Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn * Mục đích của Luận văn này là làm sáng tỏ những vấn đề chung về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnhtranh t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THẾ CƯỜNG
THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Nguyên Khánh
HÀ NỘI - 2012
Trang 21.1 Bản chất pháp lý của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 9
1.1.1 Nguồn gốc của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 9
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 13
1.2 Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu
Trang 31.3.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực xăng dầu
Trang 41.4.4 Pháp luật Nhật Bản
43
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 45 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
VỀ CHỐNG HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 47
2.1 Thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu
Trang 5Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THOẢ THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 72
3.1 Phương hướng hoàn
Trang 63.1.4 Cơ chế điều hành, quản lý nhà nước
90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Từ khi Đảng và Nhà nước ta khởi xướng, lãnh đạo thực hiện việc chuyểnđổi và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, nền kinh tế Việt Nam đãđạt được những thành tựu đáng khích lệ Tuy nhiên, khi chuyển đổi nền kinh
tế sang vận hành theo cơ chế thị trường, Việt Nam phải thừa nhận nhữngquy luật, thuộc tính vốn có và nguyên tắc hoạt động của nó Trong đó, cạnhtranh là một quy luật, là thuộc tính của kinh tế thị trường Xét ở mặt tích cực,cạnh tranh là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển Song ở phương diệnkhác, chính bản thân tự do cạnh tranh cũng là yếu tố đưa đến những hậuquả tiêu cực về kinh tế, đặc biệt là khi cơ chế pháp luật để điều tiết sự tự do
đó còn chưa được chặt chẽ thì tất yếu sẽ dẫn tới các hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh và hạn chế cạnh tranh xuất hiện Các hành vi này nảy sinh
do các chủ thể cạnh tranh nhận thấy có thể đem lại lợi nhuận lớn trong kinhdoanh, thậm chí là siêu lợi nhuận do có thể khống chế, loại bỏ đối thủ, viphạm quyền lợi của khách hàng Do vậy, các hành vi đó vẫn tiếp tục tồn tại
và phát triển
Cũng giống với các hiện tượng hạn chế cạnh tranh khác, thỏa thuận hạnchế cạnh tranh là hiện tượng tất yếu trong đời sống kinh tế thị trường ởnước ta Trên phương diện kinh tế, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là bướcđầu tiên của giới doanh nhân trong quá trình tích lũy và tập trung tư bản -yêu cầu tập trung hóa và thống nhất hành động trên thương trường Từ yêu cầuphát triển thị trường, quy trình này mang tính tất yếu và cần được khuyến khíchtrong những điều kiện nhất định Những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhằmthúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, áp dụng thống nhất các tiêu
Trang 8chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm, thống nhấtcác điều kiện kinh
Trang 9doanh, giao hàng, thanh toán… về nguyên tắc cần phải được khuyến khích vàủng hộ vì nó đem lại lợi ích chung cho toàn xã hội Tuy nhiên, nếu không đượcgiám sát, cảnh báo kịp thời từ phía Nhà nước, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
sẽ có xu hướng bóp méo hoặc thủ tiêu cạnh tranh và qua đó đã làm phương hạiđến lợi ích chung của toàn xã hội
Xăng, dầu là mặt hàng có tầm ảnh hưởng quan trọng đặc biệt trong nềnkinh tế quốc dân Giá cả của nó ảnh hưởng đến nhiều mặt kinh tế xã hội Việckinh doanh xăng dầu hiện nay ở Việt Nam được quy định tại Nghị định số84/2009/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu Nghị định số84/2009/NĐ-CP chính là căn cứ pháp lý để quản lý kinh doanh xăng dầu tạiViệt Nam, Nghị định thể hiện một bước tiến mới khi khẳng định rõ kinhdoanh xăng dầu tại Việt Nam chuyển hoàn toàn sang cơ chế thị trườngnhưng vẫn có sự quản lý của nhà nước, đồng thời công khai công thức tínhtoán giá cơ sở để hình thành giá bán lẻ xăng dầu trong nước Nghịđịnh số
84/2009/NĐ-CP quy định thương nhân đầu mối được quyền quyết địnhgiá bán lẻ xăng dầu tại các cửa hàng xăng dầu thuộc hệ thống phân phối củathương nhân, theo những nguyên tắc và trình tự được xác định tại Nghị định;thương nhân cũng có trách nhiệm tham gia bình ổn giá theo quy địnhcủa pháp luật và được bù đắp những chi phí hợp lý khi tham gia bình ổn giá
Về thực hiện cơ chế thị trường, Nghị định số 84/2009/NĐ-CP cho phépdoanh nghiệp các thành phần được tham gia kinh doanh xuất nhập xăng dầu(thay vì chỉ có doanh nghiệp nhà nước như trước đây), kinh doanh nhiêu liệubay nhằm tạo tiền đề cho môi trường kinh doanh xăng dầu ngày càng mangtính cạnh tranh hơn; mở rộng quyền kinh doanh cho doanh nghiệp trong cáchoạt động xuất nhập khẩu xăng dầu (xuất khẩu sản phẩm, nguyên liệuxăng dầu nhập khẩu và sản xuất trong nước; tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu,
Trang 10gia công xuất khẩu xăng dầu); cho phép áp dụng các công cụ phòng vệ giáphù
Trang 11hợp với thông lệ quốc tế để mua bán xăng dầu với các đối tác nước ngoài;quy định về sử dụng biển hiệu, lô gô trong hệ thống phân phối phù hợp vớipháp luật về Sở hữu trí tuệ và đặc biệt là làm rõ nguyên tắc, căn cứ,điều kiện, quy trình, biên độ điều chỉnh làm cơ sở như đã nêu ở trên đểdoanh nghiệp tự quyết định giá bán xăng dầu trong nước
Về quản lý Nhà nước, Nghị định số 84/2009/NĐ-CP đã làm rõ ở các nộidung và phân cấp quản lý về quy hoạch phát triển hệ thống kinh doanh xăngdầu, trong đó có quy hoạch cửa hàng xăng dầu gắn với công tác đấu tranhchống buôn lậu xăng dầu qua biên giới; quy định về nhập khẩu và sản xuấtxăng dầu phục vụ cho nhu cầu sử dụng của nền kinh tế; về tổ chức hệ thốngphân phối; về dự trữ lưu thông và đặc biệt là công khai minh bạch côngthức tính giá, phương thức điều hành, quản lý quá trình thực hiện điềuchỉnh giá bán xăng dầu của doanh nghiệp, góp phần thực hiện chức nănggiám sát của xã hội
Tuy nhiên, sau 3 năm thực hiện Nghị định số 84/2009/NĐ-CP, việc điềuhành giá bán các mặt hàng xăng vẫn do Nhà nước quy định trên cơ sở đềnghị của các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này; hệ lụy của quy địnhđăng ký, giá bán trong nước thường không bắt kịp giá thị trường; gây bất ổnthị trường do đầu cơ trước thông tin tăng giá Theo “Báo cáo kết quả cạnhtranh trong 10 lĩnh vực của nền kinh tế” do Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Côngthương công bố, xăng dầu là một trong những lĩnh vực có hiện tượngthỏa thuận ngầm nhằm hạn chế cạnh tranh, đầu cơ, nâng giá, lũng đoạn thịtrường
Việc kinh doanh xăng dầu chưa hoạt động theo cơ chế thị trường,
có hiện tượng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh để ấn định giá bán làm dư luậnbức xúc, ảnh hưởng đến nền kinh tế và tình hình sản xuất, kinh doanh Việc
Trang 12áp dụng Luật Cạnh tranh và kiểm soát các thỏa thuận hạn chế cạnh tranhtrong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở nước ta chưa hiệu quả.
Trang 13Xuất phát từ những vấn đề mang tính chất cấp thiết nêu trên, Học
viên đã lựa chọn đề tài "Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh
doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay" để làm luận văn thạc sĩ.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến Đề tài
Ở Việt Nam, trong lĩnh vực pháp luật cạnh tranh đã có một số công trìnhbước đầu nghiên cứu về cạnh tranh, về các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh, về độc quyền và kiểm soát độc quyền như: “Chuyên đề về cạnh
tranh, chống cạnh tranh bất hợp pháp và kiểm soát độc quyền” của Viện
Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp năm 1996; “Tiến tới xây dựng pháp
luật về cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường ở Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Như Phát - ThS Bùi Nguyên Khánh, Nhà xuất bản
Công an nhân dân năm 2001; “Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở
Việt Nam hiện nay” sách tham khảo của PGS.TS Nguyễn Như Phát và
PGS.TS.Trần Đình Hảo năm
2001; “Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc
quyền kinh doanh” của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) năm
2002; “Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành
mạnh ở Việt Nam” sách tham khảo của TS Đặng Vũ Huân năm 2004; “Tìm hiểu về Luật Cạnh tranh” của Trần Minh Sơn năm 2005; “Bình luận khoa học Luật Cạnh tranh” của TS Lê Hoàng Oanh năm 2005; “Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh” của PGS.TS Nguyễn Như Phát
và ThS Nguyễn Ngọc Sơn,… Các công trình này cũng chỉ dừng lại ở việcnghiên cứu các quy định của pháp luật cạnh tranh nói chung, về cạnh tranhkhông lành mạnh và chống hạn chế cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ởViệt Nam nói riêng
Sau khi Luật Cạnh tranh ra đời, một số công trình nghiên cứu đã đề cậpđến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, theo đó những ví dụ, kinh nghiệm điều tra
Trang 14xử lý các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh của một số nước trên thế giới cũngđược đề cập Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như “Hành vi hạn chếcạnh tranh -
Trang 15Một số vụ việc điển hình của Châu Âu” - tài liệu tham khảo thuộc khuôn khổ
Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (MULTRAP) và Bộ Công Thương ViệtNam phối hợp thực hiện Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công Thương đã chủtrì xây dựng Báo cáo đánh giá cạnh tranh trong 10 lĩnh vực, trong đó có kinhdoanh xăng dầu Một số chuyên gia, báo chí cũng có bài viết nghiên cứu
đề cập đến thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh xăngdầu ở một số góc độ nhất định nhưng chưa có công trình nào đề cập mộtcách toàn diện và chi tiết về vấn đề này Cho đến nay, đây là đề tài thạc
sĩ đầu tiên nghiên cứu về vấn đề thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong
lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
* Mục đích của Luận văn này là làm sáng tỏ những vấn đề chung về
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnhtranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu; phân tích, đánh giá thực trạngpháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăngdầu và thực tiễn áp dụng pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh trong lĩnhvực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một số phươnghướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnhtranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam trong thời gian tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu cụthể sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
và pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăngdầu Để thực hiện được nhiệm vụ này, luận văn đã nghiên cứu bản chấtpháp lý của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, trong đó tìm hiểu nguồn gốc
Trang 16của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, khái niệm và các đặc điểm pháp lýcủa các thỏa
Trang 17thuận hạn chế cạnh tranh; tìm hiểu nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đốivới các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăngdầu; nguyên tắc và nội dung cơ bản của pháp luật về các thỏa thuận hạn chếcạnh tranh trong lĩnh vực xăng dầu; nghiên cứu kinh nghiệm điều chỉnh phápluật quốc tế đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực xăngdầu
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnhtranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và thực tiễn áp dụng pháp luật vềchống hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Namhiện nay Để thực hiện nhiệm vụ này, Luận văn đã phân tích thực trạng củapháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nói chung để từ đó rút ranhững ra những bất cập trong việc thực hiện quy định pháp luật liên quantrong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu
- Đưa ra một số phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật vềthoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở nước tahiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Hoạt động kinh doanh xăng dầu bao gồm các hoạt động: xuấtkhẩu (xăng dầu, nguyên liệu sản xuất trong nước và xăng dầu, nguyênliệu có nguồn gốc nhập khẩu), nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu,gia công xuất khẩu xăng dầu, nguyên liệu; sản xuất và pha chế xăng dầu;phân phối xăng dầu tại thị trường trong nước; dịch vụ cho thuê kho, cảng,tiếp nhận, bảo quản và vận chuyển xăng dầu Thỏa thuận hạn chế cạnh tranhtrong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở nước ta chủ yếu xảy ra ở lĩnh vực phânphối xăng dầu tại thị trường trong nước Đây cũng chính là lý do Luận văn tậptrung nghiên cứu hoạt động kinh doanh xăng dầu trong giai đoạn phân phối
5 Phương pháp nghiên cứu của Luận văn
Trang 18Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng những quan điểm của chủ
Trang 19nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật, đường lối, quan điểm, định hướngcủa Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường trongbối cảnh hội nhập
Bên cạnh đó, Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu nhưthống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích,… nhằm phục vụ cho nhiệm vụ vàmục đích nghiên cứu của đề tài
6 Những đóng góp mới về khoa học của Luận văn
Kết quả của việc nghiên cứu đề tài: "Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay" có thể đem lạinhững điểm mới sau đây:
Thứ nhất: Luận văn tập trung phân tích và xác định nhu cầu điều chỉnhbằng pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinhdoanh xăng dầu
Thứ hai: Luận văn nhận dạng và đánh giá các hình thức thể hiện thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở nước ta hiệnnay
Thứ ba: Luận văn nghiên cứu và chỉ ra thị trường liên quan trong lĩnh
vực kinh doanh xăng dầu để làm cơ sở xác định hành vi thỏa thuận hạn chếcạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu
Thứ tư: Luận văn đánh giá thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chếcạnh tranh để từ đó rút ra những bất cập trong thực hiện pháp luật về thỏathuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu
Thứ năm: Luận văn mạnh dạn đề xuất một số phương hướng và
giải pháp hoàn thiện pháp luật về thoả thuận hạn chế cạnh tranh tronglĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở nước ta hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Trang 20Kết quả đạt được của Luận văn góp phần làm sáng tỏ phương diện lý luậntrong khoa học pháp lý của các thoả thuận hạn chế cạnh tranh áp dụngtrong
Trang 21lĩnh vực kinh doanh xăng dầu Những nhận định về thực trạng thỏa thuận hạnchế cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh xăng dầu và một số giải pháp hoànthiện pháp luật có thể để các cơ quan chức năng trong phạm vi, thẩm quyềncủa mình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực quản lý hoạtđộng kinh doanh xăng dầu
Bên cạnh đó, Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích không chỉ với cán
bộ giảng dạy, sinh viên mà còn đối với các cán bộ đang làm công tác hoạch địnhchính sách và xây dựng pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam
8 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận vănđược kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thoả thuận hạn chế cạnh
tranh và pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinhdoanh xăng dầu
Chương 2: Thực trạng pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và thực tiễn áp dụng pháp luật vềchống hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt namhiện nay
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thoả
thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở nước ta hiệnnay
Trang 22Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THOẢ THUẬN HẠN CHẾ CẠNH
TRANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG
LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU
1.1 Bản chất pháp lý của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
1.1.1 Nguồn gốc của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (cartel) là một trong những hìnhthức biểu hiện của hạn chế cạnh tranh, có thể gây nguy hại đến động lựcphát triển kinh tế của xã hội và vi phạm tới lợi ích chính đáng của người tiêudùng Do đó, pháp luật của các quốc gia có nền kinh tế thị trường đềutrừng phạt nghiêm khắc các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.Những tiền đề để xuất hiện cạnh tranh cũng là những tiền đề để những thỏathuận hạn chế cạnh tranh tồn tại Trước đây, trong thời kỳ kinh tế kế hoạchhoá tập trung, sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế là mộttrong những lý do không cho cạnh tranh tồn tại, điều đó cũng đồng nghĩa vớiviệc không cần có thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Nền kinh tế thị trường là môi trường của cạnh tranh, với sự ghi nhậnquyền tự do kinh doanh, nguyên tắc tự do thương mại là điểm tựa, là môitrường của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Không thể phủ nhận rằngcạnh tranh với các hiệu ứng tích cực của nó đối với nền kinh tế, khiến cácquốc gia đã và đang phát triển luôn luôn khuyến khích cạnh tranh Trongquan hệ cạnh tranh thì việc thành công hay thất bại luôn luôn là kết quả
mà các đối thủ tham gia đều nhận thấy, mặc dù trước khi tham gia họkhông chắc chắn Chính từ yếu tố không muốn phải chịu rủi ro về phía mình,các đối thủ trong quan hệ cạnh tranh có thể có sự thoả thuận, hay nói cáchkhác đây chính là nguồn gốc của sự tự do khế ước và sự thoả thuận về điều
Trang 23kiện kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh, để mục tiêu đều là nhữngngười thắng cuộc Để đạt
Trang 24được điều này đòi hỏi họ phải có sự hợp tác, phải có sự thoả thuận.
Mọi vấn đề trong xã hội, từ lớn đến nhỏ đều dựa trên nền tảng khế ước,Nhà nước chỉ can thiệp vào sự thoả thuận, sự tự do khế ước chừng nào sự
tự do đó xâm phạm các lợi ích công cộng hoặc xâm phạm tới các quyền vàlợi ích hợp pháp của người khác
Xét cho cùng, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được thực hiện giữa cácdoanh nghiệp nên nó phải được hình thành trên nền tảng của nguyên tắc tự
do khế ước Các doanh nghiệp có quyền tự do thể hiện ý chí của mình trongviệc lựa chọn đối tác để thiết lập quan hệ, liên kết, hợp tác và đồng thời cácdoanh nghiệp cũng có quyền tự do lựa chọn nội dung thỏa thuận Tuy nhiên
sự “tự do” của các doanh nghiệp chỉ được coi là hợp pháp khi sự thể hiện ýchí đó phù hợp với ý chí của Nhà nước, phù hợp với lợi ích chung của cộngđồng
Mặc dù khái niệm “cạnh tranh” và “khế ước” (thoả thuận) có những nộidung khác biệt song chúng có liên quan mật thiết khi được sử dụng đểđánh giá về cạnh trạnh Trước sức ép của cạnh tranh, các doanh nghiệp buộcphải tiến lên bằng sự nỗ lực cố gắng của bản thân, thậm chí có trường hợpcòn vận dụng cả các biện pháp cạnh tranh bất hợp pháp để loại bỏ đối thủhoặc chí ít cũng là để chiếm ưu thế trước đối thủ trên một phương diện nào
đó Khi loại bỏ được cạnh tranh thông qua thỏa thuận, các doanh nghiệptham gia có thể thu được lợi nhuận lớn mà không cần phải cải thiện năng lựccung ứng hàng hóa, dịch vụ của mình
Mặc dù nguyên tắc tự do khế ước được pháp luật thừa nhận làmột nguyên tắc cơ bản trong việc xác lập các quyền, nghĩa vụ giữa cácchủ thể bằng hợp đồng, nhưng sự tự do đó luôn luôn phải trong một khuônkhổ, một giới hạn Do đó, những thoả thuận giữa các doanh nghiệp với mục
Trang 25đích là những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thì có thể sẽ bị vô hiệu theoquy định của pháp luật
Trang 26Do sự tác động của các quy luật kinh tế cũng như nhu cầu tronghoạt động sản xuất kinh doanh mà sự liên kết giữa các doanh nghiệp theocác tiêu chí về ngành nghề, theo khu vực, theo chu trình phân phối… là mộttất yếu Chính từ nhu cầu liên kết này giữa các doanh nghiệp mà xuất hiệncác thỏa thuận giữa các doanh nghiệp theo các tiêu chí kể trên, thậm chí cảnhững liên kết giữa các doanh nghiệp không cùng chung lĩnh vực, địa bànhoạt động Như vậy, quyền tự do lập hội cũng là một trong những tiền đề
để ra đời và ảnh hưởng tới thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanhnghiệp, hiệp hội Việc các doanh nghiệp cùng ngành nghề liên kết lại vớinhau dưới hình thức Hội là hoàn toàn phù hợp với quy định của Hiến pháp vàpháp luật
Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, hoạt động của bất kỳ một hiệphội nào cũng phải được tiến hành trong khuôn khổ của Hiến pháp, phápluật và đặc biệt là không được ảnh hưởng tới lợi ích của những hộikhác, những người khác Trong trường hợp này, nếu các doanh nghiệp liênkết với nhau nhằm thiết lập các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thì sự liên kết
đó là những liên kết bất hợp pháp
Về nguyên tắc, với mục tiêu nhằm loại bỏ, thủ tiêu sức ép cạnh tranhnên các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sẽ bị coi là vô hiệu và chủ thểthực hiện hành vi nói trên sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợinhất định Tuy nhiên, trước các mục tiêu của chính sách cạnh tranh, việc ápdụng pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cần phải thực hiệnmột cách thận trọng, đặc biệt khi lợi ích của thỏa thuận hạn chế cạnh tranhlớn hơn so với hậu quả của nó mang lại cho thị trường Theo đó, các tiêuchí thuộc “lợi ích công” sau đây có thể được vận dụng để thực hiện miễn trừviệc áp dụng pháp luật đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh:
Trang 27- Lợi ích của thị trường như: tăng cường sức cạnh tranh của các doanhnghiệp vừa và nhỏ, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp trongnước
Trang 28trên thị trường quốc tế.
- Lợi ích của chính doanh nghiệp đó như: hợp lý hoá cơ cấu tổ chức, môhình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh
- Lợi ích của người tiêu dùng như: việc áp dụng thống nhất các tiêuchuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; thống nhấtcác điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đếngiá và các yếu tố của giá
Qua đó, cho thấy lợi ích công chính là tiêu chuẩn xác định tính hợp phápcủa các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Một số quốc gia đưa ra tiêu chuẩn
để xác định những giới hạn đối với phạm vi áp dụng quy định cấm thoảthuận phản cạnh tranh, theo đó “giới hạn” được thừa nhận ở một số quốcgia thuộc Liên minh Châu Âu, Cộng hoà Pháp thừa nhận: có thể coi là thỏathuận hạn chế cạnh tranh được chấp nhận nếu sự thoả thuận đó không gây
ra hoặc có thể xâm hại đến cạnh tranh nhưng ở dưới ngưỡng cho phép
Qua những phân tích về mối quan hệ giữa quyền tự do kinh doanh
và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể nhận định rằng: các chủ thể, cácdoanh nghiệp khi tham gia vào thị trường có quyền tự do lựa chọn các doanhnghiệp khác để hợp tác, liên kết thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Tuy nhiên nội dung liên kết, hợp tác đó phải đảm bảo khôngảnh hưởng tới lợi ích công cộng, lợi ích của các doanh nghiệp khác và lợi íchcủa người tiêu dùng Do đó, khi các thỏa thuận liên kết xâm hại đến các lợiích kể trên thì sẽ bị coi là hành vi trái pháp luật và thỏa thuận đó sẽ bị xem là
vô hiệu
Qua các phân tích trên cho thấy, nếu như cạnh tranh là cần thiết chohoạt động của thị trường thì các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là công cụcủa các doanh nghiệp nhằm thủ tiêu cạnh tranh trên thị trường Thôngthường hệ quả của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là tạo ra những nhóm
Trang 29độc quyền hoặc gần như độc quyền nhằm nâng giá hàng hóa, giảm sảnlượng sản phẩm để
Trang 30thu lợi nhuận độc quyền Qua đó, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã bópméo sự công bằng trong phân bổ nguồn lực của nền kinh tế, làm giảmphúc lợi xã hội, làm giảm năng suất lao động, trì hoãn tốc độ cải thiện côngnghệ… Mặt khác, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh còn loại bỏ trực tiếp cơhội tham gia cạnh tranh của các doanh nghiệp tiềm năng, các doanh nghiệpđứng ngoài sự thoả thuận.
Về bản chất, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệpđược coi là một loại hợp đồng với những hình thức thể hiện đa dạng: thỏathuận khung, nghị quyết, biên bản ghi nhớ, hoặc ngầm định thông qua việcthống nhất hành động Tuy nhiên, loại hợp đồng này có mục đích và nội dung
vi phạm điều cấm của pháp luật do đi ngược lại lợi ích của cạnh tranh - yếu
tố mà pháp luật khuyến khích Vì vậy, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranhcần phải được kiểm soát, chế ước bởi pháp luật thông qua một hệ thốngcác chế tài đa dạng và linh hoạt
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
1.1.2.1 Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trong kinh tế học, hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đượcnhìn nhận là sự thống nhất hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảmbớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành độngmột cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh Từ điển Chính sách thươngmại quốc tế định nghĩa “Cartel” là một thỏa thuận chính thức hoặc khôngchính thức để đạt được kết quả có lợi cho các mặt hàng có liên quannhưng có thể có hại cho các bên khác
Khoản 1 Điều 81 Hiệp ước Rome nghiêm cấm mọi thỏa thuận giữa cácdoanh nghiệp, mọi quyết định của hiệp hội doanh nghiệp và mọi hành động
Trang 31phối hợp có khả năng ảnh hưởng đến trao đổi thương mại giữa các quốcgia
Trang 32thành viên và có mục đích hoặc hệ quả phản cạnh tranh.
Luật Cạnh tranh Việt Nam không đưa ra khái niệm mà sử dụng phươngpháp liệt kê các thỏa thuận bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, bao gồm:thỏa thuận ấn định hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; thỏathuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịchvụ; thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất muabán, hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ,hạn chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho các doanh nghiệp khác điều kiện
ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khácchấp thuận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợpđồng; thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham giathị trường hoặc phát triển kinh doanh; thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trườngnhững doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận; thông đồng đểmột hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa,cung ứng dịch vụ Tuy nhiên, theo cách tiếp cận của khoản 3 Điều 3 LuậtCạnh tranh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể được hiểu là thỏathuận giữa hai hoặc nhiều doanh nghiệp nhằm mục đích làm giảm, sai lệch,cản trở cạnh tranh trên thị trường [32]
Việc không đưa ra khái niệm mà chỉ liệt kê các thỏa thuận cụ thể đãkhông gây nên những tranh luận cần thiết về hình thức và bản chất pháp
lý của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Theo đó, chỉ những thỏa thuận đượcliệt kê tại Điều 8 Luật Cạnh tranh mới bị coi là thỏa thuận hạn chế cạnhtranh Trên thực tế, thỏa thuận giữa các doanh nghiệp diễn ra ở nhiềucông đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối Do đó, có nhiềudạng biểu hiện khác nhau của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: thỏa thuậngiữa người bán với nhau (ví dụ: thỏa thuận ấn định giá, thỏa thuận phân chiathị trường); thỏa thuận giữa những người mua; thỏa thuận trong đấu thầu
Trang 33Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể diễn ra giữa các doanh nghiệp
Trang 34thuộc những khâu khác nhau của quá trình kinh doanh, bao gồm:
- Thỏa thuận theo chiều ngang: là những thỏa thuận giữa các chủthể kinh doanh trong cùng ngành hàng và cùng khâu của quá trình kinhdoanh (ví dụ: giữa những người bán buôn với nhau, giữa những người bán lẻvới nhau) để khống chế giá, phân chia thị trường,… hoặc sự thoả thuận phốihợp hành động nào đó trong một thời gian nhất định để cản trở cạnh tranh
từ doanh nghiệp khác
- Thỏa thuận theo chiều dọc: là thỏa thuận giữa những doanh nghiệp ởcác công đoạn sản xuất khác nhau Thoả thuận có thể được thực hiện ở 3hình thức như định giá, thương lượng giá và các thoả thuận license Tuỳ theotừng mục tiêu, mức độ, các thoả thuận này có tác động khác nhau, thậm chímột số thoả thuận hoàn toàn có ý nghĩa tích cực cho nền kinh tế và cho xãhội [60]
1.1.2.2 Đặc điểm pháp lý của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
Trong thực tiễn phát triển của thị trường, nội dung các hành vithỏa thuận cũng rất đa dạng, không thể dự liệu một cách tuyệt đối, đềumang tính tương đối và luôn được bổ sung cùng với sự sáng tạo của ngườikinh doanh Các thỏa thuận có thể hướng đến sự thống nhất về giá cả hànghóa, dịch vụ; có thể là sự thống nhất trong việc phân chia thị trường, phânchia khách hàng, trong chiến lược marketing; thống nhất trong hành động đểtiêu diệt đối thủ hoặc phát triển khoa học kỹ thuật,
Như vậy, dựa vào khái niệm mà kinh tế học đưa ra và những thỏa thuậnhạn chế cạnh tranh được quy định trong Luật Cạnh tranh, có thể nhìn nhận
và phân tích chúng có 3 đặc trưng sau đây:
Thứ nhất: về chủ thể - thỏa thuận hạn chế cạnh tranh diễn ra giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau.
Để xác định dấu hiệu này phải chứng minh được những điểm sau:
Trang 35- Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận cùng trên thị trường liên quan
Trang 36- Các doanh nghiệp phải hoạt động độc lập với nhau, không phải lànhững người liên quan của nhau theo pháp luật doanh nghiệp, không cùngtrong một tập đoàn kinh doanh, không cùng là thành viên của tổng công ty.Những hành động thống nhất của tổng công ty, của một tập đoàn kinh tếhoặc của các công ty mẹ, con không được pháp luật cạnh tranh coi là thỏathuận bởi thực chất các tập đoàn kinh tế nói trên cho dù bao gồm nhiềuthành viên cũng chỉ là một chủ thể thống nhất [46].
Thứ hai: về hình thức - thỏa thuận thống nhất cùng hành động giữa các doanh nghiệp có thể công khai hoặc không công khai.
Để xác định các hành động của một nhóm doanh nghiệp độc lập là thỏathuận, cơ quan có thẩm quyền phải có đủ bằng chứng kết luận rằng giữa họ
đã tồn tại một hợp đồng, bản ghi nhớ, các cuộc gặp mặt cho thấy đã cóthỏa thuận công khai hoặc ngầm đồng ý về giá, về hạn chế sản lượng, phânchia thị trường Một khi chưa có sự thống nhất cùng hành động giữa cácdoanh nghiệp tham gia thì chưa thể kết luận có sự tồn tại của thỏa thuận hạnchế cạnh tranh
Một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh phải được hình thành từ sựthống nhất ý chí của các doanh nghiệp tham gia về việc thực hiện một hành
vi hạn chế cạnh tranh Hình thức pháp lý của sự thống nhất ý chí không ảnhhưởng đến việc định danh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Do đó, chỉ cần hội
đủ hai điều kiện là có sự thống nhất ý chí và các doanh nghiệp đã cùng thốngnhất thực hiện một hành vi hạn chế cạnh tranh là có thể kết luận đã có thỏathuận hạn chế cạnh tranh cho dù thỏa thuận đó bằng văn bản hay lời nói,thỏa thuận công khai hay thỏa thuận ngầm định thông qua việc thống nhấthành động can thiệp cùng một hướng vào thị trường
Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm cả các quyết định tập thểcủa các doanh nghiệp nên các quyết định của Hiệp hội ngành nghề, của
Trang 37các tổ chức nghề nghiệp để các tổ chức, cá nhân kinh doanh là thành viênthực hiện
Trang 38các hành vi hạn chế cạnh tranh cũng là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
Cần phân biệt sự thống nhất ý chí và thống nhất về mục đích Việc xácđịnh một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, chỉ cần chứng minh rằng các doanhnghiệp tham gia đã có sự thống nhất ý chí mà không nhất thiết phải có cùngmục đích Khi không thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh, các doanh nghiệp
có thể cùng hoặc không cùng theo đuổi một mục đích Các doanh nghiệp
có thể có những mục đích khác nhau khi cùng thực hiện hành vi hạn chế cạnhtranh nào đó Vì vậy, nếu dùng mục đích để chứng minh về thỏa thuận có thểlàm giảm khả năng điều chỉnh của pháp luật
Với nhiệm vụ bảo vệ cạnh tranh, pháp luật về thỏa thuận hạn chế cạnhtranh chỉ cần phán đoán các thỏa thuận gây ra hoặc có khả năng gây rahậu quả phản cạnh tranh trên thị trường Do đó, nếu có sự thống nhất ý chí
và sự thống nhất ý chí đó gây ra hậu quả phản cạnh tranh là có thể xử lýnhững người tham gia thỏa thuận cho dù mục đích tham gia của họ khácnhau
Trong việc định danh một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, cơ quan
có thẩm quyền không chỉ kiểm tra có sự tồn tại thực sự của một thỏa thuậnhay sự thống nhất ý chí, mà còn phải khẳng định được rằng thỏa thuận đóchắc chắn xuất phát từ ý chí độc lập của các bên và không chịu sự ràng buộc
từ bên ngoài Việc tồn tại các yếu tố khách quan hoặc chủ quan làm cho cácdoanh nghiệp không còn độc lập về ý chí cho dù đã hoặc đang cùng thực hiệnmột hành vi phản cạnh tranh cũng không tạo nên một thỏa thuận hạn chếcạnh tranh Trong trường hợp này, pháp luật cạnh tranh đã sử dụngkhái niệm khiếm khuyết của sự thỏa thuận ý chí trong pháp luật hợp đồng
để kết luận về sự tồn tại của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Thông thường,các doanh nghiệp không độc lập về ý chí nếu thuộc một trong những trườnghợp: các bên đang chịu sự ràng buộc của một văn bản luật, dưới luật nên
Trang 39đã thực hiện hành vi gây ra hậu quả làm hạn chế cạnh tranh (ví dụ: cóquyết định của Chính phủ
Trang 40buộc các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu buộc phải giảm giá bán nhằm ổnđịnh thị trường) Trong trường hợp này, cho dù mức giá bán được đặt ra
đã tạo nên rào cản cho việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp tiềmnăng thì các doanh nghiệp tham gia vào việc ấn định giá không vi phạm LuậtCạnh tranh; các doanh nghiệp trong cùng một tập đoàn hoặc có quan hệkiểm soát lẫn nhau, quan hệ trong nội bộ tập đoàn hoặc quyền kiểm soát củamột doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp khác có thể làm cho các doanhnghiệp thành viên hoặc các doanh nghiệp bị kiểm soát không thực sự độc lập
về ý chí khi thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh Vì thế, pháp luật cạnhtranh của các nước đều ghi nhận nguyên tắc “không thể có thỏa thuận phảncạnh tranh giữa hai doanh nghiệp trong đó doanh nghiệp này kiểm soátdoanh nghiệp kia hoặc giữa những doanh nghiệp cùng đặt dưới sự kiểm soátchung của một doanh nghiệp thứ ba hoặc giữa các doanh nghiệp hợp thànhmột thể kinh tế”
Tuy nhiên, nguyên tắc này không được áp dụng một cách cứng nhắc màcần có những phân tích và đánh giá thực tế trong từng vụ việc cụ thể.Theo đó, trong những trường hợp trên, cơ quan có thẩm quyền cần đánhgiá tác động của các yếu tố tác động đến ý chí của các doanh nghiệp Nếu cácdoanh nghiệp tham gia không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải thựchiện hành vi hạn chế cạnh tranh thì kết luận họ không độc lập về ý chí Ngượclại, nếu có một văn bản luật hoặc dưới luật hoặc quan hệ kiểm soát, quan hệtập đoàn đã buộc các doanh nghiệp phải thực hiện một hành vi gây ra hậuquả hạn chế cạnh tranh thì hành vi tập thể của các doanh nghiệp đó khôngcấu thành nên thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Cơ quan có thẩm quyền dễdàng tìm ra được những bằng chứng về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đốivới các thỏa thuận công khai, song tìm kiếm bằng chứng không đơn giản đốivới các thỏa thuận ngầm Trong thực tế, để đối phó với pháp luật cạnh tranh,