1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thủ tục đăng ký và thẩm tra dự án đầu tư theo pháp luật đầu tư ở Việt Nam

97 793 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qui định về hoạt động đầu tư của Singapore Qui định về hoạt động đầu tư của Trung quốc Qui định về hoạt động đầu tư Lào Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ĐĂNG KÝ VÀ THẨM TRA DỰ ÁN ĐẦU TƯ TH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HỒNG

THỦ TỤC ĐĂNG KÝ VÀ THẨM TRA DỰ ÁN ĐẦU TƯ

THEO PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HỒNG

THỦ TỤC ĐĂNG KÝ VÀ THẨM TRA DỰ ÁN ĐẦU TƯ

THEO PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Quang

Hà Nội - 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HỒNG

Trang 4

Đầu tƣ và pháp luật về đầu tƣ

Những nhận thức cơ bản về đầu tư

Khái niệm về đầu tư

Phân loại đầu tư

Các hình thức đầu tư

Pháp luật về đầu tư

Khái niệm pháp luật về đầu tư

Sơ lược về lịch sử phát triển của luật đầu tư Việt Nam

Những nội dung cơ bản của pháp luật đầu tư

Khái niệm về đăng ký và thẩm tra dự án đầu tƣ

Đăng ký đầu tư

Khái niệm về đăng ký đầu tư

Vai trò ý nghĩa của việc đăng ký đầu tư

Phân loại đăng ký đầu tư

Thẩm tra đầu tư

Khái niệm thẩm tra và thẩm định dự án đầu tư

Vai trò ý nghĩa của việc thẩm tra dự án đầu tư

Qui định về thủ tục đầu tƣ của một số quốc gia

Trang 5

Qui định về hoạt động đầu tư của Singapore

Qui định về hoạt động đầu tư của Trung quốc

Qui định về hoạt động đầu tư Lào

Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ĐĂNG KÝ VÀ

THẨM TRA DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM Đăng ký đầu tư

Chủ thể của Luật đầu tư

Trình tự thủ tục dự án đầu tư trong nước và dự án có vốn

đầu tư nước ngoài

Qui định về điều kiện đăng ký dự án đầu tư trong nước và

dự án có vốn đầu tư nước ngoài

Qui định về hồ sơ dự án đầu tư

Qui định về trình tự thực hiện và thời hạn giải quyết đăng

ký dự án đầu tư

Một số qui định riêng đối với nhà đầu tư trong nước và

nước ngoài

Thủ tục đầu tư đối với dự án thuộc diện phải thẩm tra

đối với dự án đầu tư trong nước và dự án có vốn đầu tư

nước ngoài

Qui định về điều kiện thẩm tra đối với dự án đầu tư trong

nước và dự án có vốn đầu tư nước ngoài

Qui định về hồ sơ thẩm tra dự án đầu tư

Qui định về trình tự thẩm tra

Qui định tiêu chí thẩm tra

Qui định về thời hạn giải quyết

Cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư

Trang 6

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Ban quản lý khu công nghiệp

Các cơ quan khác tham gia vào quá trình cấp giấy chứng

nhận đầu tư

Thực trạng thủ tục đăng ký và thẩm tra đối với doanh

nghiệp Việt nam đầu tư ra nước ngoài

Thực trạng việc đăng ký và thẩm tra dự án đầu tư trên

địa bàn hà nội và thành phố Hồ chí minh

Chương 3: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN THỦ TỤC ĐĂNG

KÝ VÀ THẨM TRA DỰ ÁN ĐẦU TƯ HIỆN NAY

Kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật đầu tư của Việt

Giải pháp thực hiện việc đăng ký và thẩm tra dự án

đầu tư theo luật đầu tư Việt nam

Qui định về điều kiện đăng ký và thẩm tra dự án đầu tư

trong nước và dự án có vốn đầu tư nước ngoài

Qui định về đầu tư ra nước ngoai

Trang 7

Hồ sơ đăng ký đối với nhà đầu tư trong nước

Hồ sơ đăng ký đối với nhà đầu tư nước ngoài

Hồ sơ thẩm tra dự án đầu tư

Trang

40

41

49

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại hiện nay, toàn cầu hoá đang diễn ra ngày càng sâu sắc

mà không một quốc gia nào có thể đứng ngoài Các quan hệ kinh tế quốc tế trở nên sôi động hơn bao giờ hết và có tác động to lớn đến sự phát triển của các quốc gia trên thế giới Nền kinh tế phát triển ngày càng mạnh, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế giữa các nước ngày càng mở rộng

Việt Nam đang thiết lập các quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại với nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và hầu hết các quốc gia trên thế giới, là thành viên mới nhất (thứ 150) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Những qui định của pháp luật Việt Nam về đầu tư đã phát huy vai trò quan trọng thu hút đầu tư trong nước và ngoài nước, góp phần tạo ra tốc độ tăng trưởng cho nền kinh tế Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật về đầu tư còn chưa nhất quán, thiếu ổn định

và có sự phân biệt giữa các nhà đầu tư, đã làm hạn chế sự thông thoáng của môi trường đầu tư, cản trở dòng vốn đầu tư vào Việt Nam Hơn nữa, cuộc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới vào khu vực đang diễn

ra ngày càng gay gắt, nhất là khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới Trong bối cảnh đó, các nước trong khu vực đang cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư theo hướng tự do hoá chính sách đầu tư, thương mại với các đối tác kinh tế lớn, nhằm tranh thủ nguồn vốn đầư tư, công nghệ kỹ thuật

Do vậy, việc ban hành một khung pháp lý chung và thống nhất, minh bạch, ổn định về vấn đề đăng ký và thẩm tra cho các nhà đầu tư là đáp ứng đòi hỏi khách quan trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và yêu cầu hội nhập, nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực đầu tư của mọi thành phần kinh tế

Trang 9

Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội khoá 11 tại kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật đầu tư, đây là thông điệp quan trọng của Việt Nam trong việc cam kết phát triển nền kinh tế theo hướng thị trường, xoá bỏ những biệt lệ giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước, tạo sân chơi bình đẳng cho các loại hình doanh nghiệp, hạn chế tư duy phân biệt đối sử giữa các thành phần kinh tế, đồng thời cũng qui định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nhà đầu tư Việt Nam (Nghị định số 78 ban hành ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính Phủ, qui định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài) đã mở ra những cơ hội mới cho các nhà đầu tư Việt Nam, cải thiện phần nào môi trường đầu tư, phù hợp với những cam kết của Việt Nam và thông lệ quốc tế

Để đáp ứng nhu cầu về việc tìm hiểu những qui định về Thủ tục đầu tư trong Luật đầu tư 2005, góp phần đưa những qui định của Luật đầu tư vào cuộc sống, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nắm bắt được qui trình đầu tư cụ thể và rõ ràng hơn Vì vậy, trong phạm vi đề tài này, em sẽ tập trung

phân tích và làm rõ vấn đề: “ Thủ tục Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư theo pháp luật đầu tư ở Việt Nam”

Qua đó, hy vọng giúp chúng ta có được cách nhìn nhận và đánh giá khách quan về việc Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư ở Việt Nam, cũng như

có giải pháp nâng cao hiệu lực hiệu quả thực hiện pháp luật về Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế

2 Mục đích của đề tài

1- Làm rõ những qui định của Luật đầu tư Việt Nam liên quan đến vấn

đề Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư

2 - Đánh giá thực trạng của việc Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư

3 - Đưa ra một số kiến nghị, nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện Luật đầu tư liên quan đến thủ tục Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư

Trang 10

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu:

Các qui định của Luật đầu tư 2005 của Việt Nam

2 Phạm vi nghiên cứu:

Những qui định liên quan đến thủ tục Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu

tư trong nước và dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Đối với các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài do phải chịu sự điều chỉnh của nước tiếp nhận đầu tư, nên trong Luận văn này Tôi chỉ giới thiệu khái quát chứ không đi sâu vào nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích, so sánh, tổng hợp, cũng được sử dụng ở mức độ phù hợp đề hoàn thành luận văn này

5.Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết cấu và danh mục tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1 Lý luận chung về thủ tục Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư Chương 2 Thực trạng của việc Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Chương 3 Giải pháp thực hiện việc Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư

6 Kết quả đạt được của Luận văn

Ở bình diện lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về pháp luật đầu tư nói chung và thủ tục đăng ký và thẩm tra dự

Trang 11

án đầu tư đối với các dự án đầu tư trong nước và dự án có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng

Về thực tiễn, luận văn sẽ là tài liệu có giá trị, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, đối với các chủ đầu tư và đối với các cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư đồng thời làm tài liệu tham khảo đối với các cơ

sở đào tạo liên quan đến lĩnh vực đầu tư Những đề xuất của luận văn sẽ cung cấp luận cứ khoa học, làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký và thẩm tra các dự án đầu tư nói riêng và Luật đầu tư 2005 nói chung

Để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của trường Đại học Quốc gia Hà Nội, đã giảng dậy và cung cấp nhiều thông tin bổ ích cho chúng em, đặc biệt là tiến sỹ Vũ Quang, người đã hướng dẫn em hoàn thành luận văn này

Trang 12

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ

VÀ THẨM TRA DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới, nhiều quốc gia đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế của mình Những quốc gia này đã có sự đầu tư rất lớn vào sản xuất và khai thác các dạng tài nguyên thiên nhiên Khi trình độ phát triển kinh tế đạt đến mức cao, nhu cầu về vốn ở trạng thái bão hoà, dư thừa, cơ hội đầu tư ít, chi phí cao, khi đó các quốc gia có nhu cầu đầu tư vào các quốc gia trên thế giới, nhằm tận dụng những lợi thế về lao động và tài nguyên thiên nhiên, thị trường của những nước đó Mặt khác, các quốc gia có những lợi thế đó, lại là những nước đang phát triển, có nhu cầu về vốn Do đó vấn đề đầu tư không chỉ diễn

ra ở mỗi quốc gia mà còn có sự hợp tác đầu tư giữa các quốc gia với nhau Vậy thế nào là đầu tư và Luật đầu tư là gì? Chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu

1.1 Đầu tư và pháp luật về đầu tư

1.1.1 Những nhận thức cơ bản về đầu tư

1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư

Cho đến nay, đầu tư không phải là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất là đối với những người hoạt động trong lĩnh vực kinh tế xã hội Tuy nhiên, thuật ngữ này được hiểu rất khác nhau Có người cho rằng: đầu tư là phải bỏ một cái gì đó vào một việc nhất định để thu lại một lợi ích trong tương lai Nhưng cũng có người quan niệm đầu tư: là các hoạt động sản xuất

kinh doanh nhằm thu lợi nhuận

Theo cách hiểu phổ thông, thì khái niệm đầu tư được hiểu là việc: “ bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế xã hội”[36]

Trang 13

Trong khoa học kinh tế, đầu tư được quan niệm là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn những nguồn lực đã sử dụng để đạt được những kết quả đó.[37]

Đầu tư là nhân tố không thể thiếu để xây dựng và phát triển kinh tế là chìa khoá của sự phát triển kinh tế xã hội Các nguồn lực được sử dụng để đầu

tư có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ Những kết quả

sẽ đạt được đó, có thể là sự tăng thêm các tài sản chính (tiền vốn) tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, bệnh viện, trường học ) là tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn quản lý khoa học - kỹ thuật ) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội Trong cơ chế thị trường, hoạt động đầu tư có thể do những chủ thể khác nhau tiến hành và ngày càng phong phú và đa dạng cả về tính chất lẫn mục đích Tuy vây, mọi hoạt động đầu tư suy cho cùng đều nhằm mang lại lợi ích xác định, đó chính là sự tăng thêm các nguồn lực tiền vốn tài sản…

Dưới góc độ pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật qui định để thực hiện hoạt động, nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội khác Hoạt động đầu tư có thể có tính chất kinh doanh (thương mại) hoặc phi thương mại Trong khoa học pháp

lý cũng như thực tiễn xây dựng chính sách pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu

tư chủ yếu được đề cập đến là hoạt động đầu tư với bản chất là “ sự chi phí của cải vật chất nhằm mục đích làm tăng giá trị tài sản hay tìm kiếm lợi nhuận”

Ở Việt Nam, trước khi ban hành Luật đầu tư 2005, khái niệm đầu tư kinh doanh chưa được định nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp luật Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) ngày 20 tháng 05 năm 1998 và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành năm 1996 và 2000 không có định

Trang 14

nghĩa về đầu tư nói chung mà thay vào đó là khái niệm đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài Luật đầu tư 2005 với phạm vi điều chỉnh là hoạt

động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh đã đưa ra định nghĩa: “Đầu tư là việc

nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư.” Khoản 1 điều 3 Luật đầu tư 2005

Luật này còn có sự phân biệt về thuật ngữ giữa đầu tư và hoạt động đầu tư, theo đó hoạt động đầu tư được hiểu: “ là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án

đầu tư” Khoản 7 điều 3 Luật đầu tư 2005

1.1.1.2 Phân loại đầu tư

Dựa trên những tiêu chí khác nhau, người ta có thể phân chia đầu tư thành các loại khác nhau, việc phân loại hoạt động đầu tư là cần thiết, nhằm lựa chọn các giải pháp kinh tế và pháp lý thích hợp, thúc đẩy và tăng cường hiệu quả đầu tư cũng như hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư

Từ phương diện pháp lý có thể phân loại hoạt động đầu tư dựa trên những yếu tố sau:

- Căn cứ vào mục đích đầu tư có thể chia đầu tư thành: đầu tư phi lợi nhuận và đầu tư kinh doanh

+ Đầu tư phi lợi nhuận: là việc sử dụng các nguồn lực để thực hiện các hoạt động không nhằm mục tiêu thu lợi nhuận

Ví dụ: Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ cho nhân

Trang 15

+ Đầu tư trực tiếp: là hoạt động đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu tư trực tiếp tham gia quản lý các hoạt động đầu tư mà không có sự tách bạch giữa người bỏ vốn và người quản lý Theo Luật đầu tư 2005, đầu tư trực tiếp

là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư Đầu tư trực tiếp gồm có: đầu tư trực tiếp trong nước (là việc các cá nhân tổ chức trong nước bỏ vốn ra để kinh doanh theo hình thức pháp luật qui định) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (là hoạt động đầu tư do các tổ chức và cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với tổ chức, cá nhân của nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi trong kinh doanh)

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được tiến hành thông qua các dự án - gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài thông qua việc di chuyển nguồn lực đầu tư trên phạm vi quốc tế với mục đích kinh doanh thu lợi nhuận

+ Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư mà ở đó nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư Như vậy, đầu tư gián tiếp không cần

có sự tham gia quản lý doanh nghiệp, các khoản thu nhập chủ yếu thông qua các hình thức mua chứng khoán, cho vay, cho thuê…

- Căn cứ vào nguồn vốn đầu tư, gồm có đầu tư trong nước và đầu tư ngoài nước

+ Đầu tư trong nước: là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh tại Việt Nam của các tổ chức công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài tại Việt Nam Theo Luật đầu tư 2005, đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam

Trang 16

+ Đầu tư nước ngoài (hay còn gọi là đầu tư quốc tế) là sự di chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý…từ nước này sang nước khác nhằm mục đích thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu Thực tiễn điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động đầu tư nước ngoài còn có sự phân biệt giữa đầu tư từ nước ngoài vào và đầu tư ra nước ngoài

Theo Luật đầu tư 2005, đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư, còn đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu

tư, khoản 12,14 Điều 3 Luật đầu tư 2005

tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã

+ Đầu tư thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp doanh): là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giao kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận mà không thành lập pháp nhân Các bên hợp doanh thực hiện hoạt động kinh doanh với tư cách pháp lý của mình thay vì thành lập ra một pháp nhân kinh tế mới

Ví dụ: Hợp đồng hợp doanh của Tổng công ty than Việt Nam

Trang 17

Hợp đồng hợp tác kinh doanh (2/1999) giữa Tổng công ty than Việt Nam (VINACOAL) và công ty CAVICO Ltd của Mỹ và Canada khai thác than tại

mỏ than núi Béo (Quảng Ninh) Trị giá hợp đồng khoảng 356 tỷ VND, trong

đó bên Việt Nam đã đầu tư 65 tỷ, phần còn lại là đầu tư mới

Bên Việt Nam đảm nhận xúc và sàng tuyển than

Tỷ lệ ăn chia: Bên nước ngoài 66,7% tổng lợi nhuận

Bên Việt Nam 33,3% tổng lợi nhuận.[20]

Trích nguồn: Vụ quản lý dự án Bộ kế hoạch đầu tư 1999

+ Đầu tư thông qua hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT): là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng, kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam

Ví dụ: Việt Nam, dự án BOT đầu tiên được cấp giấy phép tháng

3/1995 là hợp đồng triển khai xây dựng nhà máy nước Bình An được ký giữa

Uỷ ban nhân dân TpHồ Chí Minh với tập đoàn Emas Utilities Sadec Malayxia với công suất 100.000m khối /ngày, sau 25 năm hoạt động, khai thác và bán nước cho Tp Hồ Chí Minh với giá 0.2 USD/1m khối, toàn bộ nhà máy sẽ được chuyển giao cho Việt Nam với giá tượng trưng là 1USD

+ Đầu tư theo hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO):

là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong nhà đầu

tư sẽ chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính Phủ Việt Nam sẽ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận

Trang 18

+ Đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT): là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong nhà đầu tư sẽ chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính Phủ Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT + Đầu tư thông qua hình thức phát triển kinh doanh: là việc nhà đầu tư

bỏ vốn để mở rộng qui mô hoặc nâng cao năng lực hoạt động của cơ sở kinh doanh Đầu tư phát triển kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư hiện có, đồng thời bổ sung vốn đầu tư mới, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững của cơ sở kinh doanh, thông qua việc mở rộng qui mô lĩnh vực hoạt động, nâng cao năng suất, năng lực kinh doanh, đổi mới công nghệ, giảm ô nhiễm môi trường, đồng thời cũng góp phần tạo việc làm và nâng cao đời sống của người dân

+ Đầu tư thông qua việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp: Sáp nhập doanh nghiệp là hình thức đầu tư được thực hiện thông qua việc chuyển toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp bị sáp nhập sang doanh nghiệp nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập; còn mua lại doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp là việc nhà đầu tư nhận chuyển giao quyền sở hữu doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp có thanh toán

Các hình thức đầu tư gián tiếp:

+ Đầu tư thông qua mua chứng khoán (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác)

+ Đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán

+ Đầu tư thông qua ngân hàng doanh nghiệp bảo hiểm…

Trang 19

Trong các hình thức đầu tư này nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện hoạt động đầu tư và sử dụng các nguồn lực đầu

tư Nhà đầu tư, đầu tư theo hình thức gián tiếp này về cơ bản chỉ được hưởng các lợi ích kinh tế từ hoạt động đầu tư

1.1.2 Pháp luật về đầu tư

1.1.2.1 Khái niệm pháp luật về đầu tư

Khi tiến hành các hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư phải hoạt động trong một không gian và thời gian địa điểm cụ thể, mà ở đó có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, chi phối đến hoạt động đầu tư, trong đó có pháp luật về đầu tư Sự tồn tại và phát triển của hoạt động đầu tư, chính là cơ cở thực tiễn cho sự ra đời và phát triển của Luật đầu tư

Trong quá trình xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài của các quốc gia ngày càng mạnh Để cạnh tranh thu hút nguồn vốn đầu tư, các nước đều chú trọng đến việc cải thiện môi trường đầu

tư, trong đó có việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Tuy nhiên cho đến nay khoa học pháp lý Việt Nam vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất

về pháp luật đầu tư

Nhưng căn cứ vào đối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư là các quan hệ đầu tư kinh doanh, hơn nữa các quan hệ đầu tư kinh doanh phát sinh trong quá trình các nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản khác nhau để tạo lập cơ sở tiến hành các hoạt động đầu tư (bao gồm chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự

án đầu tư) Vì vậy có thể định nghĩa: “Luật đầu tư là hệ thống các qui phạm

pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện và quản lý hoạt động đầu tư kinh doanh”

Trang 20

1.1.2.2 Sơ lược về lịch sử phát triển của Luật đầu tư Việt Nam

- Giai đoạn 1945 đến 1975

Do điều kiện lịch sử chiến tranh, đã làm cho môi trường pháp luật về đầu tư kinh doanh phát triển chậm, pháp luật về đầu tư thể hiện tính ổn định không cao, chưa có văn bản nào do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành, bởi thực tiễn hoàn cảnh lúc này chúng ta mới giành được chính quyền, chủ trương của Đảng ta là: “ kháng chiến kiến quốc” với nhiệm vụ là: “ bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”.[23]

Mặc dù tình hình chính trị lúc này hết sức khó khăn, nhưng để đảm bảo phát triển nền kinh tế, nhà nước đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau

- Giai đoạn 1975 đến 1986

Thời kỳ nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, với hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Do sự chi phối của kế hoạch nhà nước, pháp luật về đầu tư không phải là phương tiện quan trọng nhất để điều chỉnh nền kinh tế nói chung và điều chỉnh hoạt động đầu tư nói riêng Về mặt pháp lý, trong thời kỳ này, hoạt động đầu tư của kinh tế tư nhân không được thừa nhận

- Giai đoạn 1986 đến nay

Thời kỳ đất nước ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng của nền kinh tế Cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, được chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghía Với quan điểm huy động tối đa các nguồn lực

để phát triển kinh tế, hệ thống pháp luật về đầu tư Việt Nam đã thực sự được quan tâm, các văn bản về pháp luật đầu tư được xây dựng và hoàn thiện theo

Trang 21

hướng ngày càng đảm bảo môi trường pháp lý đầu tư thông thoáng và an toàn cho các nhà đầu tư muốn bỏ vốn kinh doanh Đặc điểm nổi bật của hệ thống pháp luật về đầu tư Việt Nam ở thời kỳ này là có sự phân chia thành hai lĩnh vực: đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài để điều chỉnh Cụ thể như sau:

Đối với pháp luật về đầu tư trong nước:

Quyết định 217/ Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 14/11/1987 là văn bản pháp luật đầu tiên cụ thể hoá nghị quyết đại hội Đảng khoá VI, về chuyển hoạt động của các đơn vị cơ sở kinh tế quốc doanh, sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, thực hiện chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam đã qui định nhiều văn bản pháp luật qui định về vấn đề đầu tư của Nhà nước vào doanh nghiệp Nhà nước trong điều kiện mới như: Nghị định số 50/ HĐBT ban hành điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, nghị định số 27/HĐBT ban hành về Điều lệ liên hiệp xí nghiệp…

Với cơ chế thị trường, mà giai đoạn đầu là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, một yêu cầu có tính nguyên tắc căn bản là phải đảm bảo quyền tự

do và sự bình đẳng trong đầu tư kinh doanh, trong đó nhiệm vụ quan trọng đặt

ra là phải mở rộng quyền đầu tư cho các chủ thể thuộc mọi thành kinh tế, vì vậy Nhà nước đã ban hành và từng bước xây dựng, hoàn thiện các văn bản mới về đầu tư như: Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 được thay thế bằng Luật doanh nghiệp năm 1999 và sau này là Luật doanh nghiệp 2005; Lụât khuyến khích đầu tư trong nước 1994 được thay tế bằng Luật sửa đổi luật khuyến khích đầu tư 1998…

+ Đối với pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Cùng với chủ trương huy động tối đa nguồn lực trong nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đồng thời thực hiện chính sách tăng cường hợp tác kinh

tế Trong việc tăng cường các quan hệ kinh tế đối ngoại, việc mở rộng thu hút

Trang 22

đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hướng ưu tiên quan trọng Điều lệ đầu tư ban hành kèm theo Ngị định 115/CP ngày 18/4/1977 là văn bản pháp lý riêng biệt đầu tiên được ban hành nhằm khuyến khích và điều chỉnh hoạt động đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam Theo qui định tại Điều 1 của Điều lệ này, Chính Phủ Việt Nam “ chấp thuận đầu tư nước ngoài taị Việt Nam trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và các bên cùng có lợi” Điều lệ đầu tư đã tạo ra một khung pháp lý ban đầu cho hoạt động đầu tư nước ngoài, làm tiền đề cho những ý tưởng và là cơ sở cho những bước cải cách sau này Tuy nhiên, do Điều lệ đầu tư 1977 đã thể chế hoá chính sách quản lý nền kinh tế bao cấp nên còn thiếu các qui định cụ thể về quản lý ngoại hối và ngân hàng, đất đai…Do đó chưa tạo ra được cơ sở pháp lý đầy đủ, môi trường đồng bộ, có hiệu quả cao hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài cũng như hoạt động đầu tư nói chung Ngày 29/12/1987 tại kỳ họp thứ hai khoá VII, Quốc hội đã thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Trong thời kỳ này, Luật đầu tư nước ngoài được coi là biện pháp quan trọng để mở rộng hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới, nhằm mục đích khai thác tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nước và đẩy mạnh xuất khẩu Luật đầu tư năm 1987 đã có ảnh hưởng mạnh tới việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh nền kinh tế mới với nhiều thành phần kinh tế Tuy nhiên, qua một thời gian thực hiện, Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 đã bộc

lộ một số thiếu sót và hạn chế, cụ thể là đối với các đối tác trong nước, Luật mới chỉ áp dụng cho các tổ chức kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, hạn chế về kinh tế tư nhân Để khắc phục nhược điểm trên, ngày 30/6/1990 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhằm mục đích khuyến khích và tạo thêm điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư nước ngoài Luật không chỉ tạo điều kiện cho người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam mà còn

Trang 23

tạo cơ hội, điều kiện cho các đối tác trong nước để mở rộng hợp tác với nước ngoài (các tổ chức kinh tế tư nhân Việt Nam được hợp tác với tổ chức cá nhân nước ngoài trong lĩnh vự và điều kiện do HĐBT qui định) Đến năm

1992 sau hai năm triển khai thực hiện luật, nhiều vấn đề pháp lý phát sinh, phần nào làm cản trở hoạt động đầu tư nước ngoài Vì vậy, ngày 23/12/1992, Quốc hội đã ban hành Lụât sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nhằm mở rộng cho mọi thành phần kinh tế đều có thể tham gia hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực đầu tư Năm 1996, khi Việt Nam bước vào giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài còn bộc lộ nhiều nhược điểm cần khắc phục Ngày 12/11/1996 Quốc hội thông qua Luật đầu tư mới nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài và thực hiện chủ trương của Nhà nước đối với việc cải cách thủ tục hành chính Tuy nhiên, để thực hiện tốt các dự án đã được cấp phép đầu tư và thu hút thêm đầu tư mới, tạo điều kiện để Việt Nam tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, ngày 9/6/2000, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Các nội dung sửa đổi bổ sung của Luật đã đem lại cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sự ổn định và thông thoáng hơn so với nhiều qui định trước đây Nhưng trước yêu cầu tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế, mà trực tiếp nhất là việc thực hiện các thoả thuận trong đầu tư khu vực ASEAN, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, pháp luật về đầu tư nước ngoài đã bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục Sự chưa hoàn thiện và thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật đầu tư nói riêng và của hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nói chung, là trở ngại lớn nhất đối với đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Việc tăng cường hợp tác kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội thách thức cho Việt Nam Pháp luật về đầu tư của Việt Nam đứng trước yêu cầu phải vận động theo xu hướng hội

Trang 24

nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với pháp luật đầu tư thế giới Trước yêu cầu đó, Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện môi trường pháp lý về đầu tư, cụ thể là việc ban hành Luật đầu tư 2005 tạo cơ sở pháp lý bình đẳng thống nhất trong hoạt động đầu tư

Luật đầu tư 2005 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 điều chỉnh

cả hoạt động đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư nước ngoài Luật đầu tư chung 2005 gồm có 10 chương và 89 điều qui định về đảm bảo đầu tư, quyền

và nghĩa vụ của nhà đầu tư, hình thức hoạt động đầu tư và các lĩnh vực địa bàn đầu tư, ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư Trong đó, Chương VI, qui định về Thủ tục đăng ký và thẩm tra đầu tư đối với dự án đầu tư trong nước và dự án đầu tư nước ngoài, nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách hành chính trong quản lý đầu tư theo hướng mở rộng phân cấp và đơn giản hoá thủ tục, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận tiện cho nhà đầu tư, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả và thống nhất trong quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư

Ngoài việc ban hành Luật đầu tư chung 2005, Nhà nước còn ban hành các văn bản pháp luật liên quan đó là: Nghị định số 101/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 qui định việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký đổi giấy chứng nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo qui định của Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư; Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư; Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ban hành ngày 9/8/2006 qui định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài [37]

1.1.2.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật đầu tư

Luật đầu tư qui định những vấn đề pháp lý cho các hoạt động chuẩn bị, thực hiện và quản lý dự án đầu tư Với chức năng cơ bản là đảm bảo an toàn pháp lý cho hoạt động đầu tư vốn vào kinh doanh, luật đầu tư có nội dung chủ yếu là các qui định về những vấn đề sau:

Trang 25

- Hình thức đầu tư;

- Lĩnh vực và địa bàn đầu tư;

- Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư;

- Quy trình, thủ tục và triển khai dự án đầu tư;

- Bảo đảm, khuyến khích và ưu đãi đầu tư;

- Quản lý nhà nước về đầu tư

1.2 Khái niệm về Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư

1.2.1 Đăng ký đầu tư

1.2.1.1 Khái niệm về đăng ký đầu tư

Theo Đại từ điển tiếng việt của Nhà xuất bản văn hoá thông tin, trang 601

thì thuật ngữ đăng ký được hiểu là việc: “Đứng gia khai báo để được cấp

giấy công nhận về quyền hạn nghĩa vụ nào đó”.[40]

Trong cuốn Từ điển Luật học của Nhà xuất bản tư pháp không có khái niệm về Đăng ký đầu tư mà chỉ có khái niệm về Đăng ký kinh doanh, theo đó Đăng ký kinh doanh được hiểu như sau: “ Sự ghi nhận bằng văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về mặt pháp lý sự ra đời của chủ thể kinh doanh Đăng ký kinh doanh được thực hiện theo trình tự thủ tục luật định, áp dụng thống nhất trong cả nước khi ĐKKD, các thông tin cần thiết về doanh nghiệp được ghi vào sổ ĐKKD, doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận ĐKKD có thể bắt đầu hoạt động Tổ chức, cá nhân được yêu cầu cơ quan ĐKKD hướng dẫn về thủ tục nội dung ĐKKD, cấp bản sao giấy chứng nhận ĐKKD, giấy chứng nhận thay đổi ĐKKD…và phải trả phí theo qui định của pháp luật Việc ĐKKD tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về kinh tế, xác nhận sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp, cung cấp thông tin cần thiết về doanh nghiệp nhằm tạo thuận lợi cho các chủ thể tham gia quan hệ với doanh nghiệp”

Trang 26

Hay đăng ký đất đai được hiểu là việc cấp giấy chứng nhận cho người

sử dụng đất hợp pháp nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm cơ sở để Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất Bởi vì trong quá trình sử dụng đất sẽ luôn có những thay đổi khi người sử dụng đất thực hiện các quyền sử dụng đất của mình (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp,…) Chính vì vậy, người sử dụng đất cần đến cơ quan Nhà nước để đăng ký sự biến đổi về thửa đất mà mình đang sử dụng, giúp Nhà nước quản lý tốt hơn quỹ đất trong toàn quốc cũng như để bảo

vệ các quyền lợi hợp pháp của mình.[43]

Trong hệ thống các văn bản pháp luật về đầu tư cũng không có qui định

về khái niệm Đăng ký đầu tư Nghị định 101/2006/NĐ-CP ban hành ngày 21/9/2006 chỉ có khái niệm về “Đăng ký lại” là việc doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đăng

ký kinh doanh theo qui định của Luật doanh nghiệp để thực hiện dự án đầu tư theo qui định của Luật đầu tư và được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới mà vẫn giữ nguyên loại hình doanh nghiệp theo giấy phép đầu tư đã được cấp; Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận ĐKKD (Điều 3 Nghị định 101/2006/NĐ-CP ban hành ngày 21/9/2006)

Xét về bản chất của Đăng ký dự án đầu tư là việc cơ quan Nhà nước xác nhận hoặc chứng nhận nội dung dự án đầu tư dựa trên thông tin do nhà đầu tư

cung cấp Do đó, có thể hiểu khái niệm của đăng ký đầu tư: “ là sự ghi nhận

của cơ quan nhà nước về quản lý đầu tư công nhận về mặt pháp lý quyền hạn hoặc nghĩa vụ nào đó của chủ đầu tư”

1.2.1.2 Vai trò, ý nghĩa của việc đăng ký đầu tư

- Vai trò định hướng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường

Trang 27

Thông qua các dự án mà chủ đầu tư đăng ký bao gồm các dự án đầu tư trong nước và dự án có vốn đầu tư nước ngoài Nhà nước sẽ nắm bắt được tình hình

cụ thể của nền kinh tế, biết được những nghành nghề nào đang thu hút các nhà đầu tư cũng như các địa bàn đầu tư đồng thời nắm được các nguồn vốn đầu tư, các nghành nghề trọng điểm trên cơ sở nắm bắt được tình hình cụ thể đăng ký của các chủ đầu tư, nhà nước sẽ có những chính sách phân bổ nền kinh tế hợp lý, sẽ biết được những dự án nào được phép đầu tư và việc đầu tư như vậy có phù hợp với thực tế không đồng thời sẽ có những chính sách ưu đãi đối với những địa bàn mà cần phải đầu tư cần phải thu hút các chủ đầu tư

để tạo cân bằng trong địa bàn lĩnh vực đầut tư Nhà nước cũng sẽ hạn chế những nghành vùng địa bàn đối với một số dự án đầu tư nếu xét thấy dự án đầu tư không phù hợp với địa bàn và lĩnh vực đầu tư, từ đó hướng các nhà đầu

tư sang lĩnh vực địa bàn đầu tư khác cho phù hợp

Việc đăng ký dự án đầu tư không những giúp nhà nước có được các chính sách kinh tế phù hợp mà trên cơ sở của việc đăng ký dự án đầu tư nhà nước sẽ

có những định hướng về chính sách xã hội về lao động việc làm Nghĩa là nhà nước sẽ có những chính sách về phân bổ lao động và tạo cơ hội việc làm, giải quyết được phần nào tình trạng thất nghiệp hiện nay

- Vai trò kiểm soát của nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay, hơn nữa Việt Nam đang phấn đấu trở thành một nước công nghiệp hóa hiện đại hóa Chính vì vậy mà hoạt động đầu tư ngày càng phát triển sôi động Các dự án đầu tư ngày càng tăng lên theo thời gian và theo xu hướng phát triển của đất nước Chính vì vậy mà ở đâu thời kì nào Nhà nước cũng cần phải kiểm soát được nền kinh tế của đất nước mình, trong đó các dự án đầu tư chiếm một phần không nhỏ trong nền kinh tế Để kiểm soát được các dự án của các chủ đầu tư, nhà nước kiểm soát bằng các qui định của pháp luật thông

Trang 28

qua thủ tục Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư đối với dự án đầu tư trong nước và dự án có vốn đầu tư nước ngoài Hơn nữa, đối với nhà đầu tư nước ngoài, nhà nước cần phải biết được nguồn vốn họ đem vào nhằm mục gì? Việc sử dụng nguồn vốn đó thông qua hình thức nào? Có phù hợp hay không phù hợp với nền kinh tế Việt Nam đồng thời nhà nước sẽ biết được những dự

án khả thi và không khả thi, cho phép đầu tư hay không cho phép đầu tư Trên

cơ sở đăng ký dự án đầu tư trong nước và dự án có vốn đầu tư nước ngoài nhà nước sẽ đảm bảo cho các chủ đầu tư khi có tranh chấp xảy ra và đảm bảo cho việc giải quyết công khai minh bạch theo thủ tục luật dịnh Ngăn chặn được những rủi ro, đảm bảo quyền bình đẳng cho các chủ đầu tư, đồng thời nhà nước cũng ngăn chặn được tình trạng trốn thuế

Nhìn chung việc Đăng ký dự án đầu tư là để đảm bảo sự quản lý của Nhà nước đối với các dự án đầu tư cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, tránh sự lãng phí thất thoát và kém hiệu quả trong đầu tư, lựa chọn được những dự án có tính khả thi cao, mang lại hiệu quả cao dưới góc độ tài chính kinh tế xã hội Đồng thời, thông qua đó Nhà nước thừa nhận tính hợp pháp của hoạt động đầu tư, từ đó có cơ sở pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, công nghiệp hoá hiện đại hoá phát triển ngày càng mạnh, các công trình dự án xây dựng ở khắp nơi, cùng với các dự án đầu tư có qui mô vốn lớn của các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài… Do đó, việc Đăng ký dự án đầu tư có ý nghĩa hết sức

to lớn, giúp chúng ta nắm bắt được tình hình phát triển của nền kinh tế thông qua các dự án đăng ký đầu tư của các chủ đầu tư, từ đó các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền trong lĩnh vực đầu tư nói riêng và lĩnh vực phát triển kinh tế nói chung sẽ đưa ra được các chiến lược phát triển kinh tế - đầu tư và các chính sách phù hợp đối với từng ngành nghề của lĩnh vực đầu tư, góp phần

Trang 29

đưa đất nước phát triển kinh tế ngày càng vững chắc trong xu hướng hội nhập kinh tế, quốc tế hiện nay

1.2.1.3 Phân loại đăng ký đầu tư

Hiện nay có nhiều cách để phân loại đăng ký đầu tư, đăng ký theo thủ tục tục hành chính, đăng ký theo thủ tục tư pháp, đăng ký theo xuất xứ nguồn vốn…

Việc đăng ký đầu tư theo thủ tục hành chính hay thủ tục tư pháp đều có những

ưu điểm và nhược điểm riêng của nó, thông qua việc xem xét dưới ba khía cạnh đó là hiệu quả kinh tế, thời gian đăng ký dự án đầu tư và tiêu cực có thể phát sinh trong quá trình tiến hành đăng ký

- Đăng ký đầu tư theo thủ tục hành chính

Được tiến hành bởi cơ quan quyền lực nhà nước, thông qua các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư như Chính phủ, Bộ kế hoạch và đầu tư, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

Xét về hiệu quả kinh tế, việc đăng ký theo thủ tục hành chính sẽ tốn kém nhiều bởi chi phí phải lấy từ ngân sách nhà nước để trả lương cho một đội ngũ công chức chuyên làm nhiệm vụ này

Xét về thời gian đăng ký, thì việc đăng ký này mất nhiều thời gian cho

cả cơ quan nhà nước và chủ đầu tư, bởi trình tự thực hiện phải thông qua nhiều giai đoạn Đối với những dự án nhỏ, thời gian đăng ký còn ngắn chứ đối với những dự án có qui mô vốn đầu tư lớn và những dự án thuộc diện phải thẩm tra để cấp giấy chứng nhận đầu tư thì thời gian đăng ký sẽ kéo dài thậm chí đến cả năm

Xét về sự tiêu cực, thì cơ quan hành chính nào cũng vậy, đó là thái độ hạch sách cửa quyền nhũng nhiễu người dân, thậm chí có những đòi hỏi vô lý không phù hợp với những qui định của pháp luật

- Đăng ký theo thủ tục tư pháp

Trang 30

Việc đăng ký theo thủ tục tư pháp không phải thông qua trình tự thủ tục rườm rà như trong các cơ quan hành chính

Hiệu quả kinh tế đỡ tốn kém hơn vì nhà nước không phải trả lương cho một bộ máy công chức cồng kềnh

Thời gian tiến hành đăng ký nhanh, không có tiêu cực như trong cơ quan hành chính

Tuy nhiên, đăng ký theo hình thức này thì cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư rất khó kiểm soát, không nắm bắt được tình hình hoạt động của các dự

án đầu tư dẫn đến nảy sinh tiêu cực của chủ đầu tư, (ví dụ như xin cấp đất để thực hiện dự án nhưng lại không thực hiện mà lại chia nhỏ phân lô bán cho dân)

Hiện nay, Việt Nam, Lào, Campuchia, Singapo đăng ký đầu tư được tiến hành theo thủ tục hành chính

1.2.2 Thẩm tra đầu tư

1.2.2.1 Khái niệm thẩm tra và thẩm định dự án đầu tư

Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt: “ Thẩm định là việc xem xét để xác

định về chất lượng” còn “ Thẩm tra là việc điều tra, tìm hiểu để xem xét lại điều đã kết luận hoặc khai báo trước đó có chính xác hay không”

Trong cuốn Từ điển Luật học: “Thẩm định, xem xét đánh giá và đưa ra kết luận mang tính pháp lý bằng văn bản về một vấn đề nào đó Hoạt động này do tổ chức cá nhân có chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện, việc thẩm định

có thể tiến hành với nhiều đối tượng khác nhau như: thẩm định dự án; thẩm định báo cáo; thẩm định hồ sơ thiết kế; thẩm định đồ án thiết kế qui hoạch xây dựng; thẩm định dự thảo văn bản qui phạm pháp luật…Trình tự thẩm định thông thường gồm các bước: tiếp nhận hồ sơ, phân công thẩm định; Tổ chức nghiên cứu thẩm định; Ký gửi báo cáo thẩm định: Lưu giữ hồ sơ thẩm định”, còn “ Thẩm tra, kiểm tra xem xét các nội dung cơ bản của một vấn đề nào đó

Trang 31

để đi đến tính kết luận và tính đúng đắn tính hợp pháp và tính khả thi Quá trình này do tổ chức cá nhân có thẩm quyền tiến hành theo qui định của pháp luật Việc thẩm tra có thể áp dụng với nhiều đối tượng khác nhau như: thẩm tra thiết kế, thẩm tra dự án luật, thẩm tra luận chứng kinh tế - kỹ thuật, thẩm tra giám định thiết kế ”

Theo giáo trình kinh tế của trường Đại học kinh tế quốc dân thì khái niệm

thẩm định dự án đầu tư được hiểu là: “việc tổ chức xem xét đánh giá một cách

khách quan khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thực hiện và hiệu quả của dự án để từ đó ra quyết định đầu

tư, cho phép đầu tư, hoặc tài trợ vốn cho dự án”[21]

Trước khi ban hành luật đầu tư chung thì trong hệ thống các văn bản pháp luật về đầu tư không dùng thuật ngữ “ Thẩm tra” mà dùng thuật ngữ “ Thẩm định” nhưng từ khi ban hành Luật đầu tư chung 2005 thì trong các văn bản pháp lý liên quan đến đầu tư thì thuật ngữ “ Thẩm tra” thay cho thuật ngữ

“Thẩm định” trước đây

Tại sao lại có sự thay đổi như vậy? Bởi vì,“ thẩm định” sẽ gánh trách nhiệm của cơ quan nhà nước đối với tất cả các dự án thuộc diện phải thẩm định trước khi cấp giấy chứng nhận đầu tư Cơ quan thẩm định yêu cầu chủ đầu tư phải đưa ra tất cả những gì liên quan đến dự án cần thẩm định và chủ đầu tư phải cung cấp đầy đủ những gì mà cơ quan tiến hành thẩm định yêu cầu Kết quả của việc thẩm định dự án đầu tư đúng hay sai thì trách nhiệm sẽ thuộc về cơ quan thẩm định dự án Hơn nữa, việc tiến hành thẩm định đòi hỏi phải chi tiết

và tỉ mỉ Các cơ quan tiến hành thẩm định phải xem xét sự phù hợp của dự án với qui hoạch phát triển kinh tế xã hội, qui hoạch phát triển ngành, qui hoạch xây dựng Xem xét tư cách pháp nhân và năng lực chủ đầu tư như: quyết định thành lập của các doanh nghiệp nhà nước hoặc giấy phép hoạt động đối với các thành phần kinh tế khác; người đại diện chính thức, địa chỉ liên hệ giao

Trang 32

dịch; năng lực kinh doanh; năng lực tài chính Xem xét sự phù hợp của dự án đối với các văn bản pháp qui của nhà nước, các qui định chế độ khuyến khích

ưu đãi Xem xét nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên, khả năng giải phóng mặt bằng…

Mặt khác, đối với công tác thẩm định yêu cầu đội ngũ chuyên môn phải cao tức là: phải nắm được chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương, các qui chế luật pháp về quản lý kinh tế, quản lý đầu tư; hiểu biết

về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án tình hình và trình độ kinh

tế chung của địa phương; biết khai thác số liệu trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp, các thông tin về giá cả thị trường để phân tích hoạt động chung của doanh nghiệp, từ đó có thêm căn cứ vững chắc đề quyết định đầu tư hoặc cho phép đầu tư; biết xác định và kiểm tra các chỉ tiêu kinh tế quan trọng của

dự án

Còn “ thẩm tra” sẽ gắn trách nhiệm cho chủ đầu tư, cơ quan nhà nước sẽ giảm bớt gánh nặng cho mình Việc tiến hành thẩm tra trên cơ sở những gì mà nhà đầu tư đưa ra, kết quả của việc thẩm tra và hoạt động của dự án đầu tư đúng hay sai sẽ do nhà đầu tư chịu trách nhiệm Như vậy nhà đầu tư có quyền

tự do định đoạt hoạt động đầu tư của mình, bởi hơn ai hết chủ đầu tư là người hiểu rõ nhất nội dung hoạt động dự án đầu tư của mình và để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của mình chủ đầu tư sẽ biết những gì cần phải thẩm tra để đảm bảo cho tính khả thi dự án của mình Vì vậy, Luật đầu tư 2005 đã sử dụng thuật ngữ “ thẩm tra” thay cho thuật ngữ “thẩm định” Theo tôi việc dùng

thuật ngữ “thẩm tra” theo như phân tích ở trên là hợp lý hơn

Khái niệm thẩm tra dự án đầu tư có thể hiểu là:“việc điều tra tìm hiểu, để xem

xét lại điều đã kết luận trước đó là đúng hay sai, kiểm tra đánh giá việc thực hiện dự án đầu tư, trên cơ sở đó cơ quan nhà nước quản lý về đầu tư sẽ ra quyết định đầu tư, hay cho phép đầu tư hoặc tài trợ vốn”

Trang 33

1.2.2.2 Vai trò, ý nghĩa của việc Thẩm tra dự án đầu tư

Công tác thẩm tra dự án có vai trò hết sức quan trọng được thể hiện cụ thể như sau:

 Đối với cơ quan nhà nước: giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư đánh giá được tính phù hợp của dự án đối với qui hoạch phát triển chung của ngành, của địa phương và cả nước về mục tiêu, qui mô, qui hoạch và hiệu quả

 Đối với các định chế tài chính: giúp cho các định chế tài chính đưa ra các quyết định chính xác về cho vay hoặc tài trợ cho các dự án đầu tư, nhờ đó mà giảm thiểu rủi ro cho hoạt động tài chính của mình

 Đối với chủ đầu tư: giúp cho chủ đầu tư lựa chọn phương án đầu tư tốt nhất Giúp các nhà đầu tư nhận diện rõ đối tác của mình về năng lực tài chính, về sở trường kinh doanh, về uy tín thương hiệu

Ý nghĩa của công tác thẩm tra là lựa chọn được những dự án đầu tư có tính khả thi cao (có khả năng thực hiện, đem lại hiệu quả và hiệu qủa chắc chắn); loại bỏ được các dự án không khả thi, nhưng không bỏ lỡ mất các cơ hội đầu

tư có lợi

1.3 Qui định về thủ tục đầu tư của một số quốc gia

1.3.1 Luật đầu tư của Singapore

Singapore là một quốc gia hầu như không có tài nguyên thiên nhiên, thêm vào đó là ngành nông nghiệp của đất nước này rất kém phát triển Nhưng bù lại ngành kinh tế dịch vụ của Singapore lại rất phát triển Vì vậy mà Singapore phải nhập khẩu hoàn toàn gạo và các loại thực phẩm và lương thực Bên cạnh đó, công nghiệp chế biến hàng hoá theo hướng phục vụ cho xuất khẩu lại phát triển rất mạnh Singapore là thị trường buôn bán trung gian khá sôi động Ở đây nhiều hàng hoá xuất khẩu của một số nước được nhập vào, sau đó lại được tái xuất sang các nước khác Nước sở tại sẽ nhập hàng hoá với

Trang 34

giá thấp hơn giá thị trường thế giới từ 10 – 20% và sau đó sẽ bán hàng hoá này với giá bình quân của hàng hoá cùng loại trên thị trường thế giới Trong bối cảnh không có tài nguyên để phát triển, những ngành công nghiệp cần nguồn nguyên liệu lớn, Singapore đã chủ trương phát triển một nền kinh tế thị trường hùng mạnh Trong đó nhà nước đảm nhiệm chức năng đào tào cơ sở

hạ tầng, cung cấp các dịch vụ thiết yếu, tạo ra môi trường kinh doanh an toàn,

ổn định và đầy tính hấp dẫn với các nhà đầu tư trong nước cũng như các nhà đầu tư nước ngoài Môi trường pháp lý và thủ tục hành chính ở Singapore được đánh giá rất cao, điểm đặc biệt chính là chính sách thu hút đầu tư nước ngoài được Singapore chú trọng đặc biệt thể hiện ở việc Nhà nước này đã ban hành một loạt các chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài Singapore là nước đầu tiên áp dụng chung một chính sách đầu tư trong nước và nước ngoài, các quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài được điều chỉnh trong cùng một luật kinh doanh với các quan hệ đầu tư trong nước Các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào vào Singapore sẽ được đối xử như những nhà đầu tư trong nước Điều này tạo ra mặt bằng bình đẳng cho các nhà đầu tư, (tuy nhiên quốc gia này vẫn có một số hạn chế với quan hệ đầu tư nước ngoài, ví

dụ như một số hạn chế về ngành nghề đầu tư) Các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào Singapore sẽ quyết định thành lập loại hình cơ sở kinh doanh nào để thực hiện dự án đầu tư Dưới sự điều chỉnh của Luật đăng ký kinh doanh Singapore, các chủ đầu tư tiến hành đăng ký kinh doanh cho cơ sở của mình Sau khi đăng ký kinh doanh, mỗi loại hình kinh doanh sẽ chịu sự điều chỉnh của một luật thích hợp, ví dụ như: nếu cơ sở kinh doanh đó là công

ty hợp doanh thì sẽ do Luật Hợp danh điều chỉnh; nếu cơ sở kinh doanh đó là công ty thì sẽ do Luật công ty Singapore điều chỉnh Như vậy tất cả các nhà đầu tư khi đầu tư đều phải thông qua thủ tục đăng ký kinh doanh

Trang 35

Cơ quan quản lý đầu tư của Singapore là Uỷ ban phát triển kinh tế, có chức năng giải quyết tất cả những vấn đề liên quan đến đầu tư Cơ quan này

có thẩm quyền đánh giá đơn xin ưu đãi đầu tư, cung cấp các thông tin cho nhà đầu tư…là cơ quan đầu mối liên hệ của các nhà đầu tư nước ngoài với chính quyền nước sở tại Có thể nói Singapore là một trong những nước đầu tiên trong khu vực thực hiện quản lý đầu tư nước ngoài bằng một cơ quan duy nhất hoạt động với nguyên tắc “một cửa”, điều này tạo ra sự đơn giản gọn nhẹ trong quá trình quản lý đầu tư, đồng thời cũng giúp cho nhà đầu tư nước ngoài

dễ dàng giải quyết mọi vấn đề liên quan đến đầu tư một cách nhanh chóng thuận tiện Như vậy, thay vì quản lý đầu tư bằng các cơ quan khác nhau ở các địa phương khác nhau trên lãnh thổ, Singapore đã tập trung sự quản lý vào Uỷ ban phát triển kinh tế Uỷ ban này với chức năng đa dạng của nó được chia thành những bộ phận nhỏ với từng nhiệm vụ cụ thể riêng biệt Từng bộ phận

có chuyên gia quản lý về một mặt riêng trong số những vấn đề liên quan đến đầu tư Tuy nhiên Uỷ ban này không có chức năng cấp đăng ký kinh doanh vì Singapore áp dụng một Luật đăng ký kinh doanh chung cho tất cả các cơ sở đăng ký kinh doanh không phân biệt vốn trong nước hay nước ngoài Vì vậy các nhà đầu tư vẫn phải tiến hành đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh chung Sau khi được cấp đăng ký kinh doanh, các vấn đề liên quan sẽ được giải quyết tại Uỷ ban phát triển kinh tế

1.3.2 Qui định về thủ tục hoạt động đầu tư của Trung quốc

Khác với Việt Nam, Trung quốc đã không ban hành đạo luật chung qui định về đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Trung quốc mà có sự điều chỉnh riêng biệt đối với hoạt động đầu tư nước ngoài Khung pháp luật cho đầu tư nước ngoài gồm: Hiến pháp, các Luật, các văn bản hướng dẫn luật, các Bộ có thẩm quyền như Bộ xây dựng, Bộ thương mại và các chính sách về đầu tư nước ngoài của cả chính quyền trung ương và địa phương

Trang 36

Thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài vào Trung quốc được qui định trong các văn bản khác nhau và do nhiều

cơ quan có thẩm quyền xem xét và thẩm định hồ sơ

Nhìn chung, để đầu tư vào Trung quốc theo hình thức thành lập liên doanh góp vốn, liên doanh theo hợp đồng hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì nhà đầu tư nước ngoài hoặc các bên liên doanh phải gửi các tài liệu như: Điều lệ doanh nghiệp, đơn xin cấp giấy phép đầu tư, hợp đồng liên doanh đến Bộ ngoại thương và hợp tác kinh tế hoặc các cơ quan Trung ương hoặc cơ quan chính quyền cấp tỉnh được quốc vụ viện uỷ quyền để các cơ quan này xem xét có cấp giấy phép đầu tư hoặc không

Theo pháp luật hiện hành của Trung quốc, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép cho các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Trung quốc bao gồm:

- Uỷ ban kế hoạch phát triển Nhà nước, Uỷ ban thương mại và kinh tế Nhà nước, Bộ ngoại thương và hợp tác kinh tế có trách nhiệm xem xét và cấp giấy phép đầu tư cho các dự án có tổng vốn nước ngoài dưới 30 triệu USD trở lên hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp và các dự án khác đòi hỏi phải được

cơ quan thuộc Quốc vụ viện cấp giấy phép đầu tư;

- Cơ quan chính quyền cấp tỉnh, khu tự trị, các thành phố tự trị cấp giấy phép cho các dự án có tổng vốn nước ngoài dưới 30 triêu USD và không nằm trong khu vực bị hạn chế đầu tư Đối với các dự án có tổng vốn đầu tư nước ngoài dưới 30 triệu USD thuộc lĩnh vực bị hạn chế phải nộp hồ sơ lên văn phòng Quốc hội Các dự án liên quan đến cấp hạn ngạch thì phải nộp hồ sơ đến Bộ ngoại thương và hợp tác kinh tế sau khi nhận được giấy phép đầu tư, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được giấy phép đầu tư nhà đầu tư nước ngoài phải tiến hành đăng ký kinh doanh tại Cục quản lý công thương Nhà nước

Trang 37

1.3.3 Qui định về thủ tục đầu tư của Lào

Thủ tục xin đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư có mục đích đầu tư trong ngành kinh tế qui định tại Điều 9 và Điều 10 của Luật khuyến khích đầu

tư trong nước, phải làm đơn theo mẫu in của Uỷ ban khuyến khích và quản lý đầu tư kèm theo các tài liệu như: bản sao sổ hộ khẩu, lý lịch trích ngang của nhà đầu tư, bản thoả thuận kinh tế công nghệ hoặc kế hoạch hoạt động kinh doanh, thông tin về kinh doanh nếu là doanh nghiệp, hợp đồng hợp tác đầu tư trong trường hợp hợp danh rồi gửi lên Uỷ ban khuyến khích đầu tư xem xét, đồng thời nộp đơn xin đầu tư lên Bộ thương mại

Sau khi nhận được đơn và hồ sơ, Uỷ ban khuyến khích và đầu tư trong nước,

Bộ thương mại xem xét, đánh giá và trả lời bằng cách ký với nhà đầu tư trong thời hạn như sau:

-Đối với hoạt động kinh doanh liên quan đến việc hưởng quyền Uỷ ban khuyến khích đầu tư phải có thông báo không quá 30 ngày, còn hoạt động kinh doanh khác không quá 20 ngày

- Nhà đầu tư trong nước đã nộp đơn tới Uỷ ban khuyến khích đầu tư trong nước nếu đủ điều kiện sẽ được cấp giấy chứnh nhận đầu tư, giấy đăng

ký kinh doanh và đăng ký thuế tại đây

- Nhà đầu tư trong nước đã nộp đơn lên Bộ thương mại nếu đủ điều kiện

sẽ được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế tại Bộ thương mại, sau đó sẽ được coi là doanh nghiệp hợp pháp, trong vòng 90 ngày doanh ngiệp phải tiến hành hoạt động đầu tư của mình, nếu không thực hiện và không có lý do chính đáng thì giấy chứng nhận sẽ bị huỷ bỏ

Thủ tục đầu tư nước ngoài phức tạp hơn, theo qui định đơn xin đầu tư gồm hai loại:

- Đơn xin đầu tư trong biên lai kinh doanh khuyến khích hoặc dự án không liên quan đến việc xin nhượng quyền của Cộng hoà dân chủ nhân dân

Trang 38

Lào hoặc quyền liên quan đến tài nguyên thiên nhiên nhưng không có ảnh hưởng đến môi trường, sức khoẻ và văn hoá của đất nước

- Đơn xin đầu tư trong biên lai kinh doanh mở nhưng phải có điều kiện hoặc dự án liên quan với việc xin nhượng quyền của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào hoặc quyền liên quan đến tài nguyên thiên nhiên nhưng không có ảnh hưởng đến môi trường sức khoẻ và văn hoá của đất nước

Trong việc lập đơn xin đầu tư dựa theo mục đích của nhà đầu tư phải bao gồm những tài liệu sau:

+ Đơn xin đầu tư

+ Nội qui công ty

+ Hợp đồng kinh doanh (đối với doanh nghiệp hợp doanh)

+ Bản thoả thuận kinh tế công nghệ hoặc kế hoach hoạt động kinh doanh

+ Tài liệu chứng nhận tổ chức hoặc hoàn cảnh tài chính

Đơn và các tài liệu phải nộp cho Bộ khuyến khích đầu tư kiểm tra, Bộ khuyến khích đầu tư sẽ cấp giấy chứng nhận tính chính xác của các tài liệu cho nhà đầu tư trong thời hạn 3 ngày Sau đó nhà đầu tư gửi đơn xin Bộ nghiên cứu xem xét để tiến hành trong các bước tiếp theo của hoạt động đầu tư.[10]

Trang 39

Kết luận chương 1

Đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng và không thể thiếu trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế là chìa khoá của sự thành công trong quá trình phát triền nền kinh tế xã hội, đặc biệt trong công cuôc cách mạng công nghiệp hoá hiện đại hoá và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ

Để thu hút hoạt động đầu tư trong nước và ngoài nước, góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước thì môi trường đầu tư phải thực sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong đó chính sách pháp luật về đầu tư sẽ thể hiện được sự thu hút hay cản trở các nhà đầu tư Bởi vì, khi tiến hành các hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư phải hoạt động trong một không gian và thời gian địa điểm cụ thể, mà ở đó có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, chi phối hoạt động đầu tư trong đó có một yếu tố hết sức quan trọng đó chính là pháp luật

về đầu tư

Pháp luật về đầu tư của Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn hình thành

và phát triển Từ sự tách bạch điều chỉnh giữa hoạt động đầu tư trong nước với hoạt động đầu tư nước ngoài đến sự thống nhất điều chỉnh hoạt động đầu

tư nói chung không phân biệt nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài, đã tạo sự bình đẳng cho các nhà đầu tư đặc biệt là sự yên tâm của các nhà đầu tư nước ngoài được thể hiện cụ thể trong Luật đầu tư 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành như:

+ Trình tự thủ tục Đăng ký và Thẩm tra dự án đầu tư đã được qui định thống nhất, áp dụng chung cho hoạt động đầu tư trong nước, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

Trang 40

+ Thủ tục đầu tư đã được qui định tại Chương VI Luật đầu tư 2005, với mục đích nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách hành chính trong quản lý đầu tư theo hướng mở rộng phân cấp và đơn giản hoá thủ tục, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận tiện cho nhà đầu tư, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả và thống nhất trong quản lý Nhà nước về hoạt động đầu tư

Ngày đăng: 10/07/2015, 12:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ kế hoạch và đầu tư Việt Nam năm (2003), Tài liệu tham khảo về luật pháp và chính sách của các nước đối với đầu tư nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo về luật pháp và chính sách của các nước đối với đầu tư nước ngoài
Tác giả: Bộ kế hoạch và đầu tư Việt Nam năm
Năm: 2003
3. Bộ xây dựng và Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh (2008), “Hoàn thiện cơ chế chính sách và cải cách thủ tục hành chính đối với dự án kinh doanh bất động sản”, Báo tuổi trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế chính sách và cải cách thủ tục hành chính đối với dự án kinh doanh bất động sản”
Tác giả: Bộ xây dựng và Hiệp hội Bất động sản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
4. Nguyễn Cường (2008) “ Pháp luật đầu tư nước ngoài trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (số 4), tr. 9-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật đầu tư nước ngoài trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam”, "Tạp chí Kinh tế và Dự báo
6. Chính phủ (2006), Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật đầu tư 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật đầu tư 2005
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
7. Chính phủ (2006), Nghị định 78/2006/NĐ-CP ban hành ngày 9/8/2006 qui định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 78/2006/NĐ-CP ban hành ngày 9/8/2006 qui định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
8. Chính phủ (2006), Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP về một số giải pháp xử lý vướng mắc trong hoạt động đầu tư xây dựng và cải cách một số thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 59/2007/NQ-CP về một số giải pháp xử lý vướng mắc trong hoạt động đầu tư xây dựng và cải cách một số thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
9. Đình Dũng (2010), “Doanh nghiệp than phiền về thủ tục đầu tư khó khăn”, Thời báo kinh tế Sài gòn, tr. 4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp than phiền về thủ tục đầu tư khó khăn”, "Thời báo kinh tế Sài gòn
Tác giả: Đình Dũng
Năm: 2010
10. Nguyễn Văn Đạt (2009), Tìm hiểu Luật đầu tư việt nam dưới góc độ so sánh với Luật đầu tư của Lào, tr.19-23, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường đại học Luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Luật đầu tư việt nam dưới góc độ so sánh với Luật đầu tư của Lào
Tác giả: Nguyễn Văn Đạt
Năm: 2009
12. Quang Hưng (2009), “ Hà Nội bất cập từ những dự án thiếu tập trung”, Báo dân chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội bất cập từ những dự án thiếu tập trung”
Tác giả: Quang Hưng
Năm: 2009
13. Định Hương (2008), “ Tác động của đầu tư nước ngoài đến phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (số 4), trang 6-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đầu tư nước ngoài đến phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam”, "Tạp chí Kinh tế và Dự báo
Tác giả: Định Hương
Năm: 2008
14. Việt Hưng (2008), “ Đầu tư nước ngoài 2008, tiếp tục khởi sắc”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (số 3), tr. 19-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư nước ngoài 2008, tiếp tục khởi sắc”, "Tạp chí Kinh tế và Dự báo
Tác giả: Việt Hưng
Năm: 2008
15. Trần Vũ Hải (2009), “Luật đầu tư để khuyến khích đầu tư hay để phục vụ cho cơ quan quản lý đầu tư”, Báo dân chủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tư để khuyến khích đầu tư hay để phục vụ cho cơ quan quản lý đầu tư”
Tác giả: Trần Vũ Hải
Năm: 2009
16. Tuyết Hương (2009), “Thủ tục đầu tư sẽ một cửa, một giấy”, Báo đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục đầu tư sẽ một cửa, một giấy
Tác giả: Tuyết Hương
Năm: 2009
17. Cao bá Khoát (2006), “ Luật đầu tư gặm nhấm Luật doanh nghiệp”, Báo đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tư gặm nhấm Luật doanh nghiệp”
Tác giả: Cao bá Khoát
Năm: 2006
18. Vũ Chí Lộc (1997), Giáo trình Đầu tư nước ngoài, tr.113-121, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đầu tư nước ngoài
Tác giả: Vũ Chí Lộc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
19. Hồ Quang Minh (2008), “ Nguồn lực nước ngoài góp phần tạo lập cho sự phát triển bền vững”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (số 3), tr.19-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực nước ngoài góp phần tạo lập cho sự phát triển bền vững”, "Tạp chí Kinh tế và Dự báo (
Tác giả: Hồ Quang Minh
Năm: 2008
20. Phùng Xuân Nhạ (1997), Giáo trình Đầu tư quốc tế, tr.123-125, NXB Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đầu tư quốc tế
Tác giả: Phùng Xuân Nhạ
Nhà XB: NXB Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 1997
21. Nguyễn Bạch Nguyệt, (2007), Giáo trình Kinh tế đầu tư, tr. 25-28, Trường Đại học kinh tế quốc dân, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế đầu tư
Tác giả: Nguyễn Bạch Nguyệt
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2007
22. Nguyễn Minh Phong (2010) “ Để thu hút đầu tư nhiều hơn”, Tạp chí Đầu tư Nước ngoài (số 44), tr. 46-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để thu hút đầu tư nhiều hơn”, "Tạp chí Đầu tư Nước ngoài (
24. Quốc hội (2005), Luật đầu tư 2005 do Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tư 2005 do Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Hồ sơ đăng ký đối với nhà đầu tư trong nước [39] - Thủ tục đăng ký và thẩm tra dự án đầu tư theo pháp luật đầu tư ở Việt Nam
Bảng 2.1 Hồ sơ đăng ký đối với nhà đầu tư trong nước [39] (Trang 47)
Bảng 2.2: Hồ sơ đăng ký đối với nhà đầu tư nước ngoài [39] - Thủ tục đăng ký và thẩm tra dự án đầu tư theo pháp luật đầu tư ở Việt Nam
Bảng 2.2 Hồ sơ đăng ký đối với nhà đầu tư nước ngoài [39] (Trang 48)
Bảng 2.3: Hồ sơ thẩm tra dự án đầu tư [39] - Thủ tục đăng ký và thẩm tra dự án đầu tư theo pháp luật đầu tư ở Việt Nam
Bảng 2.3 Hồ sơ thẩm tra dự án đầu tư [39] (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w