1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận luật đầu tư trong tình hình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa

39 565 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 243 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về những hình thức đầu tư như: thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhàđầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; thành lập tổ chức kinh tếliên doanh giữa các nhà đầu t

Trang 1

Nội dung chính của bài thuyết trình gồm 3 chương:

Chương 1: Tìm hiểu bối cảnh ra đời và khái quát về luật đầu tư.

Chương 2: Ảnh hưởng của luật đầu tư 2005 đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước

ngoài ở các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện luật đầu tư trong tình hình hội

nhập quốc tế và toàn cầu hóa

CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ KHÁI QUÁT

Trang 2

VỀ LUẬT ĐẦU TƯ 1.1 Bối cảnh ra đời và nguồn gốc của luật đầu tư 2005.

Luật Đầu tư 2005 ra đời trong bối cảnh có xu hướng về việc hợp nhất các luậtliên quan đến doanh nghiệp và đầu tư Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệpNhà nước 2003 và một phần Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 đã được hợpnhất thành Luật Doanh nghiệp 2005 (thường được gọi là Luật Doanh nghiệp thốngnhất) Trong bối cảnh ấy, việc thống nhất Luật Đầu tư dường như đã là một xu hướngkhông thể đảo ngược tại thời điểm Luật Đầu tư 2005 ra đời

Luật Đầu tư 2005 (thường được gọi là Luật Đầu tư chung) được cho là kế thừaLuật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước

1994 Nhưng dường như khi thống nhất các luật trên, Luật Đầu tư 2005 đã không

“chiết” được cái tinh túy nhất từ các luật này, mà mới chỉ “cộng” các luật này vớinhau

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 quy định chủ yếu về cách thức tổchức thành lập, hoạt động, giải thể của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Vềbản chất, nó là một bộ phận của pháp luật về tổ chức doanh nghiệp hay nói cách khác,

là một “Luật Doanh nghiệp con” áp dụng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trong khi đó, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 1994 lại tập trung vào cácchính sách và thủ tục về ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp trong nước – tức là luật về nộidung chứ không phải luật về tổ chức như Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987

Do phạm vi điều chỉnh của các luật này là khác nhau, không thể chỉ căn cứ vàotên gọi mà gom Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 và Luật Khuyến khích đầu

tư trong nước 1994 thành Luật Đầu tư (chung) một cách máy móc Đáng lẽ ra, các vấn

đề tổ chức, thành lập, hoạt động của doanh nghiệp trong Luật Đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam 1987 cần được chuyển sang Luật Doanh nghiệp, còn quy định về chính sáchđầu tư, khuyến khích đầu tư cần được chuyển sang một luật về khuyến khích đầu tưchung Nghĩa là, nếu được sắp xếp hợp lý, chúng ta cần có Luật Doanh nghiệp (thốngnhất) và Luật Khuyến Khích đầu tư (chung)

1.2 Nội dung cơ bản của luật đầu tư.

Trang 3

1.2.1 Quy định chung.

Về việc áp dụng pháp luật, Luật Đầu tư và quy định trường hợp pháp luật ViệtNam được ban hành sau khi Việt Nam là thành viên của các điều ước quốc tế có quyđịnh thuận lợi hơn so với điều ước quốc tế thì nhà đầu tư có quyền lựa chọn việc ápdụng theo điều ước quốc tế hoặc pháp luật Việt Nam

Ngoài ra, nhằm đảm bảo khả năng bao quát, không chồng lấn với các luậtchuyên ngành, Luật Đầu tư quy định hoạt động đầu tư đặc thù được quy định trongpháp luật chuyên ngành thì áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó.Quy định như vậy nhằm đảm bảo thực tế có một số luật chuyên ngành quy định vềchứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng, tài chính đã và đang được thực hiện theo pháp luậtchuyên ngành

Về giải thích từ ngữ, Luật Đầu tư đã bổ sung các thuật ngữ dự án đầu tư mới,

dự án đầu tư mở rộng để nhà đầu tư biết rõ trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tưcủa mình mà có liên quan đến ưu đãi đầu tư

1.2.2 Về hình thức đầu tư.

Về những hình thức đầu tư như: thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhàđầu tư trong nước hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; thành lập tổ chức kinh tếliên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; đầu tư theo hìnhthức hợp đồng BBC, hợp đồng BOT, hợp đồng BT; đầu tư phát triển kinh doanh; mua

cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư; và đầu tư thực hiện việcsát nhập và mua lại doanh nghiệp Nhà đầu tư được đầu tư để thành lập tổ chức kinh tếbằng 100% vốn của mình, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tạiViệt Nam được hợp tác với nhau và hoặc với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thànhlập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới theo quy định của pháp luật vềdoanh nghiệp Nhà đầu tư cũng có thể đầu tư thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữanhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh trên đượctiếp tục liên doanh với nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thànhlập tổ chức kinh tế mới theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liênquan

Đối với hoạt động đầu tư thành lập tổ chức kinh tế để thực hiện dự án đầu tư,Luật Đầu tư quy định: nhà đầu tư trong nước có dự án đầu tư gắn với việc thành lập tổ

Trang 4

chức kinh tế thì thực hiện việc đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanhnghiệp, pháp luật có liên quan và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định của Luật Đầu

Bên cạnh đó, Luật Đầu tư còn quy định nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tưvào Việt Nam phải có dự án đầu tư và thực hiện thủ tục đầu tư để được cấp Giấychứng nhận đầu tư; Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh Một điểm khác so với quy định trước đây, được coi là điểm mở rất thoáng

và mới đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, đó là: đối với nhà đầu tư nước ngoài đãđược cấp Giấy chứng nhận đầu tư tại Việt Nam, nếu nhà đầu tư có dự án đầu tư mới

mà không thành lập pháp nhân mới thì chỉ thực hiện thủ tục đầu tư để được cấp Giấychứng nhận đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư; nếu nhà đầu tư có dự án đầu tư mớigắn với việc thành lập pháp nhân mới thì thực hiện thủ tục thành lập tổ chức kinh tế vàthủ tục đầu tư theo quy định như đối với đầu tư trong nước

Ngoài ra, để đảm bảo tính linh hoạt của hoạt động đầu tư của nhà đầu tư, phápluật đầu tư có quy định về chuyển đổi hình thức đầu tư của doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình hoạt động của mìnhđược tự do chuyển đổi giữa các hình thức đầu tư cho phù hợp với tình hình sản xuấtkinh doanh mà không bị cấm hoặc hạn chế, từ hình thức công ty TNHH sang công ty

cổ phần hoặc ngược lại, từ công ty hợp doanh sang công ty cổ phần hoặc TNHH vàngược lại

1.2.3 Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư.

Luật Đầu tư đã cụ thể hóa những nội dung về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư,theo đó, nhà đầu tư có quyền tự chủ đầu tư kinh doanh, quyền tiếp cận các nguồn lựcđầu tư, sử dụng nguồn vốn tín dụng, đất đai và tài nguyên, quyền sử dụng lao động,quyền mở tài khoản và mua ngoại tệ, quyền xuất khẩu, nhập khẩu, quảng cáo, giacông, gia công lại,

Ngoài ra, pháp luật đầu tư lần này là đã mở cửa thị trường đầu tư phù hợp vớicam kết quốc tế, theo đó không bắt buộc nhà đầu tư phải thực hiện các yêu cầu như: ưutiên mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ trong nước hoặc phải mua hàng hóa, dịch vụ từnhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhất định trong nước; xuất khẩu hàng hóa, hoặcxuất khẩu dịch vụ đạt một tỷ lệ nhất định; hạn chế số lượng, giá trị, loại hàng hóa và

Trang 5

dịch vụ xuất khẩu hoặc sản xuất, cung ứng trong nước; nhập khẩu hàng hóa với sốlượng và giá trị tương ứng với số lượng và giá trị hàng hóa xuất khẩu hoặc phải tự cânđối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu; đạt được tỷ lệ nội địahóa nhất định trong hàng hóa sản xuất; đạt được một mức độ nhất định hoặc giá trịnhất định trong hoạt động nghiên cứu và phát triển ở trong nước; cung cấp hàng hóa,dịch vụ tại một địa điểm cụ thể ở trong nước hoặc nước ngoài; đặt trụ sở chính tại mộtđịa điểm cụ thể.

1.2.4 Lĩnh vực, địa bàn ưu đãi và hỗ trợ đầu tư.

Về lĩnh vực ưu đãi và địa bàn ưu đãi đầu tư ban hành kèm được xây dựng trên

cơ sở kế thừa và thay thế các danh mục lĩnh vực và địa bàn ưu đãi đầu tư đã ban hànhkèm theo các Nghị định như: Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 quy địnhhướng dẫn thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (đã được sửa đổi bổ sung tạiNghị định 27/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003), Nghị định 164/2003/NĐ-CP ngày22/12/2003, và Nghị định 152 về thuế thu nhập doanh nghiệp, Nghị định149/2005/NĐ-CP ngày 06/12/2005 về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để vừa đảm bảokhông gây xáo trộn lớn đối với quyền lợi của nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư đãhoạt động đầu tư, vừa không ưu đãi tràn lan Đồng thời, việc ưu đãi đầu tư bảo đảmkhông trái với các điều cấm quy định trong các điều ước quốc tế và các quy định củaWTO mà Việt Nam đã cam kết loại bỏ từ thời điểm gia nhập

Theo đó, lĩnh vực đầu tư ưu đãi tập trung các ngành sản xuất vật liệu mới, nănglượng mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ tin học, công nghệ thông tin; pháttriển nuôi trồng, chế biến nông, lâm, hải sản, bảo vệ môi trường; nghiên cứu phát triển

và ươm tạo công nghệ cao, đầu tư vào nghiên cứu phát triển, sử dụng nhiều lao động

và phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp v v Còn địa bàn ưu đãi đầu tư đượcthiết kế áp dụng cho các địa phương dựa trên các tiêu chí về thu nhập kinh tế quốc dân,

về tỷ lệ đói nghèo, về cơ sở hạ tầng, về mức độ tăng trưởng công nghiệp, về chính sáchphát triển vùng và hài hòa các vùng

Về áp dụng ưu đãi đầu tư, Luật Đầu tư quy định: nhà đầu tư đang hưởng ưu đãitheo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Đầu tư nước ngoài, LuậtHợp tác xã và các Luật thuế thì tiếp tục được hưởng các ưu đãi đầu tư theo Giấy chứngnhận ưu đãi đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư đã cấp Đối với dự án đầu tư thực hiện trước

Trang 6

ngày Luật Đầu tư có hiệu lực thuộc đối tượng ưu đãi đầu tư quy định tại thì nhà đầu tưđược hưởng ưu đãi đầu tư cho thời gian ưu đãi còn lại kể từ ngày có hiệu lực.

Để đảm bảo lợi ích cho nhà đầu tư, Luật Đầu tư có quy định: trường hợp phápluật, chính sách mới được ban hành có các quyền lợi và ưu đãi cao hơn so với quyềnlợi và ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được hưởng cácquyền lợi, ưu đãi cho thời gian ưu đãi còn lại (nếu có) theo quy định mới kể từ ngàypháp luật, chính sách mới có hiệu lực

Tuy nhiên, Luật đầu tư cũng quy định: nếu các ưu đãi trên trái với cam kếttrong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì thực hiện theo quy định củađiều ước quốc tế Các ưu đãi đầu tư được ghi vào Giấy chứng nhận đầu tư nhằm bảođảm cho nhà đầu tư yên tâm khi thực hiện hoạt động đầu tư của mình

Ngoài ra, Luật Đầu tư có quy định về điều chỉnh, bổ sung ưu đãi đầu tư Theo

đó trong quá trình thực hiện dự án đầu tư, nếu nhà đầu tư đáp ứng điều kiện hưởng ưuđãi đầu tư thì có quyền đề nghị cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh, bổsung ưu đãi đầu tư trong Giấy chứng nhận đầu tư đã cấp.Trong quá trình thực hiện dự

án đầu tư, nếu thực tế nhà đầu tư không đạt điều kiện để được hưởng ưu đãi đầu tư thìkhông được hưởng ưu đãi đầu tư

Về hỗ trợ đầu tư: các hỗ trợ đầu tư về chuyển giao công nghệ, đào tạo, tư vấnđầu tư, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng KCN, KCX được tiếp tục cụ thể hóa hơn trongLuật Đầu tư và Nghị định 108

Về lĩnh vực đầu tư có điều kiện quy định trong Luật Đầu tư là các điều kiện gianhập thị trường mà nhà đầu tư phải đáp ứng, không bao gồm các điều kiện hoạt động

mà nhà đầu tư phải bảo đảm trong quá trình hoạt động kinh doanh Các lĩnh vực đầu tư

có điều kiện này phải tuân thủ các quy định về lĩnh vực đầu tư có điều kiện quy địnhtại Điều 29 của Luật Đầu tư và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật có liênquan chủ yếu là lĩnh vực đầu tư có tác động đến trật tự an toàn xã hội, an toàn tàichính, một số lĩnh vực dịch vụ đặc thù liên quan đến mở cửa thị trường và các lĩnh vực

có tác động rộng rãi đến cộng đồng Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãiđầu tư là cơ sở chung, thống nhất cho việc áp dụng các chính sách ưu đãi đầu tư

Về lĩnh vực cấm đầu tư, Luật Đầu tư quy định cụ thể dự án gây phương hại đếnquốc phòng, an ninh quốc gia và lợi ích của công cộng, về dự án gây phương hại đến

Trang 7

di tích lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của Việt Nam, dự án gây tổn hạiđến sức khỏe nhân dân, làm hủy hoạt tài nguyên, phá hủy môi trường và các dự án xử

lý phế thải độc hại đưa từ bên ngoài vào Việt Nam; sản xuất các loại hóa chất độc hạihoặc sử dụng tác nhân độc hại bị cấm theo điều ước quốc tế

1.2.5 Về thủ tục đầu tư trực tiếp.

Luật Đầu tư là phân cấp mạnh cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lýKCN, KCX, KCNC và KKT (sau đây gọi là ban quản lý) cấp Giấy chứng nhận đầu tưcũng như quản lý hoạt động đầu tư, đồng thời giảm bớt những dự án phải trình Thủtướng Chính phủ Nếu phải trình thì Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận về mặtnguyên tắc đối với mốt số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch hoặc chưa có quyhoạch Những dự án đã có trong quy hoạch được duyệt và đáp ứng các điều kiện theoquy định của pháp luật và điều ước quốc tế thì UBND cấp tỉnh và Ban quản lý cấpGiấy chứng nhận đầu tư mà không phải trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủtrương đầu tư Các dự án còn lại sẽ do UBND cấp tỉnh và ban quản lý tự quyết định vàcấp Giấy chứng nhận đầu tư

Đối với các dự án đầu tư không nằm trong quy hoạch đã được Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt hoặc ủy quyền phê duyệt hoặc dự án không đáp ứng điều kiện mở cửathị trường quy định tại điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thì cơ quan cấpgiấy chứng nhận đầu tư chủ trì, lấy ý kiến bộ quản lý ngành, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

và các cơ quan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc điều chỉnh, bổsung quy hoạch hoặc quyết định mở cửa thị trường Đối với dự án đầu tư thuộc lĩnhvực chưa có quy hoạch, thì cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư lấy ý kiến của các cơquan có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư

Luật là thủ tục đầu tư được thiết kế đơn giản và thuận lợi cho các nhà đầu tư.Theo đó, dự án được phân chia thành hai loại: đăng ký đầu tư và thẩm tra đầu tư.Đối với dự án đầu tư trong nước dưới 15 tỷ đồng Việt Nam và không thuộc lĩnh vựcđầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư và cũngkhông cấp Giấy chứng nhận đầu tư

Đối với dự án đầu tư trong nước có quy mô đầu tư từ 15 tỷ đồng Việt Nam đếndưới 300 tỷ đồng Việt Nam mà không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện, nhà đầu tưchỉ cần đăng ký đầu tư theo mẫu trước khi thực hiện dự án mà không cần phải có Giấy

Trang 8

chứng nhận đầu tư, trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu, cơ quan nhà nước quản lý đầu

tư sẽ cấp Giấy chứng nhận đầu tư

Đối với dự án đầu tư nước ngoài có quy mô vốn dưới 300 tỷ đồng Việt Nam vàkhông thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện, nhà đầu tư chỉ cần đăng ký đầu tư theo mẫu

để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản đăng

Pháp luật đầu tư quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vàoViệt Nam phải có dự án đầu tư Trường hợp đã thành lập tổ chức kinh tế mà có nhucầu thực hiện dự án đầu tư tiếp theo thì không phải thành lập tổ chức kinh tế mới Đốivới đầu tư trong nước thì khi thành lập tổ chức kinh tế không cần phải có dự án Đây làđiểm khác biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, điểm khác biệt này là cầnthiết bởi đầu tư nước ngoài cần phải thực hiện theo lộ trình mở cửa thị trường trongcác điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Nhằm thực hiện cải cách hành chính đối với hoạt động đầu tư quy định trườnghợp dự án đầu tư gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thì thủ tục đầu tư được làmđồng thời với thủ tục đăng ký kinh doanh Trong Giấy chứng nhận đầu tư bao gồm cảcác nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp Trong trườnghợp này Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vàcũng ðýợc gửi cho cõ quan quản lý kinh doanh để quản lý chung về đăng ký kinhdoanh

Đối với việc điều chỉnh dự án đầu tư, Luật Đầu tư quy định khi điều chỉnh dự

án đầu tư liên quan đến mục tiêu, quy mô, địa điểm, hình thức, vốn và thời hạn thựchiện dự án ðầu tý, nhà ðầu tý phải làm thủ tục tại cõ quan tiếp nhận hồ sõ ðể làm thủ

Trang 9

tục ðiều chỉnh Giấy chứng nhận ðầu tý Việc ðiều chỉnh dự án ðầu tý ðýợc thực hiệntheo quy trình đăng ký điều chỉnh dự án đầu tư hoặc thẩm tra điều chỉnh dự án đầu tư.

1.2.6 Đầu tư kinh doanh bằng vốn Nhà nước.

Nhằm cụ thể hóa các quy định về đầu tư, kinh doanh bằng vốn Nhà nước, phápluật đầu tư có quy định một số các nguyên tắc về thủ tục sử dụng vốn Nhà nước để đầu

tư kinh doanh (vốn ngân sách Nhà nước; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước;vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước).Các quy định này chỉ đề cập đến giai đoạn quyết định bỏ vốn của Nhà nước để đầu tưkinh doanh Sau khi quyết định bỏ vốn đầu tư kinh doanh, các doanh nghiệp thực hiệncác hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật có liên quan

Các quy định về thủ tục sử dụng vốn Nhà nước để đầu tư kinh doanh bao gồmthủ tục về thẩm định, chấp thuận việc bỏ vốn Nhà nước để đầu tư kinh doanh theonguyên tắc:

- Cơ quan trực tiếp quản lý vốn ngân sách Nhà nước (bộ hoặc ủy ban nhân dâncấp tỉnh) sẽ tổ chức thẩm định và chấp nhận việc bỏ vốn đối với dự án sử dụng vốnngân sách nhà nước

- Cơ quan trực tiếp quản lý quỹ tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước sẽ thẩmđịnh và chấp thuận việc bỏ vốn đầu tư của Nhà nước đối với dự án sử dụng vốn tíndụng đầu tư phát triển của Nhà nước

- Bộ Tài chính tổ chức thẩm định và chấp thuận bỏ vốn đầu tư của Nhà nướcđối với dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh

- Hội đồng quản trị tập đoàn hoặc tổng công ty, giám đốc (trường hợp doanhnghiệp không có Hội đồng quản trị) thẩm định chấp thuận việc bỏ vốn đối với dự ánđầu tư sử dụng nguồn vốn đầu tư phát triển

- Tổng công ty đầu tư kinh doanh vốn Nhà nước thẩm định chấp thuận việc sửdụng vốn Nhà nước để đầu tư theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

1.2.7 Về triển khai thực hiện dự án đầu tư.

Về triển khai thực hiện dự án đầu tư, nhằm bám sát các vấn đề thực tế đã nảysinh trong hoạt động đầu tư để làm rõ mối quan hệ giữa hoạt động đầu tư và hoạt độngxây dựng, Luật Đầu tư quy định khi triển khai thực hiện dự án đầu tư có xây dựng

Trang 10

công trình phải tuân thủ quy định về quản lý xây dựng của pháp luật xây dựng Trongquá trình hoạt động đầu tư kinh doanh nếu có công trình xây dựng thì nhà đầu tư phảituân thủ các quy định về kiến trúc, khảo sát thiết kế, giấy phép xây dựng, tuân thủ cácquy trình về thi công, bảo đảm an toàn công trình và tuân thủ các quy định về giám sát

và kiểm tra xây dựng Các hoạt động này được thực hiện sau quá trình bỏ vốn và triểnkhai thực hiện hoạt động đầu tư

Đối với hoạt động thuê quản lý, nhà đầu tư được chủ động trong việc thuê tổchức, cá nhân để quản lý dự án mà không cần phải được sự chấp thuận của cơ quancấp Giấy chứng nhận đầu tư như quy định trước đây Luật Đầu tư còn quy định vềtrình tự, hồ sơ đối với chuyển nhượng vốn và chuyển nhượng dự án Quy định vềchuyển nhượng dự án của Luật đầu lần này Quy định về chuyển nhượng dự án nhằmpháp luật hóa hoạt động chuyển nhượng dự án đã diễn ra khá nhiều trong thời gian vừaqua và tránh gây lãng phí các nguồn lực đã đầu tư

Về điều chỉnh dự án đầu tư, Luật Đầu tư quy định trong quá trình hoạt động nếunhà đầu tư có điều chỉnh về mục tiêu, quy mô, địa điểm, vốn, hình thức và thời hạnđầu tư thì phải làm thủ tục điều chỉnh theo quy định đăng ký hoặc thẩm tra đầu tư

1.2.8 Về quản lý nhà nước về đầu tư.

Luật Đầu tư quy định cụ thể quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan quản

lý nhà nước về đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên vàMôi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Xây dựng, các bộ, ngành kinh tế kỹ thuật,UBND cấp tỉnh và Ban quản lý, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm củaUBND cấp tỉnh trong quản lý hoạt động đầu tư UBND cấp tỉnh là một đơn vị hànhchính của Trung ương tại địa phương, ủy ban nhân dân sẽ thực hiện chức năng quản lýtoàn diện về phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trong đó có cấp Giấy chứngnhận đầu tư và quản lý hoạt động đầu tư trên địa bàn

Cùng với việc phân cấp mạnh cho UBND cấp tỉnh và Ban quản lý, chức năngquản lý của nhà nước của Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ yếu tập trung vào công tác xâydựng chính sách pháp luật, theo dõi, kiểm tra, thanh tra, giám sát và hỗ trợ cho hoạtđộng đầu tư, chủ trì thực hiện hoạt động xúc tiến đầu tư trên quy mô toàn quốc, chủ trìphối hợp, tham gia soạn thảo các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động đầu tư; tổ

Trang 11

chức hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, tăng cường năng lực quản lý đầu tư cho

cơ quan quản lý đầu tư các cấp

1.2.9 Áp dụng đối với dự án đầu tư thực hiện trước ngày 1/7/2006.

Để đảm bảo các hoạt động đầu tư không bị xáo trộn, Luật Đầu tư quy định các

dự án đầu tư trong nước và dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã thực hiện hoặc cấpGiấy phép đầu tư trước khi Luật Đầu tư có hiệu lực không phải làm thủ tục đăng kýhoặc thẩm tra đầu tư; nếu nhà đầu tư có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận đầu tư thì đăng

ký tại cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đầu tư và không phải làm thủ tục

về thẩm tra đầu tư (nếu dự án thuộc diện thẩm tra đầu tư)

CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA LUẬT ĐẦU TƯ 2005 ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT TẠI VIỆT NAM

2.1 Vài nét về khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam.

2.1.1 Khu chế xuất

Với tính chất là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, đứng ngoài chế độ mậudịch và thuế quan của một nước, ngày nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khu chếxuất, và do đó, có nhiều định nghĩa khác nhau về mô hình kinh tế này

Trang 12

- Định nghĩa của Hiệp hội các khu chế xuất thế giới( WEPZA): Theo điều lệhoạt động của WEPZA, khu chế xuất bao gồm tất cả các khu vực được Chính phủ cácnước cho phép như cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu công nghiệp tự do hoặc bất kìkhu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được WEPZA công nhận Định nghĩa này về

cơ bản đồng nhất khu chế xuất với khu vực miễn thuế Theo định nghĩa này, có thể xếpHồng Kông và Singapo vào các khu chế xuất

- Định nghĩa của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc( UNIDO):Theo UNIDO, khu chế xuất là "khu vực được giới hạn về hành chính, có khi về địa lý,được hưởng một chế độ thuế quan cho phép tự do nhập khẩu trang bị và sản phẩmnhằm mục đích sản xuất sản phẩm xuất khẩu Chế độ thuế quan được ban hành cùngvới những qui định luật pháp ưu đãi, chủ yếu về thuế nhằm thu hút đầu tư nước ngoài."Khái niệm khu chế xuất bao hàm viêc thành lập các nhà máy hiện đại trong một khucông nghệp và một loạt những ưu đãi nhằm khuyến khích việc đầu tư của các nhà kinhdoanh nước ngoài vào nước sở tại Với định nghĩa hẹp nói trên của UNIDO, về bảnchất hoạt động kinh tế khu chế xuất khác với khu mậu dịch tự do, cảng tự do Bởi hoạtđộng chính trong khu chế xuất là sản xuất công nghiệp, mặc dù trên thực tế các hoạtđộng kinh doanh cũng được thực hiện tại một số khu chế xuất

- Định nghĩa của Việt Nam: Theo Qui chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khucông nghệ cao- ban hành kèm theo Nghị định số 36/ CP ngày 24/ 4/ 1997, khu chếxuất là "khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàngxuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinhsống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập” Như vậy, về cơbản, khu chế xuất ở Việt Nam cũng được hiểu theo như định nghĩa hẹp của UNIDO

2.1.2 Khu công nghiệp:

Tuỳ điều kiện từng nước mà Khu công nghiệp có những nội dung hoạt độngkinh tế khác nhau Nhưng tựu trung lại, hiện nay trên thế giới có hai mô hình phát triểnKhu công nghiệp, cũng từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về khu công nghiệp

- Định nghĩa 1: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản

xuất công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất côngnghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở Khucông nghiệp theo quan niệm này về thực chất là khu hành chính - kinh tế đặc biệt như

Trang 13

khu công nghiệp Batam Indonesia, các công viên công nghiêp ở Đài Loan, Thái Lan

và một số nước Tây Âu

- Định nghĩa 2: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở

đó tập trung các doanh nghiệp công nghệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không códân cư sinh sống Đi theo quan niệm này, ở một số nước như Malaixia, Indonesia,Thái Lan, Đài Loan đã hình thành nhiều khu công nghiệp với qui mô khác nhau -Định nghĩa của Việt Nam: Theo Qui chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu côngnghệ cao - ban hành kèm theo Nghị định số 36/ CP ngày 24/ 4/ 1997, khu công nghiệp

là "khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng côngnghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định,kông có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thànhlập Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất" Như vậy, khu côngnghiệp ở Việt Nam được hiểu giống với định nghĩa hai

2.1.3 Sự giống và khác nhau giữa KCN, KCX

a Giống nhau:

- Một là, qui mô khu chế xuất và khu công nghiệp gần như nhau, khoảng mộtvài trăm ha Thí dụ diện tích khu chế xuất Tân Thuận là 300 ha, khu chế xuất LinhTrung là 60 ha, khu chế xuất Hải Phòng là 100 ha; diện tích khu công nghiệp Biên Hoà

là 365 ha, khu công nghiệp Nội Bài là 100 ha, khu công nghiệp Sài Đồng là 97 ha

- Hai là, các doanh nghiệp trong khu chế xuất và khu công nghiệp chủ yếu cóqui mô vừa và nhỏ, thường dưới 5 triệu đôla, với số lao động khoảng từ 300 đến 400người Những ngành nghề đặc trưng trong khu chế xuất và khu công nghiệp là: điện

tử, sợi dệt, may mặc, chế biến thực phẩm, hàng tiêu dùng, cơ khí chế tạo, các ngànhkhông gây ô nhiễm môi trường hoặc gây ô nhiễm ít có thể xử lí bằng các biện pháp vàphương tiện trong khu

- Ba là, đối tượng đầu tư trong khu chế xuất và khu công nghiệp là các tổ chứckinh tế và cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nướcngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam, các tổ chức kinh tế và cá nhân ở nước ngoài

Trang 14

- Bốn là, về hình thức đầu tư, trong khu chế xuất và khu công nghiệp đượcthành lập doanh nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư, doanh nghiệp liên doanh, hợp táckinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh.

- Năm là, để xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu chế xuất và khu côngnghiệp, có thể dùng phương thức trong nước tự đầu tư hoặc kêu gọi đầu tư trực tiếpcủa nước ngoài theo hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài

- Sáu là, để quản lí Nhà nước đối với khu chế xuất và khu công nghiệp, Thủtướng Chính phủ thành lập Ban quản lí Ban quản lí khu chế xuất và khu công nghiệp

là cơ quan thực hiện dịch vụ quản lí "một cửa" cho các nhà đầu tư

b Khác nhau:

- Thứ nhất, về mục tiêu hoạt động, doanh nghiệp khu chế xuất phải xuất khẩu

toàn bộ sản phẩm ra thị trường ngoài nước, còn doanh nghiệp khu công nghiệp đượctiêu thụ sản phẩm tại thị trường trong nước và xuất khẩu

- Thứ hai, do xuất phát từ mục tiêu khác nhau, nên có một số điều kiện ưu đãidành cho các doanh nghiệp trong khu chế xuất và khu công nghiệp cũng khác nhau.Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài ban hành vàotháng 7 năm 2000 và Nghị định số 24/ 2000/ NĐ- CP ngày 31 tháng 7 năm 2000 quiđịnh chi tiết thi hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, điều kiện ưu đãi về thuếthu nhập doanh nghiệp dành cho doanh nghiệp khu công nghiệp và doanh nghiệp khuchế xuất như sau:

+ Đối với doanh nghiệp khu chế xuất, bất kể là của chủ đầu tư trong hay ngoàinước đều được hưởng mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp cao và như nhau,doanh nghiệp sản xuất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10%, được miễn 4 năm kể từ khikinh doanh có lãi và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo; doanh nghiệp dịch vụ thuế thunhập doanh nghiệp là 15%, được miễn 2 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50%trong 3 năm tiếp theo

+ Đối với doanh nghiệp khu công nghiệp, doanh nghiệp sản xuất thuế thu nhậpdoanh nghiệp là 10% (với điều kiện xuất khẩu từ 80% sản phẩm trở lên) được miễn 4năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo, là 15% (với điều

Trang 15

kiện xuất khẩu trên 50% sản phẩm) được miễn 2 năm kể từ khi kinh doanh có lãi vàgiảm 50% trong 3 năm tiếp theo; doanh nghiệp dịch vụ thuế thu nhập doanh nghiệp là20%, được miễn 1 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 2 năm tiếp theo.

2.2 Sự phát triển của khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam.

Được hình thành và phát triển xuất phát từ chủ trương của Đảng và Chính phủtrong việc quy hoạch các vùng tập trung phát triển công nghiệp, vùng lãnh thổ kinh tếgắn với các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tạo đột phá trong phát triển công nghiệp,phát triển vùng phục vụ mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,trải qua quá trình xây dựng và phát triển, các KCN, KCX, KKT đã có những đóng góptích cực trong thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài, giải quyết việclàm, góp phần hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp,chuyển dịch cơ cấu kinh tế các địa phương và cả nước đảm bảo thực hiện mục tiêuphát triển kinh tế, thương mại gắn với bảo đảm an ninh quốc phòng trên biển, biên giới

Song hành cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, Đảng và Nhànước đã chủ trương hình thành các KCN, KCX với ý nghĩa là các trung tâm sản xuấtcông nghiệp, dịch vụ có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại Các KCN, KCX hiện đang

là điểm đến của nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới trong các lĩnh vực khác nhau với cácsản phẩm đa dạng được xuất khẩu toàn cầu, góp phần khẳng định vị thế của Việt Namtrong bản đồ địa kinh tế của khu vực và thế giới KCN, KCX đã huy động được lượngvốn đầu tư lớn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, nâng cao hiệu quả sửdụng đất, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Trong năm 2012, một số tập đoàn lớn trong KCN có sự đột biến trong tăngtrưởng về doanh thu, xuất khẩu, nhập khẩu, đặc biệt là Tập đoàn Samsung, góp phần

Trang 16

quan trọng đưa các chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp KCN tăngtrưởng cao so với cùng kỳ năm trước Kết quả, tổng doanh thu của các doanh nghiệpKCN trong năm 2012 đạt hơn trên 60 tỷ USD (tăng 57% so với năm 2011) và 86,73nghìn tỷ đồng (tăng gần 20.000 tỷ đồng so với năm 2011); kim ngạch xuất khẩu vànhập khẩu của các doanh nghiệp đạt xấp xỉ 38 tỷ USD và 37,7 tỷ USD, tăng 26% sovới năm 2011, bằng 33% so với giá trị xuất nhập khẩu của cả nước năm 2012; đónggóp vào ngân sách nhà nước 30,5 nghìn tỷ đồng và 416 triệu USD, tăng hơn 15% sovới so với cùng kỳ.

Tính đến cuối tháng 9/2012, các KCN, KCX đã thu hút được hơn 4.300 dự ánFDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 64,8 tỷ USD, tổng vốn đầu tưthực hiện đạt 32,7 tỷ USD, bằng 51% tổng vốn đầu tư đăng ký Hàng năm vốn FDIvào KCN, KCX chiếm từ 40-45% tổng vốn FDI đăng ký tăng thêm của cả nước, trong

đó các dự án FDI về sản xuất công nghiệp trong KCN, KCX chiếm gần 80% tổng vốnFDI vào ngành công nghiệp cả nước Riêng trong 9 tháng đầu năm 2012, tổng vốn FDI

đã đăng ký vào các KCN, KCX đạt 4,43 tỷ USD, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2011

Một số định hướng phát triển khu công nghiệp trong tương lai:

Để tiếp tục phát huy những thành quả đạt được, khắc phục những khó khănvướng mắc, cản trở đối với thu hút đầu tư nước ngoài vào KCN, KKT, trong thời giantới, đồng hành với những định hướng phát triển chung của nền kinh tế về tái cấu trúcđầu tư, doanh nghiệp ngân hàng, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, ổn định kinh tế vĩ

mô, kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội, phát triển nguồn nhân lực quốc gia,các KCN, KKT cần xây dựng và phát triển theo một số ðịnh hýớng cõ bản sau:

- Một, nâng cao chất lượng quy hoạch KCN, KKT

Xây dựng, triển khai quy hoạch KCN, KKT gắn với thực hiện quy hoạch pháttriển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển các ngành côngnghiệp, quy hoạch đô thị, quy hoạch khu dân cư, quy hoạch nhà ở và các quy hoạchngành khác

- Hai, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng KCN, KKT

Nâng cao chất lượng xây dựng kết cấu hạ tầng KCN theo hướng xây dựng mộtcách đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật với các tiện nghi, tiện ích công cộng phục vụ

Trang 17

cho KCN; gắn kết cấu hạ tầng trong hàng rào với ngoài hàng rào KCN Đa dạng cácnguồn vốn để đầu tư xây dựng nhà ở và các công trình tiện nghi, tiện ích phục vụ đờisống người lao động KCN.

Đối với các KKT, trong thời gian tới cần có cơ chế huy động tổng hợp cácnguồn vốn (ODA, FDI, ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ) và nhiều hình thứcđầu tư (đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, BT, BOT, PPP…) để tiếp tục đầu tư xây dựngcác công trình hạ tầng thiết yếu, quan trọng trong các KKT để tạo điều kiện đẩy mạnhthu hút đầu tư phát triển các KKT Tăng cường tính chủ động của địa phương trongviệc huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng hạ tầng KKT

Đẩy nhanh tiến độ các dự án động lực đã thu hút được và cơ sở hạ tầng kỹ thuậtthiết yếu trong các KKT để tạo tiền đề cho việc hình thành khu vực phát triển côngnghiệp nòng cốt trong các KKT và thu hút các nhà đầu tư khác

- Ba, cải thiện chất lượng thu hút đầu tư vào KCN, KKT

Tập trung ưu tiên thu hút các ngành nghề, lĩnh vực có hàm lượng công nghệtiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường, các ngành nghề xác định là mũi nhọnphát triển và có lợi thế của Việt Nam và phù hợp với chương trình tái cơ cấu kinh tế,

cơ cấu đầu tư của đất nước Tăng cường tính liên kết ngành trong phát triển KCN,KKT; hình thành các KCN liên kết ngành nhằm tăng lợi thế cạnh tranh của KCN vànâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN, dần hình thành các ngành công nghiệp phụtrợ, đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương

Bối cảnh kinh tế tại một số quốc gia trong thời gian vừa qua cũng tạo ra cơ hộicho Việt Nam trong việc kêu gọi dòng đầu tư đang dịch chuyển sang các nước ĐôngNam á, trong đó có Việt Nam, đặc biệt là các nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc Điềunày tạo cơ hội cho Việt Nam trong thu hút đầu tư nhưng cũng đặt ra thách thức choViệt Nam trong việc cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao tính hấp dẫn của Việt Namtrong quá trình cạnh tranh với các quốc gia truyền thống khác trong khu vực như TháiLan, Indonesia, Malaysia và một số quốc gia mới nổi như Campuchia, Myanma Đểđón nhận được làn sóng đầu tư nước ngoài mới, trong giai đoạn tới, Việt Nam cần phảinhanh chóng hoàn thiện các cơ chế, chính sách về đầu tư nước ngoài, hạ tầng kinh tế -

xã hội phục vụ nhà đầu tư và tăng cường hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư

- Bốn, kiểm soát chặt chẽ vấn đề môi trường

Trang 18

Tăng cường giám sát, thanh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về môi trườngtrong các KCN, KKT gắn với việc xử lý vi phạm một cách kiên quyết, dứt điểm Nângcao năng lực quản lý và kỹ thuật về môi trường cho các cơ quan liên quan đến KCN,KKT để tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý có đầy đủ nguồn lực thực hiện nhiệm

vụ về bảo vệ môi trường KCN

- Năm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động

Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm cải thiện điều kiện lao động,

hỗ trợ đời sống vật chất, tinh thần của người lao động trong KCN, KKT phù hợp vớiđiều kiện thực tế của đất nước Xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa người lao động vàngười sử dụng lao động, tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp,khuyến khích doanh nghiệp phát triển kinh doanh gắn với nâng cao trách nhiệm đốivới quyền lợi của người lao động và của cộng đồng Nghiên cứu, xây dựng chính sáchmang tính khuyến khích cao để huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng nhà ở chongười lao động KCN, KKT thuê; chú trọng huy động nguồn lực sẵn có trong dân cưgắn với kiểm soát tiêu chuẩn xây dựng, kinh doanh nhà ở cho người lao động thuê

- Sáu, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển KCN, KKT

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách hiện hành về KCN, KKT theo hướngtăng cường phân cấp, ủy quyền từ Trung ương tới địa phương, gắn chặt với cơ chếphân công trách nhiệm và phối hợp rõ ràng, minh bạch giữa các cơ quan Trung ương

và địa phương Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước ở cấp Trung ương và địa phươngđảm bảo đủ thẩm quyền và nguồn lực để quản lý các KCN, KKT theo hướng một cửa,một đầu mối và tương xứng với vai trò vị trí ngày càng quan trọng của các KCN, KKTtrong quá trình CNH, HĐH đất nước

2.3 Ảnh hưởng của luật đầu tư năm 2005 đối với đầu tư trong nước và đầu tư

nước ngoài ở các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam.

2.3.1 Thu hút đầu tư tại khu công nghiệp, khu chế xuất.

Đối với Việt Nam, để tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đòi hỏi một khốilượng vốn đầu tư rất lớn.Vốn trong nước chưa đủ để đáp ứng nhu cầu đó Do đó thuhút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN, KCX là rất quan trọng vì KCN, KCXphản ánh tiềm năng phát triển công nghiệp của mỗi nước Theo ngân hàng thế

Trang 19

giới(WB), các dự án thực hiện trong KCN, KCX do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc

do liên doanh với nước ngoài thực hiện (24% do liên doanh với nước ngoài, 33 do cácnhà đầu tư nước ngoài, 43% do đầu tư trong nước) Do vậy KCN, KCX đã góp phầnđáng kể trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho nước chủ nhà

Năm 2012, các KCN cả nước đã thu hút được 366 dự án FDI với tổng vốn đầu

tư đăng ký đạt 4.017 triệu USD và điều chỉnh tăng vốn cho 329 lượt dự án với tổngvốn đầu tư tăng thêm 2.840 triệu USD Tính chung, tổng số vốn đầu tư nước ngoài vàoKCN năm 2012 đạt 6.860 triệu USD, tăng 6% so với năm 2011, chiếm 53% tổng vốnFDI cả nước, trong đó có một số dự án lớn đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư trongnăm 2012, như: Dự án đầu tư giai đoạn 2 của Samsung tại KCN Yên Phong, tỉnh BắcNinh với tổng vốn tăng thêm 830 triệu USD; Dự án tăng vốn mở rộng sản xuất thêm

870 triệu USD của Công ty TNHH Wintex Việt Nam tại KCN Quang Châu, tỉnh BắcGiang; Dự án của Công ty TNHH sản xuất Toàn cầu LIXIL Việt Nam tại KCN LongĐức, tỉnh Đồng Nai với tổng vốn đầu tư 441 triệu USD; Dự án nhà máy sản xuất sợitại KCN Hải Yên, TP Móng Cái, Quảng Ninh của nhà đầu tư Hồng Kông với tổng vốnđầu tư 300 triệu USD; dự án Công ty TNHH Thép KYOEI Việt Nam của nhà đầu tưNhật Bản tại KCN Khánh Phú, tỉnh Ninh Bình với tổng vốn đầu tư 184,4 triệu USD.Lũy kế đến cuối năm 2012, các KCN trong cả nước đã thu hút được 4.519 dự án FDIvới tổng vốn đầu tư đăng ký 60.300 triệu USD, tổng vốn đầu tư đã thực hiện đạt32.400 triệu USD, bằng 54% tổng vốn đầu tư đăng ký Hiện nay đã có hơn 3.200 dự ánđang sản xuất kinh doanh, 450 dự án đang trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản

Tính đến thời điểm hiện tại, Bình Dương là đã có 28 khu công nghiệp đượcthành lập, trong đó 26 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích là8.400ha - là địa phương thu hút nhiều vốn FDI nhất với 2.53 tỉ USD vốn đăng ký mới

và tăng thêm chiếm 19,5% vốn đầu tư.Nhờ có hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ nênthương hiệu “KCN Bình Dương” có sức hấp dẫn mạnh đối với các nhà đầu tư

+ Các dự án FDI đầu tư vào các KCN của tỉnh Bình Dương có vốn đầu tư tươngđối khá, với mức bình quân 7,5 triệu USD/dự án Hiện đã có 33 quốc gia và vùng lãnhthổ trên thế giới có dự án đầu tư tại các KCN tỉnh Bình Dương Các quốc gia và vùnglãnh thổ có dự án lớn là: Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ… Những dự

án này có xu hướng thiên về công nghệ cao, sản xuất những sản phẩm có giá trị giatăng lớn, sức cạnh tranh mạnh.Số lượng DN đầu tư vào các KCN ở tỉnh Bình Dương

Ngày đăng: 24/07/2015, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w