Số lượng các doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn bằng hình thức chào bán cổ phần ra công chúng ngày càng đa dạng, nhiều doanh nghiệp nhà nước sắp thực hiện cổ phần hóa hứa hẹn tạo nên s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Ths Nguyễn Mai Hân Nguyễn Thị Diệu
MSSV: 5095503
Trang 2LỜI CẢM ƠN
–&— Trải qua những năm tháng được học tập và rèn luyện tại trường Đại học Cần Thơ, giờ đây là một sinh viên sắp ra trường, em xin chân thành gởi lời cảm ơn đếntất cả quý thầy, cô trường Đại học Cần Thơ nói chung và thầy cô đang công tác trong Khoa Luật nói riêng đã tận tình dạy bảo, truyền đạt những kiến thức quý báo trong suốt khoảng thời gian em theo học tại trường
Đặc biệt, em xin cảm ơn chân thành nhất đến cô Nguyễn Mai Hân, không chỉ trên cương vị là Cán bộ hướng dẫn tận tình giúp em hoàn thành tốt Luận văn của mình, mà cô còn là một cán bộ giảng dạy luôn đầy lòng nhiệt huyết đối với sinh viên
Ngoài ra em xin gởi lời cảm ơn đến Thầy Cô đang công tác tại Trung tâm học liệu Trường Đại học Cần Thơ, Thư viện Khoa Luật Trường Đại Học Cần thơ, đã hết lòng giúp em trong việc cung cấp thông tin, tài liệu để phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình
Cùng tất cả bạn bè đã cùng tôi cảm nhận và chia sẻ những buồn vui của chốn giảng đường đại học trong suốt thời gian qua
Cuối cùng con xin cảm ơn gia đình đã tạo điều kiện tốt nhất để con có thể vững tâm thực hiện ước mơ theo học tại trường Đại học Cần Thơ trong suốt 4 năm qua
Xin gởi đến Cha, Mẹ, Thầy, Cô và bạn bè lời chúc sức khỏe, chúc tất cả mọi người luôn thành công trong công tác, trong học tập và hạnh phúc trong cuộc sống./
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
–&—
@
Cần Thơ, ngày 02 tháng 5 năm 2013 Giảng viên hướng dẫn NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN –&—
@
Cần Thơ, ngày 02 tháng 5 năm 2013
Giảng viên hướng dẫn
Trang 4NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
–&—
@
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2013 Giảng viên phản biện NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN –&—
@
Cần Thơ, ngày 02 tháng 05 năm 2013
Giảng viên chấm luận văn
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU .1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CHÀO BÁN CỔ PHẦN RA CÔNG CHÚNG 4
1.1 Khái quát về cổ phần và chào bán cổ phần ra công chúng 4
1.1.1 Khái quát cổ phần, cổ phiếu .4
1.1.2 Khái quát về chào bán cổ phần ra công chúng .8
1.2 Khái quát pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng 15
1.2.1 Các văn bản pháp luật quy định về chào bán cổ phần 15
1.2.2 Nội dung pháp luật chào bán cổ phần ra công chúng 17
1.3 Sự cần thiết phải có quy định của pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng 22
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CỔ PHẦN RA CÔNG CHÚNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 24
2.1 Chủ thể 24
2.1.1 Công ty cổ phần 24
2.1.2 Công ty Nhà nước cổ phần hóa 25
2.2 Điều kiện chào bán cổ phần ra công chúng 26
2.2.1 Điều kiện về chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng 26
2.2.2 Điều kiện về chào bán thêm cổ phần ra công chúng 27
2.2.3 Điều kiện chào bán cổ phần ra nước ngoài 28
2.3 Hồ sơ đăng ký chào bán cổ phần ra công chúng .30
2.3.1 Hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra ra công chúng 30
2.3.2 Trình tự thủ tục chào bán cổ phiếu ra công chúng 33
2.4 Đình chỉ, hủy bỏ hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng 35
2.4.1 Đình chỉ hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng 36
2.4.2 Hủy bỏ hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng 37 2.5 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng
Trang 737
2.5.1 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức phát hành 37
2.5.2 Quyền của nhà đầu tư 40
2.6 Quản lý của Nhà nước về hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng 41
2.6.1 Chính phủ 41
2.6.2 Bộ tài chính 43
2.6.3 Ủy ban chứng khoán Nhà nước 44
2.6.4 Trung tâm giao dịch chứng khoán .45
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CỔ PHẦN RA CÔNG CHÚNG .47
3.1 Tình hình chào bán chứng khoán ra công chúng trong giai đoạn hiện nay
47
3.2 Một số bất cập và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng 50
3.2.1 Một số bất cập trong hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng 50
3.2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chao bán cổ phần ra công chúng .54
Trang 8
LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng đang trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho việc hoạt động và phát triển của doanh nghiệp là cầu nối giữa doanh nghiệp cổ phần và nhà đầu tư Thị trường chứng khoán Việt Nam đang có những tăng trưởng rất ấn tượng nhưng vẫn còn đang trên
đà tăng trưởng, hàng loạt công ty cổ phần chào bán cổ phiếu ra công chúng tạo nên lượng cung lớn cho thị trường cổ phiếu Tuy nhiên thì thị trường chứng khoán vẫn còn r ất mới mẻ và chưa thực sự đi vào quỹ đạo Số lượng các doanh nghiệp
có nhu cầu huy động vốn bằng hình thức chào bán cổ phần ra công chúng ngày càng đa dạng, nhiều doanh nghiệp nhà nước sắp thực hiện cổ phần hóa hứa hẹn tạo nên sức hấp dẫn mới cho thị trường chứng khoán vốn có nhiều biến động Trong đó chào bán chứng khoán là hoạt động phát hành chứng khoán để thu hút vốn đầu tư là nhu cầu tất yếu nhằm thõa mãn nhu cầu vốn kinh doanh của chủ thể chào bán Có hai phương thức chào bán chứng khoán: chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán chứng khoán riêng lẻ trong đó chào bán chứng khoán ra công chúng sẽ cho phép doanh nghiệp huy động vốn một cách dễ dàng đáp ứng nhu cầu đa dạng về vốn trong quá trình hoạt động Tham gia hoạt động chào bán chứng khoán, các doanh nghiệp có điều kiện được đổi mới hình thức quản lý, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường
Để đảm bảo hoạt động chào bán chứng hoán ra công chúng của các doanh nghiệp diễn ra đúng pháp luật, thị trường chứng khoán vận hành an toàn bắt buộc phải có một hệ thống pháp luật tượng đối đồng bộ và hoàn chỉnh Luật chứng khoán
2006 ra đời đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng là một cơ sở pháp lý vững chắc cho thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và hoạt động phát hành, chào bán chứng khoán nói riêng Tuy nhiên, thực tế thi hành pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán trong thời gian qua cho thấy pháp luật về chào bán chứng khoán ra công chúng đã bọc lộ nhiều điểm hạn chế, vướn mắc gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình chào bán chứng khoán ra công chung để huy động vốn
và việc nghiên cứu pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết
Từ thực tiễn nêu trên, luận văn tiến hành nghiên cứu “Pháp luật về chào bán
cổ phần ra công chúng- Thực trạng và phương hướng hoàn thiện”, trong đó phân
Trang 9tích và đánh giá thực trạng để từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm:
Tìm hiểu một số khái niệm về công ty cổ phần, cổ phiếu, phát hành cổ phần,
Đưa ra các giải pháp hoàn thiện và mở rộng việc pháp hành cổ phần, cổ phiếu
ra công chúng ở Việt Nam hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Để thực hiện đề tài này, người viết tham khảo một số văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng như Luật chứng khoán 2006 sửa đổi, bổ sung 2010, Luật Doanh nghiệp 2005, Nghị định 58/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 20 tháng 7 năm 2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Nghị định 59/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18 tháng 7 năm 2011
về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, Thông tư 204/TT-BTC của Bộ tài chính ngày 19 tháng 11 năm 2012 hướng dẫn hồ sơ, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này được người viết khảo sát trong phạm vi nhất định về mặt không gian, thời gian và lĩnh vực nghiên cứu Trong đề tài này người viết chỉ tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng trong loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần
4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu một luân văn có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Tuy nhiên đối với đề tài này người viết sử dụng một số phương pháp như: phân tích luật, liệt kê, so sánh, ví dụ…Đồng thời có sử dụng một cách chọn các văn bản pháp luật có liên quan đến việc phát hành cổ phần ra công chúng Nhằm phân tích làm rõ những vấn đề có tính chất lý luận và thực tiễn về hoạt động chào bán cổ phần ra
Trang 10công chúng của loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần Từ đó đánh giá những thành tựu tồn tại, phân tích nguyên nhân để đưa ra những giải pháp khả thi và phù hợp
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục thì kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về pháp luật chào bán cổ phần ra công chúng
Trong chương 1, nội dung mà người viết tập trung để làm rõ là nêu lên các khái niệm về cổ phần, cổ phiếu, phân loại cổ phần, khái quát các quy định của pháp luật về cổ phần cổ phần, cổ phiếu Bên cạnh đó, nêu lên các đặc điểm cơ bản, vai trò, ý nghĩa về hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng
Chương 2: Pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng trong giai đoạn hiện nay
Trong chương 2 này thì người viết tập trung tìm hiểu quy định của pháp luật
về hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng
Chương 3: Thực trạng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
về chào bán cổ phần ra công chúng
Trong phần nội dung chương 3 này người viết nêu lên thực trạng cũng như những bất cập xuất phát từ những quy định của pháp luật và việc áp dụng pháp luật lien quan đến hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng Qua đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những vấn đề đã nêu
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CHÀO BÁN CỔ
PHẦN RA CÔNG CHÚNG 1.1 Khái quát về cổ phần và chào bán cổ phần ra công chúng
1.1.1 Khái quát về cổ phần, cổ phiếu
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm
v Khái niệm cổ phần
So sánh với các loại hình doanh nghiệp đang tồn tại trong nền kinh tế thị trường, công ty cổ phần có nhiều ưu điểm nỗi trội Một trong những lợi thế đặc biệt
của công ty cổ phần là khả năng chào bán cổ phần để thu hút vốn đầu tư
Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, công ty cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần (Điểm a Khoản 1 Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005) Vậy cổ phần là phần vốn nhỏ nhất của công ty cổ phần Vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần
Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông Cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ
chức Tùy theo loại cổ phần họ sở hữu mà có thể có tên gọi khác nhau như: cổ đông sáng lập, cổ đông phổ thông, cổ đông ưu đãi,…
v Khái niệm cổ phiếu
Luật doanh nghiệp 2005 định nghĩa “Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần công ty đó”.1 Theo luật chứng khoán 2006 sửa đổi, bổ sung 2010: “Cổ phiếu
là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn của tổ chức phát hành”.2 Như vậy cổ phiếu là chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền lợi hợp pháp của một chủ thể đối với một công ty cổ phần đã phát hành ra cổ phiếu Khi nói một người sở hữu cổ phiếu của một công ty tương đương với người đó sở hữu cổ phần chính công ty đó
Trang 12Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành hai dạng cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi
Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty: Được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh; Được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm soát công ty; Và phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình
Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần như cổ phiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiêm bị hạn chế: Lợi tức cố định, không có quyền bầu cử ứng cử
v Đặc điểm của cổ phần, cổ phiếu
Thứ nhất: Cổ phiếu có tính thanh khoản cao, nghĩa là khả năng chuyển đổi
thành tiền mặt dễ dàng Nhà đầu tư bỏ tiền ra mua cổ phiếu của một công ty, sau đó
dễ dàng bán đi để thu lại tiền đã đầu tư Tuy nhiên tính thanh khoản của cổ phiếu phụ thuộc vào hai yếu tố:
Một là, kết quả kinh doanh của công ty cổ phần đã phát hành cổ phiếu (còn gọi là tổ chức phát hành) Nếu tổ chức phát hành có kết quả kinh doanh tốt, thu được lợi nhuận cao, trả cổ tức cao sẽ thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư, khiến cổ phiếu của công ty có thể dễ dàng mua bán trao đổi Ngược lại, nếu tổ chức phát hành kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến tình trạng thua lỗ, nợ nần thì các nhà đầu tư không dám bỏ vốn mua cổ phần của công ty, dẫn đến cổ phiếu của công ty
có tính thanh khoản thấp
Hai là, quan hệ cung cầu trên thị trường cổ phiếu và thị trường chứng khoán Thị trường cổ phiếu cũng như các thị trường mua bán các loại hàng hóa khác đều chịu sự điều chỉnh của các quy luật thị trường đặt biệt là quy luật cung cầu Giá của
cổ phiếu trên thị trường không chỉ phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của bản thân tổ chức phát hành mà còn phụ thuộc vào nhu cầu của nhà đầu
tư Điều này dễ nhận thấy khi thị trường chứng khoán gặp biến động mạnh, các nhà đầu tư theo tâm lý chung sợ mất tiền nên ồ ạt bán ra cổ phiếu Cổ phiếu tràn ngập thị trường tạo ra nguồn cung quá lớn trong khi số lượng nhà đầu tư muốn mua vào quá ít, tính thanh khoản của cổ phiếu lúc này hạ xuống rất thấp Ngược lại, khi thị trường cổ phiếu khan hiếm hàng hóa, nhu cầu nhà đầu tư rất lớn thì ngay cả những
cổ phiếu có chất lượng thấp cũng dễ dàng bán được giá cao Ngoài ra các nhân tố
Trang 13khác như đầu cơ, móc ngoặc, lũng đoạn chứng khoán của cá nhân, tổ chức nhằm tạo
ra cung cầu chứng khoán giả tạo cũng làm tính thanh khoản bị méo mó
Thứ hai: Cổ phiếu có tính lưu thông Tính lưu thông là khả năng chuyển giao
quyền sở hữu cổ phiếu cho người khác như một tài sản thực sự Nếu như tính thanh khoản giúp chủ sở hữu cổ phiếu chuyển đổi cổ phiếu thành tiền mặt thì tính lưu thông đem lại cho người sở hữu nhiều khả năng sử dụng hơn như cho, tặng, thừa kế, hay cầm cố tại ngân hàng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tài sản khác
Thứ ba: Cổ phiếu có tính tư bản giả, có nghĩa là cổ phiếu là một loại giấy tờ
có giá trị như tiền Tuy nhiên, bản thân cổ phiếu không có giá trị nếu nó không được đảm bảo bằng tiền Mệnh giá của cổ phiếu cũng không phản ánh đúng giá trị thực của cổ phiếu, và người ta định giá cổ phiếu dựa trên nhiều phương pháp khác nhau
Thứ tư: Cổ phiếu có tính rủi ro, là những đe dọa về an toàn vốn và thu nhập
đối với nhà đầu tư Thể hiện rõ nét của đặc điểm này là cổ phiếu có thể xuống giá bất thường và đột ngột do những biến cố thất thường của thị trường, đem lại sự thua
lỗ nhanh chóng cho nhà đầu tư Nguyên nhân là: Giá trị của cổ phiếu không nằm trong ý định chủ quan của tổ chức phát hành hay nhà đầu tư, cổ phiếu có giá trị phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như tình hình tài chính của tổ chức phát hành, tình hình kinh tế xã hội nói chung và những yếu tố chính trị nhạy cảm Vì vậy, một biến động chính trị lớn có thể làm chao đảo thị trường chứng khoán, cũng như sự sụp đổ của thị trường chứng khoán của một quốc gia cũng có thể kéo theo sự khủng hoảng của thị trường chứng khoán nhiều nước khác, kéo theo giá của cổ phiếu sụt giảm bất thường Hơn nữa hoạt động mua bán cổ phiếu phụ thuộc vào rất nhiều thông tin trên thị trường, chỉ một thông tin bất lợi cho tổ chức phát hành dù chưa được kiểm chứng cũng dễ dàng gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng thanh khoản, lưu thông của cổ phiếu.3
1.1.1.2 Phân loại cổ phần
Theo pháp luật Việt nam hiện hành, cổ phần bao gồm cổ phần phổ thông và
cổ phần ưu đãi Công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phần phổ thông Cổ phần phổ
3 Đầu tư chứng khoán, một số điểm đặc trưng của cổ phiếu,
http://wss.com.vn/Tintuc/Chitiettintuc/tabid/315/ArticleID/45794/tid/257/Default.aspx, [truy cập ngày 2013]
Trang 1429-01-thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi
thành cổ phần phổ thông theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông
v Cổ phần phổ thông: Cổ phần phổ thông là cổ phần phổ biến nhất và bắt
buộc phải có đối với công ty cổ phần Tỷ lệ của giá trị vốn cổ phần phổ thông trên tổng giá trị vốn cổ phần của công ty do điều lệ công ty quyết định Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông Các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ 20% số cổ phần phổ thông được quyền chào bán của công ty trong ba năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
• Quyền và nghĩa vụ cơ bản của cổ đông phổ thông gồm: Tham gia Đại hội đồng cổ đông và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền Đại hội đồng Cổ đông được chia cổ tức khi công ty làm ăn có lãi Khi công ty giải thể phá sản, cổ đông chịu trách nhiệm trong phạm vi số cổ phần góp vào công ty
• Cổ phần phổ thông được quy định tại Khoản 1 Điều 78 Luật doanh nghiệp 2005: Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông, người sở hữu cổ phần phổ thông
là cổ đông phổ thông Chi tiết quyền và nghĩa vụ cổ đông phổ thông được Luật doanh nghiệp 2005 quy định tại Điều 79 và Điều 80 Luật doanh nghiệp 2005 cũng quy định quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông trừ trường hợp cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập (Khoản 5 Điều 84 Luật doanh nghiệp 2005)
v Cổ phần ưu đãi: Cổ phần ưu đãi là loại cổ phần mang lại cho người sở
hữu một số quyền ưu tiên so với cổ phiếu thưởng Cổ phần ưu đãi được quy định tại Khoản 2 Điều 78 Luật Doanh nghiệp 2005: “Công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu
đãi Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là “cổ đông ưu đãi”
Không phải mọi nhà đầu tư đều có quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi.Tùy từng loại cổ phần ưu đãi mà luật và điều lệ công ty cổ phần có quy định khác nhau về điều kiện nắm giữ và chuyển nhượng cổ phần ưu đãi
Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau:
• Cổ phần ưu đãi biểu quyết: Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số
biểu quyết cao hơn số biểu quyết của cổ phần phổ thông Số biểu quyết của cổ phần
ưu đãi biểu quyết do điều lệ công ty cổ phần quy định Chỉ có cổ đông sáng lập và
tổ chức do Chính phủ ủy quyền (đối với công ty Nhà nước cổ phần hóa) mới được quyền nắm giữ cổ phiếu biểu quyết Cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập cũng chỉ có hiệu lực trong ba năm kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, sau đó cổ phần biểu quyết của cổ đông sáng lập sẽ chuyển thành cổ phần
Trang 15phổ thông Luật Doanh nghiệp 2005 không có quy định về thời hạn hiệu lực của cổ phần ưu đãi biểu quyết do tổ chức Chính phủ ủy quyền nắm giữ Vì vậy có thể coi
cổ phần ưu đãi biểu quyết do tổ chức Chính phủ ủy quyền nắm giữ có hiệu lực vô thời hạn Mục đích của cổ phần ưu đãi biểu quyết là bảo vệ quyền lợi của cổ đông sáng lập trong thời gian hợp lý vừa đủ để duy trì sự ổn định của công ty mà không
bị hạn chế quyền của các cổ đông khác; và duy trì quyền kiểm soát của Nhà nước đối với công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực nghành nghề quan trọng cần có sự định hướng của Nhà nước
• Cổ phần ưu đãi cổ tức: Cổ phần ưu đãi cổ tức là cổ phần được trả cổ tức
cao hơn mức trả cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm Cổ tức được chia hằng năm bao gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng Cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức Mục đích của cổ phần
ưu đãi cổ tức là thu hút vốn điều lệ bằng tỷ lợi nhuận cao trên mỗi cổ phần, tuy nhiên cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Ban kiểm soát Điều kiện này để dung hòa quyền và nghĩa vụ của cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi có cổ tức bằng cách không cho họ tham gia vào hoạt động quản trị của công ty
• Cổ phần ưu đãi hoàn lại: cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần được công
ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của chủ sở hữu cổ phần hoặc theo các điều kiện ghi tại cổ phần ưu đãi hoàn lại Cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi hoàn lại có lợi thế về bảo toàn vốn nhưng cũng như cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi cổ tức họ không có quyền can thiệp vào mọi quyết định của công ty
• Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định: Ngoài các loại cổ
phần ưu đãi nói trên, công ty cổ phần có thể tự mình đưa ra thêm những loại cổ phần khác để thu hút nhà đầu tư
1.1.2 Khái quát về chào bán cổ phần ra công chúng
1.1.2.1 Định nghĩa chào bán cổ phần ra công chúng
Trước đây, Nghị định 144/2003/NĐ-CP định nghĩa phát hành chứng khoán
ra công chúng là việc chào bán một lượng chứng khoán có thể chuyển nhượng được thông qua tổ chức trung gian cho ít nhất 50 nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành ( Khoản 7 Điều 3 Nghị định 144/2003/NĐ-CP )
Trang 16Hiện nay, Luật chứng khoán 2006 quy định Chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức sau đây: Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả internet; Chào bán chứng khoán cho một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định.4
Có thể hiểu đó là quá trình bắt đầu từ việc tổ chức phát hành chào mời người đầu tư mua chứng khoán của mình và kết thúc bằng việc phát hành chứng khoán
Để bảo vệ công chúng đầu tư và qua đó duy trì lòng tin đối với thị trường chứng khoán, luật pháp về chứng khoán trên thế giới đều có những quy định quản lý hoạt động này, chủ yếu thông qua việc yêu cầu và giám sát tổ chức phát hành thực hiện công bố thông tin ngay từ khi bắt đầu chào mời công chúng đầu tư mua chứng khoán
Nguyên tắc của IOSCO5 (tổ chức các UBCK quốc tế): tổ chức phát hành cần công bố đầy đủ, chính xác và kịp thời các kết quả tài chính và các thông tin khác có tầm quan trọng đối với quyết định của người đầu tư
Trước đây, các Nghị định 48/1998 và 144/2003 đã sử dụng khái niệm “phát hành chứng khoán ra công chúng” là chưa phù hợp với chuẩn mực quốc tế và trong thực tiễn đã tạo nên nhiều kẽ hở để các tổ chức phát hành lách luật, thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng mà không công khai thông tin theo quy định (Với
lý do là khi chào bán, họ chưa biết là sẽ dẫn đến việc phát hành ra công chúng hay không)
Vì vậy, luật sử dụng khái niệm “Chào bán chứng khoán ra công chúng” thay cho khái niệm “phát hành chứng khoán ra công chúng” của các Nghị định 48/1998
và 144/2003 để điều chỉnh bất kỳ hành vi chào mời, bán hay phát hành chứng khoán cho công chúng
Như vậy, khái niệm “Chào bán chứng khoán ra công chúng” liên quan chặt chẽ đến phạm vi điều chỉnh của Luật trong lĩnh vực chào bán và phát hành chứng khoán, góp phần khắc phục một trong những trở ngại cơ bản đối với sự phát triển của thị trường chính thức hiện nay, đó là sự thiếu đồng bộ trong luật pháp điều chỉnh việc chào bán chứng khoán ra công chúng của các loại hình doanh nghiệp
Trang 171.1.2.2 Đặc điểm của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng:
Có thể hiểu, thị trường chứng khoán sơ cấp là thị trường hoạt động không liên tục, và nó chỉ hoạt động khi có đợt phát hành chứng khoán mới Tham gia vào thị trường chứng khoán sơ cấp chủ yếu là các nhà phát hành, các nhà đầu tư và các nhà bảo lãnh (trường hợp phát hành chứng khoán theo phương thức bảo lãnh phát hành) Tiền bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp thuộc về các nhà phát hành, do
đó hoạt động ở thị trường này đã làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế Khối lượng
và nhịp độ giao dịch ở thị trường sơ cấp thấp hơn nhiều so với thị trường thứ cấp Hoạt động chào bán cổ phần là hoạt động duy nhất có thể thiết lập được mối quan hệ giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có cơ hội góp vốn vào công ty cổ phần Hình thức công ty cổ phần có nhiều ưu điểm do nhà đầu
tư chỉ cần có một lượng vốn nhất định là có thể tham gia sở hữu cổ phiếu của công
ty, qua đó sở hữu một phần công ty Công ty cổ phần muốn tăng vốn điều lệ bằng cách bán cổ phần của mình cho các nhà đầu tư bắt buộc phải thông qua hoạt động chào bán cổ phiếu Trong tất cả các hoạt động của thị trường cổ phiếu chỉ có hoạt động chào bán cổ phiếu là thiết lập mối quan hệ giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư Khi chào bán cổ phiếu của mình tổ chức phát hành công bố những thông tin về tình hình tài chính, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động kinh doanh, bộ máy quản trị công ty Nhà đầu tư phân tích những thông tin
do tổ chức phát hành cung cấp và quyết định đầu tư vào cổ phiếu và trở thành cổ đông của công ty
Trong hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng, tổ chức phát hành và nhà đầu tư không trực tiếp liên hệ với nhau mà bắt buộc phải qua trung gian là công
ty chứng khoán thực hiện tổ chức đấu giá cổ phần hoặc công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành cho doanh nghiệp Tổ chức phát hành không được phép tự mình bán cổ phiếu cho nhà đầu tư mà buộc phải tuân theo một quy trình nghiêm ngặt để đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư
v Đặc điểm về mặt chủ thể: Chủ thể chào bán chứng khoán nói chung là
các tổ chức thực hiện các hoạt động chào bán chứng khoán để huy động vốn, bao gồm Chính phủ, các doanh nghiệp và các quỹ đầu tư chứng khoán (gọi chung là tổ chức phát hành)
v Đặc điểm về phạm vi và đối tượng chào bán: Đối tượng trong đợt chào
bán chứng khoán ra công chúng là một số lượng lớn công chúng đầu tư {theo Luật
Trang 18Chứng khoán Việt Nam là trên 100 nhà đầu tư, không kể các nhà đầu tư chuyên nghiệp (khoản 12 Điều 6 Luật Chứng khoán)} hay là một số lượng các nhà đầu tư không xác định, tức là không xác định về đối tượng cụ thể hay số lượng nhà đầu tư tham gia đợt phát hành
v Đặc điểm về cách thức chào bán: Việc chào bán chứng khoán ra công
chúng phải được tiến hành công khai, minh bạch, phải đảm bảo thông tin về đợt phát hành đến được các nhà đầu tư một cách đầy đủ và công bằng
v Chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng
Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng nhằm mục đích để huy động vốn cho tổ chức phát hành áp dụng khi Công ty cổ phần được thành lập mới hoàn toàn huy động vốn điều lệ bằng cách chào bán cổ phiếu ra công chúng Chào bán cổ phiếu để chuyển đổi cơ cấu sở hữu thành công ty đại chúng mà không làm thay đổi vốn điều lệ của công ty: Tổ chức phát hành không phải là công ty mới thành lập, thực hiện chào bán cổ phần ra công chúng để thay đổi cơ cấu sở hữu mà không làm tăng vốn điều lệ công ty
v Chào bán thêm cổ phần ra công chúng
Công ty đại chúng có kết quả hoạt động kinh doanh tốt muốn tăng vốn điều
lệ, mở rộng quy mô có thể chào bán thêm cổ phần ra công chúng Trình tự chào bán cổ phần thêm ra công chúng cũng giống như chào bán cổ phần lần đầu Tổ chức phát hành phải chứng minh được năng lực tài chính và năng lực quản trị của mình trong hồ sơ chào bán cổ phiếu gửi lên Ủy ban chứng khoán Nhà nước, sau
đó tiến hành hoạt động chào bán như chào bán cổ phần lần đầu
Trang 19Điểm khác biệt của chào bán thêm cổ phần ra công chúng là tổ chức phát hành phải dành quyền ưu tiên cho cổ đông của công ty để bảo đảm tỷ quyền lợi của họ không thay đổi khi công ty thay đổi quy mô vốn điều lệ Quyền ưu tiên được thể hiện bằng quyền mua cổ phần do tổ chức phát hành cung cấp cho các cổ đông, theo đó cổ đông được mua thêm một số lượng cổ phiếu mới theo giá nhất định trong một thời hạn nhất định để đảm bảo tỷ lệ sở hữu đối với phần vốn điều lệ của công ty Cổ đông có thể sử dụng dùng quyền ưu tiên của mình hoặc chuyển nhượng cho người khác Giá đăng ký mua cổ phiếu và thời hạn đăng ký mua cổ phiếu trong quyền mua cổ phần do tổ chức phát hành quy định Giá đăng ký mua
cổ phiếu luôn thấp hơn giá thị trường của cổ phiếu và thời hạn đăng ký ngắn chỉ từ một đến sáu tuần
Cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng có quyền ưu tiên mua như cổ đông phổ thông Tổ chức phát hành có thể phát hành cho cổ đông ưu đãi chứng quyền hoặc bảo chứng phiếu Bảo chứng phiếu cũng quy định số lượng cổ phiếu phổ thông được quyền mua nhưng có thời hạn dài hơn chứng quyền, hoặc thời hạn vĩnh viễn
Công ty đại chúng chào bán thêm cổ phần ra công chúng để thay đổi cơ cấu
sở hữu mà không làm tăng thêm vốn điều lệ: Đây là trường hợp công ty đại chúng
đã thực hiện chào bán cổ phần ra công chúng nhưng chưa bán hết số lượng cổ phiếu được phép phát hành Tổ chức phát hành thực hiện đợt chào bán thêm cổ phiếu chưa phát hành ra công chúng Do công ty cổ phần chưa phát hành hết cổ phần của mình ra công chúng nên khi thực hiện chào bán thêm cổ phiếu công ty không phát hành kèm theo chứng quyền cho cổ đông của công ty
Như vậy, hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng gồm hai hình thức
cơ bản là chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng và chào bán thêm chứng khoán ra công chúng Chào bán lần đầu ra công chúng là việc chào bán mà chứng khoán được bán rộng rãi ra công chúng nhằm mục đích huy động vốn cho tổ chức phát hành hoặc để trở thành công ty đại chúng Còn chào bán thêm ra công chúng là việc chào bán bổ sung chứng khoán của công ty đại chúng nhằm mục đích tăng vốn điều lệ hoặc chỉ nhằm thay đổi cơ cấu sở hữu của công ty đại chúng
1.1.2.4 Vai trò của chào bán cổ phần ra công chúng với nền kinh tế
Chào bán cổ phần ra công chúng không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với
tổ chức phát hành mà cả với nhà đầu tư và toàn bộ nền kinh tế:
Trang 20v Đối với tổ chức phát hành chào bán cổ phần ra công chúng là công cụ
huy động vốn hiệu quả và linh hoạt, giúp các doanh nghiệp giải quyết được những khó khăn về vốn mà không bị phụ thuộc quá nhiều vào vốn tín dụng ngân hàng, tiết kiệm được chi phí Hơn nữa, có khả năng đem lại cho doanh nghiệp nguồn vốn dài hạn và ổn định hơn so với các nguồn vốn vay từ ngân hàng Đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả
v Đối với nhà đầu tư hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng là cơ
hội tốt để họ góp vốn vào những công ty có triển vọng kinh doanh tốt, tăng khả năng sinh lợi cho đồng tiền của mình Nhà đầu tư được chia thành hai loại là: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổ chức hay còn gọi nhà đầu tư chuyên nghiệp
• Nhà đầu tư cá nhân
Nhà đầu tư cá nhân chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình Từng cá nhân
và hộ gia đình riêng lẻ không có nhiều tiền nhưng chiếm số lượng lớn trong xã hội và là đối tượng chính hoạt động chào bán ra công chúng nhắm đến Chỉ khi các công ty cổ phần chọn hình thức chào bán cổ phần ra công chúng thì đông đảo các nhà đầu tư cá nhân mới có cơ hội tham gia vào hoạt động mua cổ phiếu của công ty Đối với các đợt chào bán cổ phiếu riêng lẻ, nhà đầu tư cá nhân thực sự không có nhiều cơ hội trở thành cổ đông của công ty vì bị hạn chế số lượng và thông tin Những công ty nhà nước cổ phần hóa chào bán riêng lẻ thường chỉ bán cho một bộ phận cán bộ công nhân viên của công ty, không thể bán hết cho toàn
bộ người lao động vì hạn chế số lượng Thêm vào đó, các nhà đầu tư cá nhân khi muốn chuyển nhượng cổ phiếu chào bán riêng lẻ gặp khó khăn hơn so với cổ phiếu được chào bán ra công chúng vì ràng buộc bởi những quy định về điều kiện chuyển nhượng của công ty
• Nhà đầu tư chuyên nghiệp
Nhà đầu tư chuyên nghiệp là các Ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh doanh chứng khoán Là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Nhà đầu tư chuyên nghiêp khác nhà đầu tư cá nhân ở quy mô tổ chức và nghiệp vụ Đối với hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng các tổ chức nói trên không chỉ là nhà đầu tư đơn thuần mà còn đóng vai trò trung gian quan trọng giữa nhà đầu tư và tổ chức phát hành
• Đối với chính phủ
Trang 21Việc chào bán chứng khoán có khả năng giúp Chính phủ thu hút được nguồn vồn lớn thường là để bù đắp thâm hụt ngân sách và thực hiện các dự án xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho đất nước
• Đối với nền kinh tế
Chào bán chứng khoán sẽ mang lại nguồn vốn cần thiết thút đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
1.1.2.5 Ưu điểm của chào bán cổ phần ra công chúng
Cũng như hoạt động chào bán cổ phần nói chung, chào bán cổ phần ra công chúng là hoạt động thu hút đầu tư, tạo lập vốn điều lệ ban đầu hoặc tăng qui mô vốn điều lệ để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh So với các phương pháp huy động vốn đầu tư khác như vay vốn từ tổ chức tín dụng hoặc phát hành trái phiếu công ty, huy động vốn bằng chào bán cổ phần ra công chúng có nhiều ưu điểm :
Thứ nhất, khoản thu được từ chào bán cổ phiếu không cấu thành một khoản
nợ mà công ty có trách nhiệm hoàn trả, làm giảm áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công ty
Thứ hai, khả năng thu được lượng vốn lớn từ xã hội do không hạn chế số
lượng nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân Công ty cổ phần thực hiện chào bán cổ phần riêng lẻ bị hạn chế số lượng cổ đông và thông thường chỉ bán cổ phần cho những nhà đầu tư có mối quan hệ mật thiết với tổ chức phát hành Nếu thực hiện chào bán cổ phần ra công chúng tổ chức phát hành chỉ cần cung cấp thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, khả năng tài chính và năng lực
bộ máy quản trị theo quy định của pháp luật, những nhà đầu tư có nhu cầu sẽ tìm hiểu và quyết định mua cổ phiếu
Thông tin về tổ chức phát hành được công bố rộng rãi là cơ hội để mọi nhà đầu tư, đặc biệt là những nhà đầu tư cá nhân có cơ hội góp vốn Số lượng nhà đầu tư không bị hạn chế tạo cho tổ chức phát hành cơ hội huy động được nguồn vốn
dư thừa dồi dào trong công chúng Đây là ưu điểm nổi bật của hình thức chào bán
ra công chúng
Thứ ba, các loại cổ phiếu đuợc chào bán rộng rãi ra công chúng mới thực sự
là cổ phiếu có tính thanh khoản cao Nhà đầu tư sở hữu cổ phiếu được chào bán ra công chúng có toàn quyền tự do chuyển nhượng cổ phiếu của mình (trừ trường hợp cổ phiếu ưu đãi biểu quyết hoặc cổ phiếu phổ thông của của cổ đông sáng
Trang 22lập khi chuyển nhượng phải tuân theo một số yêu cầu của pháp luật) Công ty cổ phần chào bán riêng lẻ luôn bị giới hạn số lượng cổ đông dưới một trăm nhà đầu
tư trừ nhà đầu tư chuyên nghiệp Chính vì vậy, khi một cổ đông muốn chuyển nhượng một phần cổ phần của mình, họ không thể tự do chuyển nhượng cho bất
kỳ ai, mà phải đảm bảo sau khi chuyển nhượng công ty cổ phần vẫn giữ được số lượng cổ đông dưới một trăm (trừ cổ đông là nhà đầu tư chuyên nghiệp) Ngoài
ra, chào bán cổ phiếu ra công chúng giúp cho cổ phiếu được niêm yết và giao dịch trên thị trường tập trung khiến cho hoạt động mua bán cổ phiếu dễ dàng và thuận tiện
Thứ tư, chào bán cổ phiếu ra công chúng giúp tổ chức phát hành quảng bá
được tên tuổi, thương hiệu của mình Để được cấp giấy chứng nhận chào bán cổ phần ra công chúng, công ty cổ phần phải thỏa mãn đuợc những điều kiện khắt khe
về công bố thông tin, chế độ kiểm toán của các cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Do vậy, một công ty có cổ phiếu đuợc chào bán rộng rãi mặc nhiên được đánh giá cao hơn các công ty khác cùng lĩnh vực, ngành nghề không thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng Một công ty đại chúng có kết quả kinh doanh tốt sẽ thu hút được nhiều sự chú ý của các nhà đầu tư, cổ phiếu của công ty lên giá và qua đó công ty được quảng bá bằng chính cổ phiếu của mình
1.2 Khái quát pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng
1.2.1 Các văn bản pháp luật quy định về chào bán cổ phần ra công chúng
Thị trường chứng khoán Việt Nam tuy mới chính thức đi vào hoạt động từ ngày 20 tháng 7 năm 2000 nhưng đến nay đã có nhiều bước phát triển ấn tượng Song song với sự phát triển của thị trường chứng khoán là hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng, pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này đã có nhiều thay đổi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thị trường
Nghị định 48/1998/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 11 tháng 7 năm 1998 là tiền thân của Nghị định 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28 tháng 11 năm
2003 và Luật chứng khoán 2006 văn bản đầu tiên điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán trong đó có hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng
Ra đời cùng với Nghị định 48/1998/NĐ-CP là quyết định 127/1998/QĐ-TTg về việc thành lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Trang 23Minh, tạo thị trường giao dịch tập trung cho hoạt động mua bán chứng khoán nói chung và hoạt động mua bán cổ phiếu nói riêng
Trong năm năm đầu đi vào hoạt động (2000-2004) thị trường chứng khoán Việt Nam không có nhiều phát triển, hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng cũng không thể hiện được bộ mặt của nền kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam hầu như không thiết tha với phương thức huy động vốn được đánh giá là rất linh hoạt và hiệu quả này Nghị định 144/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28 tháng
11 năm 2003 về Chứng khoán và thị trường chứng khoán ra đời được đánh giá là chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển của thị trường chứng khoán
và hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng
Trước yêu cầu xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về chứng khoán
và thị trường chứng khoán, ngày 29 tháng 6 năm 2006, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật chứng khoán 2006 Luật chứng khoán 2006 đã hệ thống lại toàn diện các quy phạm điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán trong đó có những nội dung quan trọng của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng: Điều kiện chào bán, thủ tục trình tự chào bán theo sau đó là hàng loạt các văn bản như Nghị định 14/2007/NĐ-CP nghị định của Chính phủ ngày 19 tháng 01 năm 2007 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán 2006 Gần đây nhất ngày 24 tháng 11 năm 2010 Quốc hội đã thông qua Luật số 62/2010/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán năm 2006
Năm 2006 là một năm có nhiều sự kiện quan trọng về kinh tế xã hội như Việt Nam đạt được quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Hoa
Kỳ và gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO là động lực thúc đẩy sự phát triển ấn tượng của thị trường chứng khoán Việt Nam Hoạt động chào bán cổ phần
ra công chúng của các công ty cổ phần thuộc mọi lĩnh vực kinh doanh phát triển mạnh mẽ và nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết Để trợ giúp cho hoạt động thực thi Luật Chứng khoán 2006 về chào bán cổ phần ra công chúng được hiệu quả, các cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán đã xây dựng và ban hành thêm những văn bản hướng dẫn như: Thông tư 211/2012/BTC ngày 05 tháng 12 năm 2012 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp; Thông tư 204/2012/BTC ngày 19 tháng 12 năm 2012 hướng dẫn hồ sơ, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng; Thông tư 130/2012/BTC ngày 10 tháng 8 năm
2012 hướng dẫn việc Công ty đại chúng mua lại cổ phiếu, bán cổ phiếu quỹ, phát hành cổ phiếu để trả cổ tức, phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn
Trang 24chủ sở hữu, phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động trong công ty của công ty đại chúng; Thông tư 121/2012/BTC ngày 26 tháng 7 năm
2012 quy định về quản trị công ty áp dụng cho công ty đại chúng; Thông tư 202/2011/BTC ngày 30 tháng 12 năm 2011 hướng dẫn xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa; Nghị định 84/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 14/2007NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm
2007 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán; Nghị định 25/2010/NĐ-CP ngày 19 tháng 03 năm 2010 về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu; Nghị định 58/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 20 tháng 7 năm 2012 về hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán 2006 trong đó có chi tiết hóa các quy định về chào bán cổ phần
ra công chúng;
Bên cạnh đó, một văn bản rất quan trọng cũng điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng của đối tượng doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa là Nghị định 59/2011/ NĐ- CP của Chính phủ ngày 18 tháng 7 năm 2011 Tổng hợp những văn bản pháp lý nói trên tạo thành hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng ở Việt Nam
1.2.2 Nội dung pháp luật chào bán cổ phần ra công chúng
Luật Chứng khoán 2006 ra đời đã luật hóa những quy định về chào bán cổ phần ra công chúng, tạo điều kiện để hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng được thực hiện hiệu quả và thống nhất Kết hợp với các quy định tại Nghị định 59/2011/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản dưới luật khác, pháp luật chào bán
cổ phần ra công chúng điều chỉnh những nội dung sau:
1.2.2.1 Chủ thể của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng
Chủ thể chào bán cổ phần ra công chúng là những công ty cổ phần được phép của Ủy ban chứng khoán nhà nước sau khi đã đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện chào bán và trình tự thủ tục chào bán cổ phần ra công chúng
v Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập với những chủ sở hữu công ty Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành nhằm mục đích huy động vốn của các nhà đầu tư từ mọi thành phần kinh tế Các nhà đầu tư khi
Trang 25mua cổ phần của công ty trở thành chủ sở hữu một phần vốn góp của công ty gọi
là cổ đông của công ty Cổ đông được quyền tham gia quản lý kiểm soát điều hành công ty thông qua việc bầu cử và ứng cử vào các vị trí trong Ban quản lý, Ban kiểm soát, Ban điều hành Ngoài ra cổ đông được hưởng các khoản lợi nhuận
do công ty tạo ra được cũng như chịu lỗ tương ứng với mức độ đóng góp (tỉ lệ thuận với cổ phần của họ)
v Công ty Nhà nước cổ phần hóa
Công ty Nhà nước cổ phần hóa là các doanh nghiệp Nhà nước được chuyển đổi hình thức sở hữu từ một trăm phần trăm vốn Nhà nước hoặc có tỉ lệ vốn góp chi phối (từ năm mươi mốt phần trăm trở lên) thành công ty cổ phần Mục tiêu chuyển đổi công ty Nhà nước thành công ty cổ phần nhằm huy động nguồn vốn của các cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước nhằm nâng cao công nghệ cải tiến kỹ thuật đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Đối tượng cổ phần hóa bao gồm:
• Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế; Tổng công ty nhà nước (kể
cả Ngân hàng Thương mại nhà nước)
• Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là doanh nghiệp thuộc các Bộ; cơ quan ngang Bộ; cơ quan thuộc Chính phủ; Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
• Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước chưa chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Những doanh nghiệp do Nhà nuớc nắm một trăm phần trăm vốn là đối tượng
cổ phần hóa được quy định trong danh mục cụ thể do Thủ tướng Chính phủ ban hành
1.2.2.2 Điều kiện chào bán cổ phần ra công chúng
Tùy theo từng loại công ty cổ phần mà pháp luật đòi hỏi điều kiện khác nhau đối với hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng:
v Công ty cổ phần
Trang 26Là công ty cổ phần ngoài quốc doanh, điều kiện chào bán cổ phần ra công chúng của loại hình công ty cổ phần này hoàn toàn tuân theo Luật Doanh nghiệp
2005 và Luật Chứng khoán 2006
• Điều kiện về tư cách của doanh nghiệp: là công ty cổ phần được thành lập hợp pháp, có điều lệ công ty không trái với quy định của Luật doanh nghiệp 2005
• Điều kiện về vốn: Vốn điều lệ đã góp phải đạt mười tỷ đồng trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán ( Điểm a Khoản 1 Điều 12 Luật chứng khoán
2006 )
• Điều kiện về tình hình hoạt động của công ty: Công ty phải có kết quả kinh doanh tốt, có lãi trong năm liền trước năm đăng ký hồ sơ chào bán, không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán cổ phần ra công chúng
• Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn được Đại hội đồng cổ đông thông qua
v Công ty nhà nước cổ phần hóa
Đối với công ty nhà nước cổ phần hóa đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng thì phải thỏa mãn được các điều kiện quy định tại Nghị định 59/2011/NĐ-
CP của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty
cổ phần
• Công ty nhà nước không nắm 100% vốn: Điều kiện cổ phần hóa
là Phải đảm bảo đủ 02 điều kiện: Không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn điều lệ tức vẫn còn vốn Nhà nước (không tính giá trị quyền sử dụng đất) sau khi giảm trừ giá trị tài sản không cần dùng và tài sản chờ thanh lý; các khoản tổn thất do th u a lỗ, giảm giá trị tài sản; công nợ không có khả năng thu hồi
và chi phí cổ phần hóa; Còn vốn Nhà nước sau khi đã xử lý tài chính và đánh giá lại
giá trị doanh nghiệp
• Đối với đơn vị hạch toán độc lập của các công ty Nhà nước
không nắm 100% vốn đòi hỏi đơn vị hạch toán phụ thuộc phải có điều kiện hạch toán độc lập và khi tách đơn vị để cổ phần hóa thì không làm ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ho Đối với đơn vị hạch toán độc lập của các công ty Nhà nước không nắm 100% vốn đòi hỏi đơn vị hạch toán phụ thuộc phải có điều kiện hạch toán độc lập và khi tách đơn vị để cổ phần hóa
Trang 27thì không làm ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc của các bộ phận khác của doanh nghiệp
• Các đối tượng khác: Công ty Nhà nước độc lập, các công ty mẹ
thuộc tập đoàn kinh tế Nhà nước… chuyển đổi thành công ty cổ phần thì do Chính phủ phê duyệt
Sau khi đạt điều kiện chuyển đổi thành công ty cổ phần, cơ quan quyết định cổ phần hóa sẽ quyết định hình thức chào bán cổ phần là chào bán cổ phần
ra công chúng hoặc chào bán cổ phần riêng lẻ
Đối với trường hợp sau khi đã xử lý tài chính và xác định ại giá trị doanh nghiệp mà giá trị thực tế thấp hơn các khoản phải thì theo Nghị định 59/2011/NĐ-
CP là cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hóa chỉ đạo doanh nghiệp phối hợp với công ty Mua bán nợ Việt nam và các chủ nợ của doanh nghiệp xây dựng lại phương án tái cơ cấu doanh nghiệp; trường hợp phương án tái cơ cấu doanh nghiệp không khả thi và hiệu quả thì chuyển sang các hình thức chuyển đổi khác theo quy định pháp luật
1.2.2.3 Thủ tục chào bán cổ phần ra công chúng
Trừ trường hợp doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa, tất cả các công ty cổ phần muốn thực hiện chào bán cổ phần ra công chúng trước hết phải đăng ký với
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Hồ sơ đăng ký chào bán cổ phần ra công chúng được quy định tại Khoản
1 Điều 14 Luật Chứng khoán 2006 được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư số 204/2012/TT-BTC của Bộ tài chính được ban hành ngày 19/11/2012 hướng dẫn
hồ sơ, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng có hiệu lực từ ngày 03/01/2013 Theo đó, hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng gồm: Giấy đăng ký chào bán ra công chúng được lập theo mẫu do Bộ tài chính quy định;
• Bản cáo bạch;
• Điều lệ công ty;
• Quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán;
• Cam kết bảo lãnh phát hành (nếu có): Cam kết bảo lãnh phát hành thực hiện theo quy định của Bộ tài chính, trường hợp có tổ hợp bảo lãnh phát hành, thì
Trang 28cam kết bảo lãnh phát hành của tổ chức bảo lãnh phát hành chính phải kèm theo hợp đồng giữa các tổ chức phát hành Các tài liệu về cam kết bảo lãnh phát hành có thể gửi sau các tài liệu khác, nhưng chậm nhất phải trước ngày Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy chứng nhận đăng ký chào bán Nếu thực hiện bảo lãnh là tổ hợp các công ty chứng khoán thì cam kết phát hành là của tổ chức bảo lãnh phát hành chính có kèm theo hợp đồng giữa các tổ chức bảo lãnh phát hành;
• Quyết định của Hội đồng quản trị công ty thông qua hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng Đối với việc chào bán cổ phiếu ra công chúng của
tổ chức phát hành thuộc nghành nghề kinh doanh có điều kiện, hồ sơ phải có văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước chu yên nghành.(Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là quyết định của Hội đồng quản trị doanh nghiệp liên doanh hoặc quyết định của chủ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) Trường hợp tổ chức phát hành là tổ chức tín dụng thì hồ sơ phải có văn bản chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
• Trường hợp một phần hoặc toàn bộ hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng được tổ chức, cá nhân có liên quan xác nhận thì tổ chức phát hành phải gửi văn bản xác nhận của tổ chức, cá nhân đó cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;
• Trường hợp sử dụng vốn cho mục đích đầu tư, kinh doanh, phát triển
dự án bất động sản, hồ sơ phải có tài liệu pháp lý liên quan đến quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận đầu tư, các thông tin liên quan đến việc đền bù, giải phóng mặt bằng, quyết định phê duyệt phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán và kế hoạch chi tiết về việc sử dụng vốn;
• Hợp đồng tư vấn hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng với công ty chứng khoán, ngoại trừ trường hợp tổ chức phát hành là công ty chứng khoán
Đối với trường hợp đặc biệt khi tổ chức phát hành là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần hoặc doanh nghiệp thành lập mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặc công nghệ cao, hồ sơ đăng ký chào bán cổ phiếu ra công chúng tuân theo quy định chi tiết tại Thông tư số 204/2012/TT-BTC của Bộ tài chính ban hành ngày 19 tháng 11 năm 2012 về hướng dẫn hồ sơ, thủ tục chào bán chứng khoán ra công chúng
Trang 29Sau khi hoàn tất nội dung tổ chức phát hành gửi hồ sơ chào bán cổ phần ra công chúng lên Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và trong vòng ba mươi ngày, nếu không có gì thiếu sót Ủy ban sẽ cấp giấy chứng nhận chào bán cổ phần ra công chúng cho tổ chức phát hành Trường hợp hồ sơ không đạt yêu cầu Ủy ban Chứng khoán Nhà nước gửi trả lại cho tổ chức phát hành kèm theo văn bản nêu rõ ký do
hồ sơ không được chấp thuận
Trong thời hạn ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, tổ chức phát hành gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
06 bản cáo bạch chính thức để hoàn thành thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng
Tổ chức phát hành sau khi được cấp giấy chứng nhận tiến hành hoạt động phân phối cổ phiếu theo nguyên tắc công bằng công khai Tiền mua cổ phiếu được chuyển vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng cho đến khi hoàn tất việc chào bán Việc phân phối cổ phiếu phải được hoàn tất trong vòng chín mươi ngày
kể từ khi Giấy chứng nhận chào bán cổ phiếu có hiệu lực
Kết thúc đợt chào bán, tổ chức phát hành thực hiện chuyển giao cổ phiếu hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu cổ phiếu cho nhà đầu tư trong thời hạn ba mươi ngày
1.3 Sự cần thiết phải có quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng
Xuất phát từ Nghị định 75/1996/NĐ - CP về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Nghị định 48/1998/NĐ - CP về chứng khoán và TTCK, Nghị định 144/2003/NĐ - CP về chứng khoán và TTCK (thay thế Nghị định 48) và hiện nay là Luật Chứng khoán năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm
2010, đến hàng loạt các văn bản hướng dẫn thi hành về chứng khoán, TTCK Các văn bản này là cơ sở pháp lý vững chắc cho sự vận hành và phát triển TTCK ở Việt Nam Điều này thể hiện sự quan tâm sát sao của Đảng và Nhà nước ta về loại thị trường tài chính đặc biệt này và cũng khẳng định quan điểm: muốn có một TTCK phát triển phải có một hệ thống luật pháp đầy đủ và ổn định Có thể nói, TTCK không thể vận hành và phát triển mạnh nếu không có một khuôn khổ pháp lý cần thiết cho tổ chức và hoạt động của nó Trong việc đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của TTCK thì yếu tố đầu tiên là môi trường pháp
Trang 30lý, yếu tố thứ hai là hàng hoá trên thị trường và tiếp theo là tình hình chính trị và sự hiểu biết của công chúng về chứng khoán
Do đó, việc phát hành chứng khoán ra công chúng cần được Nhà nước quản lý một cách thống nhất nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người đầu tư và
sự lành mạnh của TTCK Người đầu tư bao giờ cũng có nhu cầu được cung cấp thông tin trung thực và chính xác về tổ chức phát hành để có thể ra quyết định đầu
tư một cách có cơ sở Hơn nữa, người đầu tư thông thường sẽ chỉ chọn mua chứng khoán của những tổ chức phát hành làm ăn nghiêm chỉnh, có triển vọng phát triển Vì vậy, tổ chức phát hành chứng khoán ra công chúng phải thực hiện công
bố thông tin trước và sau khi phát hành một cách thường xuyên Hơn nữa, chỉ những tổ chức phát hành có quy mô nhất định và sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì chứng khoán của họ mới được niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung, bởi
vì việc niêm yết chứng khoán là một hình thức chào bán chứng khoán cho công chúng một cách liên tục trên thị trường thứ cấp (thị trường mua, bán lại)
Với chức năng bảo vệ người đầu tư và xây dựng thị trường chứng khoán
an toàn, công khai và hiệu quả, Cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán thường được giao nhiệm vụ giám sát việc công khai hóa thông tin của các tổ chức phát hành chứng khoán ra công chúng Nhằm mục đích đó, việc phát hành chứng khoán ra công chúng phải được đăng ký với Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
Tóm lại: Trong chương 1 người viết tập trung phân tích những vấn đề lý luận
về chào bán cổ phần ra công chúng về khái niệm, vai trò và đặc điểm của hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng Người viết nhận thấy rằng: Hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng là hoạt động thu hút vốn đầu tư nhàn rỗi trong công chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của tổ chức phát hành Đây là hoạt động đem lại những hiệu quả tích cực không những cho chủ thể chào bán mà còn cho cả nền kinh tế Tuy nhiên bên cạnh đó cũng tồn tại song song những bất cập do sự không rõ ràng, thiếu đồng bộ trong quy định của luật nên cũng dẫn đến những hiện tượng tiêu cực như phát hành chui, sự thiếu minh bạch trong công bố thông tin, biện pháp xử lý hành chính chưa đủ mạnh làm cho thị trường chứng khoán phát triển không bền vững Đó là nguyên nhân để người viết tiến hành nghiên cứu những quy định của pháp luật về chào bán cổ phần ra công chúng trong giai đoạn hiện nay và để hiểu rõ thể hơn nữa người viết sẽ trình bày cụ thể hơn trong phần
nội dung chương tiếp theo
Trang 31CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CỔ PHẦN RA CÔNG
CHÚNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 2.1 Chủ thể có quyền chào bán cổ phần ra công chúng
Theo pháp luật hiện hành, ở Việt Nam chỉ có hai chủ thể được chào bán cổ phần ra công chúng là công ty cổ phần và công ty Nhà nước cổ phần hóa
2.1.1 Công ty cổ phần
Huy động vốn bằng phương thức phát hành cổ phiếu là một quyền năng cơ bản, đặc thù của công ty cổ phần, được quy định tại Khoản 3 Điều 77 Luật doanh nghiệp 2005
Theo Luật Doanh nghiệp 2005, kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít nhất 20% số cổ phần phổ thông được quyền chào bán Số cổ phần được quyền bán còn lại phải được chào bán và bán hết trong thời hạn ba năm kể từ ngày Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh có hiệu lực Như vậy công ty cổ phần chỉ có tư cách chào chào bán
cổ phần ra công chúng sau khi các cổ đông sáng lập nắm giữ ít nhất 20% cổ phần phổ thông được quyền chào bán
Ngoài ra, Công ty đại chúng cũng là loại hình công ty cổ phần đã thực hiện chào bán cổ phần ra công chúng hoặc có cổ phiêu niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc có từ một trăm cổ đông trở lên ( không kể cổ đông là nhà đầu tư chuyên nghiệp ) với vốn điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng trở lên, thực hiện chào bán
cổ phần ra công chúng để huy động nguồn vốn dài hạn, tạm thời nhàn rỗi trong công chúng đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của mình
Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài pháp luật hiện hành chỉ quy định hai trường hợp chào bán cổ phần ra công chúng của công ty
cổ phần do doanh nghiệp nước ngoài chuyển đổi thành bao gồm: Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần kết hợp chào bán cổ phần ra công chúng và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đã chuyển đổi thành công ty cổ phần Có thể thấy rằng tuy pháp luật về đầu tư cho phép nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện đầu tư trực tiếp vào Việt Nam được phép thành lập mọi loại hình doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp
2005 và theo Khoản 1 Điều 2 Luật Đầu tư 2005, trong đó có hình thức công ty cổ
Trang 32phần nhưng pháp luật về chứng khoán đã hạn chế không cho nhà đầu tư nước ngoài có quyền thực hiện hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng để thành lập mới công ty cổ phần tại Việt Nam Có thể nói đây là quy định rất hay, cần thiết để bảo vệ môi trường đầu tư trong nước
Như vậy, về phân loại chủ thể phát hành chứng khoán ra công chúng có thể chia làm hai loại chủ thể trong nước và chủ thể nước ngoài nhưng bài viết chỉ đi sâu vào phân tích chủ thể chính là chủ thể phát hành chứng khoán trong nước
2.1.2 Công ty Nhà nước cổ phần hóa
Về bản chất, công ty nhà nước cổ phần hóa cũng là công ty cổ phần, có vốn điều lệ chia thành nhiều phần bằng nhau Tuy nhiên, công ty nhà nước cổ phần hóa được xếp vào nhóm riêng và tư cách chào bán cổ phần ra công chúng khác với công ty cổ phần thành lập theo Luật doanh nghiệp vì những lí do cơ bản sau:
Thứ nhất, công ty nhà nước cổ phần hóa được thành lập theo Luật doanh nghiệp nhà nước và đến trước khi thực hiện cổ phần hóa vẫn hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước trừ những nội dung do Luật doanh nghiệp 2005 điều chỉnh.6
Thứ hai, công ty nhà nước cổ phần hóa thực hiện hoạt động cổ phần hóa
và chào bán cổ phần ra công chúng theo chủ trương của Nhà nước Luật doanh nghiệp 2005 quy định các doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà nước 2003 phải chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần Mục đích của sự chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần khác với mục đích chuyển đổi của công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp chuyển đổi thành công ty cổ phần Đó là để thực hiện mục tiêu thu hẹp tối đa diện nhà nước độc quyền, xóa bỏ doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả tăng gánh nặng cho ngân sách, tạo điều kiện cho người lao động trong công ty tự mình chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp
Thứ ba, công ty nhà nước thực hiện cổ phần hóa chịu sự điều chỉnh của Luật chứng khoán 2006 và Nghị định số 59/2011/NĐ-CP là nghị định của Chính phủ quy định riêng về công ty nhà nước cổ phần hóa Do đó, hoạt động cổ phần hóa của công ty nhà nước cổ phần hóa cũng chịu sự điều chỉnh của hai văn bản Luật
6
Điều 166 Luật doanh nghiệp 2005
Trang 33nói trên
Như vậy, công ty nhà nước cổ phần hóa tuy là công ty cổ phần song có tư cách chủ thể khác hẳn với các công ty cổ phần được thành lập theo Luật doanh nghiệp
2.2 Điều kiện chào bán cổ phần ra công chúng
2.2.1 Điều kiện về chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng
Đối với từng loại doanh nghiệp, điều kiện chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng là khác nhau:
• Công ty cổ phần
Công ty cổ phần muốn chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng phải thỏa mãn các điều kiện sau:
Thứ nhất, vốn điều lệ đã góp đạt mười tỷ đồng trở lên tính theo giá trị sổ
sách kế toán.7 Trước đây, khi Nghi định 48/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 1998 ban hành cũng đã quy định doanh nghiệp cổ phần muốn chào bán cổ phiếu lần đầu
ra công chúng phải đạt mức vốn điều lệ tối thiểu mười tỷ đồng.8 Tuy nhiên, căn
cứ vào điều kiện nền kinh tế Việt Nam lúc đó con số mười tỷ đồng không khả thi
Chính vì vậy trong thời gian dài từ năm 1998 đến năm 2003 rất ít doanh nghiệp Việt Nam thực hiện huy động vốn bằng phương thức chào bán cổ phần ra công chúng Đến năm 2003 Nghị định 144/2003/NĐ-CP ra đời thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP giảm mức vốn điều lệ đã góp xuống còn năm tỷ đồng.9 Đây lại là một quy định nữa không phù hợp của luật thực định vì điều kiện kinh tế toàn xã hội của Việt Nam từ năm 1998 đến năm 2003 đã có sự thay đổi rõ rệt, mức vốn mười tỷ đồng vào năm 1998 là quá lớn, cản trở sự phát triển của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng nhưng tại năm 2003 nó đã phù hợp với quy
mô của đa số các doanh nghiệp trên thị trường Chính vì vậy, hiện nay Luật chứng khoán 2006 đã quay trở về mức mười tỷ đồng đối với vốn điều lệ đã đã góp
Thứ hai, công ty phải có năng lực kinh doanh, cụ thể là: “Hoạt động của
Trang 34năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán”.10 Điều kiện này đã loại trừ những công ty làm ăn thua lỗ, đảm bảo chất lượng của cổ phiếu được chào bán ra công chúng
Thứ ba, có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ
đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty cổ phần, có quyền quyết định những hoạt động quan trọng của công ty Chào bán cổ phần nói chung và chào bán cổ phần ra công chúng là hoạt động ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của công ty và lợi ích của toàn bộ cổ đông trong công ty Vì vậy, phương
án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được phải do Đại hội đồng thông qua mới có giá trị pháp lý
• Công ty nhà nước cổ phần hóa
Điều kiện chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng của các công ty nhà nước
cổ phần hóa không có những quy định cụ thể như đối với công ty cổ phần thành lập theo Luật Doanh nghiệp Nguyên nhân là công ty nhà nước cổ phần hóa thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước cho đến khi được cổ phần hóa Việc cổ phần hóa của doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn tuân theo quy định của Chính phủ mà cụ thể là theo Nghị định 59/2011/NĐ–CP thay thế Ngh ị định 187/2004/NĐ-CP đối với doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ vốn góp chi phối, còn đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thì thực hiện theo quy định đặc biệt của Chính phủ Việc thực hiện chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng của các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hóa nằm trong phương án
cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt Cấp
có thẩm quyền là cơ quan ra quyết định cổ phần hóa doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp nhà nước nắm giữ phần vốn góp chi phối là cơ quan chủ quản của doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp nhà nước nắm 100% vốn là Chính phủ
2.2.2 Điều kiện về chào bán thêm cổ phần ra công chúng
Công ty đại chúng muốn chào bán thêm cổ phần ra công chúng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
• Có quyết định của Đại hội đồng cổ đông thông qua phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán cổ phiếu ra công
10
Điểm b khoản 1 Điều 12 Luật chứng khoán 2006