Sách Luận Ngữ là Ngôn hành của Khổng Phu Tử ,do các học trò của Ngài thâu góp lại , cả thảy hai mươi thiên , là tư tưởng gốc của sáu kinh . Thầy Châu nói : Sách Luận Ngữ công phu ít mà hiệu quả nhiều , sáu kinh công phu nhiều mà hiệu quả ít . Sáu kinh ấy là : Kinh Thi ,Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu . Khổng Tử thường nói : Người đời hiểu ta ở Kinh Xuân Thu , bắt tội ta cũng ở Xuân Thu . Theo GS.TSKH .Hoàng Tuấn trong cuốn Kinh Dịch và Nguyên lý Toán nhị phân thì : “Khổng Tử không phải là người sáng tạo ra năm kinh , mà chỉ là người soạn lại năm bộ sách đó từ chữ Khoa Đẩu (của người Việt cổ) sang chữ Nho xưa mà thôi .” Đó chính là lý do mà Tần Thủy Hoàng Đế coi Nho giáo của Khổng Tử là văn hóa ngoại lai , nên đã đốt bỏ sách Nho , chôn sống học trò . Khổng Tử tên thật là Khâu, tên chữ là Trọng Ni, người làng Xương Bình huyện Khúc Phụ ( Nay là huyện Duyện Châu , tỉnh Sơn Đông , Trung Quốc ) .Là một học giả , một nhà tư tưởng lớn của thời Xuân Thu – Chiến Quốc
Trang 1LUẬN NGỮ
***@***
LỜI NÓI ĐẦU
Sách Luận Ngữ là Ngôn hành của Khổng Phu Tử ,do các học trò của Ngàithâu góp lại , cả thảy hai mươi thiên , là tư tưởng gốc của sáu kinh ThầyChâu nói : Sách Luận Ngữ công phu ít mà hiệu quả nhiều , sáu kinh côngphu nhiều mà hiệu quả ít Sáu kinh ấy là : Kinh Thi ,Kinh Thư, Kinh Lễ,Kinh Nhạc, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu Khổng Tử thường nói : Người đờihiểu ta ở Kinh Xuân Thu , bắt tội ta cũng ở Xuân Thu TheoGS.TSKH Hoàng Tuấn trong cuốn Kinh Dịch và Nguyên lý Toán nhị phânthì : “Khổng Tử không phải là người sáng tạo ra năm kinh , mà chỉ là ngườisoạn lại năm bộ sách đó từ chữ Khoa Đẩu (của người Việt cổ) sang chữ Nhoxưa mà thôi ” Đó chính là lý do mà Tần Thủy Hoàng Đế coi Nho giáo củaKhổng Tử là văn hóa ngoại lai , nên đã đốt bỏ sách Nho , chôn sống học trò Khổng Tử tên thật là Khâu, tên chữ là Trọng Ni, người làng Xương Bìnhhuyện Khúc Phụ ( Nay là huyện Duyện Châu , tỉnh Sơn Đông , TrungQuốc ) Là một học giả , một nhà tư tưởng lớn của thời Xuân Thu – ChiếnQuốc Ngài sinh giờ Tý , ngày Tý , tháng Tý , năn Canh Tuất – 551 tr CN,mất tháng Tỵ , năm Nhâm Tuất – 479 tr CN , hưởng thọ bảy mươi ba tuổi Sau nhiều năm trời nghiền ngẫm hiểu thấu đạo Dịch với nguyên lý : Tâmtruyền – Trung – Chính , của Bát quái , Cửu cung , của Hà – Lạc tượng số ,Ngài đã xướng xuất tư tưởng Trung Dung , đề cao sự tu thân , tề gia , trịquốc, bình Thiên hạ Ngài nhiều năm đi du thuyết , kinh qua nhiều nước lớnnhỏ , nhưng ý tưởng vì muôn dân của Ngài , đã chạm phải lợi ích thiêng củavua quan , cùng các quí tộc đương thời, nên đều bị khước từ hoặc bị chối
bỏ Cuối cùng Ngài trở về quê hương,đất nước của mình mà đánh xe Giáohóa , học trò nhận thụ giáo tới vài nghìn người , Trong đó Hiền Tài hiển đạt
có bảy mươi hai người Phép dạy người của Khổng Tử rất đặc biệt, chonên được tôn là Bậc Thầy của muôn đời ! ( Vạn đại thế sư )
Dù là Hán Nho hay Việt Nho thì cũng là tài sản trí tuệ chung của loài người ,không phân biệt tộc người, quốc gia, lãnh thổ , đó mới thực là Người ! Sựtranh chấp quyền vị chỉ là của giới quyền lực với nhau, còn dân chúng vaitrò là cổ động viên , với ai cầm quyền thì dân vẫn cứ là dân Các học giảNho học cố gắng tu thân, trau dồi đức hạnh không phải để cầu vinh mà đểtránh nhục, đủ điều kiện thì thi thố sở học của mình , giúp ích cho đời, bằngkhông thì vui cùng cây cỏ nước non , không thẹn với lòng
Trung Dung là đạo xử thế đã hơn hai nghìn năm nay nhưng ít ai theo được ! Nền Nho học bị phế bỏ đã ngót trăm năm ,sợ rằng sẽ mai một như chữ KhoaĐẩu xưa thôi , ai còn hiểu được ? Nay dịch giả Tiến Đức kính ghi !
Đỗ Sơn – Ngày lành - tháng quý Hạ - năm Giáp Ngọ - 2014
Trang 2CHƯƠNG THỨ NHẤT – HỌC NHI
Đây là chương đầu tiên của sách Luận Ngữ , ý tứ được ghi chép ở đây phầnnhiều là cốt chăm lo việc gốc ( Vụ bản) , là cửa vào của Đạo Nho, là nềnmóng của tích Đức, là chỗ học giả phải chuyên Tâm chăm lo , không thểkhông hết lòng hết sức mà được
1- 01 – Khổng Phu Tử dạy rằng :
Học mà làm theo điều thầy chỉ dạy , chuyên tâm cho thành thói quyen, khi
đã thành thục nhuần nhuyễn rồi , chẳng lấy đó làm vui sao ?
Học là nói : học đòi , bắt chước, bản tính của người ta đều Thiện, mà độgiác ngộ có trước có sau, tiên giác là bậc thức tỉnh trước trong đám mêmộng, hậu giác là nhờ sự chỉ bảo dẫn dắt của bậc tiên giác, sau đó cái Thiệnmới sáng tỏ , mà trở lại trạng thái thuần phác, con đường học vấn có đađoan, chung quy lại ở toàn tâm toàn ý , như chim bay không biết mỏi cánh ,khung trời rộng mênh mông
Thầy Châu bảo học mà không tập, thì trong ngoài bị ngáng trở ngăn cáchkhông thể thấu suốt , đạo học không tập luyện thường xuyên thì công phugián đoạn , không nên công trạng gì Cho nên lý thuyết phải đi đôi với thựchành , học đi liền với tập khiến tâm và lý nuôi lớn lẫn nhau , mà sự hiểu biếtngày càng thấu đạt tinh vi , con người với công việc càng tăng thêm nănglực , thì trong lòng thêm yên ổn, vui vẻ mới hiện ra ngoài Đó chính là chỗđạo học bắt đầu
**chú giảng : ví thử như ta học lội , khi chưa bơi được thì nước là sức cảnlớn nhất đối với ta , được sự chỉ dạy tận tình của người giỏi bơi lội , ta gắngrèn luyện để có công phu, khi đã có công phu thắng sức cản ngại của nước,
ta với nước là một , thì đi dưới nước cũng như đi trên cạn , chẳng vui sao ?1- 02 – Có người bạn hâm mộ đạo lý ( Cùng khí loại với ta) từ phương xalặn lội tìm tới thăm ta , cũng chẳng vui sao ?
Khi học vấn , tiếng tăm đã vang xa ngoài cõi , có người bạn mộ đạo lý , từphương xa tìm tới , thì tất cả mọi người gần đều đã biết rồi Trình tử nói :Khi đem điều thiện phổ cập tới mọi người , mà tín cũng theo kịp đó thì cóthể vui vẻ được Lại nói : Đẹp ở trong lòng thì vui vẻ mới phát lộ ra bênngoài Thầy Châu giảng thêm rằng : Cái học của ta đủ để kịp người , màđiều Tín của ta cũng theo kịp đấy, cái đức sáng của ta đã được mọi ngườiđồng lòng, thì niềm vui sướng hồ hởi như dàn nhạc hợp xướng luật lữ hàihòa , còn gì có thể cản ngại được niềm vui ,thế là ta đã học trúng đạo rồi đó!1- 03 – Ví như mình là người có học vấn , có phẩm hạnh đạo đức , mà ngườiđời không biết đến mình , mình không đem lòng oán giận , mình chẳng phải
là người quân tử sao ? (Quân tử là tư cách của người làm chủ , làm thầy )Như tiết trên đây đã giảng , được mọi người biết đến thì vui vẻ, là thuận lợi 02
Trang 3… mà dễ dàng ,còn như không được mọi người biết đến, mà không hàm hận
ở trong lòng ,thì là nghịch mà khó khăn , nhưng nó là điều kiện cho Đức lớnlên , vì vậy mới nói : học cho ngay , tập cho chín , duyệt cho sâu, đó chính làchỗ quy kết của việc học hỏi
Thầy Châu giảng thêm : Việc học là do ở mình, vì công việc mà phải học,học để nắm lấy chỗ cốt yếu, cũng như việc : Trong nhà có no đủ hay không
no đủ ? đâu cần hỏi người ngoài biết hay không biết !
Trình Tử bảo rằng : Vui vẻ do đẹp lòng , sau đó mới có được , cho nênkhông có được hòa khí , thì không đủ nói là Quân Tử
2- 00 - Hữu Tử ( Tên là Nhược- người nước Lỗ , học trò cao đệ của KhổngPhu Tử ) nói rằng : Trong số những người có nết Hiếu - Đễ , ít ai ưa phạmthượng , đã không ưa phạm thượng , mà bội nghịch thì chưa từng có !
Hiếu (Thảo thờ cha mẹ) Đễ (Kính anh chị và người trên) là thuận Đức, chonên không làm việc phạm thượng gây rối
Người giỏi khéo phụng sự cha mẹ là Hiếu, người giỏi khéo phụng sự huynhtrưởng là Đễ Người quân tử chuyên sức chăm lo điều gốc, gốc đã vững thìcành nhánh tốt tươi Hiếu Đễ là gốc của điều Nhân ( Nhân là chất keo sơngắn kết con người lại với nhau, để cộng lực tạo nên sức mạnh phi phàm –Trong phép dùng binh “Dốc Nhân” là điều kiện tiên quyết để thắng lợi )Nhân là tiếng lòng của đức độ , là lí lẽ của yêu thương , mà yêu thương thìkhông gì hơn đấng sinh thành! Đức độ không gì hơn thương cảm lê dân Ông Hồ nói : Hữu tử lấy hiếu đễ làm gốc , để vận hành điều Nhân , cònTrình tử lại lấy Nhân làm gốc để vận hành hiếu đễ, thì ra một người vin lấycành lá để lần ra gốc cội , còn người kia từ gốc cội lần ra cành lá , hai cái đó
tự bổ khuyết cho nhau
3- 00- Khổng Phu Tử dạy rằng :
Người trú trọng lời nói khéo (sảo ngôn), hình dong chau chuốt cầu kì ( lệnhsắc: bị sắc đẹp sai khiến) thì ít có lòng Nhân (… bản sách mất một tờ )4- 00 – Tăng Tử ( tên thật là Sâm , tên tự là Tử Dư, vốn người Trung Tín , làhọc trò cao đệ của Đức Khổng ) nói rằng :
Hằng ngày ta tự xét cảnh tỉnh về mình ba điều này :
1- Cùng với người mưu việc ta có chỗ nào chẳng ngay thẳng chăng ?2- Cùng bạn bè kết giao ta có chỗ nào chẳng tin thực chăng ?
3- Đạo lí thầy dạy ta có chỗ nào chẳng hay tu tập chăng ?
Họ Hoàng nói : Tăng tử Thiên tư thuần hậu chí học khẩn đốc
Ông Hồ nói : Tăng tử sớm biết dùng cái Một để xuyên suốt tất cả , có thểthấy sự học chí thành không ngừng nghỉ , ba điều cảnh tỉnh hàng ngày làđộng lực, thúc đẩy sự giác ngộ nhất quán , để đạt tới công phu cao Khôngthể nói là một sớm một chiều mà có được
03
Trang 45 – Khổng Phu Tử dạy rằng :
Đạo làm chủ một nước có nghìn cỗ binh xa ( Nước có nghìn cỗ binh xa làmột nước chư hầu , một cỗ binh xa phòng chiến tranh tương đương với 100nhà dân ) , việc dù lớn nhỏ cũng phải giữ cho được: Kính sự mà tín thực,Tiết dụng mà yêu thương người , sai khiến dân lấy thời
Đạo ở đây là nói về phương pháp cai trị , phu tử không nói trị mà nói đạo làdụng tâm , là nói lý lẽ ở tâm không phải ở việc
Kính sự là thận trọng trong công việc, nói kính là nói một trong vô địch ,việc làm của nhà cầm quyền mà thận trọng , thì được nhân dân tin tưởng , họgiao phó mạng sống của họ cho nhà cầm quyền
Tín là là không lừa dối nhân dân, không nói một đường làm một nẻo
Thời là thời vụ, vì là một quốc gia nông nghiệp chiếm đại đa số, cho nên vấn
đề thời vụ rất quan trọng, nhà nước sai khiến họ , mà không làm ảnh hưởngtới mùa vụ của họ, họ no đủ thì quốc gia mới vững mạnh được
Tiết dụng là dè sẻn trong chi tiêu , chi dùng hoang phí thì của cải hao vơi ,của cải hao vơi thì dân phải đóng góp nhiều, cho nên thương dân thì trướctiên phải tiết dụng , tiết dụng là ngầm nuôi dưỡng sức dân, trữ của cho nước.Năm yếu quyết nêu trên , chính là chăm lo tới cội rễ của trị an một nước
Họ Dương nói : Người trên không thận trọng , để kẻ dưới khinh nhờn ,người trên bất tín để kẻ dưới sinh ngờ , cho nên trước tiên việc phải thậntrọng , tín thực ở chính nơi mình trước đã
Họ Trần nói : Ra một khuôn phép chắc như vàng đá , ban hành một mệnhlệnh tín như bốn mùa Chỗ sống còn của nền Nhân Chính là Tâm , điều mụccủa Nhân Chính là văn hóa, phong tục, lễ nghi , hòa khí, kỉ cương vănchương, chốt lại ở Hình luật
6 - Đức Khổng nói rằng :
Phận làm con em thì nhập Hiếu xuất Đễ, kín kẽ mà thực tin, thương yêu mọingười, mà gần gũi điều Nhân, làm được bấy nhiêu đã , còn dư sức hãy họcthi thư lục nghệ ( lục nghệ : lễ - nhạc – xạ - ngự - thư – số )
Họ Y giải rằng : Đức hạnh là gốc , còn văn chương , sáu nghề là ngọn Biếtđến chỗ cùng tột của gốc ngọn , có trước có sau,cho nên có thể nhập Đức
Họ Hồng nói : Chưa dư sức đã học văn thì văn diệt chất, có dư sức màkhông học văn , thì chất thắng mà thô lậu
Thầy Châu nói : cái học của người lớn là học lý lẽ trước tiên , còn cái họccủa trẻ con là học việc trước tiên , cho nên có sự khác nhau
7 – Tử Hạ ( họ Bốc , tên Thương, người nước Vệ ) nói rằng :
Trong Thiên hạ người hiền biết đổi lòng yêu gái đẹp, ra lòng yêu ngườihiền , thờ cha mẹ hết sức, thờ bậc trưởng thượng đến quyên mình, kết giaovới bạn lời nói có Tín, tuy nói là chưa được học, ta tất bảo rằng : Họ đã họcrồi!
Trang 54
Người có đức hạnh tài năng hơn người, mà đổi lòng háo sắc ra háo thiện là
có Thành thực Toàn thiên Học Nhi đều chú trọng chăm lo cái gốc, luân lýlàm người có gì trọng hơn Tổ Quốc và Cha Mẹ , thế cho nên phải nói tớingười tài giỏi ở đấy trước, đã khát mong điều thiện , lại có thành thực, mới
có thể triển khai rộng ra được
8 – Đức Khổng nói rằng :
Người đứng trụ , làm thầy , mà không tự hậu trọng thì chẳng có uy nghiêm,cái học không vững chắc, thì lấy Trung Tín làm chủ , không cùng khí chấtvới mình thì không kết bạn , có lỗi không ngại sửa chữa
Người không Trung Tín thì việc không thực chất , cho nên lời nói ắt phảiTrung Tín , việc làm tất phải Trung Tín, thì Đức mới tiến được
Họ Trần bàn thêm : Cái học của người làm chủ , làm thầy phải lấy sâu nặngdày dặn , tiềm tàng - làm chất , càng phải lấy Trung Tín làm phò tá, lấy vượtlên chính mình làm bạn , sau chót là lấy sửa lỗi lầm làm Dũng khí , tất cảđều không ngoài thành thực
9 – Tăng tử nói : Thận chung , truy viễn , dân đức theo về dày dặn
Thận chung là kín kẽ hết mức trong các quy ước , nghi thức của cuộc sống Truy viễn là xét tới chỗ cùng cực của thành thật Ở ngôi cao mà làm đượcnhư thế, thì dân cảm mến đức độ mà tự tìm về bản chất chân chính
10- Tử Cầm ( họ Trần, tên Cang , người nước Trần ) hỏi bạn học là Tử Cống( họ Đoan Mộc , tên là Tứ, người nước Vệ ) rằng :
Thầy của ta đi chu du đến nước nào , cũng được dự nghe chính sự của nước
họ , như thế thì do thầy của ta tự cầu , hay vua nước họ cưỡng nghe ?
Tử Cống trả lời rằng : Thầy của ta có đủ năm đức là : Ôn hòa , Lương thiện,Cung kính, Kiệm ước, Khiêm nhượng , cho nên được như vậy, chỗ cầu củathầy ta khác với chỗ cầu của mọi người
Họ Tạ bàn rằng : Người có tri thức có thể xét xem trong khoảng uy nghi củaThánh nhân , cũng có thể tiến đức ! Tử Cống cũng là người giỏi quán xétThánh nhân , cũng có thể nói là thiện ngôn - thiện hành
11- Khổng Phu Tử dạy rằng :
Khi cha mẹ còn sống ở trên đời , nên xem xét học tập theo chí hướng củacha mẹ , khi cha mẹ quá cố đi rồi , nên xem xét việc cha mẹ đã làm , trongkhoảng ba năm để tang, tạm đảm nhiệm điều hành , thực thi công việc màkhông rối lẫn , không phải thay đổi đạo nghệ của cha mẹ, cũng có thể gọi làngười con giỏi thờ cha mẹ vậy !
Chương này Khổng phu tử giảng về nết Hiếu của người làm con rất thiếtthực , cha truyền con tiếp nối, hoằng dương được sự nghiệp của cha mẹ làrất khó , không phải ai cũng làm được Cho nên người giỏi thờ cha mẹ ,cũng có thể lo việc , giúp được cho bậc quốc trưởng là ý ấy
Trang 65
12- Hữu Tử nói rằng :
Đặt ra các quy chế xử thế (Lễ) để dùng chung phải lấy Hòa làm sang trọng ,đạo của tiên vương đẹp vì nó chứa hòa khí (Chữ hòa ở đây là hòa trong phốikhí phối âm của dàn nhạc giao hưởng ) , việc lớn việc nhỏ đều từ đó mà ra Chương này bàn về Lễ, theo chú giải thì lễ là tiết văn của lẽ trời, là nghi tắccủa việc người , là Thể , tuy nghiêm nhưng đều xuất phát từ lí lẽ tự nhiên.Cho nên chỗ Dụng của nó thong dong không bó buộc, cốt trang trọng (kính)
để tạo ra sự phối kết hợp ăn ý , việc lớn việc nhỏ đều thế cả
Tuy nói hòa là quý, nhưng nếu có chỗ vướng cản không thi hành được , màkhông dùng nghi tắc (Lễ) để tiết chế , thì cũng không thể thi hành được Thầy Châu nói : Lễ ở chỗ hòa là lễ trong nhạc , nhạc có trật tự tiết tấu lànhạc trong lễ , có thể thấy lễ nhạc gắn kết không dời nhau
mà hợp nghi lễ - phép tắc thì xa lánh được xấu hổ nhục nhã , không để mấtcác mối gần gũi với mọi người , thì có thể thâu tóm được mà làm chủ
14- Đức Khổng Tử dạy rằng :
Làm người Quân Tử ăn không cầu no, ở không cầu yên, nhạy cảm trongcông việc , mà kín đáo ở lời nói , nhóm họp có đường lối , mà xếp đặt chongay ngắn , có thể nói học đã được rồi
Quy luật của vũ trụ là vận động không ngừng, cuộc đời cũng đầy biến độngkhó lường Cho nên người làm chủ , làm thầy , với mối lo thường trực , ăn
để mà sống , sống để làm việc ! Vì vậy không cầu ăn sao cho sướng miệng,cho ngon , cho no nê Sự tồn tại của mỗi con người trên cõi đời có hạn định,đối với người quân tử , sự yên ổn của họ là trong lòng xã hội và dân tộc , chonên không cầu nhà sang chỗ ở tĩnh cho riêng mình Không có cái phải tuyệtđối ,cũng không có cái quấy tuyệt đối , sự linh mẫn trong công việc, sự thậntrọng trong lời nói , cầu người có đạo lí để học hỏi thêm , đủ học vấn chỉnh líthị phi, đắc chính thôi chưa đủ , cần phải đắc trung nữa mới hợp đức Những điều qua học hỏi mà biết được, chỉ là giọt nước trong đại dương của
sự chưa biết , cho nên việc học là vô cùng - vô tận Tuy nhiên nếu có thểnắm giữ được các việc như phu tử nêu ở đây , là đã học trúng đạo lí rồi đó
15 – Tử Cống hỏi Thầy rằng : Người mà nghèo không xiểm nịnh, giàukhông kiêu căng , thì phẩm hạnh như thế nào ? Khổng phu tử trả lời rằng :Cũng khá !Nhưng không bằng nghèo có hòa khí, giàu mà ưa phép tắc !
Trang 76
Người thường chìm đắm trong giàu nghèo mà không biết tự giữ mình ,không nịnh hót , không kiêu căng , là đã biết tự giữ mình , nhưng vẫn chưavượt thoát ra ngoài vòng giàu nghèo Có được hòa khí, vui vẻ thì tâm mởrộng, mà cơ thể sáng đẹp ,quyên cả cái nghèo, giàu có mà chuộng phép tắcthì yên ổn nơi tốt lành, vui cùng lí lẽ cũng chẳng hay biết mình là người giàu
có Tử Cống nhờ buôn bán mà trước nghèo sau giàu, mà phải dụng lực tựthủ , cho nên lấy đó để hỏi Thầy, phu tử đáp lại như thế , là vì muốn TửCống phát huy cái mình đang có, mà cố gắng vươn lên chỗ chưa tới
Ý nói phải nghiền ngẫm đạo lí tỉ mỉ , để đạt tới chỗ tinh túy thượng hạng Cho nên mới mượn Thi để nói cho rõ ý nghĩa Cái đã qua là nói là nói chỗđạo của giàu nghèo, cái sắp tới là nói chỗ công phu của học tập
16 – Đức Khổng dạy rằng :
Chẳng phải lo người đời không biết mình, chỉ lo mình không biết người thôi
Y thị nói : Người học đạo làm chủ , làm thầy , tự cầu ở mình, cho nên khỏiphải suy nghĩ việc người ta có biết mình hay không ? Còn việc không biếtngười thì phải trái, chính tà , không phân biện được, cho nên lấy làm lo lắng
Trang 87
Trình tử nói : Làm chính sự lấy đức làm gốc , để rồi Vô Vi mà ổn trị
Họ Phạm bàn rộng thêm : Làm chính trị lấy đức làm căn bản , thì dẫu khôngphát động mà tự chuyển hoá, không nói mà tin , không làm mà xong, chỗ lấydùng của nó là : Đơn giản hay chế ngự phiền phức, thật tĩnh hay chế ngựloạn động ,cốt chăm lo gốc cội cho vững , mà dân chúng tự phục
Thầy Châu giảng : Đức với Chính không phải là hai việc, chỉ vì là lấy đứclàm căn bản cho nền chính trị , thì khiến dân mến phục mà theo về vớimình Làm chính trị dùng đức độ không phải là không dùng hình phạt hiệulệnh , chỉ là lấy đức làm đầu mối cho tất cả mà thôi Không phải là ôngphỗng không làm việc gì cả , chỉ là không sinh sự nhiễu dân, đức sửa ở nơimình , không đợi làm mà Thiên hạ tự theo về với mình, chưa từng thấy dấuvết của có làm (hữu vi) Làm chính trị dùng đức làm căn bản, người ta tựcảm hoá, nhưng người ta cảm hoá : Không phải ở chính sự , trên hết đều ởĐức của người trên
02 – Khổng Phu tử bảo rằng :
Kinh Thi cả thảy có ba trăm mười một thiên , chỉ một lời có thể bao quát tất
cả , đó là : Niềm nghĩ luôn ngay thẳng ( Tư vô tà )
Tư vô tà : không được có ý niệm quàng xiên trong tâm tưởng
Kinh Thi là một trong năm Kinh của nhà Nho, là một dạng ca dao tục ngữcủa cư dân nông nghiệp,trước đó đã được lưu truyền , sau được Khổng phu
tử san định thành kinh sách , đọc nó người thiện cảm phát thiện tâm, người
ác lấy đó làm răn , khiến cái chí của người ta vượt thoát khỏi sự bó buộc tầmthường , chỗ dùng của nó qui về ở chỗ : Khiến tinh thần của người ta đượcchính mà thôi Nhưng mà ngôn từ của nó vi diệu , uyển chuyển , vì mỗi việclại có yêu cầu chỉ định riêng, , khó mà rõ hết được
Họ Phạm bàn rằng : Học giả tất phải nắm được chỗ cốt yếu , biết được chỗcốt yếu rồi thì có thể thủ ước , đã thủ ước được thì có thể mở rộng ra đến vôcùng Cho nên Kinh Lễ ba trăm điều , Khúc Lễ ba ngàn điều , cũng chỉ thâutóm trong một lời : Không gì không kính trọng ( Vô bất kính )
Ông Hồ nói : Hai chữ “Trấp – Trung” nắm trọn lăm mươi tám chương KinhThư, một chữ “Thời” nắm trọn ba trăm tám mươi tư hào của Kinh Dịch , chonên không thể không biết
Trang 98
Tuy không dám làm ác, nhưng ác tâm vẫn luôn thường trực
Lễ là nói chế độ phẩm tiết, lời nói việc làm đi đôi với nhau, cho nên dân cóchỗ để trông cậy, cảm động mà cùng hưng khởi, tuy có nông sâu dày mỏngkhác nhau, nhưng phép tắc có thể dùng được, dân tự biết xấu hổ ở chỗ bấtthiện, mà có chí tiến lên ở thiện Đó là công hiệu của đức lễ, khiến dân hằngngày dời đến chỗ thiện , mà không tự biết
Do thời bấy giờ , các nhà cầm quyền chuyên dùng hình luật áp chế dân đểngăn loạn , mà chiến sự vẫn xảy ra liên miên , xét kĩ việc đời và lòng người,
mà phu tử đề xướng tư tưởng : Muốn dân vào trị thì nhà cầm quyền tự sửađức trị trước đi , để dân lấy đó làm gương Hình luật có đấy nhưng trên dướikhông phạm , là vì đều biết chỗ sỉ nhục
04 – Đức Khổng thuật lại rằng :
Ta mười lăm tuổi dốc chí vào sự học tập , ba mươi tuổi lập thân đứng vững ,bốn mươi tuổi không còn ngờ lạ , lăm mươi tuổi biết mệnh trời , sáu mươituổi nghe thuận Tâm thông , bảy mươi tuổi thuần hậu tự nhiên
Chương này Khổng phu tử - tự thuật về cuộc đời theo đuổi học vấn của mình, tuổi tác tăng tiến cùng đạo lí tăng tiến, đến thang bậc cuối cùng của cuộcđời là : điều muốn của lòng ăn nhập với đạo lí tự nhiên , việc làm tự chuẩnchỉ , không còn bị bó buộc , dù muốn điều chi cũng không sái phép
05 – Mạnh Ý Tử ( Đại phu nước Lỗ, họ Trọng Tôn ,tên là Hà Kỵ ) hỏi Phu
tử về nết Hiếu , Đức Khổng trả lời : Không làm trái
Phàn Trì ( tên Tu , người Lỗ ) đánh xe cho Khổng tử , phu tử nói chuyện vớiông ta rằng : Vừa rồi Mạnh Tôn hỏi Hiếu ở ta , ta trả lời : Không làmtrái Phàn Trì hỏi lại : Sao thầy lại bảo vậy ?
Phu tử trả lời : Việc sống bày tỏ kính ý , chết chôn bày tỏ kính ý , cúng tếbày tỏ kính ý , ngưòi ta thờ cha mẹ từ đầu chí cuối, đều là bày tỏ kính ý màkhông cẩu thả trong việc tôn thân (Đương lúc này ba nhà Mạnh , Thúc ,Quý, cậy thế lấn ép quốc chủ , là bất kính , cho nên phu tử dùng lời này đểcảnh tỉnh , lời lẽ kín đáo , mà không lộ ý ba nhà họ chuyên quyền )
Họ Hồ bàn rằng : Người ta muốn báo hiếu cha mẹ mình , Tâm tuy vô cùng ,
mà phận thì hữu hạn , được làm mà không làm , cùng với không được phéplàm mà cứ làm , đều là bất hiếu , bảo rằng phải dùng lễ tiết để bày tỏ kính ý,
Trang 1008 – Tử Hạ hỏi về nết Hiếu , phu tử trả lời rằng :
Sắc nan ! (người con giữ hiếu với cha mẹ , mà khó nhất là giữ cho nhan sắcthường thấy vui vẻ ) còn như có việc đệ tử hết lòng nhọc sức làm , có rượuthịt thỉnh mời cha anh tới ăn uống, từng được xem là hiếu chăng ?
Người con hiếu có lòng yêu thương sâu nặng, ắt có hoà khí, có hoà khí ắt cósắc mặt hoà nhã vui vẻ ,có sắc mặt hoà nhã vui vẻ ắt có dung mạo đẹp đẽ Cho nên phụng sự cha mẹ , lúc nào cũng vui vẻ thường trực trên khuôn mặt,
là việc rất khó khăn, còn như chịu khó làm việc, vâng nuôi , chưa đủ làhiếu
Trình Tử bàn rằng : Điều mà đức Khổng bảo cho Ý Tử biết cũng là bảochung cho mọi người , (phụng sự cha mẹ phải đúng Lễ , thì người ta làmviệc mới thông suốt ) Điều mà đức Khổng bảo cho Võ Bá biết , là vì người
ấy có nhiều việc đáng lo , Tử Du hay nuôi mà lỡ thất kính ( Tử Du ngườigiản dị , tiết văn còn có chỗ chưa tới ) Tử Hạ hay trực nghĩa mà thiếu chútsắc nhuần ấm ( Tử Hạ tính cách nghiêm cẩn, khiến cho người ta phải nể sợ,
uy nghiêm lạnh lùng , không hợp chỗ phụng sự cha mẹ được ) Phu tử dựavào thực lực được hỏng, của mỗi người mà chỉ dạy , cho nên cùng điều hỏi
mà câu trả lời khác nhau , chủ ý giữ mực Tâm truyền - Trung – Chính
09 – Đức Khổng bảo rằng :
Ta thuyết giảng trò Hồi (họ Nhan, tự Tử Uyên, người nước Lỗ ) nghe trọnngày mà không hỏi vặn điều gì, ngỡ như ngu tối, khi trở về ở riêng , ta thấytrò ấy lĩnh hội đủ cả , còn có phát kiến thêm , Hồi giỏi vậy
Đức Khổng tuy dạy về phép tắc làm việc chung , mà rất coi trọng việc tự họcnghiêm khắc của học trò ( Thận độc chi học )
10 – Đức Khổng dạy rằng :
Hãy coi xem việc họ làm ở chỗ làm , lại coi xem nguyên do vì đâu đưa tớiviệc họ làm ? Còn phải xét tới chỗ an lạc của họ , người sao giấu được vậythay ? Người sao giấu được vậy thay ?
Làm Thiện là người có tầm , có thể làm chủ , làm thầy, làm Ác là kẻ có tâmđịa nhỏ mọn, nhìn thực tế mà so sánh , thì có thể rõ được , việc tuy Thiệnnhưng tâm địa chưa Thiện , thì cũng chưa làm chủ , làm thầy được
Trang 11Thầy Châu nói : Xem xét người cũng là tự xem xét mình , nghe lời nói, nhìntròng ngươi, hiểu biết được gan mật của người, thì lành dữ thấu đáo rõ ràng 10
Người có học thuật tu thân, tề gia, trị quốc , bình Thiên hạ (gọi tắt là : Tu ,
Tề , Trị, Bình ) kiến thức phải rộng mà không cố chấp, đủ các lĩnh vực củacuộc sống yêu cầu, từ Thiên văn, địa lí, nhân sự , cho tới võ bị , binh thư ,trận pháp , mới có khả năng cứu nước giúp đời , chuyển nguy thành yên !
13 – Tử Cống hỏi về tư cách người đứng trụ, làm thầy , Phu Tử đáp rằng :Phải làm trước lời nói của mình , sau đó khuyến khích người theo cho kịp Thầy Châu giảng rằng : chỉ vì Tử Cống nhiều lời , cho nên phu tử mới dạythế Người làm chủ , làm thầy , nết hạnh từ lời nói , nói được đã khó, làmhơn được lời đã nói còn khó gấp bội
16 – Đức Khổng nói : Công trị dị đoan hại mình ở đó
Họ Phạm giải rằng : Công ấy là chuyên trị , cho nên người thợ làm ra các đồ
từ gỗ đá , vàng ngọc , gọi là công Dị đoan là tín ngưỡng lạ lùng
Làm người phải có bổn phận lo cho gia đình và xã hội , những thuyết phápđưa tới : Phủ nhận vai trò của cha mẹ trong gia đình, phủ nhận vai trò đónggóp cá nhân của người thầy đối với xã hội , của bậc quốc chủ đối với nhândân – đâí nước , thì sự nguy hại rất là sâu nặng !
17 – Khổng Phu Tử bảo rằng :
Do này ! Trò muốn ta dạy cho đạo hay chăng ? Cái gì biết thật biết là biết ,cái gì biết không chắc chắn là không biết , biết bảo biết , không biết bảo
Trang 12không biết , là biết (Tử Lộ họ Trọng tên Do là ngườì háo dũng có sứcmạnh, có chỗ không biết cũng nói là biết, cho nên phu tử mới dạy như thế ) 11
18 – Tử Trương ( họ Chuyên Tôn , tên Sư, người nước Trần ) Học cầu bổnglộc ( Học để ra làm quan chức ) , Phu Tử dạy rằng :
Nghe nhiều , canh chừng mối ngờ , kín kẽ trong lời nói, được thế thì ít lỗi Thấy nhiều, canh chừng chỗ chưa ổn, kín kẽ trong việc làm, được thế ít hối.Lời nói trúng, việc làm không sai sót, bổng lộc tự trong đó
Người có học thuật tu , tề , trị , bình , lời nói , việc làm, đều phải kín kẽ (cẩnmật) Được lộc là phải đạo, Tử Trương vì nôn nóng học can lộc ( học để làmquan ), cho nên phu tử nói cho biết như thế, khiến cho trọng tâm yên định ,không bị lợi lộc khuấy động, cứu Tử Trương khỏi chỗ mất ,thúc đẩy tiến lên
19 – Ai Công – vua nước Lỗ hỏi Khổng phu tử rằng :
Bậc quốc chủ phải làm gì để dân phục ?
Đức Khổng đáp lại rằng : Chọn dùng chính trực , loại bỏ cong queo, dânphục , chọn dùng cong queo, loại bỏ chính trực , dân không phục !
Trình tử giải rằng : Bậc quốc chủ chọn dùng người hiền tài giúp nước, màngười đó có công tâm , biết đặt lợi ích chung của cộng đồng xã hội lên trênhết , thì lòng người phục trái lại vì ý riêng thì dân chúng không phục
Họ Tạ nói : ưa ngay thẳng , ghét cong queo, là chỗ chí tình của lòng người,thuận theo đó thì lòng người quy phục, trái với nó thì lòng người bỏ đi, đó là
lí lẽ tất nhiên Nhưng mà vô đạo có thể ngược lại, lấy thẳng làm cong, lấycong làm thẳng thì rất nhiều,cho nên người quân tử trọng ở kính,quý ở cùng
lí Đương lúc bấy giờ vua Ai Công không có thực quyền , quyền bổ dùngngười ở trong tay ba nhà Mạnh - Trọng - Quý , nhà vua lại muốn dùng kếsách bắt dân sợ phục, hỏi phu tử về việc đó , thì phu tử bảo tiến dụng hiềntài, thoái bất tiếu Đấy là căn bản của trị quốc yên dân
20 – Quý Khang Tử (Đại phu nước Lỗ ) hỏi Khổng phu tử rằng : Làm thếnào để khiến dân cung kính trung thành , khuyên nhau làm lành ?
Đức Khổng trả lời rằng : Tới chỗ đó dùng nghiêm trang thì dân kính trọng,dùng hiếu từ thì dân ngay, cất nhắc tốt lành mà dạy dỗ, bất năng thì khuyếnkhích Lâm chính thân dân dung mạo đoan nghiêm, thì dân chúng kínhtrọng với mình, Hiếu với cha mẹ , thuận với anh em , nhân từ với chúng dân,thì dân ngay thật với mình , tốt lành thì cất nhắc lên, chưa giỏi thì dạy dỗ,dân có chỗ vui vẻ mà khuyên nhau làm Thiện
Họ Ngô bàn rằng : Khang tử trộm quyền vua mà chuyên việc nước, phế bỏmệnh lệnh của cha , giết bỏ dòng đích , có thể nói là không ngayvới chúa ,không hiếu thảo với cha, mình vô đạo lại muốn giết kẻ vô đạo , cho thànhhữu đạo , có thể nói là không nhân từ với dân chúng Việc mình trên đối với
Trang 13vua – cha , dưới đối với chúng dân đều không phải đạo, lại muốn người tatận đạo với mình , thì thật là khó vậy
Người trên cảm hóa người dưới như bóng và tiếng vang
12
21- Có kẻ bảo Khổng phu tử rằng : Nhà thầy sao không làm chính trị ?
Đức Khổng đáp rằng : Ngươi có nghe Kinh Thư nói về Hiếu chăng ? Người
mà thảo với cha mẹ, hoà thuận với anh em, thi triển công việc có pháp độ,thì cũng đã là làm chính trị rồi , đâu cứ phải làm quan mới là làm chính trị ! Đây chính là chỗ Khổng phu tử nhấn mạnh : Việc sửa trị nhà làm nền tảngvững chắc cho nước Quan một lúc , Dân muôn đời ( Quan nhất thời , Dânvạn đại ! )
23- ( tiết này bỏ không dịch vì không giống tư tưởng của Khổng phu tử )24- Đức Khổng dạy rằng : Không phải hồn ma của Tổ tiên nhà mình màcúng tế nó là nịnh hót Thấy việc nghĩa khí mà không dám làm là kẻ vôdũng ( không đủ tư cách đứng trụ , làm thầy trong đời )
02 – Ba nhà Mạnh – Trọng – Qúy , dùng Ung Triệt, Đức Khổng bảo rằng :
“Tương duy Tích công , Thiên tử mục mục” , hai câu thơ này mở đầu thiUng , có nghĩa là : Khi Thiên tử tế lễ chỉ có vua chư hầu trợ tế , Thiên tử làmchủ tế, phúc đức sâu rộng thay !Ba nhà kia sao dám lấy dùng sai phép ?
Ba nhà ấy là : Mạnh Tôn, Thúc Tôn , Quý Tôn , họ đều là đại phu nước Lỗ
Mà tiếm dụng Ung Triệt để tế tổ tông , nên bị Khổng Phu tử chê trách vậy.03- Đức Khổng bảo rằng : Người mà bất nhân còn đâu phép tắc (Lễ ) hoàkhí ( Nhạc) nữa
Trang 14Họ Du giảng rằng : Làm người mà không có nhân đức, để mất lòng người,dầu có Lễ - Nhạc cũng không cử dùng cho được Nhân là cái đạo lí làmngười, phải như thế mới gọi là người
13
04 – Lâm Phỏng ( người nước Lỗ ) hỏi Khổng phu tử về bản chất của Lễ Đức Khổng trả lời rằng : Điều trò hỏi to lớn thay ! Tìm về gốc của Lễ đểhiểu cho tường tận , (Lễ vốn là tiết văn của trời, là nghi tắc của việc người ,vốn xuất phát từ lí lẽ tự nhiên, cốt bày tỏ Kính ý , mà không bị bó buộc trongmột khuôn mẫu cụ thể nào cả ) Ví như trong việc vui mừng , người tathường hay chi dùng xa xỉ, thì chủ Lễ ở đấy là Kiệm , trong việc đau buồntang ma , người ta dễ bày biện thái quá, thì chủ Lễ ở đấy là thương xót Điều cốt yếu của Lễ là giữ được mức Trung giữa Văn và Chất , chất là gốcvăn là ngọn , gốc ngọn không thể không có nhau
05 – Khổng Tử than rằng :
Di Địch còn có vua , đâu như mình là Hoa Hạ lại để mất !
Khổng Tử sinh sống ở thời chiến loạn , các bề tôi tiếm quyền , trộm ngóngôi tôn , dân chúng khổ sở vì chiến sự xảy ra liên miên, phu tử là một họcgiả lớn của đương thời, nên mới than thở như thế Các nước ở xa xôi hẻolánh , chậm phát triển còn giữ được nghĩa vua tôi , huống chi Chư Hạ tựxưng là Thiên tử ?
06 – Họ Quý tế Lữ ở Thái Sơn ( tại đất Lỗ ), phu tử bảo Nhiễm Hữu ( tênCầu , người Lỗ , đang làm tể đứng đầu gia thần của họ Quý ) rằng : Saokhông ngăn cản sự lạm tế ấy ?
Nhiễm Hữu đáp rằng : Không thể ngăn được !
Phu tử bảo rằng : Than ôi !
Chả lẽ Thần núi Thái sơn lại không minh biện bằng Lâm Phỏng chăng ! ( Lâm Phỏng là một dân thường còn biết gốc Lễ, huống hồ thần núi Thái sơn, lại không biết Quý thị tiếm Lễ , mà đến thụ hưởng sao ? )
07 – Đức Khổng nói rằng :
Bậc đứng trụ , làm thầy , không có chỗ giành giật , có chăng cũng như lúc ởtrường bắn đua, người ta vái chào nhau khi lên xuống đài, mà cùng mờinhau uống rượu trong hoà khí , không lấy kết quả hơn thua làm trọng, đó làchỗ tranh đua của người quân tử
08 – Tử Hạ hỏi Khổng phu tử rằng : Kinh Thi có câu : Khéo cười xinh chừ ,mắt đẹp liếc chừ , trắng để tô màu chừ , có ý nói gì vậy thưa thầy ?
Phu tử trả lời : Có nền trắng rồi mới vẽ màu lên thành tranh
Tử Hạ nói : Cần có tố chất trước, Lễ kế tiếp ở sau, phải không ạ thưa Thầy ?Phu tử nói : Phát khởi được ý của ta là trò Thưong vậy ! Vì thế ta mới đem ýnghĩa của Kinh Thi mà giảng giải cho
Trang 15Họ Tạ nói : Tử Cống nhân luận học mà biết Thi , Tử Hạ nhân luận Thi màbiết học , cho nên đều có thể bàn luận về Kinh Thi
Tố chất tốt mới đủ làm cho văn sức đẹp , hay nói : Có bột gột nên hồ
Tố chất nói ở đây là lòng Trung Tín
14
09 – Khổng phu tử nói rằng :
Lễ tiết của nhà Hạ ta có thể giảng bàn , nhưng con cháu của họ bây giờ lànước Kỷ , lại không đủ phát huy Lễ tiết của nhà Ân ta có thể giảng bàn ,nhưng con cháu của họ bây giờ là nước Tống, cũng không đủ phát huy Vănkhông đủ đành vậy, nếu đủ chứng lí thì ta đã phát huy nó rồi !
10 – Đức Khổng Tử than rằng :
Trong buổi tế Đế , từ lúc vua Lỗ rót rượu thỉnh Thần, trở về sau ta khôngcòn muốn trông thấy cảnh tế lễ ấy nữa
11- Có kẻ ngờ hỏi phu tử rằng : Thầy có thể giảng về tế Đế không ?
Phu tử trả lời : Không biết vậy ! Người có thể biết và thuyết giảng về chỗ đó,thì có thể trị Thiên hạ dễ như trở bàn tay
( Ý của tiên vương là báo bản truy viễn , không phải là người có đức NhânHiếu , có hạnh Thành Kính , thì không đủ đức để làm việc tế Đế )
Phu tử trả lời không biết là vì có chỗ khó nói ( Vua Lỗ tế Đế thất Lễ )
12- Tế tổ tiên như tại , tế thần như thần tại !
Phu tử bảo rằng : Ta không cùng với cuộc tế mà như không phải tế vậy !
13 – Vương Tôn Gỉa hỏi rằng : Nhờ cậy thần Áo, thà cậy thần Táo, tại saolại nói như thế thưa thầy ?
Phu tử trả lời rằng : Không phải vậy đâu ! Đắc tội với trời, không có chỗ cầuđảo cho thoát tội , dù cầu cạnh thần nào cũng thế thôi
Khổng Tử nghe được điều đó đáp rằng : Hỏi mới phải Lễ
Y thị nói : Lễ cốt ở Kính , biết rồi mà còn phải hỏi là thật cẩn thận
Trang 1619 –Vua Lỗ Ai Công hỏi : Vua sai khiến bề tôi, bề tôi thờ vua , như thế nào?Đức Khổng đáp rằng : Vua sai khiến bề tôi dùng Lễ , bề tôi thờ vua lấyTrung ( ngay thật – thẳng thắn )
15
20 – Đức Khổng bảo rằng :
Quan Thư vui mà không dâm , xót mà không hại
Phu tử ngợi khen Quan Thư trong Kinh Thi , là vì dù vui hay buồn , tìnhcảm vẫn giữ được Trung – Chính
21 – Vua Lỗ Ai Công hỏi nơi đàn Xã ở Tể Ngã, (Tể Ngã tên Dư, người nướcLỗ) Tể Ngã đáp rằng : Họ Hạ Hậu dùng cây tùng , người Ân dùng cây bách ,Người Chu dùng cây lật!
Vì rằng : Khiến dân chúng trông thấy cây lật mà sợ run người !
Phu tử nghe được điều đó nói : Việc đã xong rồi không nói nữa , việc vừa ýrồi không can ngăn nữa, việc đã qua rồi không trách lỗi nữa
Thần Xã là vị Thần cai quản đất đai , Đàn Xã là chỗ Tế lễ Thần Xã , câyđược trồng ở đó là cây tượng trưng cho uy quyền
22 - Đức Khổng tử nói rằng : Quản Trọng khí lượng nhỏ nhít thay !
Có kẻ ngờ hỏi : Quản Trọng kiệm chăng ?
Phu tử nói : Họ Quản có Đài Tam Qui, quan sự bất nhiếp, làm sao đắc kiệm?Lại hỏi : Như thế thì Quản Trọng biết Lễ chăng ?
Phu tử nói : Vua dựng bình phong che cửa , họ Quản cũng dựng bình phongche cửa , hai vua gặp nhau hảo ý hội yến , có Lễ phản điếm ( úp chén ), nhà
họ Quản cũng có phản điếm , họ Quản biết Lễ thì còn ai không biết Lễ !
23 – Khổng Tử nói với quan thái sư nhạc rằng : Âm nhạc tôi có biết, phéphợp tấu của giàn nhạc là : Mới đầu dạo nhạc sao cho thanh âm của các nhạc
cụ ăn nhịp với nhau, tiếp theo là mở rộng ra , sao cho thanh âm thuần hoà ,
rõ ràng mà liền lạc, như thế là thành bản nhạc
Lúc bấy giờ âm nhạc phế khuyết , cho nên Phu tử chỉ giáo như vậy !
Tuy nhiên nhạc bấy giờ là nhạc bát âm (bào, thổ ,cách, mộc , thạch , kim, ty,trúc ) và ngũ cung ( cung , thương, giốc , chuỷ , sâm ) ,
24 – Đức Khổng đi chu du qua nước Vệ , quan trấn ấp Nghi xin gặp phu tử
và nói : Người quân tử đến đất này , chưa có ai là ta chưa từng gặp mặt ! Cácmôn đệ đưa ông ta vào gặp phu tử , lúc trở ra ông ta nói : Các Thầy lo sầu vìchuyện phu tử mất chức vị, phải bỏ nước đi chu du chăng ? Thiên hạ vô đạo
từ lâu rồi ! Trời muốn dùng Phu tử làm Mộc Đạc
Mộc đạc : Là cái chuông đồng có quả lắc bằng gỗ , ngày xưa dùng đánh hiệuvào học , vì thế người ta thường gọi thầy học là Mộc Đạc
Có kẻ ngờ hỏi : Phu tử long đong vì nghiệp đánh xe giáo hoá chăng ?
Trang 17Họ Cơ nói : Cái được và chẳng được của phu tử về quan chức , thì người takhó biết Còn như Đạo Đức với tài dạy dỗ người của phu tử thì ai cũng biết,trời đem phu tử chấn dương văn giáo, mở nền thịnh trị cho đời sau là lẽ tấtnhiên thôi!
16
25 – Đức Khổng nói rằng :
Nhạc Thiều tận Thiện , tận Mĩ, nhạc Vũ tận Mĩ , chưa tận Thiện
Thiều là nhạc do vua Thuấn làm ra , có chín khúc gọi là cửu Đức ca , vuaThuấn là bậc đại Hiền được vua Nghiêu tryền ngôi Nhạc Vũ do Vũ vươngnhà Chu làm ra , có sáu khúc gọi là lục Thành , Vũ vương phạt Trụ dựngnghiệp , vì sát phạt nên chưa tận Thiện
Nghiêu , Thuấn , Thang , Vũ , cùng quỹ đạo cả thôi , chinh phạt vốn khôngphải là điều các bậc đó mong muốn, nhưng vì gặp phải thời đó nên phải làm,
Mĩ là nói về công lao, Thiện là nói về Đức độ Chinh phạt tuy thuận theo lẽtrời , ứng với lòng người đi chăng nữa, thì nó vẫn có không lành mạnh
26 – Đức Khổng nói rằng : Ở ngôi trên chẳng rộng lượng , làm Lễ bất Kính,lâm táng không thương xót Ta đâu có muốn trông thấy những người kia !
Ở ngôi trên chủ yêu thương người, cho nên lấy khoan hoà rộng lượng làmgốc , khi làm Lễ lấy ý Kính làm gốc, khi chôn cất lấy xót thương làm gốc,không có gốc thì ra trò gì ?
_
CHƯƠNG BỐN : LÝ NHÂN
( gồm 26 tiết )
Lý là một xóm có 25 nhà dân , Nhân là đức căn bản của người Quân tử
01 – Khổng Phu Tử bảo rằng : Làng xóm Nhân hậu thật là đẹp, chọn nơi ở
mà không chọn xóm Nhân đó , sao được gọi là hay !
Làng xóm có nhân hậu thì tập tục đẹp, chọn được nơi ở đó , bản thân mìnhđược tiếp cận với người hiền tài , mở rộng hiểu biết, con cháu mình cũngđược các tập tục tốt hun đúc , mà đức hạnh sáng láng , đời sống dễ ổn định 02- Đức Khổng nói rằng : Người ta mà bất nhân thì không thể bền chịu trongchỗ cùng khốn , không thể dài lâu trong chỗ vui sướng Người nhân thì yênvui với điều nhân , người trí thì làm lợi cho điều nhân
Người bất nhân là người mất bản Tâm , ở lâu chỗ bó buộc tất lạm, ở lâu chỗvui sướng tất dâm , chỉ có người nhân thì mới ở yên ổn trong chỗ nhân , màkhông ưa điều không giống như nhân Người trí thì làm lợi cho đức nhân ,
mà không dời chỗ nắm giữ nhân
03 – Đức Khổng nói rằng :
Duy có người Nhân mới có thể yêu – ghét người (một cách đúng đắn thôi ) !
Trang 18Bởi vì lòng vô tư nên yêu ghét đúng lí
Trình tử bảo đó là đắc: Công Chính
Họ Du nói : Ưa thiện ghét ác về tình cũng giông như người thường trongthiên hạ, nhưng vì người ta hay thiên lệch, tâm bị bó buộc không tự thắngđược Chỉ có người nhân không có lòng riêng cho nên yêu ghét chính đáng 17
04 – Đức Khổng nói rằng : Ví dầu chí ở nhân, không ác vậy !
Họ Dương giải rằng : Ví dù chí hướng ở điều nhân, việc làm chưa chắc làkhông có lỗi , nhưng mà làm ác thì không
06 – Đức Khổng than rằng : Ta chưa từng thấy người nào háo nhân , ghétbất nhân ! Người thật tình yêu chuộng điều nhân ( háo nhân ) không còn cóđiều gì hơn điều nhân được Người thật sự ghét điều bất nhân , khi làm điềunhân , không để cho điều bất nhân vướng vào mình Ai đó có thể suốt ngàydốc sức cho điều nhân vậy chăng ? Ta chưa từng thấy sức không đủ bao giờ
! Hay là cũng có mà ta chưa thấy chăng ?
Sớm nghe giảng đạo tối chết khá rồi
( ý nói người ta không thể không biết về đạo lý , hiểu về đạo lý Dù buổisớm nghe giảng Đạo lý mà thực hành , dù đêm tối có chết cũng thoả lòng )
09 – Đức Khổng bảo rằng :
Người học trò chí ở đạo đức, mà lại xấu hổ vì áo vá cơm đơn, thì không đủ
để cùng bàn đạo nghĩa
10 – Đức Khổng tử bảo rằng :
Trang 19Bậc đứng trụ , làm thầy , hành sử việc dưới gầm trời cốt hợp Nghĩa , khôngchuyên đoán , không vô cố , việc đáng như thế phải nên như thế
( Chữ Nghĩa theo từ điển có rất nhiều nghĩa , nhưng về tượng của của nó thì
là : Để cái tôi xuống dưới , phụng sự cộng đồng ở trên Cho nên việc làm cólợi cho cộng đồng, có lợi cho dân cho nước là hợp nghĩa , việc có lợi chobản than mà trái nghĩa chớ làm )
Người làm chủ , làm thầy , với người tầm thường khác nhau ở chỗ : Công
-Tư rạch ròi mà thôi
12 – Khổng Phu Tử nói :
Nương theo Lợi mà làm thì chuốc nhiều sự oán
( Người làm chủ , làm thầy , trong Thiên hạ phải dung hoà giữa Nghĩa vàLợi, nếu chỉ biết lợi cho riêng mình, vì lợi mà làm tất cả , thì sự oán ngàythêm dày , sự oán hận đến ngưỡng nhất định , sẽ hại đến tấm thân mình ,thân danh đã mất thì Tài - Lợi phỏng có ích gì ? )
14 – Đức Khổng tử nói :
Chẳng lo không có chức tước , chỉ lo làm thế nào cho thuyết học của mìnhđứng vững , không lo người ta không biết mình , mình nên cầu cho đạo hạnhngày một khá , để lấp đầy chỗ biết của người
15 – Đức Khổng bảo rằng : Sâm này ! Đạo của ta dùng cái đơn nhất quánthông tất cả !( Nhất Dĩ Quán Chi )
Tăng tử đáp : Dạ !
Phu tử đi ra ngoài các môn sinh hỏi Tăng tử rằng :
Vừa rồi Thầy nói với anh như thế có nghĩa là gì ?
Tăng tử đáp : Đạo của Thầy ta là Trung Thứ mà thôi !
Hết mình bảo đó là Trung , suy rộng ra từ mình bảo đó là Thứ
16 – Đức Khổng nói rằng :
Người quân tử lấy nghĩa mà hiểu dụ , kẻ tiểu nhân dùng lợi mà hiểu dụ
17 – Đức Khổng nói rằng :
Trang 20Gặp được người hiền tài , mình phải suy tư sao cho bằng họ, gặp kẻ chẳnghiền , thì trong lòng tự cảnh tỉnh
( Người giỏi tu học thì dù có gặp người giỏi hay dở , cũng đều học được ở
họ những điều cần thiết , gặp người giỏi mình học được cái hay của họ màlàm theo , gặp người không hay , thì mình xét chỗ dở của người mà tự cảnhtỉnh mà tránh , như thế thì không gì không lợi )
20 – Đức Khổng dạy rằng :
Tuổi tác của cha mẹ không thể không biết , một thì để vui, một thì để lo sợ Phải biết tuổi của cha mẹ , ghi nhớ lấy để vui mừng , vì cha mẹ viên thọ, màlại lo lắng , vì cha mẹ tuổi cao sức yếu dần Mà mong báo đáp thành tâmhằng ngày
21 – Đức Khổng bảo rằng :
Từ xưa lời nói khó thốt ra, lại xấu hổ vì không theo kịp điều đã nói
Họ Phạm giải rằng : Bậc đứng trụ , làm thầy , hạnh ở lời nói , vì thế khôngđừng được , sau đó mới phải thốt ra lời , không phải là khó nói , mà làm hơnđược lời đã nói là hết sức khó khăn Duy chỉ có kẻ nói bỏ đấy mà không thihành, thì mới xem nhẹ lời nói , mà dám nói bừa hứa bậy Còn như việc làm
và lời nói cùng đi đôi , thì lời nói phát ra ở miệng không dễ
Thờ bậc quốc trưởng , mà kể tội lỗi nhiều , thì mang nhục ở đó ! Bạn thân
mà can gián nhiều , thì chỗ đó thành sơ
Trang 21Hồ thị giải rằng : Thờ bậc quốc trưởng , mà lời can gián không được dùngthì nên bỏ đi ! Người bạn đồng đạo , điều Thiện không tiếp thu , thì nên đìnhchỉ ngay , đừng để đến chỗ phát cáu , lời hay thành nhàm, người nghe chánghét Thì lúc đó cầu vinh lại thành ra nhục , cầu thân mà lại thành ra sơ
Họ Phạm nói : Vua tôi , bè bạn , đều lấy Nghĩa hợp nhau, cho nên việc làmcủa họ giống nhau
Đức Khổng bảo Nam Dung ( ở Nam Cung , tên Quát, tự Tử Dung ) : Lúcnước yên trị không bị bỏ rơi, lúc nước loạn lạc tránh khỏi phạt giết ,( là bậchiền) nên Phu Tử đem cháu gái , con của người anh , gả cho Nam Dung
02 – Khổng phu tử bảo Tử Tiện ( Họ Mật , tên Bất Tề , người nước Lỗ )rằng : Quân tử thay ! Nếu người Lỗ không có bậc quân tử ở đấy , thì người
ấy lấy gì để thành đức quân tử ?
Tử Tiện hay tôn hiền kết bạn , thành đức quân tử, cho nên phu tử khen làhiền , đồng thời cũng biểu dương các bậc phụ huynh hiền tài ở Lỗ , vì nếukhông có thầy giỏi dạy dỗ , bạn hay đồng hành , thì người ấy lấy đâu màđược thành đức quân tử ?
03 – Tử Cống hỏi Phu tử rằng : Thầy đánh giá Tứ như thế nào ?
Đức Khổng nói : Nhà ngươi như món đồ !
Tử Cống hỏi : Thưa Thầy đồ gì ạ ?
Trọng Cung là người hiền , tính tình trọng hậu giản mặc, mà phu tử chưacho là Nhân vì sao ? Đạo Nhân rất to lớn , không toàn thể thì không đủ đảmđương được Cho nên phu tử không dễ cho !
Trang 2205 – Đức Khổng sai khiến Tất Điêu Khai ra làm quan
Tất Điêu Khai ( tự Tử Nhược, người nước Thái ) nói rằng :
Tôi chưa đủ đức tin để cai trị dân !
Phu tử nghe được câu này lấy làm đẹp lòng
06 – Khổng Tử nói rằng :
Đạo của ta không thi hành được , ta cưỡi bè vượt biển, theo ta có Do chăng ? 21
Tử Lộ nghe được điều đó vui mừng
Đức Khổng nói : Do này ! Nói về Dũng khí thì trò hơn ta, tiếc là trò không
có khả năng chọn thứ cần dùng ( không có tài phán đoán sự việc )
07 – Mạnh Võ Bá hỏi Phu tử : Tử Lộ là người Nhân chăng ?
Phu tử trả lời : Không biết !
Võ Bá hỏi lại , Phu tử trả lời rằng : Trò Do có khả năng : Cầm quân ở mộtnước chư hầu có nghìn cỗ binh xa , có thể khiến dẹp yên giặc giã , khôngbiết là có Nhân hay không !
Võ Bá hỏi tiếp : Cầu là người thế nào ?
Phu tử trả lời : Trò Cầu có thể làm quan tể của ấp nghìn nhà, của nước cótrăm cỗ binh xa , không biết có Nhân không !
Võ Bá lại hỏi : Trò Xích ( họ Công Tây, tự Tử Hoa , người Lỗ ) thì thế nào ?Phu tử trả lời : Trò Xích có thể mặc lễ phục , thắt đai đứng ở triều đường ,tiếp chuyện tân khách , không biết có Nhân không !
Thầy Châu nói : Lẽ trời hồn nhiên ấy là Nhân , có một tí ti ý riêng là bấtNhân , ba vị kia bản tâm đều không phải bất nhân , nhưng công phu cửaThánh cũng chưa thật thuần Tài làm việc của mỗi người thì dễ thấy , đứccủa bản tâm thì khó toàn , cho nên phu tử không trả lời về điều Nhân !
08 – Khổng phu tử bảo Tử Cống rằng : Trò cùng với trò Hồi thì ai hơn ai ?
Tử Cống thưa rằng : Tứ này đâu dám vọng tranh với Hồi , Hồi nghe mộtbiết mười , Tứ nghe một chỉ biết được hai thôi !
Khổng Phu tử nói : Chẳng bằng ! Ta cùng ngươi đồng ý chẳng bằng !
09 – Tể Dư ngủ ngày Phu Tử bảo rằng :
Gỗ mục không tạc tượng được , bụi đất không đắp lên tường được, khôngtrát thành vách được, ta còn trách Dư làm gì ?
( Ý nói chí khí tối tăm biếng nhác, dạy dỗ cũng không mở mang ra được )Lúc mới đầu ta nghe lời nói mà tin việc làm , bây giờ ta nghe lời nói củangười , còn phải theo dõi xem , việc làm của người ấy , có đi đôi với lời nóichăng ? Cũng bởi tại trò Dư làm ta đổi ý kiến vậy !
Tể Dư hay nói mà việc làm thì không cập , lại không biết lấy chí để cổ độngkhí , cho nên hay mệt mỏi , Phu tử mới trách mắng như thế Nhân đó lậpgiáo để răn dạy đệ tử , khiến cho họ cẩn trọng ở lời nói , mà mẫn cán ở việclàm
Trang 2310 – Đức Khổng nói rằng :
Ta chưa từng gặp ai cương quyết (kiên cường bất khuất) !
Có người bảo : Có Thân Trành chăng ?
Phu tử nói : Trành nghiện dục làm sao mà cương quyết !
Người cương quyết là người có lí trí thắng bản năng , nếu để cho Dục – Tìnhsai khiến , thì cương nghị tất phải tiêu tan
12 – Tử Cống nói rằng :
Văn chương của Phu tử , có thể mọi người đều đã được nghe, còn lời giảngluận về tính Người , với đạo Trời thì chưa khá được nghe !
Văn chương là vẻ ngoài của đức độ, uy nghi của văn từ là tính cách , người
ta bẩm thụ lẽ Trời , đạo Trời là bản thể tự nhiên của lẽ Trời Nói về vănchương của Phu tử , là cái vẻ ngoài được thấy hàng ngày, người học đạo ở
đó đều đã được nghe Còn như tính Người với đạo Trời thì Phu tử rất ít nóiđến , mà người học cũng không mấy được nghe !
( Nơi cửa Khổng , phép giáo hoá dựa trên căn tính của mỗi con người , màtruyền dạy không giống nhau , chia làm hai khoa thượng hạ , chuyên khoadạy về văn từ điển tịch , cùng cách xử sự là Hình nhi hạ , chuyên khoa dạy
về tính Người , cùng với đạo Trời là Hình nhi thượng Số học trò đượcchân truyền Hình nhi thượng rất ít )
13 – Tử Lộ mỗi khi nghe Phu tử giảng dạy cho điều gì, thì cố gắng tu tậpcho kì được, điều chưa thành thục , thì lo sợ cho điều mới học không kịp
14 – Tử Cống hỏi Phu Tử rằng :
Khổng Văn Tử ( tên Ngữ, đại phu nước Lỗ) tại sao lại được tên thuỵ là Văn?Phu tử trả lời rằng : Ông ta mẫn cán trong việc làm , mà lại ham học hỏi ,cho cầu học là trên hết , cho nên không lấy làm xấu hổ , khi học hỏi ngườidưới, vì lẽ đó mà được gọi là Văn !
Họ Hồ giảng rằng : Mặt trời , mặt trăng, các vì sao, gió , mưa , sương , móc,
là văn của trời, núi ,non , sông, biển , cỏ cây , hoa trái, chim , thú …là văncủa đất Người ta ở giữa lấy đó làm chỗ dùng
15 – Đức Khổng khen Tử Sản ( họ Công Tôn , tên Kiều , đại phu nướcTrịnh) có được bốn đức của người làm chủ , làm thầy , đó là :
Trang 241- Về Hạnh của ông ta tự mình có được tốn nhượng ( Khiêm Cung )
2 – Về phụng sự người trên thì đắc Kính
3 – Về nuôi dân thì đắc Huệ
4 – về sai khiến dân thì đắc Nghĩa
Thầy Châu nói : Chữ Nghĩa ở đây có ý cương đoán , Huệ với Nghĩa tươngphản , cho thấy Tử Sản trấp chính không chuyên ở khoan dung
Khổng Phu Tử chê trách Tang Văn Trọng , vì không chăm dắt điều Nghĩacho dân, mà nỡ sa vào siểm nịnh quỷ thần Như thế làm sao có thể được coi
là người có trí khôn !
( Người đương thời cho rằng Tang Văn Trọng có trí khôn )
18 – Tử Trương hỏi Phu tử rằng :
Lệnh Doãn ( Thượng khanh nước Sở cầm quyền trấp chính ) Tử Văn ( họĐấu , tên Cốc ) ba lần được bổ làm quan Lệnh Doãn , không để lộ sắc vuimừng , ba lần bị biếm truất chức quan mà không ôm hận , là Lệnh Doãn cũ
bị bãi chức, tất đem chính sự chỉ bảo cho Lệnh Doãn mới, ông ta là ngườithế nào?
Khổng Phu tử đáp rằng : Trung đấy !( Hết lòng vì đất nước )
Tử Trương lại hỏi : Có được gọi là Nhân chăng ?
Phu Tử trả lời : Chưa biết ! Chỉ với lòng Trung ấy sao được gọi là Nhân ?
Tử Trương lại nói : Thôi Tử ( tên Trữ , đại phu nước Tề) giết chết vua Tề làTrang Công,Trần Văn Tử cũng là đại phu nước Tề nhà có mười cỗ binh xa ,không chịu khuất phục dưới cường thần Thôi Trữ , từ bỏ giàu sang ở Tề , mà
đi nước khác Rồi ông ta nói : Quyền thần ở đây , chẳng khác gì đại phuThôi tử của ta ! Ông ta lại bỏ đi đến một nước khác, rồi lại nói : Quyền thần
ở đây , cũng một nòi với Thôi Tử của ta ! Rồi lại ra đi Ông ta là người nhưthế nào ? Thưa Thầy ?
Phu Tử nói : Ông ta là người trong sạch !
Tử Trương lại hỏi : Có được coi là Nhân chăng ?
Phu tử trả lời : Chưa biêt ! Chỉ với lòng trong sạch ấy sao được gọi là Nhân ?
19 – Quý Văn Tử ( tên Hành Văn, đại phu nước Lỗ ) ba lần suy đi tính lạithiệt hơn , sau đó mới thi hành
Phu tử nghe được điều đó nói rằng : Suy đi tính lại hai lần là được rồi !
Trang 2520 – Ninh Võ Tử ( tên Du, đại phu nước Vệ ) nước bình trị ông là người Trí,nước loạn lạc thì ông Ngu , chỗ Trí khôn của ông ta người đời còn có thểtheo kịp , đến như chỗ Ngu ngoan của ông ta , thì không thể có người nàotheo kịp được !
( Thời vua Thành Công nước Vệ loạn , nhờ có Ninh Võ Tử mà ổn trị ) 24
21 – Khổng phu tử ở nước Trần bảo rằng :
Ta về chăng ?, Ta về chăng ? Lũ môn sinh của ta ở Lỗ , hăng hái chí lớn,không câu nệ tiểu tiết, lại có văn vẻ rõ rệt, nhưng họ không giữ được mứcTrung Dung , chẳng biết có nên có nên vun trồng cho họ ?
Giấu niềm oán hận trong lòng mà giả đò bạn tốt , Tả Khâu Minh lấy làm xấu
hổ , Khâu này cũng thấy xấu hổ vậy !
25 – Nhan Uyên , Quý Lộ , theo hầu , Khổng Phu Tử bảo rằng :
Sao chẳng nói cái Chí của các ngươi cho ta nghe ?
Tử Lộ nói : Con nguyện được cưỡi xe ngựa rong ruổi , mặc áo lông chiênnhẹ , cùng bạn bè chung hưởng, dẫu hư nát cũng không giận !
Nhan Uyên nói : Chí nguyện của con không phạt Thiện , không thi Lao
Tử Lộ nói : Chúng con muốn nghe chí nguyện của Thầy !
Đức Khổng đáp rằng : Ta mong người già an tâm vì ta, bạn hữu tin tưởng ở
ta, lũ trẻ được ta nuôi dạy cho khôn lớn
Trình tử giảng rằng : Phu tử yên ổn với điều Nhân, Nhan Uyên không tráivới điều Nhân, Tử Lộ cầu điều Nhân
Tử Lộ dũng cảm làm điều Nghĩa vì sự nghiệp chung , Nhan Uyên không cầucho riêng mình , cho nên không cậy giỏi , biết hoà đồng cùng chung gánhvác với mọi người , cho nên không kể nhọc
26 – Khổng Phu Tử nói :
Thôi rồi chăng ? Ta chưa gặp ai là người hay thấy được điều lỗi của mình,
mà trong lòng tự trách phạt ! ( Miệng không nói mà lòng tự ăn năn hối lỗi )
Trang 2627 – Đức Khổng nói :
Trong một ấp chừng mười nhà , nhất định có người Trung Tín như Khâu !Nhưng chẳng có ai hiếu học , coi học tập là việc làm cả đời như Khâu này !Người ta tuy có tư chất tốt đẹp ( Trung Tín ) nhưng không chịu tu học, thìchẳng qua chỉ là một người quê mùa thô thiển mà thôi ! Không đủ sức đểvượt ra khỏi xóm nhỏ , còn nói chi đến kinh quốc ?
25
CHƯƠNG SÁU : UNG DÃ
( gồm 28 tiết )
01 – Khổng Phu tử nói :
Trò Ung ( Trọng Cung ) đủ đức làm bậc quốc trưởng
(Trọng Cung có đức khoan hồng , giản trọng , là khí độ của bậc quốc chủ )Trọng cung hỏi Khổng phu tử về Tang Bá Tử ,
Khổng phu tử trả lời rằng : Khá vậy ! Giản !
Trọng Cung lại hỏi : Ở Kính mà hành Giản , lấy đó soi xuống Dân , chẳngcũng khá chăng ? Ở Giản mà hành Giản , không chừng giản quá chăng ?Phu tử khen rằng : Trò Ung nói phải đấy !
(Người ta khi trong tay nắm quyền sinh sát, thường không giữ được sự Kínhcẩn cần thiết, dễ làm cho việc trở nên phức tạp )
02 – Vua Ai Công nước Lỗ hỏi Khổng Khâu rằng : Trong đám con em theonhà Thầy học đạo nghệ , có ai là người hiếu học ?
Khổng Phu Tử thưa rằng : Có ! Nhan Hồi
Trò Hồi hiếu học, giữ được Trung Dung , không giận lây kẻ khác , lỗi khôngtái phạm , chẳng may mệnh ngắn đã chết rồi !( Nhan Hồi 29 tuổi tóc bạc , 32tuổi thì qua đời ), bây giờ trò ấy mất đi rồi ! Tôi chưa nghe thấy ai hiếu học
Họ Phùng nói rằng : Lúc bấy giờ Tăng Tử còn bé , người hiếu học mà có thểtruyền đạo đạt được , chỉ có một mình Nhan Hồi mà thôi
03 – Tử Hoa ( Công Tây Xích ) đi sứ sang nước Tề ( Khổng Tử đang giữchức Tư Khấu của nước Lỗ , Tử Hoa là sứ giả của Khổng Tử )
Nhiễm Dư xin Khổng Tử cấp thóc cho mẹ của Tử Hoa
Khổng Tử bảo rằng : hãy cấp cho ăn lộc phũ ( một phũ bằng sáu đấu bốnthăng ) Nhiễm Dư xin thêm Khổng Tử nói : Thì cấp cho ăn lộc dữu (16 đấu)Nhiễm Dư cấp thóc cho 5 bỉnh ( 1bỉnh = 16 hộc, 1hộc = 10 đấu , 5 x 16 x 10
= 800 đấu thóc )
Khổng Tử nói rằng : Công Tây Xích (Tử Hoa ) đi sứ sang nước Tề , mìnhmặc áo lông chiên mịn , cưỡi ngựa mập , là người giàu có ! Ta nghe nói :Người làm chủ , làm thầy , chu cấp cho kẻ cùng khốn quẫn bách , chứ khôngnối thêm cho kẻ đã quá giàu có
Đạo Trời thường bớt xén chỗ dư thừa , bồi vá chỗ thiếu thốn , con ngườithường làm ngược lại , bòn mót chỗ thiếu hụt , bồi đắp chỗ dư thừa , tạo nên
Trang 27một khung cảnh : Cán cân mất quân bình , trật tự xã hội có nguy cơ bị phá
vỡ , cho nên phu tử mới nhắc nhở Nhiễm Dư như thế
Nguyên Tư ( tên Hiến , người nước Tống ) được Khổng phu tử cất nhắc làmquan tể , cấp cho ăn lộc 900 hộc thóc ( 900 x 10 = 9 000 đấu thóc ), Nguyên
Tư từ chối không nhận Khổng Tử bảo rằng : Đừng từ chối ! Hãy nhận lấy
mà phân phát , cho bà con làng xóm với người thân thích, chẳng được sao ? 26
04 – Đức Khổng bảo Trọng Cung rằng :
Con bò tơ có lông màu tía tuyền sắc, lại có cặp sừng đẹp, đáng làm vật tếđược, nhưng người ta không muốn dùng nó , vì nó là con của con bò lang Nhưng Thần núi sông thì không bỏ nó !
05 – Đức Khổng nói rằng : Trò Hồi ! Tâm của trò ấy có thể yên định đượcđiều Nhân ba tháng không trái , còn những người khác thì chỉ giữ được mộtngày , đến một tháng mà thôi !
06 – Qúy Khang Tử hỏi Khổng phu tử về Trọng Do (Tử Lộ ) , có thể làmquan cai quản chính sự được không ?
Đức Khổng trả lời rằng : Do là người quả quyết làm chính trị đâu có ngại !
Họ Quý lại hỏi : Còn Tứ ( Tử Cống ) có đủ đức làm chính trị được chăng?Đức Khổng đáp : Trò Tứ là người đạt sự lý, làm chính trị đâu khó !
Họ Quý hỏi tiếp : Trò Cầu thì sao ? Cũng có thể làm chính trị được chăng ?Đức khổng đáp : Trò Cầu của ta có nhiều tài nghệ, làm chính trị đâu khó !(Theo như Khổng Thánh Nhân , trong phép dùng người , thì tuỳ theo tàinăng mà bổ dùng vào công việc cụ thể Không ngại xuất thân của họ, ngay
cả bản thân họ , cũng không cầu phải đủ tất mới dùng )
Trình Tử bàn rằng : Quý Khang Tử hỏi thăm về đức hạnh, tài năng trị nước,yên dân của ba người học trò Đức Khổng đều đem sở trường của mỗingười ra mà nói , không riêng chỉ có ba người có sở trường , mà là ai cũng
có sở trường , sở đoản , cho nên chỗ sở trường ai cũng có thể lấy dùng
07 – Họ Quý sai khiến Mẫn Tử Khiêm ( tên Tổn , người Lỗ ) làm quan Tể
ấp Phí ( Phí là thực ấp của họ Quý ) Mẫn Tử Khiêm bảo sứ giả rằng : Ông
về gặp chủ nhân thì dùng lời lành mà từ tạ giúp tôi, còn như lại sai người tớiđây triệu tôi lần nữa, thì tôi phải bỏ chỗ này mà lên miền sông Vấn ở ẩn Trình tử nói : Môn sinh của Khổng Trọng Ni , từ chối làm quan cho nhà đạiphu có hai người là Mẫn Tử và Tăng Tử
Họ Quý chuyên quyền , lấn át vua Lỗ, muốn cất nhắc người hiền tài cai trịthành Phí, mong chống cự lại vua Lỗ, cho nên Mẫn Tử Khiêm từ chối , bấthợp tác, không để thất tiết , vấy bẩn thanh danh của mình
08 – Bá Ngưu ( họ Nhiễm , tên Canh ) có bệnh nặng
Trang 28Khổng Phu tử tới thăm, đứng ngoài cửa sổ nắm lấy tay Bá Ngưu nói rằng :Cách biệt thật rồi ! Cũng là mệnh đó thôi ! Người như thế mà bệnh như thế !Người như thế mà bệnh như thế !
09 – Đức Khổng nói rằng : Hiền thay trò Hồi ! Một giỏ cơm , một bầu nước ,
ở trong ngõ hẹp , buồn chán người ta không chịu nổi , mà trò Hồi không đổiniềm vui, Hiền thay trò Hồi !
10 – Nhiễm Cầu bảo rằng : Chẳng phải là tôi không vui lòng theo đạo củaPhu tử , mà vì tôi không đủ sức theo vậy !
27
Đức Khổng bảo rằng : Không phải là nhà ngươi không đủ sức, mà là tựvạch sẵn , giữa đường bỏ dở , chững lại đó không tiến tiếp là tự thoái lui rồi Người không đủ sức là người muốn tiến lên , mà không thể nào tiến lênđược nữa , đành phải bỏ cuộc giữa chừng
Người vạch sẵn đường , có thể tiến lên mà không muốn tiến nữa, đó là tựmình vạch ra giới hạn , tới đó thì không tiến nữa , người này không thể nói
là không đủ sức cho được
11 – Khổng phu tử bảo Tử Hạ rằng :
Nhà ngươi nên làm Nho Quân Tử , không nên làm Nho Tiểu Nhân
Tử Hạ chất thuần mà thiếu tầm xa lớn , sợ bị chìm đắm trong tư lợi , cho nênPhu Tử mới nhắc nhở như vậy
Điều Khổng phu tử nhắc nhở Tử Hạ , cũng là nhắc nhở các môn sinh khác
12 – Tử Du làm quan Tể ấp Võ Thành , Khổng Phu Tử hỏi rằng : Ngươi đãtìm được người cộng sự nào như ý nguyện chưa ?
Tử Du trả lời : Có Đam Đài Diệt Minh ! Người này không đi đường tắt ngõhẻm, không phải vì việc công thì không tới nhà riêng của Yển
Họ Dương bàn rằng : Người làm chính trị , chọn lựa nhân tài bổ dùng , làviệc làm đầu tiên, cho nên Khổng Tử dùng đắc nhân để hỏi Tử Du
14 – Đức Khổng Tử than rằng :
Không có có tài miệng lưỡi nịnh hót của quan Chúc Đà, mà cũng không cósắc đẹp của công tử Tống Triều , khó mà tránh khỏi sự ghét bỏ của đời nay !
15 – Đức Khổng nói rằng :
Trang 29Có ai đi ra khỏi nhà , mà không bước qua ngưỡng cửa ? Sao người ta lạichẳng hành sự từ nơi Đạo hạnh cơ chứ ?
28
17 – Đức Khổng bảo rằng :
Sự sống của người ta vốn là ngay thẳng , thanh thoát mà vươn lên cao,không ngay thẳng , thậm chí lừa lọc mà sống được là gặp may , nhưng khólọt lưới trời
18 – Khổng phu tử nói :
Hiểu biết về đạo không bằng hâm mộ đạo, hâm mộ đạo không bằng vui đạo
19 – Đức Khổng nói rằng :
Người ta phẩm hạnh từ bậc trung trở lên , mới có thể nghe và truyền dạy đạo
lý cao siêu cho được Còn từ bậc trung trở xuống không thể dạy cho đạo lýcao siêu được ! ( tiết này bàn về cách dạy người , phải tuỳ theo khả năngcao thấp mà chỉ dạy)
Họ Trần bảo : Đạo không chia ra tinh thô , phép dạy dỗ có đẳng cấp, tư chấtcận thượng có thể dạy cho tinh thâm , tư chất phàm hạ chỉ nên dạy cho nônggần
20 – Phàn Trì hỏi Khổng Phu tử về Trí , Đức Khổng trả lời rằng :
Chuyên tâm làm việc Nghĩa nuôi dân (vụ dân chi nghĩa ), kính trọng quỷthần mà không gần ( Kính quỷ thần nhi viễn chi ) , như thế có thể gọi là Trí Phàn Trì hỏi về đức Nhân , Phu tử bảo : Người có đức Nhân ấy là gánh vác
sự gian nan trước đã , sau đấy mới thu hoạch được thành quả của mình , nhưthế có thể gọi là Nhân
Những điều Khổng tử đề cập trên đây đều là chỗ mất hụt của Phàn Trì, Phu
tử nhân đó mà chỉ bảo cho
21 – Khổng Phu Tử bảo rằng :
Người Trí thích nước , người Nhân thích núi , là vì Trí thì cực động , Nhânthì chủ tĩnh Cho nên người Trí dễ hoà đồng cùng vui vẻ , người Nhân bềnvững sống lâu
Người Trí thường đạt sự lí, giống như dòng sông nước chảy không chỗ nàongưng đọng, cho nên ưa đặc tính của nước , là năng động mà yêu thích Người Nhân thường yên ổn ở Nghĩa lí, mà dày nặng không dời đổi , giốngnhư trái núi vậy , cho nên ưa đặc tính tĩnh tại , mà cao khiết của núi ,
22 – Đức Khổng nói rằng :
Trang 30Nước Tề thay đổi một chút thì tới kịp nước Lỗ , nước Lỗ thay đổi một chútthì đạt tới Đạo
Đương thời Khổng Tử , nước Tề giàu mạnh bá quyền chính sự ,cố giành lợi ,
ưa dối lừa, còn nước Lỗ trọng thể giáo, sùng tín nghĩa
Người có tầm nhìn xa trông rộng , lo cho dân cho nước , đưa đất nước từ nhỏyếu lên giàu mạnh, từ giàu mạnh tới đạt Lễ giáo , từ Lễ giáo đạt tới Đạo Đạo là thứ tối giản không thể thêm , không thể bớt , thích ứng vô cùng (Muốn đưa đất nước lên địa vị phú cường thì yếu tố tinh thần là ải hiểm ! ) 29
23 – Đức Khổng than rằng :
Cô không phải là Cô , cũng kêu là Cô , Cô vậy thay ! Cô vậy thay !
Cô là một loại bình đựng rượu có góc cạnh Cô khi đã mất đi hình dạng vốn
có của nó , thì nó không phải là Cô nữa , lấy một thứ đồ cụ thể làm thí dụ ,tất cả sự vật dưới gầm trời đều như thế cả Người ta mà bất Nhân thì khôngphải là người nữa , nước mà bất trị thì không còn là nước nữa !
24 – Tể Ngã hỏi Phu tử rằng :
Bậc Nhân Từ được người ta báo rằng : Có người bị hãm ở dưới giếng, người
ấy có nên theo tới chỗ đó để cứu vớt không vậy ?
Khổng phu tử đáp rằng : Sao lại không làm như thế ? Bậc đứng trụ , làmthầy , có thể tiến tới chỗ giếng nước đó để cứu nạn, nhưng không thể bịgiếng nước đó làm khốn, có thể bị người lừa gạt bởi lời nói có lý , nhưngkhông thể bị lừa gạt bởi lời lẽ ám muội vô lý
25 – Đức Khổng Tử nói rằng :
Người quân tử học rộng ở Văn , thúc ước nó ở trong phép tắc ( Lễ ), cũng đã
là noi theo đạo rồi đấy !
Người quân tử , muốn mở rộng tri thức thì phải học ở Văn, không có Văn thìkhông có chỗ để khảo cứu , muốn nắm giữ được chỗ cốt yếu của nó, làm chủđược chỗ động không ngừng của nó , tất phải có phép tắc ( Lễ ) Làm đượcnhư thế thì đã là thuận theo đạo lý (Bậc tiên giác truyền dạy cho các họcgiả, chẳng vượt quá hai việc : Bác Văn - Ước Lễ )
26 – Đức Khổng tử bái yết Nam Tử ( nàng Nam Tử là vợ của vua Linh côngnước Vệ , người có nết dâm , Tử Lộ không bằng lòng , Phu Tử thề rằng :
Ta có làm điều gì không phải ( không hợp với nghi Lễ ) thì Trời dứt bỏ ta !Trời dứt bỏ ta !
27 – Đức Khổng than rằng :
Trung Dung là đức chí cực của sự sống, dân chúng rất ít giữ được lâu !
Trình tử giảng rằng : Giữ được mức giữa không thiên lệch về bên nào , thìbảo rằng đó là Trung , giữ vững căn bản kiên định không dời đổi , gọi đó làDung Trung là chính đạo dưới gầm trời , Dung là định lý dưới gầm trời
Từ buổi thế giáo suy , dân chúng không còn hứng thú với hạnh Trung Dung
Trang 31nữa, rất ít người có được đức Trung Dung , mà có được cũng không mấyngười giữ được bền lâu
28 – Tử Cống hỏi Phu tử rằng : Ví thử như có người thi triển công nghiệprộng rãi ở nơi dân , mà năng động cứu vớt chúng dân , thì phẩm hạnh người
đó thế nào ? Có thể bảo là Nhân chăng ?
Đức Khổng đáp rằng : Việc nào cũng ở Nhân , ắt là Thánh chăng ? NghiêuThuấn cũng do đấy mà chưa đủ ( Lòng Nhân thì vô cùng ,mà việc Nhân thìhữu hạn , cho nên cái lý khó xong , ân trạch ngấm sâu , nghĩa tình rộng mở ) 30
Hễ là người Nhân thì ví như mình muốn đứng vững ở đời , mà nhân đó giúpngười đứng vững , mình muốn đạt sự lý , toại ý chí ở đời , nhân đó mà giúpngười đạt sự lý toại ý chí , lấy lòng tự xử mình mà đối xử với người , chomình kịp người , ấy là lòng Nhân Nhìn xem ở đấy thì biết lẽ trời chu lưukhông gián đoạn, thể trạng của Nhân cũng gắn kết luôn ở đấy Hay gần lấyhiểu biết, có thể gọi đấy là phương thuật của đức Nhân vậy !
Trình tử nói : Nhân ấy là lấy trời đất muôn vật cùng làm một thể
Họ Lữ giảng rằng : Tử Cống có chí ở Nhân, theo đuổi việc cao xa, nhưngchưa biết phương cách, Khổng phu tử nhân tính cách vốn có của Tử Cống
Ta chỉ chép ra theo kinh sách của người xưa , không phải do ta sáng tác ra ,
ta tin tưởng mà ưa cổ kính , trộm sánh với Lão Bành
(Ông già xứ Đại Bành họ Tiền tên Kiên, là quan đại phu , sống lâu đến bảytrăm tuổi , dân gian gọi là Lão Bành hay Bành Tổ )
Trang 3208 – Khổng Phu Tử nói rằng :
Không có lòng phẫn uất muốn biết, không có thể mở rộng ra cái vốn có ,không nói ra được điều cần nói , không phấn phát lên được , bảo cho biếtmột góc , mà không suy nghiệm biết ba góc còn lại, thì chẳng bảo nữa !
09 – Phu Tử ăn bữa cơm của nhà có tang, thì chưa từng ăn no, ngày hômthương khóc thì chẳng ca hát
10 – Đức Khổng nói với Nhan Uyên rằng : Được dùng thì thi hành , bị bỏ thìtàng ( cất giấu ) , chỉ có ta và ngươi là có được cái đó thôi !
31
Tử Lộ hỏi phu tử rằng :
Trong tình thế phải điều động ba quân , Thầy chọn ai giúp sức ?
Khổng Phu tử trả lời rằng :
Tay không bắt hổ , chân không vượt sông lớn , chết mà không kịp ăn năn !
Ta không muốn cùng với người ấy mưu việc, người ta cần ắt phải là ngườibiết lo sợ trước khi vào việc , chuộng mưu lược biết tính toán chắc thắng ,giành cho được thành công
11 – Đức Khổng bảo rằng :
Giàu mà có thể cầu được, dù làm quan cầm roi chấp pháp, ta cũng làm, cònnhư không thể cầu được, ta theo chỗ chuộng của ta !
12 – Khổng Phu tử rất kín kẽ trong các việc trai giới , chiến tranh , tật bệnh
13 – Khổng phu tử ở nước Tề nghe nhạc Thiều , trong suốt ba tháng khôngbiết đến mùi vị thịt cá Ngài nói rằng : Không lột tả nổi niềm hoà khí chứađựng trong đó !
14 – Nhiễm Hữu hỏi Tử Cống rằng : Thầy ta giúp vua Vệ chăng ?
Tử Cống đáp : Vâng ! Tôi vào hỏi điều đó
Tử Cống vào hỏi Khổng phu tử rằng : Bá Di , Thúc Tề là người thế nào ?Đức Khổng trả lời rằng : Là người hiền tài đời xưa !
Tử Cống hỏi : Hai ông ấy có Oán giận chăng ?
Phu Tử nói : Cầu Nhân mà được Nhân lại còn oán giận sao ?
Tử Cống trở ra nói : Thầy ta không giúp vua Vệ !
( lúc ấy vua nước Vệ là Triếp , cất binh đánh bố đẻ của mình là Khoái Quý )
15 – Đức Khổng nói rằng :
Ăn cơm thô , uống nước lã , co tay gối đầu mà ngủ , hưởng niềm vui ở trong
đó ! Bất nghĩa mà giàu sang , ta coi đó như đám mây nổi ( phù vân ) !
Trang 33( Kinh Thi giúp cho người học mở thông trí đức, Kinh Thư dạy việc trị quốcyên dân , Kinh Lễ dạy cho người đời biết qui củ phép tắc )
18 – Diệp Công hỏi Tử Lộ về Khổng Tử , Tử Lộ không trả lời
Khổng phu tử bảo Tử Lộ rằng : Sao ngươi không đáp rằng : Về việc làm củangười ấy thì phát phẫn quyên ăn, vui đạo lý quyên ưu sầu , chẳng hay biếtcái già đem tới cho mình ?
21 – Đức Khổng nói rằng :
Ba người cùng đi , tất có người làm thầy ta , chọn điều Thiện của họ màtheo, thấy điều bất Thiện của họ mà mình tự sửa đổi lấy mình
22 – Đức Khổng nói :
Trời sinh Đức ở ta , Hoàn Khôi dám hại ta sao ?
( Khổng tử đến nước Tống , Ngài cùng chư môn đệ , giảng luận Kinh sáchdưới gốc cây đại thụ , quan Tư mã nước Tống là Hoàn Khôi , sai người tớichặt bỏ đại thụ , Đức Khổng mới nói với môn sinh mấy lời trên đây )
26 – Khổng phu tử chỉ câu cá mà không đánh lưới , bắn thì không bắn chimđương ngủ
27 – Đức Khổng nói rằng :
Bởi chỗ không biết mà làm càn , thì ta không như vậy ! Ta nghe nhiều , chọntốt lành mà theo , ta đi nhiều , gặp gỡ nhiều mà ghi nhớ lấy , sự hiểu biếtcủa ta là có lần lượt
28 – Người làng Hỗ Hương có tiếng là khó bảo , có một chàng trẻ tuổi ởlàng ấy đến gặp Khổng Tử xin theo học Các môn sinh của phu tử đều lấylàm ngờ vực , Khổng phu tử bảo đám môn sinh rằng : Người ta có lòng
Trang 34thanh khiết tìm đến với mình , để cầu sự tiến tới , mình đón nhận sự thanhkhiết đó , không gánh trách nhiệm quá khứ của họ , giúp cho họ tiến lên,nhưng không cùng chịu sự thoái lui của họ , đâu cần khe khắt quá !
29 – Đức Khổng nói rằng :
Nhân xa lắm chăng ? Ta muốn điều Nhân , tại chỗ đấy Nhân đến rồi !
30 – Quan Tư Bại nước Trần hỏi Khổng tử rằng : Vua Chiêu Công biết Lễchăng ? Khổng Tử đáp rằng : Biết Lễ ! Khổng Tử lui ra , quan Tư bại váichào Vu Mã Kỳ mà tiến tới hỏi rằng : Tôi nghe nói người Quân tử không arua với ai , người Quân tử cũng thiên vị chăng ?
33
Vua nước Lỗ lấy người cùng họ ở nước Ngô làm vợ, gọi là Ngô Mạnh Tử ,vua Lỗ mà biết Lễ thì còn ai không biết Lễ ?
Vu Mã Kỳ đem lời đó nói với Khổng Phu Tử
Ngài đáp : May mắn cho Khâu này !Nếu như có lỗi ắt người ta đều hay biết !( Theo kinh Lễ thì người cùng một họ không thể cưới gả nhau , vua ChiêuCông của nước Lỗ phạm điều cấm đó là trái Lễ , Khổng Tử biết vậy nhưngkhông khai lỗi của chủ mình, tự nhận sự khiển trách )
31 – Khổng Tử cùng với người ta ca hát , lời ca mà tốt giỏi (Thiện) thì Ngàikhiến ca trở lại mà hoạ theo sau đó
(Đó là vì Ngài nuốn khảo cứu cho chu đáo mới nghe )
34 – Khổng phu tử bệnh nặng , Tử Lộ xin thầy cho làm Lễ cầu đảo , ĐứcKhổng hỏi rằng : Có lệ ấy sao ?
Tử Lộ thưa rằng : Điều đó có chép trong sách Luỵ rằng : “Chúng tôi cầu đảonhờ trên Trời , dưới Đất , Thiên thần và Địa kì giúp sức”
Đức Khổng nghe xong liền nói : Khâu này Đảo đã lâu rồi !
( Khổng Tử chủ chương Kính trọng quỷ thần mà không gần ( Kính quỉ thầnnhi viễn chi ) , quỷ thần có đức lớn giúp dân độ vật , phu tử cả đời trọn lành ,chăm lo giáo hoá , đức hợp quỷ thần , luôn được quỷ thần gia hộ , môn sinhkhông hiểu được điều đó , nên mới xin thầy cầu đảo , Phu tử vì vậy mới nói :Khâu này cầu đảo đã lâu rồi ! Lòng chí thành cảm động được thần minh ,việc ngay thẳng hay khuất tất , đều có quỷ thần giám sát, thì dù cầu đảo haykhông cầu đảo cũng vậy thôi ! )
35 – Đức Khổng nói rằng :
Trang 35Xa xỉ thì không thể tốn nhượng , kiệm ước thì có thể vững chắc, cùng vớichỗ không tốn nhượng , thà vững chắc còn hơn !
36 – Đức Khổng nói rằng :
Người quân tử thản nhiên lồng lộng , kẻ tiểu nhân nhưng nhức lo âu
(Bậc quân tử không mưu cầu cho riêng mình , cho nên thường thấy thoảimái thoáng đãng , kẻ tiểu nhân vì mưu cầu đoạt lợi cho riêng mình , gây thùchuốc oán , cho nên trong lòng thường trực mối lo sợ bức bách )
37 – Khổng phu tử là người ôn hoà , mà gắng gỏi nghiêm trang , uy dũng màkhông dữ giằn , cung kính mà yên ổn
03 – Bậc đứng trụ , làm Thầy , dốc lòng thờ cha mẹ cùng người thân thích ,thì dân chúng sẽ hưng khởi điều Nhân , không dời bỏ người cố cựu , thì dânchúng không ở bạc
(Tiết này nói rằng muốn cho đất nước ổn trị , thì nhà cầm quyền , nhà giáodục, phải tự mình nêu gương Hiếu – Nghĩa , làm cơ sở cho chúng dân theo )
\04 – Tăng Tử lâm bệnh nặng , cho gọi các môn sinh đến rồi bảo : Mở chân
ta ra , mở tay ta ra ! Kinh Thi có câu : “Nơm nớp lo sợ , chăm chăm chú ý ,như đang lội xuống vực sâu , như đang xéo trên váng băng nước mỏng” Từnay về sau ta thoát khỏi chỗ đó rồi ! Các trò ?
Trang 36( Làm người con hiếu thảo , phải giữ gìn được toàn vẹn thân thể do cha mẹsinh ra , cho nên phải năng sửa mình hành đạo , đừng phạm tội đồ khiến chothân thể bị huỷ hoại , làm nhục đến cha mẹ tông môn )
05 – Tăng Tử lâm bệnh nặng , Mạnh Kính Tử tới hỏi thăm , Tăng Tử nói :Con chim sắp chết tiếng kêu thương , con người sắp lìa đời lời nói Lành !Đạo người làm chủ , làm thầy quý trọng ba điều :
1- Cử chỉ , hành động , tránh xa chỗ bạo ngược , khinh mạn
2- Chính nhan sắc , gần tín nghĩa
3- Thở ra lời nói tránh xa lối thô bỉ , bội nghịch
Bày biện đồ cúng có quan Hữu Tư chăm lo
35
06 – Tăng Tử nói : Lấy chỗ có thể hỏi chỗ không có thể, lấy chỗ phồn đa hỏichỗ quả thiếu , có giống như không, đầy đặc giống như trống rỗng , lấn tới
mà không tranh giành , xưa kia bạn của ta thường làm như vậy !
07 – Tăng Tử nói : Người có thể nhận sự thác cô , chăm lo cho vị ấu chúasáu bảy tuổi , có thể nhận sự kí thác vận mệnh của đất nước trăm dặm để giữgìn, mà trong cơn nguy biến , không để cho người đoạt mất tiết tháo củamình , người ấy là bậc quân tử chăng ? Người ấy thật là quân tử !
08 – Tăng Tử nói : Người có Sỹ khí , không thể không có nghị lực lớn , vìgánh nặng mà đường xa ! Gánh vác điều Nhân là do ở nơi mình , cũng chẳngnặng lắm sao ? Chết đi rồi mà sau đó mới thôi , cũng chẳng xa lắm sao ?
09 – Đức Khổng nói rằng :
Hưng khởi lên được nhờ ở Kinh Thi , đứng vững được nhờ ở Kinh Lễ ,thành công được nhờ ở Kinh Nhạc
( Kinh Thi dạy người ta kinh nghiệm sống , Kinh Lễ dạy người ta cách ứng
xử , Kinh Nhạc dạy người ta tạo lập hoà khí )
10 – ( Tiết này chủ chương ngu dân , ngờ là không phải lời dạy của ĐứcKhổng nên dịch giả lược bỏ )
Họ Nhiêu nói : Nghiêu - Thuấn thống suất Thiên hạ , dùng điều Nhân làmgương cho chúng dân noi theo , Kiệt – Trụ thống suất Thiên hạ lấy Bạo làmgương , mà dân chúng cũng noi theo ! Cái đó là vì họ không biết , nếu họbiết được Nhân là phải , Bạo là không phải , thì lấy Bạo làm gương họ sẽkhông theo Tuy nhiên dân bị lừa phỉnh chỉ là tạm thời , vì vậy mà Kiệt –Trụ , nước bị mất , thân bị giết , tộc bị diệt là quả báo vậy !
11 – Đức Khổng bảo rằng :
Người ưa chuộng sức mạnh , ghét bỏ nghèo khó , có khi làm loạn !
Người ta mà bất Nhân , sự ghét bỏ thái quá , sẽ sinh loạn nghịch !
12 – Đức Khổng nói rằng :
Người ta dù có tài khéo , trí năng , kỹ nghệ , như Chu Công , mà kiêu căng
bỉ lận , thì sự nghiệp còn lại cũng không có gì đáng xem
Trang 37Sư Chí ( Quan nhạc sư nước Lỗ , tên là Chí ) lúc mới đầu nhậm chức Nhạc
sư , cai quản âm nhạc của nước Lỗ , ông cho tấu bản “ Quan Thư” đoạn chót, nghe vui thích đầy đặn thay !
(Khổng phu tử mới từ nước Vệ trở về nước Lỗ , chỉnh đốn âm nhạc, Ngàithích Sư Chí ở việc coi giữ âm nhạc , cho nên nền âm nhạc của nước Lỗ mớithịnh đạt như thế )
17 – Đức Khổng nói rằng :
Ngông cuồng mà không thẳng thắn , tựa hồ như không hay biết gì , màkhông trung thực, ngây ngô mà chẳng tín thật, ta chẳng biết những hạngngười ấy sẽ làm nên việc gì ?
18 – Đức Khổng nói rằng :
Học như chẳng kịp , còn sợ mất nó !
Cảnh tỉnh người học đáng nên như thế mới phải
Thầy Châu giảng rằng : Việc học tập gắng gỏi , quyết chí , giống như bắtgiặc , phải chuẩn bị trước khí lực , tinh thần , bày sẵn nghìn phương trăm
kế , để tước bỏ sự hung hãn của kẻ địch khi bắt nó ,còn lo sợ chưa tóm gọnđược nó Huống chi chỉ ngồi dòm suông , sao bền được !
19 – Đức Khổng Tử nói rằng :
Tâm chí cao lớn vòi vọi sao ? Thuấn – Vũ có được Thiên hạ , mà lòng chẳngcoi ngôi báu là niềm vui lớn !
Thầy Châu bảo : Đời nay người ta vừa mới giàu sang , liền bị rước lấy câu
tự ti rồi , nếu có thể cao như Thuấn – Vũ thì đã được khen là vòi vọi rồi !
20 – Khổng phu tử nói rằng :
To lớn thay ! Đức nghiệp vua Nghiêu !Cao xa vòi vọi ! Chỉ có Trời là lớn !Chỉ có vua Nghiêu là chuẩn , lồng lộng mà dân chúng không thể gọi tên !Lồng lộng thay ! Trong đó có thành công Rực rỡ thay ! Trong đó có vănchương (Thành công là sự nghiệp , văn chương là lễ nhạc pháp độ , đức củaTrời thì có thể thấy được , mà không thể gọi ra tên gọi được )
Trang 3821 – Vua Thuấn có năm người bề tôi giỏi giúp sức mà Thiên hạ bình trị
Võ Vương nói : Ta có mười người bề tôi giỏi giúp cuộc trị bình Thiên hạ Khổng Phu Tử nói rằng :Nhân tài khó có được chẳng đúng lắm sao ? Bắtđầu dấy lên từ đời Đường Ngu mà thịnh đạt ở đời Chu , mà cũng chỉ cómười người , trong đó có một phụ nữ , còn nam giới chỉ có chín người Năm người bề tôi giỏi của vua Thuấn là : Vũ , Tắc , Tiết , Cao Dao ,Bá Ích Mười người bề tôi giỏi của Võ Vương là : Chu Công Đán , Triệu CôngThích, Thái Công Vọng, Tất Công Vinh , Thái Điên , Hoành Yêu , Tán NghiSinh , Nam Cung Quát , và bà Ấp Khương ( vợ của Võ Vương , con gái củaThái Công )
37
Vua Văn Vương nhà Chu địa vị là nước chư hầu của nhà Ân, được hai phần
ba Thiên hạ theo về , mà vẫn phụng sự nhà Ân , có thể nói là bậc chí Đức Trong khi Thiên hạ quá nửa theo về nhà Chu , mà vua Trụ của nhà ÂnThương vẫn không tỉnh ngộ , dựng nền Bạo chính khiến Thiên hạ đại loạn ,kết liễu triều đại Ân Thương , quyền Thiên Tử về tay Võ Vương nhà Chu
22 – Đức Khổng nói rằng : Vua Vũ nhà Hạ , ta không tìm thấy chỗ hở để chêtrách , trong ăn uống sinh hoạt thì đơn giản , mà kính tế quỷ thần thì trọnghậu, áo quần thường ngày thì sơ sài , mà áo mũ triều tế thì lộng lẫy , cửa nhàthì thấp bé , mà dành hết sức cho khơi thông ngòi rãnh , làm thuỷ lợi cho dânnhờ cậy Vua Vũ , ta chẳng chê trách được !
CHƯƠNG CHÍN : TỬ HÃN
(gồm 30 tiết )
Đức Khổng phu tử rất ít nói đến Lợi , Mệnh , Nhân
Trình Tử giảng rằng : Kể Lợi thì hại Nghĩa , Mệnh ( là chỗ trời phú bẩm chomuôn vật ) lý lẽ của nó vi diệu khó nắm bắt , đạo Nhân to lớn, cho nên ĐứcKhổng rất ít bàn giảng tới
01 – Người làng Đạt Hạng nói rằng : Lớn thay ! Thầy Khổng học rộng màkhông có chỗ nổi danh nghề nghiệp !
Khổng phu tử nghe được lời ấy bảo với các môn sinh rằng : Ta làm nghề gì
để lên danh phận đây ? Nghề đánh xe chăng ? Nghề bắn cung chăng ? Talàm nghề đánh xe vậy !
Họ Trần bàn rằng : Chỉ có bậc Đạo tuền Đức đủ , mới không thể lấy một cáitên kêu thật lành ( Thiện Danh )
02- Đức Khổng nói rằng : Đội mũ Miện tua bằng sợi gai (mũ làm bằng lụathâm ) đúng với Lễ xưa ( Miện là mũ lễ , các quan lại từ bậc Đại phu trở lênmới được đội ) Ngày nay tua mũ bằng tơ tằm đẹp lại tiết kiệm , ta theo đạichúng Xưa vua tôi cùng hành Lễ các quan phải vái ở dưới nhà , ngày nay
Trang 39các quan vái ở trên là kiêu mạn , ta tuy làm trái với số đông, vẫn chọn vái ởdưới nhà như phép xưa
(Phàm là xử sự ở đời phải lấy Nghĩa làm then chốt , gặp việc nên châmchước mà làm , không nệ vào khuôn mẫu sẵn có , Lễ cốt bày tỏ niềm kính ái,khiến cho việc giữ được Trung – Chính , cho nên Phu tử lấy việc cái mũMiện , và việc vua tôi hành Lễ làm thí dụ )
03 – Đức Khổng dứt bỏ bốn điều sau đây : Vô ý , vô tất , vô cố , vô ngã ( Vô ý : Chớ dùng ý riêng mình , không dụng ý riêng mình không để ý đến
Vô tất : Không cưỡng cầu ắt phải như thế Vô cố : Không có tội gì , không
có duyên cớ gì , không lý do gì Vô ngã : Quyên hẳn mình , không có tư kỷ )
Sở dĩ phải đoạn tuyệt bốn cái không đó là vì nó là bệnh
38
04- Khổng phu tử gặp nạn ở đất Khuông
Người Khuông thù ghét Dương Hổ , Phu tử có diện mạo giống Dương Hổ,cho nên bị người Khuông vây bắt ( Phu tử từ nước Trần đến ấp Khuông ).Phu tử bảo với các môn đệ rằng : Vua Văn Vương đã mất rồi , nền văn hiến
do Ngài tạo lập , chẳng đang còn ở chỗ ta sao ?
(Điều thấy được của Đạo bảo rằng đấy là Văn , bởi vì nói Văn là nói Lễ ,Nhạc , Chế độ Đạo là căn bản của lễ nhạc chế độ, lễ nhạc chế độ là chỗnương nhờ của Đạo )
Trời chưa vùi lấp nền tư văn đó, sau khi Văn Vương chết rồi , nền tư văn đócòn ở nơi ta đây ! Trời chưa vùi lấp nền tư văn còn ở nơi ta , thì ngươiKhuông ắt không thể làm trái ý Trời mà hại ta đâu !
05 - Quan Thái Tể nước Ngô hỏi Tử Cống rằng :
Khổng phu tử là bậc Thánh chăng ? Sao ông ấy đa năng vậy ?
Tử Cống đáp rằng : Nhờ Trời cho mà Thầy tôi gần như Thánh lại nhiều tài !Khổng phu tử nghe được lời đó bảo rằng : Quan Thái Tể biết ta chăng ? Talúc thiếu thời hèn mọn, cho nên việc kém phải nhiều tài , người Quân tử cầnnhiều tài chăng ? Không cần nhiều đâu !
Tử Trương ( tên Lao , họ Cầm , người Vệ ) nói : Ta nghe Phu tử bảo rằng :
Vì ta không được chưng dùng, cho nên dốc lòng học tập mà thông đạt nghề !
06 – Khổng phu tử nói rằng :
Ta có hiểu biết vậy thay ! Chăng hay vậy ! Có kẻ thô bỉ ( tiểu nhân) hỏi tarằng : Chơi vơi, chơi vơi như vầy ? ) Ta gõ vào hai đầu mối mà phát độngcho hết ( hai đầu mối ấy là nói thuỷ chung, gốc ngọn, trên dưới , tinh thô ,không có chỗ nào là không tường tận )
07 – Khổng Tử than rằng :
Chim Phượng Hoàng không đến , sông Hà không xuất hiện Đồ , ta dừng lại
ở đây thôi !
Trang 40( Không có bậc chủ Hiền minh , thì bề tôi giỏi không được dùng ! Khổng Tửkhông thấy được khí tượng của thời Thuấn thịnh chim Phượng bay đến , thờiĐại Vũ trị thuỷ sông Lạc hiện Thư , thì tự biết mình không gặp chủ , khônggặp thời , mà than thở mấy lời trên )
08 – Khổng phu tử gặp người mặc đồ tang, người bận quan phục , người
mù , gặp những hạng người đó thì dù đương ngồi ắt phải đứng dậy, đi quathì ắt phải đi mau
09 – Nhan Uyên tấm tắc khen rằng : Đạo của thầy ta càng ngửa trông càngcao, càng dùi vào càng rắn chắc, vừa trông thấy trước , loáng lại đàng sau (Ngửa trông càng cao không thể kịp, dùi càng cứng chắc không thể vào ởtrước ở sau hoảng hốt không rõ hình tượng là nói vô cùng, vô tận ,vôphương thể , hiểu được Đạo của Thầy cho nên Nhan Tử tấm tắc ngợi khen ) 39
10 – Khổng Phu Tử tuần tự dẫn dụ , khéo léo đưa người học Đạo hiểu được
từ thấp đến cao , dùng văn học mở rộng ( Bác văn ) sự hiểu biết cho ta, dùng
lễ nhượng chỉnh lý ( Ước lễ ) cách đối nhân xử thế cho ta
Đạo của phu tử tuy cao diệu , mà phép dạy người có thứ tự, mở rộng (BácVăn ) thâu tóm lại ( Ước Lễ ) , duy chỉ có hai việc ấy mà thôi
Khiến cho người theo học muốn bỏ mà không thể bỏ , đã theo tận lực màchưa tuyệt đỉnh, gần với tới nơi muốn dùng sức mà không thể nổi
11- Đức Khổng bệnh nặng ,Tử Lộ khiến các môn đồ của Khổng phu tử làmgia thần phòng khi tang sự ( Như người đương chức ) Bệnh thuyên giảmphu tử trách rằng : Chậm rồi thay! Do này ! Sao trò làm việc điêu vậy ? Tavốn không có gia thần , sao lại làm ra có gia thần , ta dối lừa ai đây ? DốiTrời chăng ? Vả lại ta chết trong tay các gia thần , chẳng thà chết ở trong taycác học trò của mình chăng ? Lại nữa như ta chẳng được Đại tang, ta chết ởđường cái chăng ?
12- Tử Cống hỏi phu tử rằng : Tỷ như có viên ngọc tốt ở đây, thì nên bỏ vàohộp mà cất giấu đi chăng ? Hay là đợi giá đắt thì bán đi chăng ?
Khổng Phu Tử đáp rằng :
Nên bán nó đi ! nên bán nó đi ! Ta còn đang đợi giá !
13 – Khổng Tử muốn bỏ đi tới miền cửu Di , có kẻ ngờ bảo Phu tử rằng :Nơi ấy còn thô lậu như thế làm sao nhà Thầy ở được ?
Khổng phu tử đáp rằng :
Có người quân tử đến ở đấy, mà giáo hoá cho họ , thì còn lo gì thô lậu ?
14 – Đức Khổng nói rằng :
Ta từ nước Vệ trở về nước Lỗ , sau đó chỉnh đốn âm nhạc , khiến cho Nhã
và Tụng , đều được đúng chỗ vốn có của nó
15 – Đức Khổng nói rằng :