1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn thành phố hải dƣơng, tỉnh hải dƣơng

118 763 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 241,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

liên quan đến đề tài nghiên cứu Các thông tin, tài liệu phục vụ cho nghiêncứu cơ sở lý luận và thực tiễn về công tácquản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế - Chi cục Thuế Thành phố Hải Dương: Độ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận văn “Quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương” là công trình nghiên

cứu độc lập của tác giả, các tài liệu tham khảo, số liệu thống kê phục vụ mục đíchnghiên cứu trong công trình này được sử dụng đúng quy định, không vi phạm quychế bảo mật của Nhà nước Tác giả xin cam đoan những vấn đề nêu trên là đúng sựthật Nếu sai, tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật

Tác giả luận văn

Trần Thị tuyết

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều cá nhân và tập thể.Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học ThươngMại, xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Sau đại học đã giảng dạy tạođiều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn của mình

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS TS Nguyễn Hoàng Long

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ

Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộ, nhânviên tại Chi cục thuế Thành phố Hải Dương, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thànhluận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày….tháng….năm 2016

Tác giả

Trần Thị Tuyết

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ viii

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 2

2.1 Tình hình nghiên cứu đề tài ở nước ngoài 3

2.2 Tình hình nghiên cứu đề tài trong nước 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu 6

4.2 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 7

6 Kết cấu luận văn 10

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ 11

1.1 Khái quát về thuế và quản lý thuế 11

1.1.1 Khái niệm, phân loại và vai trò của thuế 11

1.1.2 Khái niệm và nội dung quản lý thuế 15

1.2 Nội dung quản lý nợ thuế 19

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ thuế 19

1.2.2 Khái niệm và nội dung cơ bản quản lý nợ thuế của Chi cục quản lý thuế 27

1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế 38

1.3.1 Nhóm yếu tố chủ quan 38

1.3.2 Nhóm yếu tố khách quan 39

Trang 4

2.1 Giới thiệu khái quát và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương 40 2.1.1 Giới thiệu khái quát về Chi cục Thuế Thành phố Hải Dương 40 2.1.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương 50 2.2 Thực trạng quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) trên địa bàn Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương 51 2.2.1 Thực trạng nợ thuế của các doanh nghiệp tư nhân do Chi cục thuế Thành phố Hải Dương quản lý 52 2.2.2 Thực trạng quản lý nợ đối với các doanh nghiệp tư nhân do Chi cục thuế Thành phố Hải Dương quản lý 57 2.3 Đánh giá về quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tư nhân tại Chi cục thuế Thành phố Hải Dương 71 2.3.1 Những mặt đạt được và nguyên nhân 71 2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 73 3.1 Định hướng phát triển và quan điểm quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp

tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương 79 3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Hải Dương giai đoạn 2016 – 2020 79 3.1.2 Mục tiêu quản lý nợ thuế và quan điểm quản lý nợ thuế đối với DNTN trên địa bàn Thành phố Hải Dương 81 3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý nợ thuế đối với Doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương 84 3.2.1 Giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý nợ thuế đối với DNTN trên địa bàn Thành phố Hải Dương 84 3.2.2 Giải pháp đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực 88 3.2.3 Giải pháp hoàn thiện các điều kiện thực hiện quản lý nợ thuế đối với DNTN trên địa bàn Thành phố Hải Dương 89

Trang 5

3.3 Một số kiến nghị vĩ mô 97 3.3.1 Kiến nghị với Tổng cục thuế 97 3.3.2 Kiến nghị UBND và Cục thuế tỉnh Hải Dương 98 3.3.3 Kiến nghị với các cơ quan có liên quan trong công tác phối hợp trên địa bàn thành Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương 99 KẾT LUẬN 102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Cơ cấu tổ chức lao động phân theo đội thuế 45Bảng 2.2 Cơ cấu lao động phân theo ngạch công chức và chức danh 46Bảng 2.3 Cơ cấu lao động phân theo trình độ và độ tuổi 47

Bảng 2.4 Kết quả thu NSNN của Chi cục thuế Thành phố Hải Dương

Bảng 2.5 Kết quả thu NSNN chia theo loại hình doanh nghiệp tại

Chi cục thuế Thành phố Hải Dương giai đoạn 2013- 2015 49Bảng 2.6 Tổng hợp nợ thuế của các DNTN giai đoạn 2013 – 2015 52Bảng 2.7 Cơ cấu nợ thuế của DNTT theo sắc thuế giai đoạn 2013-2015 53Bảng 2.8 Tình hình nợ thuế của các DNTN phân theo tính chất nợ giai

Bảng 2.9 Tình hình nợ thuế của các DNTN do Chi cục Thành phố Hải

Dương quản lý phân theo ngành nghề giai đoạn 2013-2015 56Bảng 2.10 Kết quả đánh giá của cán bộ thuế trong công tác quản lý nợ

thuế tại Chi cục thuế Thành phố Hải Dương 60Bảng 2.11 Kết quả thu nợ đọng các DNTN giai đoạn 2013 -2015 62Bảng 2.12 Tình hình tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế giai đoạn 2013 -

Bảng 2.13 Hiệu quả của biện pháp đôn đốc thu nợ đối với các DNTN giai

Bảng 2.14 Kết quả đánh giá của doanh nghiệp tư nhân về công tác quản lý

nợ thuế của Chi cục Thuế Thành phố Hải Dương 69Bảng 2.15 Kết quả đánh giá của doanh nghiệp tư nhân về năng lực của

cán bộ thuế trong công tác quản lý nợ thuế 70

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Quy trình quản lý nợ thuế tại Chi cục 30

Sơ đồ 2.1 Bộ máy Chi cục thuế Thành phố Hải Dương 44

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thuế không chỉ là nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách Nhà nước, mà thuế còn làmột công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế góp phầnđiều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội

Thuế là khoản thu bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuếnên trong thực tế có nhiều các nhân, tổ chức, doanh nghiệp… vẫn còn tâm lý chây ỳnộp thuế, chiếm dụng tiền thuế, thậm chí còn có hiện tượng trốn thuế làm cho số nợđọng thuế còn rất lớn, nhiều khoản nợ thuế tồn tại nhiều năm không có khả năngthu, nhiều đối tượng có nợ thuế đã không còn tồn tại do bị giải thể, mất tích… gâythất thu lớn cho NSNN Do vậy, quản lý nợ thuế là một khâu quan trọng trong quản

lý thuế, là một trong những chức năng chính của mô hình quản lý thuế theo chứcnăng trong cơ chế tự khai tự nộp Kết quả đem lại từ việc đôn đốc thu nợ thuế làmột trong những thước đo cơ bản để đánh giá chất lượng và hiệu lực, hiệu quả củacông tác quản lý thuế Đồng thời, công tác quản lý nợ thuế có vai trò quan trọngtrong việc nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế, đảm bảothu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế cho Ngân sách Nhà nước nhằm chống thấtthu thuế, đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế

Luật quản lý thuế được thực hiện tạo ra cơ sở pháp lý để đổi mới quản lý nợthuế Ngược lại, việc quản lý nợ đọng thuế tốt lại có tác động to lớn với quản lýthuế nói chung, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả từ phía đối tượng nộp thuế và cơquan thuế

Năm 2013 kinh tế Việt Nam thoát ra khỏi sự ảnh hưởng của khủng hoảng kinh

tế toàn cầu Tuy vậy hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp còn gặp không ítkhó khăn đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân Một số doanh nghiệp không thựchiện đúng thời hạn nộp thuế theo quy định của luật quản lý thuế dẫn đến nợ đọngthuế, gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách Đồngthời, do cơ chế chính sách còn chưa đồng bộ, cơ chế quản lý chưa đáp ứng được yêu

Trang 10

cầu, một bộ phận cán bộ thuế trình độ còn hạn chế và ý thức của một số người nộpthuế còn chưa cao nên số nợ đọng thuế vẫn còn lớn, nhiều đối tượng có nợ thuế đãkhông còn tồn tại do bị giải thể, mất tích gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước.Tỉnh Hải Dương nói chung và Thành phố Hải Dương nói riêng cũng là một địa bànkhông nằm ngoài tình trạng trên Qua thực tiễn công tác và tìm hiểu tại Thành phốHải Dương, tác giả nhận thấy việc quản lý thuế trên địa bàn Thành phố Hải Dươngđạt được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên vẫn còn gặp phải khó khăn và vướngmắc: tình trạng nợ đọng vẫn diễn ra, số thuế nợ đọng cao, đặc biệt việc xử lý cáckhoản nợ ảo, nợ không chính xác tiến độ triển khai chậm dẫn đến tình trạng trốnthuế, chiếm dụng tiền thuế đối với các doanh nghiệp đặc biệt là các daonh nghiệp tưnhân còn phổ biến Đứng trước thực trạng đó, việc tìm kiếm giải pháp, tăng cường

hỗ trợ việc quản lý nợ thuế thuế là vấn đề mang tính thời sự, cấp thiết đối với toànngành nói chung và Cục thuế Hải Dương, Chi cục thuế Thành phố Hải Dươngnói riêng

Trong quá trình tìm hiểu cơ sở lý luận, tác giả thấy có nhiều công trình nghiêncứu về việc quản lý nợ thuế ở các địa phương khác nhau, tuy nhiên chưa có đề tài nào

nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Hải Dương Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: "Quản

lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương" là đề tài luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành quản lý kinh tế.

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Việc triển khai áp dụng Luật quản lý thuế đã góp phần tích cực trong việcnâng cao hiệu quả công tác thu NSNN, trong đó việc quản lý nợ thuế được quy định

rõ trách nhiệm, nội dung, trình tự, thủ tục, thời gian triển khai thực hiện thống nhấttrong cơ quan thuế các cấp trong việc quản lý nợ thuế, giảm thiểu nợ thuế Qua tracứu, tìm hiểu nguồn dữ liệu và một số chuyên môn về thuế, đã có một số công trìnhkhoa học đã được nghiên cứu đó là:

2.1 Tình hình nghiên cứu đề tài ở nước ngoài

Mặc dù nợ thuế là một vấn đề nan giải mà cơ quan thuế các quốc gia đangphải đối mặt và nó thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học Tuy nhiên, trên thế

Trang 11

giới không có nhiều công trình nghiên cứu riêng biệt về vấn đề quản lý nợ thuế, màhầu hết là các công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý thuế trong đó có đề cập đếnquản lý nợ thuế như:

- “Reform of Tax Administration in Developing Nations” của By AmardeepDhillon, Accenture Jan G Bouwer, Accenture có đề cập đến cải cách trong quản lý thuế,tuy nhiên chưa phân tích cụ thể đầy đủ về lý luận và thực tiễn của quản lý nợ thuế

- “The Role Administrative Issues in Tax Reform: Simplicity, Compliance andAdministration” của William G Gale Janet Holtzblatt Công trình này xem xét vaitrò phức tạp của quản lý và cải cách thuế, vai trò của các yếu tố hành chínhtrong chính sách thuế và cải cách thuế tuy nhiên chưa nghiên cứu cụ thể vềquản lý nợ thuế

2.2 Tình hình nghiên cứu đề tài trong nước

Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vềquản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp Trong các nghiên cứu liên quan đến luậnvăn, nổi bật lên có một số nghiên cứu sau:

- TS Lưu Xuân Trường (2010), Giáo trình “Quản lý thuế”, Nhà xuất bản Tài

chính Tác giả đã hệ thống những lý luận cơ bản về quản lý thuế có liên quan trựctiếp đến người nộp thuế như kê khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế… Quản lý kêkhai thuế, kế toán thuế, thống kê thuế; tuyên truyền thuế; dịch vụ hỗ trợ người nộpthuế; thanh tra, kiểm tra thuế; quản lý nợ và cưỡng chế thuế; dự toán thu thuế Tácgiả cũng giới thiệu một nội dung quan trọng là ứng dụng công nghệ thông tin trongquản lý thuế Từ cơ sở mà giáo trình đề cập, có thể vận dụng để nghiên cứu vàoquản lý nợ thuế với các lĩnh vực kinh tế cụ thể

- Lê Văn Hòa (2014), Quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế đối với doanh nghiệp tại chi cục thuế Kim Thành tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sĩ kinh tế,

Chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Thương Mại Nghiên cứu củatác giả góp phần bổ sung và hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý Nhà nước,

nợ thuế và quản lý nợ thuế, cưỡng chế thuế; đánh giá những thuận lợi, khó khănđồng thời đưa ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong việc quản

Trang 12

lý nợ thuế và cưỡng chế thuế Tuy nhiên, đề tài chỉ nghiên cứu trên địa bàn huyệnKim Thành, và theo góc độ tiếp cận của chuyên ngành Quản trị kinh doanh, chưatiếp cận theo góc độ quản lý kinh tế.

- Trần Thị Hạnh (2015), Quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tại Chi cục Thuế huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Thương Mại Nghiên cứu của tác giả sau khitổng hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nợ thuế, tác giả đã đi sâu tìm hiểuthực trạng thực hiện công tác này của Chi cục thuế huyện Kinh Môn, đưa ra nhữngnhận định và đánh giá sắc nét Tuy nhiên, nghiên cứu này của tác giả tiếp cận dướigóc độ của chuyên ngành quản trị kinh doanh, chưa có cái nhìn theo góc độ quản lýnhà nước về kinh tế Đồng thời, luận văn chỉ nghiên cứu trong phạm vi huyện KinhMôn, là một huyện của Tỉnh Hải Dương nên có những nét tương đồng về đặc điểmkinh tế có thể tham khảo cho Thành phố Hải Dương

- Hoàng Văn Hải (2014), Quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế tại Cục thuế Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Chuyên ngành Quản trị kinh doanh Luận văn

tổng hợp những lý luận về công tác quản lý thu thuế, quản lý nợ thuế Từ cơ sở đó,tác giả tìm hiểu, tổng kết lại những ưu điểm và hạn chế của công tác quản lý nợ thuế

và cưỡng chế thuế tại Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc Tác giả Hoàng Văn Hải cũng đềxuất nhiều giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nợ thuế trên địa bàn tỉnhVĩnh Phúc Nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Hải có ý nghĩa tham khảo về mặt lýluận trong quá trình tác giả viết luận văn, cũng như việc vận dụng những kinhnghiệm trong quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế của Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc, làmbài học cho Thành phố Hải Dương

- Vũ Việt Hưng (2012), Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế đối với doanh

nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện Kinh Môn, Luận văn thạc sĩ kinh tế,

Chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Thương Mại Luận văn trìnhbày cơ sở lý luận, thực tiễn, bài học kinh nghiệm về công tác quản lý thu thuế đốivới doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Kinh Môn, tỉnh Hải Dương Đồngthời tác giả cũng đưa ra những giải pháp rất tích cực nhằm hoàn thiện công tác quản

Trang 13

lý thu thuế trên địa bàn, sử dụng làm tư liệu hay để tham khảo Luận văn của tác giả

Vũ Việt Hưng đi tìm hiểu, nghiên cứu về hoạt động quản lý thu thuế nói chung,không cụ thể cho công tác quản lý nợ thuế

- Nguyễn Việt Hà (2010), Quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế tại địa bàn huyện Đông Anh – TP Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Chuyên ngành quản trị kinh

doanh Luận văn góp phần bổ sung và hoàn thiện lý luận về việc sử dụng chính sách

và các biện pháp quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế; Qua khảo sát thực trạng củacông tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế, những việc làm được và chưa làmđược; luận văn đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của côngtác quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế tại Đông Anh Phạm vi của nghiên cứu nàygiới hạn trong không gian huyện Đông Anh, chỉ mang tính chất tham khảo về mặt

lý luận và bài học kinh nghiệm cho luận văn của tác giả

Để có cơ sở lý luận vững chắc đồng thời có sự liên hệ thực tiễn, tác giả đã tìmhiểu và nghiên cứu một số tạp chí kinh tế:

- Nguyễn Văn Ninh (2007), “Nợ thuế là thước đo năng lực quản lý thuế”, Tạp chí thuế Nhà nước, 158 (40), tr 4-5

- Quang Hiệp (2014), Phát triển nhìn từ Thuế, Tạp chí thuế số 3/2014

- Giải quyết những vấn đề pháp lý nảy sinh khi mở rộng diện áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế, Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Kế toán, số tháng 3/2007.

Cùng với các công trình nghiên cứu trên, tác giả tham khảo thêm các văn bảnpháp luật quy định của Chính phủ về hướng dẫn thực hiện quy trình quản lý nợ thuế(Xem trong Danh mục tài liệu tham khảo)

Tóm lại, từ các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở trên, có thể thấy một số vấn đề

lý luận liên quan đến việc thực hiện hoạt động quản lý nợ thuế đã được hệ thống đầy

đủ và được vận dụng để đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp cụ thể hoàn thiện côngtác thực hiện tại một số đơn vị Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay chưa có côngtrình nghiên cứu về: “Quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bànThành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, tỉnh Hải Dương” dưới góc độ quản lý kinh

tế Chính vì thế việc nghiên cứu đề tài này là cấp thiết và có tính mới, không trùng

Trang 14

với những nghiên cứu trước đó.

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài hướng tới mục tiêu đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoànthiện quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố HảiDương, tỉnh Hải Dương, nhằm hạn chế nợ đọng, xử lý các khoản nợ ảo, nợ tồn nhiềunăm, nợ xác định không chính xác , đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời và hạnchế thất thu NSNN

Để giải quyết được mục tiêu nghiên cứu nói trên, đề tài cần phải thực hiệnđược 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế củaNhà nước

- Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý nợ thuế của cơ quan quản lý Nhà nướctrên địa bàn Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương Từ đó, đánh giá và nhận địnhthành tựu đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân hạn chế của công tác này;

- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị với cơ quan quản lý có thẩm quyềnnhằm hoàn thiện công tác quản lý nợ thuế trên địa bàn Thành phố Hải Dương, tỉnhHải Dương trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung đi sâu vào các vấn đề lý luận và thực trạng quản lý nợ thuếnói chung và quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Tỉnh vàThành phố Hải Dương của Cơ quan quản lý thuế

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về quản lý nợ thuế đối với

doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương do Chi cục Thuế Thành phốHải Dương quản lý

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu quản lý nợ thuế của doanh nghiệp tư

nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương của Chi cục Thuế Thành phố Hải Dương

- Phạm vi về thời gian:

Trang 15

+ Khảo sát các số liệu thứ cấp từ 2013 – 2015: Lấy số liệu trực tiếp tại đội quản

lý nợ thuế để có được dữ liệu đánh giá về quản lý nợ thuế và thực trạng quản lý nợthuế đối với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương từ năm

2013 – 2015; Ngoài ra còn tham khảo một số đề tài nghiên cứu về quản lý nợ thuếnhằm bổ sung cho nguồn số liệu chính thức;

+ Khảo sát số liệu sơ cấp: Dữ liệu được thu thập từ bảng hỏi: Thiết kế bảng hỏitới 30 doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương (Thời gian khảo sát

từ 1/12/2015 đến 31/12/2015) Mục đích của bảng hỏi nhằm thu thập thông tin về sựđánh giá của doanh nghiệp tư nhân về quản lý nợ thuế do Chi cục Thuế Thành phốHải Dương quản lý Ngoài ra còn thiết kế bảng hỏi cho chính các cán bộ làm vềcông tác quản lý nợ thuế đối với doanh nghiệp tư nhân đóng trên địa bàn Thành phốHải Dương;

+ Qua việc phân tích, khảo sát các số liệu, đánh giá thực trạng quản lý nợ thuếđối với các doanh nghiệp tư nhân, xác định điểm mạnh, hạn chế, nguyên nhân củahạn chế của công tác quản lý nợ và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nợthuế đối với các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương đếnnăm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

- Phương pháp thu thập xử lý dữ liệu:

+ Thu thập số liệu thứ cấp:

Các số liệu thứ cấp được thu thập chủ yếu bằng phương pháp tổng hợp tài liệu.Các số liệu thứ cấp gồm các thông tin về đặc điểm kinh tế - xã hội Thành phố HảiDương, tổ chức và phân cấp tại Chi cục Thuế Thành phố Hải Dương tỉnh HảiDương Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ các đội chức năng của Chi cụcThuế Thành phố Hải Dương, các Website chính thức, các tạp chí, sách báo tham

Trang 16

khảo và các báo cáo khoa học đã được công bố Cụ thể như sau:

Bảng thu thập thông tin, tài liệu

- Các sách, báo, tạp chí chuyên ngành,

các báo cáo có liên quan, những báo cáo

khoa học đã được công bố và mạng

internet liên quan đến đề tài nghiên cứu

Các thông tin, tài liệu phục vụ cho nghiêncứu cơ sở lý luận và thực tiễn về công tácquản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế

- Chi cục Thuế Thành phố Hải Dương:

Đội quản lý nợ và cưỡng chế thuế, Đội

Hành chính - Tài Vụ - Ấn chỉ và các

đội thuế có liên quan khác

- Các thông tin, số liệu liên quan đến quản

lý nợ đối với doanh nghiệp nộp thuế tạiChi cục Thuế Thành phố Hải Dương,những kết quả đã đạt được, những khókhăn còn tồn tại

- Các cơ quan thống kê Tỉnh, Phòng Tài

chính - Kế hoạch, các viện nghiên cứu,

các trường đại học và các Ban ngành có

liên quan

- Các vấn đề có liên quan đến nâng caocông tác quản lý nợ tại Chi cục ThuếThành phố Hải Dương

+ Thu thập số liệu sơ cấp:

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học.+ Đối tượng điều tra: Cán bộ quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tưnhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương Điều tra 30 doanh nghiệp

tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương

+ Nội dung điều tra khảo sát:

Đối với đối tượng là cán bộ quản lý, câu hỏi phiếu điều tra chủ yếu tập trungđánh giá về hiệu quả năng lực lập kế hoạch thu nợ, năng lực tổ chức thu nợ tại trục

sở của người nộp thuế, năng lực xử lý nợ, năng lực báo cáo tổng hợp xử lý nợ Đối với đối tượng là các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố HảiDương về công tác quản lý nợ thuế đối của Chi cục Thuế Thành phố Hải Dương,câu hỏi phiếu điều tra chủ yếu tập trung đánh giá về thời gian gia hạn thuế cònngắn, trình độ năng lực cán bộ, thủ tục trong quản lý nợ thuế

Trang 17

+ Trình tự điều tra: Trên cơ sở phiếu điều tra đã được thiết kế, tác giả tiếnhành lập danh sách các đối tượng điều tra gửi phiếu bằng 2 cách đó là trực tiếp vàqua email Đối với mỗi đối tượng đề tài phát ra 100 & 30 phiếu điều tra.

+ Kết quả khảo sát:

Đối với 100 phiếu điều tra phát ra cho đối tượng là cán bộ quản lý, tác giả thu

về 100 phiếu và có 95 phiếu hợp lệ (chiếm 95%)

Đối với 30 phiếu điều tra phát ra cho đối tượng là các doanh nghiệp tư nhân

về 30 phiếu (100%) và có 30 phiếu hợp lệ (chiếm 100%)

Nội dung của kết quả điều tra khảo sát sẽ được lồng ghép trong Chương 2 của

đề tài nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp thông tin:

Các tài liệu sau khi thu thập được tổng hợp bằng phần mềm Excel Từ các sốliệu thu thập được sẽ tiến hành phân tích, chọn lọc các yếu tố cần thiết để tổng hợpthành các số liệu hợp lý có cơ sở khoa học Bao gồm:

+ Phương pháp phân tổ thống kê để hệ thống hóa và tổng hợp tài liệu theo cáctiêu thức phù hợp với mục đích nghiên cứu

+ Xử lý và tính toán các số liệu, các chỉ tiêu nghiên cứu được tiến hành trênmáy tính bằng các phần mềm Excel

- Phương pháp phân tích thông tin:

Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các phương pháp phântích sau:

+ Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được dùng để thống kê số

tuyệt đối, số tương đối, số bình quân các chỉ tiêu thống kê sẽ được tính toán để mô

tả thực trạng công tác quản lý nợ tại Chi cục Thuế Thành phố Hải Dương và nhữngthuận lợi và khó khăn trong quá trình công tác Một số chỉ tiêu so sánh cũng đượcthể hiện trong quá trình làm đề tài

+ Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng sau khi số liệu đã

được tổng hợp, phân tích chúng ta sử dụng phương pháp so sánh để so sánh, đánh

Trang 18

giá về các vấn đề nghiên cứu về công tác quản lý nợ tại Chi cục Thuế Thành phốHải Dương, Tỉnh Hải Dương.

- Phương pháp đánh giá: Dựa trên các số liệu đã phân tích để đưa ra nhìn

nhận, đánh giá đối với thực trạng vấn đề nghiên cứu Từ đó đưa ra những ưu điểm

và hạn chế trong công tác quản lý của Nhà nước, tìm được nguyên nhân, phươngpháp hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý này

Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp thực địa,phương pháp chuyên gia, phương pháp duy vật biện chứng…

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nợ thuế

Chương 2: Thực trạng quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tư nhân trên

địa bàn Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ thuế đối với các doanh

nghiệp tư nhân trên địa bàn Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Trang 19

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ

1.1 Khái quát về thuế và quản lý thuế

1.1.1 Khái niệm, phân loại và vai trò của thuế

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm

Khái niệm của thuế:

Thuế ra đời là tất yếu khách quan, tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời,tồn tại và phát triển của Nhà nước với vai trò đầu tiên, cơ bản là huy động nguồnthu chủ yếu cho NSNN, đảm bảo nguồn lực vật chất để Nhà nước tồn tại và hoạtđộng bình thường Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự mở rộng vàhoàn thiện các chức năng của Nhà nước Việc huy động, tập trung của cải đó có thểđược thực hiện bằng các cách khác nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộcđược gọi là thuế

Theo quan điểm của kinh tế học: “Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước” Theo quan điểm của phân phối thu nhập: “Thuế hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền

tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”.

Theo quan điểm của người nộp thuế: “Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định

để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước” Theo giáo trình Lý thuyết thuế của Học viện Tài chính định nghĩa: “Thuế là một khoản thu nhập được chuyển giao một cách bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước, do pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”.

Hiện nay, tuy chưa có một khái niệm về thuế thống nhất nhưng các nhà kinh tếđều nhất trí cho rằng, để làm rõ bản chất của thuế thì khái niệm về thuế phải nêu bậtđược các khía cạnh sau đây:

Trang 20

Thứ nhất, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách

khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt việc chuyển giao thu nhập có tính bắt buộc

do quyền lực của Nhà nước chi phối

Thứ hai, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa

Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp

Thứ ba, việc sử dụng tiền thuế phải dùng cho mục đích chi tiêu công.

Thứ tư, các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế

đã được pháp luật quy định

Như vậy, dựa vào các yếu tố nêu trên có thể đưa ra khái niệm tổng quát về

thuế như sau: “Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật định của Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng”.

Đặc điểm của thuế:

Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế.Những thuộc tính đó có tính ổn định qua từng giai đoạn phát triển Nghiên cứu vềthuế người ta thấy nó có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tàichính khác

Thứ nhất, Thuế là một khoản động viên bắt buộc gắn với quyền lực Nhà nước:

- Tính bắt buộc là tất yếu, khách quan xuất phát từ tính chất của hàng hoá,dịch vụ công cộng;

- Tuy nhiên, thuế là khoản đóng góp bắt buộc phi hình sự, nghĩa là hành độngđóng thuế cho Nhà nước là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân,không phải là hành động xuất hiện khi có biểu hiện vi phạm pháp luật

Thứ hai, Thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp: sự chuyển giao thu nhập

thông qua thuế không mang tính đối giá, thể hiện ở một số khía cạnh sau:

- Mức thuế đóng góp cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độnỡng hàng hoá, dịch vụ công cộng do Nhà nước cung cấp mà người nộp thuếđược hưởng;

Trang 21

- Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch

vụ trực tiếp cho mình rồi mới nộp thuế;

- Mức độ cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng không nhất thiết phải ngangbằng với mức độ đóng góp của người nộp thuế;

Mức chuyển giao thu nhập nhiều hay ít chỉ căn cứ vào kết quả hoạt độngkinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội cũng như nhu cầu chi tiêu chung củaNhà nước

Thứ ba, Thuế chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị trong từng

thời kỳ nhất định:

- Nguồn thu của thuế là kết quả của quá trình hoạt động kinh tế;

- Thuế là công cụ quản lý của Nhà nước nên nó chịu sự chi phối của thểchế chính trị;

- Đối tượng nộp thuế là các thành viên trong xã hội nên chịu sự chi phối chungcủa các quy luật xã hội

Những đặc điểm của thuế phản ánh bản chất và nội dung bên trong của thuế

1.1.1.2 Phân loại thuế

Phân loại theo tính chất chuyển dịch về thuế:

Bao gồm thuế gián thu và thuế trực thu để phân biệt đối tượng nộp thuế:

Thuế gián thu:

Là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải là người chịu thuế Thuếgián thu là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành trong giá muahàng hóa, nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu đung Thực chất người tiêudùng phải trả khoản thuế đó nhưng lại nộp thông qua nhà kinh doanh, nhà sản xuất.Như thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế XNK

Trang 22

Thuế trực thu:

Là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế đồng thời là người chịu thuế Thuếtrực thu trực tiếp động viên thu nhập của người nộp thuế như thuế TNDN, thuếTNCN, thuế chuyển quyền sử dụng đất

Phân loại thuế theo đối tượng chịu thuế:

Theo cách phân loại này thì có thể chia thuế thành:

- Thuế đánh vào hoạt động kinh doanh, dịch vụ như: thuế GTGT;

- Thuế đánh vào hàng hóa tiêu dùng đặc biệt như: thuế TTĐB;

- Thuế đánh vào thu nhập như: thuế TNCN, thuế TNDN;

- Thuế đánh vào tài sản như: thuế nhà đất, lệ phí trước bạ;

- Thế đánh vào sử dụng một số tài sản quốc gia: thuế tài nguyên, thuế sử dụngđất nông nghiệp

1.1.1.3 Vai trò của thuế

Trong điều kiện kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp củaNhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội Vai trò của thuế được thể hiện trên các khí cạnh sau đây:

Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước (NSNN):

- Thuế đảm bảo nguồn thu lớn, ổn định và thường xuyên cho NSNN vì nguồnthu vào NSNN qua thuế là tổng sản phẩm xã hội;

- Phương thức huy động của thuế là phương thức chuyển giao bắt buộc nênđảm bảo khả năng huy động cao

Thuế là công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế:

Nền kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tích cực còn chứa đựng nhữngkhuyết tật vốn có: mất công bằng, thiếu ổn định, thất nghiệp…vì vậy để khắc phụcnhững khuyết tật đó Nhà nước có thể sử dụng thuế là một trong các công cụ để canthiệp vào quá trình hoạt động của nền kinh tế

- Giảm bớt tính chu kỳ của nền kinh tế thị trường, đảm bảo tốc độ tăng trưởng

ổn định, cụ thể như sau: Khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến hạ thuế, hạ giá hàng hoá,

Trang 23

kích cầu, tăng đầu tư, mở rộng sản xuất, tăng nhu cầu lao động, tăng việc làm Khinền kinh tế phát triển quá nóng (mất cân đối) thì ngược lại;

Thuế thực hiện tái phân phối của cải xã hội, góp phần đảm bảo công bằng xã hội:

Một trong những khuyết tật của nền kinh tế là sự phân hoá giàu nghèo, nềnkinh tế càng phát triển thì khoảng cách này càng lớn, không chỉ do sự chênh lệch vềnăng lực và mức độ cống hiến mà còn do nhiều yếu tố khác

Do vậy nếu không chia xẻ thành tựu phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽdẫn đến mất công bằng Thuế là công cụ có thể tác động vào quán trình này:

- Đánh thuế cao vào những hàng hoá, dịch vụ cao cấp, đắt tiền: TTĐB;

- Sử dụng thuế suất luỹ tiến trong những sắc thuế trực thu: thuế TNCN

Thuế là công cụ để thực hiện, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh:

Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuếtrong thực tế Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng quy định của các luậtthuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy môcác sơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họđược phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù và các phương thứchạch toán riêng có

1.1.2 Khái niệm và nội dung quản lý thuế

1.1.2.1 Khái niệm, chức năng và vai trò quản lý thuế

Khái niệm quản lý thuế:

Để có thể hiểu quản lý thuế một cách đúng đắn và đầy đủ thì trước tiên cầnhiểu thế nào là quản lý Với mỗi cách tiếp cận khác nhau, “quản lý” được địnhnghĩa theo các góc độ khoa học khác nhau Cụ thể như sau:

Theo Henrry Fayol (1886 – 1925) là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy

trình, quan niệm rằng: “Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục

Trang 24

tiêu đã đề ra” Stephan Robbins quan niệm: “Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hành động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra”

Như vậy, theo cách hiểu chung nhất quản lý là sự tác động có tổ chức, cóhướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý thông qua cáchoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát để đạt được mục tiêu đã đặt ratrong điều kiện môi trường luôn biến động Do đó, quản lý thuế là một hệ thốngnhững quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm mục tiêu đảm bảo thu thuếđúng, đủ và công bằng trên cơ sở quy định của pháp luật thuế, bao gồm các hoạtđộng thu nhận hồ sơ khai thuế, tính toán số thuế phải nộp, đôn đốc thu nộp thuế vàtuyên truyền, tư vấn cho người nộp thuế

Chức năng của quản lý thuế:

- Chủ thể quản lý: là thuế là Nhà nước mà trực tiếp là Hệ thống các cơ quanthuế các cấp

- Đối tượng bị quản lý: là các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ về thuế

- Mục đích quản lý: là để đối tượng nộp thuế và các đối tượng các liên quanphải thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của mình

- Phương tiện quản lý thuế: là sử dụng luật định của thuế như các quy định vềđăng ký thuế, nộp thuế, hoàn thuế, thanh tra thuế với bộ máy, đội ngũ cán bộ, cơ

sở vật chất cần thiết để quản lý

- Chức năng chủ yếu của quản lý thuế: là kiểm soát sự tuân thủ và áp dụng cáckhoản phạt theo Luật thuế để răn đe những đối tượng nộp thuế vị phạm

Vai trò phải quản lý thuế:

- Quản lý thuế quyết định trong việc đảm bảo nguồn thu từ thuế được tập trungchính xác, kịp thời, thời xuyên ổn định vào ngân sách Nhà nước

- Quản lý thuế góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quyđịnh về quản lý thuế

Trang 25

- Quản lý thuế làm phát huy việc kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế

xã hội Đối với mỗi lĩnh vực khác nhau, Nhà nước có những sắc thuế khác nhau đểkiểm soát sự tăng trưởng hay kìm hãm sự phát triển của sự hoạt động đó

1.1.2.2 Nội dung quản lý thuế

Chính sách thuế:

- Mục tiêu của chính sách thuế: xác định mức độ điều tiết qua thuế, những tácđộng kinh tế - xã hội của chính sách như thế nào và tại sao lại điều tiết ở mức độ đócũng như có tác động kinh tế - xã hội đó

- Phạm vi tác động của chính sách thuế: chính sách thuế sẽ tác động đếnnhững tổ chức cá nhân nào trong xã hội Việc xác định rõ phạm vi tác động củachính sách thuế cho phép tập chung những mục tiêu quan trọng của chính sách,đồng thời, tránh được hậu quả không mong muốn của chính sách

- Thời gian hiệu lực của chính sách: xác định rõ chính sách thuế được áp dụngtrong thời kỳ nào xác định rõ thời điểm bắt đầu và kết thúc của chính sách

- Trách nhiệm thực hiện chính sách thuế: Chỉ rõ tổ chức, cá nhân nào có tráchnhiệm thực hiện chính sách như: cụ thuể hóa chính sách thuế thành pháp luật thuế,tôt chức thực hiện pháp luật thuế

- Phương châm chính sách: chỉ rõ những quy tắc, yêu cầu đạt được của chínhsách hoặc hệ thống quản lý thuế

Pháp luật thuế:

Là hệ thống những tổ chức quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung Pháp luậtthuế phải quy định đầy đủ các yếu tố: NNT, cơ sở thuế, mức thu, ưu đãi thuế, thủtục thuế và xử lý vi phạm về thuế Cũng như các quy định pháp luật khác, một mặt,pháp luật thuế phải thực hiện các mục tiêu, quan điểm, đường lối của chính sáchthuế Mặt khác, pháp luật thuế phải minh bạch, phù hợp với điều kiện cụ thể củamỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Trang 26

Tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế:

- Chức năng tuyên truyền hỗ trợ NNT: Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT

được xem là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược cải cách và hiệnđại hóa ngành thuế cho phù hợp với tiến trình hội nhập và phát điển kinh tế

- Chức năng quản lý kê khai và kế toán thuế:

Trực tiếp tiếp nhận và xử lý hồ sơ khai thuế, hồ sơ hoàn thuế, các tài liệuchứng từ có liên quan đến nghĩa vụ thuế của NNT theo quy định, nhập dự liệu, hạchtoán ghi chép toàn bộ các thông tin trên tờ khai, chức từ nộp thuế và các tài liệu lênquan đến nghĩa vụ thuế của NNT

Tiếp nhận và đề xuất giải quyết các hồ sơ xin gia hạn thời hạn kê khai thuế,thời hạn nộp thuế

Thực hiện công tác kế toán thuế đối với NNT bao gồm: kế toán thuế NNT, kếtoán tài khoản tạm thu, kế toán tài khoản tạm giữ,

- Chức năng quản lý nợ và cưỡng chế nợ:

Trực tiếp theo dõi tình hình nợ, lập danh sách đối tượng nợ thuế và thực hiệnphân loại nợ thuế theo quy định; phân tích tình trạng nợ thuế

Tham mưa đề xuất xử lý các hồ sơ khoanh nợ, giãn nợ, xóa nợ thuế và giảiquyết các hồ sơ xử lý khác về nợ thuế

- Chức năng thanh tra, kiểm tra:

Thanh tra thuế: xây dựng chương trình kế hoạch thanh tra NNT hàng năm, tổ

chức thu nhập thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của NNT thộcđối tượng thanh tra

Kiểm tra thuế: xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch thực hiện công tác

kiểm tra giám sát kê khai thuế hàng tháng, quý, năm trên địa bàn quản lý

Xử lý vi phạm luật thuế:

Căn cứ vào kết quả thanh tra, kiểm tra để đưa ra các xử lý vi phạm cụ thuế nhưsau: xử lý hoặc kiến nghị xử lý theo quy định đối với các trường hợp tổ chức, cánhân vi phạm pháp luật về thuế phát hiện được khi thanh tra thuế; đôn đốc tổ chức

cá nhân vi phạm thực hiện nộp tiền thuế, tiền phạt theo đúng quyết định xử lý

Trang 27

1.2 Nội dung quản lý nợ thuế

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ thuế

1.2.1.1 Khái niệm và đặc điểm nợ thuế

Khái niệm nợ thuế:

Mặc dù thuế là khoản thu mang tính bắt buộc, tuy nhiên trong thực tế vì nhiều

lý do khác nhau mà người nộp thuế chưa nộp, nộp chưa đúng mức cần thu hoặckhông nộp cho Nhà nước theo thời hạn quy định, hình thành nên khoản nợ thuế.Vậy nợ thuế “là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các khoản phảinộp khác theo quy định của pháp luật về thuế mà người nộp thuế đã kê khai, cơquan thuế đã tính, các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho cơ quan thuế

Cơ quan thuế xác định đây là nghĩa vụ của người nộp thuế và đã thông báo cho

người nộp thuế nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào NSNN (Theo QĐ 1395/QĐ-TCT của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế ngày 4/10/2011).

Trong khái niệm “nợ thuế” cần hiểu rõ về một số thuật ngữ như người nợ thuế,mức nợ thuế, thời điểm bắt đầu tính nợ, thời điểm kết thúc tính nợ, Những thuậtngữ này đều được định nghĩa rõ ràng trong các văn bản luật thuế

Người nợ thuế là các tổ chức, cá nhân thuộc ĐTNT còn nợ các khoản thuế, phí, lệphí và các khoản phải nộp khác theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật

Số thuế nợ: là số tiền thuế phải nộp theo quy định của pháp luật nhưng chưađược nộp vào NSNN

Khoản nợ: là số tiền thuế nợ được cơ quan có thẩm quyền xác định tại mộtthời điểm theo từng lần phát sinh phải nộp của một người nộp thuế tương ứng vớimột khoản thuế nhất định

Mức nợ thuế là số tiền thuế còn nợ của người nợ thuế tại một thời điểm, ở mộtngưỡng nào đó khi phân loại nợ thuế

Tuổi nợ: là khoảng thời gian liên tục tính từ thời điểm bắt đầu nợ phát sinhđến thời điểm khoản nợ đó được cơ quan thuế thống kê

Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày tiếp theo ngàyhết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế

Trang 28

Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày khoản nợ đượcnộp vào NSNN; hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bản xóa nợ, miễn nộp hoặc

xử lý bằng các hình thức khác

Đặc điểm nợ thuế:

Thứ nhất, nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến:

Như chúng ta biết, trong hệ thống thuế bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau, tuynhiên các sắc thuế dù trực tiếp hay gián tiếp đều đánh vào thu nhập của các thể nhânhay pháp nhân trong nền kinh tế Nói cách khác, thuế là một hình thức phân phốithu nhập có tính chất bắt buộc mà mọi người có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nước.Như vậy, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộpthuế Vì vậy, ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới, người nộp thuếthường có xu hướng trốn hoặc tránh thuế Tình hình này đặc biệt nghiêm trọngtrong điều kiện các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam hiện nay, khi mànhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ bản chất tốtđẹp và lợi ích của việc nộp thuế, chưa phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gianlận tiền thuế, chưa hỗ trợ tích cực cho cơ quan thuế để thu thuế theo đúng pháp luật.Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến vừa làm thất thuNSNN, vừa không đảm bảo công bằng xã hội Hay nói cách khác, những người nộpthuế luôn tìm mọi cách để tối thiểu hóa số thuế mà họ phải nộp Một trong các cách

đó là nợ thuế

Thứ hai, nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế:

Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhànước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trongquá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN

Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn luôn đề cập đến các phạm viđiều chỉnh như: mức nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế

Như vậy, hành vi nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của người nộp thuếbằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quyđịnh của pháp luật thuế

Trang 29

Thứ ba, nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế:

Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọihình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN Còn nợ thuế mới chỉ

là hành vi dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của phápluật Tất nhiên, trong một số trường hợp việc nợ thuế có thể là một hành vi nằmtrong chuỗi hành vi nhằm trốn thuế Chẳng hạn như, một số doanh nghiệp cố tình

nợ một số thuế lớn sau đó bỏ trốn không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế

Thứ tư, nợ thuế khác với hành vi tránh thuế:

Tránh thuế là hành vi lợi dụng sơ hở của luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế Đâykhông phải là hành vi vi phạm pháp luật Còn nợ thuế thì khác hoàn toàn về bản chất,

đó là nghĩa vụ đã được luật pháp xác định nhưng cố tình dây dưa, chậm nộp

1.2.1.2 Phân loại nợ thuế

Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ:

Căn cứ vào khả năng thu hồi nợ dựa trên những thông tin về người nợ thuếtheo mức nợ, tuổi nợ, tình trạng hoạt động kinh doanh của người nợ thuế thì nợ thuếđược phân loại thành: nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ không có khả năng thu

có khả năng thu

Tùy thuộc vào tính chất, mục đích thu nợ của từng thời kỳ kinh tế xã hội thì cơquan thuế có thể tiếp tục chia nợ có khả năng thu hồi thành các loại: nợ thuế chậmnộp dưới 30 ngày, nợ thuế chậm nộp từ 30 ngày đến 90 ngày và nợ thuế quá 90 ngày

Thứ hai, nợ khó thu:

Theo cách phân loại này, nợ khó thu bao gồm số tiền thuế nợ của người nộpthuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sự hoặc đang chờ bản án hoặc kết

Trang 30

luận của cơ quan pháp luật nên chưa thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế hoặc nợ củangười nợ thuế ngừng và tạm ngừng hoạt động kinh doanh; nợ đang chờ giải quyếttheo Luật phá sản.

Khi người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì có thể có trường hợp cơ quanđiều tra đã phong tỏa tài khoản, số sách kế toán nên người nộp thuế không thể thựchiện việc nộp thuế hoặc người nộp thuế đã nộp thuế nhưng phải nộp vào tài khoảncủa cơ quan điều tra nên trên sổ theo dõi thu nộp của cơ quan thuế vẫn báo nợ Khingười nộp thuế đang bị điều tra, khởi tố liên quan đến nghĩa vụ thuế hoặc khôngliên quan đến nghĩa vụ thuế thì cơ quan thuế phải tạm thời phân loại các khoản nợcủa người nộp thuế này vào nhóm nợ khó thu để chờ kết luận cuối cùng của cơ quan

có thẩm quyền

Đối với người nộp thuế gặp khó khăn về tài chính, hoặc ngừng và tạm ngừngkinh doanh thì việc tiếp xúc với người nộp thuế để thu nợ là khó khăn nên phân loạivào nhóm này để có biện pháp quản lý theo dõi phù hợp Tương tự, đối với trườnghợp nợ đang chờ giải quyết theo Luật phá sản thì số tiền thuế nợ của người nợ thuế

đã có quyết định phá sản doanh nghiệp hoặc đang trong thời gian làm thủ tục phásản doanh nghiệp nhưng chưa làm các thủ tục xử lý nợ theo quy định của pháp luật thìcũng cần được phân vào nhóm này để cơ quan thuế có biện pháp quản lý thích hợp

Thứ ba, nợ không có khả năng thu:

Việc phân loại nợ vào nhóm này chủ yếu căn cứ vào tình trạng tồn tại củangười nộp thuế Người nộp thuế hầu hết đã ngừng hoạt động sản xuất kinh doanhhoặc không còn tồn tại trong thực tế, bao gồm các khoản nợ thuộc các trường hợpnhư nợ của người nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản nhưng không làm cácthủ tục, trình tự giải thể phá sản đúng pháp luật nên chưa có đủ căn cứ pháp lý để xử

lý theo quy định của pháp luật Đặc điểm của trường hợp này là khó khăn về tàichính, kinh doanh thua lỗ dẫn đến không còn khả năng thanh toán Trường hợpngười nộp thuế lâm vào tình trạng giải thể phá sản nhưng đang được cơ quan cóthẩm quyền thụ lý để giải quyết cho phép khoanh nợ thì cũng phải đưa vào nhóm

Trang 31

này để sau khi có quyết định khoanh nợ thì sẽ chuyển sang nhóm nợ không có khảnăng thu này.

Ngoài ra, nợ thuế của một loại đối tượng khác cũng có thể coi là không có khảnăng thu, đó là nợ thuế của các doanh nghiệp bỏ trốn Hầu hết đây là các doanhnghiệp ma, chỉ thành lập để mua bán hóa đơn, không thực tế kinh doanh

Căn cứ vào nội dung nợ của người nộp thuế:

Căn cứ vào nội dung các khoản nợ qua kê khai của người nộp thuế, qua côngtác thanh tra – kiểm tra của cơ quan thuế thì nợ thuế được chia thành: nợ thuế, phíthông thường; nợ phạt thuế, phí; và nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra,kiểm tra

Thứ nhất, nợ thuế và phí thông thường:

Nợ trong nhóm này bao gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp

do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế mà không bao gồm số thuế, phí bị truythu, bị phạt chậm nộp do cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra phát hiện Thông thườngtrong nhóm nợ thuế, phí này cũng bao gồm nhiều khoản nợ có tuổi nợ và mức nợkhác nhau do người nộp thuế kê khai với cơ quan thuế và các khoản nợ thuế nàyđược theo dõi trên hồ sơ quản lý đối tượng nộp thuế lưu tại cơ quan thuế

Thứ hai, nợ phạt thuế và phí:

Theo Luật Quản lý thuế hiện nay thì việc cơ quan thuế xử phạt thuế, phí đối vớingười nộp thuế vi phạm về thuế thì sẽ có nhiều loại vi phạm tương ứng với từng nộidung vi phạm, tương ứng với đó là các khoản nợ phạt phát sinh cho từng lần vi phạm

Do vậy, trong nhóm nợ phạt thuế, phí này còn có thể chia ra thành các khoản mục nợ:

nợ do phạt nộp chậm; nợ phạt thiếu thuế phải nộp; nợ phạt trốn thuế; nợ phạt vi phạmthủ tục về thuế

Việc phân loại thành các nhóm nợ nhỏ theo từng loại vi phạm như trên vừa cótác dụng phân loại nợ, vừa có ý nghĩa thống kê vi phạm của người nộp thuế để cơquan thuế có biện pháp quản lý hiệu quả

Trang 32

Thứ ba, nợ thuế và phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra:

Đây là khoản nợ thuế mà cơ quan thuế sau quá trình kiểm tra, thanh tra đã pháthiện thêm số thuế phải nộp mà đơn vị bỏ sót ngoài sổ sách, không kê khai hoặc khaikhông chính xác ở tất cả các loại hồ sơ khai thuế trong năm tính thuế Ở thời điểm

cơ quan thuế tiến hành thanh tra, kiểm tra thì theo quy định số thuế này đã phải nộpvào NSNN nhưng có thể đơn vị do vô tình hoặc cố tình đã kê khai sai để trốn thuế

Số thuế này thường được thể hiện trên các biên bản kiểm tra, thanh tra và được cácđoàn kiểm tra, thanh tra chốt lại ở thời điểm 31/12 hàng năm để thể hiện tình hìnhthực hiện nghĩa vụ với NSNN của người nộp thuế

Việc thống kê, phân loại nhóm nợ này không phải là chính xác tuyệt đối bởitrong kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế của cơ quan thuế hàng năm thì không phảitất cả các đối tượng nộp thuế đều được thanh tra, kiểm tra Do vậy, số nợ thuộcnhóm nợ này chỉ phản ánh được số thuế phát hiện thêm được coi là nợ thuế củanhững người nộp thuế được thanh tra, kiểm tra Tuy nhiên, việc phân loại này cũng

có ý nghĩa quan trọng giúp cơ quan thuế có những biện pháp quản lý thích hợp vớinhóm nợ này đồng thời cũng giúp cơ quan thuế đánh giá được các mức độ viphạm pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế trong từng thời kỳ cụ thể

Căn cứ vào thời gian nợ:

Thứ nhất, nợ trong hạn:

Nợ thuộc nhóm này bao gồm các khoản nợ thuế xuất, thuế nhập khẩu vẫn còntrong thời hạn nộp thuế Bên cạnh đó, còn có nợ thuế trong hạn do được gia hạn nộpthuế theo quy định của pháp luật Ngoài ra nhằm thực hiện các biện pháp khuyếnkhích xuất khẩu thì thuế xuất khẩu hoặc nhập khẩu thường được cơ quan quản lýcho phép nộp chậm sau khi khai báo với cơ quan hải quan tại cửa khẩu, do đó cáckhoản này thường chưa được tính phạt nộp chậm mà phải được theo dõi như là cáckhoản nợ trong hạn nộp

Thứ hai, nợ quá hạn:

Nợ trong nhóm này được phân loại như các khoản nợ thông thường theo tiêuthức phân loại theo khả năng thu hồi nợ Có nghĩa là những khoản nợ đến hạn trả

Trang 33

theo quy định của pháp luật hoặc theo thông báo, được ghi trên quyết định của cơquan thuế đến hạn nộp mà chưa nộp thì được coi là nợ thuế, theo tiêu thức phân loạitheo thời gian nợ thì sẽ được coi là nợ quá hạn Tùy theo từng thời kỳ kinh tế màngười ta chia thành các khoản nợ nhỏ theo mức nợ, nhóm nợ khác nhau để cóbiện pháp quản lý phù hợp theo các nhóm ở trên.

Căn cứ vào đối tượng nợ:

Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay cónhiều thành phần kinh tế tham gia, góp phần đa dạng hóa nền kinh tế, thúc đẩy quátrình cạnh tranh và là động lực phát triển đất nước Tuy nhiên, về mặt quản lý củacác cơ quan chức năng thì việc có nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt độngkinh tế cũng tương ứng với việc quản lý sẽ có nhiều khó khăn, phức tạp Việc quản

lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng cũng không phải là ngoại lệ

Vì vậy, căn cứ vào đối tượng nợ thuế thì người ta có thể chia thành các nhóm

nợ khác nhau như sau:

- Nợ thuế của doanh nghiệp Nhà nước;

- Nợ thuế của doanh nghiệp dân doanh;

- Nợ thuế của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài;

- Nợ thuế của hộ kinh doanh cá thể;

- Nợ thuế thu nhập của cá nhân;

- Nợ thuế của các đối tượng khác

Việc phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá mức độ nợ thuếcủa từng loại hình người nộp thuế Từ đó có biện pháp, chính sách để khuyếnkhích các loại hình doanh nghiệp phát triển, đồng thời nghiên cứu những bất cậpcủa nhóm nợ khác để có phương pháp quản lý hoặc xử lý phù hợp

Căn cứ vào tính chất nợ:

Thứ nhất, nợ chờ xử lý:

Khác với việc phân loại nợ theo các nhóm trên thì nợ chờ xử lý căn cứ vàotính chất của khoản nợ và áp dụng đối với đối tượng nộp thuế đang tồn tại để phân

Trang 34

loại Do vậy, các khoản nợ thuộc các trường hợp được đưa vào nhóm nợ chờ xử lý

để theo dõi thường bao gồm:

- Nợ đang chờ điều chỉnh: Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế do người nợ

thuế hoặc cơ quan thuế có sai sót khi kê khai thuế, tính thuế đang làm thủ tục để điềuchỉnh lại hoặc do tạm tính số thuế phải nộp cao hơn số phát sinh Tức là, số tiền nợ dongười nộp thuế đã kê khai số thuế tạm nộp hàng kỳ theo quy định nhưng thực tế thuếphát sinh phải nộp thấp hơn so với số thuế đã kê khai tạm nộp, đang làm thủ tục điềuchỉnh lại Ngoài ra, trong nhóm này còn có số tiền nợ do chứng từ luân chuyển chậmhoặc thất lạc, tiền thuế đã nộp vào tài khoản thu NSNN nhưng do chứng từ luânchuyển chưa kịp thời hoặc thất lạc nên trên sổ thuế vẫn ghi nợ

- Nợ đang xử lý miễn, giảm, xóa nợ: là số tiền nợ thuế của người nợ thuế đang

trong thời gian làm các thủ tục tại cơ quan thuế để được xử lý miễn, giảm, xóa nợtheo quy định của pháp luật về thuế; cá nhân được cơ quan pháp luật coi là đã chết,mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạtcòn nợ; nợ của người nợ thuế bị tuyên bố phá sản đã thực hiện các khoản thanh toántheo quy định của Luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt Khingười nộp thuế đang có nợ thuế do đến kỳ phải thực hiện kê khai thuế đúng hạnnhưng theo quy định của pháp luật về thuế họ sẽ được miễn, giảm hoặc được xử lýcho ghi thu, ghi chi và đang làm thủ tục thì tạm thời đưa vào nhóm nợ chờ xử lý này

để theo dõi chứ không áp dụng các biện pháp cưỡng chế thu nợ

- Theo quy định của pháp luật về thuế và xử lý khiếu nại tố cáo thì trong quá

trình khiếu nại khi cơ quan có thẩm quyền chưa ra quyết định xử lý, người nộp thuếvẫn phải nộp các khoản thuế vào NSNN Do đó, phát sinh thêm khoản nợ chờ xử lý

do khiếu nại của người nộp thuế, xử lý thoái trả tiền thuế khi có quyết định chínhthức của cơ quan có thẩm quyền thì nợ này được đưa vào một trong hai nhóm nợ

có khả năng thu hoặc nợ không có khả năng thu

Nợ đang được khoanh nợ, giãn nợ là số tiền thuế nợ của người nộp thuế đãđược xử lý cho khoanh nợ, giãn nợ hoặc đang trong thời hạn làm các thủ tục tại cơquan thuế đã được xử lý giãn nợ theo quy định

Trang 35

Thứ hai, nợ thông thường:

Là số tiền nợ thuế của người nợ thuế được xác định phải nộp vào NSNNnhưng đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật về thuế mà chưa nộp vàoNSNN và không thuộc các trường hợp thuộc nhóm nợ chờ xử lý nêu trên

Thứ ba, nợ khó thu:

Tương tự cách phân loại vào khả năng thu hồi nợ của đối tượng nợ thì khó thubao gồm nợ của các đối tượng giải thể, phá sản hoặc đang trong giai đoạn thực hiệncác thủ tục giải thể, phá sản để giải quyết nợ theo trình tự của thủ tục giải thể, phá sảndoanh nghiệp; hoặc nợ của đối tượng bỏ trốn, mất tích; của đối tượng bị khởi tố là sốtiền thuế nợ của đối tượng nộp thuế đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố hình sựliên quan đến nghĩa vụ nộp thuế, đang thi hành án, đang chờ bản án hoặc kết luận của

cơ quan pháp luật

Đối với những người nộp thuế rơi vào tình trạng này thì việc thu nợ sẽ gặpnhiều khó khăn, người nộp thuế thường không có tiền trả nợ thuế hoặc không tìmđược chủ doanh nghiệp, khi đó cơ quan thuế sẽ phải phụ thuộc vào kết quả xử lýcủa cơ quan có thẩm quyền khác, do đó sẽ không chủ động trong việc đưa ra cácbiệp pháp thu nợ kịp thời Chính vì vậy, việc phân loại các nhóm nợ này có ý nghĩaquan trọng trong việc quản lý nợ đối với những trường hợp người nộp thuế rơi vàotình trạng này

1.2.2 Khái niệm và nội dung cơ bản quản lý nợ thuế của Chi cục quản lý thuế

1.2.2.1 Khái niệm, vai trò và yêu cầu của quản lý nợ thuế

Khái niệm quản lý nợ thuế:

Để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào NSNN thì quản lý nợthuế là công tác quan trọng trong công tác quản lý thuế nói chung

Quản lý nợ thuế: là việc áp dụng các biện pháp và mô hình tổ chức quản lý

của cơ quan thuế nhằm phân loại nợ thuế, đánh giá thực trạng nợ, tổ chức thu nợ tại

cơ quan thuế các cấp, để từ đó đưa ra các hình thức thu nợ thuế phù hợp nhằm thuđúng, thu đủ thuế, tiết kiệm chi phí quản lý, phù hợp với từng đối tượng theo địnhhướng phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước từng thời kỳ

Trang 36

Khi chuẩn bị áp dụng một biện pháp thu nợ cụ thể thì ngoài việc phân loại cáckhoản nợ để thu nợ hiệu quả, cơ quan thuế thường đưa ra một mức tiền nợ khởiđiểm để quản lý khoản nợ đó Do vậy, số tiền nợ thuế của NNT tại một thời điểm ởmột ngưỡng nhất định được gọi là mức nợ Việc chia ra thành các mức nợ thuế khácnhau giúp cho cơ quan thuế có thể quản lý từng loại nợ với từng đối tượng từ đó ápdụng các biện pháp thu nợ phù hợp đối với từng mức nợ nhất định Tương tự nhưcách phân loại mức nợ như trên, cũng với một khoản nợ thì tuổi nợ được coi làkhoảng thời gian liên tục từ khi nó phát sinh đến thời điểm khoản nợ đó được cơquan thuế thống kê nó Việc thống kê theo tuổi nợ cũng có ý nghĩa giúp cơ quanchức năng quản lý nợ thuế một cách khoa học và có các biện pháp thu nợ phù hợp.Việc phân ra mức nợ, tuổi nợ như trên có ý nghĩa quan trọng đối với biện pháp quản

lý nợ thuế của cơ quan thuế

Vì vậy, trong quá trình quản lý nợ thuế, để đảm bảo thu đúng, chính xác, kịpthời tiền thuế vào NSNN, đảm bảo tính hiệu quả, hiệu lực của pháp luật thuế thìviệc phân loại nợ, kết hợp mức nợ và tuổi nợ có ý nghĩa quan trọng trong biện phápquản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế của cơ quan thuế, nó là một trong những yếu

tố đảm bảo các biện pháp thu nợ của cơ quan thuế là chính xác, kịp thời

Vai trò của quản lý nợ thuế:

Quản lý nợ thuế có vai trò quan trọng trong quản lý thuế cũng như có vai tròtrong hoạt động kinh tế xã hội Cụ thể là:

- Quản lý nợ thuế để quản lý, theo dõi tình hình thực hiện nghĩa vụ của đối

tượng nộp thuế, đảm bảo người nộp thuế nộp các khoản thuế đầy đủ, kịp thời vàoNSNN; đảm bảo công bằng xã hội khi các cơ sở kinh doanh cùng phát sinh nghĩa

vụ thuế thì phải nộp vào NSNN đúng hạn;

- Quản lý nợ thuế để đảm bảo quản lý tất cả các khoản thu của Nhà nước,chống thất thoát NSNN Quản lý nợ đảm bảo các chính sách thuế được thực hiệnđúng và triệt để thông qua việc cơ quan thuế có các tác động, can thiệp kịp thời và

xử lý nghiêm các trường hợp có hành vi vi phạm thời hạn nộp thuế nhằm nâng cao

ý thức tuân thủ của người nộp thuế;

Trang 37

- Việc quản lý nợ thuế để đảm bảo cơ quan thuế có biện pháp thu nợ phù hợp,

hiệu quả; mặt khác quản lý nợ là một thước đo để đánh giá hiệu quả của công tácquản lý thu thuế, góp phần nâng cao hiệu quả của các chức năng khác như: thanhtra, kiểm tra chống thất thu thuế

Yêu cầu của quản lý nợ thuế:

Quản lý nợ thuế phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Trong quản lý thuế nói chung và quản lý nợ thuế nói riêng thì yêu cầu cơ bản

và quan trọng nhất của công tác này là phải quản lý đầy đủ, không bỏ sót các khoảnthu của NSNN, vì nếu quản lý không chặt chẽ, không bao quát hết các khoản thu sẽgây thất thu cho NSNN, khi đó sẽ gây khó khăn cho việc thực hiện các biện phápcưỡng chế thuế;

- Phải đảm bảo quản lý chính xác các khoản nợ để cơ quan thuế có các biệnpháp quản lý phù hợp Để thực hiện yêu cầu này, bên cạnh việc phân loại nợ theocác tiêu thức đã trình bày ở phần trên thì các tiêu thức phân loại phải được kết hợpvới nhau một cách hợp lý; qua đó cơ quan thuế sẽ đánh giá, xem xét và đưa ra cácbiện pháp thu nợ phù hợp với từng ngành nghề, lĩnh vực, trong từng thời kỳ pháttriển kinh tế xã hội;

- Phải đảm bảo thu nợ kịp thời, tránh thất thu NSNN Yêu cầu này là yêu cầuxuyên suốt của công tác quản lý nợ thuế và là mục tiêu của công tác quản lý nợ thuếtrong toàn ngành nói chung và của Chi cục thuế Thành phố Hải Dương nói riêng

1.2.2.2 Quy trình và nội dung quản lý nợ thuế của Chi cục thuế

Toàn bộ quy trình quản lý nợ thuế áp dụng tại Chi cục Thuế thuộc Cục thuếcác tỉnh Thành phố Trung Ương ở Việt Nam được thể hiện khái quát qua sơ đồ sau:

Trang 38

Sơ đồ 1.1: Quy trình quản lý nợ thuế áp dụng cấp Chi cục Thuế

- Phân công các cán bộ bộ phận, nhóm các quản lý nợ thuế

- Rà soát tiền nợ thuế để phân loại nợ và lập sổ theo rõi nợ thuế

- Thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ thuế

- Phân tích, đánh giá và xử lý nợ thuế

- Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch thu nợ thuế

(Nguồn: QĐ số 2379/QĐ –TCT ngày 22/12/2014 của Tổng cục Thuế)

Nội dung quản lý nợ thuế sẽ phân tích, triển khai cụ thuể như sau:

a) Lập kế hoạch thu nợ thuế

Thứ nhất, xây dựng chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý thu nợ:

Xây dựng quy trình quản lý nợ thuế là hoạt động đầu tiên trong quy trình quản

lý thuế, bắt đầu bằng việc xây dựng chỉ tiêu thu tiền thuế nợ

- Căn cứ vào chỉ đạo hướng dẫn của Cục Thuế và tình hình thực hiện quản lý

nợ thuế ở địa phương để xây dựng chương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý thu nợthuế năm sau của toàn Chi cục Thuế, có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn Chi cục thuếthực hiện trong tháng 12 hàng năm

- Tổng hợp trương trình, chỉ tiêu, biện pháp quản lý thu nợ của Chi cục Thuếgửi về Cục Thuế trước ngày 20 tháng 01 hàng năm

Bộ phận quản lý nợ là đầu mối tham mưu giúp lãnh đạo cơ quan thuế giao chỉtiêu thu nợ cho các bộ phận trong cơ quan thuế Chỉ tiêu thu tiền thuế nợ được xâydựng dựa trên số tiền thuế nợ của năm thực hiện Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ

Trang 39

tại các cấp đơn vị có nhiệm vụ tổng hợp và báo cáo số tiền thuế nợ năm thực hiện.

Từ đó, các cấp lãnh đạo có cơ sở lập chỉ tiêu thu tiền thuế nợ cho năm kế hoạch.Sau khi chỉ tiêu thu tiền thuế nợ đã được xác định cơ quan thuế có trách nhiệm báocáo lên cơ quan cấp trên, chờ phê duyệt Nếu chỉ tiêu thu tiền thuế nợ là do Chi cụcthuế xây dựng thì đơn vị này phải báo cáo số liệu về Cục thuế quản lý; Số liệu đượcChi cục thuế xây dựng dựa trên báo cáo của các Đội thuế ở các Phường gửi lên vàtổng hợp từ Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thì Chi cục thuế phải báo cáo về Cụcthuế và Cục thuế sẽ phải báo cáo về Tổng cục thuế Việt Nam, chờ phê duyệt Saukhi chỉ tiêu thu tiền thuế nợ được phê duyệt, Cục thuế sẽ tiến hành triển khai kếhoạch thực hiện về Chi cục thuế các huyện và thành phố Trên cơ sở chỉ tiêu đãđược phê duyệt, cơ quan quản lý thuế các cấp tiến hành triển khai thưc hiện

Thứ hai, điều chỉnh chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm:

Trong quá trình thực hiện chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm, Chicục Thuế có thể điều chỉnh, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm nếu có các nguyên nhânảnh hưởng đến việc thực hiện các chương trình, chỉ tiêu, biện pháp thu nợ năm Chicục Thuế phải gửi văn bản điều chỉnh, trong đó nêu rõ nội dung cần điều chỉnh, lý

do điều chỉnh gửi đến Cục Thuế Thời gian điều chỉnh chương trình Chỉ tiêu, biệnpháp thu nợ năm, trước ngày 30/9 năm thực hiện

b) Thực hiện quản lý nợ và xử lý thu nợ thuế

Thứ nhất, phân bộ phận, nhóm các cán bộ quản lý nợ thuế:

Hàng tháng, trước ngày khóa sổ thuế một (01) ngày làm việc đội trưởng độiquản lý nợ thuế có trách nhiệm phân công quản lý nợ thuế cho công chức quản lý

nợ thuế hoặc công chức tham gia quản lý nợ thuế

Phân công quản lý nợ thuế cho công chức quản lý nợ hoặc công chức tham giathực hiện quy trình theo nguyên tắc sau:

Một là, đối với doanh nghiệp: Phân công nợ thuế cho công chức có kinh

nghiệm thuộc bộ phận quản lý nợ hoặc bộ phận tham gia thực hiện quy trình theoloại hình doanh nghiệp, sắc thuế, ngành thuế, địa bàn hành chính, địa bàn thu vàtheo các phương thức phù hợp khác

Hai là, đối với hộ kinh doanh và các nhân có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN:

Trang 40

Phân công quản lý nợ thuế cho công chức quản lý nợ theo địa bàn thu như: Phường,

xã, thị trấn, bến tầu, bến xe, chợ

Ba là, đối với các khoản tiền thuế do các đoàn thanh tra, kiểm tra ra quyết định

truy thu, bộ phận thanh tra, kiểm tra đôn đốc đến 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộpthuế, bộ phận quản lý nợ phối hợp với bộ phận thanh tra, kiểm tra đôn đốc cáckhoản tiền thuế truy thu

Hàng tháng sau ngày khóa sổ thuế 01 ngày làm việc đội trưởng đội quản lý nợ

và đội trưởng có trách nhiệm: Đôn đốc, nhắc nhở công chức quản lý nợ Nếu cóthay đổi gì trong tháng về tình hình công chức (như ốm, thuyên chuyển công táchoặc thực hiện luôn chuyển công việc) thực hiện phân công lại quản lý người nộpthuế: công chức quản lý nợ và công chức tham gia thực hiện quy trình phải bàn giaođầy đủ hồ sơ của NNT đã được phân công cho công chức tiếp nhận Việc bàn giaophải có biên bản xác nhận của lãnh đạo đội

Thứ hai, rà soát tiền nợ thuế để phân loại nợ thuế và lập sổ theo dõi nợ:

Tại Việt Nam, trong xu thế hội nhập quốc tế, mở cửa nền kinh tế, thu hút vốnđầu tư, số lượng doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế những năm vừa qualiên tục gia tăng Cùng với việc đóng góp có hiệu quả về số thu đối với NSNN, thì

số tiền thuế nợ đọng phát sinh từ lĩnh vực này cũng ngày càng nhiều và diễn biếtphức tạp Nợ thuế từ các loại hình doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trên tổng số tiền

nợ thuế Do đó việc xác định số nợ thuế và phân loại nợ đối với doanh nghiệp có ýnghĩa hết sức quan trọng

Căn cứ vào tiêu thức phân loại nợ thuế theo quy định của Cục Thuế, côngchức quản lý nợ thuế thực hiện rà soát từng trường hợp nợ của từng người nợ thuếcòn nợ thuế tháng trước chuyển sang tháng sau và nợ mới phát sinh tháng này theonguyên nhân, tình trạng và tuổi nợ để phân loại các khoản nợ Công chức thực hiệnviệc phân loại phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc phân loại nợ

Sau khi phân loại nợ, công chức quản lý nợ cập nhật kết quả phân loại nợ vào

Sổ theo dõi nợ thuế của từng người nợ, chuyển cho bộ phận tổng hợp để tổng hợp

nợ của toàn bộ phận

Ngày đăng: 19/03/2017, 08:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Cơ cấu tổ chức nhân sự phân theo đội thuế - luận văn thạc sĩ  quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn thành phố hải dƣơng, tỉnh hải dƣơng
Bảng 2.1. Cơ cấu tổ chức nhân sự phân theo đội thuế (Trang 52)
Bảng 2.3: Cơ cấu nhân sự phân theo trình độ và độ tuổi - luận văn thạc sĩ  quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn thành phố hải dƣơng, tỉnh hải dƣơng
Bảng 2.3 Cơ cấu nhân sự phân theo trình độ và độ tuổi (Trang 54)
Bảng 2.4. Kết quả thu NSNN của Chi cục thuế Thành phố Hải Dương - luận văn thạc sĩ  quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn thành phố hải dƣơng, tỉnh hải dƣơng
Bảng 2.4. Kết quả thu NSNN của Chi cục thuế Thành phố Hải Dương (Trang 55)
Bảng 2.7. Cơ cấu nợ thuế của DNTN theo sắc thuế giai đoạn 2013 - 2015 - luận văn thạc sĩ  quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn thành phố hải dƣơng, tỉnh hải dƣơng
Bảng 2.7. Cơ cấu nợ thuế của DNTN theo sắc thuế giai đoạn 2013 - 2015 (Trang 60)
Bảng 2.8. Tình hình nợ thuế của DNTN phân theo tính chất - luận văn thạc sĩ  quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn thành phố hải dƣơng, tỉnh hải dƣơng
Bảng 2.8. Tình hình nợ thuế của DNTN phân theo tính chất (Trang 61)
Bảng 2.9. Tình hình nợ thuế của các DNTN do Chi cục thành phố Hải Dương quản lý phân theo ngành nghề giai đoạn 2013-2015 - luận văn thạc sĩ  quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn thành phố hải dƣơng, tỉnh hải dƣơng
Bảng 2.9. Tình hình nợ thuế của các DNTN do Chi cục thành phố Hải Dương quản lý phân theo ngành nghề giai đoạn 2013-2015 (Trang 63)
Hình thu nợ thời gian qua, chúng ta phải xem xét các biện pháp đảm bảo nợ được - luận văn thạc sĩ  quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn thành phố hải dƣơng, tỉnh hải dƣơng
Hình thu nợ thời gian qua, chúng ta phải xem xét các biện pháp đảm bảo nợ được (Trang 68)
Hình thức tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế dưới nhiều hình thức phong - luận văn thạc sĩ  quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn thành phố hải dƣơng, tỉnh hải dƣơng
Hình th ức tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế dưới nhiều hình thức phong (Trang 71)
Hình từ năm 2013 - 2015 như: Đã biên soạn và phát hành tài liệu; ấn phẩm, tờ rơi - luận văn thạc sĩ  quản lý nợ thuế đối với các doanh nghiệp tƣ nhân trên địa bàn thành phố hải dƣơng, tỉnh hải dƣơng
Hình t ừ năm 2013 - 2015 như: Đã biên soạn và phát hành tài liệu; ấn phẩm, tờ rơi (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w