1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục tới lĩnh vực giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV

211 549 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, cùng với việc sử dụng Nho giáo làm “bệ đỡ” cho hệ tư tưởng thống trị, bản thân học thuyết này đã trở thành cơ sở lý luận để xây dựng và phát triển nền giáo dục - khoa cử của cá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS Trần Nguyên Việt

TS Nguyễn Thanh Bình

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi , dưới sự hướng dẫn của PGS TS Trần Nguyên Viê ̣t và TS Nguyễn Thanh Bình Những kết quả và nội dung của luận án là trung thực Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm 2014

Tác giả

Phạm Thị Quỳnh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận án 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 5

7 Kết cấu của luận án 5

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ THUẬT NGỮ ĐƯỢC DÙNG TRONG LUẬN ÁN 7

NỘI DUNG 30

Chương 1 : SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ GIÁO DỤC VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NÓ 30

1.1 Điều kiện và tiền đề cơ bản cho sự ra đời tư tưởng Nho giáo về giáo dục ở Trung Quốc 30

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 31

1.1.2 Tiền đề tư tươ ̉ng, văn hóa 35

1.1.3 Vai tro ̀ sáng lập Nho giáo của Khổng Tử và lịch sử giáo dục - khoa cử Trung Quốc cổ đại 38

1.1.4 Quan điểm của Nho giáo về con người và giáo dục con người 45

1.2 Một số nô ̣i dung cơ bản trong t ư tưởng của Nho giáo Trung Quốc về giáo dục 57

1.2.1 Mục đích và nguyên tắc giáo dục 57

1.2.2 Nội dung giáo dục 67

1.2.3 Phương pháp giáo dục 81

Kết luận chương 1 95

Trang 4

Chương 2 : HỆ THỐNG GIÁO DỤC - KHOA CỬ ĐẠI VIỆT TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XV DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA

TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ GIÁO DỤC 98

2.1 Nho giáo ở Việt Nam trướ c thế kỷ XI 98

2.1.1 Nho giáo trươ ́ c thời Ngô, Đinh, Tiền Lê 98

2.1.2 Nho giáo thời Ngô, Đinh, Tiền Lê 103

2.2 Khái quát đặc điểm của hệ thống giáo dục - khoa cử Đại Việt từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV 106

2.3 Sự hình thành và phát triển hệ thống giáo dục - khoa cử thời Lý - Trần và Hồ dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục 109

2.3.1 Mục đích giáo dục 109

2.3.2 Quy chế giáo dục - khoa cử 113

2.3.3 Nội dung giáo dục 121

2.3.4 Một số nhận xe ́ t sơ bộ về hê ̣ thống giáo dục - khoa cử thời Lý - Trần và Hồ 125

2.4 Hệ thống giáo dục - khoa cử thờ i Lê Sơ thế kỷ XV trong điều kiện Nho giáo độc tôn 128

2.4.1 Mục đích giáo dục 128

2.4.2 Sư ̣ biểu hiện độc tôn Nho giáo trong quy chế giáo dục - khoa cử 131

2.4.3 Nội dung giáo dục 140

2.4.4 Phương pháp giáo dục 145

2.4.5 Một số nhận xét về hê ̣ thống giáo dục - khoa cử thời Lê Sơ 149

Kết luận chương 2 150

Chương 3 : ĐÓNG GÓP CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ GIÁO DỤC ĐỐI VỚI XÃ HỘI ĐẠI VIỆT TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XV VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ ĐỐI VỚI SỰ NGH IỆP GIÁO DỤC NƯỚC TA HIỆN NAY 153

Trang 5

3.1 Đóng góp của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với xã hô ̣i Đa ̣i Việt

từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV 153

tạo nhân tài và xây dựng xã hội học tập 160

dựng và hoàn thiện đạo đức xã hội 164

3.2 Bài học lịch sử về phát huy những giá trị tích cực và khắc phục

những mặt hạn chế trong tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với sự nghiệp giáo dục- đào tạo ở nước ta hiện nay 173

3.2.1 Vài nét về thực trạng nền giáo dục hiện nay ở nước ta 175

dục trong điều kiê ̣n giáo dục Viê ̣t Nam hiê ̣n nay 178 3.2.3 Một số hạn chế chủ yếu trong tư tưởng Nho giáo về giáo dục cần khắc phục, loại bỏ từ kinh nghiệm lịch sử 183

Kết luận chương 3 190 KẾT LUẬN 191 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 194 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 195

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Như chúng ta đều biết, vấn đề con người và giáo dục, đào tạo con người luôn là vấn đề được các lĩnh vực khoa học quan tâm Đối với triết học, vấn đề này được coi tro ̣ng đă ̣c biê ̣t, bởi lẽ nó liên quan đến sự hình thành và phát triển thế giới quan, phương pháp luận của con người, tạo điều kiện cho con người nhận thức thế giới và cải tạo thế giới một cách phù hợp, đúng đắn hơn Trong lịch sử triết học, vấn đề giáo dục con người đã được nhiều học thuyết đề cập, thậm chí cho đó là vấn đề trọng tâm như trong học thuyết Nho giáo

Nho giáo với tính cách là một học thuyết chính trị - xã hội do Khổng

Tử sáng lập ở Trung Quốc thời Xuân Thu và được du nhập vào Việt Nam từ thời đầu Bắc thuộc Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của xã hội phong kiến Việt Nam, bắt đầu từ thời Lý , các triều đại phong kiến Việt Nam

đã lựa chọn Nho giáo (trong đó có tư tưởng giáo dục ) làm công cụ chủ yếu cho việc quản lý con người và xã hội, đào tạo nguồn nhân lực cho bộ máy nhà nước đáp ứng những yêu cầu và nhiê ̣m vu ̣ thực tiễn đă ̣t ra trong viê ̣c xây dựng, phát triển triều đại và đất nước về mọi mặt Từ đó, cùng với việc sử dụng Nho giáo làm “bệ đỡ” cho hệ tư tưởng thống trị, bản thân học thuyết này

đã trở thành cơ sở lý luận để xây dựng và phát triển nền giáo dục - khoa cử của các triều đại phong kiến Việt Nam gần mười thế kỷ (từ nửa cuối thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX)

Ngày nay ở nước ta, Nho giáo không còn giữ vai trò chi phối trong lĩnh vực thượng tầng kiến trúc xã hội, song ảnh hưởng của nó vẫn còn lâu dài ở nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội , đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Sự ảnh hưởng đó luôn mang tính hai mặt , tức là vừa tạo nên những giá trị truyền thống đạo đức , truyền thống hiếu ho ̣c tôn sư trọng đạo , xây dựng phong trào “ho ̣c không biết chán , dạy người không biết mệt mỏi” ,

Trang 7

v.v vừa để lại những tàn dư không phải dễ dàng xóa bỏ trong ý thức thi cử,

đỗ đạt để hiển danh, dù “cái danh” đó có phù hợp với “cái thực” hay không

Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu tư tưở ng giáo du ̣c của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam trong lịch sử để kế thừa biện chứng những yếu tố tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của nó về lý luận và thực tiễn giáo dục, theo chúng tôi là hết sức cần thiết

Điều cần hết sức lưu ý là, trong đường lối xây dựng và phát triển đất nước từ trước tới nay, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định vai trò to lớn của giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là động lực và nhân tố quan trọng nhất để đào tạo nguồn lực con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước Tiếp tu ̣c tư tưởng chiến lược này , Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển”, và cần phải: “đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” [34; tr.77]1

Để đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách đang được đặt ra hiện nay là sự cần thiết phải nghiên cứu trở lại tư tưởng giáo dục của Nho giáo , ảnh hưởng cũng như đóng góp của nó đến lĩnh vực giáo dục - khoa cử Việt Nam trong lịch sử Nghiên cứu tư tưởng giáo dục của Nho giáo một cách khách quan và có cơ sở khoa học, chúng ta mới làm rõ được những giá trị cơ bản và những hạn chế chủ yếu của Nho giáo nói chung , tư tưởng giáo dục của Nho giáo nói riêng , từ đó rút

1 Từ đây trở đi, số đầu tiên trong móc dùng để chỉ thứ tự tài liệu tham khảo trong Danh mục tài liệu tham

Trang 8

ra những bài học kinh nghiệm cho sự phát triển và hoàn thiện nền giáo dục của Việt Nam hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng

của tư tưởng Nho giáo về giáo dục tới lĩnh vực giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV” để nghiên cứu trong luận án tiến sĩ triết

học của mình Thêm nữa, có thể nói, lịch sử giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV là giai đoạn khởi đầu của nền giáo dục truyền thống và theo thời gian, dần chịu sự chi phối mạnh mẽ của Nho giáo và Nho học Chính nền giáo dục ấy đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng, phát triển nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Việt Nam và đến nửa cuối thế kỷ XV đã phát triển đến giai đoạn cực thịnh về mọi mặt Do vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống và phân tích thấu đáo quy chế cũng như nội dung, phương pháp của nền giáo dục thời kỳ này không chỉ làm rõ thực chất của nền giáo dục truyền thống, mà còn rút ra được những bài học bổ ích cho

sự phát triển nền giáo dục hiện nay ở nước ta

2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

- Nhiệm vụ của luận án

Để thực hiện mục đích trên, luận án cần giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau đây:

+ Trình bày khái quát sự ra đời và những nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo Trung Quốc về giáo du ̣c

+ Phân tích quá trình ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đến lĩnh vực giáo dục - khoa cử ở Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV

Trang 9

+ Phân tích một số đóng góp chủ yếu của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với xã hô ̣i Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV và rút ra bài học lịch sử cho sự nghiệp đổi mới và phát triển nền giáo dục ở nước ta hiện nay

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: tư tưởng Nho giáo về giáo dục và ảnh hưởng của nó tới lĩnh vực giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV

- Phạm vi nghiên cứu: tư tưởng Nho giáo về giáo dục; lĩnh vực giáo dục - khoa cử ở Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV; thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với nền giáo dục nước ta trước nhu cầu đổi mới và phát triển đất nước hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người và giáo dục - đào tạo con người

- Cơ sở tài liệu

Luận án được thực hiện trên cơ sở những tác phẩm chủ yếu của Nho giáo, các bộ quốc sử của Việt Nam, các công trình nghiên cứu về Nho giáo

và về nền giáo dục - khoa cử ở Việt Nam đã được công bố

- Phương pháp nghiên cứu

Cùng với các nguyên tắc có ý nghĩa phương pháp luận trong nghiên cứu lịch sử triết học, luận án chủ yếu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử , kết hợp với các phương pháp : logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa… nhằm tái hiện một cách toàn diện và khách quan ảnh hưởng và đóng góp của t ư tưởng Nho giáo về giáo du ̣c trong

hệ thống giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV

Trang 10

5 Đóng góp của luận án

- Trình bày có hệ thống và toàn diện những nội dung chủ yếu trong

tư tưởng Nho giáo về giáo du ̣c và ảnh hưởng của nó đến lĩnh vực giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV

- Phân tích một số đóng góp chủ yếu của tư tưởng Nho giáo về giáo dục thông qua hê ̣ thống giáo du ̣c - khoa cử đối với xã hô ̣i Việt Nam thời phong kiến; từ đó rút ra bài học lịch sử cho việc phát triển sự nghiệp giáo dục Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa lý luận

Luận án góp phần tìm hiểu, hệ thống hóa tư tưởng Nho giáo về giáo du ̣c

và hệ thống giáo dục - khoa cử Nho học Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế

kỷ XV Trên cơ sở đó, luận án rút ra một số bài học cho việc phát triển sự nghiệp giáo dục Việt Nam hiện nay

- Ý nghĩa thực tiễn

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách giáo dục ở Việt Nam hiện nay

Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu

và giảng dạy môn Lịch sử triết học, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nho giáo, Nho giáo ở Viê ̣t Nam, Lịch sử giáo dục Việt Nam…

Luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo để cho các tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến đề tài

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung của Luận án bao gồm 3 chương, 8 tiết

Chương 1: Sự ra đời tư tưởng Nho giáo về giáo dục và một số nội dung

cơ bản của nó, gồm 2 tiết

Trang 11

Chương 2: Hê ̣ thống giáo dục - khoa cử Đại Viê ̣t từ thế kỷ XI đến cuối

thế kỷ XV dưới ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục, gồm 4 tiết

Chương 3: Đóng góp của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với xã hội

Đại Viê ̣t từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV và bài học lịch sử đối với sự nghiê ̣p giáo dục nước ta hiện nay, gồm 2 tiết.

Trang 12

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ MỘT SỐ THUẬT NGỮ ĐƯỢC DÙNG TRONG LUẬN ÁN

Trung Quốc cũng như ở các nước chi ̣u ảnh hưởng của Nho giáo thì Nho giáo chủ yếu là một học thuyết chính trị - xã hội chi phối nhiều lĩnh vực, nhiều mặt của đời sống xã hội và con người trong lịch sử Trong Nho giáo, các tư tưởng về triết học, chính trị - xã hội, đạo đức, giáo dục và quản lý xã hội của nó đan xen, thâm nhập vào nhau Chính vì vậy, tư tưởng và ảnh hưởng, vai trò của Nho giáo đến xã hội và con người được tiếp cận, nghiên cứu từ nhiều phương

diện, nhiều góc độ, với nhiều mục đích khác nhau Trong cuốn Thư mục Nho

giáo Việt Nam, chỉ tính đến năm 2007 có đến 2005 đơn vi ̣ tư liê ̣u về Nho giáo

Viê ̣t Nam và tư tưởng văn hóa Viê ̣t Nam, trong đó có 1342 đơn vi ̣ tư liê ̣u tiếng Viê ̣t, số còn la ̣i là tư liê ̣u chữ Hán, chữ Nôm, tiếng Trung, tiếng Pháp và tiếng Anh Đặc biệt, trong khoảng hai thâ ̣p kỷ trở la ̣i đây , có rất nhiều các Hội thảo

khoa ho ̣c các cấp về Nho giáo được tổ chức ta ̣i Viê ̣t Nam như : Vị trí, vai trò

và ảnh hưởng của Nho giáo trong li ̣ch sử tư tưởng Viê ̣t Nam của Viện Triết

học (1993), các Hội thảo quốc tế về Nho giáo tại Viê ̣t Nam (2001, 2004, 2006,

2009…), Hội thảo quốc tế Nghiên cứu tư tưởng Nho gia Viê ̣t Nam từ hướng

tiếp cận liên ngành (2007), Hô ̣i thảo quốc tế Nho giáo Viê ̣t Nam và văn hóa Đông Á (2009), Hô ̣i thảo quốc tế Nho giáo Viê ̣t Nam truyền thống và đổi mới

(2011), Hội thảo quốc tế Mối quan hê ̣ giữa Nho giáo và các trào lưu tư tưởng

khác trong lịch sử tư tưởng Viê ̣t Nam và Hàn Quốc (2011)…

Liên quan đến phạm vi và nội dung nghiên cứu của đề tài, trên cơ sở khảo cứu các công trình nghiên cứu về Nho giáo và ảnh hưởng của nó tới lĩnh vực giáo du ̣c - khoa cử ở Viê ̣t Nam từ thế kỷ X I đến thế kỷ XV , có thể khái quát một số thành quả đạt được và những vấn đề cần được tiếp tục làm rõ từ nhiều công trình nghiên cứu ở ba nhóm sau:

Trang 13

1 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về Nho giáo và tư tưởng Nho giáo về giáo dục tại Việt Nam

Những công trình nghiên cứu tiêu biểu về Nho giáo và tư tưởng Nho

giáo về giáo dục thông qua những tác phẩm kinh điển, sách vở của nhà Nho

như các công trình nghiên cứu của Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh (trướ c Cá ch mạng tháng Tám ); Nguyễn Khắc Viện, Quang Đạm, v.v (sau Cách mạng tháng Tám)

Trong tác phẩm Khổng học đăng của Phan Bội Châu, các tư tưởng cơ

bản của Nho giáo được trình bày rất cô đọng, súc tích trong lịch sử hình thành

và phát triển của Nho giáo Đặc biệt, vớ i tác phẩm này, Phan Bội Châu đã nhấn mạnh đến vai trò của Nho giáo trong thực tiễn giáo dục, hoàn thiện nhân cách con người xã hội, như ông chỉ rõ: “Tư tưởng Khổng học chính thống là một hệ thống triết học nhân bản rất sâu sắc” < > “đã góp phần hình thành truyền thống tinh thần và đạo lý của con người Việt Nam” [15; tr.10] Tuy nhiên, nhân cách con người trong tư tưởng Nho giáo mà Phan Bội Châu khẳng đi ̣nh là nhân cách con người từ góc độ đạo đức Nho giáo, vì vậy cái nhân cách ấy không đủ khả năng và điều kiện để phát triển toàn diện và do đó, không hoàn toàn phù hợp với đòi hỏi của xã hội hiện đại ở nước ta

Tác phẩm Nho giáo của Trần Trọng Kim là công trình nghiên cứu khá

hệ thống nhiều khái niệm, phạm trù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo trong lịch sử phát triển của chúng Cũng như Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim đặc biệt đề cao những giá trị của Nho giáo trong bối cảnh mà đa số người Việt lúc bấy giờ hồ nghi, xa lánh Nho giáo Công trình này của Trần Trọng Kim

đã cố gắng làm rõ những ưu điểm của Nho giáo trong bối cảnh thực dân Pháp đình chỉ nền cổ học nước nhà (năm 1919), cùng với sự phê phán , phủ định sạch trơn các giá trị đích thực của Nho giáo do ảnh hưởng của văn hóa phương Tây thời bấy giờ Tuy nhiên, sự nỗ lực đó của tác giả đã sa đà vào

Trang 14

viê ̣c ngợi ca học thuyết này , tới mức cho rằng , các tư tưởng triết học , chính trị - đạo đức trong lịch sử văn minh nhân loại đều không vượt ra khỏi phạm

vi của Nho giáo Rõ ràng, ở phương diện này , Trần Tro ̣ng Kim chưa thâ ̣t sự

có quan điểm khách quan , toàn diê ̣n và khoa học trong việc nghiên cứu và đánh giá về Nho giáo , Nho ho ̣c

Không quá đề cao Nho giáo như Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh trong

tác phẩm Khổng giáo phê bình tiểu luận nhìn nhận Nho giáo với thái độ

khách quan, toàn diện và biện chứng hơn Ông phê phán thái độ cực đoan của một số trí thức lúc bấy giờ coi Khổng học chỉ là vô dụng, di hại, không hợp thời đại Trái lại, khi đánh giá về Nho giáo, ông cho rằng, Nho giáo “dẫu nó không thích hợp nữa ở đời nay, mà công dụng nó, sự nghiệp của nó vẫn trọn vẹn ở trong lịch sử, không ai có thể chối cãi hay xoá bỏ đi được” [1; tr.150] Theo ông, cần phải nghiên cứu Nho giáo, vai trò và mối quan hệ giữa Nho giáo với dân tộc ta trong lịch sử mới có thể hiểu được đầy đủ và đúng đắn lịch

sử dân tộc ta, cũng như nhiệm vụ của chúng ta trong xã hội hiện nay

Nguyễn Khắc Viện trong cuốn Bàn về đạo Nho trình bày những quan điểm

của đạo Nho về con người, xã hội và nhận thức qua những pha ̣m trù Nhân, Lễ, Nghĩa và các sách kinh điển của Nho gia, đồng thời trình bày những ảnh hưởng của Nho giáo đến tư tưởng và nền văn hóa Việt Nam trong các triều đại phong kiến Viê ̣t Nam

Trong tác phẩm Nho giáo xưa và nay (được xuất bản cuối thế kỷ XX ), Quang Đạm với thái độ khách quan, biện chứng đã nghiên cứu và đánh giá nội dung, ảnh hưởng và vai trò của Nho giáo trong lịch sử ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực Theo Quang Đạm , việc vạch ra mặt tích cực của Nho giáo , Nho học không phải để “truy tặng, khen thưởng” nó mà cốt để “giữ gìn và phát huy nhằm thúc đẩy sự nghiệp chúng ta tiến lên” [31; tr.453] Và việc vạch ra mặt tiêu cực của Nho giáo, theo ông, cũng không phải để “truy tố, bắt

Trang 15

đền” nó mà chỉ nhằm mục đích “nhìn rõ và loại trừ tận gốc một cách khách quan và khoa học những hậu quả cụ thể của nó trong hệ tư tưởng và cuộc sống xã hội chúng ta ngày nay” [31; tr.454] Tuy nhiên, trong tác phẩm này, tác giả chưa dành một dung lượng cần thiết cho việc phân tích một số vấn đề

cơ bản của Nho giáo như: vũ trụ quan, đạo đức nhân sinh, chính trị - xã hội, giáo dục và ảnh hưởng của nó đối với xã hội và con người Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục - đào tạo con người

Nhìn chung, các tác phẩm trên là những công trình nghiên cứu khá bổ ích

về Nho giáo Tuy nhiên, do lập trường, quan điểm và mu ̣c đích nghiên cứu cũng như do bối cảnh thời đại, cho nên một số nhận định, đánh giá về ảnh hưởng và vai trò của Nho giáo đối với xã hội và con người nói chung, đối với lĩnh vực giáo dục nói riêng cần phải được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, làm rõ thêm

2 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục tới lĩnh vực giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI

đến cuối thế kỷ XV

Nghiên cứu quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam và vị trí, ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội và con người Việt Nam trong lịch sử, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục - khoa cử phải kể đến những công trình của các tác giả: Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Nguyễn Đăng Thục, Trần Văn Giàu, Vũ Khiêu, Lê Sỹ Thắng, Nguyễn Tài Thư, Phan Đại Doãn, Phan Văn Các, Lê Văn Quán, Nguyễn Đăng Duy, Trần Đình Hượu, Nguyễn Duy Hinh, Nguyễn Đức

Sự, Vũ Minh Tâm, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Thế Long, Nguyễn Hùng Hậu, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Thị Nga

Bàn về quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam , có khá nhiều tác giả đề cập Hầu hết các tác giả trên đây đều thống nhất quan điểm rằng, Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên, và ở thời kỳ Bắc thuô ̣c, Nho giáo chưa có ảnh hưởng gì nhiều đối với xã hô ̣i và con người Viê ̣t

Trang 16

Nam Trong bài viết Những vấn đề Nho giáo trong li ̣ch sử tư tưởng Viê ̣t Nam ,

tác giả Vũ Khiêu , đứng trên lâ ̣p trường của c hủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng phương pháp duy vâ ̣t li ̣ch sử của triết học Mác - Lênin để nghiên cứu Nho giáo, đã đưa ra những nhâ ̣n đi ̣nh khách quan , khoa ho ̣c về tiến trình tiếp biến Nho giáo ở Viê ̣t Nam Trong bài viết này, ông khẳng đi ̣nh : “Không thể

có một thứ Nho giáo nhất thành bất biến , thích ứng ở khắp mọi nơi , mọi lúc” [109; tr.13] Từ việc khái quát quá trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam , tác giả cho rằng: “trong hơn mô ̣t nghìn năm Bắc thuô ̣c và mô ̣t thế kỷ sau ngày đất nước ta giành được đô ̣c lâ ̣p Nho giáo vẫn chưa có vai trò gì đáng kể trong xã

hô ̣i Viê ̣t Nam” [109; tr.15]

Tác giả Trần Nghĩa với bài viết Thử bàn về thời điểm du nhập cùng

tính chất, vai trò của Nho học Viê ̣t Nam thời Bắc thuộc cho rằng, quan điểm

Nho ho ̣c du nhâ ̣p vào Viê ̣t Nam từ thời Triê ̣u Đà của Lê Tung - sử gia triều Lê

là thiếu cơ sở Bằng những cứ liê ̣u li ̣ch sử , tác giả đưa ra quan điểm : “Nho học Trung Quốc đã được quan la ̣i thời Đông Hán chính thức đưa vào Viê ̣t Nam từ những năm đầu Công nguyên” [145; tr.84] Tác giả cũng chia Nho học Việt Nam thời Bắc thuộc ra làm hai loại khác nhau : Nho học do Tích Quang, Nhâm Diên du nhập (là đa ̣o Nho nguyên bản Tiên Tần pha trô ̣n với thần ho ̣c thời Lưỡng Hán ) và Nho học do Sĩ Nhiếp truyền vào (là đạo Nho nguyên bản được lồng ghép với tư tưởng đa ̣o Phâ ̣t và đa ̣o Lão) Bàn về vai trò của Nho học thời Bắc thuộc , tác giả đi đến kết luận : “Nho ho ̣c chưa bao giờ được lên ngôi , nếu không nói là trước sau chỉ đóng vai trò phu ̣ trợ , thuyết minh cho đa ̣o Phâ ̣t về phương diê ̣n ho ̣c thuâ ̣t” [145; tr.89]

Tương tự như quan điểm trên, tác giả Nguyễn Thanh Bình trong bài viết

Về sự du nhập và phát triển của Nho giáo Viê ̣t Nam từ thời Bắc thuộc đến triều

Lý cũng cho rằng: Nho giáo thời Bắc thuô ̣c chưa có ảnh hưởng nhiều đến xã hô ̣i

và con người Việt Nam Tác giả cũng phân tích cách thức Nho giáo du nhập vào

Trang 17

Viê ̣t Nam chủ yếu theo hai con đường: “theo gót giầy quân xâm lược phong kiến phương Bắc và giao lưu văn hóa” [59; tr.418]

Đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng , Nho giáo chỉ thực sự được người Viê ̣t Nam lựa cho ̣n và sử du ̣ng là từ thời Lý trở đi Chẳng ha ̣n , bộ

sách Lịch sử tư tưởng Việt Nam (gồm 6 tập của Nguyễn Đăng Thục) là

công trình khái quát về quá trình chuyển biến tư tưởng Việt Nam trong lịch

sử Trong tập 5 của bộ sách này, tác giả trình bày về quá trình Nho giáo ảnh hưởng và dần chiếm lĩnh vị trí trong quá trình lựa chọn hệ tư tưởng của các triều đại phong kiến Viê ̣t Nam và dân tô ̣c Viê ̣t từ thế kỷ XI trở đi Theo tác giả, từ thời Lý “các vua chúa và phần lớn giới trí thức lãnh đạo triều

Lý, triều Trần vẫn tôn sùng Phật giáo, không phải thứ Phật giáo thuần túy Đại thừa hay Tiểu thừa nguyên thủy, mà là Phật giáo Việt hóa với học phái Thảo Đường thời Lý, Trúc Lâm Yên Tử thời Trần Bởi thế mà, đồng thời nhà vua cho xây cất chùa tháp, cũng sai xây cất Văn Miếu năm 1070 để thờ Chu Công, Khổng Phu Tử, lập Quốc Tử Giám để cho con em trong nước học tập kinh điển Nho giáo Và đi đôi với các khoa thi Nho học để lấy người làm việc nước, cũng thi cả Tam giáo cho xuất thân” [124; tr.14]

Tương tự với việc phác họa bức tranh chung về giáo dục như trên, Nguyễn Đăng Thục cũng nêu những đặc điểm của giáo dục - khoa cử theo tinh thần Nho học ở các triều đại phong kiến Viê ̣t Nam về sau, chủ yếu làm rõ chủ trương của các triều đại này khi lựa chọn Nho giáo thống lĩnh trong hệ tư tưởng của mình Mặc dù tác giả đã đưa ra những hạn chế của lối học từ chương Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến nền giáo dục - khoa cử Việt Nam đương thời, song việc cụ thể hóa mục đích, nội dung và phương pháp giáo dục được các triều đại phong kiến Trần, Hồ, Lê sơ triển khai như thế nào thì trong công trình này chưa đáp ứng được Chính vì vậy, công trình nhiều tập của Nguyễn Đăng Thục tuy chủ yếu là mang tính liệt kê sự kiện, song dù ở

Trang 18

mức độ nào đi nữa, bức tranh giáo dục mà ông cố gắng phác họa, vẫn còn nhiều mảng thiếu vắng, đòi hỏi phải được làm rõ

Trong tác phẩm Bàn về văn hiến Việt Nam, tác giả Vũ Khiêu đã trình

bày vị trí, vai trò của Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam từ thời Lý - Trần trở đi Theo ông, từ thời Lý - Trần trở đi, Nho giáo dần được nhà nước phong kiến Việt Nam coi trọng và tạo nhiều điều kiện cho nó phát triển mạnh

mẽ, đến thời Lê sơ thì Nho giáo giành được địa vị độc tôn Về cơ bản, vai trò của Nho giáo trong thời kỳ này là tích cực, góp phần thúc đẩy xã hội ổn định

và phát triển, đáp ứng được những đòi hỏi của chế độ quân chủ phong kiến trung ương tập quyền Nhưng từ thế kỷ XVI trở đi, Nho giáo bắt đầu suy tàn, bất lực và bộc lộ những mặt tiêu cực Song độc tôn Nho giáo là gì; địa hạt độc tôn của nó ra sao là những vấn đề còn bỏ ngỏ, đặc biệt là độc tôn trên lĩnh vực giáo dục - đào tạo

Cùng với quan điểm trên, Trần Văn Giàu trong tác phẩm Sự phát triển

của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám cho rằng,

mặc dù dưới thời Lý - Trần, Phật giáo là tôn giáo có thế lực nhất, nhưng nhờ việc học tập và tuyển dụng quan lại chủ yếu bằng con đường khoa cử Nho học

mà Nho giáo nói chung, Nho học nói riêng đã vươn lên dù quá trình đó là chậm chạp Ông còn nhấn mạnh thêm rằng, tuy nhà Lý sùng đạo Phật, nhưng muốn trị nước, muốn củng cố chế độ phong kiến thì nhà Lý ngày càng dựa vào Nho giáo [44; tr.63-64]

Khi trình bày về hệ thống giáo dục - khoa cử Việt Nam thời Lý - Trần (đặc biệt là thời Lý), hầu hết các tác giả đều tỏ ra e dè trong nhận định và sử dụng cách viết nghiêng về những phán đoán hơn là bằng những lập luận chắc

chắn Chẳng hạn, trong cuốn Lịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng

tháng 8 - 1945 do Nguyễn Đăng Tiến chủ biên có viết: “Sử sách không ghi

chép gì về số lượng trường lớp (thời Lý - Trần), song chắc chắn không phải là

Trang 19

ít, vì phải cung cấp số lượng nho sinh cho các kỳ thi ngày càng nhiều và đi vào quy củ ở các triều đại về sau” [133; tr.19] Tương tự như vậy, Nguyễn

Tiến Cường trong Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời

phong kiến đưa ra nhận định: “Về mặt phát triển giáo dục từ khi nhà Lý lên

ngôi (1009) cho đến năm 1076 không thấy sử sách nói mở trường học ra sao Nhưng trong thời gian này mở rất nhiều chùa, có lẽ Lý Công Uẩn được học hành và trưởng thành từ nhà chùa nên rất chăm lo phát triển Phật giáo, coi đó

là quốc giáo” [22; tr.52] và: “Tiếc rằng sử sách không ghi chép gì để biết Quốc Tử Giám có những tổ chức gì, chức quan nào, học sinh được chọn vào học là những ai, chế độ học tập và sau khi học ra làm gì ” [22; tr.98] Cũng theo cách phán đoán như vậy, về đối tượng dự thi, tác giả viết: “Khi mới bắt đầu có thi Hương, trong thời nhà Trần có lẽ chưa có quy định gì về tiêu chuẩn

dự thi, ai tự thấy có năng lực có thể xin dự thi Đời Lê từ khoa thi Hương đầu tiên có lẽ nhiều nhất cũng chỉ hạn chế ở mức con em nhà lương thiện như các quy định về tuyển học sinh đi học các trường phủ, lộ và những người tuấn tú trong nhân dân vào học ở Quốc Tử Giám” [22; tr.161]

Hoặc như Nguyễn Đức Sự, trong tác phẩm Nho giáo và khía cạnh tôn

giáo của Nho giáo, có viết: “Ở thời Lý đã có nền giáo dục và thi cử theo

khuôn khổ của Nho học, nhưng chưa được tổ chức thường xuyên và chưa có quy chế rõ ràng” [103; tr.149]

Tác giả Bùi Xuân Đính trong công trình Giáo dục và khoa cử Nho học

Thăng Long Hà Nội, khi trình bày về nội dung học tập, sách giáo khoa, tài

liệu học tập từ thế kỷ XI đến thể kỷ XV đã viết: “Sách giáo khoa và các bậc học liên quan đến chương trình học Chương trình học lại liên quan đến các nội dung và quy chế thi cử của từng vương triều, thậm chí có khi là của từng triều vua Các sách giáo khoa từ thời Lý - Trần đến thời Lê sơ, Mạc ra sao, chính sử và các sách đăng khoa lục không chép đầy đủ” [35; tr.36]

Trang 20

Như vậy, sự phán đoán trên cơ sở các hiện tượng thực tế mà sử sách ghi chép và các biểu tượng về văn hóa - giáo dục còn lại như Văn Miếu, Quốc

Tử Giám, theo chúng tôi là khó tránh khỏi Vấn đề là ở chỗ, từ các hiện tượng

và các biểu tượng đó, việc khái quát triết lý giáo dục ở thời Lý - Trần trên cơ sở những nhu cầu chính trị - xã hội của thời đại là điều cần được làm rõ

Ngoài những công trình nêu trên về thực trạng chứng cứ không đầy đủ cho việc nghiên cứu nền giáo dục - khoa cử, còn có những công trình bàn về lĩnh vực này trong quan hệ giữa Phật giáo và Nho giáo Tác giả Vũ Ngọc Khánh

trong Giai thoại các vị đại khoa Việt Nam cũng đưa ra một số đặc điểm về hệ

thống giáo dục thời Lý - Trần: “Có một số nhà chùa, có những vị sư tăng chủ trì các việc thuyết pháp giảng kinh, và có lẽ cũng giảng dạy cả Nho, Phật, Lão: Chắc rằng đồ đệ ở đây có nhiều, vì đã thấy xuất hiện nhiều vị (cả nam cả nữ) có học lực và tài văn chương kiệt xuất Các trường “dân lập” địa phương chắc cũng

có nhiều, vì sử sách đã ghi nhiều tên tuổi của các danh nhân Việc thi cử đã thu hút được nhiều học trò, những học vị như Tam khôi, Hoàng giáp dưới triều Trần

đã thấy xuất hiện Lại có sự phân biệt ra Kinh Trạng nguyên và Trại trạng nguyên (học vị này dành cho những người đỗ từ Thanh Hóa trở vào) Phật giáo được truyền bá khắp mọi nơi Lê Văn Hưu nhận xét: “bách tính quá nửa làm tăng, trong nước khắp nơi đều là chùa” Trần Nguyên Đán cũng tự phụ: các tướng đều biết làm thơ v.v Như vậy sự học có lẽ phát đạt lắm” [64; tr.11] Điều

đó làm chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên, bởi cả hai triều đại này đều tôn sùng Phật giáo, song không vì thế mà những nội dung tích cực của Nho giáo bị khước từ trong giáo dục - khoa cử Đây là vấn đề cần được làm rõ hơn để thấy được mối quan hệ Tam giáo không chỉ trong đời sống tinh thần nói chung, mà còn trong lĩnh vực giáo dục - khoa cử thời kỳ này nói riêng

Trong tác phẩm Nho giáo và khía cạnh tôn giáo của Nho giáo, Nguyễn

Đức Sự trình bày sự ra đời và phát triển của Nho giáo trong lịch sử trên quê

Trang 21

hương của nó (Trung Quốc), đồng thời trình bày sự thâm nhập và diễn biến của Nho giáo ở Việt Nam và những khía cạnh tôn giáo của Nho giáo Ở công trình này, mặc dù chủ yếu bàn về khía cạnh tôn giáo của Nho giáo, song tác giả cũng dành một số trang phân tích quá trình lựa chọn hệ tư tưởng Nho giáo, ảnh hưởng của nó trong lĩnh vực giáo dục - khoa cử từ thời Lý trở đi Ông khẳng đi ̣nh rất đúng rằng: “Sự phát triển của Nho giáo thời Lý biểu hiện

rõ rệt khiến người ta dễ thấy nhất là ở lĩnh vực giáo dục và khoa cử Có thể nói, từ thời Lý việc giáo dục và khoa cử được tổ chức hẳn hoi và có sự điều hành trực tiếp của nhà nước phong kiến Cũng từ đây nền giáo dục và khoa cử của nước ta được xây dựng theo mô hình của Nho giáo” [103; tr.147]

Trong tác phẩm Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam có đề cập tới Nho

giáo Việt Nam từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX và ảnh hưởng của nó trong lĩnh vực gia đình, giáo dục - khoa cử Các tác giả của công trình này đã đưa ra nhận định cho rằng, “Nho giáo vào Việt Nam không còn giữ nguyên vẹn như

ở Trung Quốc, nó đã được Việt Nam hóa < > Các nhà nho Việt Nam vì công cuộc xây dựng xã hội và bảo vệ Tổ quốc đã tiếp nhận và khai thác những yếu

tố Nho giáo cho phù hợp với xã hội và đất nước mình” [23; tr.9-10] Tuy nhiên, sự Việt Nam hóa Nho giáo như thế nào và tiếp thu nền giáo dục - khoa

cử của nó ra sao lại chưa được các tác giả làm rõ

Phan Trọng Báu, trong cuốn Giáo dục Việt Nam thời cận đại, từ góc độ

tiếp cận sử học, đã khái quát sự hình thành và phát triển nền giáo dục - khoa

cử Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến Cách mạng tháng Tám 1945 Tuy nhiên, trong chương mở đầu của cuốn sách này, trên cơ sở nghiên cứu, tác giả đã khái quát nền giáo dục - khoa cử Việt Nam từ khởi thủy đến triều Nguyễn để đưa ra nhận xét: “khi chế độ phong kiến đang thịnh thì nền giáo dục khoa cử

có thể đào tạo được những người có năng lực để giúp vua trị nước Còn khi chế độ phong kiến suy yếu, kỷ cương lỏng lẻo thì nền giáo dục đó cũng không

Trang 22

đáp ứng được ý muốn của giai cấp thống trị là tạo nên một tầng lớp nho sĩ có thực tài để duy trì mọi giường mối của xã hội phục vụ cho chế độ phong kiến đang trên bước đường tan rã” [7; tr.12] Quan điểm này của tác giả, theo chúng tôi là một sự khái quát và đánh giá chưa thực sự khách quan, toàn diện;

và vì vậy, cần phải nghiên cứu thêm, đánh giá đầy đủ hơn Bởi vì, sản phẩm của nền giáo dục - khoa cử Nho học ngay cả khi chế độ phong kiến Viê ̣t Nam khủng hoảng , suy yếu, song trên thực tế đã góp phần tạo ra những nhà tư tưởng, văn hóa lớn của dân tộc

Tác giả Trần Đình Hượu , trong cuốn Nho giáo và văn học Việt Nam

trung cận đại, đã khái quát lịch sử phát triển của Nho giáo Trung Quốc và

phân tích sự ảnh hưởng nhiều mă ̣t của Nho giáo tới văn ho ̣c Viê ̣t Nam giai đoa ̣n từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX Từ góc độ tiếp cận văn học, trong hai bài đầu của cuốn sách , tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa Nho giáo và văn học với nhâ ̣n đi ̣nh: “Nho giáo hy vo ̣ng dùng văn chương để giáo hóa , đô ̣ng viên, tổ chức, hoàn thiện con người , hoàn thiện xã hội” [60; tr.49] Đồng thời, ông cũng chỉ ra một thực tế là , Nho giáo dần được nhà nước chuyên chế phong kiến dùng làm hê ̣ tư tưởng chính thống và dùng chế đô ̣ khoa cử cho ̣n người có học cho đội ngũ quan liêu , cho nên thanh niên muốn có cuô ̣c số ng nhàn ha ̣, danh giá và sung sướng chỉ có con đường lựa cho ̣n: đi ho ̣c, đi thi và làm quan

Vì thế, bên ca ̣nh những ảnh hưởng tích cực cũng tồn ta ̣i những ảnh hưởng tiêu cực như tâm lý cha ̣y theo danh vi ̣ , sự ganh đua rèn luyê ̣n kỹ xảo viết văn , sự gọt rũa khuôn sáo của thứ văn chương cử tử

3 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về ý nghĩa của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với xã hội Việt Nam trong lịch sử và sự nghiệp phát triển

giáo dục nước ta hiện nay

Ý nghĩa của tư tưởng Nho giáo về giáo du ̣c đối với xã hô ̣i Viê ̣t Nam trong li ̣ch sử và đối với việc phát triển giáo dục Việt Nam hiện nay, cũng được nhiều tác giả nghiên cứu

Trang 23

Cuốn sách Nho giáo tại Viê ̣t Nam là tập hợp những bài viế t trong Hô ̣i thảo Vị trí, vai trò và ảnh hưởng của Nho giáo trong li ̣ch sử tư tưởng Viê ̣t Nam Trong bài viết Những vấn đề Nho giáo trong li ̣ch sử tư tưởng Viê ̣t Nam, tác giả

Vũ Khiêu cũng thừa nhận Nho giáo đã giữ một vị trí đă ̣c biê ̣t, đóng mô ̣t vai trò quan tro ̣ng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta qua các thời kỳ li ̣ch sử :

“Nếu trong hơn mô ̣t nghìn năm Bắc thuô ̣c và mô ̣t thế kỷ sau ngày đất nước ta giành được độc lập Nho giáo vẫn chưa có v ai trò gì đáng kể trong xã hô ̣i Viê ̣t Nam, thì đột nhiên từ thời Lý - Trần, Nho giáo được coi tro ̣ng và có điều kiê ̣n phát triển mạnh mẽ cho đến thời Lê sơ thì giành được đị a vi ̣ đô ̣c tôn” [109; tr.15] Nhưng sang thế kỷ XVI , XVII trở đi, nhất là ở thế kỷ XVIII , Nho giáo đã bô ̣c lô ̣ những yếu tố hết sức tiêu cực “viê ̣c ho ̣c tâ ̣p, thi cử trở thành mô ̣t chỗ mua quan bán chức, <…> Nho giáo quán triê ̣t trong toàn bô ̣ nô ̣i dung kiến thức của các tầng lớp s ĩ phu Nho giáo phát triển trong mối quan hê ̣ xoắn xuýt với Phâ ̣t giáo và Lão giáo <…> nó thâm nhập vào đời sống của nhân dân và ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý của dân tô ̣c Nó để lại những tàn dư dai dẳng ngay cả trong xã hô ̣i ta ngày nay” Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng , nghiên cứu Nho giáo là nhằm “triê ̣t để thanh toán những tàn dư hủ ba ̣i của Nho giáo , chúng ta nhất đi ̣nh tiếp thu những nhân tố tích cực, hợp lý của Nho giáo” [109; tr.21] và để “cải ta ̣o hiê ̣n ta ̣i và xây dựng tương lai” [109; tr.10]

Tác giả Trần Văn Giàu trong bài viết Đạo đức Nho giáo và đạo đức

truyền thống Viê ̣t Nam đã phân tích sự liên quan của đa ̣o đức truyền thống Viê ̣t

Nam với đa ̣o đức Nho giá o và phân biê ̣t sự giống và khác nhau giữa hai nền

đa ̣o đức này Tác giả khẳng định, Nho giáo thi ̣nh đa ̣t ở nước ta trên dưới 500 năm (tuy nó không đô ̣c chiếm trong đời sống tinh thần của người Viê ̣t ), đó là thời gian Nhà nước có ý thức mở mang giáo dục, thi cử trên căn bản Nho giáo

“Nhà nước Lê, Nguyễn ra sức cải ta ̣o phong hóa nhân dân trên cơ sở Nho giáo Bởi vâ ̣y ảnh hưởng Nho giáo rất lớn, nhất là trong các tầng lớp trên của xã hô ̣i,

Trang 24

qua đó thấm vào dân” [109; tr.142] Kết thúc bài viết, tác giả đã chỉ ra một số tàn dư của Nho giáo cần phải quét sạch để xây dựng xã hội mới , đó là: “Thứ nhất: tư tưởng đức tri ̣, nhân tri ̣, điều này trở nga ̣i cho đường lối pháp tri ̣ xã hô ̣i chủ nghĩa; thứ nhì: chủ nghĩa gia đình , chủ nghĩa đồng tộc , phương châm tri ̣

đa ̣o thân thân, điều này trở nga ̣i cho sự thực hiê ̣n dân chủ , đô ̣ng viên tài năng; thứ ba: tư tưởng tro ̣ng quan khinh dân , nó làm nền cho th ứ chủ nghĩa quan liêu, thơ lại mới” [109; tr.149] Theo chúng tôi, những nhâ ̣n đi ̣nh trên của tác giả về những tàn dư của Nho giáo cần phải được xem xét lại và nghiên cứu thêm Đặc biệt , tư tưở ng đức tri ̣, nhân tri ̣, theo chúng t ôi không chỉ gây trở ngại mà góp phần bổ sung (trên cơ sở cải ta ̣o , phát triển) cho đường lối pháp trị xã hội chủ nghĩa

Trong bài viết Vị trí và vai trò của Nho giáo ở thời kỳ cực thịnh của chế

độ phong kiến Viê ̣t Nam, tác giả Nguyễn Đức Sự đứng trên lập trường của chủ

nghĩa duy vật lịch sử đã lý giải những nhu cầu xã hội giúp cho Nho giáo

chiếm được đi ̣a vi ̣ đô ̣c tôn ở thời Lê sơ , nhất là giai đoa ̣n vua Lê Thánh Tông trị vì Những nhu cầ u đó là : nhu cầu xây dựng và tổ chức bô ̣ máy nhà nước phong kiến trung ương tâ ̣p quyền lớn ma ̣nh và nhu cầu củng cố trâ ̣t tự và ổn

đi ̣nh xã hô ̣i phong kiến ; nhu cầu phát triển văn hóa và giáo du ̣c khi chế đô ̣ phong kiến tâ ̣p quyền đã bắt đầu ổn đi ̣nh và triển khai theo quy mô lớn từ triều Lý Đồng thời, tác giả cũng khẳng định, Nho giáo được đô ̣c tôn ở thế kỷ

XV nhất là ở thời Hồng Đức gắn với những hoa ̣t đô ̣ng của tầng lớp nho sĩ từ thời Trần cho đến thời Lê sơ , và “sự rực rỡ , huy hoàng” của Nho giáo được thể hiê ̣n trong lĩnh vực giáo du ̣c và thi cử [109; tr.427] Nhâ ̣n đi ̣nh trên đây của tác giả đã gợi ý cho chúng tôi đi sâu tìm hiểu quá trình ảnh hưởng của Nho giáo trong lĩnh vực giáo du ̣c - khoa cử từ thời Lý - Trần cho đến thời Lê

sơ Ngoài ra, trong bài viết này, tác giả cũng chỉ ra một số tác động tích cực

và tiêu cực của Nho giáo trong buổi thịnh thời nhất của nó Theo tác giả ,

Trang 25

những tác du ̣ng tích cực của Nho giáo là : góp phần củng cố và phát triển chế

đô ̣ quân chủ tâ ̣p trung ở nước ta ; góp phần làm cho sản xuất nông nghiệp và trao đổi hàng hóa được đẩy ma ̣nh hơn trước; làm cho nền giáo dục và lĩnh vực văn hóa tinh thần phát triển hết sức ma ̣nh mẽ nhất là dưới triều Lê Thánh Tông; đồng thờ i góp phần thúc đẩy li ̣ch sử tư tưởng nước nhà tiến lên mô ̣t bước mới Bên ca ̣nh đó, theo tác giả, Nho giáo cũng t hể hiê ̣n những mă ̣t tiêu cực ngay trong buổi thi ̣nh thời của nó như : làm cho chủ nghĩa giáo điều và

bê ̣nh khuôn sáo phát triển ma ̣nh trong lĩnh vực tư tưởng và ý thức hê ̣ , trong

đi ̣a ha ̣t giáo du ̣c và khoa cử; Nho giáo làm cho những người gia nhập tầng lớp nho sĩ chỉ biết đề cao đa ̣o tu thân và tri ̣ nước chứ không hề đếm xỉa đến những tri thức về khoa ho ̣c tự nhiên cũng như về các ngành sản xuất và lưu thông , ngày càng xa rời sinh hoạt kinh tế và l ĩnh vực sản xuất của xã hội ; khi chiếm được đi ̣a vi ̣ thống tri ̣ trên vũ đài tư tưởng , Nho giáo thời Lê sơ đã không tiếp tục đi sâu khám phá những vấn đề về bản chất của đời sống và của vũ trụ , về mối quan hê ̣ giữa tinh t hần và thể xác mà Phâ ̣t giáo thời Lý - Trần đã đề câ ̣p đến; lễ chế của Nho giáo ngày càng khắt khe và đè nă ̣ng lên con người

Tác giả Vũ Khiêu trong bài viết Nhân dân Viê ̣t Nam dưới tác động của

Khổng giáo, khi bàn về những di ha ̣i của Khổng giáo trong đời sống của nhân

dân Viê ̣t Nam , đã đưa ra những ý kiến như : giam con người vào mô ̣t trâ ̣t tự phong kiến chă ̣t chẽ từ trên xuống dưới ; gieo rắc vào trong đầu óc người ta tư tưởng khinh rẻ lao đô ̣ng chân tay; tư tưởng khinh thường phu ̣ nữ của Khổng giáo cũng khuyến khích những thói tệ khinh vợ , đánh vợ, bạc đãi vợ… ; chế

đô ̣ khoa cử của Khổng giáo khuyến khích sự truy cầu công danh , địa vi ̣:

“người ta muốn đi ho ̣c để là m quan Không làm quan thì cũng làm ông khóa , ông đồ hoă ̣c kiếm lấy mô ̣t chức tước đi ̣a vi ̣ gì đó trong làng xã <…> thái độ quan liêu cũng như tư tưởng đi ̣a vi ̣ là sản phẩm của chế đô ̣ phong kiến và được Khổng giáo khuyến khíc h, đã trở thành hiê ̣n tượng khá phổ biến trong

xã hội ta và kéo dài trong lịch sử” [109; tr.292]

Trang 26

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Nho giáo Viê ̣t Nam và văn hóa Đông Á (2009)

là tập hợp những bài viết của các học giả Việt Nam , Đài Loan, Trung Quốc… về Nho giáo và ảnh hưởng của nó tới Viê ̣t Nam và các nước Đông Á khác

như: Nhâ ̣t Bản , Triều Tiên… Trong bài viết Về giá tri ̣ đương đại của Nho

giáo ở Việt Nam , tác giả Vũ Khiêu đã khẳng định : “Nho giáo đã từng đóng

mô ̣t vai trò to lớn trong li ̣ch sử Viê ̣t Nam và vẫn còn tiếp tu ̣c có tác du ̣ng trong

xã hội ngày nay Nếu không đă ̣t vấn đề nghiên cứu Nho giáo mô ̣t cách nghiêm túc thì chúng ta sẽ buông trôi cho sự phu ̣c hồi những nh ân tố tiêu cực của Nho giáo đồng thời cũng sẽ lãng phí những nhân tố tích cực mà Nho giáo còn có thể đóng góp vào sự nghiệp chúng ta hôm nay” [144; tr.161] Khi phân tích về giá trị tích cực của Nho giáo trong quản lý đấ t nước , tác giả nhấn mạnh: “trước hết là xây dựng bô ̣ máy nhà nước đầy trí tuê ̣: đă ̣c biê ̣t là coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Người quân tử (hay kẻ sĩ) những tầng lớp ưu tú trong xã hô ̣i, những người tham gia quản lý đất nước, trước hết phải là những người có ho ̣c và ho ̣c giỏi và nhất thiết phải là người có đa ̣o đức” [144; tr.160]

Các công trình nghiên cứu về lịch sử giáo dục cũng chỉ ra quá trình và

tác động của tư tưởng giáo dụ c Nho giáo trong li ̣ch sử Chẳng ha ̣n, cuốn Lịch

sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945 do Nguyễn Đăng

Tiến chủ biên là một công trình nghiên cứu nghiêm túc và công phu Công trình gồm 7 chương khái quát lịch sử giáo dục Việt Nam từ khởi thủy đến trước Cách mạng tháng Tám Đặc biệt, trong chương 2 và chương 3, tác giả phác họa một bức tranh khá hoàn thiện về nền giáo dục nước ta từ thế kỷ X đến thế kỷ XV dưới ảnh hưởng ngày càng rõ của Nho giáo Tuy nhiên, đó là cách tiếp cận nền giáo dục truyền thống dưới góc độ lịch sử

Lê Văn Giạng trong cuốn Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục

Việt Nam đã dành một chương khái quát nền giáo dục Nho học Việt Nam từ

khởi nguyên đến đầu thế kỷ XX Tác giả cũng đưa ra một số nhận định, đánh

Trang 27

giá tác dụng (cả mặt tích cực và tiêu cực) của nền giáo dục Nho học, đồng thời rút ra một số bài học, kinh nghiệm và truyền thống mà nền giáo dục Nho học để lại có ý nghĩa thực tiễn và thời sự đối với nền giáo dục của nước ta hiện nay

Đó là những kinh nghiệm thất bại mà chúng ta phải đề phòng: lối học giáo điều, sách vở, nhồi nhét, khuôn sáo; việc học tập sa vào văn chương phù phiếm

và lý thuyết suông; cái tệ hại của lối học hư danh, chạy theo học vị, bằng cấp;

tư tưởng học để làm quan, để vinh thân, phì gia, cả họ được nhờ Bài học về tác dụng to lớn của chế độ thi cử đối với giáo dục nói riêng và đối với xã hội nói chung Bài học về chú trọng tu dưỡng đạo đức [40; tr.74-75] Trong cuốn sách này, tác giả cũng khẳng định, “Nho giáo cũng như nền giáo dục cũ truyền bá Nho giáo đã có tác dụng tích cực góp phần vào việc củng cố nhà nước và xã hội phong kiến ở giai đoạn nhà nước và xã hội này mới hình thành và đang đi lên Tác dụng củng cố này ở vào giai đoạn đó là phù hợp với yêu cầu phát triển của lịch sử Ở nước ta, đó là thời kỳ của các triều đại Lý, Trần và đầu nhà Hậu Lê” [40; tr.71-72] Tuy nhiên, theo chúng tôi, cách đánh giá trên đây chưa thực

sự khách quan, bởi trong lịch sử, chính những nhà tư tưởng lớn là sản phẩm của nền giáo dục “giáo điều, nhồi nhét” ấy Vấn đề là ở chỗ, cần phải chỉ ra đó

là hạn chế lịch sử và đối với sự nghiệp phát triển nền giáo dục tiên tiến hiện nay ở nước ta, những hạn chế đó cũng là bài học quan trọng

Trong cuốn Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người, các tác

giả Nguyễn Thị Nga và Hồ Trọng Hoài đã trình bày, phân tích và đánh giá những tư tưởng cơ bản của Nho giáo về con người và đào tạo con người; từ

đó phân tích những ảnh hưởng của Nho giáo đối với việc xây dựng con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay Trong công trình của chúng tôi, việc nghiên cứu ảnh hưởng của

tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với nền giáo dục - khoa cử nước ta diễn

ra trong hai giai đoạn lịch sử sẽ phải làm rõ vấn đề là, ngoài sự ảnh hưởng

Trang 28

đó còn có thêm yếu tố khác là chủ trương của các triều đại phong kiến và những biến động của tồn tại xã hội đã quy định nội dung và tính chất của nền giáo dục đó như thế nào

Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Đắc Hưng trong cuốn Giáo dục Việt Nam

hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp đã khái quát thực trạng nền giáo

dục Nho học Việt Nam trong thời kỳ phong kiến, đồng thời cũng đưa ra những nhận xét về hạn chế và khẳng định những điểm tích cực và hợp lý trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo ở nước ta hiện nay

Hoàng Thu Trang trong Luận văn thạc sĩ Triết học Tư tưởng Nho giáo

về giáo dục và ý nghĩa của nó đối với việc phát triển giáo dục Việt Nam hiện nay đã khái quát nội dung tư tưởng cơ bản của Nho giáo về giáo dục, chỉ ra

một số ưu điểm nổi bật và hạn chế chính của nó; từ đó phân tích ảnh hưởng của một số nội dung trong tư tưởng Nho giáo về giáo dục như phương châm giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục đối với công cuộc đổi mới và phát triển nền giáo dục Việt Nam hiện nay Tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm phát huy vai trò tư tưởng giáo dục của Nho giáo đối với việc phát triển giáo dục Việt Nam hiện nay, tuy nhiên những giá trị, nhân tố tích cực của nó cần được cụ thể hóa và làm rõ thêm

Ngoài các công trình nghiên cứu nói trên , ở trong nước cho đến nay đã

có nhiều công trình nghiên cứu khoa học các cấp , luâ ̣n án tiến sĩ, luâ ̣n văn… được công bố như các tác giả : Nguyễn Bá Cường , Nguyễn Ngo ̣c Quỳnh , Nguyễn Thị Lài, Lê Thi ̣ Thơm, La Thi ̣ Thu Thương… Tuy nhiên, cũng tương tự như các công trình nghiên cứu đã được nêu trên đây , viê ̣c đi sâu phân tích ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục tới lĩnh vực giáo dục - khoa cử

ở Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV từ cách tiế p câ ̣n triết ho ̣c chưa được bàn tới mô ̣t cách toàn diê ̣n

Trang 29

4 Những vấn đề cần đƣợc tiếp tục làm sáng tỏ trong luận án

Từ việc khảo sát các công trình nghiên cứu nêu trên liên quan đến đề tài luận án, chúng tôi xác định nhiệm vụ của mình cần tiếp tục làm rõ một số phương diện ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với giai đoạn hình thành và phát triển hệ thống giáo dục của Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ

XI đến cuối thế kỷ XV, đồng thời nêu rõ ý nghĩa và hạn chế của hệ thống giáo dục đương thời đối với sự nghiệp giáo dục- đào tạo ở nước ta hiện nay

Thứ nhất, cần phải khẳng định một điều là, tư tưởng Nho giáo về giáo

dục mà Khổng Tử là người khởi xướng đầu tiên đã có sức lan tỏa, có ảnh hưởng khá mạnh mẽ đến nền giáo dục không chỉ ở Trung Quốc, mà ở một số nước đồng văn Trung Hoa trong lịch sử và hiện tại Bất kỳ thời đại nào, muốn

có nguồn nhân lực đủ về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thời đại

đó, đều phải chú trọng đến giáo dục Chính giáo dục và đào tạo là nguồn, là

cơ sở để nhà nước mở các kỳ thi lựa chọn nhân tài cho bộ máy cai trị của mình Do đó, tư tưởng giáo dục nói chung, của Nho giáo nói riêng, là hệ thống các khái niệm, quan điểm làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, hình thành nên nền giáo dục phù hợp Hệ thống giáo dục Nho giáo khá đa dạng và phong phú, mang đầy đủ tính chất phức hợp của hệ thống vật chất và

hệ thống tinh thần, trong đó mục đích, đối tượng, nội dung, phương pháp giáo dục và các hình thức tổ chức giáo dục khá điển hình Giáo dục và đào tạo đi trước một bước, hệ thống khoa cử có sau, nhưng hoàn toàn không phải mang tính phái sinh Chính vì vậy, làm rõ những nội dung căn bản trong tư tưởng Nho giáo về giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp đến lĩnh vực giáo dục - khoa cử Đại Việt từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV là việc làm cần thiết

Thứ hai, luận án cần làm sáng tỏ sự tác động của tư tưởng Nho giáo về

giáo dục qua các giai đoạn lịch sử cụ thể tới sự hình thành và phát triển hệ thống giáo dục - khoa cử Đại Việt từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV; chỉ ra xu

Trang 30

hướng đi lên của hệ thống giáo dục thời kỳ này trong sự song hành với vai trò của Nho giáo đối với lĩnh vực quản lý đất nước; đồng thời, luâ ̣n chứng về quá trình lựa chọn tất yếu hê ̣ tư tưởng Nho giáo của các triều đại theo nhu cầu xây dựng bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền ngày càng cao Sự tác động đó được hậu thuẫn của nhu cầu thời đại, cho nên phần lớn các kinh điển Nho giáo được đưa vào sử dụng cho việc giảng dạy và khoa cử, làm cho các hình thức giáo dục trong hệ thống giáo dục đất nước thiên về Nho giáo Chung quy lại, tất thảy những điều đó đã làm cho Nho giáo chiếm địa vị độc tôn một cách đương nhiên ở thế kỷ XV dưới thời Lê sơ Luận án có nhiệm vụ trình bày, phân tích để làm rõ sự tác động của tư tưởng Nho giáo về giáo dục qua các giai đoạn khác nhau, từ đó chỉ ra hệ thống giáo dục - khoa cử Đại Việt có những bước chuyển về chất như thế nào

Thứ ba, luận án cần tiếp tục làm rõ những đóng góp của tư tưởng Nho

giáo về giáo dục đối với lĩnh vực giáo dục - khoa cử Đại Việt từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV, đồng thời rút ra bài học lịch sử về cách thức tiếp thu biện chứng những yếu tố cần thiết cho sự nghiệp phát triển nền giáo dục nước ta hiện nay

*

* *

Tư tưởng giáo du ̣c là mô ̣t nô ̣i dung cơ bả n của Nho giáo Do vâ ̣y, các công trình nghiên cứu về Nho giáo nói chung và ảnh hưởng của Nho giáo tới Viê ̣t Nam đều ít nhiều đề câ ̣p đến nô ̣i dung này ở mức đô ̣ nhất đi ̣nh tùy theo mục đích, đối tượng và pha ̣m vi nghiên cứu Qua quá trình khảo cứu các công

trình liên quan đến vấn đề Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục tới

lĩnh vực giáo dục - khoa cử ở Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV cho

thấy, vấn đề này được nghiên cứu ở các khía cạnh và mức độ sau đây:

Thứ nhất, tư tưởng Nho giáo về giáo dục được trình bày trong các công

trình nghiên cứu chung về Nho giáo và Nho giáo ở Việt Nam với ý nghĩa là

Trang 31

mô ̣t trong những nô ̣i dung cơ bản của ho ̣c thuyết này Trong đó, tư tưởng giáo dục “tu, tề, trị, bình” được xem như là cách thức , con đường để xây dựng xã

hô ̣i quân chủ tâ ̣p quyền có trâ ̣t tự, kỷ cương và phồn thịnh

Thứ hai, về quá trình ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục tới

lĩnh vực giáo dục - khoa cử Việt Nam từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng , từ khi du nhâ ̣p vào Viê ̣t Nam cho đến hết thế kỷ X , Nho giáo chưa có ảnh hưởng gì đáng kể tới xã hô ̣i và con

người Viê ̣t Nam Nho giáo chỉ thực sự được lựa cho ̣n và sử du ̣ng từ thời Lý

- Trần trở đi, đến thời Lê sơ thì Nho giáo giành được địa vị độc tôn trong lĩnh vực giáo du ̣c- khoa cử và chính tri ̣

Thứ ba, ý nghĩa của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với xã hô ̣i Viê ̣t

Nam trong lịch sử và đối với sự nghiệp phát triển giáo dục nước ta hiện nay, các công trình nghiên cứu chỉ ra những tác đô ̣ng tích cực và tiêu cực của Nho giáo đối với xã hội phong kiến Đại Việt trong li ̣ch sử , đồng thời cũng chỉ ra tính tất yếu cần kế thừa những giá trị và khắc phục những yếu tố lỗi thời của

Nho giáo trong sự nghiệp phát triển giáo dục nước ta hiện nay

Nhìn chung, các công trình trên đây nghiên cứu Nho giáo và những ảnh hưởng của nó dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu sắc và toàn diện dưới góc đô ̣ triết ho ̣c ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đến lĩnh vực giáo dục - khoa cử ở Việt Nam thời phong kiến, đặc biệt giai đoạn đầu xây dựng và phát triển quốc gia phong kiến độc lập Đại Việt từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV Trên sự kế thừa những thành quả trong những công trình nghiên cứu của các học giả tiền bối , chúng tôi tiếp tu ̣c triển khai nghiên cứu, làm rõ quá trình ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đến lĩnh vực giáo dục - khoa cử Đa ̣i Việt từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XV dưới góc đô ̣ triết ho ̣c và rút ra bài ho ̣c cho sự nghiê ̣p giáo du ̣c của nước ta hiê ̣n nay

Trang 32

5 Mô ̣t số thuâ ̣t ngữ được dùng trong luận án

- Nho giáo: Thuật ngữ Nho giáo được sử du ̣ng trong luâ ̣n án và nhiều

công trình nghiên cứu khác không chỉ , không phải là mô ̣t tôn giáo Thuâ ̣t

ngữ Nho giáo thực ra là viết tắt c ủa mệnh đề “dĩ Nho học giáo dân” , tức là

nhấn ma ̣nh , chú trọng đến khía cạnh ứng dụng , tác dụng và vai trò nô ̣i dung

của Nho học trong việc giáo dân , quản lý xã hội v.v

- Thuật ngữ Nho học cũng là viết tắt của mê ̣nh đề “Nho gia ho ̣c thuyết”

(học thuyết của phái Nho gia ), là chỉ toàn bộ hệ thống tư tưởng và nền học

thuâ ̣t của học phái này

- Thuật ngữ Nho thuật rất ít được sử du ̣ng trong các công trình giới thiê ̣u, nghiên cứu về Nho giáo , Nho học Thuâ ̣t ngữ Nho thuật là chỉ cách

thức, phương thức sử du ̣ng Nho ho ̣c , Nho giáo trong viê ̣c tri ̣ nước , giáo dân; hay nói cách khác , là phương pháp, cách thức ứng dụng , sử du ̣ng Nho giáo

vào trong đời sống chính trị, xã hội

- Các thuật ngữ Khổng gia ́ o, Khổng học là những thuâ ̣t ngữ mà giới

nghiên cứu phương Tây thường sử du ̣ng Trong nghiên cứu của ho ̣ , Khổng

giáo, Khổng học không phải là chỉ Nho giáo, Nho ho ̣c của Khổng Tử mà chỉ

Nho giáo, Nho học nói chung Trong luâ ̣n án , tác giả sử dụng thuật ngữ này

để muốn nhấn mạnh vai trò sáng lập Nho giáo của Khổng Tử

- Thuật ngữ Hán học được sử du ̣ng trong luâ ̣n án là thuâ ̣t ngữ dùng để chỉ nền ho ̣c thuâ ̣t thời Hán và chữ Hán

- Thuật ngữ tư tưởng Nho giáo về giáo dục là một hệ thống các quan

niệm, quan điểm về mục đích, đối tượng, nội dung và phương pháp giáo dục

của Nho giáo

- Thuật ngữ hệ thống giáo dục - khoa cử: Theo từ điển Tiếng Việt của

Nguyễn Văn Đạm, hệ thống là “toàn bộ những điều hiểu biết về một đối tượng trong đó mỗi thành phần chỉ tồn tại vì có những quan hệ với những

Trang 33

thành phần khác và có một vị trí trong toàn bộ” [32; tr.365] Định nghĩa này xác định hệ thống từ góc độ nhận thức luận, trong khi đó hệ thống cần được hiểu như một đối tượng, khách thể tồn tại khách quan Do đó, theo chúng tôi, cần phải hiểu hệ thống như một đối tượng chỉnh thể được tạo thành từ các yếu

tố có liên quan mật thiết với nhau Mối quan hệ giữa các yếu tố ấy tạo nên cấu trúc của hệ thống

Khái niệm hệ thống đòi hỏi phải xem xét đối tượng nghiên cứu như

mô ̣t chỉnh thể Do đó, phải quán triệt quan điểm khách quan và toàn diện để nghiên cứu cái khách thể - chỉnh thể ấy, cũng như mối quan hệ giữa các yếu

tố cấu thành cái hệ thống - chỉnh thể đó Đó là cách tiếp cận hệ thống phổ biến hiện nay

Về phân loại hệ thống, hiện nay người ta thường đưa ra hai loại hệ thống cơ bản, đó là hệ thống vật chất và hệ thống ý niệm tùy thuộc vào đặc điểm của đối tượng Hệ thống vật chất thường đơn giản và không quá phức tạp Hệ thống vật chất đơn giản bao gồm các yếu tố đồng loại có mối quan hệ trực tiếp với nhau Loại phức tạp hơn gồm các yếu tố cấu thành nên các tiểu

hệ thống mang tính chỉnh thể tương đối trong một hệ thống lớn Các hệ thống

ý niệm là những hệ thống mà các yếu tố của chúng về thực chất là những khách thể ý niệm như các khái niệm, tư tưởng có liên quan nhất định với nhau Hệ thống ý niệm là hệ thống các khái niệm của các khoa học khác nhau Khác với hệ thống vật chất, hệ thống ý niệm chỉ xuất hiện trong hoạt động nhận thức của con người Như vậy, định nghĩa trên của Nguyễn Văn Đạm thuộc loại thứ hai

Từ việc xác định hệ thống và phân loại hệ thống như trên, chúng tôi cho rằng, hệ thống giáo dục - khoa cử vừa mang tính hệ thống vật chất (các cấp giáo du ̣c - đào ta ̣o và thi cử, là sự đầu tư của nhà nước và cá nhân cho lĩnh vực giáo dục), vừa mang tính hệ thống ý niệm (sử dụng các khái niệm, ý

Trang 34

niệm, lý luận, lý thuyết để hoạch định đường lối giáo dục - khoa cử phục vụ

cho chiến lược quản lý và phát triển đất nước) Tuy nhiên, thuâ ̣t ngữ hệ thống

giáo dục - khoa cử được sử du ̣ng trong luâ ̣n án chỉ là phạm vi xác định của lĩnh

vực giáo dục giáo dục - khoa cử

- Thuật ngữ lĩnh vực giáo dục - khoa cử: được sử du ̣ng trong luâ ̣n án

bao gồm cả hệ thống giáo dục - khoa cử bởi lẽ, lĩnh vực giáo dục còn có cả hình thức giáo huấn đạo đức mà các triều đại phong kiến nước ta coi đó là việc làm quan trọng không kém gì hệ thống giáo dục - khoa cử chính thống Mặt khác, nói đến lĩnh vực giáo dục - khoa cử có mục đích lớn hơn hệ thống giáo dục khoa cử, đó là lĩnh vực có những đặc điểm khác với các lĩnh vực khác như sản xuất, quốc phòng an ninh, v.v

Trang 35

NỘI DUNG Chương 1

SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ GIÁO DỤC

VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NÓ

Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội ra đời trong bối cảnh xã hội Trung Quốc cổ đại đầy biến động và phức tạp Mục đích của Nho giáo là dùng đạo đức để cảm hóa, giáo dục con người, đưa xã hội từ “vô đạo” thành “hữu đạo” mà phương pháp hiệu quả nhất là giáo dục Có thể nói, tư tưởng Nho giáo

về giáo dục là một hệ thống các quan niệm, quan điểm về mục đích, đối tượng, nội dung và phương pháp giáo dục Tuy ra đời cách đây hơn 2500 năm, song nhiều phương diện của nó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị Do vậy, việc làm rõ những điều kiện và tiền đề cho sự ra đời Nho giáo nói chung, tư tưởng

về giáo dục của nó nói riêng là hết sức cần thiết không chỉ mang ý nghĩa lý luận về mặt nghiên cứu cơ bản, mà còn có ý nghĩa thực tiễn cấp bách đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển nền giáo dục tiên tiến, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở nước ta hiện nay

1.1 Điều kiện và tiền đề cơ bản cho sự ra đời tư tưởng Nho giáo về giáo dục ở Trung Quốc

Nho giáo với tư cách là mô ̣t ho ̣c thuyết có tính hệ thống ra đời ở Trung Quốc từ thời cổ đại, do Khổng Tử (551-479 tr.CN) sáng lập Tư tưởng của ông được các học trò đời sau tiếp tu ̣c và phát triển Đặc biệt ở thời sơ kỳ, điển hình là Mạnh Tử (372-289 tr.CN) đã bổ sung, hoàn thiện nội dung cơ bản của học thuyết này theo hướng duy tâm, cho nên người ta thường dùng khái niệm Nho giáo Khổng - Mạnh Tuân Tử (313-238 tr.CN) tuy có nhiều quan điểm đối lập với Nho giáo Khổng - Mạnh, làm cho nhiều học giả không công nhận ông là nhà nho, song căn cứ vào nô ̣i dung và xét một cách toàn diện, mục đích

Trang 36

cũng như tôn chỉ trong tư tưởng của ông , cần phải thừa nhận rằng , Tuân Tử cũng là nhà nho (tất nhiên trong quan niê ̣m về thế giới của ông có nhiều yếu tố duy vật ) Chính vì vậy, có thể nói, Nho giáo sơ kỳ là một hệ thống học thuyết ở mức độ nhất định, mang tính đa nguyên, được hình thành về cơ bản trong thời Xuân Thu - Chiến Quốc ở Trung Quốc Đây là thời kỳ xã hội Trung Quốc quá độ từ xã hội chiếm hữu nô lệ sang phong kiến, với những biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và con người

Với tư cách là một bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng xã hội

và là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, nội dung và tính chất của Nho giáo cũng bị quy định, chi phối bởi điều kiện kinh tế - xã hội (hay tồn tại xã hội) ở Trung Quốc thời Xuân Thu - Chiến Quốc, đồng thời phản ánh tồn tại xã hội ấy

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

* Điều kiện kinh tế

Khi nghiên cứu quá trình hình thành và tính chất của đời sống xã hội nói chung, ý thức xã hội nói riêng ở những giai đoạn nhất định, triết học Mác- Lênin đã chỉ ra rằng, “không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [41, tr.578] Vì thế, khi nghiên cứu tư tưởng của một thời đại lịch sử cu ̣ thể , điều cốt lõi là chúng

ta phải nắm rõ được tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của thời đại đó Nho giáo ra đời ở thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc mà đúng như C.Mác đã khẳng định: “… không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời đại ấy Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất

xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội” [41, tr.578] Dựa trên cơ sở lý luận

và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, nghiên cứu tư tưởng Nho giáo về giáo dục, điều quan trọng là phải chỉ ra và phân tích rõ tình hình kinh

tế, chính trị - xã hội của thời Xuân Thu - Chiến Quốc làm nảy sinh và quyết

đi ̣nh nô ̣i dung, tính chất của tư tưởng Nho giáo về giáo dục

Trang 37

Theo nhiều nguồn tài liệu từ trước đến nay cho thấy, vào khoảng từ thế

kỷ XII đến thế kỷ XI tr CN, tộc Chu từ phía Tây Bắc men theo sông Hoàng

Hà tiến vào đất Ân và tiêu diệt nhà Ân, lập nên nhà Chu Giai đoạn đầu của nhà Chu (thế kỷ XII- thế kỷ VIII tr.CN), sử gọi là Tây Chu Thời kỳ này, dù việc chế tạo và sử dụng đồ sắt chưa xuất hiện phổ biến, nhưng do tiếp thu những tiến bộ trong kỹ thuật sản xuất nông nghiệp của người Ân, do điều kiện thiên nhiên thuận lợi và nguồn lao động dồi dào, đồng thời kết hợp cách thức

tổ chức, quản lý sản xuất có tiến bộ hơn của cư dân du mục, cho nên người Chu đã tiến xa hơn người Ân về mọi mặt Nhà Chu thực hiện (dù là trên danh nghĩa) chế độ quốc hữu về tư liệu sản xuất và sức lao động rất nghiêm ngặt nhằm biến toàn bộ tư liệu sản xuất và sức lao động thuộc quyền sở hữu của mình Có nghĩa là, về nguyên tắc, ruộng đất và tất cả mọi thành viên đều thuộc quyền quản lý của vua Chu Nhà Chu thành lập thành thị đại quy mô - nơi ở của tầng lớp quý tộc thị tộc thống trị, để phân biệt với nông thôn - nơi ở của những người thị tộc bị nô dịch

Từ thế kỷ VIII tr.CN, xã hội Tây Chu bước vào một thời kỳ có nhiều biến động lớn lao , toàn diện kéo dài cho đến giữa thế kỷ thứ III tr CN (còn được gọi là thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc) Với việc chế tạo, sử dụng công

cụ sản xuất bằng sắt khá phổ biến vào trong quá trình sản xuất đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp Chính

do sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp và nhu cầu trao đổi hàng hóa gia tăng, cho nên thương nghiệp cũng bắt đầu khởi sắc Vào thế kỷ VI - V tr.CN, ở Trung Quốc đã xuất hiện những thành thị thương nghiệp buôn bán, xuất nhập nhộn nhịp ở các nước Hàn, Tề, Tần, Sở Thành thị lúc này đã có một cơ sở kinh tế tương đối độc lập, từng bước tách ra khỏi chế độ thành thị thị tộc của quý tộc thị tộc và dần trở thành những đơn vị, khu vực của tầng lớp địa chủ mới lên Tầng lớp địa chủ mới lên ngày càng giàu có, và do có thế

Trang 38

lực về kinh tế, cho nên tầng lớp này đã lấn át cái ưu thế sẵn có của tầng lớp quý tộc thị tộc cũ, thậm chí còn chiếm cả chính quyền như họ Quý thị ở nước

Lỗ, họ Trần ở nước Tề Đây là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trật tự xã hội đảo lộn “vua không ra vua, cha không ra cha, con không ra con” diễn ra phổ biến - một bối cảnh xã hội quan trọng đưa đến sự nảy sinh, hình thành các học thuyết chính trị - xã hội, đặc biệt là học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, trong đó có tư tưởng của Nho giáo về giáo dục

Nhìn chung, đến thời Xuân Thu, nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Trung Quốc đã có bước phát triển mạnh mẽ Vào khoảng thế

kỷ XI - V tr.CN đã xuất hiện những trung tâm kinh tế - chính trị lớn như Lạc Dương, Hàm Dương Kinh tế phát triển, xã hội chuyển mình dữ dội tạo tiền

đề cho sự biến đổi trong lĩnh vực chính trị - xã hội và tư tưởng

* Điều kiện chính trị - xã hội

Sự biến đổi và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã tác động đến lĩnh vực chính trị - xã hội của Trung Quốc thời Tây Chu Thời kỳ này, sự phân tầng xã hội chủ yếu dựa trên sự phân biệt người quân tử và tiểu nhân chứ không phải chủ yếu là sự phân biệt kẻ giàu - người nghèo trên cơ sở tài sản hoặc kẻ trí - người ngu trên cơ sở tri thức Sang thời Đông Chu (Xuân Thu - Chiến Quốc), do kinh tế phát triển mạnh, giai cấp quý tộc thị tộc Chu bị mất đất, mất dân, địa vị kinh tế ngày càng sa sút Theo đó, sự phân biệt sang - hèn không còn chủ yếu dựa trên cơ sở huyết thống nữa mà chủ yếu dựa trên cơ sở tài sản, sự phân hóa giàu - nghèo ngày càng rõ rệt hơn Vì thế, vai trò chính trị của nhà Chu, nói cách khác, vị thế thống lĩnh của Thiên tử trong hệ thống tổ chức phân phong chỉ còn là hình thức Do chiếm được đất, được dân, cho nên các nước chư hầu của nhà Chu không chịu phục tùng uy quyền tối thượng và mệnh lệnh tối cao của Thiên tử nữa Các nước chư hầu không những không chịu cống nạp phẩm vật theo quy định

Trang 39

mà còn tiến hành các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau , đe dọa các quyền

sở hữu tối cao về ruộng đất và thần dân của Thiên tử Hệ quả của những biến động kinh tế cũng dẫn đến sự đa dạng trong kết cấu giai tầng của xã hội Nhiều tầng lớp mới xuất hiện (trong đó có kẻ sĩ ), những giai cấp, tầng lớp cũ và mới đan xen nhau và mâu thuẫn với nhau ngày càng gay gắt Đó

là mâu thuẫn giữa tầng lớp mới lên có địa vị và thế lực về kinh tế trong xã hội nhưng lại không có (cả về mặt danh nghĩa) quyền lực chính trị với giai cấp quý tộc thị tộc cũ của nhà Chu đang nắm chính quyền nhưng lại ngày càng suy yếu và mất dần địa vị thống trị về mặt kinh tế Mâu thuẫn giữa tầng lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thương nhân với giai cấp quý tộc Chu Mâu thuẫn giữa nông dân với quý tộc nhà Chu và với tầng lớp địa chủ mới lên đang ra sức bóc lột, tận dụng sức lao động của họ Thậm chí ngay trong bản thân giai cấp quý tộc thị tộc nhà Chu cũng có nhiều mâu thuẫn Đó là những mâu thuẫn của thời kỳ lịch sử đang đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc, hình thành chế độ phong kiến Những mâu thuẫn này dẫn đến hệ quả

là, xã hội không còn trật tự , kỷ cương , không có đạo đức với những hành vi phi đạo, phi đức

Cuối thời Xuân Thu, chiến tranh ngày càng ác liệt, các nước nhỏ bị nước lớn tiêu diệt Sang thời kỳ Chiến Quốc, Trung Quốc lúc này chỉ còn lại bảy nước mạnh tranh giành nhau (gọi là thất hùng), gồm các nước: Tần, Sở,

Tề, Hàn, Triệu, Ngụy và Yên [58; tr.699] Chiến tranh tàn khốc trên quy mô lớn và liên tục giữa các nước chư hầu đã làm cho đời sống nhân dân lao động ngày càng cùng cực hơn Mâu thuẫn giữa các giai cấp và những mâu thuẫn xã hội khác ngày càng gay gắt hơn đã làm cho xã hội ngày thêm rối loạn và nhà Chu đứng trước nguy cơ diệt vong Giai cấp thống trị nhận thấy điều đó và đã tiến hành một số biện pháp cải cách Đó là phong trào “biến pháp” ở các nước: Ngụy, Triệu, Hàn, Tề, Tần… suốt thời Chiến Quốc

Trang 40

Thực trạng xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu - Chiến Quốc do kinh

tế phát triển, chiến tranh liên miên, đời sống nhân dân cực khổ, trật tự xã hội rối loạn như vậy đã chứng tỏ cách thức tổ chức, quản lý xã hội theo mô hình của nhà Chu không còn phù hợp nữa Vấn đề cấp bách đặt ra là phải lựa chọn mô hình xã hội nào và làm thế nào để thiết lập lại trật tự, kỷ cương cho xã hội, làm cho xã hội ổn định và phát triển Rõ ràng, đây là đòi hỏi tất yếu của tồn tại xã hội cần phải tìm ra cơ sở lý luận, hệ tư tưởng phù hợp nhằm thiết lập lại một trật tự xã hội mới Chính trong bối cảnh kinh tế, chính trị - xã hội hỗn loạn ấy đã dẫn đến sự xuất hiện của nhiều học phái, nhiều học thuyết (gọi là “bách gia tranh minh”, “bách gia chư tử”) Trong quá trình “tranh minh” đó đã sản sinh ra những nhà tư tưởng lớn và hình thành nên những hệ thống triết học khá hoàn chỉnh như: Nho gia, Đạo gia, Mặc gia,

Âm dương gia, Pháp gia Nhìn chung, họ đều đứng trên lập trường giai cấp - tầng lớp mình mà tranh luận, đả kích nhau, nhưng tất cả đều phê phán trật tự

xã hội cũ, đề ra tư tưởng và biện pháp, con đường khắc phục và xây dựng xã hội tương lai theo nhận thức, quan điểm, lập trường giai cấp của mình Sự ra đời của tư tưởng Nho giáo về giáo dục cũng trong bối cảnh ấy Khổng Tử và sau đó là Mạnh Tử đã đề xuất học thuyết “đức trị” nhằm thực hiện đường lối trị nước bằng đạo đức Trong đó, đặc biệt là thông qua giáo dục và bằng giáo dục, mọi người trong xã hội phải học đạo, “tu thân” tùy theo danh vị của mình nhằm thực hiện lý tưởng “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”

Nho giáo nói chung và tư tưởng Nho giáo về giáo dục nói riêng ra đời trong những điều kiện, một mặt là sự tiếp nối những thành quả về văn hóa và

tư tưởng của Trung Quốc cổ đại từ Thương Chu đến Xuân Thu và mặt khác

do nhu cầu của thời đại Cùng với sự phát triển về kinh tế, thời kỳ này ở Trung Quốc cũng đã có một nền văn hóa rực rỡ, đặc biệt là những thành quả

Ngày đăng: 31/03/2015, 08:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1938), Khổng giáo phê bình tiểu luận, Nxb Quan hải -Tùng thư, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng giáo phê bình tiểu luận
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Quan hải -Tùng thư
Năm: 1938
2. Lê Ngọc Anh (1999), “Về ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam”, Tạp chí Triết học (3), tr. 19-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Lê Ngọc Anh
Năm: 1999
3. Nguyễn Quang Ân, Nguyễn Xuân Cần, Nguyễn Quang Lộc (2000), Hiền tài là nguyên khí quốc gia, Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử - văn hóa Việt Nam &amp; Bảo tàng tỉnh Bắc Giang xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiền tài là nguyên khí quốc gia
Tác giả: Nguyễn Quang Ân, Nguyễn Xuân Cần, Nguyễn Quang Lộc
Năm: 2000
4. Hoàng Chí Bảo (2001), “Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện cách mạng giáo dục - đào tạo trong các nhà trường ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học xã hội (5), tr. 61-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện cách mạng giáo dục - đào tạo trong các nhà trường ở nước ta hiện nay”, "Tạp chí Khoa học xã hội
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2001
5. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
6. Ngô Văn Ban, Nguyễn Công Lý, Ngô Trọng Ngoạn (1997), Lược khảo và tra cứu về học chế, quan chế ở Việt Nam từ 1945 trở về trước, Nxb Văn hóa- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược khảo và tra cứu về học chế, quan chế ở Việt Nam từ 1945 trở về trước
Tác giả: Ngô Văn Ban, Nguyễn Công Lý, Ngô Trọng Ngoạn
Nhà XB: Nxb Văn hóa- Thông tin
Năm: 1997
7. Phan Trọng Báu (1994), Giáo dục Việt Nam thời cận đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam thời cận đại
Tác giả: Phan Trọng Báu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
8. Nguyễn Thanh Bình (1999), “Đạo đức Nho giáo với việc rèn luyện và nâng cao phẩm chất đạo đức cộng sản”, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nô ̣i (4), tr. 1-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức Nho giáo với việc rèn luyện và nâng cao phẩm chất đạo đức cộng sản”, "Tạp chí Khoa học
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 1999
9. Nguyễn Thanh Bình (2000), “Đôi điều suy nghĩ về đối tượng và nội dung giáo dục, giáo hóa của Nho giáo”, Tạp chí Giáo dục lí luận (10), tr. 50-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều suy nghĩ về đối tượng và nội dung giáo dục, giáo hóa của Nho giáo”, "Tạp chí Giáo dục lí luận
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2000
10. Nguyễn Thanh Bình (2007), Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX)
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
11. Nguyễn Thanh Bình (2013), “Vấn đề xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền ở Việt Nam thời Lê Sơ (qua Quốc triều hình luật)”, Tạp chí Triết học (6), tr .56-64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền ở Việt Nam thời Lê Sơ (qua Quốc triều hình luật)”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2013
12. Phan Văn Các (1993), “Nghiên cứu Nho giáo Việt Nam trong bối cảnh khu vực và thời đại”, Tạp chí Triết học (3), tr .61-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Nho giáo Việt Nam trong bối cảnh khu vực và thời đại”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Phan Văn Các
Năm: 1993
13. C.Mác, Ph.Ăng ghen toàn tập (1995), Tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác, Ph.Ăng ghen toàn tập
Tác giả: C.Mác, Ph.Ăng ghen toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
14. Bùi Hạnh Cẩn, Minh Nghĩa, Việt Anh (2002), Trạng nguyên Tiến sĩ Hương cống Việt Nam, Nxb Văn hóa- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trạng nguyên Tiến sĩ Hương cống Việt Nam
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn, Minh Nghĩa, Việt Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa- Thông tin
Năm: 2002
15. Phan Bội Châu (1973), Khổng học đăng, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng học đăng
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nhà sách Khai Trí
Năm: 1973
16. Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê (1994), Tuân Tử, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuân Tử
Tác giả: Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1994
17. Phan Huy Chú (1960), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1960
18. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1961
19. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 3, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1961
20. Phan Huy Chú (1962), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 4, Nxb Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1962

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w