Bên cạnh việc khẳng định nhu cầu tất yếu phải được điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ và chào bán cổ phần ra công chúng của công ty cổ phần, có thể nói
Trang 1
bộ giáo dục và đào tạo Bộ tư pháp
Trường đại học luật Hà Nội
Nguyễn minh hằng
Pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở việt nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Trang 2
Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc Nh÷ng kÕt luËn khoa häc cña luËn ¸n cha tõng ®îc
ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c
T¸c gi¶ luËn ¸n
Nguyễn Minh Hằng
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AIM: Thị trường đầu tư thay thế của Anh
APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á
ASEM: Hội nghị các nguyên thủ quốc gia về hợp tác Á - Âu; EC: Uỷ ban Châu Âu
EU: Cộng đồng châu Âu
FSA: Cơ quan dịch vụ tài chính của Anh
FSMA: đạo luật Dịch vụ và thị trường tài chính năm 2000 của Anh IFRS: Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế
RGAMF: Cơ quan quản lý thị trường tài chính Pháp
UBCKNN: Ủy ban chứng khoán nhà nước
UKLA: Cơ quan cấp phép niêm yết Vương quốc Anh
WTO: Tổ chức thương mại thế giới
Trang 4Môc lôc
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG
CHÀO BÁN CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CỔ PHẦN
11
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động chào bán cổ phần
của công ti cổ phần
11
1.2 Những vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về hoạt động
chào bán cổ phần của công ti cổ phần
3.1 Quan điểm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
về chào bán cổ phần của công ti cổ phần ở Việt Nam
155
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chào bán cổ
phần của công ti cổ phần ở Việt Nam hiện nay
166
3.3 Một số giải pháp nhằm đảm bảo thực thi hiệu quả pháp luật về
chào bán cổ phần của các doanh nghiệp ở Việt Nam
183
Trang 51
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2000 là thời điểm đánh dấu bước đi đầu tiên của thị trường chứng khoán Việt Nam.Trải qua chặng đường 10 năm, nhu cầu được điều chỉnh bằng một hệ thống pháp luật minh bạch, đầy đủ đối với hoạt động chào bán chứng khoán nói chung và hoạt động chào bán cổ phần nói riêng của công ty
cổ phần càng chứng tỏ một cách rõ ràng.Thị trường chứng khoán là một thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro, tuy nhiên, sức hấp dẫn của thị trường này khiến cho các nhà đầu tư luôn có nhu cầu tham dự, thậm chí chấp nhận rủi ro Đứng
ở góc độ bình ổn xã hội và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong kinh doanh, pháp luật luôn can thiệp để giúp các nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro,
từ đó làm cho nền kinh tế ít bị ảnh hưởng bởi những biến động tiêu cực của một thị trường đặc biệt như thị trường chứng khoán Pháp luật chủ yếu can thiệp để điều chỉnh các điều kiện tham gia thị trường chào bán cổ phần (bao gồm có chào bán cổ phần riêng lẻ và chào bán cổ phần ra công chúng), trong
đó chú trọng tới việc công khai thông tin của chủ thể phát hành, một trong những mấu chốt ảnh hưởng tới độ rủi ro của việc đầu tư vào thị trường vốn
Bước phát triển của pháp luật về hoạt động chào bán cổ phần của công
ty cổ phần được thể hiện rõ từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/ 7/ 1998; Quyết định 127/1998/QĐ-TTg về việc thành lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho đến Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Chứng khoán 2006, Nghị định 14/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/01/2007 quy định chi tiết thi hành Luật Chứng khoán 2006, Nghị định số 01/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 04/01/2010 về chào báo cổ phần riêng
lẻ, Nghị định số 84/NĐ-CP ngày 20/09/2010 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 14/2007/NĐ-CP, Nghị định số 85/NĐ-CP ngày 02/08/2010 về xử lý vi phạm
Trang 62
trong lĩnh vực chứng khoán và các Thông tư hướng dẫn như Thông tư số 17/2007/TT-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn hồ sơ đăng kí chào bán chứng khoán ra công chứng; Thông tư số 38/2007/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 18/4/2007 hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Bên cạnh việc khẳng định nhu cầu tất yếu phải được điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ và chào bán cổ phần ra công chúng của công ty cổ phần, có thể nói, việc nghiên cứu thực trạng pháp luật về vấn đề này là một trong những yêu cầu cấp thiết trong việc đánh giá và
đề ra phương hướng hoàn thiện chế định pháp luật này
Pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam là một chế định pháp luật được tạo thành bởi nhiều quy định pháp luật nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau điều chỉnh các vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình công ty cổ phần thực hiện việc chào bán cổ phần riêng lẻ và chào bán cổ phần ra công chúng Hơn nữa, thực trạng pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần còn nhiều điểm bất cập, hiệu quả áp dụng trên thực
tế chưa cao Vì vậy,việc nghiên cứu những vấn đề lý luận cũng như thực trạng pháp luật về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam có thể được thực hiện dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, và ở cách tiếp cận nào cũng tìm thấy những giá trị cơ bản, đóng góp cho việc hoàn thiện pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định pháp luật này trên thực tế
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần bao gồm pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ và pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật tài chính, thương mại trong điều kiện nền kinh tế thị trường, đang được nhiều nhà khoa học ở nhiều quốc gia, thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu Ở các phạm vi và mức độ khác nhau, có một
Trang 73
số công trình đã được công bố, đề cập đến một vài khía cạnh kinh tế và pháp
lý của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Xét trên phạm vi khu vực và toàn thế giới, các công trình nghiên cứu về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần chủ yếu tập trung vào: (i) giới thiệu các đặc điểm và cách thức tiến hành hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, đặc biệt là hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng
của một số quốc gia trên thế giới (Mark Greene, Securities Finance, Law
Bussines Reseach ltd, 2007); (ii) đánh giá những tác động của hoạt động chào
bán cổ phần của công ty cổ phần tới nền kinh tế (Eilis Ferran, Principles of
Corporate Finance Law, Oxford University Press, 2008; Mathew Harrison, Asia-Pacific Security Markets, Sweet & Maxwell Asia, 2003, ISBN 962661
2061, tr 77-78.); (iii) nghiên cứu hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần dưới góc độ pháp luật (Catherine Shephard, Public Companies and
Equity Finance, College of Law Publishing, 2006) Những công trình nghiên
cứu trên đã bước đầu tạo ra những cơ sở lý luận làm nền tảng trong quá trình nghiên cứu luận án này; đồng thời cũng cho thấy quan điểm của các nhà khoa học và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về lĩnh vực pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu đề cập đến một số khái niệm liên quan đến hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần trong tương quan so sánh với pháp luật của một quốc gia cụ thể như bài viết của tác giả Phạm Thị
Thành Dương, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh với tên gọi: Nghiên cứu so
sánh pháp luật về phát hành chứng khoán Nhật; từ một số khía cạnh pháp lý có
liên quan đến hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần như bài viết của
tác giả Phạm Thị Giang Thu, Về cơ sở pháp lý cho chủ thể phát hành chứng
khoán, Tạp chí Luật học số 4, trường đại học Luật Hà Nội, 1997; Bàn về bảo lãnh phát hành trên thị trường chứng khoán, Tạp chí Luật học số 1, trường
Đại học Luật Hà Nội, 2000
Bên cạnh đó, một số công trình tiếp cận nghiên cứu một số nội dung cụ thể của pháp luật về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, như:
Trang 84
luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Nguyễn Minh Hằng (2002), với đề tài
Pháp luật phát hành chứng khoán doanh nghiệp Việt nam – thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Trường Đại học Luật Hà nội, 2002 Công trình này
nghiên cứu pháp luật chào bán chứng khoán doanh nghiệp trong những năm 2001-2003 (trước khi ban hành Nghị định 144/2003/NĐ-CP về chứng khoán
và thị trường chứng khoán và Luật chứng khoán 2006) trên cơ sở tiếp cận các loại chủ thể là các doanh nghiệp được quyền chào bán chứng khoán ở Việt Nam bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và các loại chứng khoán khác nhau được chào bán trong các doanh nghiệp đó như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư…
Tuy nhiên, những công trình kể trên mới dừng lại ở việc nghiên cứu hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần dưới góc độ kinh tế và những ảnh hưởng của hoạt động này tới đời sống xã hội hoặc nghiên cứu từng khía cạnh nhỏ của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần dưới góc
độ pháp lý, ví dụ như vấn đề chủ thể chào bán cổ phần hoặc phương thức chào bán cổ phần ra công chúng của công ty cổ phần
Từ việc đánh giá tình hình hình nghiên cứu pháp luật về hoạt động chào bán cổ phần ở Việt Nam, cho thấy đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần dựa trên cơ sở hệ thống các quy định hiện hành; điều kiện kinh tế xã hội là thời kỳ của Việt Nam giai đoạn những năm 2005-2010 và quan trọng hơn, chưa có công trình khoa học pháp lý nào ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học chỉ nghiên cứu pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam cho đến thời điểm luận án này được công bố, trên cơ sở đó chỉ ra cơ sở khoa học của việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay Có thể khẳng định đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này ở nước ta, với cấp độ luận án tiến sỹ Luật học
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, trên cơ
Trang 95
sở đó đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam trên những điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể
Để thực hiện mục đích trên, Luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau: + Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần và pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần;
+ Phân tích nội dung cơ bản của pháp luật về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần; đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần;
+ Xây dựng quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là: các quan điểm, tư tưởng luật học
về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần và pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần; các văn bản pháp luật thực định của Việt Nam điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần; pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế liên quan đến hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần; thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam.Vấn đề chào bán cổ phần của các công ty cổ phần là một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển Do vậy, pháp luật ở một số nước trên thế giới về lĩnh vực này có thể nói là đã tương đối hoàn thiện vì hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần đã được xây dựng trên những nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường như hệ thống pháp luật Anh Mỹ, hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa Tuy nhiên, ở một số nước có nền kinh tế chuyển đổi trong đó có Việt Nam, thị trường giao dịch chứng khoán nói chung và thị trường chào bán cổ phần nói riêng còn khá non trẻ và đang từng bước đi vào hoạt động theo những quy
Trang 106
luật và các nguyên tắc chung để hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư và đảm bảo cho hoạt động của thị trường phát hành minh bạch, an toàn, hiệu quả Do đó, việc nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện bộ phận pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần là một yêu cầu tất yếu và có tính chất bắt buộc
Nhìn chung, pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công
ty cổ phần là vấn đề pháp luật còn tương đối mới ở Việt Nam và có nội dung khá phức tạp Luận án tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản trong pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, nhất là những nội dung có nhiều điểm bất cập, đang gây cản trở, làm giảm hiệu quả của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam
Pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần được tạo thành bởi nhiều quy định pháp luật nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau, điều chỉnh các vấn đề cụ thể phát sinh trong quá trình công ty
cổ phần thực hiện hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần Vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty
cổ phần được thực hiện dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau Luận án lựa chọn cách tiếp cận để nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần dựa trên các nội dung cơ bản, bao gồm:
(i) Cơ sở lý luận và những điều kiện kinh tế, xã hội để ban hành và thực thi có hiệu quả pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty
cổ phần ở Việt Nam
(ii) Các quy định về chủ thể liên quan đến hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần (bao gồm: chủ thể chào bán, chủ thể hỗ trợ chào bán, nhà đầu tư) Luận án đã lý giải để xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm cả việc trình bày về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần chuyển đổi từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và công ty cổ phần chuyển đổi từ doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước
Trang 117
(iii) Các quy định về phương thức chào bán cổ phần của công ty cổ phần (bao gồm: phương thức chào bán cổ phần riêng lẻ và phương thức chào bán cổ phần ra công chúng);
(iv) Các quy định về quản lý Nhà nước đối với hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Như vậy, với phạm vi nghiên cứu đã được chỉ rõ, từ chương 1 đến chương 3, luận án tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá và đưa ra quan điểm cũng như giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán
cổ phần của công ty cổ phần dựa trên cơ sở ba vấn đề nêu trên
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn Các phương pháp nghiên cứu trong Luận án được thực hiện trên nền tảng của phương pháp luận duy vật lịch sử, duy vật biện chứng; trên cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa
và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam
6 Những kết quả nghiên cứu và những điểm mới của luận án
Luận án đạt được những kết quả sau:
Thứ nhất, xây dựng quan điểm pháp lý tiến bộ, khoa học về chức năng,
vai trò và đặc điểm của pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần; xác định rõ mối quan hệ giữa pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phấn với các chế định pháp luật khác có liên quan, nhất là với pháp luật doanh nghiệp và pháp luật đầu tư Từ đó đánh giá
sự cần thiết phải có những quy định phù hợp, bổ trợ giữa các chế định pháp luật kể trên với pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty
cổ phần nhằm tạo ra chế định pháp luật minh bạch và đầy đủ để điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam
Thứ hai, xác định được rõ kết cấu pháp luật chào bán cổ phần của công
ty cổ phần bao gồm: pháp luật về chủ thể chào bán cổ phần, pháp luật về
Trang 128
phương thức chào bán cổ phần và pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Thứ ba, chỉ rõ những bất cập và nguyên nhân dẫn đến bất cập của pháp luật
hiện hành điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, đang ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả thực hiện hoạt động này trên thực tế, đồng thời ảnh hưởng đến quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh của các công ty cổ phần cũng như các nhà đầu tư trong điều kiện nền kinh tế thị trường Việt Nam Những bất cập của pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam được luận án chỉ ra gồm: sự thiếu hụt một khái niệm và phân chia ranh giới cụ thể giữa chào bán riêng lẻ và chào bán ra công chúng; điều kiện về chào bán cổ phần ra công chúng và chào bán riêng lẻ còn thể hiện sự hạn chế quyền tự do kinh doanh của các chủ thể; quy định về nhà đầu tư còn chưa thống nhất; quy định về cách thức quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần còn thể hiện sự chưa phù hợp và hiệu quả Trong số những bất cập chủ yếu được chỉ
ra này, luận án xác định rằng bất cập về cách thức quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần là bất cập quan trọng nhất cần được giải quyết bởi lẽ khi giải quyết được bất cập này, các bất cập khác sẽ được giải quyết như là hệ quả của việc hiệu quả hóa quản lý nhà nước trong chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam Những nội dung khác liên quan đến pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam chưa được đề cập trong luận án này sẽ
là những ý tưởng gợi mở để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu trong những công trình khoa học khác
Thứ tư, đề xuất quan điểm và xác định luận cứ khoa học cho việc hoàn
thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, đảm bảo cho các công ty cổ phần tiến hành hoạt động chào bán cổ phần hiệu quả, tự do và bình đẳng ; đảm bảo giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư khi tham gia vào mối quan hệ với các công ty cổ phần thông qua việc mua cổ phần phát hành của các công ty cổ phần này ;
Thứ năm, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định điều chỉnh hoạt
động chào bán cổ phần của công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp (2005),
Trang 139
Luật Chứng khoán (2006) và các văn bản pháp luật liên quan, cụ thể là: (i) kiến nghị hoàn thiện quy định về bảo lãnh phát hành đối với hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng của công ty cổ phần, đặc biệt là hoàn thiện quy định về chủ thể bảo lãnh phát hành; (ii) kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về các phương thức chào bán cổ phần tạo điều kiện cho công ty cổ phần thực hiện hiệu quả hoạt động thương mại này, trong đó đặc biệt là kiến nghị sửa đổi các quy định về điều kiện chào bán cổ phần riêng lẻ và chào bán cổ phần ra công chúng của công ty cổ phần; (iii) kiến nghị hoàn thiện quy định điều chỉnh về Bản Cáo bạch; (iv) đề xuất giải pháp tăng hiệu quả áp dụng của các quy định pháp luật về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, trong đó nhấn mạnh đến việc kiện toàn hệ thống kiểm toán độc lập cũng như hoàn thiện các chế định về xử lý vi phạm đối với các hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Những quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần được đề xuất trong luận án có khả năng ứng dụng ngay để thiết lập sự thống nhất, nâng cao hiệu quả áp dụng của pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần với pháp luật tài chính, thương mại nói chung và các chế định pháp luật có liên quan trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Về những điểm mới của luận án
Luận án có những điểm mới đóng góp cho sự phát triển của khoa học pháp lý chuyên ngành, bao gồm:
+ Thứ nhất, trên cơ sở nghiên cứu các học thuyết, quan niệm về hoạt động
chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở những nước phát triển cũng như thực tiễn pháp lý Việt Nam, luận án đã xây dựng được hệ thống lý luận khoa học pháp luật vê hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam;
+ Thứ hai, luận án đã chỉ rõ pháp luật về chào bán cổ phần của công ty
cổ phần ở Việt Nam chưa đạt được sự tương thích cần thiết trong tương quan với pháp luật doanh nghiệp, pháp luật đầu tư Có thể nói, sự thiếu tương thích giữa các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty
Trang 1410
cổ phần này là vấn đề rất quan trọng, quyết định tới hiệu quả của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần;
+ Thứ ba, luận án là công trình khoa học đầu tiên phân tích, đánh giá
một cách có hệ thống những bất cập trong từng quy định cụ thể của pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam, cụ thể là chỉ ra những hạn chế trong các nội dung pháp luật gồm: pháp luật về chủ thể chào bán cổ phần; pháp luật về phương thức chào bán cổ phần và pháp luật về quản lý Nhà nước đối với hoạt động chào bán cổ phần của công
ty cổ phần;
+ Thứ tư, luận án đã xây dựng hệ quan điểm khoa học cũng như đưa ra
những giải pháp tiến bộ, hiện đại cho việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam phù hợp với pháp luật và tập quán thương mại quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
6 Kết cấu luận án
Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, luận án được cơ cấu thành 03 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về hoạt động chào bán cổ phần của công ty
cổ phần và pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Chương 2 Thực trạng pháp luật về hoạt động chào bán cổ phần của công ty
cổ phần ở Việt Nam
Chương 3 Hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chào bán
cổ phần của công ty cổ phần ở Việt Nam
Trang 1511
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN CỔ PHẦN
VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CỔ PHẦN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
1.1.1 Quan niệm chung về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
1.1.1.1 Quan niệm về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần dưới góc độ kinh tế
Chào bán cổ phần của công ty cổ phần là một trong những hoạt động huy động vốn cơ bản nhất của công ty cổ phần Dưới góc độ kinh tế, hoạt động chào bán cổ phần tạo ra loại hàng hóa đặc biệt cho thị trường chứng khoán, đó là cổ phần (thường được thể hiện bằng hình thức cổ phiếu) Dùng
cổ phần để huy động vốn, với cách huy động vốn này, công ty cổ phần đồng thời huy động vốn điều lệ, mặt khác có thể thu về một khoản vốn thặng dư từ việc bán cổ phiếu, khoản thu này sẽ làm gia tăng thêm vốn và tài sản của công
ty Các nhà đầu tư tìm đến cổ phần như tìm đến một phương thức đầu tư hiệu quả, thông qua đó, với tư cách cổ đông công ty cổ phần, các nhà đầu tư có thể thực hiện quyền quản lý, tham gia vào quá trình điều hành kinh doanh của công ty cổ phần hoặc chỉ đơn giản là đầu tư mua cổ phần để bán lại trên thị trường giao dịch chứng khoán để tìm kiếm thu nhập và lợi nhuận Với những lợi ích mà cổ phần mang lại cho công ty cổ phần và cho các nhà đầu tư, nền kinh tế xã hội cũng vì thế mà phát triển, dựa vào sự tăng trưởng vốn kinh doanh và sự luân chuyển linh hoạt của dòng vốn này
Ở Việt Nam, giá trị biểu thị một phần vốn đầu tư này được định danh bằng hai thuật ngữ là “cổ phần” và “cổ phiếu”, người nắm giữ các “cổ phần”,
“cổ phiếu” này gọi là “cổ đông” (Điều 77, Luật Doanh nghiệp 2005) Các giao dịch thương mại được thiết lập với đối tượng là các cổ phần, cổ phiếu do công ty cổ phần chào bán đã tạo nên sự linh hoạt trong vấn đề luân chuyển vốn và tăng trưởng vốn của các chủ đầu tư nói riêng và của cả nền kinh tế - xã
Trang 1612
hội nói chung Dưới khía cạnh kinh tế, hoạt động chào bán cổ phần của công
ty cổ phần đã thiết lập nên những mối quan hệ giữa chủ thể chào bán cổ phần
và nhà đầu tư, nhằm mục đích huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần và tạo cơ hội đầu tư hưởng lợi nhuận của các nhà đầu tư
Có thể khẳng định, hoạt động chào bán cổ phần là tiền đề để các chủ thể có thể thực hiện các giao dịch tài chính, thương mại liên quan đến cổ phần Nói cách khác, không có hoạt động chào bán cổ phần sẽ không có những hoạt động như kinh doanh chứng khoán, môi giới chứng khoán hay lưu
ký chứng khoán [123, tr15] Như vậy, dưới góc độ kinh tế, hoạt động chào bán cổ phần là nền tảng, cơ sở để thiết lập nên các hoạt động khác liên quan đến chứng khoán Hoạt động này được hiểu là việc tổ chức chào bán có đủ điều kiện đưa cổ phần vào thị trường theo trình tự thủ tục xác định, với ý nghĩa giúp các tổ chức chào bán cổ phần dễ dàng huy động vốn với chi phí thấp hơn so với các hình thức huy động vốn khác
Chào bán cổ phần của công ty cổ phần là hoạt động mà xét dưới các góc độ chủ thể khác nhau sẽ mang những ý nghĩa kinh tế - xã hội khác nhau, các nhóm lợi ích cụ thể được thể hiện như sau:
(i) Đối với công ty cổ phần chào bán cổ phần, hoạt động chào bán cổ phần là hoạt động huy động vốn chủ sở hữu tạo ra Vốn Điều lệ tại thời điểm thành lập công ty hoặc làm tăng vốn Điều lệ thực có nhằm khẳng định khả năng tài chính cũng như đáp ứng các điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh,
mở rộng thị trường của công ty cổ phần;
(ii) Đối với các chủ đầu tư tiến hành mua cổ phần, hoạt động chào bán
cổ phần của công ty cổ phần là cơ hội để các chủ đầu tư khẳng định thêm vị thế tài chính trong công ty cổ phần mà họ đã là cổ đông; hoặc là cơ hội để các chủ đầu tư mới trở thành cổ đông của công ty cổ phần Trong công ty cổ phần,
cổ đông được phân chia thành nhiều loại khác nhau tuỳ theo loại cổ phần mà
họ nắm giữ, tuy nhiên, ở mức độ nhất định, các cổ đông sẽ cùng nhau san sẻ trách nhiệm kinh doanh cũng như các rủi ro trong kinh doanh trong công cuộc tìm kiếm lợi nhuận từ hình thức đầu tư trực tiếp này;
(iii) Đối với nền kinh tế - xã hội, hoạt động chào bán cổ phần của công
Trang 1713
ty cổ phần là hoạt động cung cấp hàng hóa cho thị trường chứng khoán bao gồm thị trường tập trung và thị trường phi tập trung tuỳ thuộc vào phương thức chào bán mà công ty lựa chọn
Dưới góc độ kinh tế, xuất phát từ chủ thể chào bán là các công ty cổ phần, hoạt động chào bán cổ phần có thể được khái quát qua một số giai đoạn
cơ bản sau đây:
(i) Chuẩn bị chào bán: Chuẩn bị chào bán có hai nội dung cơ bản: một
là, chuẩn bị chào bán cổ phiếu để hình thành vốn điều lệ cho công ty cổ phần; hai là chuẩn bị chào bán khi công ty cổ phần huy động thêm vốn điều lệ, tăng quy mô vốn cho doanh nghiệp Trong giai đoạn này, việc xây dựng kế hoạch chào bán đặc biệt quan trọng, cụ thể là tổ chức chào bán phải xác định được quy mô vốn của công ty để từ đó quyết định số lượng cổ phần và giá cổ phần
dự kiến chào bán, các mức độ yêu cầu phù hợp đối với cổ phần của công ty và bản chất hoạt động kinh doanh của công ty Từ việc xác định các yếu tố này, công ty có thể lựa chọn phương thức chào bán phù hợp với điều kiện thực tế của mình và gắn liền với nó là những trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật Giai đoạn này có ý nghĩa kinh tế quan trọng, quyết định khả năng thành công của đợt chào bán, có nghĩa là xác định được số vốn mà công ty có thể huy động được trong đợt chào bán đó Việc chuẩn bị chào bán có sự tính toán về
tỷ lệ giữa số vốn huy động được và chi phí cần thiết để tiến hành chào bán cổ phần sẽ góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
(ii) Tiến hành chào bán cổ phần: Dưới góc độ kinh tế, đây là hoạt động tổng hợp các công đoạn chào bán Tuỳ theo quy mô và phương thức chào bán
mà các công đoạn này được các công ty cổ phần xác định mức độ đơn giản hay phức tạp Đối với chào bán cổ phần nội bộ (chào bán riêng lẻ), quá trình chào bán đơn giản hơn do quy mô và số lượng các nhà đầu tư bị hạn chế Đối với chào bán cổ phần rộng rãi cho các nhà đầu tư không hạn chế số lượng (chào bán ra công chúng), các công đoạn chào bán thường phức tạp do có tổ chức tài chính trung gian chịu trách nhiệm thiết kế cuộc chào bán, xác định mức giá cổ phiếu và trực tiếp phân phối cổ phiếu Trong giai đoạn này, trách
Trang 1814
nhiệm đối với nhà đầu tư của tổ chức chào bán và tổ chức tài chính trung gian cũng được xác định Những hành vi gian lận trong quá trình này cần phải được loại trừ từ cả hai phía là bên mua và bên bán để đảm bảo sự công bằng
và quyền lợi hợp pháp của các bên Dưới góc độ kinh tế, việc thực hiện thành công giai đoạn tiến hành chào bán cổ phần sẽ được thể hiện bằng các yếu tố: công ty được phép chào bán cổ phần; nhà đầu tư tiến hành mua cổ phần; công việc thanh toán tiền mua cổ phần hoàn thành Giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế, quyết định sự thành công của kế hoạch huy động vốn của công ty cổ phần
(iii) Xác nhận kết quả chào bán: Sau khi kết thúc cuộc chào bán, tổ chức chào bán phải có thông báo kết quả chào bán cho nhà đầu tư và cơ quan quản lý (trong những trường hợp bắt buộc phải thông báo với cơ quan quản lý) Mặt khác, tổ chức chào bán cũng tiến hành hoạt động xác nhận quyền sở hữu cổ phiếu cho nhà đầu tư đã đăng ký mua hoặc đấu giá thành công Việc xác nhận quyền sở hữu cũng như tính hợp pháp của cổ phiếu cho nhà đầu tư
có thể được thực hiện bởi tổ chức chào bán hoặc bởi tổ chức bảo lãnh chào bán Ngược lại, nhà đầu tư phải có hành vi chuyển tiền mua cổ phiếu vào tài khoản của tổ chức chào bán hoặc tổ chức bảo lãnh chào bán
Dưới góc độ kinh tế, quan hệ mua bán cổ phần giữa công ty cổ phần và nhà đầu tư là quan hệ mua bán mang tính dân sự, thương mại và nó cũng không nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, thương mại Tuy nhiên, hàng hoá trong quan hệ mua bán này là loại hàng hoá đặc biệt, nó không chỉ
là sự mua bán vốn thông thường mà đây là hoạt động bán vốn và đầu tư có tổ chức, vì vậy, dưới góc độ kinh tế, hoạt động này có ý nghĩa sâu sắc và có ảnh hưởng quan trọng đối với sự hình thành, hoạt động và phát triển của công ty
cổ phần nói riêng và đồng thời cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới sự bình ổn của nền kinh tế - xã hội nói chung
Quan hệ giữa công ty cổ phần và nhà đầu tư thể hiện rõ nét nhất ở giai đoạn công ty cổ phần chào bán cổ phần để hình thành vốn Điều lệ của công ty hoặc gọi thêm vốn Điều lệ trong quá trình hoạt động kinh doanh Khác với những quan hệ góp vốn hình thành doanh nghiệp khác, việc góp vốn vào công
Trang 1915
ty cổ phần phải thông qua quan hệ mua – bán cổ phần Ví dụ như đối với công
ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, số vốn mà thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn góp vốn hoặc cam kết góp vốn sẽ được ghi nhận chính xác trong vốn điều lệ của công ty theo tỉ lệ phần trăm trên tổng vốn điều lệ Nếu nhà đầu tư góp vốn bằng tài sản, các thành viên của công ty phải cùng định giá tài sản và giá trị vốn của mỗi thành viên được ghi nhận trong vốn điều lệ phải bằng chính giá trị đã được định giá Khác biệt với các hoạt động góp vốn trên, việc góp vốn vào công ty cổ phần thông qua việc mua cổ phần
do công ty chào bán, chủ đầu tư có thể phải trả lượng vốn lớn hơn, thậm chí lớn hơn nhiều lần so với giá trị vốn của chủ đầu tư này được ghi nhận trong vốn điều lệ của công ty cổ phần Ngược lại, với số trường hợp đặc biệt, giá trị đồng vốn mà chủ đầu tư bỏ ra để “mua” được lượng cổ phần của công ty cổ phần lại nhỏ hơn so với giá trị vốn mà chủ đầu tư này được ghi nhận trong vốn điều lệ của công ty cổ phần Khác với các loại hình công ty khác, công ty
cổ phần ngay từ đợt chào bán cổ phần lần đầu để hình thành vốn điều lệ mà thành công đã có một nguồn vốn thặng dư nằm bên ngoài vốn điều lệ của công ty chào bán Chính vì vậy, huy động vốn của công ty cổ phần thông qua việc chào bán cổ phần cho các nhà đầu tư thể hiện sự linh hoạt, hiệu quả hơn
so với hoạt động huy động vốn của các loại hình công ty khác được điều chỉnh theo Luật Doanh nghiệp Xuất phát từ đặc trưng về mặt kinh tế của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, pháp luật điều chỉnh hoạt động này cũng thể hiện bản chất kinh tế đó với những đặc trưng riêng biệt
1.1.1.2 Quan niệm về hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần dưới góc độ pháp lý
Dưới góc độ pháp lý, thông thường hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần được điều chỉnh ở một số vấn đề như sau: các chủ thể tham gia vào quá trình chào bán cổ phần của công ty cổ phần; phương thức chào bán cổ phần của công ty cổ phần; hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần Hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần là loại hoạt động có nhiều chủ thể tham gia Đó có thể là chủ
Trang 2016
thể chào bán cổ phần, nhà đầu tư, tổ chức bảo lãnh, các tổ chức hỗ trợ chào bán khác và không thể thiếu sự tham gia của các chủ thể quản lý nhà nước Số lượng và loại chủ thể tham gia vào hoạt động chào bán cổ phần phụ thuộc vào phương thức chào bán của công ty cổ phần, phương thức chào bán riêng lẻ hay chào bán ra công chúng
Pháp luật các nước Anh, Mỹ, Australia quan niệm rằng hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần được thể hiện dưới các phương thức chào bán cổ phần khác nhau như chào bán, góp vốn Theo quan niệm pháp luật các nước này, chào bán lần đầu ra công chúng là sự kết hợp của cả hai phương thức nêu trên [121; tr1] Các phương thức khác như phương thức đầu tư, hay giới thiệu cũng được coi là các phương thức chào bán cổ phần có tính truyền thống, được pháp luật thừa nhận và điều chỉnh Theo cách quan niệm khác, chào bán cổ phần có những loại hình nhất định được phân biệt khác nhau Trước hết phải kể đến chào bán có tổ chức, thực chất đây là hình thức chào bán cổ phần cho các nhà đầu tư chiến lược và nó cũng là một dạng của hình thức chào bán cổ phần riêng lẻ Bên cạnh đó là chào bán theo phương thức bán lẻ, hình thức chào bán này cũng được pháp luật điều chỉnh dành cho một
số ít những nhà đầu tư đủ tiêu chuẩn và đã được lựa chọn Ngoài ra còn có hình thức chào bán cổ phần cho người lao động trong công ty, đây là một hình thức chào bán cổ phần đặc biệt nhằm hướng tới hai mục đích: một là, hình thức thưởng cho người lao động khi cho họ tham gia mua cổ phần với giá ưu đãi; hai là, khuyến khích người lao động gắn bó với công ty bằng việc đồng sở hữu công ty Như vậy, người lao động cùng chia sẻ và đóng góp công sức đối với sự lớn mạnh, phát triển của công ty và đó cũng là sự ghi nhận những đóng góp của họ đối với sự thành công của công ty Chào bán cổ phần cho người lao động được pháp luật các nước có những quy định điều chỉnh đặc biệt vì đây là hình thức chào bán thể hiện những ưu đãi rõ ràng về đối tượng được tham gia mua, về giá chào bán, khối lượng cổ phần sẽ chào bán Pháp luật về chào bán cổ phần cho người lao động ở Việt Nam cũng có sự tương thích với pháp luật các nước trên thế giới Các quy định về chào bán cổ phần
Trang 2117
cho người lao động cũng được nêu ra trong các văn bản pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp Theo đó, người lao động trong doanh nghiệp sẽ được hưởng quyền mua cổ phần của doanh nghiệp tuỳ thuộc vào mức độ đóng góp của họ vào doanh nghiệp đó
Tuy có những phương thức chào bán khác nhau tuỳ theo quan niệm, thực tế chào bán cổ phần cũng như tập quán của các quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung, pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của các công ty cổ phần theo hệ thống luật Anh Mỹ, luật Châu Âu lục địa (điển hình
là Pháp và Cộng hoà liên bang Đức) và pháp luật một số nước khu vực châu
Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore) đều quy định hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần được bao gồm hai phương thức chào bán cơ bản là chào bán riêng lẻ và chào bán ra công chúng Có thể khẳng định, cùng với sự phân biệt hai phương thức này là sự điều chỉnh cụ thể của pháp luật đối với hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Về phương thức chào bán cổ phần riêng lẻ, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi đây là một phương thức chào bán chứng khoán trong phạm vi một số nhà đầu tư nhất định và đôi khi có tính chất đặc biệt như các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, các nhà đầu tư chiến lược có tiềm lực về vốn, các công ty đầu tư chứng khoán, các quỹ tín thác đầu tư Chào bán cổ phần riêng lẻ thường được các tổ chức chào bán lựa chọn trong các trường
hợp: một là, những công ty cổ phần không đủ tiêu chuẩn, điều kiện để thực hiện chào bán cổ phần ra công chúng; hai là, những công ty cổ phần tuy đủ
điều kiện chào bán cổ phần ra công chúng nhưng không lựa chọn phương thức chào bán cổ phần ra công chúng (lý do là số vốn cần huy động ít, nếu chào bán ra công chúng thì chi phí chào bán cao, hiệu quả huy động vốn vì thế bị ảnh hưởng hoặc bản thân những công ty cổ phần này không muốn công khai
thông tin với cơ quan quản lý chào bán); ba là, các công ty cổ phần tăng vốn
điều lệ bằng cách chào bán thêm cổ phần cho những cổ đông hiện hữu tương ứng với tỉ lệ sở hữu vốn cổ phần của họ trong công ty hoặc các nhà đầu tư chiến lược nhằm huy động vốn nhanh với chi phí chào bán thấp
Trang 2218
Hầu hết pháp luật các nước trên thế giới đều có quy chế pháp lý riêng điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ Nội dung cơ bản của những quy chế này là tạo cho chủ thể chào bán quyền tự định đoạt những nội dung liên quan đến đợt chào bán như giá cổ phần dự kiến chào bán, thời điểm thích hợp để đợt chào bán thành công, số lượng cổ phần dự định chào bán tương ứng với số vốn mà công ty dự kiến huy động Ở Việt Nam, hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty cổ phần được quy định tại Điều 87 Luật Doanh nghiệp Các quy định trong Điều 87, Luật Doanh nghiệp Việt Nam tạm thời được coi là quy định về chào bán cổ phần riêng lẻ đối với những loại công ty cổ phần thành lập và hoạt động theo luật này Bên cạnh đó, Nghị định số 01/2010/NĐ-CP ngày 04/01/2010 của Chính phủ về chào bán cổ phần riêng lẻ cũng đưa ra định nghĩa về chào bán
cổ phần riêng lẻ, theo đó, chào bán cổ phần riêng lẻ là việc chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho một trong các đối tượng sau: (i) các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; (ii) dưới 100 nhà đầu tư không phải nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp” (Khoản 1, Điều 4, Nghị định 01/2010/NĐ-CP ngày 04/01/2010 của Chính phủ về chào bán cổ phần riêng lẻ)
Trên thế giới, các quy định về chào bán cổ phần riêng lẻ có thể thức và thủ tục chào bán khá đơn giản Tổ chức chào bán không phải đăng ký chào bán với
cơ quan có thẩm quyền quản lý chào bán Tuy nhiên, điều này không có nghĩa tổ chức chào bán không thực hiện cung cấp thông tin đầy đủ về đợt chào bán cho các nhà đầu tư mà ngược lại, tổ chức chào bán phải có nghĩa vụ công bố thông tin chào bán riêng lẻ thông qua các tổ chức tài chính trung gian như tổ chức bảo lãnh phát hành, tổ chức môi giới chào bán, hoặc các đại lý phân phối chứng khoán Pháp luật Anh, Mỹ còn yêu cầu tổ chức chào bán tiến hành chào bán riêng lẻ phải công bố thông tin chào bán trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, đài phát thanh, truyền hình, biển quảng cáo và qua internet [121; tr4] Ở Việt Nam, theo Nghị định 01/2010/NĐ-CP ngày 04/01/2010 của Chính phủ về chào bán cổ phần riêng lẻ, chào bán riêng lẻ có những điểm đặc thù Tính đặc thù thể hiện ở chỗ Nghị định này đã phân chia quyền quản lý
Trang 2319
các chủ thể chào bán cho một số cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước… và yêu cầu chủ thể chào bán phải đăng kí với các cơ quan quản lý trực tiếp trước mỗi đợt chào bán cổ phần riêng lẻ
Về phương thức chào bán cổ phần ra công chúng, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc và một số quốc gia khác, tiêu chí để nhận diện một đợt chào bán cổ phần ra công chúng của công ty cổ phần chính
là việc công ty cổ phần chào bán phải tiến hành đăng kí việc chào bán này với
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Ở Mỹ, Quy chế về thị trường giao dịch chứng khoán do Uỷ ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ ban hành đã đưa ra định nghĩa chào bán chứng khoán ra công chúng được nhận diện là hoạt động chào bán mà chủ thể chào bán phải đăng ký hoạt động này với cơ quan quản lý chứng khoán [123] Ở Trung Quốc, Luật chứng khoán đưa ra khái niệm về chào bán chứng khoán ra công chúng, trong đó hoạt động chào bán này phải được cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán chấp thuận, xác minh, phê chuẩn.[74]
Chào bán chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật Việt Nam là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức như sau: (i) thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả internet; (ii) chào bán chứng khoán cho từ 100 nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp; (iii) chào bán chứng khoán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định (Khoản 12, Điều 6, Luật Chứng khoán 2006) Theo quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam, tiêu chí để phân biệt chào bán chứng khoán ra công chúng và chào bán chứng khoán riêng lẻ phụ thuộc vào số lượng các nhà đầu tư tham gia cuộc chào bán và phương thức chào bán có tính chất đại chúng
Pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đưa ra khái niệm chào bán cổ phần ra công chúng và mặc định rằng những phương thức chào bán cổ phần còn lại của công ty cổ phần đều được coi là chào bán cổ phần riêng lẻ Cách quy định như vậy có ưu điểm là pháp luật sẽ điều chỉnh đầy đủ
Trang 2420
hoạt động chào bán nào của công ty cổ phần Tất cả các hoạt động chào bán
cổ phần của công ty cổ phần trước hết được nhận diện với các đặc điểm của hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng, nếu không thỏa mãn, một cách tự động sẽ được coi là hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ Và như vậy, sẽ không có trường hợp tồn tại một hoạt động chào bán không thỏa mãn đặc điểm của chào bán cổ phần ra công chúng, cũng không thỏa mãn đặc điểm của chào bán cổ phần riêng lẻ Pháp luật Việt Nam lại cùng lúc đưa ra khái niệm về phương thức chào bán cổ phần ra công chúng và khái niệm về phương thức chào bán cổ phần riêng lẻ với những đặc điểm nhận diện khác nhau Như vậy, nếu áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam, sẽ có những hoạt động chào bán cổ phần không thỏa mãn các điều kiện để được coi
là chào bán cổ phần ra công chúng, mặt khác, cũng không thỏa mãn các điều kiện để trở thành hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ Thực tế sẽ không có quy định pháp luật phù hợp để điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần này của công ty cổ phần
Có thể nói, ở quốc gia nào cũng vậy, phương thức chào bán cổ phần của công ty cổ phần được coi là quan trọng nhất trong nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần Bởi lẽ, pháp luật điều chỉnh các phương thức này dựa trên bản chất kinh tế của chúng, từ đó quyết định các vấn đề khác cần phải điều chỉnh như điều kiện chào bán, thủ tục chào bán, nhà đầu tư có quyền mua cổ phần chào bán của công ty cổ phần Như vậy, với việc xem xét cách nhìn nhận của pháp luật về một quy trình trong số các quy trình chào bán cổ phần của công ty cổ phần có thể thấy rằng, dưới góc
độ pháp luật, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần là phức hợp của nhiều hoạt động khác nhau, thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau xoay quanh việc thực hiện một quyền được pháp luật xác nhận và bảo vệ của công
ty cổ phần Chính vì vậy, hoạt động phức tạp và có khả năng ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế xã hội này đã được các chế định pháp luật điều chỉnh một cách chi tiết, đầy đủ và cụ thể
Như vậy, xuất phát từ bản chất kinh tế, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần được xác định để điều chỉnh dưới dạng một tập hợp các hoạt
Trang 25ty cổ phần nói riêng và khung pháp luật tài chính, thương mại nói chung
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần và phân biệt hoạt động này với các hoạt động huy động vốn khác
1.1.2.1 Đặc điểm của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần được ghi nhận là một cách thức huy động vốn điển hình, linh hoạt và có khả năng xã hội hoá cao của công ty cổ phần Việc tổ chức thực hiện hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần trong nội bộ doanh nghiệp được giải quyết chủ yếu dựa vào nguyên tắc đối vốn Dưới góc độ kinh tế và góc độ pháp lý, khi nghiên cứu hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, chúng tôi cho rằng hoạt động này có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần là một hoạt
động huy động vốn chủ sở hữu Hoạt động này được thể hiện cụ thể với hai mục đích, đó là kiến tạo vốn điều lệ ban đầu của các công ty cổ phần ở thời điểm thành lập hoặc tăng thêm vốn điều lệ hiện có của công ty cổ phần Sự thành công của một đợt chào bán cổ phần riêng lẻ hay chào bán cổ phần ra công chúng đều có kết quả là thiết lập hoặc làm tăng số vốn điều lệ thực có của công ty cổ phần Số lượng cổ đông có thể tăng hoặc không tăng thêm qua các đợt chào bán, tùy thuộc vào việc giới hạn đối tượng được phép mua cổ phần chào bán của công ty cổ phần, tuy nhiên, vốn điều lệ thực có của công ty
cổ phần luôn tăng lên sau mỗi đợt chào bán thành công Quan trọng hơn, nguồn vốn thu được là nguồn vốn chủ sở hữu, không tạo ra cho công ty cổ phần những khoản nợ phải trả cùng với những cam kết về lãi suất tiền vay như khi công ty cổ phần tiến hành chào bán một số loại chứng khoán khác như trái phiếu công ty
Eilis Ferran, trong cuốn Principles of Corporate Finance Law, đã nhận
Trang 2622
định rằng đặc điểm quan trọng nhất của hoạt động chào bán cổ phần của công
ty cổ phần đó chính là gia tăng vốn kinh doanh mà không làm tăng thêm các nghĩa vụ đối với vốn, mặt khác lại san sẻ được một số nghĩa vụ trong hoạt động kinh doanh với các chủ đầu tư mới [102; tr409]
Thứ hai, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần có tính chất
linh hoạt và có khả năng xã hội hóa cao Pháp luật của hầu hết các nước đều ghi nhận hai phương thức chào bán cổ phần, đó là chào bán cổ phần riêng lẻ
và chào bán cổ phần ra công chúng, điều này làm cho hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần trở nên linh hoạt Khi đã xác định được những lợi ích và những rủi ro có thể phải đối mặt, công ty cổ phần chủ trương tăng vốn bằng cách chào bán cổ phần sẽ được quyền lựa chọn những phương thức chào bán cổ phần phù hợp Khi cổ phần được phát hành và chào bán cho các chủ đầu tư, nhất là trong phương thức chào bán cổ phần ra công chúng với việc không hạn chế số lượng nhà đầu tư mua cổ phần, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần thực sự có khả năng tiếp cận được với nhiều đối tượng đầu tư, đáp ứng được đa dạng các nhu cầu đầu tư và xác định được nhiều mối quan hệ khác nhau với công chúng đầu tư Điều đó chứng tỏ khả năng xã hội hóa cao của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Chính khả năng xã hội hóa cao của hoạt động chào bán cổ phần tạo cho công ty cổ phần những quyền năng đặc biệt đối với thị trường chứng khoán, nhất là khả năng can thiệp để làm thay đổi thị trường, thậm chí bóp méo thị trường chứng khoán [123; tr81] Thị trường chứng khoán có thể bị ảnh hưởng bởi những thông tin về chính chủ thể chào bán chứng khoán hoặc bởi những thông tin liên quan trực tiếp đến hàng hóa là chứng khoán bán trên thị trường, trong đó, chứng khoán là cổ phần có khả năng làm ảnh hưởng lớn nhất tới thị trường Vì vậy, có thể kết luận rằng tính xã hội hóa cao là một trong những đặc điểm quan trọng, giúp nhận diện hoạt động chào bán cổ phần của công ty
cổ phần trong khoa học cũng như trong thực tiễn
Thứ ba, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần được tiến
hành chủ yếu dựa trên nguyên tắc đối vốn, nhất là các vấn đề quyết định đợt
Trang 27ty cổ phần chủ yếu là vì lợi ích kinh tế Khi góp vốn, cổ đông không tiếp tục
sở hữu chính các tài sản mà họ đã mang ra góp vốn mà sẽ sở hữu một phần công ty tương ứng với tỷ lệ góp vốn Và quyền sở hữu cổ phần là căn cứ xác nhận quyền sở hữu công ty của các cổ đông Khi quyền sở hữu được xác lập,
cổ đông được hưởng các quyền phái sinh từ quyền sở hữu, đặc biệt là quyền đối với việc ưu tiên mua cổ phần mới phát hành của công ty
Có thể nói, tất cả những quyền nói trên của cổ đông công ty cổ phần thể hiện trong hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần đều được giải quyết theo nguyên tắc đối vốn Điều đó có nghĩa, mọi sự phân chia, ưu tiên dành cho các chủ đầu tư liên quan đến hoạt động chào bán cổ phần của công
ty cổ phần đều được giải quyết dựa trên phần vốn, loại vốn mà các chủ đầu tư hiện đang nắm giữ trong công ty cổ phần Như vậy, có thể nói, tính chất đối vốn vẫn là tính chất thể hiện rõ nét nhất trong các mối quan hệ mà hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần có thể thiết lập nên
Thứ tư, hoạt động chào bán cổ phần chỉ diễn ra trên thị trường sơ cấp
trong khi các hoạt động khác liên quan đến cổ phần như kinh doanh chứng khoán lại chỉ diễn ra trên thị trường thứ cấp Tại thị trường sơ cấp, quan hệ giữa tổ chức chào bán và nhà đầu tư sơ cấp được thiết lập, cũng tại thị trường này, vốn của tổ chức phát hành được tạo lập hoặc tăng thêm trong khi tại thị trường thứ cấp chỉ có giao dịch giữa các nhà đầu tư thứ cấp và các chủ thể
Trang 2824
trung gian Hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, vì thế, chỉ là hoạt động diễn ra trên thị trường chứng khoán sơ cấp, ở đó, hàng hóa là cổ phần lần đầu tiên được giới thiệu đến công chúng đầu tư với giá bán phụ thuộc vào sự quyết định của chủ thể chào bán theo các quy định của pháp luật Đây có thể coi là một đặc điểm đặc trưng của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần so với các giao dịch liên quan đến cổ phần diễn ra ở thị trường thứ cấp
Trong khi các giao dịch chứng khoán trên thị trường thứ cấp không tạo ra
sự gia tăng về hàng hóa cho thị trường, đó đơn giản chỉ là sự luân chuyển hàng hóa từ nhà đầu tư này sang nhà đầu tư khác thì hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần lại có một chức năng khác biệt Với đặc trưng là chỉ thiết lập nên những mối quan hệ giao dịch trên thị trường chứng khoán sơ cấp, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, một mặt cung cấp hàng hóa cho thị trường chứng khoán, làm gia tăng lượng hàng hóa là cổ phần đang giao dịch trên thị trường chứng khoán, một mặt tạo ra cho người mua (nhà đầu tư) cơ hội được sở hữu một phần vốn trong công ty chào bán Đây là một trong những đặc điểm quan trọng của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần, góp phần làm
rõ những ý nghĩa lý luận của hoạt động này trong mối quan hệ với các hoạt động giao dịch chứng khoán khác trên thị trường chứng khoán
1.1.1.2 Phân biệt hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần với các hoạt động huy động vốn khác
Hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần là một hoạt động đặc thù, với những đặc điểm đã được luận án phân tích ở phần 1.1.2.1, có thể thây, việc phân biệt hoạt động này với một số hoạt động huy động vốn khác làm cho những đặc trưng của hoạt động này nổi bật và góp phần làm sáng tỏ hơn những ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn của pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần trong khoa học pháp lý hiện đại ngày nay
Xuất phát từ bản chất là một hoạt động huy động vốn, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần có thể được phân biệt với hai hoạt động huy
Trang 2925
động vốn khác, bao gồm: (i) hoạt động chào bán các loại chứng khoán khác của công ty cổ phần; (ii) hoạt động chào bán cổ phần của các chủ thể khác trong nền kinh tế - xã hội
Thứ nhất, trong mối tương quan so sánh với hoạt động chào bán các
loại chứng khoán khác của công ty cổ phần
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều công nhận quyền huy động vốn linh hoạt với nhiều phương thức khác nhau của công ty cổ phần Ngoài các loại cổ phần, công ty cổ phần còn có quyền phát hành một số loại chứng khoán khác để huy động vốn như: trái phiếu, chứng quyền, quyền mua cổ phần, chứng chỉ quỹ, quyền chọn bao gồm quyền chọn bán và quyền chọn mua, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán Ở Việt Nam, tại Khoản 1, Điều 6, Luật Chứng khoán 2006 cũng đã liệt kê những loại chứng khoán nói trên thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Chứng khoán 2006 Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, luận án giới hạn việc phân biệt giữa hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần với các hoạt động chào bán trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng quyền và quyền mua cổ phần
Về bản chất, hoạt động chào bán các loại chứng khoán không phải là cổ phần nói trên cũng phục vụ mục đích huy động vốn kinh doanh của công ty cổ phần, tuy nhiên, xét dưới góc độ kinh tế, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần có rất nhiều điểm khác biệt, cụ thể:
Một là, trong tương quan so sánh với hoạt động chào bán trái phiếu,
loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu trái phiếu thông qua một hợp đồng nợ ngắn hạn hoặc dài hạn đối với tổ chức chào bán; đảm bảo một sự chi trả lợi tức định kỳ và hoàn lại vốn gốc cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn Đây chính là hoạt động huy động vốn vay của công ty cổ phần, tạo ra những khoản nợ và áp lực phải thanh toán khoản
nợ đó cả gốc và lãi Trong khi, việc chào bán cổ phần chỉ làm tăng vốn chủ sở hữu, tăng thêm cổ đông của công ty cổ phần mà không tạo ra bất kì một khoản
nợ nào Việc phát hành và bán trái phiếu cho các nhà đầu tư luôn luôn đi kèm với những lợi ích đã được xác định cụ thể như lãi suất mà các nhà đầu
Trang 3026
tư được hưởng trên mệnh giá trái phiếu, thời hạn mà các nhà đầu tư nhận được phần hoa lợi này không phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty Ngược lại, với cổ phiếu, về cơ bản, các nguyên tắc xác định lợi nhuận phát sinh từ cổ phiếu cũng được xác định trước, tuy nhiên, khi nào lợi nhuận thực sự phát sinh và giá trị lợi nhuận mà các nhà đầu tư được hưởng phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của công ty cổ phần Chính vì vậy, trên thực
tế, mệnh giá và thị giá của cổ phiếu có thể ở những khoảng cách rất xa nhau, nhưng mệnh giá và thị giá của trái phiếu thì lại tương đối đồng nhất Vì thế, khi huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu, tổng lượng vốn vay và vốn thu được của công ty cổ phần là tương đương Nhưng khi huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu thì ngoài lượng vốn điều lệ, công ty cổ phần còn có khả năng thu được một lượng vốn thặng dư từ việc bán cổ phần cao hơn so với mệnh giá để nhập vào khối tài sản của công ty cổ phần
Hai là, trong tương quan so sánh với hoạt động chào bán quyền mua cổ
phần, được nhận diện là một loại chứng khoán phái sinh phát hành kèm theo
cổ phiếu tạo ra những quyền ưu tiên mua cổ phần trong đợt chào bán cổ phần thêm cho các cổ đông hiện hữu với giá thấp hơn giá bán cho các đối tượng khác trong một thời hạn nhất định thì việc phát hành cổ phần chỉ tạo ra những
cơ hội đầu tư công bằng cho các chủ đầu tư chứ không xác định bất kỳ một quyền ưu tiên nào nếu như pháp luật không quy định về những quyền ưu tiên
đó Hơn nữa, chứng khoán là quyền mua cổ phần, tuy được chào bán kèm với một đợt chào bán cổ phần của công ty cổ phần nhưng lại có thời gian tồn tại rất ngắn, bởi lẽ quyền ưu tiên chỉ xác định trong một khoảng thời gian trước khi cổ phần được chính thức bán cho các nhà đầu tư
Ba là, trong khi việc chào bán chứng quyền, một loại chứng khoán
được chào bán cùng với việc chào bán trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi của công ty cổ phần, cho phép người sở hữu chứng quyền được quyền mua một số
cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời
kỳ nhất định tạo ra một quyền mua chứng khoán cho người sở hữu trong một thời hạn dài đến 5 – 10 năm thì việc chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Trang 3127
không tạo ra những quyền mua này mà chỉ xác định quyền mua ngay lập tức các cổ phần chào bán trong một đợt chào bán cụ thể Cũng giống với việc chào bán quyền mua cổ phần, việc chào bán chứng quyền là cách thức huy động vốn đối với những đối tượng ưu tiên và tiền thu được từ những đợt bán chứng quyền và quyền mua cổ phần này không được tính vào cơ cấu vốn Điều lệ của công ty cổ phần mà chỉ được nhập vào khối tài sản hiện có của công ty cổ phần chào bán chứng quyền và quyền mua cổ phần mà thôi Trong khi đó, việc huy động vốn bằng cách chào bán cổ phần chính là hoạt động huy động vốn chủ sở hữu trực tiếp và ngay lập tức số tiền bán cổ phần được ghi nhận trong Điều lệ công ty và mỗi cổ đông sẽ được xác nhận giá trị phần vốn của mình trong vốn Điều lệ của công ty cổ phần là chủ thể chào bán cổ phần
Bốn là, việc chào bán chứng chỉ quỹ, một loại chứng khoán của công ty cổ
phần được phép chào bán (trong trường hợp đó là công ty cổ phần thực hiện hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán), xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng, không xác nhận quyền chủ sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn điều lệ của công ty cổ phần Vốn của quỹ đầu tư hoàn toàn độc lập với vốn và các tài sản khác của công ty cổ phần Khi công ty cổ phần có chức năng quản lý quỹ đầu tư, công ty này có thể chào bán các chứng chỉ quỹ để bán cho các nhà đầu tư Các nhà đầu tư sau khi sở hữu chứng chỉ quỹ, không trở thành cổ đông của công ty cổ phần mà chỉ trở thành chủ sở hữu của một phần vốn trong giá trị quỹ đầu tư đó Xét ở góc độ công ty cổ phần chào bán chứng chỉ quỹ, sau khi thu được tiền từ hoạt động bán chứng chỉ quỹ, công ty cổ phần chào bán loại chứng khoán này không trở thành chủ sở hữu của phần vốn huy động được
mà chỉ trở thành chủ thể quản lý phần vốn đó trên danh nghĩa quỹ đầu tư
Chỉ có những công ty cổ phần đầu tư chứng khoán, khi thực hiện việc trích một phần vốn hiện có của công ty để đầu tư trực tiếp vào quỹ đầu tư thì mới trở thành đồng chủ sở hữu phần giá trị vốn của quỹ đầu tư đó cùng với các nhà đầu tư khác Có thể nói, việc chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư không đem lại vốn chủ sở hữu cho công ty cổ phần mà chỉ tạo nên vốn cho quỹ đầu tư – đối tượng quản lý của công ty cổ phần
Trang 3228 Trong khi đó, việc chào bán cổ phần của công ty cổ phần luôn tạo ra cho các nhà đầu tư mua cổ phần những cơ hội trở thành những đồng chủ sở hữu của công ty cổ phần, cũng có nghĩa là, hoạt động này luôn dẫn tới một kết quả là vốn điều lệ thực có của công ty cổ phần được thiết lập (ở thời điểm thành lập) hoặc tăng lên (sau thời điểm thành lập) Sự khác biệt cơ bản giữa việc chào bán cổ phần và việc chào bán chứng chỉ quỹ đầu tư của công ty cổ phần chính là việc ghi nhận quyền chủ sở hữu của các nhà đầu tư đối với một phần công ty hay là chỉ ghi nhận quyền chủ sở hữu của các nhà đầu tư đối với một đối tượng quản lý nằm ngoài tài sản của công ty cổ phần khi thực hiện việc mua các loại chứng khoán đó trên thực tế
Như vậy, trong tương quan so sánh với việc chào bán các loại chứng khoán khác như trái phiếu, chứng quyền, quyền mua cổ phần hoặc chứng chỉ quỹ thì hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần được phân biệt bởi các dấu hiệu như: (i) chỉ xác nhận việc mua cổ phần ngay lập tức của các chủ đầu tư; (ii) tạo ra một khoản vốn chủ sở hữu (vốn điều lệ) của công ty cổ phần; (iii) chủ đầu tư mua cổ phần sẽ trở thành đồng chủ sở hữu đối với công
ty cổ phần và ở một mức độ nhất định, người mua cổ phần sẽ chia sẻ quyền quản lý nội bộ và chịu trách nhiệm đối với mọi rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần
Thứ hai, trong mối tương quan so sánh với hoạt động chào bán cổ phần
của các chủ thể khác trong nền kinh tế - xã hội
Về cơ bản, pháp luật của hầu hết các quốc gia đều công nhận chỉ có công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp được phép chào bán cổ phần Các loại hình doanh nghiệp khác có thể được phép chào bán một số loại chứng khoán khác như trái phiếu nhưng không được phép chào bán cổ phần Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp đặc biệt, pháp luật ở một số quốc gia cũng ghi nhận quyền chào bán cổ phần của các chủ thể không được định danh trong văn bản pháp luật với tên gọi là công ty cổ phần
Đặc biệt, ở các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, trong đó có Việt Nam, các trường hợp ngoại lệ được ghi nhận nhiều hơn Ở Việt Nam, ngoài các công ty cổ phần được định nghĩa theo Điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005
Trang 3329
được phép chào bán cổ phần riêng lẻ và chào bán cổ phần ra công chúng, một
số loại hình doanh nghiệp không có đăng kí kinh doanh dưới hình thức công
ty cổ phần vẫn được phép tiến hành chào bán cổ phần trong một số trường hợp đặc biệt Có thể kể đến các công ty nhà nước (trước năm 2003 được gọi là doanh nghiệp nhà nước) và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong quá trình chuyển đổi thành công ty cổ phần đã được nhà nước cho phép chào bán cổ phần để huy động vốn hoặc cơ cấu lại thành phần chủ sở hữu vốn trong doanh nghiệp trước khi được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh đối với hình thức công ty cổ phần
So với các chủ thể khác được phép chào bán cổ phần, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần có những đặc trưng cơ bản để phân biệt, cụ thể bao gồm:
Một là, trong khi chào bán cổ phần là quyền đương nhiên của công ty
cổ phần thì các chủ thể khác chỉ có quyền chào bán cổ phần trong một số trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định Kể từ khi có giấy chứng nhận đăng
kí kinh doanh, những công ty cổ phần sau chuyển đổi này có quyền quyết định việc chào bán cổ phần riêng lẻ hoặc chào bán cổ phần ra công chúng vào bất cứ thời điểm nào trên cơ sở các điều kiện mà pháp luật quy định
Hai là, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần luôn hướng tới
mục đích thiết lập vốn điều lệ tại thời điểm thành lập hoặc tăng vốn thực có trong vốn điều lệ lên một mức cao hơn nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Có thể nói, mục đích của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần là kiến tạo hoặc gia tăng vốn chủ sở hữu Hoạt động này
có thể làm thay đổi hoặc không thay đổi cơ cấu chủ sở hữu vốn hiện có của công ty cổ phần (trường hợp đợt chào bán chỉ dành bán cổ phần cho những cổ đông hiện hữu của công ty cổ phần) Trong khi đó, các chủ thể đặc biệt có quyền chào bán cổ phần khi chưa có tư cách là công ty cổ phần không phải bao giờ cũng hướng việc chào bán cổ phần tới mục đích kiến tạo vốn hoặc tăng vốn thực có trong vốn điều lệ Mục đích chính của các đợt chào bán cổ phần do các chủ thể đặc biệt tiến hành hướng tới ít nhất là hai mục tiêu khác,
Trang 3430 bao gồm: (i) thay đổi cơ cấu chủ sở hữu đối với vốn điều lệ hiện có của doanh nghiệp mà không làm tăng hoặc giảm vốn điều lệ; (ii) tạo ra cơ sở vốn làm nền tảng để thực hiện việc chuyển đổi từ một loại hình doanh nghiệp khác sang loại hình công ty cổ phần
Ba là, các điều kiện đặt ra đối với hoạt động chào bán cổ phần của công ty
cổ phần bao giờ cũng thống nhất và có tính hệ thống hơn so với điều kiện đặt ra đối với hoạt động chào bán cổ phần của các loại chủ thể đặc biệt khác không phải là công ty cổ phần Thông thường, chủ thể chào bán cổ phần mà không phải
là công ty cổ phần đã là một ngoại lệ chỉ có thể được ghi nhận trong những thời điểm xác định cho nên điều kiện để các chủ thể này tiến hành chào bán cổ phần cũng tồn tại những ngoại lệ đặc biệt so với các điều kiện mà pháp luật đã đặt ra đối với hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Như vậy, ở những nền kinh tế đang chuyển đổi, trong đó có Việt Nam, xét ở một góc độ nhất định, việc ghi nhận một số chủ thể không phải là công
ty cổ phần có quyền chào bán cổ phần đã thể hiện những ý nghĩa nhất định đối với sự phát triển của pháp luật doanh nghiệp và của nền kinh tế - xã hội Ở Việt Nam, việc pháp luật cho phép công ty nhà nước (trước năm 2003 được định danh là doanh nghiệp nhà nước) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được chào bán cổ phần khi chưa có Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh với hình thức công ty cổ phần nhằm mục đích thúc đẩy quá trình thống nhất các quy định pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam
Mặc dù vậy, không phải quốc gia nào cũng ghi nhận những ngoại lệ, theo đó, có những chủ thể không phải là công ty cổ phần cũng có quyền chào bán cổ phần cho các nhà đầu tư Rõ ràng, trong tương quan so sánh với hoạt động chào bán cổ phần của các chủ thể khác trong nền kinh tế, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần có những đặc trưng phân biệt và qua đó làm
rõ các đặc điểm cơ bản của hoạt động này so với một số hoạt động tương tự khác của các chủ thể không phải là công ty cổ phần
1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần không chỉ mang lại
Trang 3531
lợi ích cho chủ thể chào bán mà còn tác động trực tiếp tới sự phát triển và sự
ổn định của nền kinh tế xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những ý nghĩa tích cực, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần cũng có thể đặt các bên trong quan hệ cũng như nền kinh tế xã hội vào thế phải đối mặt với những nguy cơ rủi ro nhất định
1.1.3.1 Ý nghĩa của hoạt động chào bán cổ phần đối với công ty cổ phần chào bán
Như trên đã phân tích, đối với công ty cổ phần thực hiện việc chào bán
cổ phần cho các nhà đầu tư, lợi ích có thể được nhìn nhận trên hai khía cạnh chủ yếu:
(i) Một là, dưới góc độ kinh tế, hoạt động chào bán cổ phần của công ty
cổ phần là một hoạt động huy động vốn cơ bản Vốn được huy động theo cách thức này là vốn chủ sở hữu của công ty cổ phần, được ghi vào Điều lệ của công ty cổ phần và thể hiện khả năng tài chính thực sự của công ty này Lượng vốn chủ sở hữu lớn hay nhỏ sẽ quyết định rất nhiều vấn đề tiếp theo của công ty cổ phần, ví dụ như việc quyết định khả năng đầu tư, kinh doanh, khả năng dự thầu hay khả năng vay vốn hoặc tiếp tục chào bán thêm cổ phần của công ty cổ phần
Cũng như các hoạt động chào bán chứng khoán nói chung, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần về mặt bản chất là hoạt động thu hút đầu tư Tuy nhiên, so với các phương pháp huy động vốn đầu tư khác như vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc chào bán trái phiếu công ty, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần thực sự khẳng định các ưu thế, mang lại lợi ích cho công ty cổ phần, cụ thể là:
* Thứ nhất, có thể kể đến lợi ích xuất phát từ việc khoản thu từ đợt
chào bán cổ phần của công ty cổ phần không cấu thành một khoản nợ, vì vậy không làm tăng áp lực về khả năng cân đối việc thanh toán của công ty cổ
Trang 3632
phần Trong khi thực hiện các hoạt động huy động vốn vay, tổ chức vay vốn, ngoài việc chịu áp lực về các khoản lãi và gốc phải trả trong một thời hạn quy định thì việc đáp ứng các điều kiện được vay vốn cũng rất khắt khe thể hiện qua yêu cầu thế chấp tài sản
* Thứ hai, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần mà đặc biệt
là hoạt động chào bán cổ phần ra công chúng sẽ làm cho công ty chào bán có
khả năng tiếp cận được với các nhà đầu tư với số lượng dồi dào đi đôi với
nguồn vốn đầu tư không hạn chế mà công ty cổ phần có thể huy động được
* Thứ ba, không thể phủ nhận được là hoạt động chào bán cổ phần của
công ty cổ phần là một cơ hội tốt để công ty có thể tự quảng bá, khẳng định khả năng tài chính cũng như uy tín của mình trên thị trường Sở dĩ có được lợi ích này là do khi thực hiện các đợt chào bán cổ phần, nhất là khi thực hiện chào bán cổ phần ra công chúng, công ty cổ phần tiến hành chào bán buộc phải đáp ứng một hệ thống các điều kiện khắt khe của pháp luật, ví dụ như công khai về tình hình kinh doanh, tình hình tài chính, đáp ứng các yêu cầu về vốn điều lệ tự có Chính vì vậy, khi được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện chào bán cổ phần ra công chúng cũng có nghĩa là công ty cổ phần chào bán đang sở hữu một uy tín nhất định so với các công ty cổ phần khác trong nền kinh tế Thực tế cho thấy công ty cổ phần chào bán cổ phần rộng rãi ra công chúng mặc nhiên được giới đầu tư, bạn hàng cũng như các đối tượng khác
trong nền kinh tế, xã hội đánh giá cao hơn so với các công ty cùng loại khác
(ii) Hai là, dưới góc độ pháp lý, thực hiện chào bán cổ phần cũng có nghĩa
công ty cổ phần đang thực hiện một quyền mà pháp luật ghi nhận và bảo vệ Theo pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, công ty cổ phần hầu như là loại hình công ty duy nhất trong nền kinh tế có quyền được huy động vốn bằng cách chào bán cổ phần Có thể nói, nếu như việc chào bán trái phiếu
để huy động vốn vay là quyền của rất nhiều loại hình doanh nghiệp như công
ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã thì việc chào bán cổ phần để huy động vốn chủ sở hữu là quyền chỉ thuộc về công ty cổ phần Mặc dù, ở Việt Nam, công
ty cổ phần không phải là loại hình công ty duy nhất được quyền chào bán cổ
Trang 3733
phần, nhưng những trường hợp đặc biệt như vậy rất hiếm khi xảy ra ở các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia phát triển Vì vậy, dưới góc độ pháp luật, vai trò của hoạt động chào bán cổ phần đối với công ty cổ phần được khẳng định là quan trọng
Tuy nhiên, khi sử dụng việc chào bán cổ phần làm một kênh huy động vốn, công ty cổ phần có thể đối mặt với nguy cơ rủi ro, đó là tương quan tỷ lệ thuận giữa lượng vốn huy động được, số lượng cổ đông tăng lên và sự hạn chế trong khả năng kiểm soát và quản lý công ty cổ phần Khi thị trường chứng khoán ngày càng phát triển, trong bối cảnh các nhà đầu tư chỉ tìm đến
cổ phần như một sự đầu cơ vốn trên thị trường nhằm thu lợi từ việc mua rẻ, bán đắt cổ phần chứ không phải là đầu tư để cùng điều hành, quản lý và thu lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của công ty thì khả năng quản lý việc chuyển nhượng cũng như quản lý cổ đông của công ty cổ phần càng trở nên khó khăn
1.1.3.2 Ý nghĩa của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần đối với nhà đầu tư
(i) Đối với nhà đầu tư mới của công ty cổ phần chào bán cổ phần
Đối với các nhà đầu tư, hoạt động chào bán cổ phần là cơ hội tốt để các nhà đầu tư góp vốn vào những công ty cổ phần để nhằm tới mục tiêu lợi nhuận trong tương lai Khi công ty cổ phần tiến hành chào bán cổ phần riêng
lẻ, cơ hội của các nhà đầu tư mới còn hạn hẹp, tuy nhiên, khi công ty cổ phần
đủ điều kiện cũng như có nhu cầu huy động vốn rộng rãi từ các nhà đầu tư không giới hạn số lượng thì cơ hội của các nhà đầu tư cá nhân và các nhà đầu
tư chuyên nghiệp được mở rộng Thực tế cho thấy, khi tiến hành đầu tư để trở thành cổ đông của một công ty cổ phần thì mỗi nhà đầu tư đều phải chấp nhận những rủi ro có thể xảy ra phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Tuy nhiên, khi mua cổ phần của các công ty cổ phần chào bán cổ phần ra công chúng, rủi ro của các nhà đầu tư sẽ giảm xuống đáng kể Xuất phát từ việc các công ty cổ phần chào bán rộng rãi cổ phần ra công chúng phải đáp ứng các yêu cầu khắt khe của pháp luật, cụ thể là yêu cầu về
Trang 3834
năng lực tài chính, yêu cầu về công khai thông tin kinh doanh, các nhà đầu tư mới
có thể yên tâm ra những quyết định đầu tư vào những công ty cổ phần có triển vọng kinh doanh, có khả năng sinh lợi cho đồng vốn đầu tư Vì vậy, đó chính là công cụ
hỗ trợ nhằm giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư mới trong kinh doanh
Hạn chế lớn nhất của các cổ đông là các nhà đầu tư mới của công ty cổ phần chính là sự bất cân xứng về thông tin liên quan đến công ty chào bán cổ phần Sự thiếu hụt thông tin này làm cho các nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư không chính xác và nguy cơ mất toàn bộ số vốn mua cổ phần có thể xảy ra
(ii) Đối với nhà đầu tư là cổ đông hiện hữu của công ty cổ phần chào bán cổ phần
Có thể nói, đối với nhà đầu tư, hoạt động chào bán cổ phần của công ty
cổ phần tạo cho họ một cơ hội để khẳng định thêm vị thế của mình trong công
ty trong khi vị thế cũ không mất đi Thông thường, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định, khi thực hiện các đợt chào bán cổ phần mới, công ty cổ phần tiến hành chào bán đều phải ưu tiên cho các cổ đông hiện hữu của công ty mình quyền mua cổ phần, thậm chí ưu tiên cả giá mua
cổ phần và cách thức mua cổ phần đơn giản hơn rất nhiều so với cách thức áp dụng đối với các nhà đầu tư khác
Như vậy, đối với nhà đầu tư là cổ đông hiện hữu của công ty cổ phần, hoạt động chào bán cổ phần mang lại cho họ những lợi ích to lớn với những cổ phần được mua có giá trị thanh khoản cao Việc các nhà đầu tư này giữ nguyên, củng
cố vị thế của mình trong công ty bằng cách mua thêm các cổ phần chào bán hoặc thoát khỏi sự ràng buộc với công ty bằng cách dễ dàng chuyển nhượng lại các cổ phần đã mua làm cho hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần có một ý nghĩa to lớn đối với nhà đầu tư là các cổ đông hiện hữu
Đối với nhà đầu tư là cổ đông hiện hữu của công ty cổ phần, việc tiếp tục mua cổ phần có thể làm gia tăng quyền được hưởng lợi nhuận, quyền được tham gia vào quá trình quản lý công ty cổ phần nhưng cũng đồng thời làm gia tăng rủi
ro cho chính họ Khi công ty chào bán thêm cổ phần, các cổ đông hiện hữu lại đứng trước nguy cơ mất vị thế đang có trong công ty nếu như các cổ đông này
Trang 3935
không có khả năng tiếp tục mua thêm các cổ phần phát hành Việc trở thành
cổ đông của một công ty cổ phần và giữ được một vị trí nào đó trong công ty
cổ phần là một thách thức lớn đối với mỗi cổ đông hiện hữu khi mà công ty cổ phần thực hiện quyền chào bán thêm cổ phần
1.1.3.3 Ý nghĩa của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần đối với nền kinh tế - xã hội
Hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với tổ chức chào bán, đối với nhà đầu tư mà hoạt động này còn đặc biệt có ý nghĩa to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Đây là hoạt động cung cấp hàng hóa cho thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng Thành công của việc mua hay bán vốn trong nền kinh tế nói chung
có ảnh hưởng sâu sắc tới việc ổn định hoặc bất ổn định cả nền kinh tế Theo kinh nghiệm của các nước có thị trường chứng khoán phát triển, hầu hết sự bất ổn định của thị trường đều xuất phát từ khuyết tật của hàng hóa là cổ phần được chào bán riêng lẻ hoặc rộng rãi trên thị trường đó
Nếu công ty cổ phần thực hiện một đợt chào bán cổ phần ra công chúng thành công, nền kinh tế sẽ tiếp thu thêm nhiều hàng hóa có giá trị, có chất lượng
và đặc biệt là có tính thanh khoản cao Khi thị trường vốn thể hiện sự sôi động trong khả năng có thể kiểm soát của pháp luật, nền kinh tế, xã hội có cơ hội để phát triển nhanh hơn và vững chắc hơn với sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp vững mạnh về tài chính và các nhà đầu tư linh hoạt
Một thực tế chứng minh cho ý nghĩa bình ổn và điều hòa nền kinh tế của hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần là không phải mọi đợt chào bán đều hấp dẫn các nhà đầu tư, khiến cho các nhà đầu tư quyết định mua cổ phiếu của công ty cổ phần Hơn nữa, các tổ chức bảo lãnh phát hành
có thể gặp phải khó khăn trong việc phân phối chứng khoán nếu giá chứng khoán đó trên thị trường giảm xuống dưới giá chào bán ra công chúng trước khi hoàn thành việc phân phối Vì vậy, để ngăn chặn sự sụt giá ngay lập tức của chứng khoán trong và sau thời gian chào bán, pháp luËt về chứng khoán các nước đều cho phép áp dụng các biện pháp ổn định và điều hoà thị trường,
Trang 4036
theo đó, tổ chức bảo lãnh chào bán có thể ổn định giá cổ phần bằng cách mua
cổ phần đó với mức giá ngang bằng hoặc thấp hơn một chút so với giá cổ phiếu vừa chào bán [123; tr477]
Trong trường hợp chào bán cổ phần ra công chúng, công ty cổ phần phải thỏa mãn các điều kiện nhất định về vốn điều lệ, về tình hình kinh doanh trong một thời gian xác định và các điều kiện tương đối khắt khe về kế toán
và kiểm toán Do đó, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần đã giúp cho nền kinh tế xã hội cùng công chúng đầu tư có thêm nhiều c¬ héi vµ thông tin chính xác và có ích để quyết định đầu tư Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc tạo lập cho nền kinh tế của các quốc gia khác nhau những môi trường đầu tư ổn định và minh bạch Hoạt động chào bán cổ phần của công ty
cổ phần là các cơ hội để nền kinh tế được xếp hạng và đánh giá một cách chính xác theo những chuẩn mực chung mà đòi hỏi của thị trường tài chính cũng như của các quy định pháp luật đã đặt ra
Tuy nhiên, đối với nền kinh tế - xã hội, hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần nói riêng và các hoạt động lưu thông cổ phần trên thị trường chứng khoán nói chung càng sôi động, linh hoạt, thống nhất thì rủi ro về đổ vỡ
hệ thống càng tiềm tàng Khi lợi ích của các bên trong môi trường kinh doanh và những xung đột về lợi ích thể hiện rõ ràng thì khả năng xâm hại quyền và lợi ích của các bên có thể xảy ra Hành vi xâm hại lợi ích giữa các chủ thể xuất hiện, nền kinh tế - xã hội cũng sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng xấu
1.2 Những vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về hoạt động chào bán
cổ phần của công ty cổ phần
1.2.1 Quan niệm về pháp luật về chào bán cổ phần của công ty cổ phần
Pháp luật về hoạt động chào bán cổ phần là bộ phận cấu thành quan trọng của pháp luật chào bán chứng khoán nói riêng và pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, cũng như pháp luật tài chính, thương mại nói chung Hoạt động chào bán cổ phần hướng đến hai mục tiêu là tạo lập và huy động vốn cho công ty cổ phần đồng thời cung cấp hàng hoá cho thị trường chứng khoán, pháp luật về chào bán cổ phần có vị trí đặc biệt trong hệ