Ví dụ, về bản chất, vai trò, chức năng và các nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, đã chú trọng nhiều đến tính chính trị, tính giai cấp, chức năng trấn áp, vai trò quản lí của nhà nướ
Trang 1( SÁCH CHUYÊN KHẢO)
Trang 2963-2009/CXB/28-275/CAND
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
(SÁCH CHUYÊN KHẢO)
NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN
HÀ NỘI - 2009
Trang 4TS NGUYỄN QUỐC HOÀN
TS TRẦN QUANG HUY
TS BÙI THỊ HUYỀN
TS NGÔ THỊ HƯỜNG ThS ĐOÀN TRUNG KIÊN
TS NGUYỄN HIỀN PHƯƠNG
TS NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
TS ĐỖ THỊ PHƯỢNG
TS NGUYỄN VĂN QUANG
TS PHẠM HỒNG QUANG GS.TS LÊ MINH TÂM
TS NGUYỄN THANH TÂM PGS.TS THÁI VĨNH THẮNG ThS BÙI THỊ THU
Trang 5LỜI GIỚI THIỆU
Thực hiện đường lối đổi mới đất nước, Việt Nam chủ trương phát huy nội lực, đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân, vì dân; chủ động hội nhập quốc tế
và phát triển bền vững Để đáp ứng yêu cầu đó, những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu được đặt ra là phải xây dựng, hoàn thiện pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật
có hiệu quả, đào tạo nguồn nhân lực pháp luật có trình độ cao Góp phần vào sự nghiệp chung đó, Trường Đại học Luật Hà Nội - cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học lớn của cả nước đã tiến hành nhiều hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm trực tiếp phục vụ nhu cầu nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo đội ngũ cán bộ pháp luật cũng như tham gia các hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước Nhân dịp kỉ niệm 30 năm ngày thành lập (10/11/1979 – 10/11/2009), Trường Đại học Luật Hà Nội chọn một số chuyên đề xuất bản thành tập sách chuyên khảo
có tên “Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền
vững” Tập sách bước đầu công bố kết quả nghiên cứu hơn 30 chuyên đề do các cán
bộ, giảng viên thực hiện theo các chuyên ngành luật học đang được giảng dạy, nghiên cứu tại Trường
Ngoài các chuyên đề chung về pháp luật Việt Nam ở phần đầu, các tác giả còn đi sâu nghiên cứu nhiều vấn đề cụ thể thuộc các chuyên ngành luật học; phân tích, đánh giá quá trình phát triển, những tồn tại, bất cập của pháp luật hiện hành; đề xuất hướng hoàn thiện theo yêu cầu hội nhập quốc tế và phát triển bền vững Tuy các tác giả đã dành khá nhiều tâm huyết và sự nỗ lực để nghiên cứu, viết các chuyên đề nhưng tập sách cũng khó tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định Trường Đại học Luật Hà Nội xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và hi vọng rằng tập sách sẽ chuyển đến bạn đọc những quan điểm, ý tưởng khoa học nghiêm túc, lí thú về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay cũng như các thông tin tham khảo bổ ích khác Tập thế tác giả rất mong nhận được các ý kiến trao đổi của bạn đọc TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 6BẢNG TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự
PLHĐKT Pháp lệnh hợp đồng kinh tế TANDTC Toà án nhân dân tối cao
Trang 7ĐỔI MỚI TƯ DUY PHÁP LÍ VÀ NHỮNG HIỆU ỨNG CƠ BẢN CỦA ĐỔI MỚI TƯ DUY PHÁP LÍ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
GS.TS Lê Minh Tâm
Giảng viên cao cấp, Tổng biên tập Tạp chí Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội
Sau 23 năm đổi mới, đất nước Việt Nam đã có sự thay đổi cơ bản, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao Điều đó chứng tỏ đường lối đổi mới là đúng đắn, sáng tạo,
phù hợp với thực tiễn Việt Nam Từ thực tiễn sinh động đó, công cuộc đổi
mới của Việt Nam đã trở thành giá trị sáng tạo văn hoá mang đậm chất Việt
Nam Hai chữ “đổi mới” đã trở thành thuật ngữ được quốc tế hoá, hàm chứa
trong nó những nội dung hết sức phong phú: Đổi mới là đường lối chiến lược, là chính sách phát triển, là sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam trong giai đoạn mới, là phong trào mạnh mẽ và rộng rãi có sức mạnh lôi cuốn, động viên và tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh…
Có nhiều yếu tố góp phần tạo ra tầm vóc và giá trị của công cuộc đổi mới, trong đó đổi mới tư duy và đổi mới tư duy pháp lí có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi vì, muốn đổi mới thắng lợi thì phải có hệ thống lí luận đúng đắn, đầy đủ và sắc bén Tư duy là sản phẩm cao nhất của bộ óc con người, là quá trình phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, phán đoán, lí luận Dựa trên sự so sánh các tài liệu thu được từ nhận thức cảm tính hoặc các ý nghĩ với nhau, trải qua quá trình khái quát hoá, trừu tượng hoá, phân tích, tổng hợp để rút ra các khái niệm, phán đoán, giả thuyết, lí luận, kết quả của tư duy luôn là sự phản ánh khái quát các thuộc
Trang 8tính, các mối liên hệ cơ bản, phổ biến, các quy luật không chỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở nhóm sự vật nhất định(1) Tư duy xuất hiện do kết quả hoạt động thực tiễn nhưng sau khi xuất hiện, sự phát triển của tư duy còn chịu ảnh hưởng của toàn bộ tri thức nhân loại đã tích luỹ được trước đó, cũng như các lí thuyết, quan điểm cùng thời với nó Vì thế, tư duy có tính độc lập, sáng tạo trong quá trình tìm kiếm tri thức mới, xây dựng cơ sở lí luận cho việc hoạch định chính sách, quan điểm và định hướng cho các hoạt động thực tiễn Chỉ có dựa trên cơ sở của tư duy toàn diện, đúng đắn, sáng tạo mới có được những khái niệm, quan điểm, lí luận đầy đủ, đúng đắn và sáng tạo
Tư duy thể hiện trên ba phương diện cơ bản là nhận thức, tư tưởng và phương pháp tư duy Trước thời kì đổi mới, về mặt nhận thức, đã có nhiều nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ, thậm chí lạc hậu, lỗi thời; về tư tưởng,
đã có những biểu hiện chủ quan, duy ý chí hoặc bảo thủ, trì trệ, vừa tả khuynh vừa hữu khuynh; về phương pháp tư duy, lối suy nghĩ và hành động còn giản đơn một chiều, xơ cứng(2)… Trong bối cảnh đó, tư duy pháp lí cũng có tình trạng tương tự Về nhận thức, nhiều vấn đề cơ bản về nhà nước
và pháp luật còn được nhận thức phiến diện, một chiều với quan điểm lạc
hậu, thậm chí giáo điều, máy móc Ví dụ, về bản chất, vai trò, chức năng và
các nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, đã chú trọng nhiều đến tính chính trị, tính giai cấp, chức năng trấn áp, vai trò quản lí của nhà nước theo phương pháp mệnh lệnh hành chính, chưa có sự nhận thức toàn diện, đầy đủ
và đúng đắn về bản chất xã hội và chức năng xã hội, về các phương pháp dân chủ trong việc thực hiện chức năng quản lí, điều hành của nhà nước, không phân biệt rõ chức năng quản lí nhà nước với quản lí sản xuất kinh doanh…; về pháp luật, cũng còn nhiều nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về bản chất, vai trò, chức năng và những giá trị xã hội của pháp luật, chưa có
sự phân tích toàn diện, sâu sắc và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa pháp luật với nhà nước, dân chủ, kinh tế, văn hoá, xã hội; giữa nhà nước với pháp quyền và xã hội công dân… Về tư tưởng, đã tồn tại trong thời gian dài những quan điểm lạc hậu, chủ quan, duy ý chí, bảo thủ về pháp luật, coi pháp luật là do nhà nước sinh ra, áp đặt ý chí nhà nước một cách cứng nhắc,
(1).Xem: Từ điển bách khoa Việt Nam, Tập 3, Nxb Bách khoa, tr 701
(2).Xem: Văn kiện Đại hội Đảng thời kì đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 21 - 27
Trang 9chưa chú trọng phân tích và thể hiện đầy đủ tính khách quan và những nguyên tắc dân chủ trong xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật… Về phương pháp tư duy pháp lí, cách suy nghĩ giản đơn một chiều, xơ cứng về pháp luật XHCN, đối lập pháp luật XHCN với pháp luật tư sản, xây dựng
mô hình pháp luật theo hướng lí tưởng hoá, hành chính hoá làm cho pháp luật trở nên đơn điệu, xa rời thực tiễn và thiếu tính khả thi Với cách tư duy này, việc nghiên cứu để tiếp thu và vận dụng những yếu tố hợp lí trong các quan điểm, học thuyết pháp lí tư sản cũng như những kinh nghiệm trong xây dựng và thực thi pháp luật của các nước phát triển rất hạn chế, tình trạng thiếu thông tin pháp lí hoặc không chấp nhận một số nguyên tắc, giá trị của pháp quyền đã diễn ra trong thời gian khá dài Kiểu tư duy như vậy đã có tác động, ảnh hưởng và mang lại những hiệu ứng tiêu cực đối với quá trình phát triển của Nhà nước và pháp luật Việt Nam Thực tế lịch sử xây dựng Nhà nước và pháp luật Việt Nam trong những năm 70, 80 của thế kỉ trước
đã cho thấy rõ điều này
Từ cuối năm 1986, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ở Việt Nam chính thức được khởi động và cũng từ đó, trào lưu đổi mới tư duy pháp lí có
sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng mang lại những hiệu ứng tích cực, góp phần to lớn vào việc thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới nói chung và công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước và pháp luật Việt Nam nói riêng Nhìn một cách tổng quát, đổi mới tư duy pháp lí đã đạt được những
thành tựu cơ bản trên cả ba phương diện Thứ nhất, đổi mới tư duy pháp lí
đã làm thay đổi căn bản trong nhận thức về nhiều vấn đề của nhà nước và pháp luật Trên cơ sở nắm vững và phát triển sáng tạo các tư tưởng, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật; kế thừa, phát triển những kết quả nghiên cứu lí luận và kinh nghiệm xây dựng, phát triển Nhà nước và pháp luật của Việt Nam đồng thời nghiên cứu, tham khảo
và tiếp thu có chọn lọc những kiến thức, kinh nghiệm của nước ngoài, nhiều vấn đề lí luận, thực tiễn về nhà nước và pháp luật đã được nhận thức một
cách toàn diện, đầy đủ và đúng đắn hơn Thứ hai, đổi mới tư duy pháp lí đã
tác động và làm thay đổi những tư tưởng, quan niệm lạc hậu, lỗi thời, chủ quan duy ý chí trong tiếp cận và xử lí các vấn đề về nhà nước và pháp luật
Trang 10Thứ ba, đổi mới tư duy pháp lí đã góp phần hình thành và phát triển những
phương pháp mới, lối suy nghĩ và hành động mới, nhìn nhận các vấn đề về nhà nước và pháp luật trong sự vận động, phát triển, trong những mối liên
hệ phổ biến và trong những điều kiện lịch sử cụ thể…
Nhìn một cách cụ thể hơn, những kết quả của quá trình đổi mới tư duy pháp lí và những hiệu ứng(1) mạnh mẽ của nó thể hiện ở nhiều mặt với nhiều cấp độ và hình thức khác nhau, trong đó có những điểm chủ yếu sau đây:
1 Về bản chất của nhà nước: Trước đổi mới, những phân tích lí luận
đã hướng trọng tâm chủ yếu vào làm rõ và nhấn mạnh bản chất chính trị, tính giai cấp của nhà nước,(2) chưa phân tích một cách toàn diện, đầy đủ bản chất xã hội và những yêu cầu khách quan từ phía xã hội đối với nhà nước với vị trí, vai trò là người đại diện chính thức của toàn xã hội Đến
nay, bản chất của Nhà nước ta đã được xác định rõ: “Nhà nước Cộng hoà
XHCN Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông nhân và tầng lớp trí thức”.(3) Nhà nước là đại diện, là tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị do nhân dân lập ra và
có trách nhiệm phải phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội; “Các cơ quan nhà
nước, cán bộ viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền tham nhũng”.(4)
2 Về hệ thống chính trị và vai trò của Nhà nước trong hệ thống chính trị: Khái niệm hệ thống chính trị đã được thay cho khái niệm chuyên chính
vô sản Cương lĩnh chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1991 đã
khẳng định: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta
trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân” Hệ thống chính trị được
vận hành theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lí, nhân dân làm
(1) Thuật ngữ “hiệu ứng” được sử dụng với nghĩa là khả năng tác động, ảnh hưởng và đưa lại những kết quả
(2).Xem: Điều 2 Hiến pháp năm 1980 ghi nhận: “Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là
Nhà nước chuyên chính vô sản”
(3), (4).Xem: Điều 2, Điều 8 Hiến pháp năm 1992
Trang 11chủ” Trong hệ thống chính trị, Nhà nước có vị trí, vai trò và tầm quan trọng
đặc biệt, là trụ cột của hệ thống chính trị Nhà nước bảo đảm quyền công dân, quyền con người, nâng cao trách nhiệm pháp lí giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân chủ đồng thời tăng cường kỉ luật, kỉ cương Trong tư duy pháp lí mới, đã có sự nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về dân chủ hoá đời sống xã hội và về việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền với dân chủ XHCN…
3 Về quyền lực nhà nước và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước:
Trên cơ sở nhận thức mới về bản chất, vai trò của nhà nước, kế thừa, phát huy những kết quả đạt được về phương diện lí luận và thực tiễn tổ chức quyền lực nhà nước XHCN Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài, tư duy pháp lí mới đã góp phần hình thành quan điểm lí luận quan trọng về tính chất, nội dung và cách thức tổ chức quyền lực nhà nước
đó là: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.(1)
4 Về chức năng của nhà nước: Trong đổi mới tư duy pháp lí về chức
năng của nhà nước, vấn đề chức năng kinh tế và chức năng xã hội của nhà nước đã được nhận thức toàn diện và sâu sắc hơn cả về tính chất, nội dung
và hình thức Mô hình quản lí kinh tế tập trung, bao cấp đã chuyển sang mô hình quản lí kinh tế thị trường, phân định rõ chức năng quản lí nhà nước về kinh tế với chức năng sản xuất kinh doanh Nhà nước giữ vai trò quản lí, điều tiết nền kinh tế thông qua pháp luật, kế hoạch, chính sách, các công cụ kinh tế và năng lực vật chất cần thiết mà nhà nước nắm; có sự phân cấp ngày càng nhiều hơn để phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương, cơ sở; xoá bỏ mọi hình thức bao cấp; xoá bỏ độc quyền kinh doanh, khuyến khích tự do kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh Từ nhận thức mới về chức năng xã hội của nhà nước, tư duy pháp lí mới đã góp phần giải quyết mối quan hệ chính sách kinh tế với chính sách xã hội và đề cao vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với bảo đảm bình đẳng và công bằng xã hội, coi phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội và thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực
(1).Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001
Trang 12quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế Theo đó, chức năng xã hội của nhà nước ngày càng được đề cao, các chính sách về an sinh xã hội ngày càng được xây dựng đầy đủ và hoàn thiện hơn
5 Về xây dựng nhà nước pháp quyền và đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước: Một trong những thành tựu quan trọng của đổi mới tư
duy pháp lí là đã xây dựng được cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc hình thành mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam Từ chỗ coi nhà nước pháp quyền chỉ có trong các nhà nước tư sản, tư duy pháp lí mới đã khẳng định nhà nước pháp quyền là khái niệm có giá trị phổ biến, có nhà nước pháp quyền tư sản và có nhà nước pháp quyền XHCN; nhà nước pháp quyền có những đặc điểm chung nhưng đồng thời cũng có những đặc điểm riêng tuỳ thuộc vào nhận thức và điều kiện cụ thể của mỗi nước Mô hình Nhà nước pháp quyền Việt Nam được hình thành từng bước: Từ những kết quả nghiên cứu độc lập của các nhà khoa học, quản lí đến việc triển khai nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện ở cấp độ các chương trình, đề tài khoa học cấp quốc gia, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
đã được tổng kết và ghi nhận chính thức trong văn kiện của Đảng và Hiến pháp.(1) Đến nay, mô hình tổng thể của Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân, vì dân đã được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn toàn diện, sâu sắc Mô hình Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN vừa mang những đặc điểm phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung lại vừa mang những đặc điểm riêng, phù hợp với điều kiện của Việt Nam, bao gồm: Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất trên cơ sở phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tôn trọng vị trí tối thượng của hiến pháp và luật trong đời sống xã hội; nhà nước tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiến pháp, pháp luật; trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân là quan hệ chủ đạo trong xã hội: nhà nước phục vụ nhân dân, nhân dân có trách nhiệm đầy đủ với nhà
(1) Thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” được ghi nhận chính thức lần đầu tiên trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì của Đảng (khoá VII) Đến Hội nghị lần thứ 8 (khoá VII) - Hội nghị chuyên đề bàn về nhà nước, đã đề ra 5 quan điểm cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Trang 13nước; nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nhà nước pháp quyền gắn với xã hội công dân (xã hội dân sự); nhà nước thực hiện nghiêm chỉnh và có thiện chí các cam kết quốc tế Nhà nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo
Thực tiễn những năm đổi mới đã cho thấy hiệu ứng tích cực và mạnh
mẽ của tư duy mới về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với hàng loạt các hoạt động cụ thể và những thành tựu to lớn đạt được Quốc hội đã có những bước đổi mới quan trọng, từ bầu cử đại biểu Quốc hội đến hoàn thiện
cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động; tăng cường bộ phận làm chuyên trách; các chức năng lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước đã được tăng cường, nhất là chức năng lập pháp; trong 23 năm đổi mới, Quốc hội đã ban hành được một số lượng lớn các văn bản luật, gấp hơn 3 lần toàn bộ số văn bản luật được ban hành trước thời kì đổi mới.(1) Quốc hội hoạt động thường xuyên hơn, ngày càng dân chủ hơn; tranh luận, thảo luận một cách thẳng thắn, thiết thực; mở rộng chất vấn; tăng cường lắng nghe và tiếp xúc cử tri; hiệu quả, hiệu lực hoạt động của Quốc hội được nâng cao, được nhân dân quan tâm nhiều hơn.(2) Bộ máy hành pháp đã được kiện toàn nhiều so với trước thời kì đổi mới Cơ cấu của Chính phủ đã có những cải cách quan trọng theo hướng hình thành các cơ quan quản lí đa ngành, đa lĩnh vực, giảm bớt đầu mối các cơ quan hành pháp; so với thời kì trước đổi mới, số lượng các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ đã giảm hơn 50%;(3) việc phân định chức năng, thẩm quyền và phân cấp quản lí đã có những bước tiến quan trọng, đã tách chức năng quản lí nhà nước với chức năng quản lí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; phân biệt cơ quan hành chính công quyền với đơn vị sự nghiệp, dịch
vụ công cộng Công cuộc cải cách hành chính đã được triển khai toàn diện trên các lĩnh vực (cải cách thể chế hành chính, trong đó cải cách thủ tục
(1) Trong 23 năm đổi mới, Quốc hội đã ban hành hơn 188 luật, bộ luật và hoàn thiện các quy chế hoạt động của Quốc hội (tăng gấp hơn 3 lần so với thời kì trước đổi mới); Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành 170 pháp lệnh
(2).Xem: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lí luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới
(1986-2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.87
(3) Bộ máy Chính phủ đã giảm từ 76 đầu mối xuống còn 30, trong đó có 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ và 8 cơ quan thuộc Chính phủ; uỷ ban nhân dân cấp tỉnh từ 40 đầu mối xuống còn trên dưới 20 đầu mối và uỷ ban nhân dân cấp huyện từ 20 xuống còn trên dưới 10 đầu mối
Trang 14hành chính được chọn làm khâu đột phá; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công) Hệ thống cơ quan tư pháp đã có nhiều cải cách, đổi mới Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp đã được điều chỉnh và phân định rõ ràng hơn; hệ thống toà án đã có bước phát triển mới, các toà án chuyên trách (toà kinh tế, toà lao động, toà hành chính) đã được thành lập; hệ thống viện kiểm sát cũng đã điều chỉnh theo hướng tập trung vào thực hiện chức năng công tố và giám sát hoạt động tư pháp Các tổ chức bổ trợ tư pháp (luật sư, công chứng, giám định tư pháp) đã được hình thành và ngày càng phát triển Các nguyên tắc công khai dân chủ trong hoạt động tư pháp đã được đề cao hơn
Đặc biệt, ngày 2/6/2005, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã được đề ra Đây là lần đầu tiên ở nước ta, vấn đề cải cách tư pháp được đặt ra ở tầm chiến lược, thể hiện một cách toàn diện và sâu sắc các vấn đề về cải cách tư pháp Nghị
quyết xác định rõ mục tiêu của Chiến lược cải cách tư pháp là: “Xây dựng
nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lí, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” Nghị quyết đã đề ra 5 quan điểm chỉ
đạo quá trình cải cách tư pháp; xác định rõ 5 phương hướng và 8 nhiệm vụ cải cách tư pháp, trong đó có nhiều vấn đề lần đầu tiên được đề ra theo tinh thần và tư duy chính trị-pháp lí mới, thể hiện rõ tính khoa học, tính hiện đại và tính khả thi
6 Về bản chất, vai trò và giá trị xã hội của pháp luật: Trước thời kì đổi
mới, những phân tích lí luận về pháp luật đã hướng trọng tâm chủ yếu vào làm rõ và nhấn mạnh bản chất giai cấp và tính ý chí của pháp luật, chưa phân tích một cách toàn diện và đầy đủ bản chất xã hội, chức năng xã hội và những giá trị xã hội của pháp luật Theo đó, khái niệm pháp luật thường được hiểu theo nghĩa cụ thể và nhiều khi đồng nhất với khái niệm pháp luật thực định, gắn với bản chất giai cấp và tính quyền lực thể hiện ý chí của nhà nước trong hệ thống quy phạm pháp luật thực định Đổi mới tư duy pháp lí
đã mang lại những nhận thức mới toàn diện hơn và sâu sắc hơn Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật và phương pháp tiếp cận hệ thống,
Trang 15các vấn đề của pháp luật đã được xem xét trong mối liên hệ khách quan, phổ biến, trong sự vận động, phát triển phù hợp với yêu cầu, điều kiện lịch sử cụ thể ở trong nước và quốc tế Tính khách quan, bản chất xã hội và vai trò xã hội của pháp luật đã được đề cao hơn, các giá trị xã hội của pháp luật đã được làm rõ hơn trên nhiều phương diện; việc tiếp cận và giải quyết các mối quan hệ cơ bản của pháp luật với chính trị, kinh tế, văn hoá, đạo đức, phong tục, tập quán, dân chủ, giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đã được chú trọng nhiều hơn và các phương pháp xã hội học, luật học so sánh
đã được sử dụng rộng rãi hơn Những nhận thức mới trong đổi mới tư duy pháp lí về bản chất và giá trị xã hội của pháp luật đã tạo ra hình ảnh mới của pháp luật, khơi dậy tâm lí, tình cảm, niềm tin của nhân dân với pháp luật và xác định trách nhiệm của Nhà nước đối với việc xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả
7 Về hệ thống pháp luật: Trước thời kì đổi mới, hệ thống pháp luật
Việt Nam kém phát triển và còn nhiều bất cập: Hệ thống pháp luật còn phiến diện, các văn bản luật (xương sống của hệ thống pháp luật) hết sức
ít ỏi, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực luật hình sự và hành chính; hệ thống văn bản pháp luật về dân sự, kinh tế thiếu trầm trọng lại mang nặng tính chất áp đặt và mệnh lệnh hành chính Tình trạng mâu thuẫn, trùng lặp, chồng chéo và không phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế-xã hội, điều kiện và yêu cầu thực tiễn đã diễn ra một cách phổ biến và kéo dài, làm cho pháp luật kém hiệu lực và hiệu quả Có những nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng này, trong đó có sự ảnh hưởng rất lớn của chiến tranh nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của tư duy pháp lí cũ
Từ năm 1986, những nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng về các vấn đề của hệ thống pháp luật đã được triển khai và đã thu được những kết quả quan trọng: Khái niệm hệ thống pháp luật đã được nhận thức rõ hơn, đầy đủ và sâu sắc hơn, những tiêu chí để đánh giá, xác định mức độ hoàn thiện hệ thống pháp luật đã được xây dựng và tiếp tục bổ sung, làm rõ Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều cuộc khảo sát thực tiễn đã được tổ chức để phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và đề xuất những quan điểm, giải
Trang 16pháp mới cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu của công cuộc đổi mới Kết quả của các cuộc hội thảo và khảo sát
đó đã góp phần tích cực và to lớn vào việc đổi mới tư duy pháp lí Trên cơ
sở của tư duy pháp lí mới, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời kì đổi mới đã có những bước phát triển vượt bậc: Tính toàn diện, thống nhất, đồng bộ, phù hợp, công khai, minh bạch và khả thi của hệ thống pháp luật ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới
Sau 23 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhất là từ sau khi có Hiến pháp năm 1992, hệ thống pháp luật nước ta đã có bước phát triển quan trọng, từng bước hoàn thiện, tạo hành lang pháp lí cho việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xác định chế độ và các hình thức sở hữu, địa vị pháp lí của các doanh nghiệp, thương gia, quyền tự do kinh doanh, tự
do hợp đồng, khuyến khích và bảo đảm đầu tư, giảm dần sự can thiệp bằng các biện pháp hành chính của các cơ quan nhà nước vào các quan hệ dân sự, kinh tế thương mại, xoá bỏ chế độ nhà nước độc quyền ngoại thương; tạo cơ
sở pháp lí cho việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, mở rộng dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, từng bước thực hiện công bằng xã hội, phát triển giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường, xây dựng và phát triển văn hoá dân tộc và du lịch; tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, từng bước phân định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của nhà nước, các
cơ quan trong bộ máy nhà nước, chức năng của các tổ chức phi nhà nước và hoạt động của các doanh nghiệp để Nhà nước tập trung thực hiện chức năng quản lí vĩ mô, phát huy quyền tự chủ của các tổ chức và doanh nghiệp, góp phần để Việt Nam mở rộng hợp tác quốc tế, chủ động thực hiện quá trình hội nhập quốc tế và khu vực
8 Về kĩ thuật lập pháp và quy trình xây dựng pháp luật: Tư duy pháp lí
mới cũng đã mang lại nhiều hiệu ứng tích cực đối với việc phát triển kĩ thuật lập pháp, cải tiến quy trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật Từ sau khi có Hiến pháp năm 1992, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trở thành một trong những mặt hoạt động quan trọng không chỉ của Quốc hội, Chính phủ
mà còn của nhiều cơ quan, ban, ngành, tổ chức, thu hút sự quan tâm của nhiều người, nhiều giới, kể cả những người nước ngoài Đặc biệt, do nhận thức rõ tầm quan trọng của pháp luật trong việc thể chế hoá đường lối, chủ
Trang 17trương, chính sách, quan điểm của Đảng và để thực hiện quản lí nhà nước, Đảng ta đã tăng cường chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật Trong rất nhiều văn kiện quan trọng của Đảng đều có nội dung đề cập vấn đề đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện pháp luật, đồng thời Đảng cũng tăng cường chỉ đạo cụ thể đối với công tác xây dựng pháp luật, nhất là đối với các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng
Việc đề ra chương trình, kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cũng đã có nhiều cải tiến nhằm phát huy dân chủ, phát hiện và đề xuất các vấn đề cần thiết cho việc xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung pháp luật Quốc hội, Chính phủ, các ngành, các cấp đều chú trọng công tác lập chương trình, kế hoạch lập pháp, lập quy Vấn đề phân tích chính sách, khảo sát và tổng kết thực tiễn để làm cơ sở cho việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cũng đã được chú trọng hơn Hoạt động rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật được triển khai trên quy mô rộng và trở thành một trong những nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương; hoạt động pháp điển hoá pháp luật cũng được chú trọng Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh công tác đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán
bộ pháp lí và tăng cường cán bộ cho các cơ quan xây dựng pháp luật cũng là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kĩ thuật xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Ngày 12/11/1996, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được thông qua tại kì họp thứ 10 Quốc hội khoá IX Luật này góp phần tạo ra sự chuyển biến nhanh chóng về mặt nhận thức và tổ chức thực hiện việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm quy trình, thủ tục luật định, trong đó có vấn đề phải nâng cao trình độ kĩ thuật pháp lí Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể những vấn đề quan trọng: Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật; các hình thức và nội dung của từng loại văn bản quy phạm pháp luật; trình tự soạn thảo, thảo luận, xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật; phương thức thẩm định, kiểm tra, giám sát, giải thích và xử lí đối với văn bản quy phạm pháp luật Sau 12 năm phát huy hiệu lực, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 đã góp phần quan trọng vào việc tạo ra một cách làm mới trong lĩnh vực xây dựng pháp luật Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao
Trang 18về phát triển nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 đã có nhiều điểm không còn phù hợp nữa, vì vậy ngày 3/6/2008, tại kì họp thứ 3, Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới để thay thế cho Luật năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002 Đây cũng là một trong những dấu hiệu quan trọng phản ánh hiệu ứng tích cực của tư duy pháp lí mới ở nước ta
9 Về xây dựng cơ chế bảo hiến: Bước tiến quan trọng của đổi mới tư
duy pháp lí là đã phân tích, xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hình thành cơ chế bảo hiến ở Việt Nam Thực tế đã cho thấy, mặc dù bảo hiến được thừa nhận là quan trọng và có tính khách quan nhưng mỗi nước lại có cách tiếp cận và giải quyết vấn đề không hoàn toàn giống nhau Điều
này có thể do những lí do sau đây: Thứ nhất, do tính chất, nội dung và ý
nghĩa đặc biệt của hiến pháp trong đời sống nhà nước, đời sống xã hội và đời sống cá nhân của con người nên xét về mặt lí thuyết, bảo hiến luôn là nhu cầu khách quan và có những đặc tính chung Nhưng bên cạnh những đặc trưng chung thì hiến pháp của mỗi nước lại có những khác biệt riêng Đồng thời, cùng với sự phát triển của xã hội, phạm vi điều chỉnh của hiến pháp không cố định mà luôn có sự biến đổi tuỳ thuộc vào tình hình của mỗi
nước và quốc tế Thứ hai, về mặt lí thuyết, do có sự khiếm khuyết của các
mô hình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, xây dựng và thực thi pháp luật nên bảo hiến được xem là sự phát triển tiếp tục nhằm khắc phục
các khiếm khuyết đó Thứ ba, thực tiễn tổ chức và thực hiện quyền lực nhà
nước, xây dựng và thực thi pháp luật cho thấy tình trạng vi hiến diễn ra khá phổ biến trong các quốc gia và cơ chế bảo hiến hoàn thiện, hoạt động có hiệu quả đang được coi là một trong những giải pháp quan trọng để giải quyết thực trạng đó
Nội hàm của bảo hiến cũng mở rộng theo phạm vi điều chỉnh của hiến pháp và khái niệm cơ chế bảo hiến cũng sẽ có nội hàm rất rộng, bao gồm toàn bộ các thiết chế, phương tiện, nguyên tắc, hình thức, phương pháp, biện pháp tổ chức và thực hiện các hoạt động: 1) Giải thích hiến pháp để bảo đảm cho các nguyên tắc, quy định của hiến pháp được nhận thức và
Trang 19thực hiện thống nhất; 2) Kiểm tra và giám sát các quá trình, hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm bảo đảm sự phối hợp và cân bằng quyền lực, làm cho quyền lập pháp phải phục tùng quyền lập hiến; quyền hành pháp và quyền tư pháp phải phục tùng quyền lập hiến và quyền lập pháp; hạn chế quyền lực của các cơ quan nhà nước và các cá nhân được trao quyền lực nhà nước, bảo đảm cho các chủ thể quyền lực hoạt động theo đúng giới hạn về thẩm quyền và trách nhiệm được hiến pháp và pháp luật quy định; 3) Kiểm tra, giám sát tính hợp hiến và hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật và các điều ước quốc tế, bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật theo nguyên tắc bảo đảm tính tối cao của hiến pháp; 4) Kiểm tra, giám sát việc tôn trọng và thực hiện các quy định của hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, bảo đảm các giá trị nhân bản của hiến pháp, bảo đảm chủ quyền nhân dân và giải quyết đúng mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân; 5) Phát hiện và giải quyết các vấn đề phát sinh về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước
và các cá nhân có thẩm quyền (chủ thể quyền lực); các xung đột pháp luật có biểu hiện vi hiến; các khiếu kiện của công dân đối với cơ quan nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền về các quyết định, các hành vi có biểu hiện vi hiến Với những nội dung đó, bảo hiến bao gồm nhiều quá trình, nhiều hoạt động thường xuyên và không thường xuyên, có thể diễn
ra trước hoặc sau mỗi quá trình, hoạt động, vụ việc xác định, trong đó quá trình này, hoạt động này có thể được thực hiện trước quá trình kia, hoạt động kia và ngược lại
Từ những nhận thức đó, trên cơ sở đánh giá thực trạng của cơ chế bảo hiến Việt Nam, những đề xuất mới về xây dựng cơ chế bảo hiến mới đã có tác động tích cực Văn kiện Đại hội Đảng X đã chính thức ghi nhận định
hướng quan trọng: “Xây dựng và hoàn thiện thể chế giám sát, kiểm tra tính
hợp hiến và hợp pháp trong các hoạt động của các cơ quan công quyền… Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm hiến pháp trong các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp”.(1)
(1).Xem: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ X, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 45, 127
Trang 2010 Về giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế: Thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới đã tạo cho Việt Nam
vị thế mới trên trường quốc tế Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ với 172 nước,(1) mở rộng quan hệ thương mại với trên hơn 200 nước và vùng lãnh thổ,(2) tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế lớn Tình hình đó đặt ra những yêu cầu và thách thức lớn, đòi hỏi phải có sự nhận thức toàn diện, sâu sắc và giải quyết đúng mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế Đổi mới tư duy pháp pháp lí mới đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ này và đã mang lại những hiệu ứng hết sức tích cực Nhiều hoạt động phong phú, sôi động đã diễn ra như rà soát, đối chiếu, đánh giá, phân tích về các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, so sánh với các cam kết quốc tế; xây dựng chương trình, kế hoạch lập pháp, lập quy để bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện Việt Nam và quốc tế; đẩy mạnh công tác soạn thảo, thẩm định và ban hành hệ thống văn bản pháp luật để đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập; xây dựng các quan điểm và biện pháp nhằm thực hiện tốt pháp luật và các cam kết quốc tế…
11 Về văn hoá pháp luật: Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành trung ương
Đảng (khoá VIII) đã ra Nghị quyết “Về xây dựng và phát triển nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, trong đó khẳng định: “Văn hoá
là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế-xã hội” đồng thời chỉ rõ: “Các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, pháp luật, kỉ cương biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển”.(3) Pháp luật là một trong những yếu
tố của văn hoá và văn hoá pháp luật là lĩnh vực văn hoá chuyên ngành Vì vậy, để xây dựng được nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì tất yếu phải chú trọng phát triển văn hoá pháp luật
Nói một cách tổng quát, văn hoá pháp luật là tổng thể những giá trị vật
(1).Xem: Thông tin cơ bản về các nước, khu vực và quan hệ với Việt Nam, nguồn: http://
Trang 21chất và tinh thần mà con người đã sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật được ban hành trong các thời kì lịch sử, những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lí, nguyên tắc, những tác phẩm văn hoá pháp luật, những kinh nghiệm và thói quen tích luỹ được trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật Xét theo quan điểm cấu trúc
hệ thống, văn hoá pháp luật được cấu thành từ ba bộ phận là: Ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật; các thiết chế, phương tiện pháp luật, khả năng, trình độ sử dụng pháp luật để xử lí các quan hệ xã hội nhằm thoả mãn các nhu cầu của cá nhân phù hợp với yêu cầu chung của xã hội
Tư duy pháp lí mới đã góp phần làm thay đổi nhận thức về những giá trị của pháp luật, về phương pháp tiếp cận, sử dụng và phát huy những giá trị của văn hoá pháp luật để phục vụ cho nhu cầu của con người, của cộng đồng, xã hội và nhà nước Việc triển khai nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng về văn hoá pháp luật ngày càng nhiều hơn và có chất lượng hơn Đời sống văn hoá pháp luật của nước ta ngày càng trở nên phong phú và sinh động hơn Lối sống và làm việc theo pháp luật đang trở thành xu hướng tích cực trong xã hội Việt Nam
12 Về ý thức pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật: Ý thức pháp luật
là yếu tố hết sức quan trọng của văn hoá pháp luật, là tiền đề tư tưởng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện pháp luật, là cơ sở bảo đảm cho việc áp dụng
và thực hiện pháp luật một cách đúng đắn trong thực tiễn đời sống Trên thực tế, trước khi xây dựng đạo luật (văn bản pháp luật nói chung) cần phải xác định rõ tư tưởng chỉ đạo, những quan điểm và nguyên tắc cơ bản thể hiện trong đạo luật đó cũng như phải suy nghĩ về nội dung và những quy phạm cụ thể sẽ ban hành Các nhà chức trách và mọi công dân khi có sự hiểu biết và nhận thức đúng, đầy đủ nội dung và yêu cầu của các quy phạm pháp luật sẽ có ý thức tôn trọng và chủ động tuân thủ, chấp hành, sử dụng
và áp dụng pháp luật một cách có hiệu quả hơn trong thực tế
Ý thức pháp luật bao gồm hệ tư tưởng pháp luật (toàn bộ những tư tưởng, quan điểm, quan niệm khoa học về pháp luật) và tâm lí pháp luật (phản ánh những tâm trạng, cảm xúc, thái độ, tình cảm đối với pháp luật và các hiện tượng pháp luật cụ thể khác) Ý thức pháp luật còn thể hiện ở động
cơ hành vi, tinh thần sẵn sàng thực hiện những hành vi theo yêu cầu của
Trang 22pháp luật Ý thức pháp luật thể hiện ở những cấp độ khác nhau tuỳ thuộc vào những điều kiện khách quan và năng lực nhận thức chủ quan của chủ thể nhận thức Theo cấp độ có ý thức pháp luật thông thường, ý thức pháp luật lí luận và ý thức pháp luật nghề nghiệp
Ý thức pháp luật thông thường thể hiện mức độ nhận thức còn hạn chế, thông qua sự phản ánh trực tiếp, giản đơn về các hiện tượng pháp luật
Ý thức pháp luật thông thường được hình thành dưới sự tác động trực tiếp của những điều kiện khách quan và kinh nghiệm của cuộc sống cá nhân, trong đó yếu tố tâm lí xã hội chiếm vị trí quan trọng Ở cấp độ nhận thức này, ý thức pháp luật nhìn chung mới chỉ biểu hiện ở sự thừa nhận, tiếp thu
và xử sự theo sự thừa nhận và tiếp thu đó Ví dụ, dưới sự tác động của các
hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật hoặc tự học tập, mỗi cá nhân
có thể có được sự hiểu biết và nắm được những kiến thức pháp luật nhất định; thông qua việc tham gia vào các hoạt động như bầu cử, góp ý kiến vào các dự án luật và trực tiếp tham gia vào các quan hệ pháp luật cụ thể, mỗi người cũng sẽ có được những hiểu biết và kinh nghiệm nhất định Tuy nhiên, đó mới chỉ là sự hiểu biết thông thường, chưa toàn diện và sâu sắc
Ý thức pháp luật lí luận thể hiện trình độ nhận thức cao, có hệ thống
và sâu sắc về các vấn đề có tính bản chất của pháp luật và các hiện tượng pháp luật Nói cách khác, đó là sự nhận thức có căn cứ khoa học, được hình thành trong quá trình đào tạo, học tập, nghiên cứu một cách có hệ thống và được kiểm nghiệm trong thực tiễn đời sống Ý thức pháp luật lí luận có ưu thế đặc biệt, nó là cơ sở cho hoạt động sáng tạo pháp luật, truyền bá tư tưởng, quan điểm pháp lí, cũng như những hoạt động pháp luật thực tiễn
Ý thức pháp luật nghề nghiệp là ý thức của các luật gia và của các nhà chức trách mà nghề nghiệp có liên quan đến việc hoạch định chính sách pháp luật, nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật Ý thức pháp luật nghề nghiệp là sự kết hợp hài hoà của những yếu tố tư tưởng pháp luật và tâm lí pháp luật Nó không những chỉ biểu hiện ở trình độ hiểu biết cao về pháp luật mà còn phản ánh trình độ nghiệp vụ,
kĩ năng sử dụng và áp dụng pháp luật vào việc giải quyết các công việc của thực tế đời sống
Trang 23Như vậy, ý thức pháp luật thông thường có tính phổ quát, phong phú được đặc trưng bằng yếu tố tâm lí xã hội; ý thức pháp luật lí luận thể hiện tính tư tưởng và khoa học sâu sắc, toàn diện còn ý thức pháp luật nghề nghiệp là sự kết hợp hài hoà của hai hình thái ý thức đó Có thể coi ý thức pháp luật nghề nghiệp là cầu nối giữa ý thức pháp luật lí luận và ý thức pháp luật thông thường Xét ở góc độ văn hoá, ý thức pháp luật thông thường góp phần tạo ra sự phong phú và đa dạng của văn hoá pháp luật, ý thức pháp luật
lí luận quy tụ, soi sáng và định hướng cho sự phát triển của văn hoá pháp luật, còn ý thức pháp luật nghề nghiệp góp phần tạo ra sự phát triển hài hoá của văn hoá pháp luật Vì vậy, trong phát triển văn hoá pháp luật cần chú trọng toàn diện cả ba mặt: Nâng cao ý thức pháp luật thông thường, tăng cường ý thức pháp luật lí luận và đề cao ý thức pháp luật nghề nghiệp Trên cơ sở của tư duy pháp lí, những vấn đề về ý thức pháp luật đã được triển khai nghiên cứu một cách cơ bản để giải mã những vấn đề nêu trên đồng thời việc nghiên cứu ứng dụng để tìm kiếm và tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật đã được triển khai mạnh mẽ hơn bất cứ thời kì nào trước đó Kết quả là bên cạnh những công trình, luận án được công bố, việc đưa chương trình giáo dục pháp luật vào trong các nhà trường đã được thực hiện; Chính phủ đã có các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật và có sự đầu tư thoả đáng về nhân lực và vật lực cho công tác này Nhờ đó, công tác này đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần tạo chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân Ngày 12/3/2008, Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012 Mục tiêu của Chương trình là tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; đổi mới phương thức tổ chức thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; tuyên truyền kịp thời, thường xuyên những nội dung pháp luật phù hợp với từng đối tượng, địa bàn; tổ chức có hiệu quả công tác phổ biến giáo dục pháp luật trên toàn quốc, góp phần thực hiện nếp sống và làm việc theo pháp luật, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân
Trang 24dân, vì nhân dân.
13 Về cơ chế điều chỉnh pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và hiệu quả pháp luật: Đây là những vấn đề có ý nghĩa hết sức thiết thực nhưng
cũng hết sức khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải có sự nhận thức đúng đắn
và đủ các điều kiện, phương tiện pháp lí để thực hiện Trên cơ sở của đổi mới tư duy pháp lí, những nhận thức mới về các vấn đề nêu trên đã có những hiệu ứng hết sức tích cực trong khoa học và thực tiễn Nhiều đề tài, luận án, đề án và giải pháp đã được triển khai nghiên cứu và áp dụng trong thực tiễn và đã mang lại những kết quả quan trọng có giá trị cả về mặt lí luận và thực tiễn Những quan điểm mới đã được thừa nhận và trở thành phổ biến như quan niệm về trạng thái động của pháp luật; về sự cần thiết phải gắn kết các quá trình xây dựng pháp luật, giải thích pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật và thực hiện pháp luật; về các tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế điều chỉnh pháp luật; kết quả, hiệu quả xây dựng và thực thi pháp luật… đã được xác lập, tạo cơ sở cho việc phân tích, đánh giá và thực hiện các giải pháp để phát huy vài trò, tác dụng của pháp luật trong thực tiễn
14 Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật: Ngày 24/5/2005,
Bộ chính trị đã ra Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020 với mục tiêu: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ,
thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lí xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần
(1) Theo đó chương trình PBGDPL từ năm 2008 - 2012 sẽ tập trung tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho 6 nhóm đối tượng: cán bộ, công chức, viên chức; người dân thành phố, người dân nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số; cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang; thanh thiếu niên; người sử dụng lao động, người lao động trong các doanh nghiệp; người nước ngoài ở Việt Nam và người Việt Nam ở nước ngoài
Trang 25đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” Đây là lần đầu tiên ở nước ta, vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật được đề ra ở tầm chiến lược, thể hiện rõ nét tư duy pháp lí mới, bảo đảm tính khoa học, tính thực tiễn và tính khả thi cao
Nghị quyết đã xác định 5 quan điểm chỉ đạo đối với quá trình xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta trong giai đoạn này là: 1) Thể chế hoá kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển văn hoá-xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh; 2) Phát huy cao độ nội lực, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và định hướng XHCN; 3) Xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; kết hợp hài hoà bản sắc văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tính hiện đại của hệ thống pháp luật; 4) Phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật; 5) Tiến hành đồng bộ với cải cách hành chính, cải cách tư pháp, với những bước đi vững chắc; coi trọng số lượng và chất lượng, có trọng tâm, trọng điểm; dự tính đầy đủ các điều kiện bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành của pháp luật
Trên cơ sở của các quan điểm đó, Nghị quyết đã xác định 6 định hướng chiến lược cho công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật trên các lĩnh vực: Pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; pháp luật về dân sự, kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; pháp luật về giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ, y tế, văn hoá-thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội; pháp luật về hội nhập quốc tế
Trang 26Theo đó, những nội dung và nhiệm vụ cụ thể trên từng lĩnh vực đã được xác định rõ, thể hiện nhiều quan điểm, chủ trương, chính sách mới theo hướng kế thừa những thành tựu đã đạt được trong những năm đổi mới, phát huy những giá trị văn hoá pháp lí truyền thống, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm và các giá trị văn hoá pháp lí của nhân loại, khắc phục và loại bỏ những quan điểm lỗi thời, lạc hậu của tư duy pháp lí cũ, phấn đấu để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai và minh bạch
Trong điều kiện hiện nay, nhu cầu về đổi mới tư duy pháp lí ngày càng gia tăng cả về quy mô và trình độ đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục có những hoạt động và biện pháp toàn diện hơn, sâu sắc hơn để củng cố và phát triển tư duy pháp lí đến trình độ mới cao hơn, sâu hơn, thiết thực và hiệu quả hơn./
Trang 27PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH MỞ CỬA, HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM
Phó chủ nhiệm Khoa hành chính-nhà nước Trường Đại học Luật Hà Nội
1 Mở cửa, hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường với việc sửa đổi, bổ sung pháp luật ở Việt Nam
Quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đòi hỏi pháp luật phải được bổ sung, thay đổi cho phù hợp với những thay đổi quan trọng về kinh tế-xã hội của đất nước Điều
này xuất phát từ thực tế là: thứ nhất, việc chuyển đổi từ nền kinh tế tập
trung, bao cấp sang xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường thì bắt buộc pháp luật phải thay đổi cho phù hợp với cơ sở kinh tế và cơ chế quản lí kinh tế mới (cơ cấu kinh tế, hệ thống kinh tế, cơ chế quản lí kinh tế quyết định nội dung, cơ cấu và sự phát triển của hệ thống pháp luật).(1) Để vận hành, phát triển nền kinh tế thị trường được tốt thì các hoạt động kinh tế cũng cần phải có trật tự và trật tự này muốn có được phải dựa vào pháp luật - công cụ điều tiết chủ yếu quá trình sản xuất, trao đổi và phân phối Nói khác đi, trật tự kinh tế phải đi liền với trật tự pháp luật, trong nền kinh
tế thị trường thì vai trò của pháp luật càng phải được đề cao, cách thức, phạm vi tác động của pháp luật phải có sự thay đổi cho tương thích với các
hoạt động kinh tế thị trường; thứ hai, việc mở cửa, hội nhập, liên kết, hợp
tác quốc tế sẽ dẫn đến sự thẩm thấu lẫn nhau giữa các quốc gia trên hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từng bước phá bỏ những
(1).Xem: Nguyễn Minh Đoan, Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2008, tr 69 - 74
Trang 28“hàng rào ngăn cách” giữa các quốc gia, tạo điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ và với quy mô lớn của toàn nhân loại, đặc biệt là về lực lượng sản xuất Sự hội nhập của Việt Nam với các nước sẽ tác động và làm biến đổi các lĩnh vực đời sống xã hội khác nhau, trong đó có sự hội nhập và thay đổi của pháp luật Nói cách khác, khi các quốc gia đã có chung một
“sân chơi” đòi hỏi giữa các quốc gia phải có chung một “luật chơi” và phải nghiêm chỉnh chơi theo “luật chơi” đã được các bên tham gia thoả thuận
và chấp nhận Do vậy, việc bổ sung những thiếu hụt của hệ thống pháp luật cho tương ứng với pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia mà Việt Nam hợp tác là việc làm bắt buộc Hơn nữa, giữa pháp luật Việt Nam
và pháp luật các nước khác không tránh khỏi những xung đột nhất định, do vậy, cần có sự thay đổi để bảo đảm sự hài hoà của pháp luật
Từ những lí do cơ bản nêu trên, Việt Nam đã chủ động thay đổi các chính sách và pháp luật cho phù hợp với nền kinh tế thị trường, phù hợp với các điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước theo tinh thần pháp luật của nhà nước pháp quyền, đồng thời cũng chủ động thay đổi pháp luật theo hướng hài hoà hoá để từng bước thu hẹp và tiến tới xoá bỏ sự khác biệt về một số chính sách
và quy định pháp luật của Việt Nam với các nước trong khu vực, các nước đối tác có liên quan trực tiếp tới Việt Nam và các quy định của pháp luật quốc
tế, nhất là các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết hoặc tham gia
1.1 Một số phương hướng sửa đổi, bổ sung pháp luật trong quá trình
mở cửa, hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Xu thế phát triển của đất nước và thế giới đòi hỏi việc sửa đổi, bổ sung pháp luật trong quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam được tiến hành theo những phương hướng cơ bản sau:
- Tạo ra sự đổi mới có hiệu quả trong lĩnh vực kinh tế, thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường; thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng, tuyên bố và bảo đảm cho các thành phần kinh tế bình đẳng với nhau; chấp nhận sự cạnh tranh của các thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia sản xuất và kinh doanh trên thị trường cả trong và ngoài nước; không ngừng hoàn thiện các chính sách kinh tế, thiết lập trật tự, kỉ cương trong hoạt động kinh tế, tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lí, giải phóng và phát triển mạnh mẽ sức sản xuất, bảo đảm tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội;
Trang 29- Mở cửa thị trường nội địa cho hàng hoá, dịch vụ, vốn của nước ngoài vào Việt Nam theo lộ trình mà Việt Nam đã thoả thuận và kí kết; từng bước cắt giảm thuế quan đối với một số loại hàng hoá, xoá bỏ các hàng rào, các hạn chế đối với hàng hoá nước ngoài, xoá bỏ chính sách bảo hộ đối với hàng hoá, mậu dịch, dịch vụ và sản xuất của các doanh nghiệp trong nước, thống nhất pháp luật về các loại hình kinh doanh ;
- Tiến hành minh bạch hoá việc hoạch định, ban hành và thực thi các chính sách, các quy định pháp luật của Việt Nam về kinh tế, thương mại và những lĩnh vực khác có liên quan; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm,
mô hình pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nền kinh tế thị trường
ở các nước khác, nhất là những nước đã có nhiều kinh nghiệm xây dựng và vận hành nền kinh tế thị trường để vận dụng vào hoàn cảnh, điều kiện Việt Nam; nâng cao an toàn pháp lí cho các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác;
- Nội địa hoá một số quy định của các công ước và hiệp định quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc kí kết vào hệ thống pháp luật Việt Nam; từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với pháp luật quốc tế, loại trừ dần những mâu thuẫn trong pháp luật, làm cho pháp luật Việt Nam tương thích với các quy định của các tổ chức quốc tế, phục vụ quá trình hội nhập;
- Củng cố và hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật của đất nước cho phù hợp với những điều kiện mới, đặc biệt là việc thực thi các cam kết quốc tế
và những quan hệ pháp luật có nhân tố nước ngoài Củng cố hệ thống các cơ quan tư pháp và các tổ chức giải quyết tranh chấp phi chính phủ Tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tự do sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật;
- Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân, vì dân với đặc trưng cơ bản là: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất trên cơ sở có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; phân định rõ ràng, chính xác chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước; đề cao tính tối thượng của hiến pháp và pháp luật; nghiêm chỉnh thực hiện nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động nhà nước và xã hội;
Trang 30- Tạo điều kiện để giải phóng sức sản xuất, làm cho lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ cao; tạo điều kiện cho những quan hệ sản xuất hình thành và phát triển một cách tự nhiên đúng với quy luật vận động và phát triển của chúng nhằm đáp ứng ngày một nhiều hơn, tốt hơn những nhu cầu vật chất của con người;
- Thực hiện đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân và tinh thần quốc tế
vô sản; không ngừng phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và lòng tự hào dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; có những chính sách cụ thể đối với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, các doanh nhân, thế hệ trẻ, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi, các dân tộc, các tôn giáo khác nhau, đồng bào định cư ở nước ngoài; kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội; tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, xoá bỏ định kiến, phân biệt đối xử, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai; kích thích sự sáng tạo và phát triển, tạo ra môi trường thuận lợi để khuyến khích, nuôi dưỡng và thúc đẩy mọi năng lực sáng tạo của mỗi người, mỗi cộng đồng;
- Dân chủ hoá các hoạt động nhà nước và xã hội, ghi nhận và mở rộng các thiết chế dân chủ, những hình thức dân chủ phong phú do nhân dân sáng tạo; đẩy mạnh việc cải cách bộ máy nhà nước theo hướng dân chủ hoá; từng bước tiến hành công khai hoá các hoạt động nhà nước, các chính sách, pháp luật với phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; đẩy mạnh việc phân công, phân cấp, nâng cao quyền tự chủ của địa phương, của cấp dưới; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; giảm bớt các thủ tục gây phiền hà đối với nhân dân, các doanh nghiệp, nhất là thủ tục hành chính ; có cơ chế
và hình thức tổ chức thích hợp để thu hút, tạo điều kiện cho mọi người, mọi tầng lớp nhân dân tham gia các công việc chung của Nhà nước và xã hội; xây dựng và hoàn thiện cơ chế để nhân dân có thể thụ hưởng và thực hiện các quyền dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội bằng pháp luật, làm sao để pháp luật thực sự là mong muốn, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân;
- Nhân đạo, vì con người, tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền con
người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội; xoá bỏ dần hình phạt tử hình, giảm bớt các hành vi bị coi là tội phạm; đẩy mạnh việc bảo vệ quyền
Trang 31công dân, mở rộng thẩm quyền của toà án, cải tiến các thủ tục xét xử của toà
án theo hướng đơn giản, dân chủ, chính xác, nhanh gọn, hiệu quả; tạo ra sự hài hoà giữa pháp luật với đạo đức, văn hoá, truyền thống dân tộc, thể hiện tính nhân văn, nhân bản trong các quy định pháp luật và hoạt động pháp luật;
- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, góp phần củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, tạo điều kiện để nâng cao hơn nữa bản lĩnh chính trị và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện mới;
- Mở rộng phạm vi điều chỉnh pháp luật, đẩy mạnh hoạt động pháp điển hoá pháp luật; đa dạng hoá các loại nguồn luật, đáp ứng được nhu cầu phát triển đa dạng của các lĩnh vực đời sống xã hội hiện nay; không ngừng hoàn thiện kĩ thuật lập pháp để nâng cao tính quy phạm, tính phù hợp của hệ thống
pháp luật, “tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật
Xây dựng và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”.(1)
1.2 Những thuận lợi cơ bản của việc sửa đổi, bổ sung pháp luật trong quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Quá trình sửa đổi, bổ sung pháp luật trong tiến trình mở cửa, hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam có những thuận lợi
cơ bản là:
- Sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển nền kinh tế thị trường của
Việt Nam “là con đường vươn lên đáp ứng đòi hỏi của thời đại, đáp ứng
những nhu cầu chính đáng và ngày càng cao của nhân dân Yêu cầu đó vừa là đòi hỏi bên trong của nền kinh tế nước ta, vừa phù hợp với xu thế đổi mới của thời đại”.(2) Vì vậy, vấn đề đổi mới, mở cửa, hội nhập, phát triển nền kinh tế thị trường luôn có được sự quan tâm đúng mức của Đảng, Nhà nước, của các nhà kinh tế, các luật gia và toàn thể nhân dân Việt Nam Dân tộc Việt Nam là dân tộc cần cù, thông minh, cầu tiến cùng với chính sách muốn làm bạn, làm đối tác tin cậy của tất cả các nước vì hoà bình, hữu nghị
(1).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 126
(2).Xem: Trường Chinh, Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và của thời đại, Nxb Sự
thật, Hà Nội, 1987, tr 66
Trang 32và phát triển, thời gian qua Việt Nam đã kí kết, tham gia nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương Là đối tác tin cậy và luôn giữ chữ tín trong quan hệ quốc tế, Nhà nước Việt Nam luôn nghiêm chỉnh thực hiện những cam kết quốc tế của mình, bảo đảm nguyên tắc quản lí xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN
- Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn đoàn kết một lòng, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi Do vậy, Việt Nam luôn chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định:
“tiếp tục chính sách mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát
triển, tích cực chuẩn bị các điều kiện về kinh tế, thể chế, cán bộ để thực hiện thành công quá trình hội nhập trên cơ sở phát huy nội lực, bảo đảm độc lập, tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi”.(1)
- Những năm qua trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam
mà đặc biệt là lĩnh vực kinh tế đã diễn ra quá trình đổi mới sâu sắc và toàn diện từ tư duy đến hành động và đã thu được những thắng lợi to lớn, góp phần củng cố thế và lực của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, tham gia tích cực và chủ động vào quá trình hội nhập kinh tế và phát triển đất nước Việt Nam đã thực hiện sự chuyển đổi và là nước chuyển đổi thành công nhất từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường; xây dựng và phát triển nhà nước pháp quyền XHCN; tiếp thu có chọn lọc nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật của các nước tiên tiến khác; tiến hành sửa đổi, bổ sung nhiều quy định pháp luật cho phù hợp với tình hình mới Có thể nói là nhiều quan
(1).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 330
Trang 33điểm, tư tưởng pháp lí và quy định pháp luật của Việt Nam hiện nay là kết quả của sự kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa trí tuệ nhân loại và kinh nghiệm của các nước trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật Hệ thống pháp luật Việt Nam đã có nhiều thay đổi, nhiều quy định pháp luật trong các lĩnh vực như thương mại, kinh tế, dân sự đã được sửa đổi, bổ sung phục vụ cho quá trình mở cửa, hội nhập, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường
- Công tác đào tạo cán bộ pháp lí ở Việt Nam nói chung, ở Trường Đại học Luật Hà Nội nói riêng đã được chú trọng về số lượng và chất lượng, số người có trình độ cao ngày một đông đảo Chỉ tính riêng Trường Đại học Luật Hà Nội vào thời điểm năm 2008 có quy mô đào tạo là trên 17.000
sinh viên, “trong đó hệ đại học chính quy là 5.812 sinh viên; hệ tại chức là
7.500 sinh viên; hệ đào tạo văn bằng hai là 2.193 sinh viên; hệ sau đại học là 209 học viên và nghiên cứu sinh và gần 2.000 học sinh hệ trung cấp”.(1) Nhiều sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam đã được gửi đi đào tạo
ở các nước, các tài liệu, sách báo pháp lí của các nước được du nhập vào Việt Nam ngày càng nhiều Đặc biệt là thời gian gần đây, môn luật học so sánh đã được đưa vào giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật của Việt Nam càng làm cho sự hiểu biết về các học thuyết pháp lí, về các hệ thống pháp luật lớn trên thế giới, về nghề luật và các hoạt động pháp luật thực tiễn của một số quốc gia trên thế giới ở Việt Nam tốt hơn
- Nhiều cán bộ pháp lí có trình độ cao đã được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, đội ngũ những người được đào tạo về pháp luật làm việc trong bộ máy nhà nước, bộ máy của Đảng và các tổ chức chính trị-xã hội khác ngày một nhiều cũng là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu và xử lí những thông tin, những quan điểm pháp lí mới, những cách làm mới trong việc điều chỉnh pháp luật ở các lĩnh vực đời sống
xã hội khác nhau của đất nước
- Sự giúp đỡ nhiệt tình, có hiệu quả của nhiều nước và các tổ chức quốc tế, các chuyên gia pháp luật của các nước tiên tiến cũng đã tạo thêm
(1).Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Báo cáo tổng kết công tác năm 2008 và phương
hướng công tác năm 2009
Trang 34điều kiện cho các chuyên gia pháp luật Việt Nam tìm hiểu, tiếp thu những giá trị, kinh nghiệm trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật để ứng dụng và vận dụng cho phù hợp với hoàn cảnh điều kiện hiện tại của Việt Nam
- Các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp ở Việt Nam đã và đang
có những biến đổi tích cực, phát huy được ngày càng cao vai trò, tác dụng
và hiệu quả hoạt động của mình Nhiều chính sách pháp luật đã và đang được triển khai có hiệu quả, phát huy được vai trò, tác dụng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam
Tất cả những điều kiện trên đã làm cho quá trình chuyển đổi kinh tế, xây dựng nhà nước pháp quyền, mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam thời gian qua được đánh giá là thành công rực rỡ Những thành tựu mà Việt Nam đạt được là thực sự to lớn và có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn Điều đó cũng chứng tỏ đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế
và xây dựng nền kinh tế thị trường của Đảng, Nhà nước Việt Nam là đúng đắn và sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế của đất nước
và xu hướng của thời đại
1.3 Một số khó khăn đối với việc sửa đổi, bổ sung pháp luật trong quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên thì việc sửa đổi, bổ sung pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế thị trường cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức Cụ thể là:
- Xuất phát điểm của sự phát triển kinh tế Việt Nam chậm và thấp hơn
so với các nước khác nên khả năng cạnh tranh của kinh tế Việt Nam chưa cao so với nhiều nước khác Văn hoá pháp lí chưa cao, hệ thống pháp luật đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nên còn nhiều khiếm khuyết, hạn chế như chưa thực sự phù hợp, thiếu sự ổn định cần thiết Công tác soạn thảo và ban hành pháp luật thường không đảm bảo kế hoạch, kĩ thuật pháp lí chưa cao, một số quy định pháp luật thiếu tính nhất quán, kém năng động và khó áp dụng
- Nền kinh tế thị trường nước ta mới có bước phát triển ban đầu do vậy còn nhiều vấn đề phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm Trong quá trình mở cửa
Trang 35và hội nhập bên cạnh những thành công, những thành tựu to lớn đã đạt được thì cũng đã gặp không ít những khó khăn, vướng mắc do hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, nhiều văn bản pháp luật phải soạn thảo hoặc phải sửa chữa nhiều lần làm cho hệ thống pháp luật chưa ổn định Nhiều văn bản pháp luật, nhiều chính sách vừa ban hành đã phải sửa chữa
- Do thông tin về pháp luật của nước ngoài chưa nhiều nên sự hiểu biết
về pháp luật nước ngoài còn nhiều hạn chế Ý thức pháp luật trong xã hội chưa cao, năng lực, trình độ của nhiều luật gia, luật sư của Việt Nam chưa đáp ứng được so với nhu cầu đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, mở cửa, hội nhập Những điều đó đã làm cho việc sửa đổi, bổ sung pháp luật ở Việt Nam thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn nên mặc dù Đảng, Nhà nước, các tổ chức, cá nhân ở Việt Nam đã nỗ lực phấn đấu rất nhiều song kết quả đạt được vẫn chưa được như mong muốn, chưa đáp ứng được đầy đủ những nhu cầu đặt ra cho sự chuyển đổi và phát triển của đất nước
2 Pháp luật với việc khắc phục những mặt trái của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, bảo vệ lợi ích, sự độc lập tự chủ và bảo đảm sự phát triển bền vững của Việt Nam
2.1 Pháp luật với việc khắc phục những mặt trái của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
Một điều không thể phủ nhận là từ khi Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh
tế tập trung, bao cấp sang xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường thì năng suất lao động trong các tổ chức, đơn vị sản xuất, kinh doanh đã được nâng cao rất nhiều; tính độc lập, tự chủ, khả năng tự chịu trách nhiệm và sự năng động, sáng tạo của các tổ chức kinh tế và cá nhân người lao động trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh đã và đang từng bước được nâng cao Mỗi tổ chức kinh tế, mỗi cá nhân người lao động trong khuôn khổ pháp luật cho phép đã có sự chủ động sáng tạo chứ không còn chỉ ỷ lại, trông chờ hoàn toàn vào sự bao cấp, sự chăm lo, giúp đỡ của Nhà nước và của xã hội; nhiều tổ chức và cá nhân đã phát huy được tài năng, trí tuệ, sức lực của bản thân trong việc mang lại những lợi ích hợp pháp, chính đáng cho bản thân
và cho xã hội theo tinh thần "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" Có thể nói tính hiệu quả và tính kinh tế của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là năng suất lao động hiện nay ở Việt Nam đã cao hơn rất
Trang 36nhiều so với trước đây Vì vậy, việc quyết định xây dựng và phát triển nền
kinh tế thị trường ở Việt Nam của Đảng và Nhà nước đã góp phần “đưa đất
nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất-kĩ thuật được tăng cường, đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện”,(1) xã hội ngày một dân chủ, văn minh hơn Bên cạnh rất nhiều những ưu thế, những điểm tích cực thì nền kinh tế thị trường mà Việt Nam đang xây dựng, củng cố và phát triển cũng còn nhiều điểm hạn chế, những mặt trái cần được khắc phục Một trong những vai trò, tác dụng của pháp luật Việt Nam là phải góp phần khắc phục những hạn chế, những mặt trái của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện để đất nước phát triển bền vững Những cái gọi là "mặt trái" của nền kinh tế thị trường thì rất đa dạng song có thể kể ra một số điểm cơ bản sau mà pháp luật phải chú trọng khắc phục:
- Trước hết nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế, phải tuyên bố và bảo đảm cho các thành phần kinh
tế bình đẳng với nhau và phải chấp nhận sự cạnh tranh của các thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia sản xuất và kinh doanh của Việt Nam cũng như của nước ngoài trên thị trường cả trong và ngoài nước Nhưng sự cạnh tranh, nhất là cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế, nó liên quan trực tiếp đến lợi nhuận, đến những nguồn lợi ích vật chất rất lớn thì không bao giờ chỉ có cạnh tranh lành mạnh theo kiểu “thi đua” mà thường là những cuộc cạnh tranh rất khốc liệt (như người ta vẫn thường nói "thương trường như chiến trường") Nếu không có những quy định thật chặt chẽ, cụ thể của pháp luật thì sự cạnh tranh có thể dẫn đến không lành mạnh, tình trạng "cá lớn nuốt cá bé", tình trạng phá sản và hiện tượng độc quyền làm tổn hại đến quá trình sản xuất, kinh doanh của các chủ thể và lợi ích người tiêu dùng Do vậy, khi xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường thì Nhà nước cần phải thông qua pháp luật để tạo ra những sân chơi (thị trường) hấp dẫn, xác định luật chơi phù hợp và cho phép tìm kiếm, thậm chí phải tạo ra những người chơi thích hợp Đồng thời, phải đảm bảo cho các tổ chức, cá nhân tham gia cạnh tranh một cách lành mạnh, đúng pháp luật trong các hoạt động sản xuất,
(1).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Báo cáo tổng kết: Một số vấn đề lí luận - thực tiễn qua
20 năm đổi mới (1986 - 2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 68
Trang 37kinh doanh Nghĩa là, trong nền kinh tế thị trường pháp luật phải cho phép, thậm chí là khuyến khích, thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia sản xuất, kinh doanh nhưng phải đảm bảo cho việc cạnh tranh diễn ra lành mạnh trong khuôn khổ pháp luật và sự cạnh tranh đó phải đem lại hiệu quả kinh tế, nghĩa là sự cạnh tranh đó phải có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển (nó bắt buộc các chủ thể sản xuất, kinh doanh trên thị trường phải không ngừng sáng tạo, áp dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học, công nghệ vào sản xuất, tiết kiệm và đáp ứng một cách tốt nhất, thuận lợi nhất những yêu cầu của khách hàng, của người tiêu dùng theo phương châm
"khách hàng là thượng đế", sự cạnh tranh không được tiêu diệt lẫn nhau, kìm hãm sự phát triển và tiến bộ xã hội trong lĩnh vực kinh tế-xã hội) Như vậy, cạnh tranh được xem là một trong những động lực thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế thị trường và chất lượng các dịch vụ xã hội Bởi chỉ
có chủ thể kinh tế nào sản xuất, kinh doanh tốt hơn, rẻ hơn, chất lượng hơn đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng thì mới có thể tồn tại và phát triển Vì vậy, việc ban hành các quy định pháp luật theo xu hướng thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hoá các loại hình sản xuất, kinh doanh, tuyên bố quyền tự do kinh doanh, quyền tự chủ của các chủ thể sản xuất kinh doanh, sự bình đẳng của các chủ thể tham gia sản xuất, kinh doanh, các quy định pháp luật về phá sản, về cạnh tranh lành mạnh, chống độc quyền, chống bán phá giá là việc làm tất yếu, cần thiết của tất cả những nước quyết định xây dựng nền kinh tế của mình theo cơ chế thị trường Quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam thời gian qua là minh chứng cụ thể cho những vấn đề trên Có thể nói pháp luật Việt Nam đã và đang góp phần tạo ra nhiều sân chơi, tạo ra những người chơi thích hợp, đưa ra luật chơi và các điều kiện cho cuộc chơi có hiệu quả
vì lợi ích mỗi chủ thể sản xuất, kinh doanh và lợi ích toàn xã hội
- Trong nền kinh tế thị trường, tính độc lập, tự chủ của các chủ thể kinh
tế phải được đề cao, do vậy lợi ích của mỗi chủ thể kinh tế cũng được chú trọng hơn Điều này dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo có thể dẫn tới mất công bằng xã hội giữa các tổ chức, đơn vị kinh tế cũng như giữa các cá nhân trong xã hội Nếu không điều tiết tốt nền kinh tế thị trường thì các vấn đề xã hội ở nước ta vốn có đã phức tạp có thể sẽ trở nên phức tạp, bức xúc hơn như vấn đề phân tầng xã hội, vấn đề ô nhiễm môi trường, nạn tham nhũng
Trang 38và các tệ nạn xã hội khác… Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân với mục tiêu cao đẹp là phấn đấu tiến tới xoá bỏ mọi áp bức, bóc lột, thực hiện công bằng, dân chủ và bình đẳng xã hội nhằm mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho những người lao động thì việc giải quyết các vấn đề xã hội luôn phải được quan tâm chú trọng cùng với sự phát triển kinh tế đất nước, không thể vì sự phát triển kinh tế mà bất chấp không chú ý giải quyết các vấn đề xã hội Do vậy, nhiệm vụ cấp thiết và thiết thực nhất trong giai đoạn hiện nay của pháp luật Việt Nam là phải đảm bảo sự tăng trưởng không ngừng và bền vững của nền kinh tế đất nước, đồng thời phải nhanh chóng thúc đẩy quá trình xoá đói, giảm nghèo cho tất cả mọi người dân trong xã hội, nhất là những đối tượng thuộc diện chính sách, những người yếu thế trong xã hội Điều này đòi hỏi pháp luật phải quy định các biện pháp hữu hiệu để giải quyết các vấn đề xã hội, giảm bớt những chênh lệch, mâu thuẫn giữa các địa phương, tổ chức và cá nhân, đảm bảo sự công bằng tương đối trong xã hội Những chủ thể không đủ điều kiện cạnh tranh, không đủ khả năng tự lo cho bản thân cần phải được Nhà nước và xã hội quan tâm bằng các chính sách
xã hội thiết thực, phù hợp Đương nhiên, việc quy định các chính sách xã hội của Nhà nước phải nằm trong khả năng có thể của nền kinh tế đất nước
và không được cản trở sự phát triển kinh tế, nói cách khác là phải kết hợp một cách hài hoà giữa sự phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội,
phải “kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi
cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế-xã hội Tập trung giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc”.(1)
- Nền kinh tế thị trường vận động, phát triển chủ yếu theo cơ chế cung cầu, đôi khi mạnh ai nấy làm, mọi tổ chức, đơn vị kinh tế đều phải tự lo lấy mình nên việc nào hay, có lợi, thu được nhiều lợi nhuận thì ai cũng muốn làm, đua nhau, tranh nhau làm, việc nào khó, ít lãi hoặc không có lãi thì
(1).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 101
Trang 39chẳng ai muốn làm Với sự vận động, phát triển như vậy nên tính kế hoạch trong từng đơn vị kinh tế thì rất cao nhưng trong tổng thể toàn xã hội thì thường không cao nên dễ dẫn đến tình trạng nền kinh tế quốc dân phát triển mất cân đối, hiện tượng khủng hoảng thừa hoặc khủng hoảng thiếu là chuyện vẫn thường xảy ra Chẳng hạn, hiện tượng đua nhau, tranh nhau trồng cà phê rồi lại đua nhau chặt phá cà phê để trồng cây khác hay hiện tượng tranh mua, tranh bán gạo là những ví dụ sinh động về sự vận động, phát triển kinh tế mất cân đối ở nước ta thời gian qua Như vậy, dù là kinh tế thị trường thì pháp luật vẫn phải có vai trò đảm bảo tính kế hoạch trong sự phát triển tổng thể của nền kinh tế quốc dân, có như vậy mới tránh được hiện tượng phát triển mất cân đối đảm bảo sự hài hoà của các quá trình kinh tế-xã hội, định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước, giữ cho xã hội trong tình trạng ổn định Muốn làm được điều này pháp luật Việt Nam phải ghi nhận và có biện pháp bảo đảm sự quản lí của Nhà nước đối với nền kinh tế đất nước Như vậy, dù là nền kinh tế thị trường thì cũng không thể thiếu được vai trò điều tiết của nhà nước mà sự điều tiết của Nhà nước không phải chỉ thông qua các chính sách kinh tế, tài chính, các quy định pháp luật mà còn thông qua tính hiệu quả của chính thành phần kinh tế nhà nước Đối với nước ta, vai trò quản lí của Nhà nước đối với sự phát triển cân đối của nền kinh tế đất nước càng quan trọng bởi nền kinh tế thị trường ở Việt Nam chưa thật ổn định
- Nền kinh tế thị trường còn tác động làm nảy sinh nhiều tệ nạn tiêu cực trong các hoạt động kinh tế-xã hội, pháp luật với nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản, danh dự của công dân, bảo vệ hệ thống chính trị cần phải có các biện pháp ngăn ngừa hữu hiệu và xử lí nghiêm minh các hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội tiến tới xoá bỏ các hiện tượng này, thiết lập và bảo vệ trật tự trong các quan hệ kinh tế-xã hội vì cuộc sống hạnh phúc, yên bình của nhân dân
2.2 Pháp luật với việc chủ động hội nhập quốc tế và bảo vệ lợi ích, sự độc lập tự chủ và bảo đảm sự phát triển bền vững của Việt Nam
Có thể nói đấu tranh và hợp tác với nhau là quy luật chung trong mối quan hệ giữa các quốc gia, các dân tộc trên thế giới hiện nay, sự đấu tranh và hợp tác giữa các nước hiện nay như hai mặt của một quá trình phát triển Bởi, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc luôn có khuynh hướng phát triển khác nhau, có lợi
Trang 40ích khác nhau nên phải đấu tranh với nhau vì lợi ích của quốc gia, dân tộc mình nhưng giữa các quốc gia, các dân tộc cũng có những lợi ích chung thống nhất với nhau nên buộc phải liên kết, hợp tác với nhau để cùng tồn tại
và phát triển Ngày nay, do nhu cầu phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc và của quá trình toàn cầu hoá đòi hỏi các quốc gia, các dân tộc càng phải chủ động hợp tác và xích lại gần nhau ngày một nhiều hơn trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế Đảng ta khẳng định:
“Hội nhập kinh tế quốc tế là yêu cầu khách quan, phải chủ động, có lộ trình
phù hợp với bước đi tích cực, vững chắc, không do dự chần chừ nhưng cũng không được nóng vội, giản đơn”.(1) Thị trường kinh tế không còn bó hẹp trong phạm vi đất nước hoặc một vài nước mà nó đã mở rộng ra với những phạm vi như khu vực và toàn cầu Việt Nam đã chủ động mở cửa, hội nhập quốc tế, tham gia hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế trên các cấp độ và trong nhiều lĩnh vực kinh tế then chốt theo các hiệp định song phương và đa phương Việc đấu tranh và hợp tác với nhau giữa các quốc gia trong thời đại văn minh luôn phải dựa trên cơ sở pháp luật Vì vậy, một trong những vai trò quan trọng của pháp luật là tạo ra cơ sở pháp lí, môi trường pháp lí thuận lợi cho sự hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau để Việt Nam chủ động củng cố, mở rộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế với các quốc gia, dân tộc khác, với các tổ chức kinh tế, các tổ chức quốc tế vì một thế giới hoà bình, thịnh vượng và phát triển Vì lẽ đó, thời gian qua pháp luật Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung rất nhiều, nhất là trong lĩnh vực đầu tư và thương mại để thu hút vốn, công nghệ của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, tranh thủ ODA, thu hút FDI, mở rộng thị trường ngoài nước, tạo điều kiện để Việt Nam kí kết và tham gia nhiều hiệp định hợp tác song phương và đa phương, gia nhập AFTA, APEC, WTO, tăng cường dịch vụ, thương mại, hợp tác quốc tế giữa Việt Nam với các nước khác trong phạm vi khu vực và thế giới, nhất là đối với các nước lớn như Trung Quốc, Nga, Mỹ, Nhật Bản góp phần tạo ra bước phát triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại, nhất là xuất khẩu
Mở cửa, hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển, hội nhập của đất nước nhưng cũng gây ra không ít những thách
(1).Xem: Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr 180-181