Nghiên cứu về hệ ý thức Nho giáo Việt Nam dưới thời phong kiến, tức là nghiên cứu những vấn đề thuộc phạm vi dân tộc, những vấn đề quá khứ, nhưng chưa phải đã mất hẳn, do đó phải đặc biệt chú ý đến tính dân tộc, tính truyền thống và cả tính thời sự nữa
Trang 1A MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Từ thế kỷ thứ III (TCN), dưới triều đại Vua Thục An Dương Vương,nước Âu Lạc đã là quốc gia có quy củ Hình thức nhà nước quân chủ có tínhchất tập quyền đã ra đời Khối thống nhất dân tộc hình thành từ đó Dân tộc ViệtNam là một trong những dân tộc hình thành sớm bằng con đường tự nguyện củacác bộ tộc Và khối đoàn kết dân tộc luôn luôn được tăng cường
Từ buổi đầu dựng nước đến nay, người Việt Nam đã liên tục chiến đấu đểgiành chủ quyền dân tộc, bảo vệ Tổ quốc đấu tranh chống nạn cát cứ, chống ápbức, bóc lột, chống lại các lực lượng phá hoại của giới tự nhiên, xây dựng cuộcsống ấm no, công bằng hơn và đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn giữa cácthành viên trong các cộng đồng lớn nhỏ Trong cuộc chiến đấu trường kỳ và vôcùng gian nan ấy người Việt Nam đã sớm hình thành những quan điểm, tưtưởng, những tri thức chung của giới tự nhiên, xã hội, về con người và phươngpháp tư duy Những tri thức đó đã vai trò thế giới quan, phương pháp luận chiphối tư tưởng, hành động của hàng trăm thế hệ
Dưới thời phong kiến, từ thời Âu Lạc đến cuối thế kỷ XIX, người ViệtNam ít có các trước tác về triết học, về tư tưởng quy mô lớn, ít có người chuyênbàn về triết học như những nước khác, nhưng cộng đồng người Việt Nam đãđông, biết suy nghĩ, hành động theo những nguyên tắc nhất quán, điều đó chứng
tỏ thế giới quan của người Việt Nam đã suy nghĩ và hành động rất thống nhấttrong quan niệm về bổn phận và nghĩa vụ: bổn phận với gia đình, nghĩa vụ với
Tổ quốc Có lẽ không có dân tộc nào mà số anh hùng hy sinh đời mình để bảo
vệ Tổ quốc, bảo vệ giống nòi đông như ở Việt Nam: “Ra ngỏ gặp anh hùng”
Người Việt Nam coi trọng đạo lý, coi trọng cuộc sống tinh thần, dám coithường cuộc sống vinh hoa phú quý, coi trọng khí tiết, trọng danh dự, kiêncường bất khuất, đúng là “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bấtnăng khuất” (giàu sang không thể quyến rũ, nghèo hèn không đổi chí, sức mạnhkhông thể khuất phục)
Trân trọng và tiếp thu những tri thức của con người Việt Nam, dân tộcViệt Nam từ những buổi đầu dựng nước, người viết quyết định chọn đề tài này
để thêm một lần nữa thấm nhuần những tư tưởng đạo đức đáng quý ấy và lấy đólàm kim chỉ nam cho mọi suy nghĩ, hành động của mình để sống nhân văn hơn,nhân bản hơn, có ích cho mọi người, cho đời và cho Tổ quốc thân yêu
Trang 2II.Mục đích nghiên cứu
Sau chiến thắng Điện biên phủ chấn động toàn cầu, chiến thắng của chiếndịch Hồ Chí Minh thần tốc, kỳ diệu “hiện tượng Việt Nam”, “sức mạnh thần kỳ”của dân tộc Việt Nam đã trở thành biểu tượng chiêm ngưỡng của bạn bè khắpnăm châu, trở thành đối tượng nghiên cứu hấp dẫn đối với nhiều nhà khoa họctrong và ngoài nước
Đồng chí Lê Duẩn nói: ”Ta là người Việt Nam, nhưng ta hiểu rõ ta cũngkhông phải là việc dễ, hiện nay chưa phải là chúng ta đã hiểu rõ người Việt Namlắm đâu” (Cách mạng XHCN ở Việt Nam, nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội 1976)
Bằng hình ảnh thơ, đồng chí Tố Hữu cũng đã viết:
“Việt Nam !
Người là ta mà ta chưa bao giờ hiểu hết
Người là ai?Mà sức mạnh thần kỳ”
(Với Đảng, mùa xuân, 1977)
Ta chưa hiểu hết ta.Và có lẽ điểm mà ta hiểu biết sơ sài nhất về ta chính là
sự hiểu biết về triết lý, tư tưởng, về cách tư tưởng của ta Đề tài này mong muốngóp một phần nhỏ vào chổ hiểu biết đó: Tìm hiểu con người Việt Nam trong lịch
sử ở phương diện ý thức để nhằm khẳng định những giá trị truyền thống văn hóa
tư tưởng Việt Nam, để làm cơ sở nghiên cứu lịch sử, văn học nghệ thuật …đểgóp phần xây dựng nội dung giáo dục con người mới XHCN Việt Nam
Để đạt được mục đích ấy, người viết đề ra yêu cầu: cố gắng phác họađúng chân dung vốn có của hệ tư tưởng Nho giáo, những cái tốt và cái không tốtnghĩa là không chỉ nhằm ca ngợi truyền thống hay chỉ nhằm phê phán tư tưởngphong kiến
III.Lịch sử vấn đề
Từ mấy chục năm nay có không ít các nhà nghiên cứu đề cập đến tưtưởng Việt Nam, nhưng số công trình chuyên bàn về hệ tư tưởng Nho giáo ViệtNam thì còn rất ít ỏi
Nghiên cứu về hệ ý thức Nho giáo Việt Nam dưới thời phong kiến, tức lànghiên cứu những vấn đề thuộc phạm vi dân tộc, những vấn đề quá khứ, nhưngchưa phải đã mất hẳn, do đó phải đặc biệt chú ý đến tính dân tộc, tính truyềnthống và cả tính thời sự nữa
Tuy nhiên, với cấp độ nghiên cứu là một Tiểu luận cho học phần Triết họcdành cho học viên cao học không thuộc nghành chuyên Triết vì thế người viết
Trang 3chỉ có thể phác họa ra những nét cơ bản nhất, cốt lõi nhất đúng với diện mạovốn có của hệ tư tưởng Nho giáo Việt Nam thời phong kiến và nhận định đúngbản chất của nó.
IV.Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu, do vậy người viết nhận thấy đây là hệ
tư tưởng, tức là thuộc về loại tư duy lý luận, thuộc về một bộ môn khoa học triếthọc cho nên trước hết lấy lập trường, quan điểm và phương pháp triết học Mác-Lênin làm phương pháp luận chỉ đạo quá trình nghiên cứu Đồng thời kết hợpvới phương pháp trực quan, thể nghiệm, kết hợp với phân tích suy lý một cáchkhách quan và phương pháp xây dựng mô hình cấu trúc-nội dung của các kháiniệm, các quan điểm tư tưởng
V.Kết cấu của Tiểu luận
Chương I Cơ sở của truyền thống văn hóa, tư tưởng Việt Nam thời phong kiến
1 Điều kiện lịch sử, địa lý, xã hội sản sinh nền Văn hóa, tư tưởng ViệtNam thời phong kiến
2.Tâm lý xã hội và ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng Việt Nam
Chương II Đặc điểm nổi bật của hệ tư tưởng Nho giáo Việt Nam thời phong
kiến
1 Lịch sử phát triển và kinh điển Nho giáo
2 Vài vấn đề cơ bản của Nho giáo
B.NỘI DUNG
CHƯƠNG I CƠ SỞ CỦA TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA,
TƯ TƯỞNG VIỆT NAM THỜI PHONG KIẾN
1 Điều kiện lịch sử, địa lý, xã hội sản sinh nền Văn hóa, tư tưởng Việt Nam thời phong kiến.
- Khối thống nhất dân tộc hình thành sớm, “Nước Việt Nam là một, dân tộc ViệtNam là một”
- Liên tục chiến đấu và chiến thắng, “càng đánh càng mạnh, càng mạnh càngthắng to”
- Việt Nam ở phía nam Trung Quốc, phía bắc Chăm pa, phía đông dãy TrườngSơn, phía tây Biển Đông
- Ngã tư giao lưu văn hóa: Ấn Độ-Trung Hoa-Đông Nam Á-Phương Tây
Trang 4- Mang nền văn minh trên triền sông: Hồng - Mã - Lam
- Có nền nông nghiệp lúa nước lâu đời ít phát triển
- Tàn dư công xã nông thôn “Phép vua thua lệ làng”
- Gia đình-dân tộc làng nước (Những cộng đồng ổn định của xã hội Việt Nam)Gia đình là tế bào của xã hội
- Chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại dai dẳng
- Có những thời kỳ mất nước kéo dài
-Không có những cuộc cách mạng triệt để về kinh tế-xã hội
-Công nghiệp và khoa học kỹ thuật chậm phát triển
2 Tâm lý xã hội và ảnh hưởng của nó tới hệ tư tưởng Việt Nam
Những điều kiện lịch sử, địa lý, xã hội trên đây sản sinh tâm lý xã hộiđồng thời cùng với tâm lý xã hội đó tạo thành cơ sở của hệ tư tưởng Việt nam:
-Nhân hậu-đoàn kết-thủy chung:
“Thương người như thể thương thân”
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
“Lá lành đùm lá rách
Lá rách ít đùm lá rách nhiều”
-Hy sinh cho tổ quốc là một vinh dự, bổn phận
-Có tinh thần “dân chủ” công xã nhân dân
-Luôn luôn cần cù và sáng tạo
-Trọng nhân luân, đạo lý
Trọng luân lý gia đình, trọng truyền thống: “Giấy rách phải giữ lấy lề”.Trọng tuổi tác ”kính lão đắc thọ”, trọng người có đức, có học, hiếu học “Muốncon hay chữ phải yêu mến thầy” Trọng dư luận hiếu khách, trọng tình bạn
-Thích cuộc sống quân bình, hòa hợp với thiên nhiên
-Thích lạc quan, cởi mở, độ llượng
-Sống bình dị
Tuy nhiên, còn một số những hạn chế trong tâm lý, trong suy nghĩ củangười Việt nam thời phong kiến, song vì điều kiện không cho phép nên ngườiviết xin được không nêu ra ở đây
Trang 5CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT CỦA HỆ TƯ TƯỞNG
NHO GIÁO VIỆT NAM THỜI KỲ PHONG KIẾN
Nền văn hóa Việt Nam đã từng phát triển trong sự giao lưu mật thiết vớicác nền văn hóa khác: Ấn độ-Trung Hoa-Phương Tây-Đông Nam Á, trong đóNho giáo, Phật giáo và Đạo giáo ảnh hưởng rõ rệt nhất Người Việt nam đã tiếpthu các hệ tư tưởng ấy trong nhiều tình thế: cưỡng bức, tự nguyện, vừa cưỡngbức vừa tự nguyện, trực tiếp, gián tiếp…Trên cơ sở vững chắc của truyền thốngvăn hóa dân tộc, một số yếu tố tích cực trong các học thuyết ấy đã góp phần tạonên truyền thống văn hóa Việt Nam Ba học thuyết Nho-Phât-Đạo đã truyền vàoViệt Nam từ những thế kỷ đầu của Công Nguyên bằng nhiều hình thức khácnhau Vai trò lịch sử của các hệ tưởng ấy thay đổi qua các thời kỳ lịch sử nhưngnhìn chung ta thầy thế lực của Nho giáo mạnh dần và đến thế kỷ thứ XV thìchiếm vị trí độc tôn Đến Cách mạng tháng tám thành công đã chấm dứt vai tròlịch sử của các hệ tư tưởng phong kiến, đặc biệt là vai trò thống trị của Nhogiáo Nho giáo rất có ý thức về quyền uy, tỏ ra có kinh nghiệm tạo quyền uy vàcác hình thức khống chế con người Nho giáo trực tiếp phục vụ chính quyềnPhong kiến, chi phối chính quyền, uy lực tinh thần của “thánh hiền” là tuyệt đốiđối với triều đình vua quan Nho giáo dành được quyền đại diện dân tộc, đạidiện văn hóa dân tộc, nó là cơ sở tư tưởng chung cho các triều đại phong kiến
Vì vậy, triều đại nhỏ lớn nào cũng cứ vẫn tồn tại Học thuyết Nho giáo tỏ ra cókhả năng thích ứng cao đối với các biến động của xã hội trên 2000 năm qua,trong các quốc gia lớn ở châu Á, nó kìm hãm sự phát triển của xã hội, kéo dàituổi thọ của chế độ phong kiến quân chủ tập quyền, mặt khác cũng chứng tỏ nó
có nhiều kinh nghệm để tổ chức xã hội, nó thực tế hơn các hệ tư tưởng phongkiến cùng thời
1 Sơ lược lịch sử phát triển và Kinh điển Nho giáo
Nho giáo vốn là một học thuyết chính trị-xã hội, là hệ tư tưởng chínhthống của giai cấp phong kiến Trung hoa Tư tưởng nho giáo xuất hiện từ thờiTây Chu (TK X đến TK VII TCN), đến thời kỳ Xuân Thu, Khổng Tử (551-479TCN) đã sưu tập, chỉnh lý các điển tịch, tư tưởng của các Nho gia tiền bối, hệthống lại thành một học thuyết tương đối có hệ thống, nhằm mục đích phục hồilại kỷ cương xã hội, cứu vãn tình thế loạn lạc thời đó: Vua không ra vua, tôi
Trang 6không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con Sang đến thời Chiến quốc,Mạnh Tử (372-289TCN), một nhà nho xuất sắc đã kế thừa và phát triển tư tưởngtheo hướng duy tâm chủ nghĩa khách quan Mạnh Tử đã đấu tranh, phản bác cáchọc phái khác (Mạc Tử, Dương Chu…), bảo vệ Nho học Đến đời Hán, ĐổngTrọng Thư đã thần bí hóa, tôn giáo hóa Nho học bằng cách đưa vào các họcthuyết Khổng-Mạnh, các tư tưởng của pháI Âm-Dương, Ngũ hành, các tư tưởng
mê tín khác, đồng thời thiết lập hệ thống nghi lễ mới
Nho giáo nhằm phục vụ đắc lực hơn cho chính quyền dân chủ chuyên chếcao độ của nhà Hán Thời Ngụy Tân Nam Bắc Triều cho đến Tùy Đường, Đạogiáo và Phật giáo mạnh dần lên và đạt đến cực thịnh ở thời Đường Đến đờiTống (TK X, XI, XII), một loạt cự Nho ra đời: Chu Đôn Di, Trình Hiệu, Trinh
Di, Lục Cửu Uyên Họ đã tiếp thu tư tưởng triết lý của Đạo gia, Phật học, bổsung cho cơ sở lý luận của hệ tư tưởng Nho giáo, làm cho Nho giáo có cơ sởtriết lý vững chắc hơn đủ sức mạnh cạnh tranh với các hệ tư tưởng khác Đó làmột lần phục hưng Nho giáo Tống Nho có ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam vànhững nước khác, đặc biệt là vai trò của Chu Hy Sau lần canh tân ấy, Nho giáo
có thêm sức mạnh, sức sống mới, nhưng đồng thời nó cũng trở nên khắc nghiệthơn, phản động hơn, phi nhân bản hơn
Kinh sách nho giáo nhiều nhưng gốc là ở Ngũ kinh-Tứ thư Ngũ kinh Ngũkinh gồm:
+Kinh thi: Một hợp tuyển thơ ca dân gian và thơ ca dùng để tế lễ đời nhàChu
+Kinh Thư: (Thượng thư) bộ sách nói về cách trị nước và thể chế nhànước Phong kiến, có thể coi là bộ sách “lịch sử-hiến pháp” của Trung Quốc cổđại
+Kinh dịch: Bộ sách bói toàn và triết lý, vốn không phải là sách của Nhogia, nhưng nhà Nho tự coi là kinh điển của mình và tương truyền Khổng Tửsoạn thập dực trong Kinh dịch
+Kinh lễ: (Lễ ký) là bộ sách trình bày hỗn hợp nhiều vấn đề nhưng chủyếu là lễ nghi và các quy tắc giao tiêp ứng xữ
+Kinh Xuân Thu: Bộ sử biên niên, chép sử nước Lỗ, thời Xuân-Thu.Trong đó Khổng Tử trực tiếp tình bày tư tưởng “Chính danh”, quan điểm lịch sử
và các tư tưởng chính trị khác
Tứ thư (tứ truyện) gồm:
Trang 7+Luận ngữ: Bộ sách ghi chép lời Khổng Tử dạy cho học trò và lời học tròtrường Khổng Tử bàn luận với nhau Đây là một bộ sách có giá trị thực lực caonhất của thư tịch Nho học Nguyên thủy
+Mạnh Tử: Bộ sách ghi chép lời của Mạnh Tử biện luận với các học pháikhác nhau và với các vua chúa đương thời
+Đại học: Bộ sách bàn về sự tu thân của người quân tử, tương truyền làsách của Tăng Tử
+Trung dung: Là bộ sách bàn về đạo “Trung dung”, lối sống “không tháquá, không bất cận” của người quân tử, là một bộ sách có ý nghĩa phương phápluận cao của nhà Nho, tương truyền là sách của Tử Tư-cháu nội của Khổng Tử
2 Vài vấn đề cơ bản của Nho giáo
Nho giáo đề cập nhiều đến các vấn đề sau:
-Trời, Trời-Người cảm ứng, Mệnh trời
-Vương chính, Đức trị, Nhân trị, Lễ trị, Tôn hiền thân thân
a Trời, Trời -Người cảm ứng, Mệnh trời:
(Trời thiên đế) Nho giáo quan niệm: Trời là đấng chí tôn hoàn thiện, toànnăng, có nhân cách, có ý chí Trời là tổng nguyên nhân chi phối vũ trụ Tuy ởcao xa nhưng trời ngầm xét việc trần gian và việc của thần linh, quỹ thần thưởngphạt nghiêm minh Khi vua chúa làm điều thất đức lớn thì trời cho ra các trươngtriệu để cảnh tỉnh và có thể giáng đại hạn để trừng trị (đại hạn, sao chổi xuấthiện, mùa hè tuyết rơi, ôn dịch, sấm sét,…) Vì vậy Vua chúa, thần dân ai cũngphải sợ Trời, kính Trời
Khổng Tử nói: “sống chết có mệnh, giàu sang tại Trời”, “phải tội với trờikhông cầu đảo vào đâu được” (Luận ngữ)
Việt sử thông giám cương mục, tập 3, trang 261 chép rằng: “Người DiễnChâu chống lại mệnh lệnh triều đình, nhà vua tự cầm quân đi đánh Khi quân vềđến của biển (ở địa phân Ngọc Sơn-Thanh Hóa) gặp cơn gió mưa mờ mịt, sấmchớp ầm ầm, mọi người đều sợ có sự bất trắc Nhà vua đốt hương khấn Trời
Trang 8rằng: “Tôi là người ít đức, đứng đầu quan và dân, vẫn nơm nớp sợ hãi như lo lỡ
sa xuống vực thẳm Chỉ vì người Diễn Châu ngang ngạnh, không theo giáo hóanên bất đắc dĩ phải đi đánh dẹp Trong vòng gươm giáo chắc không khỏi có sựoan uổng tới dân lành, đến nỗi làm cho Hoàng Thiên nổi giận, một mình tôi đây
dù phải chịu nạn cũng không dám ân hận gì, nhưng còn sáu quân vô tội thì sao?Kính xin lòng Trời soi xét cho “Khấn vừa xong chưa dứt lời, sấm gió yênngay…”
Lời phê (của Tự Đức): “Lời Lý Thái Tổ khấn Trời, tỏ ra rất có đức độ đếvương, thật chẳng khác Thành Thang nhà Thương đem sáu việc trách mìnhtrong khi gặp nạn bảy năm hạn hán, thảo nào giữa Người và Trời có sự cảm ứngkhông sai“ (Sáu việc đó là: Chính sự không có chừng mực chăng? Cung thất đồ
sộ chăng? nữ sắc quá nhiều chăng? oan uổng nhiều chăng? hay nghe lời nịnh nọtchăng? làm mất lẽ công bằng chăng?)
Người bình dân Việt Nam cũng tin ở Trời cầu mong Trời “lạy trời mưaxuống, lấy nước tôi uống…”, có khi trách trời “Trời ơi, Trời ở không cân, Người
ăn không hết người làm không ra”, Nguyễn Du tổng hợp quan niệm Trời củaNho gia và của bình dân:
“… Ngẫm hay muôn sự tại Trời
Trời kia đã bắc làm người có thân
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao”
hay
“…Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đứng trách lẫn Trời gần, Trời xa”
rồi
“…Đã cho lấy chữ hồng nhan
Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân…”
(Truyện Kiều)Ông Trời của Nho gia và ông Trời của bình dân ở Việt Nam không giốngnhau hoàn toàn Người bình dân quan niệm ông Trời là một đấng toàn năng, biếtthương người, hay bênh vực cho kẻ nghèo hèn, kẻ yếu thế bị áp bức cho ngườihiền lành đạo đức người bình dân thường kết hợp Trời-Bụt-Tiên thành một hìnhtượng chung, và mỗi khi gặp nạn, hoặc có điều oan ức thì liền kêu cứu Trời-Bụt
Trang 9cứu giúp Ông Trời của Nho gia trang nghiêm, độc đoán, quyền uy, Trời là sứcmạnh đáng sợ ai cũng phải khuất phục.
+ Thiên Tử
Nhà vua tự coi mình là Thiên Tử (con Trời) tức là người có thể làm môgiới giữa người với Trời-Đất, quỷ thần Trong lực lượng siêu nhiên, ở ngôi chítôn có Trời (Thượng đề, Thiên đế) dưới Trời có đủ loại thần linh (riêng ngườiViệt Nam thì trong số thần linh đó có nhiều vị thần vốn là những nhân vật lịch
sử đã từng có công đức lớn với dân, với nước, sau khi chết cũng hiển linh phùtrợ muôn dân, có khi còn ra trận mạc để cùng với người sống đánh giặc, cứunước (Trương Hống và Trương Hát, Đức Thánh Trần…) Sau nữa các gia đìnhcũng có liên hệ với tổ tiên của mình Tổ tiên cũng phụ trợ hoặc quở trách concháu Người Việt Nam từ xưa đã có tục thờ cúng tổ tiên Nho giáo du nhập vàkhẳng định thêm các tính ngưỡng ấy Thiên Tử đứng đầu muôn dân và cai quảnthần linh Quân quyền cho phối thần quyền Thiên Tử thụ lãnh sứ mệnh ở Trời
để trị dân và chịu trách nhiệm với Trời Lễ tế Trời ở Nam Giao (Thừa ThiênHuế) do Thiên Tử làm chủ tế thể hiện quan niệm đó
+ Trời-Người cảm ứng:
Tư tưởng Trời-Người cảm ứng (Thiên nhân tương cảm) là một loại tưtưởng nguyên thủy, tiềm logic, nhưng đã tồn tại suốt thời đại phong kiến và cóảnh hưởng sâu rộng Tư tưởng ấy đã trở thành một phương thức tư duy phổ biếntrong nhân dân và giới trí thức cũ Tư tưởng “Thiên nhân tương cảm:” dựa trênnguyên lý “đồng loại tương đồng” (đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu).Trời và Người cùng một loại cho nên lòng người thiện hay ác đều có ảnh hưởngđến sự vận hành của vũ trụ:
“Nhật thực có thường độ” (định luật) nhưng nhân sự thì biến đổi thế nàovẫn liên quan đến nó Con người sắp làm điều bất thiện mà hễ mặt trăng đi vào
độ giao thực thì nó liền lấn át và che lấp mặt Trời Đó là cá của con người độngđến Trời Lại như mặt trời sắp mưa dầm thì người nào bị đánh hay ngã bịthương, tất thấy đau buốt, đó là khí Trời đã động đến người Điều đó có thểchứng nghiệm được rõ Trời với Người có cùng một lẽ” (Vân đài loại ngữ-LêQuý Đôn, NXBVH tập 1 trang 59)”
Cuối thế kỷ XVIII và XIX, tư tưởng (Trời-Người cảm ứng) phát triểnmạnh ở Việt Nam: Nhiều trí thức lớn như Phạm Viên, Lê Hữu Trác, NguyễnThiếp… đều có chịu ảnh hưởng Trong văn học cũng có nhiều tác phẩm thể hiện
tư tưởng ấy: Tục truyền ký của Đoàn Thị Điểm, Vũ trung tùy, Tang thương ngẫu
Trang 10lục của Phạm Đình Hổ; Thoái thực ký văn của Trương Quốc Dụng, kể cả truyệnKiều của Nguyễn Du…
+ Mệnh trời:
Trời chi phối con người bằng Mệnh Trời Mỗi người sinh ra, già, chết,mạnh khỏe, ốm đau, nghèo hèn, sướng khổ…tất cả đều do mệnh Trời Nhà Nho
có tư tưởng định mệnh Họ cho rằng mọi việc lớn nhỏ đều do tiền định: “Nhất
ẩm, nhất trác giai do tiền định” (Một miếng cơm, một ngụm nước đều do tìênđinh) Con người phải an phận thủ thường, vui với số phận đã an bài Tuy vậyNhà nho cũng cho rằng con người phải cố gắng hết sức mình làm hết bổn phậncủa mình thì mới biết được Mệnh trời Như vậy lý luận của Nho gia có mâuthuẫn, giải pháp của họ về vấn đề quan hệ giữa sức người với Mệnh Trời khôngtriệt để Họ thường cho rằng do Trời nhưng cùng do Người Kinh thư có nói:
“Lòng dân là ý Trời” Lòng chân thành sự hối cải của con người có thể cảmđộng đến Trời, sửa được mệnh Trời “xưa nay nhận định đã thắng Thiên cũngnhiều”
Quan niệm con người đều có số phận tiền định, sự việc do Mệnh Trời,thời vận quyết định
-Đặng Dung khi thất thế đã tìm nguyên nhân thất bại ở thời vận :
“Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vẫn cứ anh hùng ẩm hậu đa”
(Cảm hoài)
-Trong Nhi Độ Mai có câu : “Nhân duyên vốn sẵn tại trời”
-Nguyễn Công Trứ:
“Bởi số chạy sao cho khỏi số,
Chung cuộc thời chi cũng tại trời”
-Nguyễn Đình Chiểu trong Lục Văn Tiên khi luận về Gia Cát cũng khẳngđịnh thời vận quyết định:
“Thương ông Gia Cát tài bành Gặp cơn Hán mạt chịu đành tam phân”
Đặc biệt truyện Kiều của Nguyễn Du thể hiện rất rõ tư tưởng “Trời-Ngườicảm ứng” và quan niệm “Tài mệnh tương đố” Mười lăm năm lưu lạc của ThúyKiều là tiền định, Thúy Kiều gắn bó với hồn ma Đạm Tiên bằng mộng triệu,chiêm bao và hơn nữa những lần chiêm bao, đoán tướng, đoán chừng đều ứngnghiệm cả
*Chiêm bao: “Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu,
Trang 11Thoắt đâu thấy một Tiểu Kiều.
… Thưa rằng “Thanh khí xưa nay,
Mới cùng nhau ban ngày đã quên?”
… Vâng trình hội chủ xem tường,
Mà sao trông sổ đoạn trường có tên
Âu đành cũng kiếp nhân duyên
Cũng người một hội, một thuyền đâu xa”
“Trong mê dường đã đứng bên mặt nàng
Rỉ rằng: nhân quả dở dang,
Đã toan trốn nợ đoạn tràng được sao?
Số còn nặng nghiệp má đào
Người dù muốn quyết trời nào đã cho”
*Đoán tướng:
“Có người tướng sĩ đoán ngay một lời:
Anh hoa phát tiết ra ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa”
*Đoán chừng:
“Sinh rằng giải cấu là duyên
Xưa nay nhân định thắngThiên cũng nhiều”
Các loại mộng triệu, chiêm bao, đoán tướng, đoán chừng đều chuyểnthành sự thực cả:
“Hỏi ra mới biết là sông Tiền Đường,
Nhớ lời thần mộng rõ ràng,
Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây
Đạm tiên nàng nhé có hay
Hẹn ta thì đợi dưới này rước ta”
và cuối cùng thì “nhân định” đã “thắng thiên”:
“Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau
Tiền Đường thả một bè lau rước người”
Cuộc đời của Kiều đã có trong sổ định mệnh Nhưng cái tài củaKiều vẫn cố vươn lên, thế là Tài và Mệnh xung khắc cho đến lúc Kiều phải nhảyxuống sông Tiền Đường mới kết thúc
Trang 12Đợt thứ nhất:Tài của Kiều trong đà thuận lợi, Thúy Kiều gặp Kim Trong,cái Mệnh chưa xuất hiện nhưng hình như cũng đã rình rập, phục sẵn trong cái cơhội tốt đẹp ấy:
“Khúc đâu Hán Sở chiến trường
Nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau
Khúc đâu Tư Mã “Phương cầu”
Nghe ra như oán như sầu phải chăng
…
Rằng hay thì thật là hay
Nghe ra ngậm đắng nuột cay thế nào”
Liền sau đó các Mệnh xuất hiện, bằng sự vu oan giá họa của tên bán tơ,Kiều phải tự bán mình chuộc cha Cái Mệnh đã thắng bằng sự vu oan đánh lén.Mệnh thằng Tài, cái Tài chịu oan nhưng không chịu nhục, Thúy Kiều hành độngchưa có chỗ nào sai lầm
Đợt thứ hai: Cài Tài giúp Kiều gượng dậy gặp Thúc Sinh, cái Mệnh xuấthiện qua mưu mô của Hoạn Thư xảo quyệt mà già dặn, công khai, trực diệnđánh gục cài Tài Cài Tài bị cầm tù, không kêu oan được, Thúy Kiều lần nàykhông phải không có lỗi:
“Cùng trong một tiếng tơ đồng
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm”
Đợt thứ ba: Cài Tài giúp Kiều vượt qua trỗi dậy vinh quang hiển hách,gặp Từ Hải Nhưng cái Mệnh cũng đã đến ngay bằng sự tráo trở của Hồ TônHiến và lần này chính Kiều đã phạm sai lầm, cái Tài đã nối giáo cho giặc đểKiều phải chuốc lấy tai vạ đến nỗi Từ Hải phải chết đứng Cái Tài sa cơ, bịđiểm nhục, tuyệt vọng:
“Một cung gió thảm mưa sầu
Bốn dây rõ máu năm đầu ngón tay”
Đợt thứ tư: Trong cuộc xung đột giữa Tài và Mệnh, Kiều
“Có Tài mà cậy chi Tài
Chữ Tài liền với chữ tai một vần”
Gieo mình xuống sông Tiền Đường, Kiều một lần cuối cùng quyết thoátkhỏi Định Đệnh và “nhận định” đã “thắng thiên” Sức người đã đổi được MệnhTrời Nhưng không phải nhờ cái Tài mà bằng cái Tâm (Đó là lời giải độc đóacủa Nguyễn Du):
“Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Trang 13Ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh.
Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn thục đế hay mình đỗ quyên
… Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy?
Tẻ vui bởi tại lòng này
Hay là khổ nặng đến ngày cam lai?”
Tư tưởng “Trời-Người cảm ứng”, tư tưởng định mệnh tồn tại dai dẳng nhưthế, do nền khoa học phát triển chậm, do chế độ quân chủ chuyên chế, ra sứcduy trì nó Người dân chất phác tin vào Trời, cầu mong ở trời, tin là có MệnhTrời, vì họ bất lực trước số phận Khi gặp các biên cố trong giới tự nhiên, biến
cố trong xã hội , sự thay vua đổi chúa Họ không hiểu nguyên nhân và bất lực thìbèn cho đó là “ý Trời đã định, số Trời là vậy” để tự an ủi Người có học, kẻthống trị thì vừa tin là có Mệnh Trời vừa có ý thức lợi dụng Mệnh Trời để saikhiến người dân
sự bề trên
Vua chư hầu trung với Thiên tử, thần dân trung với Vua, tớ trung vớichủ…Nhưng nếu vua bạo ngược, hôn ám quá mức thì sao? Bề tôi có thể “Điếuphạt” trừ kẻ bạo ngược Như Vũ Vương phạm Trụ, Thành Thang diệt Kiệt(Theo Mạnh Tử, Kiệt và Trụ là những tên tàn bạo, không phải là vua, vũ vươngThành Thang không giết vua mà đã giết những tên tàn bạo hôn ám)
Như thế là nhà Nho đã khéo léo mở ra một lối thoát nhỏ cho lý luận lịch
sử, khi thật cần thiết Tuy nhiên trong lịch sử lâu dài của xã hội phong kiến, nhà