Thị trường chứng khoán Việt Nam trong hai năm trở lại đây phát triển hết sức mạnh mẽ. Hoạt động chào bán ra công chúng là hoạt động cung cấp hàng hóa cho thị trường chứng khoán diễn ra sôi động.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Luật tài chính
PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CỔ PHẦN RA
CÔNG CHÚNG
Người hướng dẫn : Thạc sỹ Nguyễn Minh Hằng Người thực hiện: Lê Kim Dung
Trang 2Hà Nội 2007
Lời nói đầu:
1 Tính cấp thiết của đề tài :
Thị trường chứng khoán Việt Nam trong hai năm trở lại đây phát triển hết sức mạnh mẽ Hoạt động chào bán ra công chúng là hoạt động cung cấp hàng hóa cho thị trường chứng khoán diễn ra sôi động Trong đó chào bán cổ phiếu ra công chúng thu hút được nhiều sự quan tâm chú ý của không chỉ các nhà đầu tư mà của toàn xã hội
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3 Phương pháp nghiên cứu:
4 Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm các phần sau đây:
Phần mở đầu:
Phần nội dung:
Chương I: Những vấn đề chung về pháp luật chào bán cổ phần ra công chúng
Chương II : Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay về chào bán cổ phần ra công chúng: Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng
Phần kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 3I.1 Khái niệm và phân loại cổ phần
I.1.1 Khái niệm và đặc điểm
Khái niệm
Khi một công ty cổ phần muốn tăng vốn để mở rộng hoạt động sản xuấtkinh doanh, có nhiều cách khác nhau để thực hiện: vay vốn của các tổ chứctín dụng, phát hành trái phiếu doanh nghiệp hoặc chào bán cổ phần Mỗiphương thức huy động vốn nói trên đều có ưu nhược điểm riêng, được ápdụng tùy theo mục tiêu, chính sách hoạt động của doanh nghiệp trong từngthời kỳ cụ thể
Chào bán cổ phần là hình thức được nhiều công ty cổ phần lựa chọn đểthu hút vốn đầu tư
Khái niệm về cổ phần:
Theo luật doanh nghiệp 2005: Công ty cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều
lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần ( Điểm a Khoản 1Điều 77 ) Như vậy mỗi cổ phần là một phần bằng nhau vốn điều lệ công ty
và người sở hữu cổ phần cũng chính là người sở hữu một phần công ty
Trang 4Người sở hữu cổ phần của công ty được gọi là cổ đông, nắm giữ cổ phiếucủa công ty đó.
Khái niệm về cổ phiếu:
Theo Luật doanh nghiệp 2005 quy định: Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổphần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số
cổ phần của công ty đó ( Khoản 1 Điều 85 Luật doanh nghiệp 2005 )
Luật chứng khoán 2006 cũng có định nghĩa cổ phiếu như sau: Cổ phiếu làloại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đốivới một phần vốn của tổ chức phát hành ( Khoản 2 Điều 6 Luật chứng khoán
Đặc điểm của cổ phiếu
Thứ nhất: Cổ phiếu có tính thanh khoản cao, nghĩa là khả năng chuyểnhóa thành tiền dễ dàng Nhà đầu tư bỏ tiền ra mua cổ phiếu của một công tysau đó dễ dàng bán đi để thu lại tiền đã đầu tư Tuy nhiên tính thanh khoảncủa cổ phiếu phụ thuộc vào hai yếu tố:
Một là, kết quả kinh doanh của công ty cổ phần đã phát hành cổ phiếu( hay còn gọi là tổ chức phát hành ) Nếu tổ chức phát hành có kết quả kinhdoanh tốt, thu được lợi nhuận cao , trả cổ tức cao sẽ thu hút được sự quantâm của nhiều nhà đầu tư, khiến cổ phiếu của công ty có thể dễ dàng đượcmua bán trao đổi Ngược lại, nếu tổ chức phát hành kinh doanh kém hiệuquả dẫn đến tình trạng thua lỗ, nợ nần thì các nhà đầu tư không dám mạohiểm bỏ vốn mua cổ phần của công ty, dẫn đến cổ phiếu của công ty đó cótính thanh khoản thấp
Trang 5Hai là, quan hệ cung cầu trên thị trường cổ phiếu và thị trường chứngkhoán.Thị trường cổ phiếu cũng như các thị trường mua bán các loại hànghóa khác đều chịu sự điều chỉnh của các quy luật thị trường đặc biệt là quyluật cung cầu Giá của cổ phiếu trên thị trường không chỉ phụ thuộc vào kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh của bản thân tổ chức phát hành mà cònphụ thuộc vào nhu cầu của nhà đầu tư Điều này đặc biệt dễ nhận thấy khithị trường chứng khoán gặp biến động mạnh, các nhà đầu tư theo tâm lýchung sợ mất tiền nên ồ ạt bán ra cổ phiếu Cổ phiếu lúc này tràn ngập thịtrường tạo nên nguồn cung quá lớn trong khi số lượng nhà đầu tư muốn muavào quá ít, tính thanh khoản của cổ phiếu lúc này hạ xuống còn rất thấp.Ngược lại khi thị trường cổ phiếu khan hiếm hàng hóa, nhu cầu của các nhàđầu tư rất lớn thì ngay cả những cổ phiếu có chất lượng thấp cũng dễ dàngbán được giá cao.
Thứ hai, cổ phiếu có tính lưu thông Tính lưu thông là khả năng chuyểngiao quyền sở hữu cổ phiếu cho người khác như một tài sản thực sự Nếunhư tính thanh khoản giuos chủ sở hữu cổ phiếu chuyển đổi cổ phiếu thànhtiền mặt thì tính lưu thông đem lại cho người sở hữu nhiều khả năng sử dụnghơn như cho, tặng, để thừa kế hay cầm cố tại ngân hàng để bảo đảm thựchiên nghĩa vụ tài sản khác
Thứ ba, cổ phiếu có tính tư bản giả, có nghĩa là cổ phiếu là một loại giấy
tờ có giá trị như tiền Tuy nhiên, bản thân cổ phiếu không có giá trị nếu nókhông được đảm bảo bằng tiền Mệnh giá của cổ phiếu cũng không phản ánhđúng giá trị thực của cổ phiếu, và người ta định giá cổ phiếu dựa trên nhiềuphương pháp khác nhau
Thứ tư, cổ phiếu có tính rủi ro: Là những đe dọa về an toàn vốn và thunhập đối với nhà đầu tư Thể hiện rõ nét của đặc điểm này là cổ phiếu có thểxuống giá bất thường và đột ngột do những biến cố của thị trường, đem lại
Trang 6sự thua lỗ nhanh chóng cho các nhà đầu tư Nguyên nhân là: Giá trị của cổphiếu không nằm trong ý định chủ quan của tổ chức phát hành hay nhà đầu
tư, cổ phiếu có giá trị phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như tình hình tàichính của tổ chức phát hành, tình hình kinh tế xã hội nói chung và nhữngyếu tố chính trị nhạy cảm Vì vậy, một biến động chính trị lớn có thể làmchao đảo thị trường chứng khoán, cũng như sự sụp đổ của thị trường chứngkhoán của một quốc gia có thể kéo theo sự khủng hoảng của thị trườngchứng khoán nhiều nước khác, kéo theo giá của tất cả cả các cổ phiếu sụtgiảm bất thường Hơn nữa hoạt động mua bán cổ phiếu phụ thuộc rất nhiềuvào thông tin trên thị trường, chỉ một thông tin bất lợi cho tổ chức phát hành
dù chưa được kiểm chứng cũng dễ dàng gây ảnh hưởng nghiêm trọng tớikhả năng thanh khoản, lưu thông của cổ phiếu
Cổ phiếu là chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu hợp phápcủa cổ đông với công ty cổ phần đã phát hành cổ phiếu Dựa trên tínhchuyển nhượng của cổ phiếu có thể chia cổ phiếu thành ba loại sau:
Cổ phiếu ký danh: Là loại cổ phiếu có ghi rõ tên chủ sở hữu cổ phiếu trên
cổ phiếu, cổ phiếu này bắt buộc ở dạng chứng chỉ Đặc điểm ký danh của cổphiếu khiến cho cổ phiếu có độ an toàn cao nhưng đem lại sự bất tiện trongchuyển nhượng cổ phiếu vì đòi hỏi thủ tục phức tạp hơn so với cổ phiếu vôdanh
Cổ phiếu ký danh: Cổ phiếu vô danh cũng ở dạng chứng chỉ nhưng khôngghi tên người sở hữu cổ phiếu trên đó Người giữ trong tay cổ phiếu đượccoi là chủ sở hữu cổ phiếu Thủ tục chuyển nhượng cổ phiếu loại này rấtđơn giản, chỉ là mua bán trao tay
Bút toán ghi sổ và chứng chỉ điện tử: Cổ phiếu này không ở dạng chứng chỉ
và người sở hữu cổ phiếu không nắm giữ cổ phiếu trong tay Cổ phiếu ở
Trang 7dạng bút toán ghi sổ ngày càng phổ biến vì có độ an toàn cao và đem lạinhiều tiện lợi cho người sở hữu và tổ chức phát hành.
I.1.2 Phân loại cổ phần
Cổ phần được chia thành hai nhóm là cổ phần ưu đãi và cổ phần phổ thông.Mỗi loại cổ phần khác nhau mang lại cho người sở hữu những quyền và lợiích nhất định Khả năng chuyển tự so chuyển nhượng cổ phần cũng tùythuộc từng loại cổ phần
ký kinh doanh
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của cổ đông phổ thông gồm: Tham gia Đại hộiđồng cổ đông và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng Cổ đông được chia cổ tức khi công ty làm ăn có lãi Khi công ty giả thể phá sản, cổ đông chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn cổ phần đã góp vàocông ty
Cổ phần phổ thông được quy định tại Khoản 1 Điều 78 Luật doanhnghiệp 2005: Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông, người sở hữu cổphần phổ thông là cổ đông phổ thông Chi tiết quyền và nghĩa vụ của cổđông phổ thông được Luật doanh nghiệp 2005 qui định tại Điều 79 và Điều
80 Luật doanh nghiệp 2005 cũng qui định quyền tự do chuyển nhượng của
Trang 8cổ phần phổ thông trừ trường hợp cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập( Khoản 5 Điều 84 ).
Cổ phần ưu đãi
Cổ phần ưu đãi là loại cổ phần mang lại cho người sở hữu một số quyền
ưu tiên so với cổ phiếu thường Cổ phần ưu đãi được quy định tại Khoản 2Điều 78 Luật doanh nghiệp 2005: Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi.Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi
Không phải mọi nhà đầu tư đều có quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi Tùy từngloại cổ phần ưu đãi mà luật và điều lệ công ty cổ phần có quy định khácnhau về điều kiện nắm giữ và chuyển nhượng cổ phần ưu đãi
Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:
Cổ phần ưu đãi biểu quyết: Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có sốphiếu biếu quyết cao hơn số phiếu biểu quyết của cổ phần phổ thông Sốphiếu biểu quyết của cổ phần ưu đãi biểu quyết do điều lệ của công ty cổphần quy định Chỉ có cổ đông sáng lập và tổ chức do Chính phủ ủy quyền( đối với công ty nhà nước cổ phần hóa ) mới được quyền nắm giữ cổ phiếubiếu quyết Cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập cũng chỉ có hiệulực trong ba năm kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, sau
đó cổ phần biểu quyết của cổ đông sáng lập sẽ chuyển thành cổ phần phổthông Luật doanh nghiệp 2005 không có quy định về thời hạn hiệu lực của
cổ phần ưu đãi biểu quyết do tổ chức được Chính phủ ủy quyền nắm giữ, vìvậy có thể coi cổ phần ưu đãi biếu quyết do tổ chức được Chính phủ ủyquyền nắm giữ có hiệu lực vô thời hạn Mục đích của cổ phần ưu đãi biểuquyết là để bảo vệ quyền lợi cho cổ đông sáng lập trong thời gian hợp lý vừa
đủ để duy trì sự ổn định của công ty mà không hạn chế quyền của các cổđông khác; và duy trì quyền kiểm soát của Nhà nước đối với những công ty
Trang 9cổ phần hoạt động trong lĩnh vực ngành nghề quan trọng cần sự định hướngcủa Nhà nước.
Cổ phần ưu đãi cổ tức: Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổtức cao hơn mức trả cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hàngnăm Cổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng Cổtức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty và phươngthức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổtức Mục đích của cổ phần ưu đãi cổ tức là thu hút vốn điều lệ bằng tỷ lệ lợinhuận cao trên mỗi cổ phần, tuy nhiên cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tứckhông có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, để cử người vàoBan kiểm soát Điều kiện này để dung hòa quyền và nghĩa vụ của cổ đôngnắm giữ cổ phần ưu đãi cổ tức bằng cách không cho họ tham gia vào hoạtđộng quản trị công ty
Cổ phần ưu đãi hoàn lại: Là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp bất cứkhi nào theo yêu cầu của chủ sở hữu cổ phần hoặc theo các điều kiện ghi tại
cổ phần ưu đãi hoàn lại Cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi hoàn lại có lợi thế
về bảo toàn vốn nhưng cũng như cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi cổ tức họkhông có quyền can thiệp vào các quyết định của công ty
Cổ phần ưu đãi khác do công ty quy định: Ngoài các loại cổ phần ưu đãi nóitrên, tự công ty cổ phần có thể đưa ra thêm những loại cổ phần ưu đãi khác
để thu hút nhà đầu tư
I.2 Chào bán cổ phần ra công chúng
I.2.1 Định nghĩa
Trước đây, Nghị định 144/2003/NĐ-CP định nghĩa phát hành chứngkhoán ra công chúng là việc chào bán một lượng chứng khoán có thể chuyểnnhượng được thông qua tổ chức trung gian cho ít nhất 50 nhà đầu tư ngoài tổchức phát hành( Khoản 7 Điều 3 Nghị định 144/2003/NĐ-CP)
Trang 10Hiện nay, Luật chứng khoán 2006 đã có sự thay đổi về định nghĩa của chàobán chứng khoán ra công chúng: Chào bán chứng khoán ra công chúng làviệc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây:
+ Thông qua phương tiện thông tin đại chúng kể cả internet;
+ Chào bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên không kể nhàđầu tư chuyên nghiệp;
+ Chào bán cho số lượng nhà đầu tư không xác định
Đặc điểm của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng:
Hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng chỉ diễn ra trên thị trương sơcấp
Hoạt động chào bán cổ phiếu là hoạt động duy nhất có thể thiết lập đượcmối quan hệ giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có cơ hộigóp vốn vào công ty cổ phần: Với các hình thức công ty khác ngoài công ty
cổ phần như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, nhà đầu tưmuốn trở thành chủ sở hữu công ty bắt buộc phải tham gia vào hoạt độngthành lập công ty đó Đối với hình thức công ty cổ phần có nhiều ưu điểm donhà đầu tư chỉ cần có một lượng vốn nhất định là có thể tham gia sở hữu cổphiếu của công ty, qua đó sở hữu một phần công ty Công ty cổ phần muốntăng vốn điều lệ bằng cách bán cổ phần của mình cho các nhà đầu tư bắtbuộc phải thông qua hoạt động chào bán cổ phiếu Trong tất cả các hoạtđộng của thị trường cổ phiếu chỉ có hoạt động chào bán cổ phiếu là thiết lậpmối quan hệ giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư Khi chào bán cổ phiếucủa mình tổ chức phát hành công bố những thông tin về tình hình tài chính,lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động kinh doanh, bộmáy quản trị công ty Nhà đầu tư phân tích những thông tin do tổ chức pháthành cung cấp và quyết định đầu tư vào cổ phiếu và trở thành cổ đông củacông ty
Trang 11Trong hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng, tổ chức phát hành và nhàđầu tư không trực tiếp liên hệ với nhau mà bắt buộc phải qua trung gian làcông ty chứng khoán thực hiện tổ chức đấu giá cổ phần hoặc công ty chứngkhoán thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành cho doanh nghiệp Tổ chứcphát hành không được phép tự mình bán cổ phiếu cho nhà đầu tư mà buộcphải tuân theo một quy trình nghiêm ngặt để đảm bảo quyền lợi cho nhà đầutư.
Ý nghĩa của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng:
Cũng như hoạt động chào bán cổ phần nói chung chào bán cổ phần ra côngchúng là hoạt động thu hút đầu tư, tạo lập vốn điều lệ ban đầu hoặc tăng qui
mô vốn điều lệ để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, ưuđiểm của chào bán cổ phần so với các hình thức huy động vốn khác như vayvốn từ tổ chức tín dụng hay phát hành trái phiếu công ty là khoản thu được
từ chào bán cổ phiếu không cấu thành một khoản nợ mà công ty có tráchnhiệm hoàn trả, làm giảm áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công
ty Đối với tổ chức phát hành, một đợt chào bán cổ phần ra công chúngthành công có thể giúp hình ảnh, thương hiệu của công ty được phổ biếnrộng rãi, nâng cao uy tín của tổ chức phát hành Đối với toàn bộ nền kinh tế,hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng giúp cho khả năng luân chuyểnvốn hiệu quả, huy động được lượng vốn dư thừa trong xã hội
I.2.2 Hình thức chào bán cổ phần ra công chúng
Theo quy định tại Điều 11 Luật chứng khoán 2006, hình thức chào bán cổphần ra công chúng bao gồm:Chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng vàChào bán thêm cổ phần ra công chúng
Chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng
+ Chào bán cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn cho tổ chức phát hành:
Trang 12Công ty cổ phần được thành lập mới hoàn toàn huy động vốn điều lệ bằngcách chào bán cổ phiếu ra công chúng: Các cổ đông sáng lập của công typhải có
+ Chào bán cổ phiếu để chuyển đổi cơ cấu sở hữu thành công ty đại chúng
mà không làm thay đổi vốn điều lệ của công ty:
Tổ chức phát hành không phải là công ty mới thành lập, thực hiện chào bán
cổ phần ra công chúng để thay đổi cơ cấu sở hữu mà không làm tăng vốnđiều lệ của công ty
Công ty nhà nước cổ phần hóa chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng:Chủ trương của Nhà nước ta là đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhànước, chỉ giữ lại những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực, ngành nghề đặc biệtcần sự chỉ đạo của Nhà nước Hiện nay các công ty nhà nước cổ phần hóachiếm tỷ lệ lớn trong số các công ty cổ phần chào bán cổ phần lần đầu racông chúng
Căn cứ vào qui mô vốn điều lệ của công ty nhà nước cổ phần hóa, có baphương thức tổ chức đấu giá cổ phần lần đầu:
+ Đấu giá trực tiếp tại doanh nghiệp: Doanh nghiệp tự tổ chức bán đấu giá
cổ phần Thực hiện đối với các doanh nghiệp có tổng mệnh giá của số cổphần bán ra từ một tỷ đồng trở xuống Doanh nghiệp thành lập ban chỉ đạo
cổ phần hóa trực tiếp thực hiện bán đấu giá
+ Đấu giá tại các tổ chức tài chính trung gian: Phương thức này áp dụngđối với những doanh nghiệp cổ phần hóa có tổng mệnh giá của cổ phần bán
ra trên một tỷ đồng đến mười tỷ đồng Tuy nhiên, nếu tổ chức phát hành cótổng mệnh giá cổ phần bán ra từ một tỷ đồng trở xuống nhưng có nhu cầuvẫn được thuê tổ chức trung gian thực hiện bán đấu giá cổ phần Tổ chứctrung gian là công ty chứng khoán được tổ chức phát hành thuê để thực hiệnhoạt động đấu giá cổ phần Tổ chức trung gian có nghĩa vụ phối hợp với ban
Trang 13chỉ đạo cổ phần hóa tổ chức bán đấu giá cổ phần tại công ty chứng khoánhoặc tại địa điểm được thỏa thuận trong hợp đồng.
+ Đấu giá tại trung tâm giao dịch chứng khoán: Phương thức này áp dụngvới những doanh nghiệp cổ phần hóa có tổng mệnh giá cổ phần bán ra trênmười tỷ đồng hoặc dưới mười tỷ đồng nhưng có nhu cầu Ban quản chỉ đạo
cổ phần hóa thuê tổ chức trung gian hoặc trực tiếp đăng ký thực hiện đấu giávới trung tâm giao dịch chứng khoán ( thành phố Hà Nội hoặc thành phố HồChí Minh ) Sau đó, ban chỉ đạo cổ phần hóa phối hợp với Trung tâm giaodịch chứng khoán hoặc tổ chức tài chính trung gian thực hiện đấu giá cổphần
Trong trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa có tổng mệnh giá cổ phầnbán ra trên một tỷ đồng nhưng nằm ở vùng sâu không lựa chọn được tổ chứctài chính trung gian đảm nhận việc bán đấu giá, cơ quan quyết định cổ phầnhóa thông báo cho Bộ tài chính để lựa chọn phương thức đấu giá
Chào bán thêm cổ phần ra công chúng:
Công ty đại chúng có kết quả hoạt động kinh doanh tốt muốn tăng vốnđiều lệ mở rộng qui mô có thể chào bán thêm cổ phần ra công chúng Trình
tự chào bán cổ phần thêm ra công chúng cũng giống như chào bán cổ phầnlần đầu Tổ chức phát hành phải chứng minh được năng lực tài chính vànăng lực quản trị của mình trong hồ sơ chào bán cổ phiếu gửi lên Ủy banchứng khoán Nhà nước, sau đó tiến hành hoạt động chào bán như chào bán
cổ phần lần đầu Đặc điểm khác biệt của chào bán thêm cổ phần ra côngchúng là tổ chức phát hành phải dành quyền ưu tiên cho cổ đông của công ty
để bảo đảm quyền lợi của họ không thay đổi khi công ty chào bán thêm cổphiếu Quyền ưu tiên được thể hiện bằng chứng quyền do tổ chức phát hànhcung cấp cho các cổ đông, theo đó cổ đông được mua thêm một số lượng cổphiếu mới theo giá nhất định trong một thởi hạn nhất định để đảm bảo tỷ lệ
Trang 14sở hữu đối với phần vốn điều lệ của công ty Cổ đông có thể sử dụng dụngquyền ưu tiên của mình hoặc chuyển nhượng chứng quyền cho người khác.Giá đăng ký mua cổ phiếu và thời hạn đăng ký mua cổ phiếu trong chứngquyền do tổ chức phat hành quy định Giá đăng ký mua cổ phiếu luôn thấphơn giá thị trường của cổ phiếu và thời hạn đăng ký ngắn chỉ từ một đến sáutuần.
Cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng có quyền ưu tiên mua như cổđông phổ thông Tổ chức phát hành có thể phát hành cho cổ đông ưu đãichứng quyền hoặc bảo chứng phiếu Bảo chứng phiếu cũng quy định sốlượng cổ phiếu phổ thông được quyền mua nhưng có thời hạn dài hơn chứngquyền, hoặc thời hạn vĩnh viễn
Công ty đại chúng chào bán thêm cổ phần ra công chúng để thay đổi cơcấu sở hữu mà không làm tăng thêm vốn điều lệ: Công ty đại chúng đã thựchiện chào bán cổ phần ra công chúng nhưng chưa bán hết số lượng cổ phiếuđược phép phát hành Tổ chức phát hành thực hiện đợt chào bán thêm cổphiếu chưa phát hành ra công chúng Do công ty cổ phần chưa phát hành hết
cổ phần của mình ra công chúng nên khi thực hiện chào bán thêm cổ phiếucông ty không phát hành kèm theo chứng quyền cho cổ đông của công ty
I.2.3 Ưu điểm của của chào bán cổ phần ra công chúng
Lợi thế đầu tiên của chào bán cổ phần ra công chúng là khả năng thu đượclượng vốn lớn từ xã hội do không hạn chế số lượng nhà đầu tư, đặc biệt lànhà đầu tư cá nhân Công ty cổ phần thực hiện chào bán cổ phần riêng lẻ bịhạn chế số lượng cổ đông và thông thường chỉ bán cổ phần cho những nhàđầu tư có mối quan hệ mật thiết với tổ chức phát hành Nếu thực hiện chàobán cổ phần ra công chúng tổ chức phát hành chỉ cần cung cấp thông tin vềtình hình hoạt động của doanh nghiệp, khả năng tài chính và năng lực bộmáyquản trị theo quy định của pháp luật, những nhà đầu tư có nhu cầu sẽ
Trang 15tìm hiểu và quyết định mua cổ phiếu Như vậy, số luợng nhà đầu tư khônghạn chế là một ưu điểm lớn của phương thức chào bán cổ phần ra côngchúng Những nhà đầu tư cá nhân ít có cơ hội tham gia mua cổ phần của cáccông ty chào bán riêng lẻ do thiếu thông tin và tổ chức phát hành cũng bịhạn chế số luợng cổ đông.
Thứ hai, các loại cổ phiếu đuợc chào bán rộng rãi ra công chúng mới thực
sự là cổ phiếu có tính thanh khoản cao Khi nhà đầu tư muốn mua bánchuyển nhượng cổ phiếu đuợc chào bán rộng rãi, họ có toàn quyền tự dochuyển nhượng (trừ trường hợp cổ phiếu ưu đãi biểu quyết hoặc cổ phiếuphổ thông của của cổ đông sáng lập nếu chuyển nhượng phải tuân theo một
số yêu cầu của pháp luật ) Công ty cổ phần chào bán riêng lẻ luôn bị giớihạn số lượng cổ đông duới một trăm nhà đầu tư trừ nhà đầu tư chuyênnghiệp Chính vì vậy, khi một cổ đông muốn chuyển nhượng một phần cổphần của mình họ không thể tự do chuyển nhượng cho bất kỳ ai, mà phảiđảm bảo sau khi chuyển nhượng công ty cổ phần vẫn giữ đuợc số lượng cổđông duới một trăm (trừ cổ đông là nhà đầu tư chuyên nghiệp) Ngoài ra,chào bán cổ phiếu ra công chúng giúp cho cô rphiếu được niêm yết và giaodịch trên thị trường tập trung khiến cho hoạt động mua bán cổ phiếu dễdàngvà thuận tiện nhất
Thứ ba, chào bán cổ phiếu ra công chúng giúp tổ chức phát hành quảng báđược tên tuổi, thương hiệu của mình Để được cầp giấy chứng nhận chàobán cổ phần ra công chúng, công ty cổ phần phải thỏa mãn đuợc những điềukiện khắt khe về công bố thông tin, chế độ kiểm toán của các cơ quan quản
lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Do vậy, một công
ty có cổ phiếu đuợc chào bán rộng rãi mặc nhiên được đánh giá cao hơn cáccông ty khác cùng lĩnh vực ngành nghề mà không thực hiện chào bán cổphiếu ra công chúng Bên cạnh đó, nếu công ty làm ăn có hiệu quả cổ phiếu
Trang 16của công ty đó sẽ lên giá và thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư, như vậy
là công ty đó đã được quảng cáo bằng chính cổ phiếu của mình
1.2.4 Vai trò của chào bán cổ phần ra công chúng
Chào bán cổ phần ra công chúng không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với tổchức phát hành mà cả với nhà đầu tư và tòan bộ nền kinh tế:
Vai trò của chào bán cổ phần ra công chúng với tổ chức phát hành:
Để huy động vốn, doanh nghiệp có nhiều sự lựa chọn: vay vốn từ các tổchức tín dụng, phát hành trái phiếu hoặc phát hành cổ phiếu Trước khi ViệtNam có thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp chỉ có thể vay vốn từngân hàng với lãi suất nhất định trong một thời hạn nhất định và thường phảithế chấp tài sản cố định để bảo đảm khoản vay Sự ra đời của thị trườngchứng khoán Việt Nam cho phép các doanh nghiệp có thêm một kênh huyđộng vốn hiệu quả và linh hoạt Nguồn vốn huy động từ chào bán cổ phần racông chúng không cấu thành một khoản nợ mà công ty có trách nhiệm hoàntrả, giảm áp lực cho công ty
Vai trò của chào bán cổ phần ra công chúng với nhà đầu tư:
Nhà đầu tư được chia thành hai loại là: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tưchuyên nghiệp
+ Nhà đầu tư cá nhân chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình Từng cá nhânhoặc hộ gia đình riêng lẻ không có nhiều tiền nhưng với số lượng lớn nênlượng tiền nhàn rỗi rất lớn và thực sự đóng vai trò quan trọng nhất khi thamgia vào thị trường cổ phiếu nói riêng và thị trường chứng khoán nói chung.Hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng giúp cho tất cả các nhà đầu tư cókhả năng tham gia sở hữu cổ phiếu với số lượng bất kỳ Chỉ khi các công ty
cổ phần chọn hình thức chào bán cổ phần ra công chúng thì đông đảo cácnhà đầu tư cá nhân mới có cơ hội tham gia vào hoạt động mua cổ phiếu của
Trang 17công ty Đối với các đợt chào bán cổ phiếu riêng lẻ, nhà đầu tư cá nhân thực
sự không có nhiều cơ hội để tham gia sở hữu cổ phần của công ty vì bị hạnchế số lượng và thông tin Những công ty nhà nước cổ phần hóa chào bánriêng lẻ thường chỉ bán cho một bộ phận cán bộ công nhân viên của công ty,không thể bán hết cho tòan bộ người lao động vì hạn chế số lượng Thêmvào đó, khi người sở hữu cổ phần của công ty muốn chuyển nhượng cổphiếu lại bị ràng buộc bởi những qui định chuyển nhượng của công ty
+ Nhà đầu tư chuyên nghiệp các ngân hàng thương mại, công ty tài chính,công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanhchứng khoán Nhà đầu tư chuyên nghiêp khác nhà đầu tư cá nhân ở quy mô
tổ chức và nghiệp vụ ĐốI vớI hoạt động chào bán cổ phần ra công chúngcác tổ chức nói trên không chỉ là nhà đầu tư đơn thuần mà còn đóng vai tròtrung gian quan trọng giữa nhà đầu tư và tổ chức phát hành
Vai trò của chào bán cổ phần ra công chúng với toàn bộ nền kinh tếChào bán cổ phần ra công chúng là một bộ phận của chào bán cổ phần Nó
là hoạt động khởi điểm mở đầu cho mọi hoạt động của thị trường cổ phiếu
Cổ phiếu được giao dịch trên thị trường có đảm bảo tiêu chuẩn chất lượnghay không phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động chào bán
Để được chào bán cổ phiếu ra công chúng các công ty cổ phần phải đạt đủ một số điều kiện nhất định về vốn điều lệ, về kết quả kinh doanh trong một thời gian cụ thể, cùng các quy định khắt khe về kế toán và kiểm toán Sau khi phát hành cổ phiếu ra ra công chúng các công ty này phải tiếp tục duy trìchế độ báo cáo thông tin đầy đủ và minh bạch về những hoạt động của công
ty cũng như về tình hình tài chính dưới sự kiểm tra và giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Vì vậy, hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng sẽ tăng chất lượng và độ chính xác của các bản báo cáo tài chính, làm trong sạch môi trường đầu tư và kinh doanh Điều kiện, thủ tục chào bán cổ
Trang 18phiếu được lập theo chuẩn chung do nhà nước quy định nên nó vừa đảm bảo tính chính xác cao vừa thuận tiện cho việc so sánh đánh giá kết quả hoạt động của các công ty cổ phần.
II PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CỔ PHẦN RA CÔNG CHÚNG II.1 Khái niệm
Chào bán cổ phần ra công chúng là một hoạt động cơ bản và quan trọng củathị trường chứng khoán Tất cả các nước trên thế giới đểu có những quy địnhchi tiết điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng Chào bán cổphần ra công chúng mục đích là để thu hút lượng vốn dồi dào trong xã hội từtất cả các thành phần, bao gồm cả những nhà đầu tư nhỏ như cá nhân và hộgia đình đến những nhà đầu tư chuyên nghiệp là các tổ chức tín dụng, cáccông ty bảo hiểm và các công ty tài chính Khác với chào bán riêng lẻ chủyếu bán cổ phiếu cho những nhà đầu tư có mối quan hệ mật thiết với tổ chứcphát hành nên có khả năng tự mình tìm kiếm và phân tích thông tin, hoạtđộng chào bán cổ phần ra công chúng rất phức tạp Khi chào bán ra côngchúng các nhà đầu tư hầu như không tự mình tìm kiếm được thông tin màhoàn toàn phụ thuộc và những thông số do tổ chức phát hành đưa ra Chính
vì vậy để bảo vệ nhà đầu tư pháp luật chứng khoán tất cả cá nước đều có quyđịnh về chào bán cổ phần ra công chúng
II.2 Pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng ở một số nước trên thế giới :
Chứng khoán và thị trường chứng khoán ngày nay không còn xa lạ với hầu hết các quốc gia trên thế giới Đặc biệt, với các quốc gia phát triển thị trường chứng khoán đã trở thành một kênh dẫn vốn không thể thiếu được đối với nền kinh tế
Với vị trí là một hoạt động chủ chốt của thị trường chứng khoán, chàobán chứng khoán cũng có một lịch sử lâu đời Đi cùng với sự phát triển của
Trang 19hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng là sự hình thành và pháttriển của pháp luật điều chỉnh họat động chào bán cổ phần ra công chúng Pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng ở từng quốc gia có nhữngnét khác biệt Những quốc gia thuộc hệ thống Luật chung (điển hình là Anh)hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng được điều chỉnh bởi Luật Công
ty Các nước này cũng có luật chứng khoán nhưng luật chứng khoán chỉ đềcập đến các lĩnh vực của thị trường chứng khoán như các dịch vụ về chứngkhoán
Đối các quốc gia thuộc hệ thống Luật Châu Âu lục địa điển hình là Pháp
và đa số các quốc gia khác trên thế giới (Hàn Quốc, Thái Lan ) thì hoạtđộng phát hành cổ phần ra công chúng nằm trong hoạt động chào bán chứngkhoán ra công chúng được điều chỉnh bới Luật Chứng khoán và thị trườngchứng khoán hoặc có luật riêng là Luật phát hành chứng khoán Việc chàobán cổ phần ra công chúng cũng như chào bán chứng khoán phải được phépcủa cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán là Ủy ban Chứng khoán.(Dẫn theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, trung tâm nghiên cứu và bồidưỡng nghiệp vụ chứng khoán – Tập bài giảng Luật áp dụng trong ngànhchứng khoán, Hà Nội 2000 )
Về hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng các quốc gia trên thế giớinói chung đều thống nhất về một số quy định chung như:
- Quy định về công bố thông tin : Tất cả các nước trên thế giới đều có quyđịnh bắt buộc tổ chức phát hành phải công bố thông tin về tình hình doanhnghiệp: tình hình tài chính, bộ máy quản trị, kết quả hoạt động kinh doanh,các thông tin về cổ phiếu sắp phát hành, để giúp cho nhà đầu tư nắm đượcđầy đủ chính xác thông tin về cổ phiếu phát hành qua đó đưa ra quyết địnhđầu tư đúng đắn
Trang 20Theo Luật chứng khoán Mỹ tổ chức phát hành phải gửi kèm thông tin tàichính trong hồ sơ đăng ký, báo cáo định kỳ và các báo cáo khác, trình lên
Ủy ban chứng khoán và sẵn sàng cho công bố ra công chúng Tại TrungQuốc việc chào bán cổ phiếu ra công chúng phải được hội đồng thẩm định
và ban giám quản chứng khoán xét duyệt Luật Hàn Quốc quy định để chàobán chứng khoán trong đó có chào bán cổ phần ra công chúng công ty phảiđáp ứng các điều kiện về đăng ký và công bố thông tin do Ủy ban chứngkhoán quy định Công ty phát hành phải trình hồ sơ đăng ký cùng với tài liệu
về phương án phát hành cổ phiếu Sau khi hoàn thành việc đăng ký công typhải ký hợp đồng và đại lý chuyển nhượng để công bố và phân phối các cổphần Tại Thái Lan muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng tổ chức pháthành phải trình với Ủy ban chứng khoán là họ có kinh nghiệm phát hành vàviệc phát hành và khả thi về tài chính để xin phép cơ quan này cho phép pháthành cổ phiếu Tại Philippin, công ty phát hành phải thực hiện công bốthông tin theo quy định của Luật chứng khoán và của Ủy ban chứng khoán,cùng với việc công bố thông tin ra công chúng về lịch sử hoạt động của công
ty và ban quản trị cùng với những báo cáo tài chính đã kiểm toán
- Quy định về điều kiện phát hành:
Thông thường, những điều kiện cơ bản để chào bán cổ phiếu ra công chúng
mà Luật chứng khoán các nước đều quy định gồm:
_ Điều kiện về vốn: Ở mỗi quốc gia, điều kiện về vốn đối với hoạt độngchào bán ra công chúng là khác nhau
_ Điều kiện về thời gian hoạt động: Luật chứng khoán các nước thường quyđịnh công ty phả có thời gian hoạt động trên thực tế ít nhất là 2 năm
_ Điều kiện về năng lực quản trị công ty: Hội đồng quản trị công ty và bangiám đốc phải có trình độ năng lực và kinh nghiệm nhất định trong lĩnh vựckinh doanh của công ty