương tự
Thông thường hoạt động giám sát của Đảng đối với thực hiện Chính sách công tiến hành theo hai hình thức chính là giám sát thường xuyên và giám sát chuyên đề
2.1 Giám sát thường xuyên việc thực hiện Chính sách công
Giám sát thường xuyên là quá trình giám sát nhất quán, liên tục của các tổ chức Đảng cấp trên với cấp dưới, cấp dưới với cấp trên và cơ quan đảng cùng cấp với chủ thể thực hiện Chính sách công
Đảng tiến hành giám sát thường xuyên thông qua rất nhiều kênh khác nhau của Đảng với các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp và các cá nhân có trách nhiệm thực hiện Chính sách công Hình thức này được thực hiện thông qua các công cụ sau đây:
- Thông qua công tác nhân sự: Đảng thực hiện việc lãnh đạo Nhà nước
thông qua công tác nhân sự, theo đó Đảng giới nhiệu các Đảng viên của mình, nhưng người ưu tú có đạo đức, phẩm chất, năng lực, trình độ vào giữ vị trí lãnh đạo tại các cơ quan Nhà nước Những người này đảm nhận vị trí lãnh đạo, đồng thời cũng đảm nhận chức năng kiểm tra, giám sát của Đảng với việc thực hiện các chính sách Thông qua cơ chế nhân sự, Đảng vừa lãnh đạo toàn diện, vừa giám sát thực hiện Chính sách công hiệu quả tại các cấp
- Thông qua công tác tổ chức bộ máy: Tất cả các tổ chức Đảng, Đảng ủy
các cấp đều có Ủy ban kiểm tra, đây là cơ quan có vai trò quan trọng trong việc giám sát hoạt động của các tổ chức Đảng, Đảng viên cũng như thực hiện các chính sách của các chủ thể có trách nhiệm Ngoài ra để đảm bảo công tác giám sát hiệu quả, Đảng đã thực hiện công tác tổ chức bộ máy với cơ chế giám sát lẫn nhau, đó là
Trang 3024
giám sát của câp trên với cấp dưới, giám sát của cấp dưới với cấp trên Trên cơ sở
đó công tác giám sát của Đảng với việc thực hiện Chính sách công diễn ra đồng bộ,
liên tục, ổn định
- Giám sát trực tiếp: Đây là phương pháp giám sát được quy định tại Quyết
định số 68-QĐ/TW về ban hành Quy chế giám sát trong Đảng của Bộ chính trị theo
đó đây là phương pháp giám sát quan trọng của các cấp ủy Đảng, các cơ quan Đảng, phương pháp giám sát trực tiếp giúp hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công được thực hiện một cách liên tục Theo đó chủ thể giám sát trực tiếp việc thực hiện
- Giám sát gián tiếp: Đây là phương pháp giám sát thực hiện Chính sách
công mà các tổ chức Đảng thực hiện với chủ thể thực hiện chính sách thông qua những hình thức gián tiếp như:
+ Xem xét báo cáo hoạt động của tổ chức đảng cấp dưới giữa hai kỳ hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ
+ Nghiên cứu các văn bản, báo cáo; thông báo kết luận về các cuộc kiểm tra, giám sát, kết quả tự phê bình và phê bình, thực hiện chính sách được giao của cấp
uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới
+ Ý kiến trao đổi, phản ánh, kiến nghị, báo cáo kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát của các tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị-xã hội; phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng
Qua giám sát, nếu thấy cần thiết, chủ thể giám sát giao đảng viên thực hiện nhiệm vụ phục vụ cho giám sát như: trực tiếp trao đổi với đối tượng giám sát qua điện thoại, bằng văn bản hoặc có thể gặp trực tiếp để làm rõ vấn đề liên quan đến
Trang 3125
nội dung giám sát hoặc có thể góp ý kiến với đối tượng giám sát Trường hợp vượt quá thẩm quyền thì báo cáo để chủ thể giám sát xem xét nhắc nhở, yêu cầu đối tượng giám sát khắc phục, sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm
2.2 Giám sát theo chuyên đề
Là hình thức giám sát mà theo đó tổ chức Đảng xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát hằng năm và thông báo cho chủ thể thực hiện Chính sách công
- Xây dựng chương trình giám sát hằng năm với những chuyên đề, nội dung
và tình hình thực hiện chính sách với các chính sách cụ thể: Căn cứ yêu cầu nhiệm
vụ chính trị, công tác xây dựng đảng của đảng bộ, chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng cấp trên và tình hình thực tế, chủ thể giám sát xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát hằng năm của cấp mình và thông báo ngay cho chủ thể thực hiện chính sách công biết.Trong chương trình, kế hoạch giám sát, các chủ thể giám sát xác định rõ nội dung, đối tượng, phương pháp tiến hành, tổ chức lực lượng, phân công tổ chức, cá nhân thực hiện
- Thành lập đoàn (tổ) giám sát (gọi chung là đoàn giám sát): Xây dựng kế
hoạch giám sát cụ thể đối với tổ chức Đảng hoặc Đảng viên Kế hoạch giám sát cụ thê sẽ nêu rõ nội dung giám sát là những vấn đề đang thực hiện, đối tượng giám sát, phương pháp, mốc thời điểm giám sát, thời gian giám sát Thời gian giám sát đối với cấp Trung ương không quá 30 ngày làm việc, cấp tỉnh, thành và tương đương không quá 20 ngày làm việc, cấp huyện, quận và tương đương không quá 15 ngày làm việc, cấp cơ sở không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày triển khai quyết định giám sát Chủ thể giám sát thông báo kế hoạch giám sát theo chuyên đề cho đối tượng giám sát biết trong vòng 10 ngày làm việc, trước khi tiến hành giám sát
Đảng viên được phân công đôn đốc, nhắc nhở đối tượng giám sát thực hiện thông báo kết quả giám sát và báo cáo chủ thể giám sát về kết quả thực hiện của đối
tượng giám sát
Trang 3226
2.3 Tích cực và hạn chế trong hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công của Đảng
- Tích cực:
Thứ nhất, hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công của Đảng có tính
đồng bộ: Thể hiện ngay trong cơ chế giám sát Sự đồng bộ thể hiện từ phạm vi của hoạt động giám sát rất rộng, bao gồm tất cả các vấn đề chính sách đến trình tự, thủ tục của hoạt động giám sát Bên cạnh đó sự đồng bộ trong hoạt động giám sát thực hiện chính sách còn thể hiện ở sự tham gia của các cơ quan, tổ chức Đảng rất đầy
đủ, từ cấp ủy, chi bộ đến hoạt động giám sát của Đảng viên
Thứ hai, hoạt động giám sát thực hiện Chính sách công của Đảng mang tính
thống nhất: Đây là ưu điểm thấy rõ trong hoạt động giám sát thực hiện Chính sách của Đảng Quá trình giám sát thực hiện Chính sách công có sự tham gia đầy đủ của các cấp Đảng đến đảng viên Từ trung ương đến chi bộ tại cơ sở, sự tham gia tập thể Ban chấp hành Trung ương, Bộ chính trị, Ban chấp hành Đảng bộ, Ban chấp hành đảng ủy, đến chi bộ, chi ủy và đảng viên đảm bảo cho hoạt động giám sát diễn ra chặt chẽ, thống nhất cao
Thứ ba, hoạt động giám sát của Đảng góp phần minh bạch hóa quá trình thực
hiện chính sách, thiết lập cơ chế giám sát quan trọng để xử lý những vi phạm, thúc đẩy những yếu tố tích cực và là kênh độc lập nên hoạt động giám sát sẽ khách quan hơn với chủ thể thực hiện chính sách
- Mặt hạn chế: Bên cạnh những kết quả đạt được, những mặt tích cực, trong
quá trình thực hiện công tác kiểm tra, giám sát ở Đảng bộ khối còn bộc lộ những mặt hạn chế như:
Thứ nhất, nhận thức về công tác kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy cơ sở
chưa đầy đủ, còn coi đó là nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp; hoặc chỉ khi nào tổ chức đảng, đảng viên có vấn đề mới tiến hành kiểm tra Trên thực tế đây là một hạn chế rất lớn Khi nói đến hoạt động giám sát thực hiện chính sách của Đảng mang tính đồng bộ là một ưu điểm là muốn nói đến cơ chế
Trang 3327
giám sát Còn thực tiễn thì nó vẫn bộc lộ những vấn đề nhất định Vai trò giám sát của các cấp thường chưa phát huy ở cấp ủy cơ sở; rất nhiều cấp ủy cơ sở quá bị động trong việc tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách
Thứ hai, trách nhiệm của cá nhân không cao: Do cơ chế tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách, quyết định theo đa số nên việc xác định trách nhiệm cá nhân đảng viên thuộc các đoàn giám sát, các cấp ủy, chi ủy rất khó Đặc biệt với những hoạt động giám sát không tốt, có sai sót thậm chí gây hậu quả thì rất khó xác định trách nhiệm cá nhân
Thứ ba, vai trò của cá nhân đảng viên trong giám sát thực hiện chính sách
còn mờ nhạt Các đảng viên hiện tại khi phát hiện những tồn tại trong thực thi chính sách thì chỉ có thể kiến nghị đến chi ủy, chi bộ Song song với đó đảng viên nếu không giữ chức vụ trong tổ chức Đảng, cơ quan nhà thước thường rất bị động trong giám sát thực hiện Chính sách công
Thứ tư, hoạt động giám sát còn mang nặng tính hình thức Nhất là với hình
thức thành lập đoàn giám sát và báo cáo, kiểm điểm của đảng viên Trường hợp đoàn giám sát ngồi máy lạnh, phòng họp nghe báo cáo rồi phát biểu ý kiến chỉ đạo
đã chuẩn bị trước diễn ra phổ biến, đặc biệt công tác kiểm điểm tự phê bình của đảng viên diễn ra rất hình thức, hiện tại mỗi năm một lần vào cuối năm các Chi bộ đảng họp để tiến hành kiểm điểm, phê bình và bình xét xếp loại đảng viên, đáng lẽ đây là cơ hội để chi bộ đánh giá lại chất lượng hoạt động và giám sát của chi bộ cũng như các đảng viên, thì hoạt động này diễn ra rất hình thức, kiểm điểm, báo cáo qua loa, nhận xét chung chung
- Nguyên nhân:
Thứ nhất, sự yếu kém về năng lực kiểm tra, giám sát của những người làm
công tác giám sát trong Đảng Sự yếu kém về năng lực này chính là nguyên nhân đầu tiên khiến chất lượng hoạt động giám sát không cao Yếu kém về năng lực là thiếu kỹ năng, thiếu kiến thức và phương pháp làm việc trong hoạt động giám sát,
từ đó dẫn đến hoạt động giám sát vừa mất thời gian, vừa tốn kém về nguồn lực mà
Trang 3428
không phát hiện hoặc phát hiện không kịp thời các sự cố, vấn đề trong thực thi chính sách để có biện pháp khắc phục nhanh chóng, từ đó khiên hiệu quả thực hiện chính sách thấp
Thứ hai, sự suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán
bộ đảng viên Trong điều kiện Đảng cầm quyền, hiện nay một số cán bộ, đảng viên
xa dân, không muốn đối thoại với dân Có nơi cán bộ, đảng viên làm sai được quần chúng góp ý, phê bình thì bị trù dập Đặc biệt, vẫn còn tình trạng mất đoàn kết trong nội bộ Đảng Mặc dù Đảng và Nhà nước rất chú trọng và có nhiều biện pháp đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí nhưng tình trạng tham nhũng, lãng phí ngày càng tinh vi, phức tạp và nghiêm trọng hơn - từ lĩnh vực kinh tế, đã lan sang cả lĩnh vực văn hoá, giáo dục, thậm chí cả hoạt động từ thiện v.v…
Thứ ba, chưa xây dựng cơ chế đánh giá, quy trách nhiệm cho cá nhân người
đứng đầu cơ quan, tổ chức Đảng có trách nhiệm giám sát thực hiện Chính sách công
mà giám sát không chặt chẽ, không nghiêm gây ra hiệu quả thực hiện chính sách không cao Đặc biệt với các đoàn giám sát hay các ủy ban kiểm tra Đảng, việc xử lý trách nhiệm với những người đứng đầu quá hình thức và chưa nghiêm chính là nguyên nhân khiến hiệu quả của hoạt động giám sát thực hiện chính sách thấp Hiện nay trong thực hiện Chính sách công, nếu quá trình thực hiện mà xảy ra sự cố hay hiệu quả thực hiện thấp thì việc quy trách nhiệm chủ yếu vẫn dừng ở chủ thể có trách nhiệm thực hiện chính sách, còn với các chủ thể có chức năng giám sát thực hiện chính sách thì cơ chế xử lý trách nhiệm về cơ bản là thiếu mạnh mẽ
Thứ tư, có sự tác động và ảnh hưởng của các nhóm lợi ích liên quan đến việc
thực hiện và giám sát thực hiện Chính sách công Các nhóm lợi ích này có thể là những chủ thể được lợi từ việc thực hiện chính sách thiếu hiệu quả hoặc thậm chí là
từ chỉnh các chủ thể có liên quan đến các cơ quan Đảng, do việc giám sát thực hiện chính sách của Đảng có thể làm họ mất quyền lợi, ảnh hưởng đến lợi ích của họ với Chính sách nên những nhóm lợi ích này tìm mọi cách để cản trở và thay đổi hoạt động giám sát thực hiện Chính sách của Đảng Không loại trừ cả khả năng những người thực hiện chính sách cũng có lợi ích hoặc được các nhóm lợi ích lôi kéo để
Trang 3529
“bẻ cong” công lý trong quá trình giám sát thực hiện chính sách, từ đó dẫn đến chất lượng giám sát thực hiện Chính sách công thấp, hiệu quả chưa cao
3 Giám sát của Quốc hội trong thực hiện Chính sách công
3.1 Thẩm quyền giám sát của Quốc hội
Thẩm quyền của Quốc hội với việc giám sát nói chung được quy định tại Hiến pháp 2013, cụ thể tại các điều 69 và điều 70 như sau:
“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề
quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.”
Tại điều 70 của Hiến pháp quy định rất cụ thể về thẩm quyền của Quốc hội với những vấn đề cơ bản, quan trọng của đất nước, như chính sách kinh tế, văn hóa - giáo dục, chính sách pháp luật, chính sách đối ngoại, chính sách an ninh quốc phòng… Trong đó khoản 2 điều 72 nêu rõ vai trò của Quốc hội với vấn đề giám sát
là “Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu
cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;”
Như vậy có thể thấy rằng Quốc hội với tư cách là cơ quan giám sát tối cao, có thẩm quyền giám sát toàn diện với mọi vấn đề; mọi cơ quan nhà nước Việc giám sát này không chỉ thể hiện ở mảng tổ chức, mà còn ở mảng hoạt động của các cơ quan khác, như vậy với các chính sách được các cơ quan nhà nước khác ban hành, thực hiện Quốc hội cũng có toàn quyền giám sát việc thực hiện chính sách đó Đặc biệt với các chính sách lớn trên phạm vị quốc gia, hay những chính sách có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội là những chính sách được Quốc hội quan tâm, giám sát chặt chẽ thông qua các hình thức hoạt động của Quốc hội
Trang 3630
3.2 Các hình thức giám sát thực hiện Chính sách công của Quốc hội
Với chức năng giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước khác Tại mỗi quốc gia, Quốc hội đều có cơ chế giám sát nhất định Đặc biệt với các nước dân chủ thì
cơ chế giám sát của Quốc hội ngày càng được mở rộng và chặt chẽ
Ở Việt nam Quốc hội có các hình thức hoạt động chủ yếu là (theo điều 4 luật
tổ chức Quốc hội): “các kỳ họp của Quốc hội, hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội.”
Tương ứng với mỗi hình thức hoạt động là các hình thức giám sát của Quốc hội với việc thực hiện Chính sách công, đó là:
- Qua các kỳ họp của Quốc Hội
- Giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội
- Qua hoạt động của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội
- Qua hoạt động của các đoàn Đại biểu Quốc hội
- Qua hoạt động của các Đại biểu Quốc hội
Hoạt động giám sát của Quốc hội bao gồm tổng thể việc xây dựng, tổ chức máy và hoạt động đến tổng kết đánh giá các vấn đề của đất nước, trong đó có các chính sách công Còn hoạt động giám sát của Quốc hội trong phạm vi đề cập ở đây chỉ liên quan đến một khía cạnh cụ thể là hoạt động giám sát “thực hiện chính sách công” Và chúng ta sẽ cùng nghiên cứu để chỉ rõ các hình thức cụ thể như sau:
3.2.1 Giám sát qua các phiên họp thường kỳ của Quốc hội:
Quốc hội Việt Nam họp theo thời gian Xuân – Thu nhị kỳ, một năm chia làm hai đợt họp chính, mỗi đợt kéo dài từ khoảng một tháng đến một tháng rưỡi Tại các phiên họp thường kỳ này, ngoài việc thảo luận về tình hình phát triển kinh tế xã hội, thảo luận và thông qua các dự án luật, các dự án phát triển kinh tế xã hội lớn, trọng điểm của quốc gia, Quốc hội còn thực hiện quyền giám sát tối cao của mình với các vấn đề cơ bản như thực hiện các chính sách pháp luật, các chính sách về kinh tế - tài chính, chính sách về văn hóa xã hội Hình thức giám sát này được thực
hiện chủ yếu thông qua hai kênh chính: Một là qua báo cáo của các ủy ban thuộc
Trang 3731
Quốc hội Hai là qua chất vấn và trả lời chất vấn các thành viên thuộc Chính phủ và
các thành viên thuộc cơ quan tư pháp
- Giám sát thực hiện chính sách công qua các báo cáo của các ủy ban thuộc Quốc hội:
Tại các phiên họp thường kỳ của Quốc hội, để phục vụ cho công tác giám sát
có hiệu quả với các chính sách đã được ban hành, ngoài việc yêu cầu các cơ quan,
tổ chức, cá nhân thực thi chính sách báo cáo trước Quốc hội hoặc báo cáo bằng văn bản thì để đảm bảo tính độc lập, khách quan Quốc hội sẽ nghe báo cáo về tình hình thực hiện các chính sách do Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trình bày
Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội thực hiện việc giám sát thực hiện chính sách công trên cơ sở là lĩnh vực do mình phụ trách và nội dung, chính sách được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao phải tiến hành giám sát, đánh giá Các hoạt động của Hội đồng dân tộc, ủy ban của Quốc hội là một hình thức hoạt động mang tính chiều sâu và đảm bảo yêu cầu thực tiễn cao, hiệu quả mang lại
là khá rõ, sẽ được đề cập cụ thể hơn trong phần sau
- Giám sát thực hiện chính sách qua các báo cáo của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân thực thi chính sách
Tại mỗi phiên họp của Quốc hội, ngoài việc thảo luận các dự thảo luật, định hướng phát triển kinh tế xã hội, quyết định các chính sách lớn có ảnh hưởng sâu rộng đến các tầng lớp trong xã hội, Quốc hội cũng thực hiện hoạt động giám sát tối cao của mình thông qua việc nghe báo cáo của các cơ quan trước quốc hội Các báo cáo này chứa đựng nội dung về hiện trạng lĩnh vực – ngành nhất định, thường là với các vấn đề đang nóng, nhạy cảm Do đặc thù chủ thể thực hiện chính sách công chủ yếu là từ cơ quan hành pháp, nên việc trình bày các báo cáo này đương nhiên là người đứng đầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ thực hiện chức năng và thẩm quyền điều hành lĩnh vực, chuyên môn do mình đảm nhiệm Cao hơn nữa là người đứng đầu chính phủ tức Thủ tướng phải báo cáo
Trang 3832
Quốc hội sẽ lựa chọn mỗi kỳ họp thường là là 3 đến 4 Bộ trưởng, thủ trưởng
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ hiện đang điều hành ngành lĩnh vực có những vấn đề nóng, nổi cộm và quan trọng nhất để nghe báo cáo giải trình và trả lời chất vấn
Việc chất vấn và trả lời chất vấn là một trong các công cụ rất quan trọng của Quốc hội trong giám sát thực hiện Chính sách công Thông qua phiên chất vấn Quốc hội có cơ sở để nắm bắt thông tin, đánh giá năng lực quản lý và điều hành của người đứng đầu các cơ quan nhà nước Không chỉ dừng lại ở phía Quốc hội, thông qua phiên chất vấn trước Quốc hội, những người chịu sự chất vấn có cơ hội để báo cáo về thực trạng thực hiện, điều hành chính sách và đề xuất ngay với Quốc hội những giải pháp hữu hiệu
3.2.2.Giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Thẩm quyền giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) được quy
định tại điều 11 Luật tổ chức Quốc hội năm 2001, cụ thể: “Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chương trình giám sát hàng quý và hàng năm; có thể giao cho Hội đồng dân tộc và Uỷ ban hữu quan của Quốc hội thực hiện một số nhiệm vụ thuộc chương trình giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; xem xét, thảo luận các báo cáo và kiến nghị trong hoạt động giám sát; yêu cầu cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước hữu quan thực hiện những kiến nghị
mà Uỷ ban thường vụ Quốc hội xét thấy cần thiết.”
Với vai trò là cơ quan thường vụ có trách nhiệm thay mặt điều hành hoạt động của Quốc hội thuộc thẩm quyền quy định trong giai đoạn giữa các kỳ họp của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội về mặt thực tiễn có vai trò giám sát thường xuyên liên tục
Giữa các kỳ họp của Quốc hội, Ủy ban thường vụ là cơ quan đóng vai trò thay mặt Quốc hội giám sát hoạt động thực hiện chính sách trên phạm vi cả nước Điểm tích cực trong hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội nằm ở cơ chế giám sát Nếu như Quốc hội với điều kiện về thời gian làm việc chỉ có thể thực hiện chức năng giám sát của mình ở phiên diện tổng quát chung, cũng như
Trang 3933
chỉ có thể thực hiện chất vấn và trả lời chất vấn một số cơ quan, tổ chức, cá nhân nhất định; thì Ủy ban thường vụ quốc hội có đủ thời gian và nguồn lực để thực hiện chức năng giám sát đầy đủ việc thực hiện với cách chính sách quan trọng của quốc gia
Các báo cáo, số liệu, thông tin về tình hình thực hiện chính sách công định
kỳ được các cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi đến cho Ủy ban thường vụ Quốc hội dưới hình thức văn bản hoặc trả lời trực tiếp thông qua nhưng buổi họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội Tại đây căn cứ trên kết quả báo cáo về tình hình thực hiện các chính sách công, Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ cho ý kiến chỉ đạo về việc điều chỉnh, thảy đổi hoặc tháo gỡ những khó khăn về chính sách trong phạm
1 Trưởng Đoàn giám sát trình bày báo cáo;
2 Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;
3 Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận
Trong quá trình thảo luận, đại diện Đoàn giám sát có thể trình bày bổ sung những vấn đề có liên quan;
4 Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết về vấn đề được giám sát Nghị quyết này được gửi tới cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát
Trong quá trình giám sát thực hiện chính sách nếu như phát hiện việc thực thi chính sách đó có sai phạm với những quy định của pháp luật thì UBTVQH có thẩm quyền trong giới hạn được trao sẽ có những hành động cụ thể, kịp thời để
Trang 402 Ủy ban của Quốc hội thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án khác và báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Ủy ban
3 Việc thành lập, giải thể Ủy ban do Quốc hội quyết định.”
Hiện nay Quốc hội có Hội đồng dân tộc và chín Ủy ban bao gồm:
1 Uỷ ban pháp luật;
2 Uỷ ban kinh tế;
3 Uỷ ban quốc phòng và an ninh;
4 Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng;
5 Uỷ ban về các vấn đề xã hội;
6 Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường;
7 Uỷ ban đối ngoại;
8 Ủy ban tài chính ngân sách;
9 Ủy ban tư pháp;
Tại các phiên họp thường kỳ của Quốc hội, để phục vụ cho công tác giám sát
có hiệu quả với các chính sách đã được ban hành, ngoài việc yêu cầu các cơ quan,
tổ chức, cá nhân thực thi chính sách báo cáo trước Quốc hội hoặc báo cáo bằng văn bản thì để đảm bảo tính độc lập, khách quan Quốc hội sẽ nghe báo cáo về tình hình thực hiện các chính sách do các Ủy ban của Quốc hội trình bày