Trong những năm qua, các chính sách của Đảng, Nhà nước ta đã tác động tích cực đến công tác quản lý các di sản thế giới, thực hiện nghiêm túc cam kết với quốc tế trong việc bảo tồn các di sản thế giới. Các di sản thế giới đã góp phần ngày càng tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế xã hội cũng đặt ra những thách thức cho sự tồn tại bền vững của các di sản thế giới, điều này đòi hỏi phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý các di sản thế giới tại Việt Nam để huy động sức mạnh của toàn xã hội từ các cơ quan quản lý nhà nước đến từng người dân và sự hỗ trợ của quốc tế. Chính những lý do nói trên, học viên lựa chọn nghiên cứu “Chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam từ thực tiễn Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành chính sách công.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ AN
Trang 2
Hà Nội - Năm 2015 MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 5
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN 6
MỞ ĐẦU 7
1 Tính cấp thiết của đề tài 7
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 11
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 12
3.1 Mục đích nghiên cứu 12
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 13
4.1 Đối tượng nghiên cứu 13
4.2 Khách thể nghiên cứu 13
4.3 Phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 13
5.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 13
5.2 Câu hỏi nghiên cứu 13
5.3 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Ý nghĩa của luận văn 14
6.1 Ý nghĩa lý luận 14
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 14
7 Bố cục của luận văn 14
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ DI SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM 16
1.1 Cơ sở lý luận 16
1.1.1 Chính sách công 16
1.1.2 Chính sách công trong lĩnh vực quản lý di sản thế giới ở Việt Nam 18
1.1.2.1 Các văn bản quốc tế liên quan đến chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam 18
1.1.2.2 Các văn bản quốc gia liên quan đến chính sách quản lý Di sản thế giới ở Việt Nam 18
1.1.2.3 Các văn bản địa phương liên quan đến chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam 20
1.1.3 Các yếu tổ ảnh hưởng đến việc xây dựng, thực hiện chính sách công trong lĩnh vực quản lý di sản thế giới ở Việt Nam 20
1.1.3.1 Vấn đề của chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam 20
1.1.3.2 Chủ thế chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam 24
1.1.3.3 Môi trường thể chế chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam 26
1.1.3.4 Các yếu tố tác động đến chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam 27
1.2 Tác động của danh hiệu di sản thế giới tới sự phát triển kinh tế - xã hội đối với các địa phương 29
1.2.1 Di sản thế giới ở Việt Nam 29
2.1.1.1 Tiêu chí để đưa di sản văn hóa, di sản thiên nhiên vào danh sách Di sản thế giới 29
2.1.1.2 Các địa danh của Việt Nam đạt danh hiệu di sản thế giới 31
Trang 32.1.2 Tác động của Di sản thế giới tới sự phát triển kinh tế - xã hội đối với các địa
phương 33
2.1.2.1 Giúp quảng bá hình ảnh địa phương 33
2.1.2.2 Thu hút du lịch, đầu tư trong và ngoài nước để phát triển kinh tế - xã hội.34 2.1.2.3 Đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại, giao lưu, hợp tác quốc tế 35
2.1.2.4 Nâng cao nhận thức cho chính quyền địa phương và cộng đồng đối với công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản 36
2.1.2.5 Góp phần xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng tại các địa phương có di sản thế giới 37
3.1 Kinh nghiệm thế giới 37
3.1.1 Thành lập Ủy ban di sản thế giới của quốc gia 37
3.1.2 Di sản thiên nhiên thế giới Rạn san hô Great barrier reef - Australian 38
3.1.3 Di sản Văn hoá thế giới Angkor - Campuchia 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ DI SẢN THẾ GIỚI VỊNH HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH, GIAI ĐOẠN 2010-2014 40
2.1 Tổng quan vịnh Hạ Long 40
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 40
2.1.2 Các giá trị di sản 41
2.1.3 Tiềm năng, thế mạnh 42
2.2 Thực trạng chính sách quản lý Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long 43
2.2.1 Chính sách quản lý vịnh Hạ Long hiện nay 43
2.2.1.1 Quản lý và vấn đề của quản lý vịnh Hạ Long 43
2.2.1.2 Mục tiêu chính sách quản lý vịnh Hạ Long 47
2.2.1.3 Giải pháp và công cụ chính sách quản lý vịnh Hạ Long 47
2.2.1.4 Chủ thể chính sách quản lý vịnh Hạ Long 48
2.2.1.5 Thể chế chính sách quản lý vịnh Hạ Long 52
2.2.1.6 Các nhân tổ ảnh hưởng đến chính sách quản lý vịnh Hạ Long 53
2.2.2 Tổ chức thực hiện chính sách quản lý vịnh Hạ Long 55
2.2.2.1 Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách quản lý vịnh Hạ Long 55
2.2.2.2 Kết quả triển khai các giải pháp, công cụ chính sách quản lý vịnh Hạ Long 55
2.2.2.3 Đánh giá sự tham gia của các chủ thể chính sách quản lý vịnh Hạ Long 67
2.2.2.4 Đánh giá môi trường thể chế chính sách quản lý vịnh Hạ Long 68
2.2.2.5 Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách quản lý vịnh Hạ Long 69
2.3.3 Phân tích nguyên nhân và hạn chế CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ DI SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM 73
3.1 Dự báo xu hướng quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị Di sản thế giới ở Việt Nam trong thời gian tới 73
3.1.1 Xu hướng quản lý, bảo tồn Di sản thế giới của Quốc tế 73
3.1.2 Xu hướng quản lý, bảo tồn Di sản thế giới ở Việt Nam 74
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý Di sản thế giới ở Việt Nam 74
3.2.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng hoàn thiện chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam 74
3.2.1.1 Quan điểm hoàn thiện chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam 74
3.2.1.2 Mục tiêu hoàn thiện chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam 76
3.2.1.3 Định hướng hoàn thiện chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam 78
3.2.2 Các giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam 79
3.2.2.1 Giải pháp hoàn thiện thể chế chính sách 79
3.2.2.2 Hoàn thiện về giải pháp và công cụ chính sách 80
Trang 43.2.2.3 Giải pháp nâng cao năng lực chủ thể chế chính sách 82
3.2.2.4 Tăng cường nguồn lực chính sách 82
3.2.3 Kiến nghị 83
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
IUCN (International Union for
Conservation of Nature)
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
UNESCO (United Nations
Educational Scientific and Cultural
Organization):
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Vănhoá của Liên Hợp Quốc
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
5 Bảng 2.3 Bảng thống kê hoạt động đào tạo của
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tổ chức Giáo dục - Văn hóa - Khoa học của Liên hợp quốc (UNESCO)
đã xác nhận nhiều danh hiệu trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học,giáo dục và nhân văn Các danh hiệu này đều mang lại các giá trị nhất định,phục vụ cho sự phát triển kinh tế, nâng cao uy tín, tuyên truyền quảng bá vềvăn hóa đặc sắc hình ảnh của một dân tộc Các danh hiệu gồm: Di sản vănhóa thế giới, Di sản thiên nhiên thế giới, Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vậtthể của nhân loại, Di sản văn hóa phi vật thể, Chương trình ký ức thế giới,Khu dự trữ sinh quyển, Công viên địa chất, Di sản tư liệu thế giới, Di sản vănhóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại, Di sản văn hóa phivật thể đại diện của nhân loại
Các danh hiệu này đều mang lại các giá trị nhất định ở các mức độ khácnhau về vật chất, tinh thần, hữa hình hoặc vô hình Ở Việt Nam hiện có cácdanh hiệu như sau:
- Danh hiệu về Di sản văn hóa và Thiên nhiên thế giới:
+ Di sản Văn hóa thế giới và Thiên nhiên thế giới 05 Di sản văn hóa:Quần thể di tích cố đô Huế (2003), Khu phố cổ Hội An (1999), Di tích MỹSơn (1999), Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long (2010), Thành Nhà Hồ(2011) 02 Di sản thiên nhiên: vịnh Hạ Long (1994, 2000), Vườn Quốc giaPhong Nha - Kẻ Bàng(2003) và 01 Di sản hỗn hợp: Quần thể danh thắngTràng An (2014)
+ Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại: Di sản văn hóa phi vật thểđại diện của nhân loại: Nhã nhạc-Âm nhạc cung đình Huế (2003), Không gianvăn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (2005), Dân ca quan họ Bắc Ninh (2009),Hát ca trù (2009), Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng (2010), Hát xoan(2011), Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (2012), Đờn ca tài tử Nam Bộ(2013), Dân ca Ví dặm Nghệ Tĩnh (2014)
Trang 8- Danh hiệu về các lĩnh vực thông tin, khoa học:
+ Di sản tư liệu thế giới Mộc bản triều Nguyễn (2009), Bia tiến sỹ VănMiếu (2010), Mộc bản Kinh Phật Thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm(2012), Châu bản triều Nguyễn (2014)
+ Mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển: Khu dự trữ sinh quyển rừng ngậpmặn Cần Giờ (2000), Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà (2004), Khu dự trữ sinh quyểnchâu thổ sông Hồng (2004), Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang(2006), Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An (2007) Khu dự trữ sinh quyểnMũi Cà Mau (2009), Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm (2009), Khu dự trữ sinhquyển Đồng Nai (2011)
+ Công viên địa chất: Cao nguyên đá Đồng Văn (2010)
Việc UNESCO công nhận các Di sản tiêu biểu của Việt Nam đã gópphần xây dựng và quảng bá hình ảnh quốc gia, truyền bá các giá trị văn hóatinh thần của Việt Nam ra thế giới và bạn bè quốc tế thông qua du lịch, giaolưu và hợp tác Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, Đảng ta đã khẳngđịnh “Phát huy các di sản được UNESCO công nhận, góp phần quảng bá hìnhảnh đất nước và con người Việt Nam” Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giớikhông chỉ có giá trị tinh thần lớn lao, mà còn là nguồn lực quan trọng gópphần phát triển kinh tế - xã hội bền vững Các Di sản đã thực sự là nguồn tàinguyên vật chất, trở thành tài nguyên du lịch, sản phẩm du lịch góp phầnkhông nhỏ vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của địa phương cũng nhưcủa đất nước, góp phần giới thiệu các giá trị văn hóa truyền thống và thiênnhiên tươi đẹp của đất nước đến bạn bè quốc tế
Trong Luận văn này, học viên chỉ xin đề cấp đến vấn đề quản lý các Disản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam, danh hiệu mà có thể mang lạilợi ích nhiều mặt cho đất nước
Các khu di sản thế giới là những cảnh quan văn hóa và tự nhiên trảirộng trên các hệ sinh thái đã được tuyển chọn kỹ lưỡng bởi UNESCO theoCông ước bảo vệ Di sản văn hóa và Thiên nhiên thế giới, ký tại Paris ngày16/11/1972 Mỗi quốc gia thành viên tham gia Công ước có trách nhiệm đảm
Trang 9việc xác định, bảo vệ, bảo tồn và chuyển giao các di sản văn hóa, di sản thiênnhiên của đất nước cho thế hệ mai sau Công ước yêu cầu mỗi quốc gia thànhviên phải bảo vệ, bảo toàn và giới thiệu di sản thế giới có trên lãnh thổ mìnhbằng những hành động pháp lý thích đáng Khi một khu di sản được ghi nhậnvào danh sách các di sản thế giới, trách nhiệm của quốc gia thành viên là duytrì các giá trị mà di sản được công nhận.
Đứng trước sự phát triển chung hiện nay, để bảo tồn và phát huy cácgiá trị chung của di sản gặp rất nhiều thách thức Bảo tồn thế nào để Di sảnluôn đáp ứng được tiêu chí UNESCO đưa ra? phát huy thế nào để đóng góptích cực cho kinh tế - xã hội mà không ảnh hưởng tới tính nguyên vẹn và sự
an toàn của di sản? vì giữa các hoạt động bảo tồn và các hoạt động khai thácluôn tồn tại các sự tác động tiêu cực lẫn nhau Việc phát triển kinh tế - xã hộinếu không được quy hoạch phù hợp sẽ tác động xấu trực tiếp đến các di sản,đòi hỏi các nhà quản lý cũng như hoạch định chính sách phải cân nhắc thật kỹlưỡng trước khi quyết định để tạo được sự cân bằng giữa phát triển bền vững
và bảo tồn các di sản Không hy sinh di sản để phát triển kinh tế và cũngkhông vì việc bảo tồn di sản mà ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước, đây là một bài toán khó đối với các nhà quản lý các di sản
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý các di sản thế giớitại Việt Nam, để bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa và di sản thiênnhiên của đất nước ngang tầm quốc tế, Nhà nước ta đã phê chuẩn một sốCông ước quốc tế quan trọng của tổ chức UNESCO, đồng thời tích cực xâydựng, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về bảo tồn và phát huy di sản thếgiới Ở các địa phương có di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới đã ban hànhnhiều văn bản quy định, bảo vệ các di sản cụ thể khác để phù hợp với đặc thùcủa di sản và địa phương
Tuy nhiên, có thể thấy cơ chế chính sách quản lý các khu di sản cònnhiều hạn chế bất cập, cụ thể:
- Các văn bản pháp luật liên quan đến công tác quản lý, bảo tồn và pháthuy di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở nước ta còn thiếu, chưa đồng bộ
Trang 10- Công tác quản lý di sản đang có sự chồng chéo, một di sản thuộc sựquản lý của nhiều cơ quan, Bộ, ngành khác nhau Bộ máy các cơ quan quản lý
di sản thế giới ở nước ta rất khác nhau, việc phân công, phân cấp, giao tráchnhiệm cụ thể cho các cơ quan quản lý di sản thế giới ở một số địa phương cònnhiều bất cập chưa tương xứng với tầm vóc quản lý di sản thế giới Thẩmquyền của các cơ quan quản lý di sản còn hạn chế, hiệu quả, hiệu lực quản lýnhà nước đối với di sản thấp
- Nguồn tài chính cho quản lý di sản còn hạn chế, quy định quản lý và
sử dụng nguồn thu, chi tại mỗi địa phương sở hữu di sản còn rất khác nhau,chưa tập trung nguồn lực cho các mục tiêu ưu tiên
- Năng lực của đội ngũ các bộ làm công tác quản lý, bảo tồn di sản thếgiới còn nhiều hạn chế, công tác nghiên cứu khoa học phục vụ cho hoạt độngquản lý di sản còn yếu
- Chưa thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của cộng đồng vàocông cuộc bảo tồn di sản thế giới
Trong những năm qua, các chính sách của Đảng, Nhà nước ta đã tácđộng tích cực đến công tác quản lý các di sản thế giới, thực hiện nghiêm túccam kết với quốc tế trong việc bảo tồn các di sản thế giới Các di sản thế giới
đã góp phần ngày càng tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội cũng đặt ra những thách thứccho sự tồn tại bền vững của các di sản thế giới, điều này đòi hỏi phải tiếp tụcxây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách quản lý các di sản thế giới tạiViệt Nam để huy động sức mạnh của toàn xã hội từ các cơ quan quản lý nhànước đến từng người dân và sự hỗ trợ của quốc tế
Chính những lý do nói trên, học viên lựa chọn nghiên cứu “Chính sách
quản lý di sản thế giới ở Việt Nam từ thực tiễn Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành
chính sách công
Trang 112 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề quản lý các di sản thế giới ở Việt Nam đã được một số tác giảnghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, cụ thể như:
- Ở phạm vi giá trị Di sản thế giới ở Việt Nam tác giả Phạm Sanh Châutrong bài viết “Sức sống cho sự tồn tại của di sản Việt Nam” (2011), đã khẳngđịnh giá trị của một di sản thường được xác định bởi một danh hiệu cao quý
và danh hiệu cao quý nhất trên thế giới hiện nay đó là danh hiệu di sản thếgiới do UNESCO trao tặng và danh hiệu cũng chính là động lực để chúng tagìn giữ di sản
-Từ bình diện khoa học quản lý, PGS, TS Nguyễn Quốc Hùng có bàiviết “Một số kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
và thiên nhiên”; “ Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiêntrong quá trình hội nhập và phát triển” (2013) và thạc sỹ Nguyễn Đức Cường
“Vấn đề nghiên cứu, áp dụng quy định quốc tế trong thực tiễn bảo vệ và pháthuy giá trị di tích ở nước ta” Các bài viết đã đưa ra một số kinh nghiệm quản
lý các di sản thế giới, sự tham gia của chính phủ Việt Nam với các Công ướcquốc tế và ban hành một số chính sách liên quan đến công tác quản lý di sản
- Từ phương diện phát huy giá trị di sản, NCS Nguyễn Thị Thống Nhất
đã có luận án “Khai thác hợp lý các di sản văn hóa thế giới nhằm phát triển dulịch Miền Trung Việt Nam” (2014) Đề tài nghiên cứu làm rõ những vấn đề lýluận có liên quan đến hoạt động du lịch tại các di sản văn hóa thế giới và khaithác hợp lý các di sản văn hóa thế giới nhằm thúc đẩy phát triển du lịch Đánhgiá tính hợp lý trong khai thác các di sản văn hóa thế giới tại Miền Trung, từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm khai thác hợp lý các di sản văn hóa thế giớinhằm thúc đẩy phát triển du lịch Miền Trung Việt Nam
- Một số bài báo viết về tình trạng chưa đồng bộ, còn chồng chéo trongquản lý di sản như: “Quản lý di sản: vẫn kiểu “có nhà nhưng không thể tựquyết” của tác giả An Ngọc đăng trên báo Việt Nam, ngày 23/05/2014;
“Khủng hoảng mô hình quản lý di sản” của tác giả Trịnh Nguyễn đăng trênbáo Thanh Niên ngày 24/05/2014; “Chồng chéo trong quản lý di sản thế giới”
Trang 12của tác giả Quỳnh Trang đăng trên báo Vnexpress ngày 24/05/2014; “Di sảnthế giới bị khuyến nghị bảo tồn: không quá ngạc nhiên” của tác giả HàPhương đăng trên báo VOV ngày 30/10/2014; “Quản lý di sản còn thiếu đồngbộ” của tác giả Hạnh Nguyễn đăng trên báo Nhân đạo và Đời sống ngày04/6/2014; “Bất cập quản lý di sản thế giới” của tác giả Vũ Luận đăng trênbáo Nhân dân ngày 03/03/2015; “Quản lý di sản bằng gì?” Của tác giả Hương
Lê đăng trên báo Đại đoàn kết ngày 03/06/2015
Trong các nghiên cứu, bài viết khoa học trên chưa có nghiên cứu nào
về chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam Bởi vậy học viên xem đây
như là cố gắng khoa học đầu tiên nghiên cứu về “Chính sách quản lý di sản
thế giới ở Việt Nam từ thực tiễn Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh”.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nâng cao hiệu quả và góp phần hoàn thiện chính sách quản lý di sảnthiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long; đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng cao,tương xứng với vị trí của di sản thế giới, bảo tồn nguyên trạng các giá trị của
di sản đồng thời phát huy tiềm năng, lợi thế di sản vào phát triển kinh tế - xãhội tỉnh Quảng Ninh và khu vực phía Bắc
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và phân tích cơ sở lý luận, lý thuyết cơ bản về chínhsách quản lý di sản thế giới tại Việt Nam
- Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện chính sách quản lý di sản thếgiới tại di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long: mục tiêu, giải pháp, công cụ
và vai trò của các chủ thể tham gia thực hiện chính sách; các yếu tố ảnhhưởng đến việc tổ chức thực hiện chính sách quản lý di sản thế giới tại di sảnvịnh Hạ Long
- Đề xuất khuyến nghị các giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý disản thế giới ở Việt Nam
Trang 134 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chính sách quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Luận văn sử dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và vậndụng triệt để phương pháp nghiên cứu chính sách công Đó là cách tiếp cậnquy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xâydựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thểchính sách Qua thực tiễn chính sách công giúp hình thành lý luận về chínhsách chuyên ngành
5.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận về quản lý di sản thế giới ở Việt Nam hiện nay
là gì?
- Thực trạng thực hiện chính sách quản lý di sản thế giới ở vịnh HạLong? Những kết quả đạt được đã đáp ứng đươc mục tiêu chính sách đã đề rahay chưa?
- Giải pháp nào đổi mới, hoàn thiện chính sách quản lý di sản thế giới ởViệt Nam?
5.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp tổng hợp, thu thập số liệu
Trang 14+ Số liệu thứ cấp: các số liệu về hoạt động quản lý vịnh Hạ Long.
+ Các văn bản: nghị quyết của Đảng, chính sách của nhà nước quy định
về quản lý di sản thế giới tại Việt Nam
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn, kháiquát hóa
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các nhà quản lý
- Phương pháp định tính kết hợp định lượng
6 Ý nghĩa của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Đề tài vận dụng, bổ sung lý thuyết khoa học chính sách công để làm
rõ vấn đề khoa học và thực tiến của chính sách quản lý các di sản thế giới tạiViệt Nam
- Đề tài cung cấp các nghiên cứu, tư liệu, khảo sát thực tế tại vịnh HạLong qua đó góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận của khoa họcchính sách công
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt,danh mục các bảng, danh mục tài liệu tham khảo Luận văn được bố cụcthành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách quản lý di sản thế giới ởViệt Nam
Trang 15Chương 2: Thực trạng chính sách quản lý di sản thiên nhiên thế giớivịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2010-2014
Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện chính sách quản lý di sản thế giới
ở Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ
DI SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Chính sách công
Trong hệ thống các công cụ quản lý được Nhà nước dùng để điều hànhhoạt động kinh tế - xã hội thì chính sách được coi là công cụ nền tảng địnhhướng cho các công cụ khác Chính sách công có vai trò đặc biệt quan trọngđối với sự phát triển, là động lực thúc đẩy các quá trình phát triển xã hội; pháthuy các mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, nâng cao chất lượng phát triển vàquản lý phát triển xã hội Ngoài ra, chính sách công còn có vai trò tạo lập sựcân đối hài hòa, bền vững trong phát triển
Thuật ngữ chính sách hiện nay có rất nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩakhác nhau
Quan niệm về Chính sách công của quốc tế:
Theo James Anderson “Chính sách công là một quá trình hành động
có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” (James Anderson 2003).
Theo B Guy Peter “Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của
Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân” (B Guy Peter 1990) Như vậy theo quan điểm này thì B Guy Peter đã
chỉ ra rằng chủ thể ban hành và thực thi chính sách công là Nhà nước, đồngthời nhấn mạnh tác động của chính sách công đến đời sống của người dân với
tư cách là cộng đồng Còn William Jenkim lại cho rằng “Chính sách công là
một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được mục tiêu đó” (William Jenkin 1978).
Theo quan điểm của các học giả trong nước:
Thuật ngữ Chính sách được hiểu là: “Chủ trương và các biện pháp của
một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị xã hội” Theo Vũ
Cao Đàm “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một
Trang 17chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo ra sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” Quản lý học đại cương, Bài giảng, Đại học đại cương Đại học Quốc gia Hà Nội
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Phú Hải - Học viện Khoa học xã hội đã
đưa ra định nghĩa về chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập
hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với các giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của Đảng chính trị cầm quyền”
[8,tr.37]
Từ các quan niệm trên, chính sách công với các nội hàm như sau: Trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ là một bộphận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước
Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạtđộng cũng như quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hànghóa, dịch vụ công cộng cho nền kinh tế
Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụngđể: (i) Khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nềnkinh tế, khuyến khích cả với khu vực công và cả với khu vực tư; (ii) Quản lýnguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực, thiết thực đối với cả kinh tế,chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn Nói cáchkhác chính sách công là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạchđịnh chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định tráchnhiệm trong việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sảncông, tài nguyên đất nước
Như vậy, Chính sách công là thể hiện cụ thể của những chủ trương,quan điểm, định hướng của Đảng cầm quyền và Nhà nước về phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước; có những chủ trương, định hướng phát triển chung vànhững chủ trương định hướng cho từng ngành và lĩnh vực cụ thể Chủ thể banhành chính sách công là Nhà nước, cơ quan trong bộ máy Nhà nước là chủ thể
Trang 18ban hành chính sách công, thông qua “Tập hợp các quyết định chính trị cóliên quan của nhà nước” Các quyết định về chính sách công là những quyếtđịnh chính trị, bao hàm ý chí chính trị và thực tiễn cuộc sống nhằm đáp ứngnhu cầu của người dân Các quyết định chính trị ở đây được hiểu là các vănbản quy phạm pháp luật Văn bản do cơ quan Nhà nước ban hành hoặc phốihợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy địnhtrong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Chính sách công tập trung giải quyết vấn đề xã hội đang đặt ra trongđời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ramục tiêu và các giải pháp nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề có mốiquan hệ biện chứng đang đặt ra trong đời sống xã hội, mà còn giải quyết mốiquan hệ giữa các bên tham gia chính sách
1.1.2 Chính sách công trong lĩnh vực quản lý di sản thế giới ở Việt Nam
1.1.2.1 Các văn bản quốc tế liên quan đến chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam
Để bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa và di sản thiên nhiênthế giới của đất nước ngang tầm quốc tế, Nhà nước đã phê chuẩn một số Côngước quốc tế quan trọng của tổ chức UNESCO, cụ thể là: năm 1987 phê chuẩnCông ước bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới 1972; năm 2005 phêchuẩn Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể 2003 và Công ước về cácbiện pháp ngăn cấm nhập khẩu, xuất khẩu và chuyển giao quyền sở hữu tráiphép tài sản văn hóa 1970; năm 2007 phê chuẩn Công ước bảo vệ và pháttriển sự đa dạng của biểu đạt văn hóa năm 2005
1.1.2.2 Các văn bản quốc gia liên quan đến chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam
Lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng lýluận và kim chỉ nam cho hành động, Đảng ta luôn khẳng định vị trí và tầmquan trọng của văn hóa trong cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng xã
Trang 19hội chủ nghĩa và nhất là trong thời kỳ đổi mới Đảng đã xây dựng và ban hànhnhiều văn kiện có tính chất định hướng cho việc xây dựng và phát triển nềnvăn hóa đất nước trong đó có công tác quản lý, bảo tồn và phát huy các di sảnthế giới Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóaIX) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII) những nămsắp tới cũng nêu chủ trương “Kết hợp hài hòa việc bảo vệ, phát huy các di sảnvăn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế du lịch” Nghị quyết Hội nghị lầnthứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã chỉ rõ “Xây dựng cơ chế
để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với pháttriển kinh tế - xã hội”
Song song với việc phê chuẩn các Công ước, Nhà nước đã tích cực xâydựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý về bảo tồn và phát huy di tíchnói chung và Di sản thế giới nói riêng nhằm lựa chọn, giải quyết các mục tiêu
cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vần đề quản lý các disản thế giới theo mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà nước đã xác định Luật
Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sảnvăn hóa năm 2009 là văn bản pháp lý quan trọng giúp cho việc thực thi cácbiện pháp quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ đối với di sản thế giới.Liên quan trực tiếp tới lĩnh vực bảo vệ, phát huy các di sản văn hóa và thiênnhiên, trong những năm qua Chính phủ và Bộ Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể là: Nghị định
số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hànhmột số điều Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật di sản văn hóa; Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001của Bộ trưởng Bộ văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Dulịch) phê duyệt Quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử -văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020; Quyết định số 86/2008/QĐ-BVHTTDL, ngày 30/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịchban hành Quy chế khai quật khảo cổ; Chỉ thị số 79/CT-BVHTTDL, ngày22/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch về việc tổ chức
Trang 20triển khai thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020; Thông tư số09/2011/TT-BVHTTDL, ngày 14/7/2011 của Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch
về nội dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lamthắng cảnh; Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL, ngày 14/7/2012 của BộVăn hóa Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một số quy định về bảo quản,
tu bổ, phục hồi di tích; Nghị định số 70/2012/NĐ-CP, ngày 18/9/2012 củaChính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch,
dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa; Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL, ngày 28/12/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyđịnh chi tiết về một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; Thông tư
số 17/2013/TT-BVHTTDL, ngày 30/12/2013 của Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế - kỹthuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
1.1.2.3 Các văn bản địa phương liên quan đến chính sách quản lý
di sản thế giới ở Việt Nam
Ở các địa phương có di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới đã ban hànhnhiều văn bản quy định, bảo vệ các di sản như: Quy chế quản lý đối với từngkhu di sản (Hạ Long, Phong Nha - Kẻ Bàng, Hội An, Thành Nhà Hồ); Kếhoạch quản lý tổng hợp (Hạ Long, Phong Nha - Kẻ Bàng, Hoàng thành ThăngLong, Thành Nhà Hồ); Các di sản thế giới đều có Quy hoạch tổng thể bảo tồn,phát huy và các địa phương cũng ban hành hàng loạt các văn bản quy định cụthể khác để phù hợp với đặc thù của di sản và địa phương
1.1.3 Các yếu tổ ảnh hưởng đến việc xây dựng, thực hiện chính sách công trong lĩnh vực quản lý di sản thế giới ở Việt Nam
1.1.3.1 Vấn đề của chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam
Phát hiện vấn đề chính sách là giai đoạn đầu tiên trong quy trình xâydựng chính sách công, những vấn đề đó thường là những mâu thuẫn, khókhăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Theo PGS, TS Đỗ Phú Hải, Họcviện Khoa học xã hội “việc xác định vấn đề chính sách được bắt đầu bằng
Trang 21cảm nhận vấn đề so với cấu trúc vấn đề, đó là cảm nhận về các trở ngại,vướng mắc trong xã hội cần được giải quyết bằng chính sách hoặc các bất hợp
lý gây mâu thuẫn, mất cân bằng, mất ổn định về kinh tế xã hội, cản trở tăngtrưởng kinh tế hoặc những nhu cầu trong tương lai cần đạt được bằng chínhsách” [8,tr.39] Vấn đề chính sách mang cả tính hiện thực và tương lai, cáchiện tượng đang tồn tại thực tế sẽ làm nẩy sinh các vấn đề trong tương lai
Vấn đề quản lý các di sản thế giới đang là vấn đề được quan tâm trongquá trình bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống của đất nước và hội nhậpquốc tế Trong những năm qua nhiều chính sách của nhà nước đã đề cập, điềuchỉnh các vấn đề liên quan đến các di sản thế giới ở Việt Nam, tuy nhiên lĩnhvực quản lý di sản thế giới là một lĩnh vực tương đối khó không chỉ ở nước ta
mà nhiều quốc gia, nhiều di sản trên thế giới vẫn đang trong quá trình xâydựng và hoàn thiện chính sách quản lý Luật di sản văn hóa năm 2001 và Luậtsửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009 là văn bảnpháp lý quan trọng giúp cho việc thực thi các biện pháp quản lý nhà nước vàchuyên môn nghiệp vụ đối với di sản thế giới Tuy nhiên Luật chủ yếu điềuchỉnh các lĩnh vực của di sản văn hóa, do đó đối với các di sản thiên nhiên khi
áp dụng có những điều không phù hợp gây ra khó khăn trong công tác quản lýcác di sản thiên nhiên
Một thực trạng trong công tác quản lý các di sản ở nước ta đó là sựchồng chéo, một di sản thuộc sự quản lý của nhiều cơ quan, Bộ, ngành khácnhau Các di sản thế giới đều thuộc sự quản lý của Cục Di sản Văn hóa - BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch, sự chỉ đạo Ủy Ban UNESCO Việt Nam - BộNgoại giao Trong khi đó một di sản thường mang nhiều ý nghĩa khác nhaunhư: văn hóa, thiên nhiên, môi trường… ví dụ đối với Vườn quốc gia PhongNha - Kẻ Bàng ngoài chịu sự quản lý của hai cơ quan nêu trên như các di sảnkhác còn chịu sự quản lý Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và pháttriển nông thôn; Cục bảo tồn Đa dạng sinh học - Bộ Tài nguyên và Môitrường Đồng thời các di sản thế giới thường xuyên báo cáo, xin tham vấn của
Trang 22Hội đồng di sản văn hóa quốc gia - cơ quan tư vấn giúp Thủ tướng Chính phủ
về những vấn đề quan trọng liên quan đến việc bảo vệ và phát huy giá trị disản thế giới
Bộ máy các cơ quan quản lý di sản thế giới ở nước ta rất khác nhau,việc phân công, phân cấp, giao trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan quản lý disản thế giới ở một số địa phương còn nhiều bất cấp chưa tương xứng với tầmvóc quản lý di sản thế giới dẫn đến các trở ngại trong quá trình vận hành và
xử lý công việc Ở địa phương mỗi cơ quan quản lý di sản trực thuộc các cấpkhác nhau: trực thuộc UBND tỉnh (Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, Banquản lý vịnh Hạ Long, Ban quản lý vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng,Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội, Ban quản lý danh thắngTrang An); trực thuộc UBND huyện (Trung tâm bảo tồn di sản văn hóa Hội
An, Ban quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn) và trực thuộc Sở Văn hóa Thểthao và Du lịch (Trung tâm bảo tồn di sản Thành Nhà Hồ)
Thẩm quyền của các cơ quan quản lý di sản còn hạn chế, hiệu quả hiệulực quản lý nhà nước đối với di sản thấp Các cơ quan này là các đơn vị sựnghiệp do đó khi xử lý các vi phạm xâm hại đến giá trị di sản thường không
đủ thẩm quyền, chỉ phát hiện, ngăn chặn và mời các đơn vị quản lý nhà nướckhác đến xử lý
Bên cạnh sự chồng chéo và phân cấp phức tạp thì năng lực của đội ngũcác bộ làm công tác quản lý, bảo tồn di sản thế giới cũng là thách thức lớn đốivới công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản Khi được công nhận là di sảnthế giới, các tiêu chí, bảo tồn và phát huy giá trị không chỉ bó hẹp trong phạm
vi quốc gia mà còn mở ra tầm thế giới vì khi đưa ra các biện pháp bảo tồntrình độ kiến thức của cán bộ quản lý phải ở trình độ cao, trình độ quốc tế.Tuy nhiên, các biện pháp, giải pháp bảo tồn của các di sản hầu hết chỉ mangtính chữa cháy, thiếu tầm chiến lược, đi sau sự phát triển kinh tế - xã hội
Kinh phí, ngân sách là vấn đề khó khăn dễ nhận thấy, đây là nguồn lực
để bảo tồn các di sản Để bảo tồn và phát huy được các di sản thế giới thì yếu
tố quan trọng là tính nguyên vẹn của di sản Công việc này đòi hỏi một nguồn
Trang 23kinh phí không nhỏ, khó khăn này càng được tăng lên khi nước ta đang trongquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội do nguồnngân sách quốc gia hay các địa phương có di sản thường được ưu tiên chonâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống nhân dân.
Các vấn đề đời sống xã hội cũng tác động mạnh mẽ đến các di sản thếgiới, các quốc gia trong quá trình phát triển bao giờ cũng phát sinh các mặttrái, đó là thách thức thức trong công tác bảo tồn các di sản thế giới trong quátrình phát triển hiện nay như đô thị hóa, toàn cầu hóa, sự biến đổi khí hậu pháttriển kinh tế - xã hội Vì vậy, công tác bảo vệ các di sản thế giới cần đượcthương lượng với các bên liên quan tìm ra biện pháp khắc phục mối đe dọatrên Vấn đề được đặt ta đối với các di sản thế giới đó là bảo vệ di sản hayphát triển địa phương? Câu hỏi không hề mới đối với các địa phương có disản, một bên là sự phát triển kinh tế địa phương, một bên là việc bảo tồn tínhnguyên vẹn của di sản Hai vấn đề này luôn có tác động tiêu cực đến nhau,việc cân bằng hai vấn đề này không đơn giải, làm sao nâng được đời sốngnhân dân trong khi vẫn bảo vệ được di sản Nếu bảo tồn làm ảnh hưởng đếnđời sống nhân dân là không được vì đời sống nhân dân là thước đo cho sự tácđộng tích cực hay tiêu cực đến di sản Nếu chỉ quan tâm đến phát triển đờisống mà coi nhẹ công tác bảo tồn giá trị di sản thì các di sản bị tác động mạnhhay có thể dẫn đến việc loại khỏi danh mục di sản thế giới Trong quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang diễn ra mạnh mẽ, sự phát triểncủa kinh tế, du lịch đã mạng lại những thay đổi tích cực cho các địa phương
có di sản Tuy nhiên cùng với sự phát triển này cũng diễn ra một sự hủy hoạiđang lặng lẽ diễn ra, đó là sự hủy hoại lối sống vốn có, là sự tàn phá thiênnhiên không dễ nhận ra bằng mắt thường Thách thức của vấn đề đời sống xãhội không chỉ ở vấn đề phát triển tại địa phương mà còn ở ý thức của ngườidân, sự tồn tại vĩnh cửu hay mai một nhanh chóng của một di sản đều phụthuộc vào người dân, tuy nhiên ý thức bảo vệ của người dân đối với các di sảnthế giới chưa cao Các hành động tiêu cực dù vô tình hay cố ý vẫn diễn rathường xuyên khiến di sản ngày càng mai một, đó là việc số lượng khách du
Trang 24lịch quá cao, xã rác bừa bãi, khói thuốc, khai thác động thực vật quá mức…
đã tác động tiêu cực đến các giá trị di sản
Hầu hết các chính sách quản lý di sản của chúng ta chỉ tập trung quản
lý các tác động của con người, của kinh tế - xã hội, tuy nhiên còn một vấn đềđang tác động không nhỏ đến quản lý các di sản đó là tác động từ môi trường
tự nhiên Trong bối cảnh biến đổi khí hậu như hiện nay, tác động từ môitrường đối với các di sản ngày càng trở lên rõ rệt, qua trình mưa, bão, nướcbiển dâng, hạn hán, cháy rừng thay đổi cả về số lượng, cường độ, diễn biến vàthời gian xuất hiện Những tác động này đến các vùng biến đảo, vùng bảo vệcác loài quý hiếm, các khu vực gần hành lang di trú của các loài, vùng venbiển và các vùng đất ngập nước của các di sản thiên nhiên Còn đối với các disản văn hóa thì các tác động này làm lụt lội, đổ sập, các di tích bị xuống cấp,các vật liệu bị biến dạng làm ảnh hưởng đến tính nguyên vẹn của di sản
Hệ thống kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách quản lý di sản và thựchiện Công ước quốc tế còn hạn chế Hành vi xâm hại các giá trị di sản thế giớivẫn đang diễn ra ở các mức độ khác nhau do các vấn đề về sinh kế người dânsống trong di sản, do nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, thậm chí cả lợi íchnhóm… Tuy nhiên, hàng năm chỉ có báo cáo của cơ quan quản lý di sản màthôi, còn các cơ quan giám sát, quản lý khác của địa phương thì hầu nhưkhông nhắc đến Đồng thời tại các Hội nghị của Ủy ban di sản thế giới, các disản phải báo cáo giải trình các khuyến nghị của UNESCO, tuy nhiên vì nhiều
lý do khác nhau các yếu tố minh bạch trong báo cáo này cũng bị hạn chế.Nhiều vụ xâm hại các giá trị di sản, vi phạm Luật di sản tại các di sản thế giớichỉ được biết đến bởi các cơ quan truyền thông
1.1.3.2 Chủ thế chính sách quản lý di sản thế giới ở Việt Nam
Chủ thể ban hành chính sách quản lý di sản thế giới gồm các cơ quannhà nước có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính phủ, Bộ Văn hóa thể thao và
du lịch, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài nguyên - môi trường, Bộ Nông nghiệp và pháttriển nông thôn, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải Chính quyền địa
Trang 25phương các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các sở, ban ngành và một
thái độ
Cấp
Trung
ương
hiện Luật; giám sát hoạt độngcủa chính phủ, các Bộ, cơquan ngang bộ… trong việcthực hiện chính sách quản lý
di sản thế giới
Ban hành,thẩm tra,giám sát
Quantâm, hỗtrợ
DSTG trong phạm vi cảnước, ban hành các văn bảnquy phạm pháp luật, cơ chế,chính sách quản lý DSTG
Quản lýtrongphạm vitoàn quốc
Quantâm, hỗtrợ
Quản lýcấp Trungương
Ảnhhưởng
trong ngành, lĩnh vực theo sựphân công của Chính phủ
Quản lýtheo lĩnhvực,ngành
Ảnhhưởng
Tư vấncho ThủtướngChính phủ
Quản lýcấp địaphương
Ảnhhưởng
Ảnhhưởng
Các huyện Quản lý nhà nước về DSTG Quản lý Ảnh
Trang 26có DSTD trên địa bàn địa phương cấp địa
Thể chế do Trung ương gồm các văn bản Luật do Quốc hội ban hành,các văn bản dưới Luật do Chính phủ và các Bộ, ngành ban hành
Thể chế do chính quyền địa phương bao gồm các văn bản quy phạm doHĐND, UBND và các cơ quan ở cấp địa phương ban hành
Bảng 1.2 Môi trường thể chế chính sách quản lý DSTG
Hệ thống thể chế Chủ thể ban hành Thẩm quyền ban hành
Bộ văn hóa thế thao và du lịch
và các Bộ, cơ quan thuộc chínhphủ có liên quan
Các sở và cơ quan quản lý - Quyết định
Trang 27Các yếu tố hình tác động đến việc ban hành chính sách quản lý các disản thế giới:
- Văn hoá chính trị là những giá trị mang tính tương đồng, ổn định phảnánh nhận thức và các hoạt động của các tổ chức và cá nhân trong hệ thốngchính trị Hành vi ứng xử của đội ngũ công chức, viên chức trong hệ thốngcác cơ quan nhà nước có ảnh hưởng quan trọng đến chu trình chính sách quản
lý các di sản thế giới
- Hiến pháp là luật gốc quy định quyền, nghĩa vụ của công dân, cơ cấu,nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước trong đó có các cơquan lập pháp do đó mọi chính sách phải dựa trên Hiến pháp và chính sáchquản lý các di sản thế giới cũng không có ngoại lệ
- Thể chế chính trị tác động vào quá trình xây dựng, hoạch định chínhsách quản lý các di sản thế giới Thể chế chính trị thúc đẩy các tổ chức chínhtrị, doanh nghiệp và người dân tham gia thảo luận chính sách thì chất lượngchính sách cao hơn
* Các yếu tố bên trong
Bên cạnh hệ thống chính trị thì chính sách quản lý các di sản thế giới ởnước ta còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tổ bên trong khác như: công luận,truyền thông, các giá trị xã hội và kinh tế
Trang 28- Vai trò của công luận và truyền thông được thể hiện ở trong khi góp
ý, phản hồi của người dân, các nhà khoa học cũng như phản ánh các hiệntượng xã hội ảnh hưởng đến chính sách quản lý các di sản thế giới
- Các giá trị xã hội có vai trò định hướng khi các tổ chức, các thànhphần trong xã hội tham gia vào quá trình chính sách Các giá trị xã hội hết sức
đa dạng trong các khía cạnh của đời sống xã hội như: văn hóa, tôn giáo, nghềnghiệp, thành phần xã hội, các nhóm lợi ích…
- Yếu tố kinh tế là yếu tố quan trọng tác động mạnh đến việc xây dựngchính sách quản lý các di sản thế giới Quá trình phát triển kinh tế dân theohàng loạt các vấn đề xã hội nảy sinh đòi hỏi các nhà hoạch định chính sáchphải tính toán xây dựng chính sách đảm bảo vừa phát triển kinh tế vừa bảotồn các giá trị di sản
Ngoài ra, các yếu tố như năng lực của chủ thể lập chính sách, năng lựcphân tích, năng lực dự báo, năng lực phát hiện vấn đề, khả năng chính trị hóacác vấn đề xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực hiệnchính sách Yếu tố năng lực, cơ cấu quyền lực của chủ thể nhà nước trong lậpchính sách còn thể hiện qua các nguồn lực sử dụng trong công tác lập chínhsách như nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực, các thiết chế của bộ máy quản
ly và thực thi công vụ, quyền lực thể hiện trên các mặt chính trị, kinh tế vàpháp lý phù hợp với địa vị pháp lý của từng cơ quan
* Các yếu tố bên ngoài
Việc xây dựng, hoạch định chính sách quản lý các di sản thế giới chịuảnh hưởng không nhỏ bởi các yếu tố bên ngoài, đó chính là chúng ta bị ràngbuộc bởi Công ước về bảo tồn di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và cáccông ước quốc tế khác Đồng thời chúng ta cũng bị giám sát thực hiện côngước bởi các tổ chức của UNECO như: đại diện UNESCO tại khu vực và ViệtNam, Tổ chức IUCN… và các tổ chức quốc tế phi chính phủ hoạt động tronglĩnh vực này
Ngoài ra yếu tố về địa chính trị, lợi thế so sánh quốc gia, quan hệ kinh
tế, vị thế của nước ta đối với các tổ chức quốc tế cũng là những yếu tố quan
Trang 29trọng trong việc hoạch định chính sách cũng như kêu gọi các tổ chức quốc tếtham gia ủng hộ, hỗ trợ, đào tạo, chuyển giao công nghệ quản lý, bảo tồn các
di sản Trong một số chính sách, đặc biệt là các kế hoạch quản lý di sản (kếhoạch thường có giá trị trong 5 năm và được các cơ quan giám sát quản lý disản thế giới theo dõi kết quả hoạt động chặt chẽ) có sự tham gia của cácchuyên gia nước ngoài
1.2 Tác động của danh hiệu di sản thế giới tới sự phát triển kinh tế
- xã hội đối với các địa phương
1.2.1 Di sản thế giới ở Việt Nam
2.1.1.1 Tiêu chí để đưa di sản văn hóa, di sản thiên nhiên vào danh sách Di sản thế giới
- Định nghĩa về “di sản văn hóa” bao gồm những nhóm sau đây [4,tr.2]:
+ Các di tích: các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hộihọa, các yếu tố hoặc các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, các bản khắc, cácnơi cư ngụ hang động và các kết hợp của các đặc tính, có giá trị nổi bật toàncầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học;
+ Các quần thể các công trình xây dựng: các nhóm công trình riêng lẻhoặc liên kết mà, do kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị trí của chúng trongcảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuậthay khoa học;
+ Các di chỉ: các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữacon người và thiên nhiên, và các khu vực gồm có các di chỉ khảo cổ có giá trịnổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hay nhânchủng học
Một di tích, quần thể các công trình xây dựng hay một di chỉ được đưavào danh sách di sản thế giới được coi có “giá trị nổi bật toàn cầu” khi đápứng được một hoặc nhiều tiêu chí sau đây và chứng minh được tính nguyênbản của chúng: (i) là một kiết tác về tài sáng tạo của con người; (ii) thể hiện
Trang 30một sự giao lưu quan trọng của các giá trị nhân văn, qua một thời kỳ hay bêntrong một khu vực văn hoá của thế giới, về những phát triển trong kiến trúc,hoặc công nghệ, nghệ thuật xây dựng đền tháp, quy hoạch thành phố hay thiết
kế cảnh quan; (iii) chứa đựng một minh chứng duy nhất hoặc ít nhất cũng hếtsức khác biệt về một truyền thống văn hoá hay một nền văn minh hiện vẫnđang tồn tại hoặc đã diệt vong; (iv) là một ví dụ nổi bật về một loại công trìnhxây dựng, một quần thể kiến trúc hoặc kỹ thuật hoặc một cảnh quan minh họamột (hoặc nhiều) giai đoạn quan trọng trong lịch sử nhân loại; (v) là một ví dụnổi bật về một hình thức cư trú truyền thống của con người, việc sử dụng đấtđai, hay khai thác biển cả, đại diện cho một (hay nhiều) nền văn hoá, hoặc sựtương tác giữa con người và môi trường đặc biệt là khi nó đã trở nên dễ tổnthương do ảnh hưởng của những đổi thay không thể đảo ngược; (vi) có liên hệtrực tiếp hoặc có thể nhận thấy được với những sự kiện hay các truyền thốngsinh hoạt, với các ý tưởng, hay các tín ngưỡng, với các công trình nghệ thuậthay văn học có ý nghĩa nổi bật toàn cầu [5, tr.15]
- Định nghĩa về “di sản thiên nhiên” bao gồm những nhóm sau đây: [4,tr.3]
+ Các đặc tính thiên nhiên bao gồm các kiến tạo vật lý hoặc sinh họchay các nhóm kiến tạo như thế có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểmthẩm mỹ hoặc khoa học;
+ Các kiến tạo địa chất và địa lý tự nhiên và các khu vực được phânđịnh rạch ròi là môi trường sống các các loài động thực vật bị đe dọa có giá trịnổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn;
+ Các di chỉ thiên nhiên hoặc các khu vực thiên nhiên được phân địnhrạch ròi có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học, bảo tồn hay
vẻ đẹp tự nhiên
Một Di sản thiên nhiên thế giới phải đáp ứng một hay nhiều tiêu chí sauđây và phải đáp ứng những điều kiện toàn vẹn gồm: (vii) chứa đựng các hiệntượng thiên nhiên siêu việt hay các khu vực có vẻ đẹp thiên nhiên kỳ thú vàtầm quan trọng thẩm mỹ; (viii) là những ví dụ nổi bật đại diện cho những giai
Trang 31đoạn lớn của lịch sử trái đất, bao gồm cả việc ghi chép lại cuộc sống, các quátrình địa chất lớn đang tiếp diễn trong sự phát triển của các địa mạo, haynhững đặc điểm địa chấn và địa hình lớn; (ix) là những ví dụ nổi bật đại diệncho các quá trình sinh thái và sinh vật trong sự tiến hoá và phát triển của các
hệ sinh thái trên mặt đất, trong nước ngọt, nước biển và ven biển và các cộngđồng thực vật và động vật; (x) chứa đựng các sinh vật tự nhiên quan trọng và
có ý nghĩa nhất đối với việc bảo tồn tại chỗ đa sạng sinh học, kể cả những nơichứa đựng các giống loài bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét dưới góc độkhoa học hoặc bảo tồn
- Các di sản sẽ được xem là "di sản văn hoá và thiên nhiên hỗn hợp"nếu chúng đáp ứng một phần hay toàn bộ các định nghĩa của cả di sản vănhoá và thiên nhiên được đưa ra trong Công ước [5, tr.16]
2.1.1.2 Các địa danh của Việt Nam đạt danh hiệu di sản thế giới Quần thể di tích cố đô Huế: Hội nghị lần thứ 17 của Ủy ban di sản thế
giới họp tại Cartagena (Colombia) ngày 11/12/1993 đã công nhận di tích Cố
đô Huế (Huế) là di sản văn hóa thế giới với tiêu chí (Ciii): là biểu trưng cho
sự nổi bật về uy quyền của một đế chế phong kiến đã mất của Việt Nam vàothời kỳ hưng thịnh nhất của nó đầu thế kỷ 19; và tiêu chí (Civ): là một điểnhình nổi bật của một kinh đô phong kiến phương Đông
Vịnh Hạ Long: Hội nghị lần thứ 18 của Ủy ban di sản thế giới họp tại
Phuket (Thái Lan) ngày 17/12/1994 đã công nhận vịnh Hạ Long (QuảngNinh) là di sản thiên nhiên thế giới với tiêu chí (Niii): về cảnh quan.02/12/2000, vịnh Hạ Long tiếp tục được Ủy Ban di sản thế giới công nhận lầnthứ 2 tại Hội nghị lần thứ 24 của Ủy ban họp tại Queensland (Úc) với tiêu chí(Nii): về giá trị địa chất địa mạo
Thánh địa Mỹ Sơn: Hội nghị lần thứ 23 của Ủy ban di sản thế giới
họp tại Marrakesh (Morocco) ngày 01/12/1999 đã công nhận Thánh địa MỹSơn (Quảng Nam) là di sản văn hóa thế giới với tiêu chí (Cii): là một ví dụ
Trang 32điển hình về trao đổi văn hóa; và tiêu chí (Ciii): như là bằng chứng duy nhấtcủa một nền văn minh ở Châu Á đã biết mất.
Phố cổ Hội An: Hội nghị lần thứ 23 của Ủy ban di sản thế giới họp tại
Marrakesh (Morocco) ngày 01/12/1999 đã công nhận Phố cổ Hội An (QuảngNam) là di sản văn hóa thế giới với tiêu chí (Cii): là minh chứng vật chất nổibật về sự giao lưu giữa các nền văn hóa trong lịch sử; và tiêu chí (Cv): là một
ví dụ điển hình về truyền thống định cư của loài người
Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng: Hội nghị lần thứ 27 của Ủy
ban di sản thế giới họp tại Paris (Pháp) ngày 03/7/2003, đã công nhận VườnQuốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình): là di sản thiên nhiên thế giớivới tiêu chí (Ni) là một minh chứng về quá trình hình thành và phát triển của
vỏ trái đất
Hoàng thành Thăng Long: Hội nghị lần thứ 34 của Ủy ban Di sản
Thế giới họp tại (Brasilia) Braxin ngày 31/7/2010 đã công nhận Khu Trungtâm Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội) là Di sản văn hóa thế giới với tiêu chí(Cii): minh chứng cho sự giao lưu giữa các ảnh hưởng đến chủ yếu từ TrungQuốc ở phía Bắc và Vương quốc Champa ở phía Nam, tiêu chí (Ciii): minhchứng cho truyền thống văn hóa lâu dài của người dân Việt được thành lập ởđồng bằng sông Hồng, đó là một trung tâm quyền lực liên tục từ Thế kỷ 7 chođến tận ngày nay, và tiêu chí (Cvi): liên quan trực tiếp tới nhiều sự kiện vănhóa - lịch sử quan trọng
Thành Nhà Hồ: Hội nghị lần thứ 35 của Ủy ban Di sản Thế giới ở
Paris (Pháp) Ngày 27/6/2011, Ủy ban Di sản Thế giới Thành Nhà Hồ (ThanhHóa) là di sản văn hóa thế giới với tiêu chí (Cii): là minh chứng vật chất nổibật về sự giao lưu giữa các nền văn hóa trong lịch sử, và tiêu chí (Civ): là mộtđiển hình nổi bật của một kinh đô phong kiến phương Đông
Quần thể danh thắng Tràng An: Hội nghị lần thứ 38 của Ủy ban Di
sản Thế giới họp tại Doha (Qatar) ngày 23/6/2014 đã công nhận Quần thểdanh thắng Tràng An (Ninh Bình) là di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới.Đây là di sản hỗn hợp văn hóa và tự nhiên đầu tiên của Việt Nam với tiêu chí
Trang 33(Cv): là một ví dụ điển hình về truyền thống định cư của loài người về vănhoá, (Nvii): chứa đựng các hiện tượng thiên nhiên siêu việt hay các khu vực
có vẻ đẹp thiên nhiên kỳ thú và tầm quan trọng thẩm mỹ; (Nviii) là những ví
dụ nổi bật đại diện cho những giai đoạn lớn của lịch sử trái đất, bao gồm cảviệc ghi chép lại cuộc sống, các quá trình địa chất lớn đang tiếp diễn trong sựphát triển của các địa mạo, hay những đặc điểm địa chấn và địa hình lớn
2.1.2 Tác động của Di sản thế giới tới sự phát triển kinh tế - xã hội đối với các địa phương
2.1.2.1 Giúp quảng bá hình ảnh địa phương
Ngày nay, trong quan hệ quốc tế khái niệm “sức mạnh mềm” (softpower) được nhắc nhiều đến nhiều, khái niệm này xuất hiện từ những năm
1990 và nó đã làm thay đổi lớn cách tiếp cận trong quan hệ quốc tế hiện đại.Nếu như “sức mạnh cứng” (hard power) là sử dụng vũ lực thì “sức mạnhmềm” lại sử dụng sự hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng chính trị và chính sách đốingoại của quốc gia để đạt được mục tiêu đã đề ra Trong quá trình toàn cầuhóa và hội nhập diễn ra mạnh mẽ, các nước lớn dùng sức mạnh mềm khuấttrương sự ảnh hưởng, còn các nước nhỏ thì dùng sức mạnh mềm như là mộtcông cụ tự vệ chống lại sự xâm lược về văn hóa, tư tưởng từ các quốc giakhác và nước ta cũng không nằm ngoài xu thế đó Mặc dù là một quốc gianhỏ bé về địa lý, nhưng lịch sử hào hùng và nền văn hóa đa dạng giàu bản sắcđac khiến bạn bè quốc tế yêu mến và ngưỡng mộ Đây cũng được coi là sứcmạnh mềm của Việt Nam, như lời nhận xét của giáo sư Joseph Nye “ViệtNam có nhiều điểm thu hút các quốc gia khác: sự nổi danh từ các cuộc đấutranh giành độc lập, sự chuyển đổi thành công trở thành một nền kinh tế bùngnổ… những điều này đã giúp gia tăng “sức mạnh mềm của Việt Nam”
Thương hiệu quốc gia là một chỉ số thể hiện sức mạnh mềm của mộtquốc gia Trong thời kỳ hội nhập chúng ta cần làm nổi bật các giá trị ViệtNam là một dân tộc có bề dày văn hóa - lịch sử đặc sắc, có sức sống mãnh liệt
Trang 34giàu tiềm năng và có nhiều thành tựu trong đổi mới, người dân Việt Nam cần
cù, sáng tạo, yêu chuộng hòa bình
Từ quan điểm đó, trong thời gian qua Việt Nam đã tiến hành nhiều hoạtđộng để quảng bá hình ảnh đất nước Một trong những hoạt động quản bá lâudài và hiệu quả là xây dựng hình ảnh của mình qua các danh hiệu củaUNESCO, đặc biệt là việc UNESCO công nhận các danh hiệu di sản của ViệtNam Danh hiệu di sản thế giới do UNESCO - một cơ quan thuộc Liên hợpquốc phong tặng, do đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc quảng báhình ảnh đất nước nói chung và địa phương nói riêng Thông qua các di sảnthế giới địa phương có dịp giới thiệu với bạn bè quốc tế về truyền thống giátrị lịch sử, nền văn hóa đậm đã bản sắc dân tộc và các tiềm năng hợp tác quốc
tế của đất nước Các danh hiệu làm nên tính đặc sắc của truyền thống văn hóadân tộc, tạo nên sự khác biệt của dân tộc này với dân tộc khác, nền văn hóakhác và các danh hiệu đã góp phần làm sống lại, nuôi dưỡng những giá trị củamột dân tộc, một đất nước và sự đa dạng của nền văn hóa nhân loại
2.1.2.2 Thu hút du lịch, đầu tư trong và ngoài nước để phát triển kinh tế - xã hội
Khi chất lượng cuộc sống được nâng cao, ngày càng nhiều người quantâm đến các hoạt động giải trí, du lịch, thăm quan các danh lam thắng cảnhtrong nước và trên thế giới để tìm hiểu, khám phá những nét đặc sắc, đặctrưng của dân tộc, con người, đất nước cũng như địa danh đó Khi đi du lịch,
du khách không chỉ quan tâm đến giá cả, mà họ còn hướng tới chất lượng,dịch vụ nơi tham quan Đối với khách trong nước, họ thường lựa chọn nhữngđịa danh nổi tiếng được công nhận ở tầm quốc gia, còn với khách du lịchnước ngoài họ sẽ lựa chọn các địa danh có tầm cỡ thế giới
Từ việc khách du lịch đến thăm quan, địa phương có di sản sẽ thu đượctiền phí, lệ phí, dịch vụ, tạo thêm nhiều việc làm cho dân địa phương, thúcđẩy các ngành khác phát triển theo, trong đó có ngành sản xuất đồ lưu niệm,
hệ thống thương mại, giao thông vận tải, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống,
Trang 35trình diễn, trình chiếu các loại hình nghệ thuật truyền thống… Bên cạnh đónhu cầu công việc tăng cũng khiến cho ngành đào tạo, dạy nghề phát triểnnhằm đáp ứng được yêu cầu Theo đánh giá của một số chuyên gia, thì thươnghiệu di sản thế giới của UNESCO là một thương hiệu lớn trị giá từ 500 đến
900 triệu USD và bình quân mỗi di sản thế giới thu hút 1 tỉ lượt du khách.Chính vì thế mà địa phương có di sản thế giới sẽ có sự phát triển mạnh vềkinh tế - xã hội, bộ mặt xã hội thay đổi nhiều so với trước
Bên cạnh việc phát triển du lịch, các di sản thế giới cũng mang lạinhiều cơ hội tốt để địa phương có di sản chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có cơ hộithu hút đầu tư, cơ sở hạ tầng được nâng cấp, thu hút nguồn vốn viện trợ, giúp
đỡ, đầu tư từ các doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước Cũng như tâm lýkhách du lịch là luôn chọn những địa danh, di tích được công nhận là di sảnthế giới để tham quan, các nhà đầu tư cũng vậy, họ lựa chọn đầu tư an toàn,hiệu quả tại các địa phương các danh hiệu di sản thế giới Tại đây, nguồn vốncủa họ được sử dụng hiệu quả, đồng thời thông qua việc đầu tư tại các khu disản thế giới, doanh nghiệp còn thế hiện được trách nhiệm xã hội của mình đốivới công đồng Đối với các công trình lớn, bên cạnh việc thuê nhân công tạichỗ, nhiều chủ đầu tư nước ngoài còn đưa chuyên gia, công nhân lành nghề
từ nước họ sang để triển khai dự án do đó các địa phương, người dân còn códịp học tập kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật từ các nhà đầu tư
2.1.2.3 Đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại, giao lưu, hợp tác quốc tế
Bên cạnh việc giới thiệu, quảng bá hình ảnh địa phương, thu hút đầu tư,các di sản thế giới là cơ hội, điều kiện để tổ chức các hội nghị, hội thảo quốcgia và quốc tế Đồng thời các di sản thế giới còn mở ra cơ hội để đẩy mạnhhợp tác quốc tế trong nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm quản lý, chuyên môn,chyển giao công nghệ về bảo tồn, tu bổ di tích và nhiều lĩnh vực khác liênquan đến di sản Tại nhiều địa phương có các di sản thế giới đã tổ chức nhiều
sự kiện văn hóa quan trọng trong nước, như: Festival Huế, Lễ hội Quảng Nam
Trang 36hành trình di sản; Canaval Hạ Long, Lễ hội hoa Anh đào, giao lưu văn hóaViệt Nam - Nhật Bản tổ chức hàng năm Cùng với các hoạt động giao lưuvăn hóa diễn ra tại chỗ, danh hiệu di sản thế giới cũng tạo điều kiện để các địaphương mở rộng giao lưu văn hóa các nước trên thế giới, nhiều đoàn thamquan, nghiên cứu, nghệ thuật truyền thống của các địa phương được mời ranước ngoài để trao đổi kinh nghiệm, biểu diễn nghệ thuật, giao lưu văn hóa…qua đó tuyên truyền quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam.
2.1.2.4 Nâng cao nhận thức cho chính quyền địa phương và cộng đồng đối với công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản
Các di sản thế giới được công nhận không chỉ tác động đến sự pháttriển kinh tế mà còn tác động mạnh mẽ đến văn hóa, xã hội của địa phương.Danh hiệu di sản thế giới đã nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư địaphương về giá trị của di sản do cha ông để lại và thiên nhiên trao tặng, từ đóđộng viên mọi người thực hiện tốt chủ trương, quy định bảo tồn di sản, cổ vũnhân dân trân trọng di sản của quá khứ, ra sức giữ gìn, phát huy truyền thốngtốt đẹp của địa phương
Nhà nước và chính quyền quan tâm bảo tồn, tu bổ, tôn tạo nhằm tạo sựbền vững cho di sản thế giới Đồng thời nhiều di sản cũng nhận được sự hỗtrợ của UNESCO, các tổ chức, cá nhân trên nhiều lĩnh vực, từ hỗ trợ đào tạo,cung cấp trang thiết bị kỹ thuật, đến kinh phí, chuyên gia cho các hoạt độngbảo tồn, phát huy giá trị các di sản thế giới để các di sản này trở thành tàinguyên du lịch, sản phẩm du lịch chất lượng cao
Từ mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững các giá trị di sản thiênnhiên thế giới đã hình thành mạng lưới giáo dục bảo tồn tại cộng đồng dân cưtrong khu vực di sản, vùng đệm và khách du lịch Các chương trình tuyêntruyền thông giáo dục bảo tồn, giáo dục pháp luật, bảo vệ môi trường cũngđược thực hiện thường xuyên, điều đó đã tác động sâu sắc đến nhận thức củacộng đồng địa phương
Trang 372.1.2.5 Góp phần xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng tại các địa phương có di sản thế giới
Khi có danh hiệu di sản thế giới, số lượng khách du lịch đến tham quanngày càng động hơn Để tạo thuận lợi, thu hút khách tham quan thì nhà nước
và chính quyền địa phương phải dành kinh phí cho việc nâng cấp, xây dựngmới các cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cảng, sân bay, bệnh viện… Cáccông trình này một mặt phục vụ trực tiếp cho việc phát triển du lịch, một mặtgiúp cho các ngành nghề khác của địa phương được hưởng lợi từ đó thúc đẩyđịa phương phát triển toàn diện
3.1 Kinh nghiệm thế giới
Di sản thế giới đã mang lại những giá trị tích cực cho đời sống kinh tế
-xã hội, tuy nhiên các di sản chỉ trở thành công cụ hữu hiện làm động lực cho
sự phát triển địa phương khi các cán bộ quản lý và người dân địa phươngnhận thức, hiểu rõ và biết làm cho các giá trị này trở thành nguồn lực để pháttriển kinh tế Hiện nay, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản thế giớicủa chúng ta đang đối mặt với nhiều thách thức, ngoài những thách thức nêutrên, còn nhiều vấn đề khác cũng cần đến sự quan tâm, lưu ý Do đó, làm thếnào để giải quyết được các thách thức đối với việc bảo vệ và phát huy giá trị
di sản, đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội sẽ là một câu hỏi lớn chưa
có lời giải đáp ngay
3.1.1 Thành lập Ủy ban di sản thế giới của quốc gia
Các chuyên gia đến từ Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch và cơ quanhợp tác quốc tế Tây Ban Nha gợi ý có thể lập Ủy Ban di sản thế giới ở ViệtNam như nhiều quốc gia đã làm Ủy ban này là một cơ quan liên ngành với sựtham gia của nhiều cơ quan nhà nước, địa phương khác nhau như: Bộ Vănhóa thể thao du lịch, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Ủy banQuốc gia UNESCO Việt Nam
Trang 383.1.2 Di sản thiên nhiên thế giới Rạn san hô Great barrier reef Australian
Thể chế: Có Đạo luật quản lý Rạn san hô Great barrier reef năm 1975
và đến năm 2009 một hiệp định mới được tạo ra đó là hiệp định liên chínhphủ giữa Chính phủ Australian và bang Queensland, mục tiêu của hiệp định làđảm bảo một cách tiếp cận tích hợp và hợp tác giữa chính phủ Australian vàbang Queensland để quản lý môi trường biển và đất trong khu vực Di sảnthiên nhiên thế giới Rạn san hô Great barrier reef
- Cơ quan Rạn san hô Great barrier reef trực thuộc bang Queenslandquản lý Cơ quan này có 4 uỷ ban cố vấn: uỷ ban lưu vực và ven biển, uỷ banrạn san hô, uỷ ban địa phương, uỷ ban du lịch và giải trí
Các quyết định cao nhất về chiến lược phát triển Rạn san hô do Hộiđồng bộ trưởng trực thuộc bang Queensland và Chính phủ Autralia quyết địnhtại các kỳ họp thường niên hoặc bất thường
- Vé dịch vụ bao gồm cả phí tham quan, các công ty du lịch thu vé vàtrả phí cho cơ quan quản lý nhà nước
3.1.3 Di sản Văn hoá thế giới Angkor - Campuchia
- Cơ quan quản lý trực thuộc Chính phủ Campuchia
- Lệ phí và các số ngày: (20 USD/một ngày, 40 USD/ba ngày liên tiếp
60 USD/bẩy ngày liên tiếp)
- Một số chính sách quản lý:
Cũng từ khi Angkor được công nhận là Di sản thế giới, lượng khách dulịch đổ về tăng mạnh mỗi năm Có thời điểm khách đến Angkor chiếm 40%tổng lượng khách quốc tế đến Campuchia Tuy nhiên, ngay khi có cảnh báocủa UNESCO về đe dọa xuống cấp Angkor vì khách tham quan quá đông,ngành du lịch Campuchia ngay lập tức nghiên cứu và thực hiện biện phápkiểm soát và hạn chế khách du lịch Năm 2003, khách vào đền Angkor chỉđược tối đa 300 khách mỗi lượt và thời gian tham quan chỉ kéo dài tối đa 2giờ đồng hồ Đến nay, các biện pháp hạn chế khách vẫn tiếp tục được nghiên
Trang 39cứu và đề xuất để đối phó với nhu cầu tham quan không ngừng tăng lên hằngnăm Việc phát triển các khu du lịch biển tại các hòn đảo và thị trấn Képthuộc Sihanoukville ngoài mục đích khai thác tài nguyên du lịch biển cònnằm trong chủ trương giãn khách khỏi Angkor, hướng khách du lịch nhữngsản phẩm du lịch khác để giảm sức ép cho di sản.
Năm 1999, Chính phủ Campuchia đã quy hoạch ba thành phố PhnomPenh, Siem Riep và Sihanoukville dành riêng để phát triển du lịch văn hoá và
tự nhiên Để phù hợp với chính sách này, các khách sạn quanh khu Angkor ởSiem Riep không được phép cao quá 3 tầng, bất kể đó là khách sạn 4 sao hay
5 sao Tất cả các phố mặt tiền đều được quy hoạch tổng thể và tuân thủ chặtchẽ các quy chuẩn về kiến trúc, chỉ giới xây dựng Thậm chí, các tuyến phố
cổ, phố cũ nằm trong khu vực bảo tồn và các nhà phải sơn cùng một màu
Danh hiệu di sản thế giới đã đem lại nhiều lợi ích và góp phần tích cựcvào sự phát triển và hội nhập của đất nước, các di sản thế giới đã trở thành cácđiểm đến quan trọng của các tuyến du lịch góp phần phát triển kinh tế - xã hộicủa địa phương và đất nước Khi phê chuẩn Công ước quốc tế về bảo vệ disản văn hóa và thiên nhiên thế giới thì việc quản lý các di sản phải càng đượcnâng cao để đáp ứng các yêu cầu khắt khe của quốc tế, Công ước nhấn mạnhtuyên bố về giá trị nổi bật toàn cầu, tính xác thực, tính toàn vẹn của di sản làtham chiếu chính đối với việc bảo vệ và quản lý di sản Trên thế giới có di sản
bị đưa vào danh mục các khu di sản trong tình trạng lâm nguy và có di sản bịloại ra khỏi danh mục di sản thế giới Nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ranhững chính sách, ban hành các văn bản pháp quy hay xây dựng bộ máy quản
lý di sản hiệu quả, phù hợp với đặc thù của di sản cũng như phù hợp với chínhtrị, kinh tế, xã hội của đất nước để bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ DI SẢN THẾ GIỚI VỊNH HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH, GIAI ĐOẠN 2010-2014 2.1 Tổng quan vịnh Hạ Long
2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Vịnh Hạ Long - thắng cảnh nổi tiếng, nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam,thuộc tỉnh Quảng Ninh là một vùng biển đảo rộng lớn với diện tích 1.553km2, gồm 1.969 hòn đảo, nơi có cảnh quan thiên nhiên tuyệt mỹ mang trongmình những giá trị đặc biệt về địa chất, địa mạo, đa dạng sinh học, văn hóalịch sử cùng với tiềm năng thế mạnh về du lịch, giao thông cảng biển, đánhbắt nuôi trồng thủy sản Sự kiện vịnh Hạ Long được UNESCO hai lần côngnhận là Di sản Thiên nhiên thế giới vào năm 1994 về giá trị cảnh quan thiênnhiên và năm 2000 về giá trị địa chất địa mạo, được Thủ tướng Chính phủquyết định xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt năm 2009, năm 2011 trở thànhbảy kỳ quan thiên nhiên thế giới càng khẳng định thêm những giá trị đặc biệt,tiềm năng to lớn của vịnh Hạ Long không chỉ ở trong nước mà trên toàn thếgiới
Hội nghị thường niên lần thứ 36 của Uỷ ban Di sản thế giới đã thôngqua Tuyên bố giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản thiên nhiên thế giới vịnh HạLong: “Nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh,vịnh Hạ Long là một phần của vịnh Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 165km Vớidiện tích 434 km2, bao gồm trên 775 hòn đảo, hầu hết các đảo này không cóngười sinh sống và không bị tác động bởi con người, tạo nên vẻ đẹp cảnhquan thiên nhiên hùng vĩ với vô số tháp đá vôi, là một mẫu hình tuyệt vời vềkarstơ trưởng thành trong điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm Vẻ đẹpcảnh quan nổi bật còn được tô điểm thêm bởi các hệ sinh thái điển hình của
Di sản Giá trị nổi bật của Di sản tập trung ở khu vực có các dạng địa hình đávôi karst ngập chìm dưới biển mang những nét đặc trưng của quá trình xóimòn ven bờ như các mái vòm, hang động, tạo nên cảnh quan thiên nhiên kỳthú Quá trình biển tiến, biển thoái lặp đi lặp lại trên đồng bằng đá vôi karst