Một trong những vụ việc liên quan đến cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH nổi lên thời gian qua phải kể đến vụ việc ngày 29/07/2010 Hội đồng cạnh tranh đã ra quyết định số 14/QĐ-HĐXL về việc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ HỒNG NHUNG
PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM
TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ HỒNG NHUNG
PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Lan Hương
HÀ NỘI - 2013
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Hồng Nhung
Trang 4Chương 1: KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG
8
1.3 Khái quát pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh
bảo hiểm
16
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG
LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM VÀ THỰC TIỄN
24
2.1 Thực trạng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh
bảo hiểm tại Việt Nam
24
2.1.1 Pháp luật về các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, cạnh
tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh năm 2004
24
2.1.2 Pháp luật về cạnh tranh theo các quy định của Luật Kinh
doanh bảo hiểm
38
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh bảo hiểm tại Việt Nam
49
Trang 52.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh bảo hiểm
49
2.2.2 Thực trạng kiểm soát các hành vi cạnh tranh phổ biến trong
lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
54
2.2.3 Những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật
về cạnh tranh và pháp luật về kinh doanh bảo hiểm hiện hành
64
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC XÂY DỰNG VÀ HOÀN
THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CẠNH
80
3.1 Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh
trong lĩnh vực kinh danh bảo hiểm
80
3.1.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực
kinh doanh bảo hiểm
80
3.1.2 Định hướng cơ bản liên quan đến hoàn thiện pháp luật về
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
82
3.2 Hoàn thiện các quy định của luật cạnh tranh và pháp luật về
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
86
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh
86
3.2.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong luật cạnh tranh và luật kinh doanh
bảo hiểm
93
3.3 Đề xuất/khuyến nghị các giải pháp khác nhằm hạn chế và
kiểm soát các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực kinh doanh bảo hiểm
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DNBH : Doanh nghiệp bảo hiểm KDBH : Kinh doanh bảo hiểm CTKLM : Cạnh tranh không lành mạnh WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 72.1 Thị phần các DNBH phi nhân thọ năm 2010 49
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian qua, có thể nhận thấy hoạt động kinh doanh bảo hiểm (KDBH) tại Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, không chỉ ở sự gia tăng số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) mà điều này còn biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng doanh thu của toàn thị trường Nếu như năm 1999 mới chỉ có 10 DNBH hoạt động thì đến cuối năm 2010, trên thị trường đã có 29 DNBH phi nhân thọ và 12 DNBH nhân thọ, 11 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và 01 doanh nghiệp tái bảo hiểm Tổng doanh thu phí bảo hiểm ước tính cả năm
2010 đạt khoảng 30.201 tỷ đồng (đạt tỷ trọng doanh thu phí bảo hiểm/GDP khoảng 1,7%), trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ khoảng 16.547
tỷ đồng, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ khoảng 13.654 tỷ đồng Tổng số tiền bồi thường và trả tiền bảo hiểm ước khoảng 11.347 tỷ đồng đảm bảo sự phát triển ổn định của các tổ chức, cá nhân không may gặp rủi ro, qua đó góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế xã hội [35] Quá trình phát triển của thị trường bảo hiểm trong nước đã cho thấy sự cạnh tranh gay gắt giữa các DNBH trong việc tăng trưởng doanh thu và chiếm lĩnh thị trường
Bên cạnh đó, hiện nay các cam kết của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong lĩnh vực bảo hiểm đã có hiệu lực, cùng với sự ra đời của Luật sửa đổi Luật KDBH năm 2010 cho phép các DNBH nước ngoài sẽ được phép cung cấp các dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm vận tải quốc tế, tái bảo hiểm và môi giới bảo hiểm, dịch vụ đánh giá rủi ro, giải quyết khiếu nại và tư vấn bảo hiểm và đặc biệt là được phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các dự án, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam mà không cần thành lập pháp nhân tại Việt Nam Như vậy, các cam kết WTO trong lĩnh vực bảo hiểm
đã dần dần được cụ thể hóa trong các văn bản pháp lý, và đồng nghĩa với đó,
Trang 9thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ chịu tác động cả về quy mô, chất lượng, cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm sẽ ngày càng trở lên gay gắt
Trong nền kinh tế thị trường, việc cạnh tranh là tất yếu, là bản chất, cạnh tranh giữa các nhà cung cấp sẽ giúp người mua có sự thể lựa chọn được sản phẩm tốt hơn, rẻ hơn Đây là điều được khuyến khích và là động lực phát triển kinh tế, phát triển doanh nghiệp Thế nhưng, trên thực tế đối với một lĩnh vực đặc thù như bảo hiểm thì sự cạnh tranh trong thị trường bảo hiểm thời gian qua bên cạnh những mặt tích cực còn có rất nhiều vấn đề cần phải bàn đến, một trong những vấn đề nổi cộm đó là thực trạng bùng nổ của những hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM), những hành vi hạn chế cạnh tranh có ảnh hưởng xấu đến thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng
Một trong những vụ việc liên quan đến cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH nổi lên thời gian qua phải kể đến vụ việc ngày 29/07/2010 Hội đồng cạnh tranh đã ra quyết định số 14/QĐ-HĐXL về việc xử lý vụ việc cạnh tranh KNCT-HCCT-009 đối với 19 doanh nghiệp bảo phi nhân thọ vì hành vi ấn định phí bảo hiểm đối với bảo hiểm vật chất xe cơ giới được coi là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, vi phạm các hành vi bị cấm theo quy định của Luật Cạnh tranh Theo đó, 19 DNBH tham gia ký kết thỏa thuận này đã bị Hội đồng cạnh tranh xử phạt bằng hình thức phạt tiền Ngoài ra, ngay trong quyết định xử lý vụ việc, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh cũng đưa ra một
số các kiến nghị, trong đó có kiến nghị ngoài việc tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về cạnh tranh, các cơ quan nhà nước có liên quan phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về KDBH phù hợp với tình hình mới về cam kết của Việt Nam khi gia nhập các điều ước quốc tế, trong đó có cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Có thể nhận thấy, chưa có thời điểm nào việc nghiên cứu đồng bộ các quy định về cạnh tranh cũng như bảo hiểm để hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh
Trang 10liên quan đến bảo hiểm lại đặt ra cấp thiết như thời điểm hiện nay Xuất phát
từ thực tế này, đề tài nghiên cứu "Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực
kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam" được người viết lựa chọn làm luận văn
thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Để các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm thật sự lành mạnh, tạo tiền đề cho sự phát triển không ngừng đi lên của thị trường bảo hiểm Việt Nam thì trước tiên đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý cơ bản đầy đủ và đồng bộ làm tiền đề hoạt động kinh doanh mang tính cạnh tranh của các DNBH, đồng thời phải xác định rõ được các hành vi hạn chế cạnh tranh, CTKLM chủ yếu của thị trường này cũng như các chế tài pháp lý để xử lý nghiêm các hành vi
vi phạm
Cùng với sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2004, các quy phạm pháp luật liên quan đến cạnh tranh cũng đã dần được cụ thể hóa vào từng lĩnh vực
cụ thể của nền kinh tế, trong đó có hoạt động KDBH Trong thời gian vừa qua
đã có rất nhiều các bài viết phản ánh trên các tạp chí về hoạt động cạnh tranh
và các hành vi CTKLM trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn vụ việc xử lý hành thỏa thuận ấn định về phí bảo hiểm vật chất xe được coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như đã nói ở trên được Hội đồng xử
lý vụ việc cạnh tranh đưa ra xem xét, xử lý Bên cạnh đó còn có các nghiên
cứu tổng quan mang tính chuyên sâu hơn như nghiên cứu về "Những hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam" của Tiến sĩ Nguyễn Đình Quang, Nguyễn Bá Linh - Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt; hay tác giả Thanh Hương với nghiên cứu tổng hợp "Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực bảo hiểm tại Việt Nam và một số kiến nghị đối với các bên liên quan trên thị trường" Tuy nhiên, các
nghiên cứu này mới chỉ dừng ở việc xem xét các hành vi CTKLM phổ biến của thị trường bảo hiểm mà các doanh nghiệp thường sử dụng để tăng trưởng
Trang 11doanh thu, thị phần, chưa có sự xem xét, đánh giá toàn diện với các quy định của pháp luật về cạnh tranh cũng như đánh giá được mức độ tương đồng, phù hợp của pháp luật về bảo hiểm với các quy định liên quan đến pháp luật về cạnh tranh hiện hành Do vậy, việc nghiên cứu các vấn đề pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH mang tính tổng thể hiện nay là cần thiết
Dựa trên thực trạng cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm Việt Nam hiện nay và nhìn nhận hành vi cạnh tranh này dưới góc độ pháp luật, trong sự
tương đồng với các ngành luật có liên quan khác, người viết chọn đề tài
"Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam"
làm luận văn với hy vọng có thể tìm hiểu sâu rõ hơn về các đặc thù của sản phẩm bảo hiểm và thị trường bảo hiểm, các vấn đề pháp lý hiện hành điều chỉnh hành vi cạnh tranh trong hoạt động KDBH của thị trường bảo hiểm Việt Nam, những vướng mắc, bất cập trong các quy định hiện hành, đồng thời đưa
ra các đề xuất để hoàn thiện các quy định của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm, đưa ra các kiến nghị có liên quan để thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh, phát triển đi lên của thị trường trong quá trình hội nhập
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Thông qua việc nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận về bảo hiểm, các quy định của pháp luật thực định về cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm, thực tế hoạt động cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam …luận văn nhằm mục đích làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh các quan hệ về cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm, đồng thời đề xuất các giải pháp khác nhằm thúc đẩy cho sự phát triển
và cạnh tranh lành mạnh của thị trường bảo hiểm Việt Nam
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và ý
nghĩa của cạnh tranh và những vấn đề chung về bảo hiểm, tính đặc thù của
Trang 12sản phẩm bảo hiểm Đây chính là cơ sở cần thiết cho việc nhìn nhận các hành
vi cạnh tranh trong thực tế phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam;
Thứ hai: Nghiên cứu, phân tích các vấn đề pháp lý hiện hành điều
chỉnh hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm và thực tiễn cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay;
Thứ ba: Căn cứ vào cơ sở lý luận và các các phân tích nêu trên, luận
văn sẽ đưa ra những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về KDBH trong việc điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm, đồng thời đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật trong hoạt động cạnh tranh để góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một bản luận văn thạc sĩ với một đề tài mới, với khả năng nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo còn hạn chế công trình nghiên cứu này chưa thể bao quát hết được các vấn đề pháp lý về hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH mà chỉ dừng lại ở những tiếp cận, đánh giá ban đầu trên cơ sở thực tế các hành vi cạnh tranh phổ hiển hiện nay trên thị trường bảo hiểm Giới hạn trong phạm vi đề tài này, luận văn tập trung vào việc nghiên cứu các hành vi liên quan đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các hành
vi CTKLM trong hoạt động KDBH phi nhân thọ vì đây là lĩnh vực tập trung nhiều vấn đề liên quan đến cạnh tranh nhất trong thời gian vừa qua
Luận văn cũng đưa ra đánh đánh giá một cách tổng quát dưới góc
độ pháp lý về sự tương đồng giữa Luật Cạnh tranh và Luật KDBH trong việc điều chỉnh các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH
Trên cơ sở đó luận văn cũng đưa ra một số gợi ý và đề xuất để hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm và đảm bảo cho khung pháp luật đó được khả thi trên thực tế
Trang 135 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận để nghiên cứu đề tài này là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp song song với các phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh, sơ đồ
Phương pháp phân tích được dùng để làm rõ khái niệm bảo hiểm, bản chất và những đặc thù của bảo hiểm, khái niệm về cạnh tranh, bản chất và ý nghĩa của cạnh tranh, làm rõ thực trạng điều chỉnh của pháp luật Việt Nam về hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm
Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng để làm rõ sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam, hệ thống các hành vi được xem là CTKLM, hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực bảo hiểm Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các bảng biểu, số liệu thống kê để phân tích, chứng minh các nội dung liên quan
Trên cơ sở đó, phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa nhằm đưa ra những đề xuất, kiến nghị của luận văn
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn có những đóng góp khoa học như sau:
a) Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về cạnh tranh trong lĩnh vực bảo
hiểm, khẳng định sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH
b) Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về cạnh tranh và cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH, những điểm hạn chế, bất cập trong thực tiễn
áp dụng pháp luật điều chỉnh về hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH tại Việt Nam,
c) Đưa ra một số ý kiến và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về cạnh tranh trong hoạt động KDBH
Trang 147 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm và thị trường bảo hiểm,
pháp luật về cạnh tranh trong kinh doanh bảo hiểm
Chương 2: Thực trạng pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh bảo hiểm và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị về việc xây dựng và hoàn thiện các quy
định của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
Trang 15Chương 1
KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT
VỀ CẠNH TRANH TRONG KINH DOANH BẢO HIỂM
1.1 KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA CỦA CẠNH TRANH
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm cạnh tranh được sử dụng rất rộng ở nhiều phạm vi khác nhau như trong phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi liên quốc gia…và điểm khác nhau là mục tiêu đặt ra của việc cạnh tranh này như thế nào Nếu như ở phạm vi quốc gia, mục tiêu đặt ra là nâng cao mức sống và các chế độ phúc lợi cho nhân dân thì đối với doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận và các lợi ích tối đa mang lại quá trị cho doanh nghiệp
Theo Các Mác thì "cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [Dẫn theo 50] Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Mac đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hàng hóa dưới giá trị của nó nhưng vân thu được lợi nhuận
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) thì:
Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất [Dẫn theo 50]
Trang 16Cho đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa ó một định nghĩa là về "cạnh tranh" được thừa nhận đầy đủ nhất Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận và mục đích của các nhà khoa học
Tiếp cận dưới góc độ hàng hóa, thị trường có thể định nghĩa: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn) để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận,đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng
và sự tiện lợi
Cạnh tranh vốn được xem là động lực của sự phát triển và ý nghĩa của cạnh tranh được thể hiện rõ xét dưới các góc độ sau:
Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân: Trên bình diện
toàn bộ nền kinh tế, cạnh tranh có vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả thông qua việc kích thích các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực tối ưu nhất cũng như hạn chế được các méo mó của thị trường, góp phần phân phối lại thu nhập một cách hiệu quả và nâng cao phúc lợi xã hội
Một nền kinh tế mạnh là nền kinh tế mà các tế bào của nó là các doanh nghiệp phát triển có khả năng cạnh tranh cao Tuy nhiên, cạnh tranh ở đây phải là cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để cùng phát triển, cùng đi lên thì mới có thể làm cho nền kinh tế phát triển bền vững CTKLM sẽ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, nó sẽ tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn về quyền và lợi ích kinh tế trong xã hội, làm cho nền kinh tế có thể dẫn đến mất ổn định Như vậy, cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần
Trang 17kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xóa bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh
Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng: Trên thị trường, nếu
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra càng gay gắt thì người được hưởng lợi ích đầu tiên chính là người tiêu dùng Cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộng rãi hơn, bảo đảm cho cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặt giá cả tùy tiện Khi đó, những lợi ích mà người tiêu dùng có thể nhận được từ sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường như chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá bán thấp hơn, chất lượng phục vụ cao hơn
Vai trò của cạnh tranh đối với các doanh nghiệp: Trong nền kinh tế
thị trường, cạnh tranh là điều tất yếu đối với các doanh nghiệp Cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm dịch
vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng Cạnh tranh trở thành động lực khuyến khích các doanh nghiệp phải áp dụng các công nghệ mới, hiện đại, tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng dịch
vụ, cải tiến mẫu mã để tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao trên thị trường
Vai trò của cạnh tranh trên bình diện quốc tế: chính cạnh tranh đã
thúc đẩy các doanh nghiệp mở rộng tìm kiếm thị trường với mục đích tiêu thụ, đầu tư huy động nguồn vốn, lao động, công nghệ, kỹ năng lao động, quản
lý trên thị trường quốc tế Thông qua cạnh tranh quốc tế các doanh nghiệp thấy được lợi thế so sánh cũng như các điểm yếu kém của mình để hoàn thiện, xây dựng các chiến lược kinh doanh, cạnh tranh trên thị trường quốc tế Như vậy, cạnh tranh góp phần thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường ra khu vực và thế giới, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài, qua đó tham gia sâu vào phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế, tăng cường giao lưu vốn lao động, khoa học công nghệ với các nước trên thế giới
Trang 18Ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận sự tồn tại tất yếu khách quan của cạnh tranh và coi cạnh tranh là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Cạnh tranh lành mạnh được các nước ủng hộ và khuyến khích phát triển bằng cách pháp lý hóa chúng trong các đạo luật về chống độc quyền
và bảo vệ cạnh tranh
1.2 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM
1.2.1 Khái niệm bảo hiểm
Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày, dù đã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng con người vẫn có nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra Chính sự tồn tại của các loại rủi
ro chính là nguồn gốc phát sinh hoạt động dự trữ, bảo hiểm ngày nay Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ nhằm xây dựng Quỹ bồi thường chung từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm có những rủi ro và nhu cầu bảo hiểm giống nhau để được Quỹ bồi thường chi trả khi xảy ra những sự kiện, rủi
ro, thiên tai, tai nạn bất ngờ kém may mắn gây thiệt hại cho những người tham gia bảo hiểm Bảo hiểm chính là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra Bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm
Bảo hiểm đã ra đời rất lâu trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay, bảo hiểm là một lĩnh vực đang ngày một phát triển với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm khá cao, tăng trưởng trong giai đoạn 2005-2009 là 16,99%, giai đoạn 2010 - 2012 vào khoảng gần 12% [35] Tuy nhiên, do tính đặc thù của dịch vụ này, hiện nay chưa có bất cứ một định nghĩa nào được coi và được công nhận là định nghĩa chính thức về bảo hiểm
Trang 19Theo Dennis Kessler thì "Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít" [10] hay theo quan điểm khác thì:
Bảo hiểm là hình thức mà người được bảo hiểm cam kết góp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn cho mình hoặc một bên thứ 3 nhận được đền bù được chi trả bởi người bảo hiểm (đơn vị đứng ra nhận trách nhiệm với toàn bộ rủi ro và đứng ra đền bù các thiệt hại mà mình cam kết với người được bảo hiểm) khi xảy ra các tổn thất, thiệt hại [10]
Theo định nghĩa của Tập đoàn AIG của Mỹ thì:
Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm [10]
Có thể nói các định nghĩa trên hoặc quá thiên về góc độ xã hội, hoặc thiên về góc độ kinh tế - kỹ thuật, chưa phải là một khái niệm bao quát và hoàn chỉnh nhất về bảo hiểm Dưới góc độ pháp lý, có thể tìm thấy định nghĩa của Monique Gaullier như sau:
Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê [39]
Theo quy định tại Điều 3 Luật KDBH năm 2000 của Việt Nam thì:
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp
Trang 20nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm [45]
Theo các nhà kinh tế bảo hiểm, một định nghĩa đầy đủ và thích hợp nhất về bảo hiểm phải bao gồm việc hình thành một quỹ tiền tệ (quỹ bảo hiểm), sự hoán chuyển rủi ro, và thêm nữa phải bao gồm sự kết hợp số đông các đơn vị đối tượng riêng lẻ và độc lập chịu cùng một rủi ro như nhau thành một nhóm tương tác
Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, có thể hiểu
như sau: Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm cho người được bảo hiểm hoặc người thứ ba khi xảy ra các rủi ro, mất mát đối với đối tượng được bảo hiểm theo các điều kiện đã thỏa thuận trước trên cơ
sở người được bảo hiểm đóng phí bảo hiểm và việc bồi thường thiệt hại này
sẽ được xác định theo phương pháp của thống kê"
1.2.2 Vai trò của bảo hiểm
Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một ngành kinh doanh rất phát triển
và dần trở thành một khái niệm quen thuộc trong đời sống xã hội Xem xét mối quan hệ giữa sự phát triển của ngành bảo hiểm trong tương quan chung với sự phát triển ổn định của xã hội và của toàn nền kinh tế ở nhiều nước, nhiều nhà kinh tế học đã khẳng định tác dụng to lớn, cũng như vai trò không thể thiếu của bảo hiểm đối với sự phát triển và ổn định của nền kinh tế Vai trò của bảo hiểm có thể được xem xét ở các khía cạnh sau:
* Thông qua việc giải quyết bồi thường, bù đắp thiệt hại và khắc phục tổn thất, bảo hiểm có tác dụng to lớn trong việc ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh và ổn định xã hội
Bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất chính là tác dụng chủ yếu của bảo hiểm và cũng chính xuất phát từ mục đích này dẫn đến sự ra đời của
Trang 21ngành bảo hiểm Khi nói đến bảo hiểm là nói đến khả năng bồi thường khi có tổn thất xảy ra, và vai trò của các công ty bảo hiểm là cung cấp các loại dịch
vụ tài chính đặc biệt nhằm khôi phục khả năng vật chất, tài chính như trước khi xảy ra rủi ro, hoặc bồi thường cho người thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm con người Với việc mua bảo hiểm, các tổ chức, cá nhân đã chuyển rủi
ro của mình sang các Công ty Bảo hiểm Thông qua việc nhận phí bảo hiểm, rủi ro của các đối tượng được bảo hiểm sẽ được chuyển giao sang các Công ty bảo hiểm hay nói các khác, hoạt động KDBH chính là kinh doanh các rủi ro của DNBH Do thực hiện nguyên tắc lấy số đông bù số ít nên hoạt động bảo hiểm tập trung được một lượng tiền khá lớn dùng để bù đắp những thiệt hại, mất mát về người và tài sản do các rủi ro, tai nạn bất ngờ xảy ra Thông qua việc bồi thường tổn thất của DNBH, các cá nhân khắc phục được khó khăn về tài chính, dễ dàng ổn định cuộc sống hơn, các tổ chức kinh doanh bảo toàn vốn, tài sản, giữ cho chu kỳ sản xuất - kinh doanh không bị gián đoạn dẫn đến phá sản khi gặp thiệt hại quá nặng nề
* Tạo tâm lý an toàn cho cuộc sống và cho sản xuất kinh doanh của con người
Vai trò tạo tâm lý án toàn cho cuộc sống và cho sản xuất kinh doanh của con người chính là xuất phát từ bản chất, tác dụng bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất của bảo hiểm như đã đề cập nêu trên Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu được đảm bảo an toàn cho tương lai của con người ngày càng cao Hiện nay, xã hội nói chung và nền kinh tế nói riêng đang dần xuất hiện những rủi ro mới mà con người không thể lường trước hết được, ngoài những rủi ro thiên nhiên là những rủi ro liên quan đến chính trị, xã hội, kinh tế hết sức phức tạp Với mục đích chình là bù đắp tổn thất, bảo hiểm chính là một giải pháp hữu hiệu tạo tâm lý an tâm cho sản xuất kinh doanh và cho cuộc sống của con người
Trang 22* Góp phần kiểm soát rủi ro, tăng cường công tác đề phòng và hạn chế tổn thất
Việc kiểm soát rủi ro, tăng cường công tác đề phòng để hạn chế tổn thất của các DNBH được thực hiện song song với quá trình hoạt động của các công ty bảo hiểm và được thể hiện qua một số nội dung sau:
Về phía các DNBH: Dựa trên cơ sở các rủi ro hàng năm, các tổ chức
KDBH sẽ tiến hành thống kê, nghiên cứu và đánh giá các rủi ro, từ đó xác định nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến tổn thất Trên cơ sở đó, các tổ chức bảo hiểm sẽ đề xuất biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất nhằm giảm đến mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra Việc các công ty bảo hiểm tích cực thực hiện các biện pháp phòng tránh rủi ro không chỉ để giảm bớt chi phí bồi thường nhằm nâng cao lợi nhuận cho mình, mà quan trọng hơn, nó góp phần giảm bớt những hậu quả đáng tiếc về vật chất cũng như tinh thần khi xảy ra tổn thất
Về phía người tham gia bảo hiểm: Song song với việc đánh giá rủi ro
đối với đối tượng được bảo hiểm, các công ty bảo hiểm cũng luôn đôn đốc các
cá nhân, tổ chức tham gia mua bảo hiểm tăng cường các biện pháp bảo vệ tài sản của chính mình Người tham gia bảo hiểm muốn được hưởng quyền lợi bồi thường khi có tổn thất xảy ra, bên cạnh trách nhiệm đóng phí, họ còn phải thực hiện trách nhiệm đề phòng và hạn chế tổn thất Nếu người tham gia bảo hiểm thực hiện không tốt công tác bảo vệ và phòng tránh tổn thất do đối tượng bảo hiểm thì khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm có thể không bồi thường cho tổn thất hoặc giảm mức bồi thường Điều này phù hợp với nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm: bảo hiểm không có nghĩa là trút hết trách nhiệm cho người bảo hiểm
* Là kênh huy động và sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo nguồn vốn lớn để đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực khác
Như đã phân tích nêu trên, bảo hiểm chính là một hoạt động nhằm xây dựng quỹ bồi thường chung thông qua việc thu phí bảo hiểm từ những người
Trang 23tham gia bảo hiểm có những rủi ro và nhu cầu giống nhau để được chi trả khi
có những tổn thất, rủi ro bất ngờ xảy ra cho người tham gia bảo hiểm Tuy nhiên, số tiền này không phải sẽ chỉ được dùng và sử dụng cho mục đích chi trả các rủi ro xảy ra đối với người được bảo hiểm mà sẽ được các DNBH sử dụng để tái đầu tư trở lại nền kinh tế Các công ty bảo hiểm chính là định chế tài chính không thể thiếu trong nền kinh tế Thông qua các hợp đồng bảo hiểm
và việc thu phí bảo hiểm, các Công ty bảo hiểm đã tập trung được lượng tiền phân tán rải rác thành các quỹ tiền tệ lớn Quỹ bảo hiểm này đã trở thành một định chế tài chính trung gian trên thị trường vốn
Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật cũng đã quy định khá rõ về các lĩnh vực các DNBH được đầu tư trở lại nền kinh tế cũng như hạn mức đầu tư Theo các quy định hiện hành của luật thì DNBH được sử dụng vốn nhàn rỗi
để đầu tư trong các lính vực như: kinh doanh bất động sản, đầu tư trái phiếu Chính phủ, góp vốn vào các doanh nghiệp khác
1.3 KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM
Để quản lý việc cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung và trong lĩnh vực KDBH nói riêng, nhà nước sẽ dùng nhiều cách thức, biện pháp, trong đó pháp luật sẽ được sử dụng như một công cụ đầu tiên để tạo ra hành lang pháp
lý cho các doanh nghiệp hoạt động và cạnh tranh trên thị trường Như vậy,
pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH có thể được định nghĩa là khung pháp luật quy định và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động kinh doanh trên thị trường bảo hiểm được cạnh tranh một cách tự
do, công bằng bằng cách quy định và xử lý nghiêm các hành vi có tính chất phản cạnh tranh
Đối với các chủ thể kinh doanh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, trong hoạt động có liên quan đến tính cạnh tranh của mình sẽ phải tuân thủ các quy định của pháp luật chuyên ngành trong lĩnh vực hoạt động của mình, đồng
Trang 24thời với đó, phải tuân thủ các quy định của pháp luật liên quan đến cạnh tranh Hiện nay tại Việt Nam, các quy định liên quan đến vấn đề cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH được quy định trong Luật cạnh tranh số 27/2004/QH11 và Luật KDBH số 24/2000/QH10 và Luật sửa đổi Luật KDBH số 61/2010/QH12 cùng với các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành
* Về quy định của Luật Cạnh tranh
Pháp luật về cạnh tranh nói chung và CTKLM nói riêng là lĩnh vực pháp luật đang còn khá mới mẻ ở Việt Nam cả về mặt pháp luật thực định và trong khoa học pháp lý Trong khi đó pháp luật về cạnh tranh trong quan hệ kinh doanh, thương mại quốc tế đã có lịch sử hình thành từ lâu đời, do đó việc Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO đã đặt ra nhiệm vụ mới là phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về cạnh tranh nói riêng
Năm 1997 lần đầu tiên Luật Thương mại ra đời, đây là đạo luật đầu tiên quy định về quyền cạnh tranh của thương nhân mặc dù phạm vi điều chỉnh chủ yếu của luật này là điều chỉnh các hành vi thương mại của các thương nhân Tại Điều 8 Luật Thương mại 1997 quy định: "Thương nhân được cạnh tranh hợp pháp trong hoạt động thương mại, nghiêm cấm các hành
vi cạnh tranh gây tổn hại đến lợi ích quốc gia và các hành vi sau đây "
Điều 9 liệt kế các hành vi CTKLM trong hoạt động thương mại Sau đó các văn bản dưới luật khác được ban hành để hướng dẫn luật thương mại trong một số lĩnh vực về quảng cáo, khuyến mại, sở hữu trí tuệ…cũng có quy định điều chỉnh các hành vi CTKLM Đến 03/12/2004 tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Cạnh tranh và có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2005 Đây là bước đánh dấu về việc cạnh tranh trở thành một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Cùng với sự ra đời của Luật Cạnh tranh, hệ thống các văn bản dưới luật cũng ra đời để hướng dẫn cụ thể, chi tiết các nội dung của luật, bao gồm:
Trang 25- Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh;
- Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/09/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
Để tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, pháp luật cạnh tranh được nhấn mạnh như một công cụ quan trọng hàng đầu Chính sách cạnh tranh là bộ phận không thể thiếu của nền tảng pháp lý đảm bảo cho một nền kinh tế thị trường vận hành trôi chảy Pháp luật cạnh tranh có nhiệm vụ ngăn ngừa và xử lý những hành vi cạnh tranh trái pháp luật, trái đạo đức và tập quán kinh doanh của các doanh nghiệp Những nội dung điều chỉnh chính trong pháp luật cạnh tranh của Việt Nam bao gồm:
+ Pháp luật kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh: Hạn chế cạnh
tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường Đối với những hành vi hạn chế cạnh tranh, pháp luật quy định về các hành vi như thế nào là hạn chế cạnh tranh, những hành vi nào bị cấm tuyệt đối và những hành vi bị cấm nhưng có những trường hợp được miễn trừ (có thời hạn và không có thời hạn) khi đạt những điều kiện nhất định và các hình thức xử lý của pháp luật đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh
+ Pháp luật chống CTKLM: quy định về những hành vi cạnh tranh của
doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường
về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng và cách thức xử lý đối với những hành vi này Mọi hành vi CTKLM đều
bị cấm tuyệt đối, không có sự miễn trừ và chống lại sự CTKLM là một quyền pháp lý của người kinh doanh
+ Pháp luật về tố tụng cạnh tranh: Đây là nhóm các quy phạm pháp
luật quy định về hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục giải quyết, xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định của pháp luật
Trang 26* Về các quy định của luật KDBH
Luật KDBH ra đời trước Luật Cạnh tranh và ngay khi chưa có sự ra đời của Luật Cạnh tranh, các quy định để bảo đảm cho một thị trường bảo hiểm phát triển bình đẳng, lành mạnh đã được ghi nhận trong Luật KDBH và được củng cố, bổ sung trong các văn bản sửa đổi, hướng dẫn thi hành luật sau này Các quy định chuyên ngành hiện hành trong lĩnh vực KDBH hiện nay gồm:
- Luật sửa đổi Luật KDBH số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2000;
- Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật KDBH;
- Nghị định 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 của Chính phủ về việc quy định chế độ tài chính đối với DNBH và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
- Nghị định 123/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật KDBH và sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007;
- Nghị định 98/2013/NĐ-CP ngày 28/08/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH, kinh doanh xổ số
- Thông tư 124/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật KDBH và Nghị định 123/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật KDBH;
- Thông tư 125/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ tài chính đối với DNBH, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và chi nhánh DNBH phi nhân thọ nước ngoài;
Trang 27- Các văn bản pháp luật có liên quan khác
Như vậy, có thể nói các quy định của pháp luật liên quan đến KDBH trên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay tương đối đầy đủ, trong đó bao gồm cả các quy định về cạnh tranh trong hoạt động KDBH Hoạt động KDBH chịu sự giám sát chặt chẽ của nhà nước do bảo hiểm là một cấu phần của bộ phận tài chính và có tính nhạy cảm cao DNBH chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ của nhà nước từ khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động Hiện nay, các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực KDBH của Việt Nam có thể chia thành 4 nhóm, trong đó có những quy phạm gián tiếp góp phần đảm bảo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, có những nhóm quy phạm quy định trực tiếp tác động đến hoạt động cạnh tranh của danh nghiệp trên thị trường,
Kiểm tra trước khi cấp giấy phép thành lâ ̣p và hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh bảo hiểm thực chất là xem xét việc đảm bảo các điều kiện tham gia thị trường theo luâ ̣t đi ̣nh trên cơ sở thẩm đi ̣nh hồ sơ xin cấp giấy phép thành lâ ̣p và hoa ̣t
đô ̣ng Thông qua các tài liê ̣u , thông tin trong hồ sơ xin cấp giấy phép , như danh sách, lý lịch, các văn bằng chứng minh năng lực , trình độ chuyên môn ,
Trang 28nghiê ̣p vu ̣ của người quản tri ̣, người điều hành doanh nghiê ̣p; phương án hoa ̣t
đô ̣ng 5 năm đầu , trong đó có phương thức trích lâ ̣p dự phòng nghiê ̣p vu ̣ , chương trình tái bảo hiểm , đầu tư vốn , hiê ̣u quả kinh doanh , khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và lợi ích kinh tế của việc thành lập doanh nghiê ̣p; mức vốn góp và phương thức góp vốn , danh sách những tổ chức , cá nhân chiếm là chủ sở hữu lớn số vốn điều lê ̣ , tình hình tài chính và những thông tin khác có liên quan đến các tổ chức , cá nhân góp vốn ; quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm của loa ̣i sản phẩm bảo hiểm dự kiến kinh doanh, là những thẩm định ban đầu để khẳng định DNBH có đủ năng lực để tham gia kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam
+ Nhóm quy phạm về quản lý, giám sát trong quá trình hoạt động
Trên cơ sở thẩm định các điều kiện cần thiết , doanh nghiệp sẽ được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động Mọi sự sửa đổi, bổ sung như là: đổi tên doanh nghiê ̣p; tăng giảm mức vốn điều lê ̣ ; mở hoă ̣c chấm dứt hoa ̣t đô ̣ng của chi nhánh; thay đổi đi ̣a điểm đă ̣t tru ̣ sở ; thay đổi nô ̣i dung và thời ha ̣n hoa ̣t
đô ̣ng; chuyển nhượng cổ phần , phần vốn góp; thay đổi người lãnh đa ̣o , điều hành; chia tách , sáp nhập , hợp nhất , giải thể , chuyển đổi hình thức doanh nghiê ̣p đều phải được sự chấp thuâ ̣n của cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm thông qua viê ̣c cấp giấy phép điều chỉ nh Bên ca ̣nh viê ̣c quản lý , giám sát việc chấp hành các quy định trong giấy phép kinh doanh; các quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm đã đăng ký , phê chuẩn; các quy định của pháp luật về khai thác bảo hiểm , trả hoa hồng bảo hiểm, bảo hiểm bắt buộc , tái bảo hiểm, chuyển giao hợp đồng bảo hiểm , , vấn đề phức ta ̣p và quan tro ̣ng bâ ̣c nhất trong quản lý , giám sát của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm là giám sát tài chính đối với doanh nghiê ̣p bảo hiểm
Giám sát tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm phải được thực hiện trên nhiều mă ̣t Trong quá trình hoa ̣t đô ̣ng , doanh nghiê ̣p bảo hiểm phải löôn duy trì khả năng thanh toán trước các trách nhiê ̣ m đã và có thể phát sinh từ
Trang 29những hợp đồng bảo hiểm đã ký kết Kỹ thuâ ̣t bảo hiểm đòi hỏi các doanh nghiê ̣p phải trích lâ ̣p nhiều loa ̣i dự phòng nghiê ̣p vu ̣ Thực tế, mức trích lâ ̣p dự phòng nghiê ̣p vu ̣ sẽ chi phối trực tiế p khả năng thanh toán của doanh nghiê ̣p bảo hiểm (không phải chỉ trong mô ̣t năm mà cả về lâu dài ), kết quả kinh doanh (lỗ lãi), khoản thuế phải nộp cho ngân sách Nhà nước , lợi tức/ cổ phiếu, Đầu tư vốn cũng là hoạt động tà i chính không thể thiếu trong kinh doanh bảo hiểm Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm của các quốc gia rất coi trọng việc điều chỉnh nội dung đầu tư , cơ cấu các khoản mu ̣c đầu tư của doanh nghiê ̣p bảo hiểm, đă ̣c biê ̣t là đầu tư nguồn vốn từ dự phòng nghiê ̣p vu ̣
và pháp luật Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Đảm bảo an toàn tài chính trong hoạt động kinh doanh cũng chính là góp phần đảm bảo cho khả năng cạnh tranh của các DNBH
+ Nhóm quy phạm pháp luật liên quan đến giám sát viê ̣c chia tách , hợp nhất, sáp nhập, giải thể và phá sản doanh nghiệp bảo hiểm
Chia tách , hợp nhất , sáp nhập , giải thể và phá sản doanh nghiệp là những hiê ̣n tượng rất dễ phát sinh trong kinh tế thi ̣ trường Pháp luật KDBH
đã có những quy định cụ thể đảm bảo viê ̣c tách, nhâ ̣p, giải thể, phá sản đó tiến hành đúng theo quy định của pháp luật , như là chia, tách doanh nghiệp bảo hiểm phải đi đôi với viê ̣c phân đi ̣nh rõ ràng tài sản , quyền lợi và nghĩa vụ của các doanh nghiệp bảo hiểm mới ; hợp nhất các doanh nghiê ̣p bảo hiểm , sáp nhâ ̣p doanh nghiê ̣p bảo hiểm phải diễn ra đồng thời với viê ̣c hợp nhất , sáp nhâ ̣p về tài sản và các quyền lợi , nghĩa vụ của các doanh nghiê ̣p bảo hiểm có
liên quan, để kiểm soát các hành vi cạnh tranh của DNBH
+ Nhóm quy phạm pháp luật liên quan đến xử lý vi phạm pháp luật kinh doanh bảo hiểm
Sự phức ta ̣p của các mối quan hê ̣ trong hoa ̣t dô ̣ng kinh doanh bảo hiểm và pháp luật kinh doanh bảo hiểm khiến lĩnh vực này tiềm ẩn nhiều khả năng phát sinh các hiê ̣n tượng vi pha ̣m Thực tế , những vi pha ̣m quy đi ̣nh
Trang 30pháp luật trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm rất đa dạng , như: kinh doanh hoă ̣c hoa ̣t đô ̣ng không đúng nô ̣i dung ghi trong giấy phép thành lâ ̣p và hoa ̣t
đô ̣ng; vi pha ̣m quy đi ̣nh về chuyển giao hợp đồng bảo hiểm ; cạnh tranh bất hợp pháp; ép buộc giao kết hợp đồng bảo hiểm trái pháp luật ; vi pha ̣m quy
đi ̣nh về bảo hiểm bắt buô ̣c , tái bảo hiểm bắt buộc , hoa hồng bảo hiểm , dự phòng nghiệp vụ, đầu tư vốn,
Tính phức tạp của ng uyên nhân và hâ ̣u quả vi pha ̣m buô ̣c quản lý nhà nước phải có biê ̣n pháp và hình thức xử lý thích ứng Và pháp luật KDBH cũng đã có các quy định cụ thể về vấn đề này để xử lý các hành vi phản cạnh tranh, đảm bảo cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra một cách bình đẳng và lành mạnh
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận văn đã chỉ rõ khái niệm và vai trò quan trọng của bảo hiểm đối với sự ổn định của đời sống xã hội Bên cạnh đó cũng làm rõ khái niệm cạnh tranh cũng như vai trò của cạnh tranh đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và khái quát pháp luật điều chỉnh về cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH Những nô ̣i dung trên đây là cơ sở đầu tiên cho viê ̣c nhìn nhâ ̣n, đánh giá thực tế pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực KDBH và thực tiễn áp dụng pháp luật trên thực tế ở Việt Nam hiện nay, được trình bày trong chương 2 và các giải pháp đưa ra ở chương 3 dưới đây
Trang 31Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI VIỆT NAM
Nếu như Luật Cạnh tranh quy định các vấn đề chung liên quan đến cạnh tranh của các chủ thể trong nền kinh tế thì Luật KDBH với tư cách là luật chuyên ngành có các quy định liên quan đến cạnh tranh trong chính lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh Do vậy, nghiên cứu về thực trạng Luật Cạnh tranh trong KDBH cần phải nghiên cứu đồng thời cả các quy định của Luật Cạnh tranh và Luật KDBH có ảnh hưởng đến lĩnh vực KDBH tại Việt Nam
2.1.1 Pháp luật về các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh năm 2004
* Pháp luật về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004
- Khái niệm về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Khoản 3, Điều 3 Luật Cạnh tranh đã đưa ra khái niệm về hành vi hạn chế cạnh tranh: "là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế" [46] Như vậy, hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được xác định là một trong ba nhóm hành vi cơ bản của hành vi hạn chế cạnh tranh
Mặc dù không có một khái niệm chung, thống nhất giữa các quốc gia về - thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, tuy nhiên, từ thực tiễn thực thi pháp luật, có thể thấy cách hiểu, cách tiếp cận đối với - thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở
Trang 32các quốc gia có nhiều điểm tương đối đồng nhất Ở Châu Âu, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được quy định tại Điều 101 (Điều 81 cũ) của Hiệp ước thành lập liên minh Châu Âu như sau:
Mọi thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, quyết định của hiệp hội các doanh nghiệp và mọi hành vi liên kết khác có thể ảnh hưởng đến thương mại giữa các nước thành viên và có mục đích hoặc hệ quả ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch quy Luật Cạnh tranh trên thị trường của liên minh, đều bị coi là đi ngược lại với mục đích thành lập thị trường chung và bị cấm [2]
Tại Nhật Bản, khoản 6, Điều 2, Luật Chống độc quyền quy định: Hạn chế thương mại bất hợp lý là các hoạt động kinh doanh mà thông qua đó bất kỳ doanh nghiệp nào bằng hợp đồng, thỏa thuận hay bất kỳ các hoạt động thông đồng khác, không phụ thuộc tên gọi, cùng hạn chế hay tiến hành các hoạt động kinh doanh của họ theo cách thức cố định giá, duy trì giá hay tăng giá, hoặc để giới hạn sản xuất, công nghệ, sản phẩm, cơ sở sản xuất hay khách hàng hoặc giao dịch của các đối tác, gây ra hạn chế đáng kể đối với cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại, đi ngược lại lợi ích chung [26]
Khác với Luật Cạnh tranh của Châu Âu và Nhật Bản, Luật Cạnh tranh của Việt Nam không đưa ra khái niệm về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mà quy định cụ thể về 8 dạng thức (hành vi) thỏa thuận, bao gồm:
1 Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
2 Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ;
3 Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ;
Trang 334 Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;
5 Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
6 Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
7 Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận;
8 Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ [46]
Như vậy, Luật Cạnh tranh của Việt Nam cũng như của các quốc gia nêu trên đều không phân biệt hình thức thỏa thuận (công khai hay ngầm) và đều nhắm vào mục đích/hệ quả hạn chế cạnh tranh của thỏa thuận Tuy nhiên, từ các cách tiếp cận điều chỉnh hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, có thể thấy rằng Luật Cạnh tranh Việt Nam hiện hành sử dụng cách tiếp cận đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hẹp hơn so với tiếp cận của Châu
Âu và Nhật Bản, trên một số phương diện sau:
+ Ở Việt Nam, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chỉ bao hàm thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, không bao hàm các quyết định của Hiệp hội doanh nghiệp hay các hành vi liên kết khác như ở Châu Âu và Nhật Bản [7] Chính bởi cách tiếp cận này, Luật Cạnh tranh của Việt Nam đã không xem xét vai trò của các hiệp hội trong các vụ việc liên quan đến hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
+ Xuất phát từ cách tiếp cận liệt kê hành vi, ở Việt Nam, ngoài 8 dạng thỏa thuận được luật hóa tại Điều 8 của Luật, các hạn chế thương mại
Trang 34bất hợp lý khác hay các hành vi liên kết, thông đồng khác mặc dù có mục đích hoặc hệ quả ngăn cản, hạn chế hoặc làm sai lệch quy Luật Cạnh tranh trên thị trường nhưng nếu không thuộc 8 dạng thỏa thuận được liệt kê sẽ không
bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và không bị xem xét
- Về các quy định cấm
Các quy định cấm đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được đề cập tại Điều 9 Luật Cạnh tranh Theo đó, các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm đoán ở hai mức độ: cấm tuyệt đối (trong mọi trường hợp) và cấm khi thị phần kết hợp của các bên tham gia thỏa thuận trên thị trường liên quan chiếm từ 30% trở lên Mặc dù vậy, căn cứ các quy định hiện hành, có thể thấy rằng Luật Cạnh tranh của Việt Nam sử dụng nguyên tắc vi phạm mặc nhiên khi đánh giá các hành vi thỏa thuận
+ Quy định cấm tuyệt đối (Khoản 1, Điều 9 Luật Cạnh tranh): được áp dụng đối với các thỏa thuận quy định tại khoản 6; 7; 8, Điều 8, Luật Cạnh tranh, bao gồm (1) thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; (2) thỏa thuận loại
bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận; (3) thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ Theo cách tiếp cận của Luật Cạnh tranh Việt Nam, ba loại thỏa thuận bị cấm tuyệt đối và không được miễn trừ luôn hàm chứa tính chất hạn chế cạnh tranh mà không có bất cứ một cơ sở nào
để có thể biện hộ về hiệu quả của chúng đối với thị trường Do đó, việc xác định hành vi thỏa thuận bị cấm trong các trường hợp này không đòi hỏi phải chứng minh về sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận
+ Quy định cấm khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên (Khoản 2, Điều 9 Luật Cạnh tranh) được áp dụng đối với các thỏa thuận quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5, Điều 8 Luật Cạnh tranh, bao gồm (1) thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ
Trang 35một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; (2) thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; (3) thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ; (4) thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; (5) thỏa thuận
áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng [46]
Các thỏa thuận không thuộc ba trường hợp bị cấm tuyệt đối chỉ có thể
bị cấm khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận trên thị trường liên quan từ 30% trở lên Việc xác định cấu thành hành vi thỏa thuận bị cấm trong những trường hợp này yêu cầu phải chứng minh hai yếu tố:
+ Nội dung của thỏa thuận thuộc các hình thức thỏa thuận được quy định tại khoản 1; 2; 3; 4 hoặc 5, Điều 8 Luật Cạnh tranh;
+ Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận trên thị trường liên quan phải chiếm từ 30% trở lên
Điều kiện khác biệt giữa hai mức độ cấm đoán là yêu cầu về mức thị phần kết hợp của các bên tham gia thỏa thuận Theo cách tiếp cận của các nhà làm luật Việt Nam, thị phần là cơ sở để xác định khả năng chi phối của doanh nghiệp đối với thị trường Theo Luật Cạnh tranh, mức thị phần trên thị trường liên quan từ 30% trở lên đã có thể trao cho doanh nghiệp sức mạnh thị trường, là khả năng tác động đến giá cả thị trường của một loại hàng hóa hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua
- Về các quy định miễn trừ
Ngoài các quy định cấm và cấm có điều kiện, Luật Cạnh tranh cũng
đã có thêm các quy định miễn trừ liên quan đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Phạm vi các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được miễn trừ theo Luật Cạnh tranh bao gồm 5 dạng hành vi được xem xét cấm theo nguyên tắc hợp
lý, nghĩa là bị cấm khi thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các bên
Trang 36tham gia từ 30% trở lên Cụ thể, theo Điều 10, Luật Cạnh tranh, chỉ những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại khoản 2, Điều 9 mới thuộc phạm
vi các thỏa thuận được xem xét miễn trừ có thời hạn Các thỏa thuận nêu trên được miễn trừ có thời hạn nếu đáp ứng được một trong các điều kiện sau nhằm hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng:
a) Hợp lý hóa cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh;
b) Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ;
c) Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm;
d) Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá;
đ) Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa; e) Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế [46]
Để được hưởng miễn trừ, các bên tham gia thỏa thuận phải thực hiện thủ tục đề xuất hưởng miễn trừ quy định tại Điều 25-38 Luật Cạnh tranh Trên
cơ sở hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ, cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ xem xét,
đề xuất ý kiến để Bộ Công thương quyết định
- Về hình thức và thẩm quyền xử lý vi phạm
Về hình thức xử lý vi phạm: Tại Việt Nam, các tổ chức, cá nhân kinh
doanh (doanh nghiệp) vi phạm các quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
bị cấm sẽ bị xử lý theo các hình thức được quy định tại Điều 117, 118 Luật Cạnh tranh và được quy định chi tiết tại Điều 10-17, Nghị định 120/2005/NĐ-CP về
xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, bao gồm:
Trang 37+ Phạt tiền;
+ Phạt bổ sung;
+ Biện pháp khắc phục hậu quả
Bảng 2.1: Các hình thức xử lý vi phạm đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
hiện hành vi vi phạm nếu không thuộc các trường hợp đặc biệt (quy định tại Khoản 2, Điều 10, Nghị định 120/2005/NĐ-CP)
- Từ 5-10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm nếu thuộc các trường hợp:
+ Hàng hóa, dịch vụ liên quan là các mặt hàng lương thực, thực phẩm, trang thiết bị y tế, thuốc phòng và chữa bệnh cho người, thuốc thú y, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi và các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe; +Doanh nghiệp vi phạm giữ vai trò tổ chức, lôi kéo các đối tượng khác tham gia vào thoả thuthỏaậ
vi vi phạm, bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu
phục hậu quả
Buộc loại bỏ những điều khoản vi phạm pháp luật ra khỏi hợp đồng hoặc giao dịch kinh doanh
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Luật Cạnh tranh năm 2004
Như vậy, nếu so sánh về chế tài xử lý vi phạm vì phạm thì đối tượng
bị xử lý về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong pháp luật Việt Nam hạn chế hơn so với pháp luật của một số quốc gia khác Pháp luật về cạnh tranh của nhiều quốc gia quy định thêm đối tượng bị xử lý có thể là cá nhân hoặc tổ chức nghề nghiệp
Cá nhân vi phạm b ị x ử l ý có thể là giám đốc, nhà quản lý, người đại diện doanh nghiệp, chủ tịch hoặc thành viên ban chấp hành hiệp hội đã thực hiện hành vi thỏa thuận, ép buộc, lôi kéo, xúi giục hoặc tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi để các bên dễ dàng tham gia thỏa thuận Các hình thức xử lý vi phạm có thể áp dụng đối với các cá nhân vi phạm bao gồm: a) chế tài phạt tù
Trang 38và/hoặc b) chế tài phạt tiền Chế tài xử lý vi phạm đối với cá nhân thường được áp dụng trong các trường hợp thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thuộc nhóm nghiêm trọng như thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường, hạn chế sản lượng hoặc thông đồng đấu thầu Việc quy định các chế tài xử lý hình sự đối với các cá nhân tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật đối với các hành vi thỏa thuận nguy hại, đồng thời mang tính răn đe, ngăn ngừa
Tại một số quốc gia, chẳng hạn như Canada, cơ quan cạnh tranh chịu trách nhiệm điều tra vụ việc, nhưng việc truy tố hình sự lại thuộc thẩm quyền của Viện công tố [9] Trong khi đó, ở các quốc gia khác như Hoa
Kỳ, Israel, Cơ quan chống độc quyền có đồng thời hai thẩm quyền điều tra
và truy tố hình sự đối với hành vi thỏa thuận nghiêm trọng
Về thời hạn phạt tù tối đa, một số quốc gia quy định cá nhân vi phạm có thể bị phạt tù tối đa lên tới 5 năm, như Nhật Bản, Ireland, Vương quốc Anh Trong khi đó, Hoa Kỳ có cách tiếp cận nghiêm khắc hơn đối với hành vi cạnh tranh nghiêm trọng, với quy định về thời hạn phạt tù tối đa lên tới 10 năm Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân vi phạm về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể là 5 triệu yen (tại Nhật Bản), 4 triệu euro (tại Ireland), 500.000 đô
la NewZealand (tại New Zealand) hoặc 1 triệu đô la Mỹ (tại Hoa Kỳ) [28]
Ngoài ra, các tổ chức nghề nghiệp, chẳng hạn như hiệp hội các doanh nghiệp trong cùng một ngành không phải là đối tượng trực tiếp tham gia thỏa thuận Tuy nhiên, hiệp hội vẫn có thể là đối tượng bị truy cứu trách nhiệm liên quan đến hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh do đã ép buộc, lôi kéo, xúi giục các doanh nghiệp thành viên tham gia thỏa thuận, thực hiện các quyết định của hiệp hội liên quan đến giá, sản lượng sản xuất, thị trường hay đóng vai trò tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp thành viên gặp
gỡ, trao đổi các thông tin kinh doanh nhạy cảm và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Các hình thức xử lý vi phạm áp dụng đối với hiệp hội ngành nghề
Trang 39có thể là phạt tiền hoặc buộc thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả Nhật Bản và Đài Loan là hai quốc gia có những quy định rõ ràng về xử lý vi phạm của hiệp hội thương mại, hiệp hội nghề nghiệp liên quan đến hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh [28]
Về thẩm quyền xử lý vi phạm: Liên quan đến việc xử lý vi phạm
các quy định về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, sau khi kết thúc quá trình điều tra, Cục Quản lý cạnh tranh có quyền đề xuất, kiến nghị các hình thức
và mức độ xử phạt dựa trên kết quả điều tra và mức độ vi phạm của các doanh nghiệp Thẩm quyền xử lý vi phạm đối với hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung, và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nói riêng thuộc về Hội đồng cạnh tranh và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định tại Điều 43, Nghị định 120/2005/NĐ-CP Quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
* Pháp luật về CTKLM theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004
CTKLM là một trong những cấu phần quan trọng của Luật Cạnh tranh Mặc dù không bao quát hết tất cả các hành vi CTKLM, tuy nhiên Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định:
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng [46]
Bên cạnh đó, Luật Cạnh tranh cũng đã liệt kê ra các hành vi được xem là CTKLM, tại Điều 39 Luật Cạnh tranh quy định các hành vi CTKLM bao gồm:
1 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn
2 Xâm phạm bí mật kinh doanh
3 Ép buộc trong kinh doanh
Trang 404 Gièm pha doanh nghiệp khác
5 Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
Theo quy định nói trên, các hành vi CTKLM có những đặc điểm cơ bản như sau:
+ Hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh
Đây là đặc điểm thể hiện về đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh Theo đó, chủ thể thực hiện hành vi CTKLM là các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường Ở đây, khái niệm doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm mọi tổ chức hay cá nhân tham gia hoạt động tìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên và chuyên nghiệp, hay sử dụng khái niệm của pháp luật thương mại là có tư cách thương nhân trên thị trường Hành vi CTKLM được áp dụng cho mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực kinh tế Nói cách khác, pháp luật không giới hạn áp dụng cho bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực hoặc hoạt động kinh doanh nào của nền kinh tế
+ Hành vi cạnh tranh trái với với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh
Đây là đặc điểm này thể hiện bản chất không lành mạnh của hành vi cạnh tranh, đó là tính chất đối lập, đi ngược lại các thông lệ tốt, các nguyên