1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

101 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 9,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa cần được nghiên cứu để góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhà nước và các

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI NGỌC HƯƠNG

ĐỀ TÀI

Pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước

thực hiện cổ phần hóa

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Ánh Vân

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Bùi Ngọc Hương

Trang 3

18/07/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần

11/11/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 59/2011/NĐ-CP

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tiếp tục làm thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần

Thông tư

104/1998/TT-BTC:

Thông tư số 104/1998/TT-BTC ngày 18/07/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn những vấn đề về tài chính khi chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần

Thông tư

146/2007/TT-BTC:

Thông tư số 146/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực

Trang 4

hiện một số vấn đề về tài chính khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định 109/2007/NĐ-CP

Thông tư

196/2011/TT-BTC:

Thông tư số 196/2011/TT-BTC ngày 26/12/2011 của Bộ Tài chính về hướng dẫn bán cổ phần lần đầu và quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện chuyển đổi thành công

ty cổ phần Thông tư 115/2016/TT-

BTC:

Thông tư số 115/2016/TT-BTC ngày 30/06/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 196/2011/TT-BTC

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CỔ PHẦN HÓA, CHÀO BÁN CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN CỔ PHẦN LẦN ĐẦU CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA 7

1.1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam 7

1.1.1 Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 7

1.1.2 Sự cần thiết của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 9

1.1.2.1 Những yếu kém trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước 9

1.1.2.2 Lợi thế của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác 12

1.1.2.3 Lợi ích của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 15

1.1.3 Mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 16

1.2 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa 18

1.2.1 Khái niệm chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa 18

1.2.2 Vai trò của chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa 20

1.2.3 Các phương thức chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa 22

Trang 6

1.2.3.1 Phương thức chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa 22 1.2.3.2 Phương thức chào bán cổ phần lần đầu riêng lẻ của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa 23 1.2.4 Cơ chế giám sát của Nhà nước đối với hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa 24

1.3 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa 27

1.3.1 Khái niệm pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa 27 1.3.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động chào bán

cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa 30 1.3.3 Quá trình hình thành pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa 32_Toc497903601

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHÀO BÁN CỔ PHẦN LẦN ĐẦU CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN CỔ PHẦN HÓA VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 392.1 Những thành tựu của pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa 39

2.1.1 Những thành tựu của quy định pháp luật về các phương thức chào bán

cổ phần lần đầu 39 2.1.1.1 Quy định về phương thức đấu giá công khai tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu hút nguồn vốn lớn từ công chúng đầu tư 39

Trang 7

2.1.1.2 Quy định về phương thức bảo lãnh phát hành góp phần ngăn chặn tình trạng đấu giá bất thành 44 2.1.1.3 Quy định về phương thức thỏa thuận trực tiếp góp phần thu hút nhà đầu tư chiến lược, giải quyết số cổ phần không bán hết và số cổ phần không bán được của cuộc đấu giá không thành công 45 2.1.2 Những thành tựu của quy định về đối tượng mua cổ phần 49 2.1.2.1 Quy định về đối tượng mua cổ phần bao gồm nhà đầu tư trong nước

và nhà đầu tư nước ngoài giúp thu hút vốn đầu tư từ nhiều nguồn 49 2.1.2.2 Quy định nhà đầu tư chiến lược là đối tượng mua cổ phần tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp thông qua đối tác tiềm năng 51 2.1.2.3 Quy định người lao động và tổ chức công đoàn là đối tượng mua cổ phần tạo điều kiện cho người lao động được làm chủ doanh nghiệp 52 2.1.3 Những thành tựu của quy định về giá bán cổ phần lần đầu 53 2.1.3.1 Quy định về giá bán cổ phần lần đầu đảm bảo sự công bằng cho các nhà đầu tư mua cổ phần theo phương thức đấu giá công khai 53 2.1.3.2 Quy định về giá bán cổ phần lần đầu hấp dẫn các nhà đầu tư chiến lược 54 2.1.3.3 Quy định về giá bán cổ phần lần đầu tạo điều kiện cho người lao động và tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp mua cổ phần một cách thuận lợi 56

2.2 Những bất cập trong quy định pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa và hướng hoàn thiện 57

2.2.1 Bất cập trong quy định pháp luật về phương thức bảo lãnh phát hành

và hướng hoàn thiện 57

Trang 8

2.2.2 Bất cập trong quy định pháp luật về chính sách bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược và hướng hoàn thiện 59 2.2.3 Bất cập trong quy định pháp luật về giá bán cổ phần lần đầu cho người lao động và tổ chức công đoàn mua cổ phần của doanh nghiệp và hướng hoàn thiện 67 2.2.4 Bất cập trong quy định pháp luật về tỷ lệ cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược và hướng hoàn thiện 70 2.2.5 Bất cập trong quy định pháp luật về giới hạn tỷ lệ cổ phần bán cho người lao động và hướng hoàn thiện 72

KẾT LUẬN 78

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986, đổi mới doanh nghiệp nhà nước được xác định là một trong những nội dung quan trọng của quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, theo đó quyền tự chủ cho doanh nghiệp từng bước được mở rộng đi đôi với xóa bỏ dần chế độ bao cấp của Nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại theo hướng giải thể các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả.Cho tới thời điểm hiện tại, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, điều này càng chứng tỏ đổi mới doanh nghiệp nhà nước là thực

sự cần thiết Trước tình hình đó, hàng loạt các giải pháp về đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã được tiến hành, trong đó có giải pháp cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhằm khắc phục những bất cập của nền kinh tế nói chung và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn nhà nước nói riêng

Để cổ phần hóa, doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện chào bán cổ phần lần đầu Pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa đã từng bước được xây dựng và phát triển, đạt được những thành tựu không nhỏ trong việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Tuy nhiên, các quy định của pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế gây khó khăn cho bản thân doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa và các nhà đầu tư trong việc mua bán cổ phần được chào bán lần đầu của các doanh nghiệp này Do đó, pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa cần được nghiên cứu để góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhà nước và các nhà đầu tư thực hiện hoạt động mua bán cổ phần, khắc phục được những hạn chế đang cản trở quá trình cổ phần hóa của các doanh nghiệp nhà nước

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là vấn đề đã và đang được quan tâm đặc biệt ở nước ta Trong những năm qua, việc nghiên cứu vấn đề pháp luật

về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được tiến hành bởi nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên, pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa chưa được các tác giả quan tâm đúng mực để có thể triển khai, nghiên cứu hiệu quả nhằm tìm kiếm giải pháp cho những khúc mắc trong thực tiễn thi hành mảng pháp luật này

Liên quan đến pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như sau:

- Đoàn Văn Hạnh, Công ty cổ phần và chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998

- Nguyễn Thị Ngân, Công ty cổ phần với vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và thị trường chứng khoản ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2002

- Lê Hồng Hạnh, Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004

- Lê Văn Tâm (Chủ biên), Cổ phần hóa và quản lý doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004

- Nguyễn Đại Lai, Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước – Thách thức và giải pháp, Tạp chí Cộng sản, Số chuyên đề 6/2016, tr 16 – 24

Tuy vậy, các công trình nghiên cứu tiêu biểu như trên nghiên cứu toàn bộ mảng pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, vì vậy lĩnh vực pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà

Trang 11

nước cổ phần hóa hầu như còn bỏ ngỏ, hoặc nếu có được đề cập cũng chỉ

dừng lại ở mức độ lướt qua Vì lẽ đó, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài “Pháp

luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa” để nghiên cứu nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật đồng thời cũng

nhằm thao gỡ những vướng mắc cho các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình chào bán cổ phần lần đầu, một bước đi quan trọng của các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cổ phần hóa

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định của pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa Trước tiên, Luận văn tập trung làm rõ về phương diện lý luận các khái niệm cổ phần hóa và hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa Tiếp đó, Luận văn nghiên cứu về những thành tựu và hạn chế của các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa Từ kết quả nghiên cứu đó, Luận văn đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Trang 12

Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP, Thông tư số 196/2011/TT-BTC ngày 26/12/2011 của Bộ Tài chính về hướng dẫn bán cổ phần lần đầu và quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện chuyển đổi thành công ty cổ phần và Thông tư số 115/2016/TT-BTC ngày 30/06/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 196/2011/TT-BTC Bên cạnh

đó, Luận văn cũng đề cập tới một số quy định cũ đã hết hiệu lực của Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần để từ đó đánh giá những thành tựu của pháp luật hiện hành về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Ngoài ra, Luận văn không đi vào nghiên cứu dàn trải dưới dạng phân tích toàn bộ các quy định pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa mà chỉ đi sâu vào những quy định pháp luật mang nhiều ưu điểm, đặc biệt chú trọng nghiên cứu những quy định pháp luật còn nhiều hạn chế để tìm cách thao gỡ những bất cập trong hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài “Pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa” được nghiên cứu với mục đích đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, từ đó đưa ra một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa trong tương lai

Để đạt được mục đích trên, Luận văn trước hết nghiên cứu một số vấn đề

lý luận về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam và chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa để từ đó làm

Trang 13

nền tảng cho việc đánh giá các quy định của pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa Tiếp đó, Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành và đưa ra những phân tích, đánh giá về thành tựu và hạn chế của các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa Căn cứ vào những bất cập còn tồn tại trong các quy định của pháp luật hiện hành, Luận văn đưa ra một số đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định so với pháp luật hiện hành để hoàn thiện pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

5 Các phương pháp nghiên cứu

Người viết sử dụng các phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp để đạt được mục đích nghiên cứu của bài luận văn này

Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Luận văn đi từ những vấn đề chung đến những vấn đề riêng

Phương pháp lịch sử: Luận văn đặt các quy định của pháp luật hiện hành trong mối liên hệ và so sánh với các quy định của pháp luật trước đây, qua đó tìm ra ưu nhược điểm của vấn đề và đề xuất phương hướng hoàn thiện để giải quyết nội dung vấn đề cần nghiên cứu

Phương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng để đưa ra những đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật sau khi đã đánh giá được những thành tựu và bất cập của các quy định pháp luật hiện hành

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn đã hệ thống hóa, kế thừa và phát triển các luận cứ khoa học nhằm làm sáng rõ một số vấn đề lý luận về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà

Trang 14

nước và chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Thông qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa trong mối quan hệ với các quy định pháp luật tương ứng trong quá khứ, Luận văn

đã đánh giá những thành tựu, chỉ ra những hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Luận văn cũng đã đưa ra một số đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm giải quyết những bất cập của pháp luật Việt Nam về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

7 Bố cục của luận văn

Luận văn ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận có kết cấu như sau:

Chương 1: Khái quát về cổ phần hóa, hoạt động chào bán cổ phần và

pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa

Chương 2: Thực trạng pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh

nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa và hướng hoàn thiện

Trang 15

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ CỔ PHẦN HÓA, CHÀO BÁN CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHÀO BÁN CỔ PHẦN LẦN ĐẦU

CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA

1.1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam

1.1.1 Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Thuật ngữ “cổ phần hóa” xuất hiện ở Việt Nam từ cuối những năm 1980 đầu những năm 1990, gắn với công cuộc chuyển đổi cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp nhà nước Có ý kiến cho rằng cổ phần hóa tại Việt Nam cũng không khác gì quá trình tư hữu hóa ở các quốc gia trên thế giới: “Mặc dù có nhiều chính sách của Việt Nam đòi hỏi sự phân biệt rõ ràng giữa cổ phần hóa ở Việt Nam và quá trình tư hữu hóa diễn ra ở những nơi khác trên thế giới, nhưng cổ phần hóa ở Việt Nam bản chất là một quá trình tư hữu hóa, chủ yếu là chuyển giao quyền sở hữu nhà nước về sản xuất và dịch vụ sang sở hữu của khu vực

tư nhân”1 Dưới góc độ sở hữu, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam thực chất là quá trình đa dạng hóa chủ sở hữu của doanh nghiệp thông qua việc chào bán cổ phần Nói cách khác, quá trình cổ phần hóa sẽ biến doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành loại hình công ty

cổ phần có nhiều chủ sở hữu Nhà nước sẽ chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn của Nhà nước cho các tổ chức, cá nhân khác, trong đó bao gồm người lao động trong doanh nghiệp và các nhà đầu tư ngoài doanh nghiệp Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có thể xóa bỏ hoàn toàn sở hữu nhà nước trong các doanh nghiệp được cổ phần hóa hoặc giảm tỷ lệ sở hữu của Nhà nước tại doanh nghiệp

1

Nguyen Thi Kim Cuc (2010), The politics of economic reform in Vietnam: A case of state-owned enterprise

equitization, A thesis submitted for the degree of Ph.D in political science, Department of political science,

National University of Singapore, tr 16

Trang 16

Các quốc gia trên thế giới tiến hành chuyển đổi cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp nhà nước thường sử dụng thuật ngữ “tư hữu hóa” thay vì “cổ phần hóa” Tại Anh, tư hữu hóa được hiểu “là việc chuyển đổicác hoạt động và sản xuất từ khu vực công sang khu vực tư nhân”2 Tư hữu hóa doanh nghiệp nhà nước có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức, “bao gồm việc bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước, việc cung cấp dịch vụ thực hiện bởi nhà nước được chuyển sang cho khu vực tư nhân, cũng như việc chuyển đổi trách nhiệm từ khu vực công sang khu vực tư nhân thông qua bán cổ phiếu của Chính phủ”3 Theo quan điểm của Mỹ, “tư hữu hóa chủ yếu liên quan đến việc ký kết của chính phủ với các nhà cung cấp tư nhân về việc cung cấp các dịch vụ công cộng”4 Như vậy, hiểu một cách chung nhất, tư hữu hóa là quá trình chuyển đổi sở hữu nhà nước, chuyển đổi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước sang khu vực tư nhân

Như vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam cũng như tư hữu hóa doanh nghiệp nhà nước ở các nước trên thế giới được hiểu là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu từ doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ sang doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần Bản chất của cổ phần hóa tại Việt Nam xét dưới góc độ sở hữu là việc biến doanh nghiệp một chủ sở hữu nhà nước thành doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu Xét về mặt hình thức, cổ phần hóa là việc nhà nước bán một phần hay toàn bộ phần vốn góp của mình trong doanh nghiệp thông qua chào bán cổ phần, từ đó hình thành nên công ty cổ phần

2 Cento Veljanovski (1988), “Privatization in Britain – The institutional constitutional issues”, Marquette Law

Review, 71, Marquette University, USA, tr 558

3

David Hough, Chris Rhodes, Louise Butcher (2014), “Privatisation”, Research Paper 14/61, House of

Commons, tr 1, tại địa chỉ: http://researchbriefings.parliament.uk/ResearchBriefing/Summary/RP14-61

ngày truy cập 02/04/2017

4

Florencip Lopez-de-Silanes, Andrei Shleifer, Rober W Vishny (1997), “Privatization in the United States”,

Rand Journal of Economics, 3, (28), tr 447

Trang 17

1.1.2 Sự cần thiết của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

1.1.2.1 Những yếu kém trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước

Trong thời kỳ trước năm 1985, “các xí nghiệp quốc doanh nắm giữ phần lớn tài sản cố định và vốn lưu động, với gần ba triệu lao động, tạo ra 35% - 40% GDP và đóng góp trên 50% ngân sách nhà nước”5

Thời kỳ này nền kinh

tế nước ta vẫn duy trì theo cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, doanh nghiệp nhà nước sản xuất và phân phối hàng hóa dưới sự chỉ đạo của Nhà nước Tuy nhiên, việc duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã làm cho nền kinh tế nước ta rơi vào trì trệ và khủng hoảng, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, làm ăn thua lỗ hoặc không có lãi Nguyên nhân của tình trạng doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả là do doanh nghiệp dựa dẫm, ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước, từ đó gây nên sự thụ động trong doanh nghiệp, dẫn đến năng suất thấp, chất lượng kém Thực tế đó đã dẫn tới việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước để khắc phục tình trạng nói trên

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Đảng đã xác định vai trò của kinh tế nhà nước vẫn là vai trò chủ đạo nhưng không nắm giữ vị trí độc tôn trong nền kinh tế, chỉ nắm giữ những lĩnh vực then chốt Thời kỳ này, đổi mới doanh nghiệp nhà nước là một trong những nội dung quan trọng của quá trình đổi mới kinh tế, theo đó quyền tự chủ cho doanh nghiệp từng bước được mở rộng đi đôi với xóa bỏ dần chế độ bao cấp của Nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại theo hướng giải thể các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả Ngoài ra, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cũng bắt đầu được thực hiện thí điểm từ năm 1992 “Tuy nhiên, cổ phần hóa

và cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước mới chỉ giảm được 6 – 8% tổng vốn của doanh nghiệp nhà nước đang chiếm giữ, nhiều doanh nghiệp nhà

5

Bộ Công thương Việt Nam (2012), Giai đoạn 1986 đến 2006, tại địa chỉ tuc/542/giai-doan-1986-den-2006.aspx ngày truy cập 10/06/2017

Trang 18

http://www.moit.gov.vn/vn/tin-nước vẫn trong tình trạng thua lỗ; bao cấp của Nhà http://www.moit.gov.vn/vn/tin-nước vẫn chưa bị cắt bỏ

mà còn tái lập dưới nhiều hình thức; đặc biệt, độc quyền nhà nước được chuyển thành độc quyền doanh nghiệp nhà nước lại càng nguy hại hơn so với các độc quyền tự nhiên trong kinh tế thị trường, bởi khả năng liên kết để hình thành các nhóm lợi ích độc quyền có khả năng chi phối chính sách rất cao”6 Trong những năm gần đây, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam vẫn bộc lộ nhiều hạn chế Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước là không cao Tính đến năm 2015,

“doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam chiếm 70% vốn đầu tư toàn xã hội, 50% vốn nhà nước, 60% tín dụng, 79% tổng nợ khó đòi của các ngân hàng thương mại và 70% vốn ODA, thế nhưng chỉ đóng góp khoảng 30% tăng trưởng GDP”7

Nhiều doanh nghiệp nhà nước có năng suất lao động thấp, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng được kỳ vọng, do đó đã trở thành gánh nặng cho ngân sách nhà nước Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới hạn chế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, cụ thể như sau: Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước chưa phát huy được quyền tự chủ về tài chính và tự chủ sản xuất kinh doanh “Các doanh nghiệp nhà nước hiện nay vẫn còn chưa chủ động trong việc huy động vốn và quản lý tài sản, chỉ có rất

ít các doanh nghiệp có chiến lược huy động vốn một cách cụ thể”8 Do chủ sở hữu doanh nghiệp là Nhà nước, nên doanh nghiệp luôn rơi vào thế bị động hoặc ỷ lại vào các quyết định của Nhà nước trong khi người quản lý doanh nghiệp mới là người nắm rõ nhất tình trạng của doanh nghiệp thì lại không được quyền tự mình quyết định mọi vấn đề hệ trọng của doanh nghiệp Từ đó, các quyết định liên quan tới hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh

6

Bộ Công thương Việt Nam (2012), tlđd chú thích 5

7

Nguyễn Minh Nguyệt (2015), Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kém hiệu quả: Nguyên nhân và giải pháp,

Trung ương hội kế toán và kiểm toán Việt Nam, tại địa chỉ tiet/newsid/3812/Doanh-nghiep-Nha-nuoc-hoat-dong-kem-hieu-qua-Nguyen-nhan-va-giai-phap , ngày truy cập 08/04/2017

http://vaa.net.vn/Tin-tuc/Tin-chi-8 Nguyễn Minh Nguyệt (2015), tlđd chú thích 7

Trang 19

doanh không được doanh nghiệp đưa ra kịp thời, hoặc các quyết định được đưa ra không chính xác do phải phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Nhà nước Thứ hai, người quản lý doanh nghiệp nhà nước có trình độ quản lý còn yếu kém, cơ chế quản lý trong các doanh nghiệp còn chưa hợp lý, kém hiệu quả

Ở các doanh nghiệp nhà nước, người quản lý doanh nghiệp chỉ là người được Nhà nước phân công làm đại diện phần vốn chủ sở hữu chứ không phải chủ

sở hữu của doanh nghiệp Do đó, trách nhiệm đối với tình hình hoạt động của doanh nghiệp không cao Bên cạnh đó, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước thường làm theo nhiệm kỳ, điều đó khiến cho những người này không thể có được những kiến thức, kinh nghiệm và hiểu biết sâu sắc về doanh nghiệp để điều hành doanh nghiệp đó Như vậy, người đại diện phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp không thể chỉ đạo, giám sát tốt hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, từ đó dẫn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trở nên kém hiệu quả

Trước tình hình đó, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là cần thiết bởi cổ phần hóa sẽ làm tăng tính chủ động cho doanh nghiệp, các quyết định liên quan đến những vấn đề hệ trọng của doanh nghiệp sẽ được đưa ra chính xác, kịp thời, không bị phụ thuộc một cách tuyệt đối vào Nhà nước bởi doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa sẽ là doanh nghiệp đa chủ sở hữu chứ không phải chỉ duy nhất một chủ sở hữu là Nhà nước Ngoài ra, việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần sẽ làm thay đổi cơ chế quản lý tại doanh nghiệp Người quản lý công ty cổ phần có thể là cổ đông của công ty

cổ phần, hoặc có thể là người được thuê để thực hiện công việc quản lý, người quản lý sẽ phải có trình độ chuyên môn giỏi và tinh thần trách nhiệm cao đối với doanh nghiệp Như vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước sẽ khắc phục được những hạn chế tồn tại trong các doanh nghiệp nhà nước, từ đó từng bước thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hiệu quả hơn

Trang 20

1.1.2.2 Lợi thế của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác

Để đa dạng hóa chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước cần phải được chuyển đổi thành loại hình công ty cổ phần với đặc trưng không giới hạn số lượng tối đa chủ sở hữu

Đối với bản thân doanh nghiệp, so với các loại hình doanh nghiệp khác, công ty cổ phần có nhiều lợi thế giúp cho doanh nghiệp phát triển và cạnh tranh trên thị trường, cụ thể như sau:

Thứ nhất, công ty cổ phần có khả năng huy động vốn dễ dàng mà các loại hình doanh nghiệp khác không có được Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần

và loại hình doanh nghiệp này không giới hạn tối đa số lượng cổ đông Do đó, nếu các loại hình doanh nghiệp khác chỉ có thể huy động vốn thông qua vay vốn ngân hàng (như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn) hoặc phát hành trái phiếu (như công ty trách nhiệm hữu hạn), thì công ty cổ phần còn có thể thực hiện huy động vốn thông qua chào bán cổ phần thay vì các hình thức huy động vốn khác gặp nhiều khó khăn hơn như vay vốn ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu Đối với việc vay vốn ngân hàng, “những khoản tiền các ngân hàng (với tư cách là các trung gian tài chính) cho doanh nghiệp vay lại được huy động từ các chủ thể có tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế,

do đó chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra để có được vốn vay từ các ngân hàng

có thể sẽ cao hơn so với chi phí doanh nghiệp bỏ ra để huy động vốn trực tiếp

từ các chủ thể khác có tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế”9 Bên cạnh đó, so với kênh huy động vốn phát hành trái phiếu, việc chào bán cổ phiếu sẽ khiến các doanh nghiệp không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả các cổ đông nguồn vốn mà họ đã góp, do đó việc chào bán cổ phiếu sẽ đem lại cho doanh nghiệp nguồn vốn ổn định Điều này giúp cho công ty cổ phần có khả năng tập trung

9

Nguyễn Thị Ánh Vân (2013), “Chương II: Pháp luật về chào bán chứng khoán”, Giáo trình Luật Chứng

khoán, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.51

Trang 21

vốn nhanh và nhiều để đủ sức thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh với quy mô lớn

Thứ hai, công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu sẽ tự chủ trong việc đưa ra các quyết định sản xuất kinh doanh so với doanh nghiệp nhà nước Nếu các doanh nghiệp nhà nước thường rơi vào thế bị động hoặc ỷ lại vào các quyết định của Nhà nước về sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu duy nhất là Nhà nước, thì đối với công ty cổ phần có nhiều chủ sở hữu, các vấn đề hệ trọng của doanh nghiệp sẽ được quyết định bởi đại hội đồng cổ đông với quyền biểu quyết của mỗi cổ đông tương đương với tỷ lệ cổ phần mà cổ đông đó sở hữu tại doanh nghiệp Do đó, trong trường hợp Nhà nước không phải là cổ đông nắm giữ cổ phần chi phối tại doanh nghiệp, các quyết định liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công

ty cổ phần sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào các cổ đông khác, các vấn đề hệ trọng của doanh nghiệp sẽ được quyết định một cách nhanh chóng, kịp thời do không phải chờ đợi xin ý kiến chỉ đạo từ Nhà nước Như vậy, việc quyết định các vấn đề hệ trọng của doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa sẽ không còn phụ thuộc hoàn toàn tuyệt đối vào Nhà nước Bên cạnh đó, công ty cổ phần có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, điều đó cho phép người quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chủ động linh hoạt tìm kiếm và thực thi các giải pháp kinh doanh có lợi nhất Như vậy, trách nhiệm của những người quản lý công

ty cổ phần đối với hoạt động sản xuất kinh doanh được đề cao, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Thứ ba, công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp tốt nhất có thể tranh thủ

sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài Hiện nay việc thu hút vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý thông qua liên kết với nước ngoài là vô cùng cần thiết để phát triển kinh tế trong nước Công ty cổ phần với lợi thế huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu có thể thu hút các nhà đầu tư

Trang 22

nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp, từ đó các nhà đầu tư nước ngoài trở thành cổ đông của doanh nghiệp và có thể có những đóng góp nhất định cho doanh nghiệp liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Thứ tư, việc chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty cổ phần được thực hiện một cách tự do, trừ một số quy định của pháp luật liên quan đến hạn chế chuyển nhượng cổ phần của cổ đông sáng lập hoặc hạn chế chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết “Hầu hết pháp luật về công ty của các nước trên thế giới đều qui định và cho phép chuyển nhượng một cách dễ dàng

và tự do các loại cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành từ cổ đông sang chủ

sở hữu mới”10 Pháp luật Việt Nam quy định về chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty cổ phần cũng không phải ngoại lệ Trong khi đó đối với công ty trách nhiệm hữu hạn theo qui định của pháp luật Việt Nam, thành viên của công ty khi muốn chuyển nhượng phần vốn góp phải ưu tiên chuyển nhượng cho các thành viên còn lại trong công ty và chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty nếu các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết Do đó các nhà đầu tư thường muốn đầu tư vào công ty

cổ phần hơn là các loại hình doanh nghiệp khác

Đối với nhà đầu tư, sau khi trở thành cổ đông của công ty cổ phần, nhà đầu

tư đó chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Bên cạnh đó, trừ một số trường hợp pháp luật quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần, nhà đầu tư có thể dễ dàng điều chuyển vốn đầu tư từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác thông qua hình thức chuyển nhượng, mua bán cổ phần Việc minh bạch thông tin của công ty cổ

10 Nguyễn Thanh Bình (2003), “Những lợi thế của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường”, Tạp chí

khoa học pháp lý, (01), tại địa chỉ

http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&catid=91:ctc20031& id=212:tc2003so1nltctcp&Itemid=106 , ngày truy cập 09/04/2017

Trang 23

phần cũng là một lợi thế để các nhà đầu tư an tâm lựa chọn đầu tư vào công ty

cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác Công ty cổ phần đặc biệt là các công ty cổ phần đại chúng phải tuân thủ chế độ công bố thông tin nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật Đối với các nhà đầu tư (bao gồm cả các cổ đông của công ty), việc công ty cổ phần công bố thông tin minh bạch, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật sẽ giúp cho các nhà đầu tư có được quyết định đầu tư đúng đắn dựa trên tình hình tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh của công ty được công bố

Đối với nhà nước, nghĩa vụ công bố thông tin của công ty cổ phần là căn

cứ để Nhà nước có thể thu đúng và đủ thuế của doanh nghiệp Bên cạnh đó, ngoài nghĩa vụ thuế mà công ty cổ phần phải thực hiện đối với Nhà nước, các

cổ đông của công ty cổ phần cũng phải chịu thuế từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật

1.1.2.3 Lợi ích của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Đối với bản thân doanh nghiệp, sau khi chuyển đổi thành loại hình công ty

cổ phần, doanh nghiệp sẽ có được những lợi thế mà công ty cổ phần có được

so với các loại hình doanh nghiệp khác Cổ phần hóa sẽ làm đa dạng hóa chủ

sở hữu của doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp có thể thu hút vốn đầu tư từ nhiều nguồn như Nhà nước, người lao động trong doanh nghiệp, cổ đông ngoài doanh nghiệp Do đó, khả năng huy động vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ trở nên dễ dàng hơn Bên cạnh đó, việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần sẽ làm giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước vào doanh nghiệp Nói cách khác, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tự chủ, các quyết định đầu tư, kinh doanh,

mở rộng sản xuất của doanh nghiệp sẽ được đưa ra nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu về thời gian, tiến độ mà không bị lệ thuộc hoàn toàn vào sự phê duyệt của Nhà nước Do đó, việc chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần

Trang 24

sẽ giúp các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa khắc phục được những hạn chế khi mà số lượng các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam quá lớn, hoạt động trì trệ, kỹ thuật lạc hậu

Đối với người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chính là tạo điều kiện cho người lao động trong doanh nghiệp tham gia mua cổ phần và khẳng định quyền làm chủ của mình Công

ty cổ phần với đặc thù không giới hạn số lượng tối đa nhà đầu tư, người lao động có thể trở thành cổ đông của doanh nghiệp Khi đó, người lao động sẽ có động lực làm việc, quyền lợi và trách nhiệm của người lao động sẽ gắn với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Có như vậy, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ trở nên hiệu quả hơn, đồng thời người lao động sẽ được hưởng lợi nhuận xứng đáng với công sức lao động của họ

Đối với nền kinh tế, việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty

cổ phần đặc biệt là các công ty cổ phần đại chúng sẽ thúc đẩy sự hình thành

và phát triển của thị trường chứng khoán, từ đó thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cũng như thu hút vốn đầu tư nước ngoài Điều này sẽ góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập với khu vực và trên thế giới

1.1.3 Mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Thứ nhất, các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa với kỳ vọng thay đổi cơ cấu vốn điều lệ, dễ dàng hơn trong việc huy động vốn của toàn xã hội, thu hút được vốn đầu tư từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Các doanh nghiệp sau khi trở thành công ty cổ phần, đặc biệt là công ty cổ phần đại chúng, sẽ có thể huy động một cách nhanh chóng nguồn vốn nhàn rỗi từ

xã hội để phát triển sản xuất kinh doanh thông qua phát hành cổ phần Đối với doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, lợi nhuận cao, cổ phiếu của doanh nghiệp đó sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư, từ đó doanh nghiệp sẽ có

Trang 25

được nguồn vốn lớn hơn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Không chỉ vậy, những doanh nghiệp có nhu cầu hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài còn thực hiện cổ phần hóa với mục tiêu tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược nước ngoài để có cơ hội học hỏi, hợp tác, phát triển sản xuất kinh doanh theo đặc thù sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp đó Mặc dù muốn hợp tác với các đối tác nước ngoài, doanh nghiệp có thể góp vốn thành lập doanh nghiệp liên doanh hoặc ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh với đối tác nước ngoài, tuy nhiên nhờ những lợi thế của công ty cổ phần như việc chịu trách nhiệm hữu hạn của cổ đông tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp vào doanh nghiệp, hay việc công ty cổ phần phải đảm bảo tuân thủ theo quy định của pháp luật về chế độ công bố thông tin giúp cho nhà đầu tư nắm bắt được tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như việc các nhà đầu tư sau khi trở thành cổ đông chiến lược sẽ có được những đặc quyền nhất định trong doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa có thể thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó từng bước đạt được mục tiêu tìm kiếm đối tác chiến lược nước ngoài để hợp tác, phát triển sản xuất kinh doanh Thứ hai, mục tiêu của cổ phần hóa chính là để người lao động trong doanh nghiệp được làm chủ thực sự Việc bán cổ phần cho người lao động sẽ tạo điều kiện cho người lao động thể hiện quyền quản lý, quyền quyết định của mình đối với các vấn đề hệ trọng của doanh nghiệp bằng số phiếu biểu quyết tương ứng với số cổ phần mà họ sở hữu

Thứ ba, Nhà nước đưa ra chính sách cổ phần hóa chính là nhằm mục đích giảm thiểu gánh nặng cho ngân sách nhà nước Sau khi cổ phần hóa, mối quan

hệ giữa Nhà nước và công ty cổ phần mà Nhà nước sở hữu sẽ chỉ là mối quan

hệ giữa cổ đông và công ty Quyền và nghĩa vụ của người đại diện sở hữu phần vốn góp của Nhà nước sẽ chỉ là quyền và nghĩa vụ của một cổ đông Từ việc doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước làm chủ, quản lý và chi phối, sau khi cổ phần hóa, doanh nghiệp sẽ dịch chuyển từ thành phần kinh tế nhà nước

Trang 26

sang thành phần kinh tế khác Điều này sẽ giảm thiểu gánh nặng cho ngân sách nhà nước

1.2 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

1.2.1 Khái niệm chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Chào bán cổ phần là hoạt động thường được thực hiện bởi công ty cổ phần, theo đó công ty cổ phần phát hành cổ phần và bán các cổ phần đó để huy động vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn trong kinh doanh Tuy nhiên, công ty cổ phần không phải là chủ thể duy nhất thực hiện hoạt động này Doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa cũng là chủ thể tiến hành chào bán cổ phần trước khi chuyển đổi thành công ty cổ phần Tùy vào từng trường hợp cụ thể, doanh nghiệp có thể thực hiện chào bán cổ phần dưới hình thức chào bán cổ phần lần đầu hoặc chào bán thêm cổ phần Hoạt động chào bán

cổ phần lần đầu được tiến hành bởi các công ty cổ phần mới thành lập hoặc doanh nghiệp chuyển đổi hình thức sở hữu thành công ty cổ phần Hoạt động chào bán thêm được công ty cổ phần tiến hành sau đợt chào bán cổ phần lần đầu nhằm mục đích tăng vốn điều lệ để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh Đối với doanh nghiệp nhà nước, việc thực hiện cổ phần hóa chính là nhằm mục đích chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần Do đó, để cổ phần hóa doanh nghiệp phải chào bán cổ phần lần đầu Tùy theo yêu cầu nắm giữ vốn của nhà nước tại doanh nghiệp mà doanh nghiệp sẽ giữ nguyên vốn của nhà nước tại doanh nghiệp nhưng vẫn phát hành thêm cổ phiếu để huy động thêm vốn cho doanh nghiệp, hoặc chào bán toàn bộ hoặc một phần vốn nhà nước có tại doanh nghiệp thông qua phát hành cổ phiếu ra công chúng hoặc phát hành cổ phiếu riêng lẻ Chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng được thực hiện trên phạm vi lớn, thu hút số lượng lớn nhà đầu tư bỏ vốn để

Trang 27

mua cổ phần được phát hành trong đợt chào bán đó Trong khi đó, hoạt động chào bán cổ phần lần đầu riêng lẻ được thực hiện trong phạm vi hẹp hơn, cổ phần chỉ được chào bán cho một số nhà đầu tư đặc biệt với số lượng giới hạn Hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện

cổ phần hóa có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước thực hiện chào bán cổ phần lần đầu nhằm mục đích chuyển đổi thành công ty cổ phần có thể làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp hoặc giữ nguyên vốn điều lệ của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp nhà nước thực hiện chuyển đổi, tổ chức phát hành trong trường hợp này không phải là công ty mới thành lập, việc chào bán cổ phần lần đầu nhằm mục đích thay đổi cơ cấu sở hữu, tuy nhiên tùy thuộc vào nhu cầu của doanh nghiệp mà hoạt động chào bán cổ phần lần đầu còn có mục đích làm tăng vốn điều lệ cho doanh nghiệp Hoạt động chào bán cổ phần lần đầu trong trường hợp này có thể được tiến hành dưới nhiều cách thức khác nhau Nếu doanh nghiệp nhà nước chào bán cổ phần lần đầu chỉ nhằm mục đích thay đổi

cơ cấu sở hữu mà không có nhu cầu tăng vốn điều lệ, doanh nghiệp có thể thực hiện tách phần vốn mà trước đây Nhà nước làm chủ sở hữu thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, và bán cho các nhà đầu tư bên ngoài Nếu doanh nghiệp nhà nước có nhu cầu tăng vốn điều lệ bên cạnh mục đích thay đổi cơ cấu sở hữu, doanh nghiệp có thể giữ nguyên hoặc bán một phần hoặc toàn bộ vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đồng thời phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ Do đó, hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa có thể làm tăng hoặc không tăng vốn điều lệ, điều này phụ thuộc vào nhu cầu về vốn của doanh nghiệp

Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước tiến hành chào bán cổ phần lần đầu là do chủ trương của Nhà nước nhằm đa dạng hóa chủ sở hữu doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, do đó pháp luật các nước thường có các

Trang 28

quy định riêng điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần lần đầu Đây là điểm khác biệt về hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước

và doanh nghiệp ngoài quốc doanh Doanh nghiệp ngoài quốc doanh thực hiện chào bán cổ phần lần đầu nhằm mục đích thành lập mới công ty cổ phần, hoặc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thực hiện chào bán cổ phần lần đầu để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nhưng việc phát hành không phụ thuộc vào chủ trương của nhà nước mà phụ thuộc vào ý chí của sở hữu chủ hoặc đồng sở hữu chủ của công ty Do đó, hoạt động chào bán

cổ phần lần đầu của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chịu sự điều chỉnh của pháp luật về chứng khoán nói chung, còn hoạt động chào bán của doanh nghiệp nhà nước thường sẽ được điều chỉnh bởi các quy định riêng liên quan đến hoạt động cổ phần hóa của các doanh nghiệp nhà nước

1.2.2 Vai trò của chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Hoạt động chào bán cổ phần lần đầu có vai trò quan trọng đối với các công

ty cổ phần nói chung Đây chính là “kênh huy động vốn quan trọng, giúp các doanh nghiệp giải quyết khó khăn về vốn và không bị lệ thuộc thái quá vào vốn tín dụng ngân hàng mà vẫn có thể thỏa mãn nhu cầu về vốn trong kinh doanh”11

So với các phương thức huy động vốn khác như vay vốn ngân hàng, phát hành trái phiếu, hoạt động chào bán cổ phần lần đầu không cấu thành khoản nợ cho doanh nghiệp mà có thể giúp doanh nghiệp huy động vốn trực tiếp từ các chủ thể có nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế

Đối với doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, hoạt động chào bán

cổ phần lần đầu ra công chúng cũng như chào bán cổ phần riêng lẻ lần đầu đều đóng vai trò quan trọng trong tiến trình thực hiện cổ phần hóa Nếu doanh

11 Nguyễn Thị Ánh Vân, tlđd chú thích 9, tr.50

Trang 29

nghiệp chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng, hoạt động này sẽ cho phép huy động vốn từ các nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa chủ sở hữu khi thực hiện cổ phần hóa Việc chào bán cổ phần trên phạm vi rộng mang lại tính thanh khoản cao cho cổ phần được phát hành, làm tăng uy tín của công ty phát hành do yêu cầu đặt ra đối với những doanh nghiệp chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng là phải đảm bảo những điều kiện về công bố thông tin Từ đó, doanh nghiệp cổ phần hóa sau khi thực hiện thành công chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng sẽ

có được nhiều thuận lợi trong kinh doanh cũng như trong việc huy động vốn sau này Nếu doanh nghiệp chào bán cổ phần riêng lẻ lần đầu, doanh nghiệp phải giới hạn phạm vi chào bán trong một số đối tượng mua cổ phần nhất định “thường là những nhà đầu tư có tổ chức, có kiến thức chuyên sâu và có

đủ trình độ để phân tích, nắm bắt được tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của chủ thể phát hành”12

Đối với nhà đầu tư mua cổ phần được chào bán lần đầu bởi doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, việc doanh nghiệp chào bán cổ phần lần đầu

ra công chúng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi của mình một cách hiệu quả Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa là những doanh nghiệp nhà nước có đủ điều kiện cổ phần hóa theo quy định của pháp luật và được Nhà nước cho phép tiến hành cổ phần hóa Do đó, việc các nhà đầu tư mua cổ phần được chào bán lần đầu ra công chúng của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa thường sẽ an toàn Trong trường hợp cổ phần được chào bán riêng lẻ, nhà đầu tư mua cổ phần là những nhà đầu tư đặc biệt như người lao động làm việc tại doanh nghiệp hoặc nhà đầu tư chiến lược Người lao động mua cổ phần được chào bán lần đầu của doanh nghiệp nhà nước sẽ được làm chủ thực sự tại doanh nghiệp Đối với nhà đầu tư chiến lược, sau khi trở thành cổ đông của doanh nghiệp, nhà đầu tư chiến lược sẽ có

12 Nguyễn Thị Ánh Vân, tlđd chú thích 11, tr.64

Trang 30

được những quyền lợi nhất định như quyền quản lý, điều hành hoạt động của doanh nghiệp, hoặc các cơ hội khác như cung ứng nguyên vật liệu trọng yếu phục vụ sản xuất của tổ chức phát hành; thường xuyên tiêu thụ sản lượng sản phẩm lớn cho tổ chức phát hành…

Đối với thị trường chứng khoán, hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa sẽ cung cấp hàng hóa cho thị trường chứng khoán, đồng thời tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ tư vấn hoặc bảo lãnh phát hành cho các doanh nghiệp chào bán cổ phần lần đầu

1.2.3 Các phương thức chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa

1.2.3.1 Phương thức chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa

Chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng là phương thức phổ biến nhất được các nước trên thế giới áp dụng trong tiến trình thực hiện tư hữu hóa doanh nghiệp nhà nước mà ở Việt Nam gọi là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Những thương vụ tư hữu hóa lớn trên thế giới như tư hữu hóa British Gas (Anh, những năm 1980) hay Royal Mail (Anh, năm 2013) đều áp dụng phương thức này13

Để thực hiện chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng, các doanh nghiệp thông thường trước hết phải đăng ký việc chào bán với cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa phải tuân theo quy chế pháp lý riêng, doanh nghiệp nhà nước khi phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng sẽ không cần phải đăng ký chào bán với

cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán bởi hoạt động chào bán này nhằm mục đích thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo quy

13 Chris Rhodes, David Hough, Louise Butcher, tlđd chú thích 3, tr.5

Trang 31

định của Chính phủ mỗi nước Doanh nghiệp nhà nước thực hiện chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng phải đảm bảo tuân thủ theo các quy định của pháp luật về chế độ công bố thông tin, đảm bảo cung cấp cho các nhà đầu tư tiềm năng tất cả các thông tin về doanh nghiệp phát hành Pháp luật các nước quy định doanh nghiệp phải có bản cáo bạch (prospectus), trong đó có đầy đủ thông tin về tài chính, tổng quan về hoạt động sản xuất kinh doanh, chi tiết về

cơ cấu vốn điều lệ, kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau khi chào bán và thông tin chi tiết về cổ phần chào bán Bản cáo bạch là tài liệu quan trọng phải chuẩn bị của bất cứ doanh nghiệp nào thực hiện chào bán

cổ phần lần đầu ra công chúng Bản cáo bạch với ý nghĩa cung cấp cho các nhà đầu tư tiềm năng tất cả các thông tin về doanh nghiệp phát hành cũng chính là một yếu tố giúp cho doanh nghiệp tiếp thị việc chào bán cổ phần lần đầu

1.2.3.2 Phương thức chào bán cổ phần lần đầu riêng lẻ của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa

Khác với chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng, chào bán cổ phần lần đầu riêng lẻ được tiến hành trên phạm vi hẹp nhằm phân phối cổ phần của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa cho số ít nhà đầu tư chuyên nghiệp hoặc

số ít nhà đầu tư đặc biệt Tùy vào mục tiêu cổ phần hóa của mỗi nước mà pháp luật có những quy định khác nhau về những đối tượng được quyền mua

cổ phần chào bán riêng lẻ Thông thường, những đối tượng được quyền mua

cổ phần chào bán riêng lẻ của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa là các nhà đầu tư chiến lược có khả năng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và những người lao động làm việc tại doanh nghiệp Tại Trung Quốc, ngoài cổ phần được chào bán lần đầu ra công chúng, cổ phần của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa còn bao gồm phần vốn nhà nước được giữ bởi nhà nước và các bộ, cơ quan chính quyền địa phương; cổ phần

Trang 32

pháp nhân được giữ bởi các doanh nghiệp nhà nước khác; và cổ phần của người lao động nội bộ được nắm giữ bởi những người quản lý và cán bộ công nhân viên làm việc tại doanh nghiệp đó14 Tại Anh, phương thức bán cổ phần lần đầu riêng lẻ của doanh nghiệp nhà nước được thực hiện thông qua bán cho người lao động của doanh nghiệp và bán cho nhà đầu tư có tổ chức (thường là doanh nghiệp) thông qua thỏa thuận trực tiếp với nhà nước “Trong thương vụ

tư hữu hóa British Telecom năm 1984, tới 10% số cổ phần được chào bán cho người lao động và 96% số người lao động đã mua cổ phần Vào năm 2013 khi

tư hữu hóa Royal Mail, 10% số cổ phần đã được bán cho người lao động”15

Đối với bán cổ phần cho nhà đầu tư thông qua thỏa thuận trực tiếp với nhà nước, “trong nhiều trường hợp, các nhà đầu tư tiềm năng thỏa thuận trực tiếp với Chính phủ trước khi nhà đầu tư được Chính phủ lựa chọn”16 Cũng như thực hiện chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng, doanh nghiệp phát hành cổ phần riêng lẻ vẫn phải cung cấp cho các nhà đầu tư quan tâm về thông tin của doanh nghiệp cũng như thông tin về đợt chào bán

1.2.4 Cơ chế giám sát của Nhà nước đối với hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện

cổ phần hóa được thực hiện dựa trên kết quả xác định giá trị doanh nghiệp của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa Kết quả xác định giá trị doanh nghiệp sẽ quyết định giá khởi điểm của cổ phần được chào bán lần đầu Do

đó, để đảm bảo hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước đạt được đúng mục tiêu đề ra của cổ phần hóa, cũng như để đảm bảo vốn nhà nước không bị thất thoát trong trường hợp Nhà nước bán phần vốn

14

Chen Chien-Hsun and Shih Hui-Tzu (2004), “Initial Public Offering and Corporate Governance in China’s

Transitional Economy”, Governance, Regulation, and Privatization in the Asia-Pacific Region, NBER East Asia

Seminar on Economics, University of Chicago Press, (12), tr 187

15

Chris Rhodes, David Hough, Louise Butcher, tlđd chú thích 13, tr.7

16 Chris Rhodes, David Hough, Louise Butcher, tlđd chú thích 16, tr.6

Trang 33

của mình tại doanh nghiệp, pháp luật cần phải quy định cơ chế giám sát của Nhà nước đối với quy trình cổ phần hóa, đặc biệt là đối với việc xác định giá trị doanh nghiệp và hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Như đã phân tích, hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa được thực hiện theo quy chế pháp lý riêng về

cổ phần hóa chứ không theo pháp luật về chứng khoán Doanh nghiệp nhà nước thực hiện chào bán cổ phần lần đầu không phải đăng ký chào bán tại cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán Do đó, cơ chế giám sát của Nhà nước đối với hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa cũng phải tuân theo quy chế pháp lý riêng biệt Theo đó, doanh nghiệp nhà nước thực hiện chào bán cổ phần lần đầu sẽ phải chịu trách nhiệm trước sự giám sát của ban chỉ đạo cổ phần hóa được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Ở Việt Nam, ban chỉ đạo cổ phần hóa được thành lập bởi Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang

Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc Hội đồng thành viên các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty theo quy định của pháp luật Các quyết định liên quan đến cổ phần hóa nói chung và chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa nói riêng sẽ được ban chỉ đạo cổ phần hóa báo cáo, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, cụ thể như sau:

Về việc giám sát của ban chỉ đạo cổ phần hóa đối với quy trình cổ phần hóa nói chung và chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa nói riêng, ban chỉ đạo cổ phần hóa có trách nhiệm chỉ đạo xây dựng phương án cổ phần hóa, chỉ đạo doanh nghiệp nhà nước phối hợp với các tổ chức tài chính trung gian tổ chức bán đấu giá cổ phần lần đầu Theo

đó, ban chỉ đạo cổ phần hóa có trách nhiệm kiểm tra, hoàn tất các thông tin

Trang 34

liên quan đến cổ phần hóa; thực hiện công bố (hoặc cung cấp cho tổ chức thực hiện bán đấu giá) thông tin đầy đủ, chính xác về doanh nghiệp trước khi bán cổ phần theo quy định của pháp luật; giám sát việc bán đấu giá cổ phần khi doanh nghiệp thực hiện bán tại tổ chức tài chính trung gian Kết thúc quá trình chào bán cổ phần lần đầu, doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa phải báo cáo kết quả bán cổ phần cho ban chỉ đạo cổ phần hóa

Về việc giám sát của cơ quan có thẩm quyền, trước khi thực hiện chào bán

cổ phần, ban chỉ đạo cổ phần hóa có trách nhiệm báo cáo cơ quan quyết định

cổ phần hóa lựa chọn phương thức bán cổ phần lần đầu, trình cơ quan có thẩm quyền quyết định công bố giá trị doanh nghiệp, từ đó cơ quan có thẩm quyền

sẽ quyết định phương án chào bán cổ phần lần đầu cũng như phương án quản

lý, sử dụng tiền thu từ bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa Trong trường hợp thỏa thuận bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược, ban chỉ đạo cổ phần hóa phải trình cơ quan quyết định cổ phần hóa về tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược phù hợp với quy định của pháp luật Ngoài ra, ban chỉ đạo cổ phần hóa phải trình cơ quan quyết định cổ phần hóa số lượng cổ phần bán đấu giá và giá khởi điểm Cơ quan có thẩm quyền

có trách nhiệm kiểm tra, giám sát ban chỉ đạo cổ phần hóa và doanh nghiệp cổ phần hóa trong việc thực hiện bán cổ phần theo phương án đã được phê duyệt Kết thúc quá trình chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, ban chỉ đạo cổ phần hóa phải tổng hợp và báo cáo cơ quan

có thẩm quyền kết quả bán cổ phần, trình cơ quan có thẩm quyền quyết định điều chỉnh phương án cổ phần hóa, quyết định điều chỉnh giá trị doanh nghiệp sau khi chuyển thành công ty cổ phần

Với cơ chế này, ban chỉ đạo cổ phần hóa sẽ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan của Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tổ chức triển khai công tác cổ phần hóa theo quy định của pháp luật Từ đó, các cơ quan này sẽ có trách nhiệm báo cáo về Ban chỉ đạo đổi mới và Phát triển

Trang 35

doanh nghiệp và Bộ tài chính các nội dung có liên quan đến cổ phần hóa nói chung và hoạt động chào bán cổ phần lần đầu nói riêng, bao gồm kết quả định giá, quyết định công bố giá trị doanh nghiệp, phương án cổ phần hóa, kết quả bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

1.3 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

1.3.1 Khái niệm pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ

xã hội phát sinh trong quá trình doanh nghiệp nhà nước tiến hành chào bán cổ phần lần đầu để chuyển đổi từ doanh nghiệp một chủ sở hữu là nhà nước sang loại hình doanh nghiệp nhiều chủ thuộc sở hữu của các tổ chức, cá nhân và có thể của cả Nhà nước Các chủ sở hữu của doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa

sẽ không bao gồm Nhà nước trong trường hợp doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần tiếp tục giữ vốn, do đó sẽ bán toàn bộ phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần hóa Trong trường hợp doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa theo hình thức giữ nguyên vốn nhà nước tại doanh nghiệp đồng thời phát hành thêm cổ phiếu hoặc bán một phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp (có thể kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu), khi đó Nhà nước vẫn tiếp tục giữ lại phần vốn tại doanh nghiệp và trở thành một trong những cổ đông của doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa

Các nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa bao gồm nhóm quan

hệ giữa doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa với các tổ chức cung ứng dịch vụ

Trang 36

chào bán cổ phần và nhóm quan hệ giữa chủ thể chào bán hoặc chủ thể cung ứng dịch vụ chào bán với nhà đầu tư

Đối với nhóm quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa với các tổ chức cung ứng dịch vụ chào bán cổ phần: Tổ chức cung ứng dịch vụ chào bán

cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa có thể là tổ chức tư vấn phát hành và tổ chức bảo lãnh phát hành Doanh nghiệp nhà nước

cổ phần hóa với tư cách là bên thuê dịch vụ có quyền yêu cầu các tổ chức cung ứng dịch vụ thực hiện các công việc liên quan tới việc cung ứng dịch vụ

đó, ngược lại doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa có nghĩa vụ thanh toán phí dịch vụ cho các tổ chức cung ứng dịch vụ, cung cấp các thông tin cần thiết để

tổ chức cung ứng dịch vụ có thể thực hiện được nghiệp vụ của mình Các tổ chức cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các thông tin cần thiết và thanh toán phí dịch vụ, đồng thời có nghĩa vụ thực hiện các công việc liên quan đến thủ tục chào bán và phân phối cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa

Đối với nhóm quan hệ giữa chủ thể chào bán hoặc chủ thể cung ứng dịch

vụ chào bán với nhà đầu tư: Chủ thể chào bán cổ phần lần đầu là doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, chủ thể cung ứng dịch vụ chào bán

cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa có thể là tổ chức bảo lãnh phát hành hay đại lý phân phối cổ phần Chủ thể chào bán hoặc chủ thể cung ứng dịch vụ chào bán cổ phần phải tuân thủ các quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư Ngược lại, các nhà đầu tư cũng phải tuân theo trình tự thủ tục mua cổ phần, thanh toán tiền mua cổ phần theo quy định của pháp luật

Cả hai nhóm quan hệ xã hội này có điểm chung là đều được thiết lập thông qua việc giao kết hợp đồng giữa các chủ thể, vì vậy đại đa số các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể được ghi nhận trong hợp đồng Tuy vậy, nếu

Trang 37

không có pháp luật điều chỉnh, hợp đồng giữa các bên trong quan hệ xã hội có thể sẽ có sự bất bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên chủ thể Để bảo

vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia vào hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, pháp luật có các quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình doanh nghiệp nhà nước tiến hành chào bán cổ phần lần đầu, từ phương thức chào bán, chủ thể được chào bán tới giá chào bán, cách thức xử lý số lượng cổ phần không bán hết và cách thức quản lý, sử dụng tiền thu từ bán cổ phần:

Thứ nhất, về phương thức chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, pháp luật có các quy phạm quy định về các phương thức chào bán cổ phần lần đầu như phương thức đấu giá công khai, phương thức bảo lãnh phát hành cổ phần, phương thức thỏa thuận trực tiếp Đối với mỗi phương thức, pháp luật quy định các trường hợp áp dụng, trình tự thủ tục chào bán, quyền và nghĩa vụ cả các bên khi tiến hành bán cổ phần theo từng phương thức

Thứ hai, về chủ thể được chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, pháp luật có các quy phạm quy định những đối tượng được và không được tham gia mua cổ phần Các tổ chức, cá nhân tham gia mua cổ phần theo phương thức đấu giá công khai, các nhà đầu tư chiến lược, người lao động làm việc tại doanh nghiệp được quy định là những đối tượng mua cổ phần chào bán lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa Ngoài ra, pháp luật đưa ra các điều kiện để các đối tượng được tham gia mua cổ phần như các tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, điều kiện để người lao động được mua cổ phần theo chính sách ưu đãi hoặc mua

cổ phần theo số năm cam kết làm việc tại doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa Thứ ba, về giá bán cổ phần lần đầu, pháp luật có các quy phạm quy định giá bán cổ phần lần đầu cho từng loại đối tượng theo từng phương thức bán

Trang 38

cổ phần lần đầu (ví dụ quy định về giá bán cổ phần lần đầu cho nhà đầu tư chiến lược theo phương thức thỏa thuận trực tiếp, giá bán cổ phần ưu đãi cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp, giá bán cổ phần cho các nhà đầu tư tham dự đấu giá…)

Thứ tư, đối với số lượng cổ phần không bán hết, pháp luật có các quy phạm quy định các trường hợp mà số lượng cổ phần không được bán hết và cách thức xử lý số lượng cổ phần không bán hết

Thứ năm, về cách thức quản lý, sử dụng tiền thu từ bán cổ phần, pháp luật

có các quy phạm quy định về việc quản lý tiền đặt cọc từ các nhà đầu tư đăng

ký mua cổ phần theo từng phương thức luật định, cách thức thanh toán hoàn trả tiền đặt cọc cho các nhà đầu tư đã tham gia mua cổ phần nhưng không mua được cổ phần Nhà đầu tư đăng ký tham gia mua cổ phần phải nộp tiền đặt cọc theo quy định của pháp luật và sẽ không được nhận lại tiền đặt cọc trong trường hợp từ bỏ quyền mua cổ phần Ngoài ra, pháp luật cũng quy định

về cách thức, trình tự thủ tục thanh toán tiền mua cổ phần từ các nhà đầu tư

1.3.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện

cổ phần hóa là một hoạt động tài chính phức tạp và dễ phát sinh những rủi ro trong quá trình thực hiện Do đó, để quá trình thực hiện hoạt động chào bán

cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa được an toàn, chặt chẽ và thống nhất cần có pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Thứ nhất, như đã phân tích về vai trò của hoạt động chào bán cổ phần lần đầu đối với doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, hoạt động này sẽ cho phép huy động vốn từ các nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân trong và ngoài

Trang 39

nước để đáp ứng nhu cầu đa dạng hóa chủ sở hữu khi thực hiện cổ phần hóa Doanh nghiệp cổ phần hóa sau khi thực hiện thành công chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng sẽ có được nhiều thuận lợi trong kinh doanh cũng như trong việc huy động vốn sau này Do đó, hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa cần phải được pháp luật điều chỉnh nhằm đảm bảo việc chào bán cổ phần lần đầu được thành công Pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa sẽ giúp cho doanh nghiệp huy động được đủ vốn theo đúng dự định của Nhà nước khi đưa ra quyết định đa dạng hóa hình thức sở hữu của doanh nghiệp nhà nước

Thứ hai, đối với nhà đầu tư mua cổ phần được chào bán lần đầu bởi doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa, các quy phạm pháp luật quy định quyền lợi của nhà đầu tư (ví dụ: quy định về chính sách bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược, giá bán cổ phần ưu đãi cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp…) cũng như trách nhiệm của tổ chức phát hành (ví dụ: quy định về nghĩa vụ công bố thông tin của doanh nghiệp cổ phần hóa) sẽ đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư tham gia mua cổ phần, bảo vệ nhà đầu tư trước những rủi ro từ việc mua cổ phần.Các quy định pháp luật về chào bán

cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa sẽ thể hiện chính sách của Nhà nước trong việc bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán bằng pháp luật

Thứ ba, như đã phân tích về vai trò của hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa đối với thị trường chứng khoán, hoạt động này sẽ cung cấp hàng hóa cho thị trường chứng khoán Do

đó, các quy phạm pháp luật quy định trách nhiệm của tổ chức phát hành và các nhà đầu tư liên quan đến hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa là cần thiết nhằm đảm bảo sự công khai, minh bạch cho thị trường chứng khoán

Trang 40

Thứ tư, pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần lần đầu sẽ đảm bảo các thủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật hình thành trong quá trình

cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tuân thủ đúng các giới hạn của pháp luật như về phương thức chào bán, về tỷ lệ cổ phần chào bán cho các đối tượng được mua cổ phần, về giá chào bán cổ phần Các quy phạm pháp luật quy định trách nhiệm của nhà đầu tư khi tham gia mua cổ phần (ví dụ như quy định nhà đầu tư đặt cọc tiền trước khi tham dự đấu giá cổ phần lần đầu, hoặc quy định hạn chế thời gian chuyển nhượng cổ phần của nhà đầu tư chiến lược sau khi trở thành cổ đông của doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa) hay quy định quyền của tổ chức phát hành (ví dụ như quyền đưa ra tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư chiến lược phù hợp với mục tiêu phát triển của doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa) sẽ giúp doanh nghiệp từng bước đạt được mục tiêu đề ra khi thực hiện cổ phần hóa Pháp luật điều chỉnh hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa sẽ góp phần hiện thực hóa một cách thành công chủ trương cổ phần hóa của doanh nghiệp nhà nước

1.3.3 Quá trình hình thành pháp luật về chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước bắt đầu được thực hiện thí điểm từ năm 1992 Thời kỳ này, hoạt động chào bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa được tiến hành theo Quyết định số 202-CT ngày 08/06/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tiếp tục làm thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần (sau đây gọi tắt là Quyết định 202-CT) Văn bản này quy định việc làm thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được tiến hành theo ba loại: bán cổ phần cho cán bộ công nhân viên chức trong doanh nghiệp, bán cổ phần cho các tổ chức kinh tế và xã hội trong nước và bán cổ phần cho các cá nhân trong nước Đây là thời kỳ đầu thực hiện thí điểm hoạt động chuyển đổi doanh

Ngày đăng: 12/03/2019, 21:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w