1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự theo pháp luật hiện hành

129 490 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 836,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm thứ hai: Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đã đưa ra khái niệm như sau: “Giám đốc thẩm dân sự là thủ tục tố tụng đặc biệt mà Tòa án có thẩ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

CHU THỊ HỒNG NHUNG

THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

CHU THỊ HỒNG NHUNG

THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số : 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học:TS TRẦN ANH TUẤN

Hà Nội – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và trích dẫn trong Luận văn là chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 25 tháng 9 năm 2015

Tác giả luận văn

Chu Thị Hồng Nhung

Trang 4

giám đốc thẩm dân sự

25

1.2.1 Việc xây dựng các quy định về giám đốc thẩm dân sự xuất

phát từ yêu cầu cải cách tư pháp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp

pháp của đương sự, bảo vệ công lý

25

1.2.2 Việc xây dựng các quy định về giám đốc thẩm dân sự được

thực hiện trên cơ sở xác định bản chất của những sai lầm, vi

phạm của các chủ thể trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

27

1.2.3 Cơ sở xây dựng các quy định về giám đốc thẩm dân sự xuất

phát từ nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử, nguyên tắc

giám đốc việc xét xử và quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm

29

1.3 Lược sử hình thành và phát triển các quy định về thủ tục giám

đốc thẩm vụ án dân sự ở Việt Nam

31

1.3.1 Từ năm 1945 đến năm 1989 31 1.3.2 Từ năm 1989 đến năm 2004 37 1.3.3 Từ năm 2004 đến nay 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trang 5

lực pháp luật của Tòa án

2.1.2 Đề nghị giám đốc thẩm và thủ tục xét đơn 45 2.2 Quy định về kháng nghị giám đốc thẩm 47 2.2.1 Chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm 47 2.2.2 Đối tượng kháng nghị giám đốc thẩm 48 2.2.3 Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm 49 2.2.4 Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm 57 2.2.5 Phạm vi kháng nghị giám đốc thẩm 59 2.2.6 Trình tự, thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm 60 2.3 Quy định về xét xử giám đốc thẩm 65 2.3.1 Thẩm quyền giám đốc thẩm dân sự 65 2.3.2 Chuẩn bị mở phiên tòa giám đốc thẩm 67 2.3.3 Người tiến hành tố tụng và người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm 69 2.3.4 Thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm 75 2.3.5 Phạm vi giám đốc thẩm 77 2.3.6 Quyền hạn của Hội đồng giám đốc thẩm 78 2.3.7 Quyết định giám đốc thẩm 82

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ KIẾN NGHỊ

NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA THỦ TỤC GIÁM

Trang 6

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử là một trong những nguyên tắc chủ đạo được ghi nhận tại Điều 17 BLTTDS Việt Nam năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 (gọi tắt là BLTTDS sửa đổi năm 2011), theo đó hoạt động xét xử gồm hai cấp: cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm Việc ghi nhận nguyên tắc này với mục đích nhằm hạn chế hoặc khắc phục những sai sót trong quá trình xét xử vụ án, đảm bảo cho hoạt động xét xử được đúng đắn, khách quan, toàn diện, cũng đồng nghĩa với việc đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy nhiên, nhiều vụ án dù đã trải qua hai cấp xét xử nhưng vẫn có những sai lầm hoặc vi phạm pháp luật làm tổn hại tới quyền lợi hợp pháp của đương sự Điều này có thể xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan, bởi lẽ xét xử về bản chất là hoạt động xác định bản chất sự việc và áp dụng quy định pháp luật của cá nhân Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân nhân danh Nhà nước để giải quyết vụ án, do

đó vẫn có thể có những sai lầm, thiếu sót Chính vì vậy, pháp luật tố tụng dân

sự đã ghi nhận một loại thủ tục đặc biệt - thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự nhằm sửa chữa, khắc phục những sai lầm, thiếu sót xảy ra trong hoạt động xét

xử Trên thế giới hiện nay, nhiều quốc gia đã có những quy định rất tiến bộ về thủ tục giám đốc thẩm và thực tiễn thi hành đã chứng minh hiệu quả của thủ tục tố tụng đặc biệt này Tuy nhiên, ở Việt Nam trong thực tiễn hiện nay, tình hình khiếu nại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của người dân ngày một tăng Công tác giải quyết đơn khiếu nại của Toà án các cấp cũng gặp nhiều vấn đề vướng mắc, phức tạp và quá tải, nhiều vụ án kéo dài nên chưa đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, gây bức xúc trong dư luận Sau 10 năm thi hành BLTTDS năm 2004 (được sửa đổi năm 2011) cho thấy các quy định về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự của

Trang 8

chúng ta chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội về việc giải quyết các vụ án dân sự Chính những hạn chế, thiếu sót của các quy định về thủ tục giám đốc thẩm trong BLTTDS sửa đổi năm 2011 đã dẫn tới những vướng mắc, khó khăn trong quá trình giải quyết và giảm hiệu quả công tác giám đốc thẩm vụ án dân sự của ngành Toà án Như vậy, thực tế xã hội hiện nay đã đặt ra một nhu cầu cấp thiết, đòi hỏi các nhà lập pháp phải nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện các quy định chưa rõ ràng, chưa phù hợp về thủ tục giám đốc thẩm khiến công tác thực hiện trên thực tế còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập Trong quá trình sửa đổi, chúng ta cũng cần học hỏi những kinh nghiệm quý báu của các nước có nền lập pháp tiên tiến để hoàn thiện pháp luật Việt

Nam về vấn đề này Vì những lý do trên, học viên đã chọn đề tài “Thủ tục

giám đốc thẩm vụ án dân sự theo pháp luật hiện hành” để thực hiện luận

văn tốt nghiệp của mình

- Trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự ra đời có một số công trình nghiên cứu về thủ tục giám đốc thẩm sau đây:

+ Cuốn sách về “Tìm hiểu các quy định của pháp luật về thủ tục giám

đốc thẩm vụ án dân sự”của tác giả Dương Thị Thanh Mai do Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia năm 2000 ấn hành Trong tác phẩm này, tác giả đã giải quyết một số vấn đề về khái niệm, sự hình thành thủ tục giám đốc thẩm, thực trạng giải quyết án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị

Trang 9

+ Cuốn sách về “Một số suy nghĩ về cơ chế xét xử vụ án dân sự” của

Tiến sĩ Lê Thu Hà, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2003 Tác giả đã nghiên cứu tổng thể các cấp xét xử của Toà án các cấp bao gồm cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm và thủ tục xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài rộng nên tác giả chưa tập trung nghiên cứu chuyên sâu về thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định dân

sự đã có hiệu lực pháp luật Ngoài ra, do công trình này được tiến hành trước năm 2004 nên chưa có điều kiện phân tích, luận giải về các quy định của BLTTDS sửa đổi năm 2011

+ Bài viết “Thủ tục giám đốc thẩm trong dự thảo Bộ luật tố tụng dân

sự” của tác giả Hoàng Văn Minh trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 03,

tháng 03/2004 đã đóng góp ý kiến về việc có nên quy định đơn đề nghị và thời hạn gửi đơn đề nghị giám đốc thẩm của đương sự là bắt buộc hay không, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm như thế nào

Các công trình trên được thực hiện trước năm 2004 nên nhiều thực trạng, kiến nghị và giải pháp đưa ra đã được tiếp thu và chỉnh lý trong BLTTDS 2004 (sửa đổi năm 2011) Hơn nữa, với tình hình kinh tế - xã hội thay đổi nhanh chóng như hiện nay, những vấn đề mà các tác giả luận giải và

đề xuấtđã không còn phù hợp nên cần được tiếp tục tập trung nghiên cứu thêm

- Sau khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này như:

+ Luận án “Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu

lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam” của tiến sĩ Đào Xuân

Tiến, Luận án tiến sĩ Luật học năm 2009 Tác giả đã đưa ra khái niệm về thủ tục xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự, phân tích pháp luật tố tụng kinh tế, dân sự, thực trạng áp

Trang 10

dụng của Toà án và một số giải pháp nhằm hoàn thiện thủ tục xét lại bản án, quyết định về kinh tế, dân sự của Toà án

+ Luận án “Giám đốc thẩm dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực

tiễn” của tiến sĩ Mai Ngọc Dương, Luận án tiến sĩ Luật học năm 2010 Luận

án giải quyết một số vấn đề lý luận về giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự và nêu lên thực trạng công tác giám đốc thẩm của ngành Toà án Từ đó, tác giả

đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về phần quy định giám đốc thẩm

+ Luận văn “Hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự”

của thạc sĩ Hà Hoàng Hiệp, Luận văn thạc sĩ năm 2007 Luận văn tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt lý luận một số nội dung cơ bản của thủ tục giám đốc thẩm, trên cơ sở có tiếp thu chọn lọc kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

+ Đề tài khoa học cấp Bộ “Thực trạng giải quyết đơn đề nghị giám đốc

thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân tối cao” do tiến sĩ Nguyễn Huy Du làm

chủ nhiệm đề tài của TANDTC năm 2012

Ngoài ra, còn có một số chuyên đề, bài viết của các tác giả đăng trong

các sách, báo, tạp chí chuyên ngành như bài “Chế định giám đốc thẩm, tái

thẩm và những vấn đề đặt ra trong việc thi hành” của tác giả Trần Anh Tuấn

đăng trên Tạp chí Luật học số Đặc san về tố tụng dân sự năm 2005; bài “Một

số vấn đề liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung Điều 285, Điều 288 BLTTDS”

của tác giả Hà Tĩnh - Tạp chí TAND kỳ 1 tháng 9 năm 2010; bài “Một số ý

kiến đối với Dự thảo Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004”

của tác giả Nguyễn Như Bích đăng trên Tạp chí TAND kỳ 1 tháng 9 năm

2010; bài “Một số vấn đề về thủ tục giám đốc thẩm” của tác giả Nguyễn

Quang Hiền đăng trên Tạp chí TAND kỳ 1 tháng 4 năm 2009 Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đây được thực hiện trước khi Luật sửa đổi, bổ

Trang 11

sung một số điều của BLTTDS năm 2004 có hiệu lực thi hành, do đó việc nghiên cứu về đề tài này vẫn rất cần thiết và hữu dụng

- Sau khi BLTTDS được sửa đổi năm 2011 cũng đã có công trình nghiên cứu về vấn đề này như Luận văn “Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam” của thạc sĩ Hà Thị Thúy Hà, luận văn thạc sĩ năm 2012, bài “Bàn

về Dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn Điều 284b Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011” của tác giả Nguyễn Hồng Nam đăng trên Tạp chí

TAND tháng 5 năm 2012 (kỳ 2) và tháng 6 năm 2012 (kỳ 1); chuyên đề “Thủ

tục giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự và thủ tục xem xét lại các quyết định của Hội đồng thẩm phán TANDTC” của tác giả Trần Anh Tuấn trong cuốn Bình

luận khoa học BLTTDS sửa đổi năm 2011 Tuy nhiên, thực tiễn giám đốc thẩm dân sự trong những năm qua và thực tiễn sửa đổi BLTTDS sửa đổi hiện nay (2015) theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 cũng đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi cần phải có sự nghiên cứu và đề

xuất giải pháp cho phù hợp với tình hình mới

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống những quy định của pháp luật

tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự, đồng thời tìm hiểu, nghiên cứu pháp luật một số nước trên thế giới để có sự so sánh, đối chiếu về vấn đề này Từ đó, phân tích, luận giải để đánh giá những điểm tích cực, những hạn chế trong các quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục giám đốc thẩm, tìm kiếm giải pháp cho Việt Nam từ nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế Ngoài ra, Luận văn cũng nghiên cứu thực tiễn áp dụng thủ tục giám đốc thẩm dân sự tại Tòa án nhằm làm rõ những bất cập, hạn chế của pháp luật hiện hành về vấn đề này, luận giải và tìm kiếm giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục giám đốc thẩm dân sự từ góc độ thực tiễn

Trang 12

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề đặt ra, luận văn nghiên cứu pháp luật tố tụng dân

sự Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới về thủ tục giám đốc thẩm Việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam về thủ tục giám đốc thẩm chủ yếu tập trung vào các quy định hiện hành, còn việc nghiên cứu lược sử pháp luật Việt Nam về thủ tục giám đốc thẩm dân sự cũng chỉ được giới hạn đối với những quy định từ năm 1945 đến nay Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu, đánh giá thực trạng và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự tại Tòa án Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ luật học, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào thực tiễn giám đốc thẩm dân sự trong khoảng thời gian 05 năm gần đây, cụ thể là từ năm 2010 đến năm 2014

5 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những vấn đề cụ thể sau:

- Phân tích một số vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục giám đốc thẩm vụ

án dân sự trong tố tụng dân sự

- Tập trung nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự của một số nước cụ thể trên thế giới về vấn đề này Bên cạnh đó, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự Từ

đó, so sánh, đối chiếu nhằm tìm ra những điểm tiến bộ, tích cực trong pháp luật nước ngoài mà Việt Nam cần học tập trong quá trình hoàn thiện các quy định về thủ tục giám đốc thẩm tại Việt Nam

- Đánh giá thực trạng của pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề đang nghiên cứu, những mặt hạn chế, tồn tại của quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giám đốc thẩm vụ án dân sự Đồng thời tìm ra và phân tích nguyên nhân của những thực trạng, bất cập nêu trên

Trang 13

- Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, Luận vănđưa ra những giải pháp, kiến nghị phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh xã hội nhằm hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự ở Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Triết học Mác- Lênin về Nhà nước pháp quyền, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Ngoài ra các phương pháp nghiên cứu khoa học khác cũng được sử dụng như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu so sánh, phương pháp thống kê và phương pháp lịch sử

7 Những đóng góp của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ bản chất, các vấn đề lý luận cơ bản của thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật, trong đó có những vấn đề như: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, lịch sử hình thành và phát triển Bên cạnh đó, luận văn đưa ra những phân tích và đánh giá

về thực trạng các quy định pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam, đồng thời nghiên cứu so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút

ra bài học kinh nghiệm phù hợp với tình hình kinh tế xã hội Việt Nam Luận văn cũng đánh giá được thực trạng áp dụng thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân

sự trong những năm qua, làm rõ được những mặt còn tồn tại, nguyên nhân và

đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thủ tục tố tụng này trong pháp luật Việt Nam

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Khái quát về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự

Trang 14

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự

Chương 3: Thực tiễn thực hiện thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự và kiến nghị

Trang 15

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thủ tục giám đốc thẩm vụ

án dân sự

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự

Ở Việt Nam hiện nay, việc xét xử các vụ án dân sự được tiến hành theo nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử Điều này được hiểu là một vụ án dân sự có thể được xét xử qua cả hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm Khi vụ án được xét xử sơ thẩm, bản án chưa có hiệu lực pháp luật ngay, trong thời hạn luật định nếu thấy bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với thực tế khách quan hoặc đúng pháp luật thì, các đương sự có quyền kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Việc ghi nhận nguyên tắc này nhằm mục đích đảm bảo tính đúng đắn và tuân theo pháp luật của hoạt động xét xử, qua đó bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tuy nhiên, hết thời hạn luật định, nếu bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm thì đương nhiên có hiệu lực pháp luật, trong khi đó khác với cấp sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có tính chất chung thẩm và được thi hành ngay

Từ thực tiễn xét xử của ngành Tòa án trong nhiều năm đã chứng minh một thực tế rằng nhiều vụ án, kể cả những vụ đã qua hai cấp xét xử và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn phát hiện có những sai lầm trong quá trình giải quyết làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Vì vậy, cần thiết phải xây dựng một cơ chế để kiểm tra, giám đốc việc xét xử của Tòa án nhằm khắc phục tình trạng nói trên Thủ tục giám đốc thẩm dân sự là một thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự do Tòa án có thẩm quyền thực hiện để xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp

Trang 16

luật bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm hoặc vi phạm pháp luật trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án Giám đốc thẩm dân sự không phải là một cấp xét xử thứ ba và khác biệt với tái thẩm dân sự ở căn cứ kháng nghị Theo đó, kháng nghị giám đốc thẩm được tiến hành trên cơ sở phát hiện những sai lầm,

vi phạm của Tòa án, trong khi đó kháng nghị tái thẩm được dựa trên việc phát hiện những tình tiết làm thay đổi về cơ bản nội dung vụ án

Đến thời điểm hiện tại, do cách tiếp cận khác nhau nên cũng có nhiều quan điểm khác nhau về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự Có thể nêu ra đây một số quan điểm tiêu biểu như sau:

Quan điểm thứ nhất: Dựa vào đối tượng, căn cứ của việc xét lại bản án,

quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra khái niệm như sau: “Giám đốc thẩm dân sự là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong giải quyết vụ án” [36, tr.325] Quan điểm này về cơ bản đã thể hiện được tính chất của thủ tục giám đốc thẩm, nhưng chưa xác định rõ giám đốc thẩm là một loại thủ tục tố tụng đặc biệt, mà không phải là một cấp xét xử thứ ba

Quan điểm thứ hai: Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Khoa Luật – Đại

học Quốc gia Hà Nội đã đưa ra khái niệm như sau: “Giám đốc thẩm dân sự là thủ tục tố tụng đặc biệt mà Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị do phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ việc dân sự.” [37, tr.303] Quan điểm này về cơ bản đã làm rõ được tính chất, đặc điểm của thủ tục giám đốc thẩm Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ “Tòa án” trong khái niệm này dễ gây nhầm lẫn, người đọc không thể xác định Tòa án có thẩm quyền và Tòa án ra bản án, quyết định bị kháng nghị là một hay là hai Tòa án cấp khác nhau

Trang 17

Quan điểm thứ ba: Căn cứ vào mục đích của việc xét lại bản án, quyết

định theo thủ tục giám đốc thẩm, trong Luận án tiến sĩ của mình về “Thủ tục

xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự ở Việt Nam”, tác giả Đào Xuân Tiến đã cho rằng: “Thủ tục xét

lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là thủ tục đặc biệt nhằm kiểm tra, xem xét, xác định bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được xét xử đúng pháp luật và xét xử lại đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm nghiêm trọng hoặc

có tình tiết mới làm thay đổi nội dung hoặc kết quả giải quyết vụ án” [34, tr.20] Với quan điểm này, tác giả Đào Xuân Tiến đã khẳng định thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (trong đó bao gồm thủ tục giám đốc thẩm) là loại thủ tục tố tụng đặc biệt, qua đó đã gián tiếp phân biệt với thủ tục xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án dân sự Tòa án có thẩm quyền tiến hành thủ tục đặc biệt này nhằm hai mục đích: thứ nhất là để kiểm tra, xem xét tính đúng đắn của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; thứ hai là

để xét xử lại đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng có sai lầm nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làm thay đổi nội dung, kết quả giải quyết vụ án Như vậy, thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nói chung và thủ tục giám đốc thẩm nói riêng được hiểu theo nghĩa rộng hơn, trong đó bao gồm cả hoạt động giám đốc việc xét xử Tuy nhiên, khái niệm trên lại không đề cập đến căn cứ để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật là phải dựa trên kháng nghị của người có thẩm quyền theo quy định pháp luật

Quan điểm thứ tư: Dựa vào mục đích, căn cứ và đối tượng của việc xét

lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm,

tiến sĩ Khuất Văn Nga với bài viết “Thủ tục giám đốc thẩm trong Bộ luật Tố

tụng dân sự” đã đưa ra khái niệm như sau: “Thủ tục giám đốc thẩm là một

Trang 18

trình tự đặc biệt của tố tụng tư pháp nhằm xét lại những bản án và quyết định

đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có vi phạm ở mức độ nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án”[16] Theo quan điểm này, giám đốc thẩm cũng được khẳng định là một trình tự tố tụng đặc biệt, được tiến hành dựa trên

sự kháng nghị của những người có thẩm quyền nhằm mục đích xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Đồng thời, khái niệm này đã chi tiết hơn khi đưa ra căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm là các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng có vi phạm ở mức độ nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án

Từ những phân tích trên đây có thể rút ra khái niệm về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự như sau:

Thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự là một trình tự tố tụng đặc biệt được tiến hành trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền nhằm xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

Nhìn chung, các quan điểm về thủ tục giám đốc thẩm nêu trên tuy khác nhau về cách thức tiếp cận nhưng vẫn thể hiện được những đặc điểm, tính chất cơ bản của loại thủ tục tố tụng đặc biệt này như sau:

- Thứ nhất, về tính chất thì thủ tục giám đốc thẩm dân sự là một loại thủ tục tố tụng đặc biệt, chứ không phải là cấp xét xử thứ ba

Theo quy định của pháp luật, mọi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đều phải được các cá nhân, đơn vị, tổ chức trong xã hội tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành bản

án, quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành đó Tuy nhiên, nếu bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực nhưng vẫn không đảm bảo đầy đủ tính có căn cứ và hợp pháp thì bản án, quyết định đó cần phải được xét lại theo thủ tục đặc biệt Giám đốc thẩm không phải một cấp xét xử

Trang 19

như xét xử sơ thẩm hay phúc thẩm, mà thực chất nó là một trong số những hoạt động giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới Nội dung của nó là việc Tòa án kiểm tra lại tính có căn cứ và hợp pháp của bản

án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật thông qua hoạt động “xét” chứ không “xử” Sự khác biệt này thể hiện rõ nét nhất qua các quy định về phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự và phiên xét lại vụ án dân sự theo trình tự giám đốc thẩm, thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án sau khi tiến hành thủ tục giám đốc thẩm sẽ ban hành một trong các quyết định sau: Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật; giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại; hủy bản án, quyết định của Tòa án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án Các quyết định giám đốc thẩm của Tòa án rõ ràng không giống với các bản án, quyết định sơ thẩm hay phúc thẩm, bởi lẽ nó không giải quyết đến quyền, lợi ích của các đương sự hoặc làm thay đổi nội dung của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

- Thứ hai, đối tượng của giám đốc thẩm là những bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật

Đối tượng của giám đốc thẩm dân sự là những bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án dân sự Các bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật của Tòa án bao gồm những bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị; bản án, quyết định phúc thẩm và các quyết định theo thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật “Đây là điểm hoàn toàn khác biệt với việc giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, đối tượng xét xử theo thủ tục phúc thẩm là vụ án dân sự mà bản án, quyết định

Trang 20

chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị” [16, tr.14] Một bản án, quyết định sơ thẩm khi chưa có hiệu lực pháp luật nhưng có kháng cáo của đương sự hoặc kháng nghị của người có thẩm quyền thì Tòa án cấp phúc thẩm

sẽ tiến hành xét xử lại vụ án dựa trên nội dung của kháng cáo, kháng nghị Đây là đặc điểm phân biệt với giám đốc thẩm vụ án hình sự Trong khi giám đốc thẩm vụ án hình sự tiến hành xét lại những bản án, quyết định hình sự đã

có hiệu lực pháp luật thì thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự lại tiến hành xét lại những bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật Sự khác biệt này xuất phát từ quan hệ pháp luật hình sự và quan hệ pháp luật dân sự là những quan hệ pháp luật có tính chất khác nhau nên đối tượng của giám đốc thẩm dân sự và giám đốc thẩm hình sự cũng có những điểm khác biệt nhất định

- Thứ ba, thủ tục giám đốc thẩm dân sự chỉ được tiến hành khi có kháng nghị của người có thẩm quyền

Do giám đốc thẩm không phải một cấp xét xử, không bắt buộc tiến hành công khai như phiên tòa sơ thẩm hay phiên tòa phúc thẩm, và là một hoạt động kiểm tra mang tính chất nghiệp vụ nên pháp luật tố tụng dân sự đã giới hạn việc xem xét lại bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm trong trường hợp có kháng nghị của người có thẩm quyền được pháp luật quy định Đây là điểm khác biệt căn bản với thủ tục phúc thẩm dân sự, theo đó việc xét xử lại vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm có thể trên cơ sở kháng cáo của đương sự hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát

- Thứ tư, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm dân sự chỉ được kháng nghị trong trường hợp phát hiện có sai lầm hay vi phạm đã được pháp luật quy định trước

Đây là đặc điểm phân biệt với thủ tục phúc thẩm, theo đó pháp luật quy định đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc

Trang 21

thẩm nhưng không yêu cầu giới hạn căn cứ bắt buộc của việc kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Trong khi đó, việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm dân sự chỉ được thực hiện khi nó đáp ứng một trong các căn cứ: Kết luận trong bản án, quyết định dân sự không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật

Đây cũng là đặc điểm phân biệt với thủ tục tái thẩm dân sự Mặc dù, giám đốc thẩm dân sự và tái thẩm dân sự đều là thủ tục tố tụng đặc biệt, xét lại những bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật mà không phải là cấp xét xử thứ ba nhưng giữa chúng cũng có những điểm khác biệt nhất định

về căn cứ kháng nghị Giám đốc thẩm xét lại những bản án, quyết định dân sự

đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án, như thu thập, xác minh không đầy đủ chứng cứ, áp dụng pháp luật không đúng, vi phạm thủ tục tố tụng dân sự Trong khi đó, tái thẩm dân

sự xét lại những bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật nhưng mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà Tòa án và các đương sự

đã không biết được khi Tòa án giải quyết vụ án Những tình tiết này có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án nên cần phải tiến hành theo thủ tục tái thẩm

- Thứ năm, quyền kháng nghị giám đốc thẩm dân sự chỉ thuộc về Tòa

án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân

Quyền này không được giao cho đương sự, người đại diện của đương

sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ quan, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung… nhưng pháp luật vẫn đảm bảo cho đương sự được thực hiện quyền của mình thông qua hoạt động phát hiện bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại và thông báo bằng văn bản cho người có quyền kháng nghị Đối với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân trong trường

Trang 22

hợp phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì cũng phải thông báo bằng văn bản cho những người có thẩm quyền kháng nghị để những người này xem xét kháng nghị bản án, quyết định

đó

Đây là điểm khác biệt với chủ thể kháng nghị giám đốc thẩm hình sự Trong kháng nghị giám đốc thẩm hình sự, ngoài các chủ thể được quy định như giám đốc thẩm dân sự, giám đốc thẩm hình sự bổ sung thêm một loại chủ thể khác Đó là đối với các vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân đang tại ngũ thì Tòa án quân đội có thẩm quyền xét xử Do đó, trong trường hợp này, quyền kháng nghị giám đốc thẩm hình sự thuộc về Chánh ánTòa án quân sự trung ương,Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu Trong khi đó, những tranh chấp dân sự giữa quân nhân đang tại ngũ với những người không phải quân nhân thì việc giải quyết những tranh chấp dân

sự đó vẫn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nên thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm dân sự của Chánh án Tòa án quân sự và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự không được đặt ra

1.1.2 Ý nghĩa của thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự

- Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền

Bản chất của nhà nước pháp quyền chính là yếu tố “thượng tôn pháp luật”, do đó đòi hỏi hai điều kiện cơ bản: dân chủ và tổ chức quyền lực nhà nước mà trong đó pháp luật được đề cao Giám đốc thẩm thông qua hoạt động xét lại những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để vô hiệu hóa các bản án, quyết định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhằm đảm bảo việc xét

xử hợp pháp và hợp hiến, hạn chế và khắc phục những sai lầm, vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án Từ chính nhiệm vụ của mình, giám đốc thẩm góp

Trang 23

phần bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện, bảo đảm tính ổn định và thống nhất của pháp luật, tính chặt chẽ và nhất quán của bộ máy Nhà nước

Việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là một trong những yêu cầu quan trọng của nhà nước pháp quyền Căn cứ vào tình hình thực tế, việc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong nhiều trường hợp chưa thể đáp ứng được đòi hỏi của xã hội Do đó, giám đốc thẩm dân sự chính là một

cơ chế được xây dựng để bảo đảm việc xét xử đúng đắn, quyền và lợi ích hợp

pháp của công dân được bảo đảm đến mức tối ưu “Khi phát hiện bản án,

quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật có sai lầm hay vi phạm pháp luật nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của dân, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm bằng việc hủy những bản án, quyết định sai đã tạo

cơ sở pháp lý để vụ án được phục hồi xét xử lại, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của công dân bị vi phạm”[7]

- Giám đốc thẩm dân sự là biện pháp tố tụng nhằm đảm bảo cho vụ việc dân sự được giải quyết đúng pháp luật, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong công tác kiểm tra việc thực hiện và xây dựng pháp luật

Nhà nước ta trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình không chỉ xây dựng, ban hành pháp luật mà còn kiểm tra việc thực hiện pháp luật Tòa án, một trong những bộ phận cấu thành nên bộ máy nhà nước thông qua hoạt động xét xử đã kiểm tra việc thực hiện pháp luật ở các khâu trước xét xử, phát hiện những vi phạm pháp luật trong quản lý của các cơ quan, tổ chức hữu quan Và với công cụ giám đốc thẩm, ngành Tòa án đã tự tiến hành kiểm tra trong hệ thống của mình mà không phải là sự kiểm tra của cơ quan nhà nước khác Đây là một trong những cách thức hữu hiệu để kiểm tra việc thực hiện, tuân thủ pháp luật của ngành Tòa án, đồng thời đảm bảo cho vụ án dân sự được giải quyết đúng pháp luật

Trang 24

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải thân thủ các quy định của pháp luật hiện hành, nghiên cứu hồ sơ vụ án và lựa chọn các quy định pháp luật phù hợp Chính trong giai đoạn này, Tòa án có thể phát hiện ra những điểm hạn chế của các quy phạm pháp luật như không phù hợp với thực tiễn khách quan hoặc thậm chí không có quy phạm pháp luật thích hợp để giải quyết vụ án… Từ đây, Tòa án có quyền kiến nghị với cơ quan lập pháp để kịp thời sửa đổi, hủy bỏ hoặc bổ sung điều luật mới để pháp luật thực định phù hợp với yêu cầu thực tiễn “Có thể nói hoạt động giám đốc thẩm là một hoạt động thực tiễn rất quan trọng của ngành Tòa án để kiểm nghiệm lý luận luật học, kiểm nghiệm các văn bản pháp luật và từ đó quay trở lại hoàn thiện, bổ sung và nâng cao hoạt động lý luận luật học, hoạt động xây dựng pháp luật”[7]

- Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và phát triển hệ thống án lệ

Ngoài các nước theo hệ thống pháp luật Common Law, án lệ cũng được nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay chú trọng xây dựng và phát triển Theo pháp luật Trung Quốc, một nước có chế độ pháp luật tương đồng với Việt Nam, các bản án, quyết định của Tòa án cấp cao nhất được coi như là quy phạm cho Thẩm phán trong quá trình xét xử Ở nhiều quốc gia, phán quyết của Tòa án cấp cao nhất thực hiện hai vai trò chính là hủy kết quả xét xử sai

và hình thành án lệ Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, chúng ta mới chỉ chú trọng đến vai trò hủy kết quả xét xử sai thông qua hoạt động giám đốc thẩm của Tòa án Trong quá trình hội nhập quốc tế như hiện nay, muốn phù hợp với xu hướng phát triển chung tất yêu đòi hỏi thủ tục giám đốc thẩm phải được nâng cao để hoàn thành tốt cả hai nhiệm vụ trọng tâm của mình Do đó, việc xây dựng và phát triển án lệ từ các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối

Trang 25

cao ngày càng được quan tâm sâu sắc Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính

trị về cải cách tư pháp đã nhấn mạnh: “Tòa án nhân dân tối cao có trách

nhiệm áp dụng thống nhất pháp luật và phát triển án lệ” Luật Tổ chức

TAND năm 2014 cũng đã chính thức ghi nhận về vấn đề này Để xây dựng được một hệ thống án lệ thực sự chất lượng đòi hỏi trong tương lai phải có những nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về đường lối xét xử dân sự thông qua công tác giám đốc thẩm dân sự không chỉ của HĐTPTANDTC mà còn cả của Tòa án cấp cao

- Giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc tổng kết kinh nghiệm

Hiện nay, công tác hướng dẫn xét xử được xác định là một công tác trọng tâm của ngành Tòa án Từ các quyết định giám đốc thẩm trên thực tế, Tòa án cấp trên, nhất là TANDTC đã tổng hợp và đúc kết nên những kinh nghiệm quý báu để hướng dẫn hoạt động xét xử Rõ ràng, nếu không sử dụng kết quả giám đốc thẩm là nguồn tư liệu hướng dẫn xét xử thì những sai lầm của một Tòa án cụ thể sẽ vẫn tiếp tục bị mắc phải ở một Tòa án khác Thông qua hoạt động hướng dẫn xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới

đã kịp thời ngăn chặn các sai lầm tương tự xảy ra trên diện rộng, từ đó chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao Đây được xem là một sợi dây kết nối thông suốt để hoạt động xét xử được thực hiện đúng pháp luật một cách thống nhất trên phạm vi cả nước

Bên cạnh đó, thông qua hoạt động giám đốc thẩm vụ án dân sự, vô hình chung Tòa án đã tham gia thực hiện có hiệu quả công tác giải thích pháp luật Khác với pháp luật hình sự, pháp luật dân sự luôn chứa đựng các quy phạm phức tạp nhưng cũng khá mềm dẻo để giải quyết những quan hệ pháp luật dân

sự đa dạng, muôn hình muôn vẻ trong đời sống xã hội Do đó, đối với những người am hiểu pháp luật, ngay cả khi họ là Thẩm phán thì việc vận dụng pháp

Trang 26

luật dân sự trong quá trình xét xử cũng không thể tránh khỏi sai lầm Vì vậy, những quyết định, phán quyết của TANDTC đối với việc vận dụng pháp luật trong giải quyết những vụ án cụ thể đã thể hiện quan điểm của Tòa án trong việc phải hiểu và áp dụng những quy định của pháp luật dân sự như thế nào Giám đốc thẩm không chỉ có ý nghĩa đối với những đương sự trong vụ án mà còn có ý nghĩa đối với các công dân khác cũng đang tham gia các mối quan

hệ dân sự tương tự trong xã hội

Từ các quyết định giám đốc thẩm được thông báo một cách công khai, kịp thời và rộng rãi trong phạm vi toàn ngành, các Thẩm phán trực tiếp giải quyết vụ án nhận thức được sai lầm, thiếu sót của mình và tự rút ra kinh nghiệm trong công tác xét xử, tránh lặp lại sai lầm tương tự Đồng thời, căn

cứ vào các văn bản hướng dẫn xét xử, Thẩm phán có cơ sở và định hướng cho các hoạt động xét xử sau này, từ đây năng lực của Thẩm phán và chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao Ngoài ra, Tòa án cấp trên căn cứ vào số lượng vụ án bị hủy, sửa hàng năm để đánh giá chất lượng Thẩm phán và các cán bộ khác, từ đó đánh giá thi đua, làm cơ sở cho việc bổ nhiệm lại Song song với đó, ngành Tòa án sẽ xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ phù hợp với năng lực, đạo đức và củng cố đội ngũ Thẩm phán của ngành

1.2 Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về thủ tục giám đốc thẩm dân sự

1.2.1 Việc xây dựng các quy định về giám đốc thẩm dân sự xuất phát

từ yêu cầu cải cách tư pháp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo vệ công lý

Bản chất của nhà nước pháp quyền đòi hỏi mọi chủ thể trong xã hội phải sống và hoạt động tuân theo quy định của pháp luật Bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ công lý là một trong những yêu cầu

Trang 27

quan trọng và đồng thời cũng là thành tựu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền Bên cạnh vai trò là công cụ hữu hiệu để điều hành, quản lý xã hội, pháp luật cũng khẳng định vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội Tôn trọng và tuân theo pháp luật chính là cách tốt nhất

để được pháp luật bảo vệ Do đó, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đã được ghi nhận là một nguyên tắc chủ đạo, xuyên suốt toàn bộ nội dung của pháp luật tố tụng dân sự Thủ tục giám đốc thẩm dân sự ra đời với mục tiêu tạo cơ chế để công lý được thực thi, đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Những năm gần đây, Nhà nước ta rất chú trọng đến công tác xây dựng và hoàn thiện chế định giám đốc thẩm dân sự nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược cải cách tư pháp Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định như sau: “Từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối

với bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ” Trên cơ sở

Nghị quyết này của Bộ Chính trị, năm 2011 Quốc hội nước ta đã có những sửa đổi, bổ sung tương đối lớn đối với BLTTDS năm 2004, nhất là những vấn

đề liên quan đến thủ tục giám đốc thẩm, trong đó ghi nhận thêm Chương XIXa với tên gọi “Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của HĐTPTANDTC” Đây là những điều chỉnh của pháp luật Việt Nam nhằm hướng tới việc bảo vệ công lý, bảo đảm tốt nhất quyền dân sự của chủ thể Đến thời điểm hiện tại, các quy định về giám đốc thẩm trong BLTTDS năm

2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) đang được nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp hơn với vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền lợi của dân, bảo

Trang 28

vệ công lý theo tinh thần của Hiến pháp 2013, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc

tế và điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay

1.2.2 Việc xây dựng các quy định về giám đốc thẩm dân sự được thực hiện trên cơ sở xác định bản chất của những sai lầm, vi phạm của các chủ thể trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

Trong thực tiễn xét xử án dân sự của ngành Tòa án, có nhiều phán quyết của Tòa án sau khi ban hành, đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị phát hiện có sai lầm, vi phạm các quy định của pháp luật Những bản án, quyết định này không bảo đảm được quyền lợi hợp pháp của đương sự, ảnh hưởng không tốt đến uy tín của ngành Tòa án nói riêng, của Nhà nước nói chung, do vậy cần được xem xét lại theo một trình tự đặc biệt Việcnghiên cứu cho thấy, những sai lầm, vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án có thể xuất phát từ nhiều chủ thể khác nhau như Tòa án, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch Đối với Tòa án thì những sai lầm, vi phạm của Tòa án có thể xuất phát từ lỗi chủ quan của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân (vô ý hoặc

cố ý) hoặc do nguyên nhân khách quan bắt nguồn từ lỗi của các chủ thể khác Dựa trên cơ sở mức độ lỗi và tính chất của sai lầm, vi phạm của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và các chủ thể khác nhà làm luật cần phân hóa căn cứ kháng nghị từ đó thiết lập các thủ tục tương ứng (giám đốc thẩm, tái thẩm) để khôi phục quyền lợi của đương sự Những sai lầm, vi phạm của Tòa án làm căn cứ để xét lại bản án, quyết định phải là những sai lầm, vi phạm dẫn đến hậu quả nhất định, thường được thể hiện dưới một số hình thức cơ bản như: kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án được thể hiện ở những dạng hành vi, như chưa đủ các chứng cứ tài liệu để giải quyết vụ án nhưng Tòa án

Trang 29

vẫn giải quyết nên quyết định của Tòa án thiếu cơ sở, đánh giá sai chứng cứ, tài liệu của vụ án dẫn đến quyết định giải quyết vụ án không phù hợp với bản chất sự việc Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được biểu hiện dưới dạng vi phạm các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ

án sai thẩm quyền, không hòa giải trước khi xét xử Sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật thường là việc Tòa án áp dụng văn bản pháp luật không đúng, không còn hiệu lực, áp dụng không đúng điều luật hoặc không đúng nội dung mà điều luật quy định Những vi phạm phổ biến này trong thực tiễn hoạt động của Tòa án đã được pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận là những căn cứ bắt buộc để tiến hành kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm dân sự nhằm mục đích sửa chữa những sai lầm, vi phạm nói trên, từ đó đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Khác với thủ tục giám đốc thẩm, thủ tục tái thẩm dân sự dựa trên cơ sở mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự và Tòa án không thể biết được trong quá trinh giải quyết vụ án; có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch rõ ràng không đúng

sự thật hoặc có giả mạo bằng chứng; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố tình kết luận trái pháp luật

So sánh những căn cứ này với những căn cứ theo thủ tục giám đốc thẩm ta có thể thấy được sự khác biệt cơ bản để phân biệt hai thủ tục trên Nếu như những sai lầm, vi phạm pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm xuất phát từ lỗi

vô ý của Tòa án (đây là nguyên nhân khách quan, phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trong việc giải quyết vụ án) thì thủ tục tái thẩm quy định những sai lầm trong việc giải quyết vụ án xuất phát không chỉ từ Tòa án mà còn từ nhiều chủ thể khác tham gia tố tụng, như người phiên dịch, người giám định Sai lầm này có thể xuất phát từ việc phát hiện những tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án mà Tòa án và

Trang 30

đương sự không thể biết được khi giải quyết vụ án, đây được xem là nguyên nhân khách quan, vượt ra ngoài ý chí của Tòa án và các bên đương sự Hoặc sai lầm trong việc giải quyết vụ án có thể xuất phát từ chính ý muốn chủ quan của những người tiến hành tố tụng (nguyên nhân chủ quan)

1.2.3 Cơ sở xây dựng các quy định về giám đốc thẩm dân sự xuất phát từ nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử, nguyên tắc giám đốc việc xét xử và quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm

Giống như pháp luật của đa số các quốc gia trên thế giới, Việt Nam cũng xác định nguyên tắc hai cấp xét xử là nguyên tắc chủ đạo của hoạt động giải quyết vụ án dân sự Nếu vụ án sau khi trải qua quá trình xét xử sơ thẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự không được đảm bảo và vẫn trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị thì vụ án có thể được giải quyết lại bởi Tòa án cấp phúc thẩm Phán quyết của Tòa phúc thẩm có giá trị chung thẩm và được thi hành ngay Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, nhiều vụ án đã trải qua hai cấp xét xử nhưng vẫn có vi phạm pháp luật, không đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của các đương sự Như đã nói ở trên, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là một yêu cầu quan trọng của nhà nước pháp quyền Do

đó, khi một bản án, quyết định dân sự có hiệu lực pháp luật không đảm bảo được việc tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bản án, quyết định dân sự đó

sẽ phải được xem xét lại theo một thủ tục đặc biệt, gọi là thủ tục giám đốc thẩm dân sự

Bên cạnh đó, thủ tục giám đốc thẩm dân sự ra đời cũng xuất phát từ yêu cầu thực hiện nguyên tắc giám đốc việc xét xử Để đảm bảo cho hoạt động xét

xử được đúng đắn, việc áp dụng pháp luật được thống nhất thì cần phải có sự quản lý, giám sát, đôn đốc của người có thẩm quyền, tức là công tác giám đốc việc xét xử Nội dung của nguyên tắc này xác định Tòa án cấp trên thực hiện giám đốc xét xử đối với Tòa án cấp dưới, Tòa án nhân dân tối cao thực hiện

Trang 31

giám đốc xét xử đối với Tòa án các cấp.“Qua công tác giám đốc việc xét xử

đã phát hiện những sơ xuất, sai sót trong các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng không bị các đương sự khiếu nại và không bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thảm để Tòa án nhân dân tối cao nhắc nhở và rút kinh nghiệm trong hội nghị tổng kết hàng năm.”[6] Đây là một hình thức tự kiểm tra trong nội bộ ngành Tòa án, và giám đốc thẩm được xác định là một trong các nhiệm vụ chủ đạo để Tòa án thực hiện tốt chức năng giám đốc việc xét xử của mình

Giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử thứ ba mà là một thủ tục

tố tụng đặc biệt Khác với hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, thủ tục tố tụng này chỉ được tiến hành dựa trên kháng nghị của người có thẩm quyền Các đương sự không được pháp luật trao quyền tự yêu cầu giám đốc thẩm để tránh nguy cơ lạm dụng thủ tục này dẫn đến việc làm mất tính ổn định của các bản án, quyết đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự vẫn có thể mở ra một cơ chế để bảo đảm các đương sự được thực hiện quyền yêu cầu của mình đối với thủ tục giám đốc thẩm Theo cơ chế này, đương sự

và những người khác có quyền khiếu nại, tố cáo, thông báo hoặc đề nghị những người có thẩm quyền kháng nghị về những sai lầm, vi phạm của Tòa

án trong quá trình giải quyết vụ án để những người này xem xét kháng nghị

Như đã phân tích ở trên, giám đốc thẩm thực chất là hoạt động Tòa án xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Do đó, khi tiến hành hoạt động xét lại bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật, phiên tòa giám đốc thẩm không mở công khai như phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm Phiên tòa này không nhằm xem xét chi tiết nội dung vụ án và đưa ra phán quyết để phân xử

về quyền và nghĩa vụ của các bên Mục đích chính của giám đốc thẩm là phát hiện những sai lầm, vi phạm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, và

do đó không cần sự có mặt của các đương sự (và những người tham gia tố

Trang 32

tụng khác) cũng như không tiến hành tranh tụng Những chủ thể tiến hành tố tụng chỉ xét chủ yếu trên hồ sơ vụ án mà không cần phải xét hỏi hay thu thập chứng cứ, như vậy đã có đủ căn cứ cần thiết để xác định Tòa án có vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án hay không

1.3 Lƣợc sử hình thành và phát triển các quy định về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự ở Việt Nam

1.3.1 Từ năm 1945 đến năm 1989

Sau Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống thực dân Pháp, những luật lệ của thực dân phong kiến bị bãi bỏ và một số văn bản pháp luật mới đã được Nhà nước ta ban hành Ngày 13/9/1945, ngay sau khi tuyên bố độc lập, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh về thành lập Tòa án quân sự Theo đó, Tòa án chỉ xét xử một cấp, các bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay Quy định này được xem là phù hợp với hoàn cảnh, tình hình đất nước trong thời điểm lúc bấy giờ bởi lẽ đặc điểm chung của pháp luật thời kỳ này mang tính chất cấp bách, phù hợp với thời chiến, nhằm đáp ứng yêu cầu chống kẻ thù của dân tộc và bảo vệ cách mạng Do đó, các văn bản pháp luật thời kỳ này cũng không đề cập đến việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Điều này đã dẫn đến việc nhiều vụ án bị giải quyết sai nhưng không có cơ chế để khắc phục hậu quả Đến ngày 24/01/1946, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán,

đã ghi nhận một bước tiến mới trong hoạt động xét xử, đó là nguyên tắc:

“Tòa án thực hiện hai cấp xét xử” Với nguyên tắc này, quyền và lợi ích hợp

pháp của đương sự đã được bảo đảm tốt hơn

Ngày 09/11/1946, Hiến pháp năm 1946 – bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được ban hành đã tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có ngành Tòa án

Trang 33

nhân dân Tuy nhiên, không có điều luật nào quy định về thủ tục giám đốc thẩm trong bản Hiến pháp này Như vậy, cho đến trước khi ban hành Hiến pháp 1959, chưa có văn bản pháp luật nào quy định về thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự

Trước khi Hiến pháp năm 1959 có hiệu lực, trong các văn bản pháp luật không quy định trực tiếp về thẩm quyền của Tòa án trong việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Đến ngày 22/05/1950, khi Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 85/SL mới có quy định về thủ tục tiêu án

Điều 17 của Sắc lệnh quy định như sau: “Tòa án chỉ thủ tiêu một phần hoặc

toàn thể thủ tục nếu xét một hay nhiều hình thức ghi trong Bộ luật tố tụng hình hoặc hộ có hại cho việc thẩm cứu hoặc đến quyền lợi của đương sự”

Trước tình trạng nhiều bản án, quyết định mặc dù đã qua hai cấp xét xử nhưng vẫn còn sai, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 321/VHH-CT ngày 12/02/1958 yêu cầu các Tòa án phải nghiên cứu giải quyết các đơn thư khiếu nại về các vụ án đã xử chung thẩm Thủ tục giám đốc thẩm từ đây dần dần được hình thành, tuy nhiên mới chỉ xuất hiện chủ yếu trong lĩnh vực luật hình

sự Thông tư số 002-TT ngày 13/01/1959 quy định thẩm quyền và thủ tục xét lại những vụ án hình sự đã thành nhất định và Thông tư số 04/TT ngày 03/02/1959 về thủ tục xét lại những vụ án hình sự đã có hiệu lực pháp luật, nay thấy là xử không đúng, can phạm hiện còn đang bị giam mặc dù còn đơn giản nhưng đã quy định một số vấn đề cơ bản, làm cơ sơ, nền tảng cho việc định hình và phát triển chế định giám đốc thẩm sau này Tuy nhiên, phải đến khi Hiến pháp năm 1959 có hiệu lực thi hành thì thủ tục giám đốc thẩm trong

tố tụng dân sự mới có cơ sở pháp lý để tiến hành trên thực tế Điều 103 Hiến

pháp năm 1959 quy định như sau: “Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc

xét xử của các Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự và Tòa án đặc biệt.” Thuật ngữ “giám đốc việc xét xử” được hiểu là hoạt động quản lý, giám

Trang 34

sát, đôn đốc của cấp trên đối với cấp dưới, và thủ tục giám đốc thẩm chỉ là một phần trong hoạt động “giám đốc việc xét xử” Để cụ thể hóa quy định

này, Điều 21 Luật Tổ chức TAND năm 1960 quy định như sau: “Tòa án nhân

dân tối cao có thẩm quyền xét lại hoặc giao cho Tòa án nhân dân cấp dưới xét lại những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện

có sai lầm” Như vậy, trong thời kỳ này, TANDTC là cơ quan duy nhất có

thẩm quyền tiến hành thủ tục giám đốc thẩm, trừ trường hợp chính cơ quan này giao cho Tòa án cấp dưới thực hiện công việc thay cho mình

Sau khi Hiến pháp năm 1959 có hiệu lực, nhiều văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao, như Luật Tổ chức TAND năm 1960, Luật Tổ chức VKSND năm 1960 … đã ra đời để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp Theo đó, các quy định về thủ tục giám đốc thẩm được quy định cụ thể

và đầy đủ hơn, trong đó ghi nhận cơ sở để tiến hành xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm là sự kháng nghị của Chánh án TANDTC hoặc Viện trưởng VKSNDTC; thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm chỉ tập trung ở TANDTC… Ngày 23/3/1961, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh quy định về tổ chức TANDTC và các TAND địa phương, theo đó điểm c Điều 6 quy định Chánh án TANDTC có quyền kháng nghị những bản án hoặc những quyết định có hiệu lực pháp luật của TAND các cấp nhưng phát hiện có sai

lầm Về thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, điểm b Điều 2 quy định: “Ủy ban

Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét các kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đối với những bản án hoặc những quyết định của các Tòa chuyên trách và Tòa Phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao.” Điểm c Điều 3 cũng quy định:

“Các Tòa hình sự và Tòa dân sự của Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền

xử lại những vụ án do Tòa mình hoặc Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Ủy ban

Trang 35

thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giao cho xử lại Xử lại những vụ án do Tòa án nhân dân cấp dưới đã xử mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị.” Như vậy, xét trong cơ cấu

củaTANDTC, Ủy ban thẩm phán và các Tòa chuyên trách là những đơn vị có thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm với các quyền hạn: bác kháng nghị và giữ nguyên bản án đã có hiệu lực pháp luật của TAND dưới hoặc của Tòa chuyên trách nếu bản kháng nghị không có căn cứ; hủy bỏ bản án hoặc quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật, đình chỉ vụ án hoặc chuyển vụ án về để điều tra lại theo trình tự sơ thẩm; hủy bỏ bản án hoặc quyết định của cấp phúc thẩm để đưa ra xét xử một lần nữa Ngoài ra, Ủy ban Thẩm phán TANDTC còn có quyền hủy bỏ bản án hoặc quyết định của Tòa chuyên trách đã xét xử lại theo trình tự giám đốc thẩm, y án hoặc sửa đổi bản án, quyết định sơ thẩm hoặc phúc thẩm

Để làm cơ sở cho việc áp dụng pháp luật một cách thông suốt và thống nhất, TANDTC sau đó đã ban hành thêm các văn bản hướng dẫn, cụ thể: Thông tư số 2397/TC ngày 22/12/1961 của TANDTC hướng dẫn thi hành Luật Tổ chức TAND năm 1960, Công văn số 1326/TC ngày 06/10/1962 về biện pháp giải quyết khi phát hiện bản án có sai lầm nhưng chưa hết hạn kháng cáo (Viện kiểm sát không kháng nghị, bị cáo và các đương sự khác không kháng cáo) , Thông tư 146-TATC ngày 08/3/1968 của TANDTC quy định các TAND các cấp gửi các quyết định và các bản án có hiệu lực pháp luật lên TANDTC, và đặc biệt là Thông tư số 06/TC ngày 23/7/1964 của TANDTC giải thích thêm về trình tự giám đốc xét xử … Có thể nhận định rằng trong giai đoạn này, những quy định về trình tự xét lại bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật nói chung và thủ tục giám đốc thẩm nói riêng lần đầu tiên được luật hóa Thẩm quyền tiến hành trình tự giám đốc thẩm vẫn tập

Trang 36

trung ở TANDTC Ngoài ra, vẫn chưa có sự phân biệt giữa giám đốc thẩm và tái thẩm

Sau khi giải phóng miền Nam, thể chế chính trị và tổ chức hành chính giữa hai miền Nam - Bắc vẫn chưa hoàn toàn thống nhất Tại miền Nam, hệ thống Tòa án và Viện kiểm sát được tổ chức riêng theo Sắc lệnh số 01/SL/76 ngày 15/3/1976 Sắc lệnh này cũng quy định về thủ tục xét lại bản án, quyết

định có hiệu lực pháp luật như sau: “Tòa án nhân dân phúc thẩm có quyền xét

xử lại các bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm” và “khi xét lại các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm, Hội đồng xử án của Tòa án nhân dân phúc thẩm có ba hoặc năm thẩm phán.”

Đến Hiến pháp năm 1980, chế định giám đốc thẩm tiếp tục được ghi

nhận tại Điều 135 như sau: “Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử

của các Tòa án nhân dân địa phương và các Tòa án quân sự Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Tòa án đặc biệt, trừ trường hợp Quốc hội hoặc Hội đồng nhà nước quy định khác khi thành lập các Tòa án đó.”

Do Hiến pháp thay đổi, các văn bản pháp luật dưới nó vì vậy cũng thay đổi theo Căn cứ vào chương X của Hiến pháp về Tòa án và Viện kiểm sát, Quốc hội đã thông qua Luật Tổ chức TAND năm 1981 và Luật tổ chức VKSND năm 1981 Luật Tổ chức TAND được sửa đổi năm 1981 (bổ sung năm 1988)

đã quy định về thủ tục giám đốc thẩm tại các Điều 23, 25, 27, 29, 30, 31, 33

và 35 với các nội dung chính như sau:

- Về thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm: HĐTPTANDTC là tổ chức xét

xử cao nhất theo thủ tục giám đốc thẩm và có quyền giám đốc thẩm những quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Ủy ban Thẩm phán TANDTC Ủy ban Thẩm phán TANDTC giám đốc thẩm những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa thuộcTANDTC; Tòa dân sự TANDTCgiám đốc

Trang 37

thẩm những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương Ủy ban Thẩm phán TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương đương có thẩm quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

- Về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm: Chánh án TANDTC kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND các cấp; các Phó Chánh án TANDTC kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án nhân dân cấp dưới Chánh án TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp tương kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các TAND cấp dưới

Như vậy, so với giai đoạn trước, quy định về thủ tục giám đốc thẩm đã

có sự thay đổi cơ bản về thẩm quyền xét xử và thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm Theo quy định của Luật Tổ chức TAND năm 1981 (được sửa đổi,

bổ sung năm 1988) có 04 đơn vị thuộc cấp trung ương và cấp tỉnh được tiến hành xét xử giám đốc thẩm, đó là: HĐTPTANDTC, Ủy ban Thẩm phán TANDTC, các Tòa chuyên trách thuộcTANDTC, Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương Chủ thể có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm đã được mở rộng hơn, bao gồm: Chánh án TANDTC, các Phó Chánh án TANDTC, Chánh án TAND cấp tỉnh Bên cạnh đó, Luật Tổ chức VKSND năm 1981 (được sửa đổi, bổ sung năm 1988) đã quy định: khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, VKSND có quyền kháng nghị các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm khi thấy có vi phạm pháp luật Về thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát cũng được mở rộng hơn Điều 13 của luật này đã quy định: Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị các bản án, quyết định đã

Trang 38

có hiệu lực pháp luật của TAND các cấp theo thủ tục giám đốc thẩm, Phó Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp dưới theo thủ tục giám đốc thẩm, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có quyền kháng nghị các bản án hoặc quyết định đã

có hiệu lực pháp luật của TAND cấp dưới theo thủ tục giám đốc thẩm

Như vậy, trước khi ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân

sự ngày 29/11/1989, thủ tục giám đốc thẩm chỉ được quy định chung trong Luật Tổ chức TAND, Luật Tổ chức VKSND với các điều luật về thẩm quyền xét xử và thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Ở giai đoạn này vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào quy định riêng và cụ thể về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự

1.3.2 Từ năm 1989 đến năm 2004

Đây là giai đoạn nhà nước ta bước sang thời kì đổi mới, xóa bỏ nền kinh tế bao cấp, xây dựng nền kinh tế phát triển theo hướng cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trên tinh thần Đại hội Đảng lần thứ VI (ngày 12/01/1986) là tăng cường quản lý bằng pháp luật, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân, đáp ứng những nhu cầu trước mắt của ngành Tòa án, phù hợp với những khách quan của xã hội trong giai đoạn phát triển đất nước, ngày 29/11/1989, Hội đồng nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Tuy chỉ có 88 điều nhưng Pháp lệnh đã dành 1 chương (chương XII từ điều 71 đến Điều 77) để quy định

về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự Các vấn đề cơ bản như: căn cứ kháng nghị, người có thẩm quyền kháng nghị, thời hạn kháng nghị, thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm… đều được quy định trong Pháp lệnh Tuy nhiên, vì được ban hành dưới hình thức Pháp lệnh (có hiệu lực thấp hơn Luật), đồng thời có sự tham khảo kinh nghiệm của Liên Xô trước đây, do đó Pháp lệnh mới chỉ dừng lại ở việc quy định những vấn đề cơ bản nhất Nhiều quy định

Trang 39

còn thiếu, cụ thể như: tính chất của giám đốc thẩm; quyền phát hiện bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm và thông báo cho người có quyền kháng nghị của đương sự, cá nhân, tổ chức khác (đây là một nội dung rất quan trọng cần được quy định nhằm đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích của đương sự); trình tự phiên tòa giám đốc thẩm; vị trí, vai trò của Viện kiểm sát … hoặc quy định chưa phù hợp, như phạm vi giám đốc thẩm (theo quy định tại khoản 1 Điều 76 Pháp lệnh thì Hội đồng giám đốc thẩm có thể xem xét toàn bộ vụ án mà không bị hạn chế trong nội dung kháng nghị, như vậy đã làm ảnh hưởng đến nguyên tắc tôn trọng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật) Chính vì những điểm bất cập, hạn chế này mà việc áp dụng Pháp lệnh trong quá trình giải quyết các vụ

án dân sự chưa đem lại hiệu quả cao Bên cạnh đó, thời kỳ này Nhà nước ta cũng ban hành pháp luật quy định về thủ tục giám đốc thẩm các vụ án kinh tế

và tranh chấp lao động tại hai Pháp lệnh là Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án kinh tế ngày 16/3/1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động ngày 11/4/1996

1.3.3 Từ năm 2004 đến nay

Sau hơn 10 năm PLTTGQCVADS có hiệu lực thi hành, việc xét lại của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm vẫn bộc lộ nhiều mặt hạn chế, bất cập Trên cơ sở đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn trong hoạt động giải quyết án dân sự, ngày 15/6/2004, BLTTDS được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2005 Sự ra đời của BLTTDS là bước tiến quan trọng trong quá trình phát triển của pháp luật TTDS nói chung, cũng như các quy định về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự nói riêng Thủ tục này được quy định cụ thể tại Chương XVIII từ Điều 282 đến Điều 303 Hàng loạt các vấn

đề còn bất cập từ các văn bản pháp luật trước đã được BLTTDS sửa đổi, bổ sung và cụ thể hóa như: điều khoản quy định về tính chất giám đốc thẩm; phát

Trang 40

hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm; quyết định kháng nghị giám đốc thẩm; thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị giám đốc thẩm; gửi quyết định giám đốc thẩm; thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm; quyền hạn của Hội đồng giám đốc thẩm Như vậy, các điều khoản quy định về thủ tục giám đốc thẩm đến giai đoạn này đã được bổ sung, cụ thể hóa để chặt chẽ, bao quát và mang tính hiệu quả hơn Đến ngày 29/03/2011, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của BLTTDS 2004, trong đó đã quy định thêm Chương XIXa với hai điều là Điều 310a và Điều 310b, ghi nhận thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của HĐTPTANDTC Đây là một điểm mới quan trọng mà theo đó, quyết định giám đốc thẩm của HĐTPTANDTC nếu vi phạm vẫn có thể bị xem xét lại bởi chính Hội đồng này Như vậy, pháp luật đã quy định thêm một “nấc” nữa trong quá trình giải quyết án để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dân được đáp ứng tốt nhất trên thực tế

Nghị quyết số 49/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp

đến năm 2020 đã vạch ra nhiệm vụ: “Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm

quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân Tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Tòa án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Tòa án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Tòa thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển

án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm Việc thành lập tòa chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp Tòa án, từng khu vực.” Quán triệt tinh

thần của Nghị quyết, ngày 24/11/2014, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức

Ngày đăng: 25/05/2016, 09:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Dương Thị Thanh Mai (2000), “Tìm hiểu các quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự” , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu các quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự”
Tác giả: Dương Thị Thanh Mai
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
14. Hoàng Văn Minh (2004), “Thủ tục giám đốc thẩm trong dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tr.44-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục giám đốc thẩm trong dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự”
Tác giả: Hoàng Văn Minh
Năm: 2004
15. Nguyễn Hồng Nam (2012), “Bàn về dự thảo thông tư liên tịch hướng dẫn Điều 284B Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011”, Tòa án nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về dự thảo thông tư liên tịch hướng dẫn Điều 284B Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2011”
Tác giả: Nguyễn Hồng Nam
Năm: 2012
16. Khuất Văn Nga (2003), “Thủ tục giám đốc thẩm trong Bộ luật tố tụng dân sự”, Tạp chí kiểm sát, tr.14-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thủ tục giám đốc thẩm trong Bộ luật tố tụng dân sự”
Tác giả: Khuất Văn Nga
Năm: 2003
32. Phan Hữu Thư (2004), “Tiến tới xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự của thời kỳ đổi mới”, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiến tới xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự của thời kỳ đổi mới”
Tác giả: Phan Hữu Thư
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2004
33. Hà Tĩnh (2010), “Một số vấn đề liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung Điều 285, Điều 288 Bộ luật tố tụng dân sự”, Tòa án nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung Điều 285, Điều 288 Bộ luật tố tụng dân sự
Tác giả: Hà Tĩnh
Năm: 2010
34. Đào Xuân Tiến (2009), “Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trong tố tụng kinh tế, dân sự Việt Nam”
Tác giả: Đào Xuân Tiến
Năm: 2009
35. Tòa án nhân dân tối cao (2015), Báo cáo tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng dân sự
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2015
36. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2011
38. Trần Anh Tuấn (2004), “Chế định giám đốc thẩm, tái thẩm và những vấn đề đặt ra cho việc thi hành”, Tạp chí Luật học số đặc san về Bộ luật tố tụng dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chế định giám đốc thẩm, tái thẩm và những vấn đề đặt ra cho việc thi hành”
Tác giả: Trần Anh Tuấn
Năm: 2004
39. Trần Anh Tuấn (2011), “Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật”, Tạp chí Nghề luật, số 4/2011, tr.41-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật”
Tác giả: Trần Anh Tuấn
Năm: 2011
40. Ủy ban tư pháp (2015), Báo cáo thẩm tra dự án Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi), số 2496/BC-UBTP13, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thẩm tra dự án Bộ luật tố tụng dân sự (sửa đổi)
Tác giả: Ủy ban tư pháp
Năm: 2015
12. Hội đồng Nhà nước (1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Hà Nội Khác
17. Quốc hội (2005), Bộ luật tố tụng dân sự, Hà Nội Khác
18. Quốc hội (2011), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Hà Nội Khác
19. Quốc hội (2015), Dự thảo sửa đổi BLTTDS lần thứ 04 (trình Ủy ban thường vụ Quốc hội tại phiên họp thứ 40, Quốc hội khóa XIII, tháng 08/2015), Hà Nội Khác
24. Quốc hội (2001), Nghị quyết số 51/2001/QH 10 ngày 25/12/2001 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 Khác
25. Quốc hội (1960), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội Khác
26. Quốc hội (1981), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội Khác
27. Quốc hội (1992), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w