Tính cấp thiết của đề tài Trong bất cứ thời đại nào, nhân tố cội nguồn, xuất phát điểm của sự phát triển kinh tế - xã hội là sự phát triển của con người, con người muốn phát triển đòi h
Trang 1khoa GIáO DụC CHíNH TRị
**************
TRịNH DUY LONG
ảNH HƯởNG CủA TƯ TƯởNG NHO GIáO
ĐếN NềN GIáO DụC VIệT NAM TRONG
GIAI ĐOạN HIệN NAY
khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Triết học
Người hướng dẫn khoa học
TS Vi thái lang
Trang 2đã giảng dạy em trong suốt thời gian vừa qua
Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình cũng như bạn bè đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2011 Tác giả khóa luận
Trịnh Duy Long
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS
Vi Thái Lang Tôi xin cam đoan rằng:
Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 05 năm 2011 Tác giả khóa luận
Trịnh Duy Long
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ XÃ HỘI TRUNG QUỐC
THỜI CỔ ĐẠI VÀ VỀ NHO GIÁO 5
1.1 Tình hình kinh tế xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc
(770-221 tr CN) 5
1.2 Vài nét về tác giả và tác phẩm của Nho giáo 8
Chương 2 : TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA NHO GIÁO 19
2.1 Quan điểm của Nho giáo về vai trò, mục đích giáo dục và đối tượng
giáo dục 19 2.2 Nguyên tắc, phương pháp và nội dung giáo dục của Nho giáo 24
Chương 3 : NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC NHO
GIÁO ĐẾN NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY 38
3.1 Thực trạng của nền giáo dục Việt Nam hiện nay 38
3.2 Những ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục Nho giáo đến nền giáo dục
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 45
KẾT LUẬN 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất cứ thời đại nào, nhân tố cội nguồn, xuất phát điểm của sự phát triển kinh tế - xã hội là sự phát triển của con người, con người muốn phát triển đòi hỏi phải có sự phát triển của giáo dục- đào tạo, từ thời cổ đại con người đã ý thức được điều đó và có sự quan tâm đặc biệt đến giáo dục - đào tạo, một minh chứng hùng hồn nhất cho luận điểm này đó là ở Trung Quốc ngay từ thế kỷ IV-V TCN đã xuất hiện những luồng tư tưởng lớn về giáo dục, đại diện tiêu biểu nhất là Nho giáo với một hệ thống tư tưởng triết học, chính trị, văn hóa, xã hội rộng lớn và sâu sắc, trong đó hệ thống tư tưởng giáo dục của Nho giáo được đánh giá là giàu sức sống nhất của Nho giáo
Ngày nay, trong điều kiện hiện đại với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, thì giáo dục- đào tạo lại càng đóng vai trò quan trọng, cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu”
là khởi nguyên cho mọi sự phát triển của kinh tế xã hội Vì vậy, xây dựng một nền giáo dục phát triển bền vững là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và nhân dân
ta Khi nghiên cứu để xây dựng, phát triển giáo dục, đòi hỏi đến sự tác động tổng thể của các yếu tố truyền thống, hiện đại, lịch sử, tự nhiên…Trong đó sự ảnh hưởng rất lớn của Nho giáo đến tư tưởng con người Việt Nam Một thời
kỳ rất dài Việt Nam lấy Nho giáo làm nền tảng cho giáo dục, đào tạo nhờ đó
đã tạo ra nhiều thế hệ các nhà nho, có đóng góp lớn lao vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước Vì thế không ai có thể phủ nhận những ảnh hưởng mạnh
mẽ của Nho giáo đến con người Việt Nam và nền giáo dục Việt Nam Để thấy được sự kế thừa và phát triển những nhân tố tích cực trong tư tưởng giáo dục
Trang 6của Nho giáo, đồng thời khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong nền giáo dục Việt Nam thì việc nghiên cứu kĩ lưỡng tư tưởng giáo dục của Nho giáo và những ảnh hưởng của nó đến nền giáo dục Việt Nam là điều cần thiết Đây
cũng chính là lý do tôi chọn đề tài “ Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đến
nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt
Lê Ngọc Anh: Về ảnh hưởng của Nho giáo tại Việt Nam (triết học số
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích:
Qua đề tài chúng ta thấy được những quan điểm về giáo dục của Nho giáo, từ đó nhìn vào nền giáo dục Việt Nam hiện nay để thấy được những ảnh
Trang 7hưởng tích cực và những hạn chế, những điểm kế thừa và phát triển từ tư tưởng giáo dục của Nho giáo
Nhiệm vụ:
Đề tài lần lượt đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu cơ sở nảy sinh tư tưởng giáo dục của Nho giáo ( hoàn cảnh xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu- Chiến Quốc và cuộc đời sự nghiệp của một số nhân vật tiêu biểu của Nho giáo)
- Tìm hiểu tư tưởng giáo dục của Nho giáo
- Nghiên cứu những ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục của Nho giáo đến nền giáo dục Việt Nam hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
Như đã khẳng định, Nho giáo là một trường phái tư tưởng rộng lớn và sâu sắc, có ảnh hưởng lớn và mạnh mẽ trong lịch sử Trung Quốc và các nước lân cận, tuy nhiên trong phạm vi đề tài chúng ta chỉ đi sâu vào tìm hiểu tư tưởng của Nho giáo về giáo dục, từ đó thấy được những ảnh hưởng của nó đến nền giáo dục nước ta hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, khóa luận này
sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: Phương pháp logic và lịch
sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp chứng minh…
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm 3 chương
Chương 1: Một số nét khái quát về xã hội Trung Quốc thời cổ đại và về Nho giáo
Trang 8Chương 2: Quan điểm giáo dục của Nho giáo
Chương 3: Những ảnh hưởng của tư tưởng giáo dục Nho giáo đến nền giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 9CHƯƠNG 1
MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỀ XÃ HỘI TRUNG QUỐC THỜI CỔ
ĐẠI VÀ VỀ NHO GIÁO
1.1 Tình hình kinh tế - xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc (770- 221 tr.CN)
Thời cổ, Trung Quốc đã trải qua các triều đại: Hạ, Thương, Chu Nhà
Hạ, được mở đầu bằng sự cai trị của vua Võ và kết thúc bằng sự lật đổ vua Kiệt của Thành Thang ( khoảng thế kỉ XXII đến hết thế kỉ XVII tr.CN)
Nhà Thương (khoảng từ thế kỉ XVII đến hết thế kỉ XII tr.CN ) đứng đầu là vua Thành Thang, đặt đô ở đất Bạc tỉnh Hà Nam bây giờ Từ thế kỉ XIV tr.CN, ông Bàn Canh rời đô về đất Ân cũng là tỉnh Hà Nam bây giờ và chuyển từ sinh hoạt du mục sang định cư nông nghiệp Vì thế nhà Thương còn được gọi là nhà Ân
Nhà Chu chia làm 2 thời kỳ: Tây Chu (1135- 770 tr.CN) và Đông Chu
(770-221 tr CN) hay thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc
Khoảng thế kỷ XI tr.CN, con trai của Chu Văn Vương là Chu Vũ Vương đã diệt vua Trụ của nhà Thương, lập lên nhà Chu, đóng đô ở Thiểm Tây ngày nay, phía tây nước Chu gọi là Tây Chu, đưa chế độ nô lệ Trung Quốc lên đỉnh cao, mở đầu thời kỳ văn minh dựng nước của lịch sử Trung Quốc Đầu nhà Chu có nhiều ông vua sáng suốt như Chu Văn Vương nổi tiếng là trọng hiền tài, Chu Công có tài tổ chức việc nước… Đây là thời kì cực thịnh của nhà Chu
Nhà Chu chia thiên hạ thành hơn 70 nước để phong cho những công thần và con cháu làm chư hầu Những nước chư hầu ấy đều được quyền tự chủ nhưng hàng năm phải tiến cống cho thiên tử nhà Chu và có khi có chinh
Trang 10phạt ở đâu thì phải theo mệnh lệnh thiên tử đem quân đi tòng chinh Khi nhà Chu còn thịnh thì trật tự đó còn phân minh Đến thời U Vương lên ngôi, vua
ăn chơi trụy lạc, nhà Chu suy yếu phải rời đô sang Lạc Ấp ( tỉnh Hà Nam bây giờ ) thì mệnh lệnh thiên tử không ai theo, các chư hầu phân ra 160 nước, chiến tranh liên miên, chư hầu nổi lên một số nước mạnh như Tề, Sở, Tấn, Ngô…tranh nhau xưng bá, thiên tử không không đủ uy quyền ngăn cản Từ khoảng thế kỉ VII tr.CN, xã hội Tây Chu suy tàn, bước vào thời kỳ biến động lớn lao, kéo dài đến giữa thế kỉ III tr.CN Lịch sử gọi đó là thời kì Đông Chu hay thời kì Xuân Thu – Chiến Quốc (770 – 221 tr.CN)
Ở thời kỳ này đồ sắt xuất hiện phổ biến thay thế công cụ đồ đồng, đồ đá
đã đem lại sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất nông nghiệp Đây cũng là thời kỳ khởi sắc của nền kinh tế thương nghiệp Vào khoảng thế kỉ VI-V tr.CN đã xuất hiện những thành thị buôn bán nhộn nhịp Ở các nước Hàn, Tề, Tấn, Sở thành thị đã có một cơ sở kinh tế tương đối độc lập, từng bước tách ra khỏi chế độ thành thị tự hệ của quý tộc thị tộc thành những đơn vị, khu vực
của tầng lớp địa chủ mới lên Hiện tượng này trong lịch sử gọi là “ hai đô thị
sánh nhau trong nước” Sự phát triển của sức sản xuất đã tác động mạnh mẽ
đến hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội Nếu như vào
thời Chu “ đất đai khắp gầm trời này không đâu không phải là thần dân của
nhà vua” thì nay các quyền sở hữu tối cao (về đất và dân) đã bị một lớp người
mới lên chiếm làm tư liệu Giai cấp quý tộc, thị tộc nhà Chu bị mất đất, mất dân, địa vị kinh tế ngày càng sa sút và đương nhiên địa vị chính trị, ngôi thiên
tử nhà Chu chỉ còn là hình thức, sự phân biệt sang hèn dựa trên cơ sở huyết thống của thị tộc tỏ ra không còn phù hợp nữa mà đòi hỏi phải dựa trên cơ sở tài sản, các chư hầu của nhà Chu không chịu phục tùng vương mệnh nữa, không cống nạp Họ mang quân thôn tín lẫn nhau, tự xưng bá vương, tầng lớp
Trang 11địa chủ mới lên lấn át quý tộc, thị tộc cũ thậm chí còn chiếm cả chính quyền như họ Quý, họ Lỗ ở nước Tề
Kết quả của những biến động về kinh tế đã dẫn đến sự phân hóa giai cấp, nhiều giai tầng cũ mới đan xen, mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt, điển hình là những mâu thuẫn sau:
Một là, mâu thuẫn giữa tầng lớp mới lên có tư hữu tài sản, địa vị kinh tế trong xã hội mà không được tham gia chính quyền với giai cấp quí tộc, thị tộc
cũ nhà Chu đang nắm chính quyền
Hai là, mâu thuẫn giữa tầng lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thương nhân với giai cấp quí tộc, thị tộc nhà Chu Trong bản thân giai cấp quí tộc, thị tộc nhà Chu có một bộ phận tách ra và chuyển hóa lên giai cấp mới, một mặt
họ muốn bảo lưu nhà Chu, một mặt không hài lòng với trật tự hiện có và muốn cải biến nó bằng con đường cải cách
Tầng lớp tiểu quí tộc, thị tộc một mặt họ đang bị một tầng lớp mới lên tấn công về chính trị, kinh tế mặt khác họ cũng có mâu thuẫn với tầng lớp đại quí tộc đang nắm quyền
Ba là, mâu thuẫn giữa nông dân công xã thuộc các thị tộc bị nhà Chu
nô dịch với nhà Chu và tầng lớp mới lên đang ra sức bóc lột tận cùng sức lao động của họ
Đó là những mâu thuẫn chủ yếu của thời kỳ lịch sử đang đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc của nhà Chu, hình thành xã hội phong kiến nhằm phát triển lực lượng sản suất, mở đường cho xã hội phát triển
Sự chuyển biến sôi động đó của thời đại đã đặt ra và làm xuất hiện
những tụ điểm, những trung tâm các “kẻ sĩ’ luôn tranh luận về trật tự xã hội
cũ và đề ra những hình mẫu của xã hội tương lai Lịch sử gọi thời kỳ này là
thời kỳ “ bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “Bách gia tranh minh” (trăm
Trang 12nhà đua tiếng) Chính trong quá trình đó đã nảy sinh các nhà tư tưởng lớn và hình thành lên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh Đặc điểm của các trường phái này là luôn lấy con người và xã hội làm trung tâm của sự nghiên cứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thực tiễn đạo đức chính trị của xã hội Theo Lưu Hâm (đời Tây Hán) Trung Hoa thời kỳ này có 09 trường phái triết học chính (gọi là Cửu lưu hoặc Cửu gia) là Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Âm Dương gia, Danh gia, Pháp gia, Nông gia, Tung Hoành gia, Tạp gia Trong đó luồng tư tưởng lớn nhất, có ảnh hưởng sâu sắc trong xã hôi Trung Quốc đương đại và sau này là tư tưởng “Đức trị” lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín mà dạy người, lấy cương thường mà hạn chế nhân dục để giữ gìn trật
tự trong xã hội cho bền vững Người ta gọi tư tưởng đó là Nho giáo mà người sáng lập ra nó là Khổng Tử
1.2 Vài nét về tác giả và tác phẩm của Nho giáo
1.2.1 Tác giả
Người sáng lập học thuyết Nho gia là Khổng Tử (551-479 tr.CN) Ông tên là Khâu, tự Trọng Ni sinh tại ấp Trân, làng Xương Bình nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) Nhiều sử sách ghi rằng ông sinh ra trong một gia đình nghèo nhưng thực tế gia đình ông có ông tổ ba đời vốn thuộc dòng dõi quí tộc sa sút từ nước Tống rời đến nước Lỗ Sinh ra trong thời kỳ biến loạn nên tuổi thơ Khổng Tử trải qua nhiều biến cố đau buồn Cha của Khổng Tử là Thúc Lương Ngột (cháu 13 đời của Vi Tử Diễn, anh của vua Trụ nhà Thương ) làm chức võ quan ở nước Lỗ, đến 70 tuổi mới lấy Nhan Thị Trưng Tại – một người phụ nữ hiểu biết về văn hóa truyền thống
mà sinh ra ông Năm lên 3 tuổi, Đức Khổng Tử mồ côi cha, lớn lên phải làm lụng vất vả để nuôi mẹ nhưng rất ham học Khổng Tử học không riêng một thầy nào, tức không được một tôn sư truyền cho một học thuyết nào cả nhưng
Trang 13hồi nhỏ ông cũng được học ở trường công mở dạy con cái quí tộc về lục nghệ: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số
Năm 15 tuổi Khổng Tử đã học hết chương trình đó để trở thành một nho sinh và bắt đầu để chí vào việc tự học về đạo, nghiên cứu về lễ - môn mà ông thích
Năm 19 tuổi thành gia thất, vợ của ông là con của họ Thượng Quan nước Tống
Năm 20 tuổi, vợ Ngài sinh đặng một con trai, đặt tên là Lý Tự Bá Ngư Về sau, Bá Ngư chết lúc 50 tuổi, chết trước Khổng Tử Con của Bá Ngư tên là Khổng Cấp, tự là Tử Tư, sau theo học Tăng Sâm, rồi làm ra sách Trung Dung Năm 21 tuổi, Đức Khổng Tử được cử làm chức Ủy Lại, một chức quan nhỏ coi việc sổ sách của kho lúa, cũng là cân đo và gạt lúa Sau đó làm quan
Tư Chức Lại, coi viêc nuôi bò, dê, súc vật dùng trong việc tế tự
Năm 25 tuổi, ông chịu tang mẹ
Năm 29 tuổi, ông học đàn với Sư Tương, ở nước Lỗ
Tuy là chức quan nhỏ nhưng Đức Khổng Tử đã nổi tiếng là người học rộng biết nhiều nên quan đại phu nước Lỗ là Trọng Tôn Cồ cho 2 người con trai là Hà Kỵ và Nam Cung Quát theo ông học Lễ
Đến năm thứ 9 đời vua Lỗ Định Công, Khổng Tử được 51 tuổi, vua nước
Lỗ mời ra làm quan, phong cho chức Trung Đô Tể lo việc cai trị ở ấp Trung
Đô, tức là đất kinh thành Một năm sau, bốn phương lấy chính sự của Ngài làm khuôn mẫu
Năm Lỗ Định Công thứ 10, Ngài phò vua Lỗ đi phó hội với Tề Cảnh Công
ở Giáp Cốc Nhờ tài ngôn luận và ứng đáp kịp thời, vua Tề rất khâm phục và trả lại cho nước Lỗ 3 khoảng đất ở Quỳ Âm mà nước Tề đã chiếm của nước
Lỗ mấy năm trước
Trang 14Qua năm sau, Đức Khổng Tử giữ chức Tư Không, rồi thăng lên Đại Tư Khấu ( Hình Bộ Thượng Thư) coi việc hình án Ông đặt ra luật lệ để cứu giúp
kẻ nghèo khổ, lập ra phép tắc, định việc tống táng, lớn nhỏ có trật tự, trai gái không lẫn lộn, nạn trộm cắp không còn nữa, xã hội được an bình thịnh trị Sau bốn năm Lỗ Định Công phong Ngài làm Nhiếp Tướng Sự (Tướng Quốc) coi việc chính sự trong nước
Ngài cầm quyền được 7 ngày thì xin vua Lỗ giết gian thần Thiếu Chính Mão để chỉnh đốn quốc chính Từ khi giết xong Thiếu Chính Mão, Lỗ Định Công và 3 nhà Mạnh, Thúc, Quý mới một lòng nghe theo lời của Đức Khổng
Tử Nhờ vậy, Đức Khổng Tử chỉnh đốn lại kỷ cương trong nước, dạy dân những điều lễ nghĩa, liêm sỉ nên dân không còn nhiều loạn mà chính trị mỗi ngày một hay
Một thời gian sau, vua nước Lỗ ham mê tửu sắc, bị người nước Tề ly gián nên không nghe lời khuyên can của Khổng Tử, bỏ bê việc triều chính, thực hành không đúng lễ, Khổng Tử treo mũ từ quan cùng một số học trò chu
du liệt quốc
Đức Khổng Tử cùng học trò đi qua các nước : Vệ, Tống, Trần, Khuông, Thái, Sở, để mong thuyết phục các vua chư hầu chịu đem cái đạo của ông ra ứng dụng để đem lại thái bình thịnh trị cho dân chúng Nhưng cái đạo của Khổng Tử là Vương đạo nên đi ngược chiều ý đồ Bá đạo của các vua chư hầu
và quyền lợi của các quan đại phu nên các vua chư hầu đều không dám dùng Khổng Tử
Rốt cuộc, sau 14 năm chu du các nước không thành công, Ngài trở về nước Lỗ, có quan đại phu Quý Khang Tử sai Công Hoa ra đón Ngài
Khi về nước Lỗ, Khổng Tử đã 68 tuổi, Ngài trở lại quê nhà để mở mang việc dạy học và soạn sách
Trang 15Tổng số môn đệ của Đức Khổng Tử có lúc lên tới 3000 người (Tam thiên đồ đệ) Trong đó có 72 người được liệt vào hàng tài giỏi nên được gọi là Thất thập nhị hiền Sau này, họ soạn lại bộ Luận Ngữ, Trung Dung, Đại Học
để truyền đạo cho ông
Đức Khổng Tử san định lại các kinh sách của Thánh hiền đời trước như: Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc Sau đó, Đức Khổng Tử viết ra sách Xuân Thu, chép lại những việc của nước Lỗ mà của nhà Châu (Chu) liên hệ với các nước chư hầu từ đời Lỗ Ai Công thứ 14 (481 tr.CN) Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc, chỉ còn lại 5 quyển được người đời gọi
là Ngũ kinh và trở thành sách kinh điển của Nho giáo
Khổng Tử không chỉ là một nhà chính trị tài giỏi mà còn là một nhà giáo dục vĩ đại Ông là người đầu tiên mở trường tư và là người thầy dạy đầu tiên của Trung Quốc Bằng sự kiện này Khổng Tử đã trở thành người thực hiện bước đột phá trong ngành giáo dục ở Trung Quốc và mang lại cho ngành giáo dục một hình thức, một phong trào mới, đây được coi là cuộc cách mạng trong giáo dục
Năm 479 tr.CN vào tháng 2 âm lịch, Khổng Tử lâm trọng bệnh vài ngày sau đó con người vĩ đại ấy đã qua đời ở tuổi 73 Ông mất đi nhưng hệ tư tưởng của Khổng Tử còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính trị, văn hóa, tư tưởng của người Trung Quốc cổ đại và sau này, không những thế nó còn tác đông mạnh mẽ đến các nước lân cận như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc…Đặc biệt tư tưởng về văn hóa giáo dục của Khổng Tử có ý nghĩa vô cùng to lớn
trong thời đại ngày nay, đây cũng là yếu tố tạo lên vị trí “vạn niên sư biểu”
của Khổng Tử
Sau khi Khổng Tử chết, Nho gia chia làm 8 phái, quan trọng nhất là 2 phái: Mạnh Tử và Tuân Tử
Trang 16Mạnh Tử (372-289 tr.CN) tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, sinh vào đời vua Liệt Vương nhà Chu, quê gốc ở đất Trâu thuộc nước Lỗ, nay là thành phố Trâu Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Ông mồ côi cha, chịu sự nuôi dưỡng giáo dục của mẹ là Chương Thị Sau này bà được biết đến với cái tên Mạnh Mẫu (mẹ của Mạnh Tử)
Thời niên thiếu, Mạnh Tử làm môn sinh của Khổng Cấp, cháu nội của Khổng Tử Vì vậy, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng Khổng giáo và trở thành đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời Chiến Quốc
Mạnh Tử đi sâu tìm hiểu bản tính con người, đề ra thuyết “tính thiện” Ông cho rằng “thiên mệnh” quyết định nhân sự, nhưng con người có thể thông
qua việc tồn tâm dưỡng tính mà nhận thức được thế giới khách quan, tức là
cái gọi là “tận tâm, tri tính, trị thiên”, “vạn vật đều có đủ trong ta” Ông hệ
thống hóa triết học của Nho gia trên phương diện thế giới quan và nhận thức luận, tạo lên đầu mối của khuynh hướng duy tâm trong Nho giáo sau này
Về trước tác, có tập “Mạnh Tử” đã cùng cuốn Luận Ngữ, Trung Dung, Đại Học hợp thành bộ Tứ thư – sách kinh điển của Nho giáo
Tuân Tử (313-238 tr.CN) cũng là một đại diện xuất sắc của Nho giáo sau này Ông tên là Huống, còn có tên khác là Khanh, tự Tôn Khang, sinh ở nước Triệu, làm việc cho Tề Tuyên Vương của nước Tề
Trước 40 tuổi, Tuân Tử chuyên tâm vào việc trau rồi học vấn Khoảng trước sau 50 tuổi đi du hành qua các nước Từ 60 tuổi trở đi, những năm đầu làm huyện lệnh Lan Lăng nước Sở, những năm sau thì mở lớp dạy học, y như Khổng Tử, Mạnh Tử thủa trước
Tuân Tử đã phát triển truyền thống trọng lễ của Nho giáo, nhưng khác với Mạnh Tử, ông coi con người có tính ác, chủ chương thế giới khách quan
có quy luật riêng Theo ông sức người có thể thắng trời Tư tưởng triết học
Trang 17của Tuân Tử rõ ràng mang đặc sắc của chủ nghĩa duy vật thô sơ, tạo lên đầu mối cho khuynh hướng duy vật trong Nho giáo
1.2.2 Tác phẩm
Kinh điển của Nho giáo phải kể tới có bộ Tứ thư và Ngũ kinh
- Tứ thư là bốn tác phẩm kinh điển của Nho học bao gồm: Đại Học, Luận
Ngữ, Trung Dung và Mạnh Tử
+ Đại Học:
Là một trong những kinh điển trọng yếu của Nho gia Nó vốn là một thiên trong sách Lễ Ký (Kinh lễ sau này), được Tăng Sâm một học trò của Khổng Tử chế hóa thành Tuy nhiên, nó chỉ thuộc bộ Tứ thư vào thời Tống với sự xuất hiện của cuốn Tứ thư tập chú của Chu Hy
Trên quan đại phu, sách Đại học gồm 2 phần: phần đầu có một thiên gọi là kinh, chép lại các lời nói của Khổng Tử; phần sau là giảng giải của Tăng Tử, gọi là truyện, gồm 9 thiên
Đại học đưa ra ba cương lĩnh (Tam cương lĩnh) bao gồm: Minh minh đức (làm sáng tỏ cái đức sáng), Tân dân (Làm mới cho dân, có khi viết là Thân dân, nghĩa là gần gũi với dân) và Chỉ ư chí thiện (dừng ở nơi chí thiện)
Ba cương lĩnh này được cụ thể hóa bằng 8 điều mục nhỏ (gọi là Bát điều mục ), bao gồm: cách vật (tiếp cận và nhận thức sự vật), trí tri (đạt tri thức về sự vật ), thành ý (làm cho ý của mình thành thực), chính tâm (làm cho tâm của mình được trung chính), tu thân (tu sửa thân mình), tề gia (xếp đặt mọi việc cho gia đình hài hòa), trị quốc (khiến cho nước được an trị), bình thiên hạ ( khiến cho thiên hạ được bình yên)
Minh minh đức ứng với các vật, trí tri, thành ý, chính tâm và tu thân trong Bát điều mục Tân dân ứng với tề gia và trị quốc Chỉ ư chí thiện ứng với bình thiên hạ
Trang 18Sách Đại học dạy cho người ta cách tu thân và cai trị thiên hạ theo chủ
chương “vi đức dĩ chính” của Nho giáo
+ Trung Dung :
Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra trên cơ sở một thiên trong Kinh Lễ Tử
Tư là học trò của Tăng Tử, cháu nội của Khổng Tử
Trong sách Trung Dung, Tử Tư dẫn những lời của Khổng Tử nói về đạo
“trung dung”, tức là nói về cách làm cho ý nghĩa và việc làm luôn ở mức
trung hòa, không thái quá bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân
Sách Trung Dung chia làm 2 phần:
Phần 1: Từ chương 01 đến chương 20
Là phần chính, gồm những lời của Khổng Tử dạy các học trò về đạo lý Trung dung, phải làm sao cho tâm được: tồn, dưỡng, tĩnh, sát; mức ở được gồm đủ : Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín cho hợp với muôn vật, hợp với lòng trời để thành người tài giỏi
Phần 2 : Từ chương 21 đến chương 33
Là phần phụ, gồm những ý kiến của Tử Tư giảng giải thêm cho rõ ràng ý nghĩa và giá trị chung của hai chữ Trung dung
Cả 2 cuốn sách Đại Học và Trung Dung trước đây là những thiên trong Kinh
Lễ, sau các Nho gia đời Tống tách riêng ra làm 2 quyển để hợp với sách Luận Ngữ và Mạnh Tử thành bộ Tứ Thư
+ Luận Ngữ:
Đây là sách sưu tập, ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử và những lời nói của ông đương thời Sách Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên đều lấy chữ đầu mà đặt tên, các thiên không có liên hệ với nhau
Trang 19Đọc sách này, người ta hiểu được phẩm chất tư cách và tính tình của Khổng
Tử, nhất là về giáo dục Khổng Tử tỏ ra là người thấu hiểu tâm lý của từng học trò, khéo léo đem lời giảng dạy thích hợp với từng trình độ, từng hoàn cảnh của mỗi người Như có cùng một câu hỏi mà ông trả lời cho mỗi người một cách
Sách Luận Ngữ dạy đạo quân tử một cách thực tiễn, miêu tả tính khí đức
độ của Khổng Tử để làm mẫu mực cho người đời sau noi theo
+ Mạnh Tử:
Là bộ sách làm ra bởi Mạnh Tử và các môn đệ của ông như: Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương… ghi chép lại những lời đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, Giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết như học thuyết của Mặc Tử, Dương Chu
Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên chia làm 2 phần: Tâm học và Chính trị học Tâm học: Mạnh Tử cho rằng mỗi người đều có tính thiện do trời phú cho
Sự giáo dục đó phải lấy tính thiện đó làm cơ bản, giữ cho nó không mờ tối, trau dồi nó để trở thành người lương thiện.Tâm là cái thần minh của trời ban cho con người Như vậy tâm của ta với tâm của trời đều cùng một thể Học là
để giữ cái Tâm, nuôi cái Tính biết rõ Trời mà theo chính mệnh
Chính trị học: Mạnh Tử chủ chương “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi
khinh” Đây là một tư tưởng rất mới và rất độc đáo trong thời quân chủ
chuyên chế đang thịnh hành
Mạnh Tử nhìn nhận chế độ quân chủ, vua không có quyền lấy dân làm của riêng mình phải duy dân và vì dân Muốn vậy phải có luật pháp công bằng, dẫu vua cũng không được vượt ngoài pháp luật đó Người trị dân trị nước phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân thật sung túc, phải
Trang 20lo giáo dục dân để dân hiểu rõ pháp luật mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm cơ bản để thi hành
Có thể nói, bộ sách Mạnh Tử có giá trị rất lớn đối với Nho giáo Phần Tâm học trong sách là đỉnh cao nhất trong học thuyết Nho giáo Trình Y Xuyên đã nói: Kẻ đi học nên lấy 2 quyển sách: Luận Ngữ và Mạnh Tử làm cốt Đã học được 2 bộ sách này rồi thì không cần học Ngũ Kinh cũng thông rõ cái đạo của thánh hiền
- Ngũ Kinh : Do Khổng Tử soạn thảo hay hiệu đính gồm có: Kinh Thi, Kinh
Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu
+ Kinh Thi: sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử, nói về tình yêu nam nữ, Khổng Tử san định lại thành 300 thiên nhằm giáo dục mọi người
tình cảm trong sáng lành mạnh Một lần, Khổng Tử hỏi con trai: “ Học Kinh
Thi chưa ?” người con trai trả lời “Chưa”, Khổng Tử nói: “ Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra sao” (sách Luận Ngữ)
+ Kinh Thư: Ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua Lỗ có trước Khổng Tử Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ
+ Kinh Lễ: Ghi chép các lễ nghi đời trước, Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự xã hội Khổng Tử nói: “
Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời” (sách Luận Ngữ)
+ Kinh Dịch: Nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại dựa trên các khái niệm Âm dương, Bát quái… Đời Chu, Chu Văn Vương đặt tên
và giải thích các quẻ của Bát quái gọi là Thoán từ Chu Công Đán giải thích chi tiết nghĩa của từng hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch Khổng Tử giảng giải rộng thêm Thoán từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi là Thoán truyện và Hào truyện
Trang 21+ Kinh Xuân Thu: Ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ quê của Khổng Tử Khổng Tử không chỉ ghi chép lại như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời
thoại để giáo dục các bậc vua chúa Ngài nói: “ Thiên hạ biết đến ta bởi kinh
Xuân Thu, thiên hạ trách ta cũng sẽ ở kinh Xuân Thu này” Đây chính là cuốn
kinh mà Khổng Tử tâm đắc nhất
Ngoài ra còn có Kinh Nhạc do Khổng Tử hiệu đính nhưng về sau bị thất lạc, chỉ còn lại một ít làm thành một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc Ký Như vậy, Lục Kinh chỉ còn lại Ngũ Kinh
Hệ thống các sách kinh điển của Nho giáo chủ yếu viết về xã hội, lịch sử, phong tục tập quán và đặc biệt là về giáo dục, phương pháp giáo dục của Nho giáo Đó là bộ phận giàu sức sống nhất của Nho giáo
Trang 22CHƯƠNG 2
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA NHO GIÁO 2.1 Quan điểm của Nho giáo về vai trò, mục đích và đối tượng giáo dục
2.1.1 Vai trò và mục đích của giáo dục
Trường phái Nho giáo không phải là người đầu tiên nhận thức được vai trò của giáo dục nhưng đã khẳng định được vai trò to lớn của giáo dục đối với
xã hội loài người Nho giáo nhìn nhận vai trò quan trọng của giáo dục không phải đơn thuần với tư cách của một nhà giáo dục mà còn với con mắt của một nhà chính trị Bởi giáo dục không những làm thay đổi mỗi con người mà còn làm thay đổi cả cục diện xã hội và đất nước
Đối với mỗi con người, giáo dục là yếu tố quan trọng để hình thành nhân
cách, bản tính con người “ ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri
lý” , nghĩa là ngọc mà không mài dũa thì không thành đồ dùng, học không
mài dũa thì không thành
Khổng Tử nói “nhân chi sơ tính bản thiện, tính tương cận tập tương
viễn” [12,527] Theo ông con người sinh ra có thiên tính hiền lành và thiên
tính ban sơ này làm cho con người ta gần giống nhau nhưng do tác động của môi trường sinh sống nên có kẻ giữ được nết lành, kẻ nhiễm tính ác cho nên
họ khác xa nhau “ Người ta sống ở đời là nhờ ngay thẳng, kẻ cong vạy mà
sống được đó là ăn may mà thoát chết đó thôi”[12,326] Chính vì vậy để giữ
được bản tính của mỗi con người thì phải giáo dục, giáo hóa họ
Trong lịch sử Trung Quốc chưa có thời kỳ nào chiến tranh kéo dài liên miên như thời kỳ Xuân Thu- Chiến Quốc Trong xã hội, con người chém giết
lẫn nhau, cả xã hội chìm đắm trong sự suy đồi, loạn lạc “đại nghịch vô đạo”
Chính vì vậy theo Khổng Tử muốn xã hội bình yên và hưng thịnh thì phải
giáo dục con người, lấy “nhân” làm gốc, lấy “lễ nghĩa” làm đầu phải đẩy
Trang 23mạnh giáo dục để xã hội có luân thường đạo lý Để con phải ra con, cha phải
ra cha, tôi phải ra tôi, vua phải ra vua, thì con người phải được giáo huấn, phải đọc sách thánh hiền Người đứng đầu xã hội (vua, quan), cũng phải là người
hiền tài lấy “đức” để trị dân, lấy “nhân” để trị nước, lấy “tam cương, ngũ
thường” để xem xét dùng người Thời kỳ Khổng Tử làm quan đã lấy lễ giáo
đặt cao hơn pháp trị chẳng bao lâu nước Lỗ hưng thịnh, hùng cường nhân dân sống trong cảnh thái bình Đây chính là minh chứng hùng hồn khẳng định sứ mệnh làm thay đổi bộ mặt xã hội của giáo dục
Mục đích của giáo dục:
Trên cơ sở nhận thức được vai trò to lớn của giáo dục đối với con người và
xã hội Nho giáo đã xây dựng sự nghiệp giáo dục vững chắc Sau Khổng Tử
và các học trò trực tiếp của Khổng Tử như 72 vị hiền những Khổng Cấp, Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy đời Tống, Vương Thủ Nhân đời Minh… cũng đều là nhà học thuật và giáo dục xuất sắc trong các danh nhân đạo Nho
Thứ nhất: Xây dựng đạo lý
Đạo ở đây là tu thân, đạo làm người, đạo trị nước yên dân Khổng Tử nói
“kẻ sĩ để chí vào đạo lý”[12,273] Tức kẻ sĩ phải lấy việc tu thân và thực hiện
lý tưởng chính trị làm mục tiêu phấn đấu Không những thế Khổng Tử còn rất coi trọng đạo lý và đặt vấn đề đạo lý lên trên sinh hoạt và ăn uống hàng ngày
“Người quân tử bàn tính việc đạo lý, chẳng mưu toan việc ăn uống” [12,583]
Khổng Tử diễn tả lòng mình về đạo lý “sớm nghe đạo tối chết cũng
được”(Luận ngữ - Lý nhân) Đạo có vai trò quan trọng như vậy nên việc học
tập của người quân tử phải lấy đạo làm đích, phải có tinh thần cầu đạo, hướng đạo, tích cực thi hành đạo Bởi thế truyền đạo và thực hành ở đời là thực chất
và mục đích của giáo dục Nếu chỉ ôm lấy cái đạo mà không đem ra thi hành
Trang 24thì sao có thể gọi là thực học Vì thế theo Nho giáo học đạo là để hành đạo giúp đời là yêu cầu thân thiết đối với những người được giáo dục Đây cũng là nguyên nhân khiến cho Khổng Tử cùng học trò đi chu du liệt quốc trong suốt
13 năm
Thứ 2: Hoàn thiện nhân cách
Học là phải để cho mình chứ không phải cho ai, cho nên Khổng Tử nhận
định “kẻ đi học xưa kia lo vì mình, ngày nay kẻ đi học là vì người”[Luận ngữ -
Hiếu văn], vì người theo Khổng Tử là để khoa trương Khổng Tử nhận định
trong các học trò của mình “chỉ có Nhan Hồi là hiếu học, là không đổi ý vì
giận, không chịu lỗi 2 lần” [Luận ngữ - Ung dã] Chương trình giáo dục của
Khổng Tử để hình thành nhân cách “Văn chương, thực hành, trung nghĩa, tín
nhiệm” [Luận ngữ - Thuật nhi] Trong bốn nội dung của chương trình, có ba
nội dung thuộc phương diện hành vi, đại biểu cho nhân cách của một cá nhân hành động ở đời Tóm lại nhân cách lý tưởng là hệ thống chuẩn mực về những phẩm chất và tính cách của một con người lý tưởng, hoàn thiện mà nền giáo dục Nho học luôn hướng tới và coi đó là mục tiêu để đào tạo ra tầng lớp Nho sỹ, những hiền nhân, những bề tôi của chế độ phong kiến
Thứ 3: Bồi dưỡng nhân tài chính trị cho đất nước
Học để ứng dụng cho có ích với đời với xã hội, chứ không vì quan sang
bổng lộc Khổng Tử nói rằng: “nói ít lỗi”, “làm ăn ít ăn năn, lộc ở bên trong
vậy”[Luận ngữ- Vi chính] Ông lại nói: “ Đọc 300 bài kinh không đạt, sai đi bốn phương tám hướng mà không biết đối phó thì học nhiều để làm gì”[Luận
ngữ - Tử lộ] Trong Nho giáo không bao giờ nhắc đến vấn đề đảo chính trong chính trị mà chỉ trung với vua, phò vua, nếu lật đổ vua lên ngôi vương thì trở thành bất trung, bất nghĩa Đây chính là nguyên nhân giải thích tại sao Nho giáo tồn tại một cách bền vững cùng với các triều đại phong kiến
Trang 25Bồi dưỡng nhân tài cho đất nước là mục đích thiết thực thúc đẩy sự phát triển của xã hội trong mọi thời đại, vì thế sau Khổng Tử mấy trăm năm sách Đại
Học còn chỉ ra rằng kẻ sĩ quân tử rèn luyện và học tập là nhằm mục đích “Tu
thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”
Thứ 4 : Xây dựng một xã hội lý tưởng
Trong xã hội đó con người sống “chính danh” vua ra vua, tôi ra tôi, cha
cho đúng nghĩa là cha… Mọi người làm tròn bổn phận của mình và thực hành đúng đạo lý xã hội Muốn đạt được mục đích này thì ba mục đích trên phải được thực hiện và đó là tiền đề, cơ sở để xây dựng một xã hội lý tưởng đối lập hoàn toàn với xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu - Chiến Quốc
2.1.2 Đối tượng giáo dục
Trong tác phẩm Luận Ngữ chúng ta thấy toát lên tư tưởng “hữu hoá vô
loại” Khổng Tử quan niệm đối tượng của giáo dục là tất cả mọi người, không
phân biệt sang hèn, cao thấp, thiện ác,… Ông là người đầu tiên nêu ra tư
tưởng “vô loại” trong giáo dục điều này thể hiện tính chất tiến bộ trong điều
kiện xã hội phân chia giai cấp rõ nét khi đó
Trước thời Khổng Tử, giáo dục được coi là một thứ xa xỉ, giáo dục chỉ
bó hẹp trong phạm vi tầng lớp quý tộc, giáo dục là đặc quyền của giai cấp thống trị, là phương tiện riêng của tầng lớp quý tộc dùng để củng cố địa vị giai cấp, duy trì bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho mình Đối với dân thường việc học hành là hoàn toàn xa lạ và là ước mơ Nhưng đến Khổng Tử, ông đã mở rộng phạm vi giáo dục cho tất cả mọi người Có thể nói rằng, với luận điểm
“hữu giáo vô loại” Khổng Tử bước ra khỏi hệ tư tưởng thần quyền và thế
quyền đang thống trị xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ, tước bỏ đặc quyền học vấn, giáo dục của quý tộc, đem nó phổ cập cho dân chúng, tạo điều kiện cho tầng lớp những người lao động tu dưỡng rèn luyện, tham gia chính sự Như
Trang 26vậy, Nho giáo mở đường cho việc tạo lập sự công bằng trong giáo dục Với Khổng Tử, bất kỳ ai muốn theo học chỉ cần có lòng thành không cần lễ hậu hay tiền bạc, điều quan trọng là phải biết giữ lễ, có lòng tín thật thì lúc đó ông cũng vui lòng truyền đạt Đối với Khổng Tử và các nhà nho sau này, việc giảng luận, sửa chữa cho học trò là vì nghĩa, vì trách nhiệm cứu đời, cứu người chứ không vì danh lợi, cả đời dạy học không màng đến danh lợi, bổng lộc Trong những năm chu du thiên hạ đã có lúc mấy ngày Khổng Tử và các học trò không có hạt cơm vào bụng nhưng ông vẫn kiên trì mục đích đó Tuy nhiên, xét đến cùng quan niệm của Nho giáo về giáo dục có những hạn chế không thể tránh khỏi Đó là sự phân biệt giữa “quân tử” với “tiểu
nhân” Đặc biệt là vai trò của người phụ nữ trong giáo dục, “chỉ có đàn bà và
tiểu nhân là khó ở cho vừa lòng, gần họ thì họ khinh nhờn xa thì họ oán trách”[12,532] Ở đây thể hiện rõ ràng tư tưởng “ trọng nam khinh nữ” của
Nho giáo Chính tư tưởng phân biệt tôn ti của Nho giáo đã có ảnh không nhỏ trong lịch sử chế độ phong kiến phương Đông trong đó có Việt Nam, thậm chí đến ngày nay, tàn tích của tư tưởng này vẫn còn tồn tại
2.2 Nguyên tắc, phương pháp và nội dung giáo dục của Nho giáo
2.2.1 Các nguyên tắc và phương pháp chi phối quá trình giáo dục
Cũng như nhiều hệ tư tưởng khác, Nho giáo đã đưa ra một hệ thống về phương pháp, nguyên tắc giáo dục qua những câu nói, đối thoại của Khổng
Tử với các môn đệ của mình trong các tác phẩm kinh điển của Nho giáo
Về nguyên tắc giáo dục:
Qua tác phẩm Luận ngữ chúng ta thấy tư tưởng giáo dục của Nho giáo nổi
lên ba nguyên tắc cơ bản: “ Hữu giáo vô loại”, nguyên tắc tùy đối tượng mà dạy, nguyên tắc giáo dục đạo đức và nhân cách Nguyên tắc “Hữu giáo vô
Trang 27loại” đã trình bày ở phần trên vì thế trong phần này chúng ta chỉ đề cập đến 2
nguyên tắc còn lại
- Nguyên tắc tùy từng đối tượng mà dạy:
Đối tượng giáo dục của Nho giáo rất khác nhau: có người ít tuổi, có người nhiều tuổi, có người bần hàn, có người quyền quý, có người có xu hướng chính trị khác nhau Do đó, Nho giáo rất chú trọng đến những biện
pháp giáo dục cho phù hợp “ trình độ học trò như cây cỏ có nhiều loại để
phân biệt” Nên cùng một câu hỏi nhưng Khổng Tử lại trả lời mỗi người một
khác Có thể nói nguyên tắc này là hệ quả của nguyên tắc “Hữu giáo vô loại”
và Khổng Tử là người khởi đầu của cả 2 nguyên tắc này
Qua thực tiễn giáo dục của Khổng Tử, chúng ta thấy trong quá trình giảng dạy, giáo dục học trò ông không áp đặt bừa bãi cứng nhắc, sáo rỗng Ông khuyến khích học trò của mình phát huy sở trường, khả năng của mỗi người bằng cách căn cứ vào thực tế, hoàn cảnh cụ thể và vấn đề người học quan tâm mà đưa ra nội dung giáo dục cho phù hợp Điều này dễ nhận thấy qua những lời đáp của ông về nhân , nghĩa, lễ, trí, tín,… Học trò hỏi về nhân
Khổng Tử trả lời học trò Nhan Hồi: Nhân là “ chế thắng được mình để theo lễ
thì thiên hạ sẽ coi mình là người Nhân làm điều nhân là do ở mình, chứ lại do người khác ru”, với Tư Mã Ngưu, Khổng Tử nói rằng: “ người nói năng phải nhịn”, với Phàn Trì: “nhân là yêu người” lần khác Phàn Trì lại hỏi về Nhân,
Khổng Tử nói: “ thường ngày ở nhà thì thì thái độ và dung mạo khiêm cung,
khi làm việc thì kính cẩn, giao tiếp với người thì trung thành Dẫu đi các nước
Di, Dịch cũng không thể bỏ những điều đó”, với Tử Trương, Khổng Tử lại
nói “ thi hành được năm điều trong thiên hạ (nghiêm trang, rộng lượng,
thành thạo, siêng năng, hiền huệ) là nhân”
Trang 28Về việc thi hành đạo lý Khổng Tử cũng dựa trên tính tình của từng người
mà răn dạy, cùng 1 câu hỏi: “Nghe được thì làm ngay chăng ?” Khổng Tử nói với Tử Lộ “còn có cha có anh sao có thể nghe được thì làm ngay” Còn với Nhiễm Hữu ông lại nói: “nghe được thì làm ngay” Công Tôn Hoa thấy
vậy làm nghi nên hỏi thầy ngay, Khổng Tử đáp: Cầu (Nhiễm Hữu) tính rụt rè nên ta phải thúc tới, còn Do (Tử Lộ) thì hiếu thắng nên ta phải kìm bớt nén Qua đây ta thấy Khổng Tử giáo dục học trò mỗi người một khác là tránh sự thái quá bất cập, ông khuyên học trò lấy đạo trung dung là mực thước cho cho suy nghĩ và hành động Điều đó cho thấy ở Khổng Tử tư tưởng biện chứng chất phác và được thể hiện trong thực tiễn giáo dục của mình
Thiên “Vi chính” trong Luận Ngữ có ghi lại bốn người hỏi về Hiếu, Khổng Tử đều trả lời khác nhau dựa theo tính tình của từng người, hay về chính sự - một vấn đề lớn mà Khổng Tử giải đáp cho các học trò cũng như người đương thời quan tâm tùy vào đối tượng trong từng hoàn cảnh ông đưa
ra những lời giải đáp hợp lý cho từng người hỏi
Như vậy, Nho giáo đã thể hiện rõ tư tưởng có tính chất nguyên tắc trong giáo dục: cá biệt hóa đối tượng trong giảng dạy, nguyên tắc tùy vào tư chất, khí chất, trình độ, chức năng xã hội của từng người mà có cách giáo dục khác nhau Những nguyên tắc này có ý nghĩa to lớn trong suốt chiều dài lịch sử giáo dục Trung Quốc và cho đến nay vẫn còn ý nghĩa to lớn trong điều kiện giáo dục đòi hỏi lấy người học làm trung tâm
- Nguyên tắc giáo dục đạo đức và nhân cách:
Đây là nội dung mang tính trọng tâm trong giáo dục của Nho giáo Nó thể hiện ngay trong chương trình giáo dục bao gồm 4 khoa bên trên: Đạo đức, Chính trị, Ngôn ngữ và Văn học Nhận thấy tu dưỡng đạo đức là vô cùng quan trọng nên Khổng Tử bắt các môn đệ của mình trước tiên phải tu dưỡng
Trang 29bản thân, sau đó mới được học văn chương “Tiên học lễ, hậu học văn”, “các
đệ tử khi vào phải hiếu với cha mẹ, khi ra phải kính người hơn tuổi, làm việc phải cẩn thận và giữ chữ tín, thương yêu mọi người và thân với người dân, làm những việc đó cứ dư sức mới dành cho văn chương”[12,202] Các đệ tử
của Khổng Tử điều hết sức chú trọng tu dưỡng đạo đức bản thân, trong số đó nổi tiếng về đức hạnh như Mạnh Tử, Nhan Hồi, Trọng Cung,… Nhan Uyên
nói: “Phu tử cứ tuần tự mà chỉ bảo cho người rất khéo, người mở rộng cho ta
nhờ văn chương, ước thúc ta nhờ lễ”[12,346] Nho giáo cho rằng giá trị cao
nhất để đánh giá một kẻ sĩ quân tử là sự hiểu biết và quyết tâm thi hành đạo lý
một cách hiệu quả “người quân tử ăn không cầu no, ở không cầu yên”, “ kẻ sĩ
để chí và đạo mà còn xấu hổ về áo rách cơm thô thì chưa đủ tư cách để cùng người quân tử bàn luận”[12,273] Đối với Khổng Tử, sự giàu sang không dựa
trên cơ sở đạo mà có được thì không nên có, một người quân tử đã kiên trì
thực hiên đạo lý thì phải có thái độ “nghèo mà không oán giận” và sẵn sàng
hi sinh vì nghĩa lớn Sau này, Mạnh Tử nhấn mạnh “ sống là điều ta ham
muốn nghĩa cũng là điều ta ham muốn Hai điều đó không thể giữ được cả hai thì ta bỏ mạng sống để giữ điều nghĩa vậy” (Mạnh Tử - Cáo Thượng)
Đã là người quân tử thì phải giữ cái danh của mình cho trong sáng,
Khổng Tử nói: “ Thân mình chính được thì không phải hạ lệnh mọi việc vẫn
được tiến hành Thân mình mà không chính được thì có hạ lệnh cũng không ai theo”[Luận ngữ - Tử Lộ] Có lấy bản thân làm phép tắc, làm gương cảm hóa
nhân cách thì mọi việc mới được dễ dàng Chính vì vậy, bản thân người thầy cũng luôn phải học hỏi trau dồi tri thức và hoàn thiện nhân cách của chính mình Điều đó thể hiện tinh thần vì đạo mà học không biết chán, dạy không biết mỏi mà bản thân Khổng Tử và các nhà Nho sau này thực hiện Và cũng chính nhờ nguyên tắc này mà Nho giáo đã được truyền bá hết sức rộng rãi
Trang 30- Thứ nhất: Học kết hợp với tư
“Học” theo từ gốc là bắt chiếc, bắt chước nghĩa là nói và làm giống y theo người khác, người khác có thể là con người cụ thể, có thể là sách, là kinh
nghiệm của nhiều bậc thầy, của nhiều con người “tiên tri”, “tiên giác”
Khổng Tử và các đồ đệ của ông không coi thường học với nghĩa là bắt chước, nhưng ở Khổng Tử không coi học là sự bắt chiếc giản đơn Vì học là do mình
cầu ở mình chứ không phải do người, cầu ở người “Học mà không tư là vu
vơ, tư mà không học là càn quấy”(Luận ngữ- Vi chính) Một điểm nữa cần
nói về thái độ học tập là sự nghiêm chỉnh thành khẩn trong học tập Ở thiên
Học nhi trong cuốn Luận ngữ có câu: “Người quân tử không trọng thì không
uy, học sẽ không vững chắc” Đã học thì phải trịnh trọng, tiếp thu cho vững
chắc, không thể học theo lối tùy hứng, bông đùa Tề Dư vốn là một trong những đệ tử xuất sắc của Khổng Tử thế mà một hôm chỉ vì ngủ giữa ban ngày
trong lúc Khổng Tử giảng bài đã bị mắng thật nặng lời, coi như là một “miếng
gỗ mục nát không còn trạm trổ gì được, một tấm phên trát bằng phân không thể tô vẽ gì được”
Tư theo Khổng Tử là suy nghĩ, là loại suy và suy diễn, cụ thể là từ cái này suy ra cái khác, từ cái biết được rồi suy ra cái cần phải học Nhấn mạnh tư duy suy diễn trong học tập Khổng Tử dùng một hình tượng dễ hiểu và dễ nhớ:
“ Chỉ ra một góc rồi mà không nêu lại ra được ba góc kia thì thôi vậy”(Luận
Trang 31ngữ- Thiên Thuật nhi) Trong trường hợp của Thánh Khổng năng lực suy ra
mà biết là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá người học Sách Luận Ngữ
kể lại rằng Tử Cống thường hay so sánh với người khác Một hôm Phu Tử hỏi
Tử Cống: “ Tứ kia với Hồi (Nhan Uyên) thì ai hơn ?” Tử Cống thưa: “ Tứ này
đâu dám sánh với Hồi Hồi nghe một mà biết mười Tứ nghe một chỉ biết hai,
Tứ đâu dám sánh với Hồi” Trong phương pháp này Khổng Tử phần nào chú
ý đến nhận thức con người trong mối quan hệ giữa học và tư Theo ông nếu chỉ chú trọng học thuộc thi, thư, lễ, nhạc mà không suy nghĩ tìm tòi cảm thụ thì sẽ không hiểu giá trị nhân văn và tính nghệ thuật của nó Nhưng suy nghĩ
mà không học sẽ mất đi tính xác thực của lễ giáo mà dẫn đến mất phương hướng Chính vì thế học và tư là không thể tách rời nhau và là 2 hoạt động bổ trợ cho nhau Đây là luận điểm quan trọng trong phương pháp giáo dục của Nho giáo
- Thứ 2: Kết hợp chặt chẽ giữa học và tập
Khổng Tử rất coi trọng việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn Ông muốn các đệ tử của mình học đến đâu thì tập ngay đến đó, học điều gì thì tập ngay
điều đó Ngay trong câu mở đầu của tác phẩm Luận Ngữ: “ Học mà tập cho
kịp thời đúng lúc chẳng phải là thích thú ư ?” Tập theo đúng nghĩa của nó,
cũng là bắt chước con chim non tập bay, chữ tập trong chữ Hán thuộc bộ vũ là lông chim xét ra có hàm ý như vậy Suy rộng ra cứ cố gắng làm theo người khác từ chỗ ban đầu vụng về luống cuống đến chỗ dần thành thạo như người
ta thì gọi là tập
Thấu suốt tư tưởng của Khổng Tử, các đệ tử ưu tú của Nho giáo cũng rất coi trọng tập Tăng Sâm một trong hai người học trò xuất sắc nhất của Khổng
Tử, tác giả cuốn Đại Học nói rằng mỗi ngày có ba điều tự kiểm điểm trong đó
có một điều là: “Có điều gì thầy truyền cho mà không tập chăng ?” Nói một
Trang 32cách khác: có điều gì được học với thầy mà lại tập không kịp thời và đúng lúc chăng? Rõ ràng tập là một điều rất quan trọng Đối với học không tập, học không thể hoàn thành
Tử nói: “Đọc ba trăm bài kinh không đạt sai đi bốn phương tám hướng mà
không biết đối phó thì học nhiều để làm gì ?”[Luận Ngữ - Tử Lộ] Khổng Tử
khi nói đến tri, đã phân xã hội thành ba hạng người khác nhau: “có người sinh
ra mà biết”, “có người do học mà biết”, “có người do khó khăn khốn khổ mà biết”, “có người cứ yên vậy mà làm”, “có người do lợi mà làm” Dù mức độ
cố gắng là khác nhau, song đến khi đã đạt kết quả thì đều như nhau đều là một Cho nên trong toàn bộ xã hội, đại bộ phận là những người có thể học và vượt qua khó khăn khốn khổ để biết đạo, mặt khác cũng đại bộ phận là có thể hiểu lợi ích và gắng gượng thành đạo
- Thứ 4: Phương pháp “ôn cố tri tân”
Khổng Tử nói: “ôn cũ mà biết mới thì có thể làm thầy được” [Luận Ngữ-
Vi chính] nghĩa là người nào ôn lại những điều đã học, do đó mà biết thêm những điều mới, người ấy có thể làm thầy thiên hạ Có thể xem phương pháp này xuất phát từ tinh thần “Hiếu cổ” của Khổng Tử, cũng là yêu cầu của xã hội lúc bấy giờ, Khổng Tử luôn mong muốn quay trở lại nghi lễ, đạo đức thời Tây Chu mà làm theo những gì tốt đẹp của người xưa Chính quan niệm này
đã chi phối quá trình học tập và giảng dạy của Khổng Tử Khổng Tử đã nêu
lên nguyên tắc giáo dục kinh điển của Nho giáo “ thuật nhi bất tác” tức là