Bộ công thương viện nghiên cứu thương mại Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nước phát triển kinh tế thị trường định hướng xhcn ở việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế và toàn cầu hó
Trang 1Bộ công thương
viện nghiên cứu thương mại
Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nước
phát triển kinh tế thị trường định hướng xhcn ở việt nam trong điều kiện hội nhập
kinh tế và toàn cầu hóa
Trang 2mục lục
Danh mục những chữ viết tắt 6
Mở đầu 9
Phần thứ nhất: toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tác động đến phát triển kinh tế - xã hội 14
1.1 Khái niệm, BảN CHấT CủA TOàN CầU HOá Và HộI NHậP KINH Tế quốc tế 14
1.1.1 Quan niệm về toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế 14
1.1.2 Các yếu tố chủ yếu thúc đẩy toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế 22
1.1.3 Quá trình phát triển của toàn cầu hoá kinh tế 26
1.2 TáC ĐộNG CủA Toàn cầu hoá Và Hội nhập kinh tế quốc tế ĐốI VớI PHáT TRIểN KINH Tế - Xã HộI 38
1.2.1 Tác động đến tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô 39
1.2.2 Tác động đến phát triển kinh tế thị trường 46
1.2.3 Tác động đối với việc làm, thu nhập và đói nghèo 48
1.2.4 Tác động đối với các vấn đề chính trị, văn hoá 50
1.2.5 Tác động đến môi trường tự nhiên 52
1.2.6 Tác động đối với các nước đang phát triển 55
1.2.7 Toàn cầu hoá và chủ nghĩa xã hội 59
1.3 KINH NGHIệM CủA MộT Số QUốC GIA TRONG VIệC NắM BắT CƠ HộI CủA toàn cầu hoá Và hội nhập kinh tế QUốC Tế để phát triển kinh tế 61
1.3.1 Kinh nghiệm hội nhập của các nước 61
1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm 78
Phần thứ hai: Thực trạng phát triển Kinh Tế Thị Trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa ở việt nam trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế 83
2.1 Những chủ trương, chính sách đổi mới nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong điều kiện Toàn Cầu Hoá và Hội Nhập Kinh tế quốc tế 83
2.1.1 Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế hàng hoá theo định hướng thị trường 83
2.1.2 Xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 86
2.1.3 Đổi mới chính sách kinh tế đối ngoại và mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế 91
Trang 32.2 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó đến phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở
nước ta 95
2.2.1 Quá trình thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập của nước ta trong thời gian qua 95
2.2.2 Thành tựu hội nhập kinh tế quốc tế 98
2.2.3 Tác động tiêu cực của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển kinh tế xã hội nước ta trong thời gian qua 114
2.3 Thực trạng cải cách chính sách và thể chế kinh tế thị trường nhằm chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam trong thời gian qua 121
2.3.1 Hoàn thiện cơ chế thị trường đáp ứng yêu cầu mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế 124
2.3.2 Hạn chế phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh đối với các chủ thể kinh tế 134
2.3.3 Nâng cao năng lực thể chế trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 149
2.3.4 Chính sách xã hội, môi trường 157
2.4 Đánh giá chung về quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa theo yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua 159
2.4.1 Mặt được: 159
2.4.2 Mặt hạn chế: 160
2.4.3 Nguyên nhân hạn chế 161
Phần thứ ba: Quan điểm, định hướng và giải pháp đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt nam 176
3.1 bối cảnh quốc tế và trong nước 176
3.1.1 Bối cảnh quốc tế 176
3.1.2 Bối cảnh trong nước 184
3.1.3 Dự báo một số tác động của hội nhập kinh tế đối với phát triển kinh tế Việt Nam 188
3.2 Quan điểm và định hướng đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 195
Trang 43.2.1 Quan điểm 195
3.2.2 Một số định hướng 204
3.3 Một số giải pháp đẩy mạnh hội nhập nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở việt nam 215
3.3.1 Hoàn thiện khung khổ pháp luật nước ta phù hợp với chuẩn mực quốc tế và đặc thù kinh tế, xã hội của Việt Nam 215
3.3.2 Xây dựng đồng bộ các yếu tố thị trường, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh 220
3.3.3 Đẩy mạnh cải cách các doanh nghiệp nhà nước theo hướng nâng cao tính chủ động, hiệu quả và khả năng cạnh tranh 222
3.3.4 Nâng cao năng lực cạnh tranh, hoàn thiện môi trường đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế 224
3.3.5 Phát triển nguồn nhân lực, tăng cường hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ 227
3.3.6 Chủ động và tích cực trong hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại 232
3.3.7 Xử lý các vấn đề xã hội, môi trường 235
3.3.8 Bảo đảm an ninh quốc gia 239
3.3.9 Cải cách hành chính 240
Kết luận 243
Tài liệu tham khảo 251
Phụ lục 1: Lịch trình cắt giảm thuế quan trung bình (theo
CEPT), 1996 – 2006 Error! Bookmark not defined
Phụ lục 2: Kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 1991–2004 của Việt NamError! Bookmar Phụ lục 3: Cơ cấu và nhịp độ tăng GDP theo thành phần kinh tế,
2001-2004 Error! Bookmark not defined
Phụ lục 4: Tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo đăng
ký từ 1988 đến 2004 Error! Bookmark not defined
Phụ lục 5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, tăng trưởng xuất
khẩu và GDP Error! Bookmark not defined
Phụ lục 6: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế, 2000-2004 Error! Bookmark not defin Phụ lục 7: Tỷ lệ đói nghèo, theo vùng Error! Bookmark not defined
Trang 5Các bảng số liệu
Bảng 1: Các hình thức liên kết kinh tế khu vực 21
Bảng 2: Tác động của tự do hoá thương mại đối với các chỉ số kinh tế vĩ mô một số nước, 1990-1993 41
Bảng 3: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 1991 - 2004 99
Bảng 4: Cơ cấu thị trường xuất khẩu 100
Bảng 5: Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu khu vực có vốn ĐTNN 103
Bảng 6: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội 2000-2004 103
Bảng 7: Đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu của các thành phần kinh tế thời kỳ 1995-2004 136
Bảng 8: Vị trí xếp hạng cạnh tranh của Việt Nam 167
Bảng 9: Tác động của hội nhập kinh tế đối với nền kinh tế Việt Nam 189
Bảng 10: Xu hướng tăng sản lượng theo ngành 191
Bảng 11: Xu hướng tăng xuất khẩu theo ngành 193
Trang 6Hộp
Hộp 1: Những mốc quan trọng trong chính sách tự do hoá nhằm chủ động hội nhập 93
Hộp 2: Nguyên tắc của WTO 122
Hộp 3: Cắt giảm thuế quan thực hiện AFTA và BTA với Hoa Kỳ 138
Hình
Hình 1: Luồng vốn đầu t− vào một số nền kinh tế, 1980-2003 31
Hình 2: Tần suất khủng hoảng tài chính trên thế giới, 1970-1997 36
Hình 3: Mức thuế suất nhập khẩu trung bình trên thế giới, 1980-1999 37
Trang 7Danh mục những chữ viết tắt
Viết tắt Tiếng Việt
ACFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
AICO Tổ chức hợp tác công nghiệp ASEAN
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
CAFTA Khu vực mậu dịch tự do Trung Mỹ
CEPT Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
CIEM Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương
CITES Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang
dã nguy cấp CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 8Viết tắt Tiếng Việt
GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
HDI Chỉ số phát triển con người
HNKTQT Hội nhập kinh tế quốc tế
IPPR Viện nghiên cứu chính sách công
NAFTA Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
R&D Nghiên cứu và phát triển
Trang 9Viết tắt Tiếng Việt
RTA/BFTA Liên kết thương mại tự do song phương và khu vực
SNG Cộng đồng các quốc gia độc lập
TBCN Tư bản chủ nghĩa
TBT Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại
TFP Năng suất tổng hợp các yếu tố
TLSX Tư liệu sản xuất
TRIMs Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại TRIPs Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại
UBCKNN Uỷ ban chứng khoán nhà nước
UNCTAD Hội nghị của liên hợp quốc về thương mại và phát triển
UNDP Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc
UPOV Công ước quốc tế về bảo vệ các giống cây trồng mới VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 10Mở đầu
Xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại đang là những đặc điểm cơ bản của sự phát triển trên toàn thế giới, tác động sâu sắc và toàn diện đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội của các quốc gia, làm cho nền kinh tế của mỗi nước gắn bó chặt chẽ hơn với nền kinh tế thế giới Các nền kinh tế liên kết, hợp tác với nhau trong các hiệp định kinh tế thương mại khu vực và toàn cầu Hội nhập trở thành động lực phát triển, vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với mỗi quốc gia trên thế giới
Nhận thức được tầm quan trọng của hội nhập đối với phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, trong nhiều năm qua Đảng và Chính phủ đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) đã xác định "đẩy nhanh quá trình hội
nhập kinh tế khu vực và thế giới" là một trong những định hướng chiến lược
quan trọng để "thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện công nghiệp
hoá và hiện đại hoá đất nước" Nghị quyết 04 BCHTW khoá VIII (tháng
12/1997) cũng đã đề ra những định hướng chung cho hội nhập kinh tế quốc
tế như duy trì ổn định vĩ mô, hoàn thiện hệ thống pháp lý, chuyển dịch cơ cấu đầu tư, thúc đẩy phát triển thương mại và thị trường, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định chủ
trương hội nhập “theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả
của hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ
lợi ích dân tộc…” Đặc biệt, ngày 27/11/2001 Bộ Chính trị đã ban hành
Nghị quyết 07-NQ/TW về hội nhập kinh tế quốc tế nhằm thực hiện chủ
trương nói trên, đề ra lộ trình và hệ thống giải pháp để hội nhập kinh tế một cách hiệu quả Theo tinh thần của nghị quyết 07-NQ/TW, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều chỉ thị cụ thể hoá các nội dung nghị quyết và chỉ đạo thực hiện nhằm tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Thực hiện những chủ trương nói trên, trong 20 năm qua, hội nhập KTQT của Việt Nam đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội to lớn Hội nhập kinh tế tạo điều kiện khai thác tốt hơn lợi thế so sánh, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá và dịch
vụ, do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế GDP nước ta trong 15 năm qua có mức tăng trưởng cao (trên 7%/năm) Từ 1990 đến 2004, kim ngạch xuất khẩu tăng 10,8 lần, kim ngạch nhập khẩu tăng 11,5 lần Với tỷ lệ tổng kim
Trang 11ngạch xuất nhập khẩu so với GDP năm 2004 là 127%, Việt Nam được coi là nước có mức độ tự do hoá thương mại rất cao so với các nước đang phát triển có cùng trình độ Hội nhập cũng góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm, đảm bảo ổn định chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Bên cạnh đó TCH và hội nhập KTQT cũng có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta như gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, các vùng, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, nguy cơ làm mất ổn định kinh tế vĩ mô, chảy máu chất xám Tuy nhiên, về tổng thể, lợi ích do hội nhập kinh tế mang lại trong những năm qua là căn bản, khẳng định chủ trương mở cửa hội nhập của nước ta là phù hợp với xu hướng của thời đại, với chủ trương phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng đề xướng
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hội nhập kinh tế và phát triển kinh tế thị trường có mối quan hệ hữu cơ Phát triển kinh tế thị trường là điều kiện tiên quyết để chủ động hội nhập Bởi vì, hội nhập kinh tế, về thực chất, là tham gia vào nền kinh tế thị trường thế giới, là thực hiện các cam kết thị trường Ngược lại, hội nhập sẽ tạo điều kiện để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế thị trường, xoá bỏ những rào cản hạn chế phát triển kinh tế thị trường, làm cho thị trường phát triển lành mạnh hơn, hiệu quả hơn, cạnh tranh bình đẳng hơn Hội nhập càng sâu vào hệ thống kinh tế toàn cầu và khu vực càng có thêm điều kiện để phát triển kinh tế thị trường
Trong 20 năm qua, về cơ bản, cải cách kinh tế thị trường ở nước ta là phù hợp với những nguyên tắc của hội nhập, đặc biệt là của WTO Đó là quá trình từng bước chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường: giá cả về cơ bản đã là giá thị trường, lãi suất cũng đã do thị trường xác định, tỷ giá đã biến động linh hoạt hơn, các loại thị trường đã hình thành sơ khai và ngày càng đồng bộ hơn, các quyền kinh doanh đã
được mở rộng rõ rệt, các chủ thể kinh doanh đã phát triển đa dạng, các thị trường đã mở cửa hội nhập quốc tế ở mức độ nhất định Khung khổ pháp luật đang được hoàn thiện theo hướng đầy đủ rõ ràng và dễ dự đoán hơn Năng lực quản lý và điều hành của Chính phủ ngày càng tốt hơn và hiệu quả hơn
Tuy nhiên, quá trình cải cách KTTT diễn ra còn chậm so với cam kết hội nhập và mức độ tự do hoá thương mại Khung khổ pháp lý còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa thực sự minh bạch và dễ dự đoán, vẫn còn có phân biệt
Trang 12giữa các thành phần kinh tế, hiện tượng tham nhũng tràn lan, có biểu hiện gia tăng xu hướng bảo hộ, quay về cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp Những vấn đề nảy sinh nói trên sẽ cản trở quá trình đẩy mạnh hội nhập
và đảm bảo định hướng XHCN của nền kinh tế nước ta
Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế ngày càng sâu sắc cả về mức độ và quy mô Mức độ cam kết hội nhập của Việt Nam ngày càng cao hơn và sâu rộng hơn trên tất cả các lĩnh vực Các đối tác thương mại của nước ta đều đang nỗ lực cải cách, đẩy mạnh mở cửa hội nhập Tình hình kinh tế thế giới ngày càng biến động phức tạp và khó dự đoán Trong bối cảnh như vậy, để hội nhập hiệu quả, tận dụng được những cơ hội của toàn cầu hoá cần đẩy mạnh hơn nữa quá trình cải cách kinh tế thị trường Đối với Việt Nam, một nước đang chủ trương phát triển kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN, vấn đề đặt ra là:
Thứ nhất, cần phải phát triển KTTT định hướng XHCN như thế nào
để tận dụng được tối đa cơ hội của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế nhằm phát triển lực lượng sản xuất, tạo tiền đề vật chất cho CNXH, nâng cao mức sống của nhân dân
Thứ hai, cần phải phát triển KTTT định hướng XHCN trong bối
cảnh TCH, hội nhập kinh tế quốc tế như thế nào để hạn chế những tác động bất lợi của nó, giữ vững định hướng XHCN, giữ vững độc lập, tự chủ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, văn hoá, an ninh quốc phòng, thực hiện
được các mục tiêu của CNXH như đã được đề cập trong Cương lĩnh của
Đảng ta về xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ
Với cách đặt vấn đề như vậy, việc nghiên cứu tác động của xu thế TCH và HNKTQT đối với phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm và giải pháp đẩy mạnh hội nhập nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là hết sức cần thiết
Mục tiêu của đề tài:
- Làm rõ tác động của xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
đối với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam;
Trang 13- Đề xuất những quan điểm, định hướng chính sách và giải pháp đẩy mạnh hội nhập nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên những tác động của TCH và
HNKTQT đến phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, phân tích quá trình cải cách kinh tế thị trường trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp đẩy mạnh hội nhập nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước
ta trong những năm tới Không đi sâu nghiên cứu tác động TCH đến các vấn
đề khác như văn hoá, chính trị, đạo đức
Phạm vi: Những cải cách kinh tế thị trường ở Việt Nam liên quan đến
hội nhập kinh tế quốc tế từ năm 1986 đến nay và đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp đẩy mạnh hội nhập phát triển KTTT định hướng XHCN
ở nước ta đến năm 2010 và tầm nhìn 2020
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Thông qua
phương pháp này nghiên cứu mối quan hệ bên trong có tính bản chất của mối quan hệ giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế
- Kết hợp nghiên cứu lý thuyết với khảo sát thực tế quá trình phát
triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta trong 20 năm qua nhằm làm rõ tác động của TCH, HNKTQT đến phát triển KTTT định hướng XHCN ở nước ta
- Kết hợp phương pháp phân tích, so sánh và dự báo kinh tế với phương pháp chuyên gia để tiến hành phân tích, đánh giá quá trình phát
triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 14Với mục tiêu, phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu như trên, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, đề tài được kết cấu thành 3 phần sau đây:
Phần thứ nhất: Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tác động
đến phát triển kinh tế - xã hội
Phần thứ hai: Thực trạng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Phần thứ ba: Quan điểm, định hướng và các giải pháp đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế nhằm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trang 15Phần thứ nhất
toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và
tác động đến phát triển kinh tế - xã hội
1.1 Khái niệm, BảN CHấT CủA TOàN CầU HOá Và HộI NHậP KINH Tế quốc tế
1.1.1 Quan niệm về toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn cầu hoá (globalization) là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong một vài thập niên gần đây Trước đó, khái niệm thường được dùng, nhất là trong những năm đầu thế kỷ XX, với ý nghĩa tương tự là quốc tế hoá (internationalization) kinh tế Khái niệm "toàn cầu hoá" được George Modelski lần đầu tiên nêu ra vào năm 1972 trong tác phẩm "Principle of the world politics" khi nói tới vấn đề Liên minh châu Âu (EU) lôi kéo các nước khác vào một hệ thống thương mại toàn cầu
Trên thế giới hiện nay có nhiều quan điểm về toàn cầu hoá theo một góc độ rất rộng, nghĩa là nhìn nó trong một chỉnh thể của sự tương tác giữa các khía cạnh kinh tế, xã hội, chính trị, an ninh, văn hoá và môi trường Theo đó TCH được hiểu là ''hiện tượng hay một quá trình trong quan hệ quốc tế hiện đại làm tăng sự tuỳ thuộc lẫn nhau trên nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội''; hoặc là ''một xu hướng làm cho các mối quan hệ xã hội trở nên bị ràng buộc bởi địa lý lãnh thổ''1; hoặc là ''một quan niệm nhiều mặt vì
nó bao quát cả lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị''2; hoặc ''là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, sự tác động lẫn nhau của tất cả các khu vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới”3
Tuy vậy, quan niệm toàn cầu hoá là một hiện tượng kinh tế được coi
là quan niệm khá phổ biến hiện nay trên thế giới Từ góc độ sản xuất sản phẩm, nhiều ý kiến cho rằng “toàn cầu hoá là khuynh hướng gia tăng các sản phẩm có các bộ phận cấu thành được chế tạo ở một loạt nước”4 hoặc từ góc độ liên kết sản xuất và thị trường, có người coi ''toàn cầu hoá là sự liên kết các yếu tố sản xuất giữa các nước với nhau dưới sự bảo trợ hoặc sở hữu
Trang 16của các công ty xuyên quốc gia và sự liên kết các thị trường hàng hoá và tài chính được thuận lợi hóa bởi quá trình tự do hoá''5 Hoặc theo góc độ phát triển, có người nhấn mạnh ''toàn cầu hoá bao hàm sự làm sâu sắc quá trình quốc tế hoá, tăng cường khía cạnh chức năng của phát triển và làm yếu đi khía cạnh lãnh thổ của sự phát triển đó''6 Hoặc từ góc độ phạm vi và cấu trúc, các nhà kinh tế UNCTAD lại cho rằng ''toàn cầu hoá liên quan đến các luồng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng hoá và nguồn lực vượt qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế không ngừng tăng lên đó''7 Theo cách tiếp cận chuyên môn của mình, Quỹ tiền tệ quốc tế đã khẳng định: ''toàn cầu hoá là sự gia tăng của quy mô và hình thức giao dịch hàng hoá, dịch vụ xuyên quốc gia, sự lưu thông vốn quốc tế cùng với việc truyền bá rộng rãi nhanh chóng của kỹ thuật, làm tăng mức độ phụ thuộc lẫn nhau của nền kinh tế các nước trên thế giới''.8
Tất cả các quan niệm trên, dù nhìn từ dưới những góc độ rất khác nhau, đều đã thừa nhận tính tất yếu khách quan của toàn cầu hoá kinh tế,
được thúc đẩy bởi các tiến bộ mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới, đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin Các quan điểm đó cũng đã lý giải được tính phổ biến của toàn cầu hoá kinh tế liên kết mọi nền kinh tế quốc gia, gia tăng sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế thông qua sự kết nối của các dòng hàng hoá, dịch vụ, vốn, công nghệ, lao động
Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, quá trình nhất thể hoá nền kinh tế thế giới diễn ra với quy mô và tốc độ ngày càng cao Toàn cầu hoá kinh tế hiện nay đang trở thành khung khổ phát triển mới cho mọi nền kinh tế, quốc gia và khu vực Những biểu hiện mới đó là:
(i) gia tăng không ngừng phân công lao động quốc tế, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, trên một mạng thống nhất toàn cầu;
Trang 17(iv) các công ty xuyên quốc gia bành trướng mạnh mẽ và liên kết thành một mạng kinh doanh toàn cầu, đang giữ vai trò dẫn dắt và chi phối các hoạt động sản xuất kinh doanh trên toàn thế giới;
(v) sự hình thành và phát triển các định chế kinh tế, tài chính toàn cầu
để quản lý và điều hành các quá trình liên kết kinh tế toàn cầu được gia tăng mạnh và ngày càng mang tính thể chế cao
Như vậy, toàn cầu hoá kinh tế là một xu hướng bao trùm của sự phát
triển kinh tế thế giới ngày nay, trong đó các hoạt động kinh tế và sản xuất kinh doanh của mỗi nước, do tác động của công nghệ, truyền thông và tiền vốn, đã gia tăng mạnh mẽ, vượt ra khỏi biên giới quốc gia, liên kết trên một chỉnh thể thị trường toàn cầu và đồng thời với quá trình đó, là sự gia tăng mạnh mẽ làn sóng hình thành và hoàn thiện các định chế, tổ chức quốc tế tương thích nhằm quản lý và điều hành các hoạt động kinh tế đã ngày càng
lệ thuộc chặt chẽ vào nhau giữa các nước và các khu vực
Từ sự phân tích trên đây có thể khái quát những đặc điểm chính của TCH kinh tế như sau:
1) TCH kinh tế là sự mở rộng quy mô và phân công sản xuất trên phạm vi toàn cầu, phản ánh trình độ xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất thế giới trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ mới TCH kinh tế
được thực hiện thông qua các quá trình có mối liên hệ khăng khít với nhau
là tự do hóa thương mại, đầu tư , di chuyển vốn và lao động
2) TCH kinh tế là sự mở cửa và hội nhập, tương tác lẫn nhau, là sự trao đổi, hợp tác và phân công quốc tế, đồng thời là sự cạnh tranh và đấu tranh vì lợi ích của mỗi chủ thể quốc gia hoặc tập đoàn, hoặc cá nhân Lợi ích mỗi chủ thể không còn nằm trong biên giới mỗi nước mà ở trên phạm vi toàn cầu, các vấn đề lợi ích kinh tế phải được đề cập trên không gian toàn cầu và quan hệ với nhiều chủ thể và phải cùng nhau thương lượng, giải quyết Nó đòi hỏi mở rộng không gian kinh tế thống nhất
Trang 183) TCH kinh tế gồm hai quá trình song song: lan toả toàn cầu về không gian và tính đồng bộ, đồng thời diễn ra trong thời gian Yếu tố thời gian trở thành lực lượng sản xuất đặc biệt, tham gia vào quá trình kinh doanh và trực tiếp tạo nên giá trị to lớn
4) TCH kinh tế hình thành không gian kinh tế thống nhất toàn cầu, nền kinh tế toàn cầu được nhất thể hoá và không thể phân chia với cơ cấu và lô gích riêng, tác động làm biến đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, tư duy, đưa nhân loại quá độ sang hệ thống trật tự mới (kinh tế tri thức, xã hội hậu công nghiệp )
5) TCH kinh tế dựa trên cơ sở cách mạng khoa học- công nghệ hiện
đại, các thể chế cơ bản toàn cầu (thể chế không gian điện tử chung, thể chế quyền sở hữu trí tuệ chung, thể chế thương mại điện tử ), các định chế và
tổ chức toàn cầu tương ứng (WTO, IMF, WB ), các chủ thể toàn cầu khác nhau (các quốc gia, tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các doanh nghiệp,
đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia )
Cùng với sự gia tăng các mối liên kết kinh tế toàn cầu là sự tăng lên nhanh chóng của các mối liên kết kinh tế khu vực
Khu vực hóa kinh tế là sự liên kết kinh tế giữa các nước trong một không gian kinh tế nhất định của một số nước trên cơ sở cùng có lợi, được thể chế hóa bằng các định chế, quy tắc chung và có cơ chế, tổ chức điều chỉnh các hoạt động kinh tế đã được ký kết theo những mục tiêu chung và thống nhất nhằm đem lại lợi ích lớn hơn cho các nước thành viên trong cạnh tranh, hợp tác quốc tế hiện nay
Giữa TCH và khu vực hóa có những khác biệt nhất định và những cái chung, thống nhất với nhau Cả hai xu hướng TCH kinh tế và khu vực hóa kinh tế đều có nội dung cơ bản là liên kết kinh tế, song trên những phạm vi khác nhau, TCH kinh tế là sự liên kết kinh tế trên phạm vi toàn cầu, khu vực hóa kinh tế là sự liên kết kinh tế trên phạm vi khu vực
Hiện nay, xu hướng khu vực hóa và song phương tăng nhanh hơn so với hội nhập toàn cầu vì trong quy mô khu vực, các quốc gia có nhiều điểm tương đồng hơn, có nhiều cơ hội để hợp tác, phân công hơn và quan trọng nhất là lợi ích từng quốc gia được thỏa mãn tốt hơn trong các thỏa thuận song phương và khu vực Vì vậy, xu hướng khu vực hóa vừa phù hợp TCH vừa làm chậm lại quá trình TCH (vì sẽ có sự phân biệt đối xử với các quốc gia nằm ngoài khu vực có thoả thuận) Vì lợi ích của mình mà mỗi quốc gia
Trang 19lựa chọn hội nhập khu vực trong một số lĩnh vực, đồng thời thúc đẩy hội nhập toàn cầu trong những lĩnh vực khác và trong những thời kỳ nhất định
TCH kinh tế phản ánh quá trình hội nhập kinh tế (HNKT) giữa các
quốc gia Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế
và thị trường của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hoá và mở cửa trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương Như vậy, hội nhập thực chất là sự chủ động tham gia vào quá trình
toàn cầu hoá, khu vực hoá
Nội dung chủ yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất, ký kết và tham gia các định chế và tổ chức kinh tế quốc tế;
cùng tham gia đàm phán xây dựng các luật chơi chung và thực hiện các quy
định, cam kết với tư cách là một thành viên của các định chế, tổ chức đó
Thứ hai, tiến hành các công việc cần thiết để bảo đảm đạt được mục
tiêu của quá trình hội nhập cũng như thực hiện các quy định, cam kết quốc
tế về hội nhập Các nội dung quan trọng cần được triển khai thực hiện bên trong mỗi nước gồm:
- Điều chỉnh chính sách theo hướng tự do hoá và mở cửa, giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào quan thuế và phi thuế quan, làm cho việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và sự luân chuyển vốn, lao động kỹ thuật - công nghệ giữa các nước thành viên ngày càng thông thoáng hơn Việc điều chỉnh này trước hết có ý nghĩa làm cho hệ thống luật lệ của mỗi quốc gia về thương mại (bao gồm cả ngoại thương), đầu tư, sản xuất kinh doanh, thuế, vấn đề xuất nhập cảnh, lưu trú của doanh nhân, thủ tục hành chính, vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại ngày càng hoàn chỉnh và phù hợp với các quy
định của các định chế, tổ chức quốc tế mà các nước tham gia
- Điều chỉnh cơ cấu kinh tế (bao gồm cả cơ cấu sản xuất, kinh doanh, cơ cấu ngành và mặt hàng, cơ cấu đầu tư) phù hợp với quá trình tự do hoá và
mở cửa nhằm làm cho nền kinh tế thích ứng và vận hành có hiệu quả trong
điều kiện cạnh tranh quốc tế Mục tiêu cao nhất của sự điều chỉnh này là tạo
ra được cơ cấu kinh tế tối ưu, có khả năng cạnh tranh cao, phát huy tốt nhất những ưu thế của đất nước trong quá trình hội nhập Quá trình điều chỉnh này có những nét đặc thù rất khác nhau đối với mỗi nước
Trang 20- Tiến hành cải cách cần thiết về kinh tế, xã hội, đặc biệt là cải cách
hệ thống các doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh, nhằm đảm bảo quá trình hội nhập được đẩy mạnh và đưa lại hiệu quả cao
- Đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ công chức, những người quản lý doanh nghiệp và lực lượng lao động có thể đáp ứng tốt các đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Các hình thức và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình tổng hợp của các nỗ lực trong chính sách và hành động theo hướng tự do hoá, mở cửa của các quốc gia cả ở cấp độ đơn phương, song phương và đa phương
ở cấp độ đơn phương, mỗi nước đều có thể chủ động thực hiện những
biện pháp tự do hoá, mở cửa trong một số lĩnh vực nhất định mà họ thấy cần thiết vì mục đích phát triển kinh tế của mình, chứ không nhất thiết do ràng buộc của các định chế, tổ chức kinh tế quốc tế mà họ tham gia Có nhiều nước đã làm như vậy, thường là trong lĩnh vực đầu tư, thương mại hàng hoá
ở cấp độ song phương, hai nước tiến hành đàm phán ký kết với nhau
các hiệp định song phương thực hiện các nguyên tắc mậu dịch tự do có thể
mở cửa cả đầu tư, tài chính Một số năm trở lại đây, khuynh hướng này khá phát triển song hành với xu hướng hội nhập theo khu vực
ở cấp độ đa phương, nhiều nước cùng nhau thành lập hoặc tham gia
vào những định chế, tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu Những định chế,
tổ chức kinh tế khu vực bao gồm các nước thành viên cùng trong một khu vực địa lý giới hạn (ví dụ: Liên minh châu Âu -EU, Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ -NAFTA, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á -Thái Bình Dương - APEC) Những định chế tổ chức toàn cầu bao gồm các thành viên từ nhiều khu vực khác nhau trên thế giới (Ví dụ: Tổ chức Thương mại thế giới - WTO) Nhìn chung, các định chế tổ chức kinh tế khu vực ngày nay thường vận hành trên cơ sở các nguyên tắc nền tảng của WTO
Hội nhập kinh tế vùng (hay còn gọi là liên kết xuyên quốc gia) là một
hình thức hội nhập kinh tế mới dựa trên cơ sở khai thác thế mạnh tổng hợp của một khu vực gồm các quốc gia và vùng lãnh thổ có những điều kiện phát triển kinh tế có thể bổ sung cho nhau, tạo ra vùng tăng trưởng kinh tế
Trang 21Đông Nam á), hay Liên kết kinh tế các nước tiểu vùng sông Mê Kông- GMS (bao gồm Việt Nam, Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia và Vân Nam của Trung Quốc)
Về mức độ hội nhập, nhà kinh tế học người Anh Balassa đưa ra 5 mô hình từ thấp đến cao như sau:
Khu vực mậu dịch tự do: là giai đoạn thấp nhất của tiến trình hội
nhập kinh tế ở giai đoạn này, các nền kinh tế thành viên tiến hành giảm và loại bỏ dần các hàng rào thuế quan, các hạn chế định lượng và các biện pháp phi thuế quan trong thương mại nội khối Tuy nhiên họ vẫn độc lập thực hiện chính sách thuế quan đối với các nước ngoại khối Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
Liên minh thuế quan: Đây là giai đoạn tiếp theo trong tiến trình hội
nhập Tham gia vào liên minh thuế quan, các thành viên ngoài việc hoàn tất việc loại bỏ thuế quan và các hạn chế định lượng trong thương mại nội khối, phải cùng nhau thực hiện một chính sách thuế quan chung đối với các nước ngoài khối Ví dụ: Nhóm ANDEAN và liên minh thuế quan giữa Cộng đồng kinh tế châu Âu, Phần Lan, áo, Thuỵ Điển
Thị trường chung: Là mô hình liên minh thuế quan cộng thêm với
việc bãi bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác Như vậy, trong một thị trường chung, không những hàng hoá, dịch vụ
mà hầu hết các nguồn lực khác (vốn, kỹ thuật, công nghệ, nhân công…) đều
được tự do lưu chuyển giữa các thành viên Ví dụ: Cộng đồng kinh tế châu
Âu (EC) trước đây
Liên minh kinh tế: Là mô hình hội nhập ở giai đoạn cao dựa trên cơ
sở mô hình thị trường chung cộng thêm với việc phối hợp các chính sách kinh tế giữa các thành viên Ví dụ: Liên minh châu Âu (EU), Cộng đồng kinh tế ASEAN đang dự kiến thành lập
Trang 22Liên minh toàn diện: Là giai đoạn cuối cùng của quá trình hội nhập
Các thành viên thống nhất về chính trị, ngoại giao và các lĩnh vực kinh tế, bao gồm cả lĩnh vực tài chính, tiền tệ, thuế và các chính sách xã hội Như vậy, ở giai đoạn này, quyền lực quốc gia ở các lĩnh vực trên được chuyển giao cho một cơ cấu cộng đồng Đây thực chất là giai đoạn xây dựng một kiểu nhà nước liên bang hoặc các ”cộng đồng an ninh đa nguyên” theo mô thức của Deutsch Ví dụ: quá trình thành lập Hoa Kỳ từ các thuộc địa cũ của Anh và thống nhất nước Đức từ các tiểu vương quốc trong Liên minh thuế quan Đức -Phổ trước đây
Những mô hình trên chỉ có tính chất lý thuyết Trên thực tế, nhiều quá trình hội nhập không đi theo đúng trình tự và hoàn toàn khớp với nội dung của mô thức đó Từ thực tiễn của quá trình này, một số học giả đã bổ sung vào lý thuyết của Balassa theo những mô hình sau:
Thoả thuận thương mại ưu đãi: Các bên tham gia thực hiện cắt
giảm thuế quan và các biện pháp phi thuế quan ở mức độ nhất định nhằm tạo điều kiện thúc đẩy thương mại giữa họ với nhau Hình thức này thể hiện
sự hội nhập ở nấc thấp hơn cả khu vực mậu dịch tự do Ví dụ: các thoả thuận thương mại ưu đãi (PTA) ký năm 1977
Thoả thuận thương mại tự do từng phần: Các bên tham gia chỉ
thực hiện cắt giảm và loại bỏ thuế quan và các biện pháp hạn chế định lượng trong một lĩnh vực cụ thể Ví dụ: Thoả thuận thương mại tự do giữa Mỹ và Canada trong lĩnh vực ôtô trong những năm 1970
Bảng 1: Các hình thức liên kết kinh tế khu vực
Giảm thuế quan trong nhóm
Loại bỏ thuế quan trong nhóm
Thuế quan chung đối với ngoài nhóm
Dịch chuyển tự
do lao động
và vốn trong nhóm
Chính sách kinh tế chung và
đồng tiền chung Hiệp định thương mại ưu đãi
Trang 23Trong quá trình TCH kinh tế, các định chế quốc tế và khu vực cũng
được thành lập nhằm quản lý các hoạt động giao dịch và kinh doanh quốc tế
và được thúc đẩy trên cơ sở các quan hệ song phương và đa phương Nói chung, các tổ chức quốc tế và khu vực hay các quan hệ song phương tuy có các yêu cầu cụ thể và phương thức hội nhập khác nhau nhất định, song đều nhất quán với mục tiêu là tiến tới tự do hoá thương mại và đầu tư trên phạm
vi toàn cầu, và thực hiện với các nguyên tắc cơ bản của WTO như cắt giảm thuế suất nhập khẩu; không sử dụng hàng rào phi thuế quan; không phân biệt đối xử; và tăng cường tính minh bạch thông tin, khả năng giải trình và khả năng dự tính trước
1.1.2 Các yếu tố chủ yếu thúc đẩy toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
TCH kinh tế ngày càng được khẳng định là một quá trình tất yếu của
sự phát triển lực lượng sản xuất thế giới và là một xu thế lớn của quan hệ quốc tế hiện đại Quá trình này được thúc đẩy bởi những nhân tố khách quan và chủ quan chủ yếu như: sự tiến bộ của khoa học và công nghệ; sự quốc tế hoá các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là vai trò ngày càng tăng của các công ty xuyên quốc gia (TNC), và chính sách mở cửa, tự do hoá thương mại và đầu tư của các nước Đây là ba nhân tố cơ bản và xuyên suốt các thời kỳ phát triển của quá trình TCH kinh tế
(1) Những tiến bộ của khoa học - công nghệ
Những tiến bộ của khoa học-kỹ thuật (KHKT) và công nghệ bao gồm những phát minh, sáng chế, các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, các giống mới, các phương pháp công nghệ hiện đại, các lý thuyết và phương thức quản lý mới trong mọi lĩnh vực được áp dụng vào thực tiễn sản xuất kinh doanh
Điều đó làm tăng năng suất lao động, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư cho xã hội, giảm giá cả hàng hoá, tạo ra tiền đề thúc đẩy sự hình thành và phát triển phân công, chuyên môn hoá lao động, sản xuất kinh doanh theo ngành nghề, vùng lãnh thổ giữa các quốc gia Nhờ đó, sự trao
đổi quốc tế về hàng hoá, dịch vụ, vốn, lao động và tri thức ngày một tăng
Sự phát triển của khoa học-công nghệ (KH-CN) Các các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất và lần thứ hai đã mở đường cho sự hình thành và phát triển nhanh chóng của thị trường thế giới Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại thúc đẩy sự tiến bộ của các phương tiện giao thông và kỹ thuật thông tin làm cho thế giới như bị thu nhỏ lại về không
Trang 24gian và thời gian, thể hiện qua việc các phí tổn, nhất là chi phí vận tải và thông tin ngày càng giảm, những sự cách trở về địa lý dần được khắc phục, các quốc gia, dân tộc trở nên gần gũi hơn với những hình ảnh thông tin được truyền hình trực tiếp liên tục về các sự kiện đang xảy ra tại mọi miền trên trái đất
Trong thế kỷ XIX, sự ra đời của đường sắt đã làm giảm chi phí vận tải khoảng 85-95% Trong khoảng 10-15 năm qua, phí vận tải đường biển đã giảm khoảng 70%; phí vận tải hàng không mỗi năm giảm khoảng 3-4% Sự phát triển của máy tính cá nhân và thương mại điện tử còn diễn ra với tốc độ nhanh chóng hơn Đặc biệt, năng suất trong ngành công nghệ thông tin suốt
ba thập kỷ qua tăng khoảng 5% mỗi năm, nghĩa là cao gấp 5 lần so với tốc
độ tăng năng suất chung của tất cả các ngành Hiện nay, dưới tác động của cuộc cách mạng về công nghệ thông tin, một mô hình kinh tế mới đang
được hình thành - kinh tế tri thức - trong đó tri thức trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp ngày càng quan trọng, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nền kinh tế nói chung và trong từng loại hàng hoá và dịch vụ được sản xuất
và tiêu thụ trên thị trường quốc tế
(2) Chính sách mở cửa, tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế
Đây là yếu tố mang tính chủ quan tạo điều kiện và thúc đẩy sự phát triển của TCH theo hướng phục vụ cho lợi ích các quốc gia Chính sách mở cửa, tự do hoá có các nội dung chính là loại bỏ dần các hàng rào thương mại cản trở sự giao lưu quốc tế Nó hạn chế dần sự độc quyền nhà nước trong sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu, cho phép nước ngoài đầu tư kinh doanh một cách ít hạn chế nhất, thực hiện cạnh tranh tự do và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, hạ thấp và bãi bỏ hàng rào thuế quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu
Hiện nay, ngày càng có nhiều chính phủ chuyển sang chính sách tự
do hoá, mở cửa thị trường và loại bỏ những cơ chế điều hành cản trở các hoạt động sản xuất kinh doanh Chính sách này đã tạo ra môi trường thông thoáng hơn bao giờ hết cho sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia Nó đã tạo điều kiện cho TCH tiến triển nhanh hơn Nhiều nước đã mạnh dạn dựa nhiều hơn vào các thị trường quốc tế nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển của mình Quá trình tự do hoá hiện đang tập trung vào lĩnh vực đầu tư và thương mại Hệ thống thương mại của WTO ngày càng hoàn thiện và đang đóng một vai trò chủ đạo trong quá trình này
Trang 25- FDI và di chuyển vốn giữa các nước tăng nhanh (đo bằng mức tăng giá trị tuyệt đối cũng như tỷ lệ tăng trưởng hàng năm), trở thành một yếu tố ngày càng quan trọng đối với từng nền kinh tế quốc gia nói riêng và toàn bộ nền kinh tế thế giới nói chung
- Sự gia tăng của các luồng chuyển giao công nghệ và nhân công giữa các nước, thể hiện qua số lượng người làm việc được luân chuyển giữa các nước và mức tăng hàng năm của dòng luân chuyển này; sự trao đổi công nghệ thể hiện qua các hợp đồng mua bán và dự án chuyển giao công nghệ cũng như tổng giá trị của các hợp đồng dự án đó
(3) Quốc tế hoá các hoạt động kinh doanh và vai trò của các TNC
Sự quốc tế hoá của sản xuất, kinh doanh là hiện tượng các công ty mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, không những là một nguyên nhân quan trọng trực tiếp tạo ra xu thế TCH mà còn là yếu tố thúc đẩy quá trình này xuyên suốt các giai đoạn khác nhau của nó Chính sách tự do hoá của các nước cho phép ngày càng nhiều công ty có thể phân bổ cơ cấu sản xuất trên phạm vi toàn cầu thông qua việc đầu tư ra nước ngoài, nhờ đó thương mại quốc tế càng phát triển hơn Nhờ các tiến bộ về công nghệ thông tin, các công ty có thể bố trí những bộ phận khác nhau của dây chuyền sản xuất ở các nước và khu vực khác nhau mà vẫn duy trì được sự quản lý thống nhất của công ty Khi các công ty mẹ ký các hợp đồng phụ với các chi nhánh hoặc với các công ty khác ở nước ngoài thì việc làm, công nghệ, vốn và kỹ năng cũng được di chuyển trên khắp thế giới
Dưới tác động của tiến bộ KHKT và công nghệ cùng với chính sách
tự do hoá, mở cửa của các nước, quá trình sản xuất kinh doanh ngày càng
được quốc tế hoá rộng rãi và ở mức cao hơn Nó thể hiện:
Thứ nhất, sự gia tăng trao đổi các yếu tố cơ bản của sản xuất kinh
doanh giữa các nước (vốn, máy móc, thiết bị, nguyên nhiên liệu, kỹ thuật,
Trang 26công nghệ, thông tin, nhân công v.v ), phân công lao động và hợp tác quốc
tế ngày càng sâu rộng, đa dạng, uyển chuyển và hiệu quả Một sản phẩm không còn mang tính quốc gia mà là tính quốc tế
Ngày nay, hầu hết các sản phẩm trao đổi trên thế giới dù là dưới dạng hàng hoá hay dịch vụ đều được tạo ra thông qua một quá trình mang tính quốc tế cao Theo một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), năm 1995 sản phẩm chế tạo của các công ty chi nhánh chiếm tới 20% tổng sản lượng thế giới trong ngành này
Sản xuất xã hội hoá cao trên phạm vi toàn cầu thể hiện ở tất cả các mặt: nguồn vốn, công nghệ, tổ chức phân công và hiệp tác quốc tế giữa các quốc gia, nó kết thành một chỉnh thể Ví dụ: máy bay Boeing 747 được lắp ráp bởi 4.500 linh kiện Số linh kiện này được sản xuất bởi 1.100 xí nghiệp lớn và 15.000 xí nghiệp nhỏ của 6 nước khác nhau Ví dụ khác, xe tải
“R-180” lắp ráp tại Anh, nhưng động cơ thì sản xuất ở Thụy Điển, phần gầm xe được chế tạo Mỹ, hệ thống điều khiển của Đức, thân xe do Italia sản xuất v.v
Thứ hai, vai trò ngày càng lớn của các TNC Vai trò quan trọng của
các công ty xuyên quốc gia đối với xu thế TCH thể hiện ở chỗ chúng không những đóng góp tích cực vào việc phát triển lực lượng sản xuất thế giới mà còn trực tiếp liên kết các nền kinh tế quốc gia lại với nhau và làm cho quá trình phân công lao động quốc tế trở nên sâu sắc hơn Vai trò của các TNC thể hiện qua các hoạt động chủ yếu sau:
- Đầu tư và tiến hành sản xuất kinh doanh ở nhiều nước trên thế giới;
- Tham gia vào quá trình luân chuyển vốn, các giao dịch tài chính và chuyển giao công nghệ giữa các nước trên thế giới;
- Thúc đẩy thương mại toàn cầu và khu vực thông qua việc luân chuyển hàng hoá và dịch vụ ”nội bộ” của các TNC;
- Gây ảnh hưởng đến chính sách của các nước Do các TNC có thế lực kinh tế rất to lớn, chúng có ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình quyết sách ở các nước, đặc biệt là đối với những chính sách về kinh tế - xã hội có ảnh hưởng tới lợi ích của các công ty này Tác động này có thể tích cực, nhưng cũng có thể tiêu cực đối với tiến trình tự do hoá và mở cửa của nhiều nước
Một số nhà phân tích đánh giá rằng, các TNC là nguyên nhân quan trọng nhất làm cho TCH phát triển Có người cho rằng, cùng với sự phát
Trang 27triển ngày càng cao hơn nữa của TCH, các TNC sẽ lấn lướt quyền lực của các chính phủ, thậm chí trở thành các vương quốc không biên giới với thể chế riêng
1.1.3 Quá trình phát triển của toàn cầu hoá kinh tế
Hiện nay, vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau về việc phân kỳ các giai
đoạn phát triển của toàn cầu hoá Sở dĩ chưa có sự thống nhất này là do cách hiểu khác nhau về quá trình quốc tế hoá và toàn cầu hoá Nhiều ý kiến đồng nhất hai quá trình này và việc phân kỳ TCH được hiểu là những giai đoạn khác nhau của quá trình quốc tế hoá Theo đó, toàn cầu hoá được phân kỳ thành các giai đoạn khác nhau tuỳ thuộc mức độ lan toả của các luồng thương mại, đầu tư, lao động, vốn Cách phân kỳ này khá phổ biến và theo
đó TCH được phân thành 3 giai đoạn : (1) Làn sóng thứ nhất từ 1870-1914 (2) Làn sóng thứ hai từ 1914 –1980 và (3) Làn sóng thứ ba từ 1980 đến nay Nhiều ý kiến khác lại cho rằng giữa toàn cầu hoá và quốc tế hoá có điểm chung là quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, nhưng toàn cầu hoá có những điểm khác: (i) quốc tế hoá chưa hướng tới hình thành một chỉnh thể thị trường toàn cầu và (ii) chưa hình thành các thể chế khu vực/quốc tế (có tính pháp lý ngày càng cao) để
điều tiết các quá trình phát triển đó Theo cách hiểu này, toàn cầu hoá mới bắt đầu từ giữa những năm 80 của thế kỷ 20
Theo chúng tôi, hai cách phân kỳ nêu trên đều có những điểm chung Trong cách phân kỳ thứ nhất, mặc dù quá trình quốc tế hoá trên phạm vi toàn cầu được chia làm 3 giai đoạn nhưng thực chất giai đoạn 3, tức là từ những năm 80 của thế kỷ 20 đến nay, mới là đặc trưng cho quá trình toàn cầu hóa Còn theo cách hiểu thứ hai thì khi phân tích bản chất của toàn cầu hóa, mà đặc trưng của nó là quá trình dịch chuyển trên phạm vi toàn cầu các yếu tố sản xuất, hình thành chỉnh thể một thị trường toàn cầu và sự thiết lập các thể chế kinh tế quốc tế điều hành quá trình đó, bắt đầu từ thập kỷ 80 thế
kỷ 20, cũng không thể bỏ qua các giai đoạn phát triển trước đó cho dù có hiểu là qúa trình quốc tế hóa kinh tế chăng nữa Từ việc phân tích những đặc trưng của TCH ở trên, chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng toàn cầu hóa với cách hiểu như vậy chỉ bắt đầu từ những năm của thập kỷ 80, tức là ở giai đoạn thứ 3 của quá trình phát triển quốc tế hóa nền kinh tế được trình bày dưới đây Cách trình bày dưới đây không có ý phân kỳ quá trình TCH
mà với mục đích chỉ ra quá trình phát triển của nó
Trang 28(1) Làn sóng quốc tế hóa kinh tế lần thứ nhất: 1870-1914
Giai đoạn này được coi là làn sóng hội nhập toàn cầu đầu tiên được kích thích bởi sự kết hợp giữa chi phí vận tải giảm và việc cắt giảm các hàng rào thuế quan, bắt đầu bằng thoả thuận giữa anh và Pháp Chi phí vận tải rẻ hơn và việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan đã mở ra khả năng sử dụng nguồn lao động và đất đai dồi dào Các công nghệ mới, như đường xe lửa, đã tạo ra các cơ hội to lớn cho xuất khẩu các hàng hóa sử dụng nhiều đất đai Xuất khẩu của thế giới tăng từ 3,6 tỷ USD năm 1868 lên 17 tỷ USD năm 1913 Xuất khẩu tính theo tỷ lệ của thu nhập thế giới tăng từ 5% năm 1870 lên 8,5% năm 19139
Đây là giai đoạn khẳng định quốc tế hóa đời sống kinh tế như là một quá trình lan tỏa trên phạm vi thế giới Đó là sự phát triển quốc tế của tư bản thương mại và đầu tư, sự phát triển mạnh mẽ và biến đổi về chất của tư bản ngân hàng, sự hình thành các khu vực thị trường, sự phân chia lãnh thổ bởi các đế quốc hùng mạnh nhất V.I Lênin đã có sự khái quát tài tình về chủ nghĩa đế quốc, đó cũng là đặc trưng kinh tế trong thời kỳ này: 1) Sự tập trung sản xuất và tư bản dẫn tới việc tạo ra các tổ chức độc quyền; 2) Sự hình thành tư bản tài chính và những kẻ đầu sỏ tài chính; 3) Xuất khẩu tư bản có ý nghĩa đặc biệt; 4) Sự hình thành các liên minh độc quyền quốc tế
và các trùm tư bản chia nhau thế giới; và 5) Các cường quốc TBCN lớn nhất
đã phân chia xong đất đai thế giới10
Nếu khái quát ngắn gọn thì đây là thời kỳ chuyển biến quan trọng của nền kinh té thế giới, thời kỳ chuyển biến cơ bản từ kinh tế thị trường tự do cạnh tranh sang kinh tế thị trường độc quyền TBCN Giai đoạn này đã được khép lại bằng cuộc đại chiến thế giới thứ nhất (1914-1918)
(2) Làn sóng quốc tế hóa kinh tế lần thứ hai : 1914-1980
Đây là giai đoạn có sự biến động lớn trong nền kinh tế và chính trị thế giới Giai đoạn này có thể phân chia thành 2 thời kỳ nhỏ : (i) từ 1914-1945
và (ii) 1945-1980 Từ 1914-1945 là thời kỳ thụt lùi của toàn cầu hoá, đặc biệt là chính sách thương mại thế giới đi theo chiều hướng gia tăng chủ nghĩa bảo hộ, kinh tế và thương mại khủng hoảng Nguyên nhân chủ yếu là
Trang 29hai cuộc chiến tranh thế giới và khủng hoảng kinh tế 1929-1933 Thời kỳ 1945-1980 được đặc trưng bởi xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế và HNKTQT nổi lên khá mạnh mẽ đến cuối những năm 70 và bước vào một thời kỳ ngắn sụt giảm đáng kể đến cuối thập niên 80
Những đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là:
- Sự phát triển của các thể chế kinh tế thế giới và khu vực Trước chiến tranh thế giới thứ hai, trên toàn thế giới đã hình thành khoảng 50 định chế quốc tế đa phương Các định chế này hầu hết là mang tính chính trị hoặc
kỹ thuật Trong lĩnh vực kinh tế chủ yếu là các hiệp định thương mại song phương Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, hàng trăm tổ chức quốc tế và khu vực ra đời Trên phạm vi thế giới hình thành các tổ chức kinh tế thương mại lớn như GATT, UNTAC, UNDP, IMF, WB, UNIDO, FAO… Trên phạm vi khu vực từ cuối thập niên 1940 đến hết cuối thập niên 80, gần 90 cơ chế hợp tác khu vực đã ra đời như Cộng đồng kinh tế châu Âu- EEC (1958), Hội đồng tương trợ kinh tế–SEV(1948), Hiệp hội các nước Đông Nam á-ASEAN (1967), thị trường chung Trung Mỹ-CACM (1962)…
- Thương mại quốc tế được tự do hơn nhờ thực hiện các cam kết quốc
tế và khu vực về tự do hoá trong lĩnh vực thương mại hàng hoá Mức thuế quan của các nước công nghiệp phát triển giảm từ mức 40% ở nửa cuối thập niên 1940 xuống còn 10% trong thập niên 1960 và tiếp tục giảm xuống còn 4% sau khi thực hiện các cam kết của Vòng Urugoay Nhờ đó đã có sự biến
động lớn trong thương mại quốc tế Từ 1950 đến đầu thập niên 1970, GDP thế giới tăng trung bình 5,1%/năm, thương mại hàng hoá tăng 8,2%/năm, sau đó sụt giảm tương ứng còn 3,6% và 4,6%/năm giai đoạn 1973-1980 do
2 cuộc khủng hoảng dầu lửa trong thập niên 70 và sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ Bretton Woods
- Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai với việc sử dụng nhiều yếu
tố khoa học kỹ thuật tiên tiến như động cơ chạy bằng nhiên liệu lỏng, điện
và năng lượng nguyên tử, vật liệu đặc biệt như kim loại không sắt, chất dẻo, sợi hoá học, công nghệ thông tin…
- Sự biến động của các luồng tài chính Điểm nổi bật trong hoạt động tài chính quốc tế là vai trò quan trọng của dòng viện trợ chính thức (ODA), các dòng vốn đầu tư gia tăng, vai trò của các tổ chức tài chính thế giới tăng mạnh như WB và IMF
Trang 30- Mỹ trở thành cường quốc kinh tế lớn nhất toàn cầu chi phối nền kinh tế thế giới, đồng đô la Mỹ có vị trí thống trị toàn cầu Mỹ chiếm tới 52% tổng giá trị FDI toàn thế giới, 25% thương mại toàn cầu
- Vai trò to lớn của các công ty xuyên quốc gia (TNC) Các TNC trở thành một trong những động lực chủ yếu của xu hướng TCH với quy mô và
số lượng ngày càng tăng Nếu đầu thế kỷ chỉ có 3 TNC lớn nhất thế giới với
số vốn từ 500 triệu USD trở lên, năm 1971 có 333 công ty như vậy, trong số
đó có 1/3 có số vốn trên 1 tỷ USD, năm 1985 có 600 công ty xuyên quốc gia
có vốn hơn 1 tỷ USD11 TNC kiểm soát tới 70-80% thương mại toàn cầu, trong đó trên 80% giá trị lưu chuyển công nghệ và gần 4/5 tổng FDI thế giới12
- Sự tồn tại và đấu tranh trên quy mô toàn cầu giữa hai hệ thống kinh
tế chính trị đối lập: Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản
(3) Sự xuất hiện xu hướng toàn cầu hóa: từ 1980 đến nay
Đặc đểm nỗi bật của giai đoạn này là xu hướng hình thành nên một chỉnh thể thị trường thế giới với dịch chuyển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu các luồng thương mại, đầu tư, tài chính và lao động; sự ra đời các thể chế tương ứng để điều chỉnh quá trình này Đây chính là giai đoạn toàn cầu hóa kinh tế với những đặc điểm cụ thể là:
Thứ nhất, sự gia tăng một cách mạnh mẽ các luồng thương mại, đầu
tư và tài chính
Thương mại hàng hoá trên thế giới vào cuối những năm 1990 đã tăng
khoảng 3 lần kể từ thập kỷ 70, với mức tăng vượt xa hơn mức tăng sản lượng Riêng trong gần 10 năm lại đây (1994-2003) xuất khẩu của các nước phát triển tăng khoảng hơn 1,5 lần (từ 3319 tỷ lên 4742 tỷ USD); đặc biệt, cùng thời gian này xuất khẩu của các nước đang phát triển tăng gấp gần 2 lần (717 tỷ lên khoảng hơn 1400 tỷ USD) - (IMF, 2002)
Trang 31Thương mại dịch vụ trong hai thập kỷ lại đây ngày càng được mở
rộng, vượt tốc độ tăng thương mại hàng hoá, chiếm tỷ trọng gần 25% trong năm 1998 so với 17% năm 1980; riêng tại các nước phát triển xuất khẩu dịch vụ đạt giá trị rất lớn và tăng tương đối mạnh (hơn 30%), từ hơn 895 tỷ USD năm 1994 lên ước khoảng 1282 tỷ năm 2003 Đặc biệt, hàng hóa và dịch vụ trao đổi quốc tế ngày càng đa dạng, thương mại điện tử được sử dụng rộng rãi trong mậu dịch quốc tế
Thị trường tài chính toàn cầu có sự phát triển nhảy vọt; lưu thông vốn
quốc tế đạt quy mô chưa từng thấy, đã tăng từ 10-20 tỷ USD trong những năm 1970 lên 1,5 nghìn tỷ USD năm 1998 Quy mô của đầu tư gián tiếp còn lớn hơn Cuối năm 1996, tổng kim ngạch vốn trên thị trường cổ phiếu thế giới đạt 20.200 tỷ USD Các luồng vốn hàng năm tăng trưởng rất nhanh, từ mức 5.000 tỷ USD năm 1980 tăng lên 35.000 tỷ USD năm 1998, và năm
2000 đã đạt tới 83.000 tỷ USD Tỉ lệ giữa lượng giao dịch ngoại hối toàn cầu
và kim ngạch mậu dịch quốc tế tăng vọt từ 10/1 năm 1983 lên 60/1 vào những năm 90, lượng vốn giao dịch hàng ngày ở mức 1.500-2.000 tỷ USD Mạng tài chính toàn cầu không ngừng làm thay đổi việc chu chuyển tài chính trên thế giới, mạng lưới này hoạt động gần như 24/24 giờ trong ngày với hàng ngàn tỷ USD đã được chu chuyển khắp thế giới thông qua các thị trường hối đoái
Luồng vốn chảy vào một số nền kinh tế công nghiệp chưa thực sự phát triển cũng tăng mạnh, nhất là trong giai đoạn trước khủng hoảng ở châu
á (1980-1996) Tổng nguồn vốn tư nhân vào các nước này tăng mạnh từ 2,1
ước còn khoảng 15,2 tỷ USD năm 2003 (xem hình 1)
Trang 32Hình 1: Luồng vốn đầu tư vào một số nền kinh tế, 1980-2003 (tỷ USD)
Nguồn: Dựa trên IMF (2002) và Michael Mussa (2003)
Luồng đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng rất mạnh và tương đối bền
vững Các nước phát triển và nhiều nước đang phát triển đã trở thành chủ thể
chủ yếu đầu tư ra nước ngoài và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong giai đoạn 1985-1990, mức đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng năm của các nước phát triển từ hơn 145 tỷ USD tăng lên gần 295 tỷ USD, của các nước
đang phát triển tăng từ gần 11 tỷ USD lên hơn 51 tỷ USD; cùng kỳ, mức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước phát triển tăng từ khoảng 117
tỷ USD lên hơn 208 tỷ USD, của các nước đang phát triển cũng tăng từ gần
25 tỷ USD lên hơn 128 tỷ USD Riêng luồng FDI tư nhân vào các nước có nền công nghiệp chưa thực sự phát triển cũng tăng mạnh và tương đối bền vững, tăng từ 6,7 tỷ USD năm 1980 lên 117 tỷ năm 1996 và ước đạt 165 tỷ
USD năm 2003 (xem hình 1) Tuy nhiên, xét theo một số chỉ số tương đối
của TCH so với GDP, mức độ TCH kinh tế hiện nay không lớn hơn nhiều so với những năm đầu thế kỷ XX Chẳng hạn, vào những năm 1913, tỷ lệ FDI so
với tổng sản lượng thế giới là 9% và tỷ lệ tài sản ở ngoài quốc gia là 1,9%; trong những năm 1990, con con số tương ứng là 10,1% và 2,1%
Thứ hai, Hình thành không gian kinh tế toàn cầu Với sự sụp đổ của
hệ thống XHCN, lần đầu tiên nền kinh tế thị trường toàn cầu được nhất thể
Trang 33hoá thực sự do các nước XHCN trước đây đã bắt đầu cải cách, chuyển đổi
để hội nhập với hệ thống kinh tế toàn cầu
Thứ ba, các TNC tiếp tục có vai trò rất lớn trong phân công lao động
quốc tế và liên kết kinh tế toàn cầu Cùng với sự tăng vọt về số lượng13, quy mô kinh doanh, mức FDI, lĩnh vực và địa bàn hoạt động của các TNC đều không ngừng mở rộng Hiện nay, các TNC sản xuất ra khoảng 50% GDP của các nước phát triển, kiểm soát 60% thương mại toàn cầu, 80% tổng lượng vốn FDI, 75% kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ mới, sử dụng gần 40 triệu lao động Chỉ 500 công ty lớn nhất cũng đã kiểm soát tới 25% GDP thế giới, giá trị trao đổi của chúng tương đương 3/4 giá trị buôn bán thương mại sản phẩm công nghệ - dịch vụ toàn cầu
Xét theo mục tiêu, các hình thức FDI của các TNC cũng có những biến đổi sâu sắc về chất Nếu như trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, các hoạt động của FDI chủ yếu là khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên thì trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai tới cuối những năm 1960, luồng FDI chủ yếu theo hướng tìm kiếm thị trường, tức hướng tới đa dạng hoá sản phẩm gia dụng và công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại và trong tương lai Từ thời điểm này tới cuối những năm 1980, luồng FDI đã chuyển hướng sang tìm kiếm hiệu quả, nghĩa là các TNC tiến hành các hoạt
động hợp lý hoá hoặc kết nối (khu vực và toàn cầu) nhằm sản xuất các sản phẩm xuyên biên giới hoặc chuyên môn hoá chu trình sản xuất Bắt đầu từ giữa những năm 1980 đến nay, luồng FDI lại có khuynh hướng chuyển sang tìm kiếm tài sản chiến lược, theo đó các TNC thực hiện việc mua lại hoặc liên minh với một công ty mới (nhất là các doanh nghiệp nhà nước đang cổ phần hoá) nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh dài hạn của mình thay vì thành lập một công ty mới
Đặc biệt, những năm cuối cùng của thế kỷ XX, các TNC bắt đầu hình thành các "liên minh chiến lược" kiểu mới Đứng trước sức ép cạnh tranh, làn sóng tự do hóa và sự mở ngỏ các lĩnh vực đầu tư mới, ngày càng nhiều công ty, kể cả công ty của các nước đang phát triển, tích cực tham gia vào
13
Theo thống kê của Liên hợp quốc, đầu những năm 70, toàn thế giới có hơn 7.000 TNC với 27.000 chi nhánh tại nước ngoài Đến năm 1980 có 12.000 NTC với 122.000 chi nhánh Năm 1989 số TNC đã đạt tới 35.000 với 150.000 chi nhánh Đến nay con số này đã tăng vọt tới 67.000 với 700.000 chi nhánh ở hầu khắp các nước trên thế giới
Trang 34hoạt động TCH kinh tế thông qua nhiều hình thức liên minh, như thông qua việc sáp nhập, thôn tính và mua lại để thiết lập ở nước ngoài các cơ sở sản xuất - kinh doanh của mình
Thứ tư, cơ cấu thương mại thay đổi với sự vươn lên của các nước mới
toàn cầu hoá Thành tựu phát triển đáng khích lệ nhất trong giai đoạn toàn cầu hoá này là việc một số nước đang phát triển, với dân số khoảng 3 tỷ người, lần đầu tiên đã thành công trong việc sử dụng nguồn lao động phong phú để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong sản xuất các sản phẩm chế tạo sử dụng nhiều lao động và dịch vụ Vào năm 1980, chỉ có 25% hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển là các sản phẩm chế tạo Tới năm 1998 con số này dã tăng lên 80% Trong giai đoạn này, tỷ lệ dịch vụ trong giá trị xuất khẩu của các nước giàu chỉ tăng lên cht ít chiếm 20%, trong khi tỷ lệ này của các nước đang phát triển tăng gần gấp đôi, đạt 17% Sự gia tăng vai trò của các nước đang phát triển trong hệ thống thương mại toàn cầu thách thức vị trí
độc quyền của các nước giàu và tạo điều kiện cho các nước đang phát triển khác cơ hội vươn lên, hạn chế sự bất bình đẳng trong thương mại quốc tế
Đặc biệt, trong những năm gần đây, sự bứt phá của Trung Quốc về mức độ tăng trưởng kinh tế cho thấy, nước này ngày càng chiếm vị trí trung tâm
trong thương mại toàn cầu
Thứ năm, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa
học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, đã hình thành một chỉnh
thể thị trường toàn cầu với các thể chế liên kết mang tính kỹ thuật chung
như thể chế thông tin điện tử chung toàn cầu, thương mại điện tử chung toàn cầu, quyền sở hữu trí tuệ chung toàn cầu và hình thành các định chế toàn cầu mang tính pháp lý điều khiển thể chế thị trường toàn cầu nói trên như WTO, WB, IMF
WTO ra đời 1995, có tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) được thành lập năm 1946 - có vai trò ngày càng quan
trọng đối với thương mại quốc tế Kế thừa hoạt động của GATT, WTO đã
mở rộng lĩnh vực hoạt động, thu hút thêm nhiều thành viên mới, thúc đẩy
mạnh quá trình TCH kinh tế; nhiều quy tắc, luật lệ của WTO đã trở thành những định chế cơ bản của nền kinh tế TCH đang hình thành WTO chế
định, điều hòa các lĩnh vực như thương mại hàng hóa, dịch vụ; bản quyền trí tuệ; đầu tư có liên quan đến thương mại; bảo vệ môi trường và điều kiện lao
Trang 35động WTO còn đảm nhận vai trò trọng tài trong tranh chấp thương mại quốc tế và trong việc loại bỏ các chướng ngại trong giao dịch và thúc đẩy tự
do hóa thương mại toàn cầu
Ngoài ra, còn có các tổ chức kinh tế quốc tế khác như OECD; nhóm 7 nước công nghiệp phát triển nhất (G7); các tổ chức kinh tế quốc tế như UNDP và hàng trăm tổ chức tư nhân, phi chính phủ Tuy vậy, vai trò chi phối trong hệ thống kinh tế - chính trị quốc tế thuộc về một số nước, chủ yếu là các nước đã liên kết trong khuôn khổ G7, đứng đầu là Mỹ Các nước này có tiếng nói quyết định chính sách của các tổ chức quốc tế quan trọng
Thứ sáu, gia tăng liên kết kinh tế thương mại khu vực và song
phương nhằm khai thác lợi thế so sánh của từng vùng, miền, khu vực đồng thời đối phó với những rủi ro thương mại do sự bế tắc của các thoả thuận đa phương nhất là Vòng đàm phán Doha Trên thế giới ngày nay đã hình thành rất nhiều liên kết kinh tế khu vực, tiểu khu vực, điển hình là EU, Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (APEC), Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), Thị trường chung Nam Mỹ (MECOSUR) Các tổ chức liên kết này đang có xu hướng mở cửa và mở rộng quan hệ kinh tế với các khu vực khác dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau Nhiều hiệp định thương mại tự do song phương được ký kết như Trung Quốc- Thái Lan, Singapore- Hoa Kỳ
Thứ bảy, TCH kinh tế hiện nay là quá trình vận động với những xu
hướng đối nghịch, mâu thuẫn và phức tạp:
- TCH đang diễn ra mạnh mẽ, song mâu thuẫn giữa xu thế TCH và
xu thế chống lại TCH có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Mâu thuẫn này thể hiện rõ nét nhất trong quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu Một mặt, sự phụ thuộc nhau ngày càng tăng của các nước công nghiệp phát triển đòi hỏi một cách khách quan phải tự do hóa thương mại cũng như phải áp dụng nguyên tắc của sự phân công lao động quốc tế Mặt khác, mức
độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các nước lại thúc đẩy xu thế tái bảo
hộ ở một số nước, nhất là ở Hoa kỳ trong một vài năm gần đây Ngoài ra,
chính trong cao trào chống TCH cũng có sự mâu thuẫn Các cuộc biểu tình chống TCH đại diện cho nhiều lợi ích khác nhau và nhiều khi mâu thuẫn nhau (chẳng hạn, bảo vệ môi trường và việc làm tại các nước phát triển; ủng
Trang 36hộ TCH "bình đẳng", mở cửa thương mại và hỗ trợ hơn nữa cho các nước
đang phát triển, nhất là các nước nghèo )
Trong xu thế TCH kinh tế với sự đẩy mạnh tự do hóa thương mại và
đầu tư đã buộc các nước phải cắt giảm thuế quan, mở cửa thị trường thì tại một số nước công nghiệp phát triển hàng rào phi thuế quan lại xuất hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau, tinh vi và khó nhận biết hơn Các nước phát
triển, tuy có giảm thuế cho những mặt hàng nhập khẩu, nhưng lại áp đặt những điều kiện hết sức khắc nghiệt như tiêu chuẩn môi trường, tiêu chuẩn
kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ, nhân đạo, chứng nhận xuất xứ v.v Điều này đã khiến hàng hóa của nhiều nước, nhất là của các nước đang phát triển, rất khó thâm nhập vào được thị trường của các nước phát triển
Ngoài ra, bên cạnh việc liên kết hình thành cộng đồng thế giới lại diễn ra xu hướng co cụm theo khu vực địa lý, nhất là xu hướng ký kết quan
hệ kinh tế song phương hoặc khu vực trong một vài năm gần đây Sự hình
thành NAFTA, EU, ASEAN, Trung Quốc - ASEAN, Nhật Bản - ASEAN
là sự biểu hiện của xu hướng đó Từ 1948 đến 1994, trên thế giới đã xuất hiện 109 tổ chức hợp tác kinh tế khu vực, trong đó 2/3 được hình thành vào những năm 90 của thế kỷ XX Nhất là từ sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu á (1997-1998) đến nay thì xu hướng bảo hộ mậu dịch lại có chiều hướng gia tăng
- Nền kinh tế thế giới tăng trưởng và phát triển nhưng ngày càng lại
chứa đựng nhiều nhân tố gây mất ổn định TCH kinh tế làm tăng tính phụ thuộc vào nhau giữa các nền kinh tế, nhưng cũng chính quá trình này rất dễ gây nên những xáo động lan truyền giữa các nước và các khu vực khác nhau (hiệu ứng lan tỏa), nhất là theo các luồng vốn, tài chính Đặc biệt, khủng hoảng tài chính trong một vài thập niên gần đây đã xảy ra với tần suất và mức độ thiệt hại ngày càng lớn14, nhất là từ những năm 1980 (xem hình 2)
14
Theo IMF (2002), nếu như trong kỷ nguyên Bretton Woods (1945-1971) tần suất khủng hoảng tài chính (được đo bằng chỉ số khủng hoảng tài chính tại một nước theo số năm) là 7% và thiệt hại (được tính bằng % GDP) là hiệu số tính gộp giữa tăng trưởng GDP thực tế và tăng trưởng GDP theo xu thế trước
đó) 14,6% GDP thì sau thời kỳ hậu Bretton Woods các số tương ứng là 9,7% và 19,9% GDP
Trang 37Hình 2: Tần suất khủng hoảng tài chính trên thế giới, 1970-1997
Nguồn: Caprio and Klingebiel (1996), Frankel and Rose (1996), and Kaminsky and Reinhart (1997)
Ngoài ra, chủ nghĩa khủng bố, các bệnh dịch truyền nhiễm cũng lan
truyền rất nhanh và có tác động tiêu cực và khó dự đoán đối với các nền kinh tế trên thế giới Làn sóng khủng bố có tính toàn cầu đã có từ lâu, nhưng gây chấn động lớn là vụ 11 tháng 9 năm 2001 khi Al-Qaeda đánh sập tòa tháp đôi của Trung tâm thương mại thế giới tại New York Nó thực sự đã tác
động sâu sắc đến chính trị, an ninh và kinh tế thế giới
Thứ tám, luồng di chuyển lao động cũng gia tăng mạnh Quá trình
này được thực hiện thông qua việc tổ chức sản xuất quốc tế và thương mại của các TNC thông qua các tổ chức liên kết song phương và đa phương và thông qua di cư tự phát Quá trình di chuyển lao động, di cư trên thế giới xuất phát từ tình trạng bất bình đẳng về cơ hội việc làm và thu nhập15, sự thay đổi cơ cấu sản xuất, ngành nghề
Thứ chín, xu thế bảo hộ mậu dịch nhìn chung ngày càng có xu thế
nới lỏng Trong tiến trình tự do hoá thương mại toàn cầu với số lượng thành
Trang 381986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 199
5 199
6
1997 1998 1999 Các nước đang phát triển (129) Các nước công nghiệpphát triển (23)
viên WTO ngày càng tăng (nay có khoảng 148 nước thành viên), xu hướng chung là mức thuế suất giảm dần và hàng rào phi thuế quan từng bước được bãi bỏ
Hình 3 cho thấy, mức thuế suất nhập khẩu vào các nước đang phát triển giảm mạnh, từ mức trung bình (tại 129 nước) 27,6% năm 1980 xuống còn 19,4% năm 1993 xuống còn 11,3% năm 1999; trong cùng giai đoạn, mức thuế suất nhập khẩu vào các nước phát triển (23) giảm tương ứng từ 9,8% xuống còn 7,9% và 4,0%
Hình 3: Mức thuế suất nhập khẩu trung bình trên thế giới, 1980-1999
Nguồn: World Bank (2003)
Thứ mười, hình thành một nền kinh tế mới Một xu hướng đã khá rõ
nét được hình thành từ những năm 80-90 của thế kỷ trước là thế giới sẽ chuyển sang một nền kinh tế mới, tức là nền kinh tế có những phát triển cao hơn hẳn so với nền kinh tế công nghiệp hoá Các nhà kinh tế và xã hội học vẫn chưa có cách gọi thống nhất, một số thì gọi là hậu công nghiệp, một số khác thì gọi là nền kinh tế tri thức, một số khác nữa lại gọi là nền kinh tế mới, hay là nền kinh tế dịch vụ Đặc trưng cơ bản của nó là tri thức trở thành nền tảng, yếu tố quyết định nhất của sự phát triển, cùng với quá trình này là nền khoa học - công nghệ mới thay đổi về chất sự phát triển kinh tế, một nền kinh tế ít tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu và năng lượng Những đặc trưng nổi bật là thế giới công nghệ thông tin và sản xuất sản phẩm hữu ích nhiều hơn nhưng tiết kiệm hơn về chi phí vật chất và lao động, khu vực dịch
vụ dần dần chiếm ưu thế trong nền kinh tế thế giới Trên một ý nghĩa nhất
định, TCH trong tương lai sẽ dẫn đến một nền kinh tế dịch vụ trên phạm vi
thế giới
Trang 39Thời đại kinh tế tri thức thay thế kinh tế tài nguyên Việc khai thác và làm nghèo đi tự nhiên đã được thay bằng vận dụng tri thức, tiết kiệm tài nguyên và tái tạo tài nguyên, tái tạo và gìn giữ môi trường tự nhiên, môi trường sống Một nền kinh tế dựa vào nguồn lực tự nhiên và phá huỷ môi trường tự nhiên được thay thế bằng kinh tế dựa vào tri thức để cân bằng sinh thái Đây là một đặc trưng quan trọng và ngày càng nổi bật trong thời đại hiện nay - thời đại TCH
1.2 TáC ĐộNG CủA Toàn cầu hoá Và Hội nhập kinh tế quốc
tế ĐốI VớI PHáT TRIểN KINH Tế - X∙ HộI
Toàn cầu hoá mang lại lợi ích không giống nhau đối với các nước và các nhóm xã hội Do đó, có nhiều quan điểm khác nhau về tác động của TCH, những cơ hội và thách thức của nó Tựu trung lại, có ba cách hiểu về
tác động của TCH Quan điểm thứ nhất tuyệt đối hoá mặt tích cực của toàn
cầu hoá và những cơ hội của nó Quan điểm này đang thịnh hành ở các nước phát triển và những nước và nhóm xã hội được lợi nhiều từ quá trình TCH
Quan điểm thứ hai tuyệt đối hoá mặt tiêu cực của TCH, chỉ thấy những
thách thức và rủi ro Đây là quan điểm của những người bị thua thiệt trong TCH, ở vào vị thế ngày càng bất lợi trong xu thế TCH ngày càng sâu sắc Cùng với cách hiểu này, hình thành nên một làn sóng chống TCH, phản đối TCH Tham gia làn sóng này là những người nghèo, có ít cơ hội cải thiện cuộc sống ở các nước phát triển, những người theo các phái tôn giáo mà nền văn hoá của họ có nguy cơ bị đồng hoá (đạo giáo cực đoan), những người
ủng hộ tư tưởng CNXH theo kiểu cũ Quan điểm thứ ba cho rằng TCH là
một xu thế khách quan, không thể đảo ngược Xu thế này vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực đến mỗi quốc gia và các nhóm xã hội, vừa tạo ra cơ hội vừa đặt ra nhiều thách thức Vấn đề là ở chỗ tận dụng cơ hội đó như thế nào để có được nhiều lợi ích từ TCH và hạn chế những tác động bất lợi của nó TCH chỉ tạo ra cơ hội mà thôi, chứ không mang lại lợi ích một cách tự nhiên Do đó, muốn tận dụng được cơ hội phải hiểu bản chất và xu thế của nó Phải biết điều chỉnh để thích nghi Kinh nghiệm cho thấy nếu chỉ tham gia vào toàn cầu hoá một cách thụ động thì lợi ích sẽ rất hạn chế và rủi ro rất nhiều Chỉ có tích cực, chủ động hội nhập, đẩy mạnh cải cách mới biến cơ hội thành lợi ích thực sự Quan điểm này là cách hiểu phổ biến và
đúng đắn hiện nay
TCH có tác động tích cực và tiêu cực, trực tiếp và gián tiếp, động và tĩnh đối với mọi nền kinh tế trong quá trình HNKT quốc tế, chủ yếu thông qua các kênh như: tự do hoá thương mại; tự do hoá FDI, kể cả hỗ trợ phát
Trang 40triển chính thức (ODA) và tự do hoá các dòng vốn; thông qua các quan hệ song phương và đa phương về chính trị và kinh tế giữa các nước; thông qua cả các tác động về khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội, an ninh- quốc phòng v.v
1.2.1 Tác động đến tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô
(1) Tác động của tự do hoá thương mại
Tự do hoá thương mại được thực hiện trên các nguyên tắc của WTO
là mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ thông qua cắt giảm mức thuế quan
và dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan; thực hiện quy chế tối huệ quốc, không phân biệt đối xử và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá và dịch vụ
từ các nước thành viên
Thông qua tự do hoá thương mại quốc tế, ở tầm vĩ mô, các quốc gia
có thể phát huy lợi thế so sánh; nâng cạo khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh tế nhờ phân bổ nguồn lực hợp lý và hiệu quả hơn; mở rộng tiếp cận thị trường Đối với các nước có nền kinh tế chuyển đổi, hội nhập kinh tế là phương thức hiệu quả giúp cho nền kinh tế được chuyển đổi một cách hiệu quả sang nền kinh tế thị trường ở tầm vi mô, tự do hóa thương mại tác động tích cực đối với cạnh tranh và công nghiệp hóa trong nước chủ yếu nhờ giảm chi phí đầu vào sản xuất, tiếp nhận công nghệ và kỹ năng quản lý tiến bộ hơn, phát triển nguồn nhân lực ; các yếu tố này dẫn đến năng suất và sức cạnh tranh quốc tế tăng; đến lượt, xuất khẩu được mở rộng tạo điều kiện để
mở rộng quy mô sản xuất, nhập công nghệ mới, tăng hiệu quả quản lý Như vậy, tự do hoá thương mại góp phần cải thiện năng suất tổng hợp các yếu tố (TFP), thúc đẩy cạnh tranh, qua đó tác động tích cực đối với công nghiệp hóa, tăng trưởng kinh tế
Ngoài tác động tích cực làm tăng hiệu quả của việc phân bổ nguồn lực trong nước, tự do hóa thương mại, nhất là khi trở thành thành viên WTO còn có tác động tích cực là cải thiện quản trị, giảm tham nhũng Tuy vậy, việc trở thành WTO có thể kéo theo tăng chi phí liên quan tới việc thực thi
và chuyển đổi các chính sách trong nước cho hài hòa với thông lệ quốc tế
Tuy vậy, tự do hoá thương mại có thể tác động gián tiếp, tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế nếu các chính sách vĩ mô có liên quan đến thương
mại, đầu tư không được quản lý, hoạch định một cách thích hợp, hiệu quả
Các tác động tiêu cực có thể của tự do hoá thương mại đối với tăng trưởng kinh tế có thể là: 1) Tác động xấu lên cán cân vãng lai (nếu gây ra thâm hụt