1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam Luận văn ThS. Luật

118 719 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa vào mô hình bố trí các loại hình doanh nghiệp của Luật Doanh nghiệp năm 1999, Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã xác định các hình thức tổ chức hành nghề luật sư với đặc trưng riêng của n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT - -

ĐẬU HUY GIANG

PHÁP LUẬT

VỀ CÔNG TY LUẬT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT - -

ĐẬU HUY GIANG

PHÁP LUẬT

VỀ CÔNG TY LUẬT Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Đặng Vũ Huân

HÀ NỘI – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nôi

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đậu Huy Giang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa Trang

Lời cam đoan Mục lục Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY LUẬT 8

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY LUẬT 8

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của công ty luật 8

1.1.1.1 Khái niệm công ty luật 8

1.1.1.2 Đặc điểm của công ty luật 12

1.1.1.3 Vai trò của công ty luật 13

1.1.2 Mối quan hệ giữa công ty luật với luật sư, khách hàng 16

1.1.2.1 Mối quan hệ giữa công ty luật với luật sư 16

1.1.2.2 Mối quan hệ giữa công ty luật với khách hàng 16

1.1.3 Sự ra đời của các loại hình công ty luật 18

1.1.3.1 Sự ra đời của các loại hình công ty luật ở các nước trên thế giới 18

1.1.3.2 Sự ra đời của các loại hình công ty luật ở Việt Nam 22

1.2 PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY LUẬT 25

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về công ty luật 25

1.2.1.1 Khái niệm 25

1.2.1.2 Đặc điểm 26

1.2.2 Thành lập, tổ chức, hoạt động, quản trị công ty luật 26

1.2.2.1 Thành lập công ty luật 26

1.2.2.2 Tổ chức, hoạt động công ty luật 31

1.2.2.3 Quản trị công ty luật 42

1.2.2.4 Hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi và chấm dứt hoạt động công ty luật 46

Trang 5

1.2.3 Công ty luật trong mối liên hệ với đào tạo luật sư, Tổ chức xã hội - nghề

nghiệp của luật sư 52

1.2.3.1 Công ty luật trong mối liên hệ với đào tạo luật sư 52

1.2.3.2 Công ty luật trong mối liên hệ với Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư 53

Tiểu kết Chương 1 54

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY LUẬT Ở VIỆT NAM 56

2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CÔNG TY LUẬT 56

2.1.1 Quy định về hình thức các công ty luật 56

2.1.2 Quy định về thủ tục thành lập công ty luật 57

2.1.3 Quy định về tổ chức và hoạt động các công ty luật 63

2.1.4 Quy định về quản trị công ty luật 72

2.1.5 Quy định về hợp nhất, sáp nhập và chuyển đổi công ty luật 75

2.1.6 Quy định về tạm ngừng hoạt động, chấm dứt hoạt động công ty luật 80

2.2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI CÔNG TY LUẬT 83

2.2.1 Về tổ chức 84

2.2.2 Về hoạt động 85

2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY LUẬT 87

2.3.1 Đánh giá thực trạng pháp luật về công ty luật 87

2.3.2 Đánh giá việc áp dụng pháp luật về công ty luật 89

2.3.3 Nguyên nhân những bất cập pháp luật về công ty luật 91

Tiểu kết Chương 2 91

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬTVỀ CÔNG TY LUẬT Ở VIỆT NAM 93

3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY LUẬT Ở VIỆT NAM 93

3.1.1 Pháp luật về công ty luật cần đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp 93

3.1.2 Pháp luật về công ty luật cần phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế 94

Trang 6

3.1.3 Pháp luật về công ty luật cần đảm bảo tính linh hoạt của hành nghề luật sư

nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động 95

3.1.4 Pháp luật về công ty luật tạo điều kiện để các luật sư hoàn thiện sứ mệnh bảo vệ quyền con người và quyền công dân 97

3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY LUẬT Ở VIỆT NAM 98

3.2.1 Hoàn thiện các quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Luật sư liên quan đến hình thức tổ chức hành nghề luật sư 98

3.2.2 Hoàn thiện các quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Luật sư liên quan đến tổ chức và hoạt động của công ty luật 102

3.2.3 Hoàn thiện các quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Luật sư để nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của các luật sư và tổ chức hành nghề luật sư 104

Tiểu kết Chương 3 106

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CIVIL LAW: Hệ thống pháp luật châu Âu lục địa

COMMON LAW: Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ

EURL: Công ty TNHH một người hình thành ở Pháp từ năm

1985 GATS: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ

GATT: Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch

IFC Công ty tài chính quốc tế

OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế

SARL: Công ty TNHH của Pháp

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

TRIMS: Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến

thương mại UNCITRAL: Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghề luật sư là một nghề đặc thù riêng, không giống như các ngành nghề kinh doanh, thương mại và dịch vụ khác Người hành nghề luật sư không dựa trên nguồn vốn mà cần phải có kiến thức pháp luật và kỹ năng hành nghề Đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của luật sư là hành nghề độc lập

và chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động nghề nghiệp của mình Tuy nhiên,

để hỗ trợ, giúp đỡ nhau, đồng thời đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nâng cao

uy tín trước khách hàng, các luật sư có thể hợp tác với nhau trong các tổ chức hành nghề nhất định Pháp luật nhiều nước trên thế giới quy định hình thức hành nghề của luật sư phổ biến là văn phòng luật sư cá nhân và công ty luật

Ở một số nước như Hy Lạp, Achentina, Brazil, Thụy Sỹ, Nhật Bản hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn không được chấp nhận, vì không phù hợp với chế độ trách nhiệm vô hạn của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp Đối với nghề luật sư ở Anh, Mỹ, thì hình thức hành nghề phổ biến là công ty hợp danh Một số nước như Pháp, Canada, Bỉ, Singapore, Thái Lan, Đức không bắt buộc phải hành nghề dưới hình thức nhất định Hình thức hành nghề luật

sư của các nước này tương đối đa dạng, bên cạnh công ty hợp danh, các luật

sư có thể chọn những hình thức kinh doanh thông thường như công ty liên doanh… Ngoài ra, còn quy định luật sư có thể hành nghề độc lập, mà không cần thành lập văn phòng hay công ty

Ở Việt Nam, theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, thì Đoàn luật sư vừa là tổ chức mang tính xã hội - nghề nghiệp của luật sư, vừa là nơi hành nghề của luật sư Hình thức tổ chức này không phù hợp với tính chất của nghề luật sư, chưa phát huy được tính năng động, tự chủ của luật

sư và chưa đề cao trách nhiệm của cá nhân luật sư Sau khi Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp năm 1999, thì một vấn đề được đặt ra là liệu luật sư

Trang 9

có được hành nghề theo các loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp hay không? Có ý kiến cho rằng, luật sư được lựa chọn các hình thức hành nghề theo quy định của Luật Doanh nghiệp Nhưng có ý kiến khác lại cho rằng, do đặc thù của nghề luật sư là phải chịu trách nhiệm vô hạn, nên chỉ có hình thức công ty hợp danh là phù hợp với nghề luật sư Dựa vào mô hình bố trí các loại hình doanh nghiệp của Luật Doanh nghiệp năm 1999, Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã xác định các hình thức tổ chức hành nghề luật

sư với đặc trưng riêng của nghề luật sư, theo đó, luật sư có thể tự mình thành lập văn phòng luật sư riêng của mình, cùng với các luật sư khác thành lập văn phòng luật sư hoặc công ty luật hợp danh Theo Pháp lệnh này, công ty luật hợp danh là hình thức hành nghề của luật sư, song vì công ty luật hợp danh là hình thức kinh doanh không phù hợp với hoạt động tham gia tố tụng, đặc biệt với điều kiện của Việt Nam thời điểm đó, nên Pháp lệnh quy định công ty luật hợp danh được thực hiện tư vấn pháp luật, dịch vụ pháp lý khác, nhưng không được thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng (khoản 2 Điều 18 Pháp lệnh Luật sư)

Luật Doanh nghiệp năm 2005 được ban hành đã quy định cụ thể hơn về các loại hình doanh nghiệp, theo đó hình thức hành nghề của luật sư cũng đã

có bước tiến mới Luật Luật sư năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư năm 2012 đã có các quy định theo hướng đưa các tổ chức hành nghề luật sư xích lại gần với các loại hình doanh nghiệp Theo quy định của Luật Luật sư, thì tổ chức hành nghề luật sư bao gồm: (i) Văn phòng luật sư là tổ chức hành nghề luật sư do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân; luật sư thành lập văn phòng luật sư là trưởng văn phòng và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình

về mọi nghĩa vụ của văn phòng Trưởng văn phòng là người đại diện theo pháp luật của văn phòng; (ii) Công ty luật bao gồm công ty luật hợp danh và

Trang 10

công ty luật trách nhiệm hữu hạn So với Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Luật Luật sư đã quy định thêm loại hình công ty luật trách nhiệm hữu hạn Hơn nữa, để phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Luật sư còn quy định công ty luật trách nhiệm hữu hạn có thể là công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thành viên của công ty luật phải là luật sư Công ty luật hợp danh do ít nhất hai luật sư thành lập và không có thành viên góp vốn Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do ít nhất hai luật sư thành lập Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một luật sư thành lập và là chủ sở hữu Các thành viên công ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thỏa thuận cử một thành viên làm giám đốc công ty Luật sư làm chủ sở hữu công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên làm giám đốc công ty Văn phòng luật sư, công ty luật có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật Luật sư, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan

Qua thời gian thực hiện và thi hành Luật Luật sư, có thế thấy về mô hình tổ chức hành nghề luật sư của Việt Nam hiện tại là chưa hợp lý, còn nhiều bất cập, cụ thể: (i) Luật Luật sư hiện hành mở rộng hình thức tổ chức hành nghề luật sư theo hướng cho phép thành lập công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên và công ty luật trách nhiệm một thành viên là chưa hợp lý Bởi lẽ, nghề luật sư là một nghề đặc thù không giống các ngành nghề kinh doanh khác Đặc điểm hoạt động nghề luật sư là hành nghề độc lập và chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động nghề nghiệp của mình Hình thức công

ty luật trách nhiệm hữu hạn không phù hợp với chế độ trách nhiệm vô hạn của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp; (ii) Có sự không thống nhất, mâu thuận giữa Luật Luật sư, Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Luật sư và Luật Doanh nghiệp Đây là mâu thuận khá nghiêm trọng bởi Luật Doanh nghiệp không

Trang 11

cho phép chuyển đổi công ty hợp danh thành công ty trách nhiệm hữu hạn và ngược lại Ngoài ra còn một số bất cập trong quy định pháp luật về công ty luật như vấn đề áp dụng pháp luật…

Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước

và thực trạng của tổ chức và hoạt động của các công ty luật ở nước ta, việc

nghiên cứu đề tài “Pháp luật về công ty luật ở Việt Nam” là cần thiết, có ý

nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Thông qua việc nghiên cứu sẽ bổ sung thêm

cơ sở lý luận và thực tiễn đối với việc hoàn thiện pháp luật về công ty luật ở Việt Nam trong điều kiện cải cách tư pháp , xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đó cũng là lý do mà tác giả đã lựa chọn đề tài này

để nghiên cứu và làm Luận văn Thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Pháp luật về hình thức tổ chức hành nghề luật sư nói chung và pháp luật về công ty luật nói riêng là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này

(i) Trong lĩnh vực luật sư và hành nghề luật sư đã có một số công trình:

- Đề tài khoa học cấp Bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam”do đồng chí Nguyễn Văn Thảo, Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư

pháp làm chủ nhiệm đề tài, năm 2003;

- Đề tài khoa học cấp Bộ: “Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, thực trạng, nhu cầu, và định hướng phát triển” do TS Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp làm chủ nhiệm đề tài, năm 2005;

- Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Dương Đình Khuyến về: “Vấn

đề xã hội hóa về hoạt động luật sư và tư vấn pháp luật”, năm 2001

(ii) Nghiên cứu pháp luật về hình thức tổ chức hành nghề luật sư:

Trang 12

- Luận án Tiến sĩ luật học của Luật sƣ Phan Trung Hoài với đề tài:

“Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam”, năm 2003;

- Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Anh Minh với đề tài

“Luật sư và tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay”, năm 2009

(iii) Nghiên cứu về các loại hình công ty, đã có một số công trình cụ thể:

- Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thùy Giang “Pháp luật Việt Nam về công ty hợp danh”, năm 2012;

- Luận án Tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Huế với đề tài:

“Pháp luật về công ty hợp danh ở Việt Nam”

Những công trình nghiên cứu khoa học trên đây đề cập nhiều về các vấn đề lý luận liên quan đến tổ chức luật sƣ và hành nghề luật sƣ ở Việt Nam, góp phần làm rõ hơn lý luận và thực tiễn về tổ chức luật sƣ và hành nghề luật

sƣ, trong đó, có nhiều kiến giải, luận điểm khoa học đã đƣợc vận dụng vào thực tiễn Tuy nhiên, chƣa có công trình nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện pháp luật về công ty luật ở Việt Nam với tƣ cách là hành lang pháp

lý cho hình thức hành nghề của luật sƣ, những kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố sẽ là các tƣ liệu quý giá để tác giả kế thừa và tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Mục đích của Luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về công ty luật ở Việt Nam, để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty luật, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty luật ở Việt Nam

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn được xác định là:

(i) Nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về công ty luật;

(ii) Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về công ty luật ở Việt Nam; (iii) Đề xuất các định hướng và giải pháp để hoàn thiện pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống các quy định pháp luật về công ty luật ở Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn cũng tham khảo kinh nghiệm pháp luật của một số nước về vấn đề này

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để tiếp cận nghiên cứu đề tài này một cách hệ thống và hiệu quả , tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích , tổng hợp, suy luận logic, so sánh đối chiếu, thống kê và dùng sự kiện để chứng minh nhận định dựa trên nền tảng phương pháp tư duy của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử theo tư tưởng Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Về mặt khoa học, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng

tỏ thêm những vấn đề lý luận pháp luật về công ty luật, đồng thời làm phong phú thêm cơ sở khoa học về áp dụng pháp luật trong quá trình thực thi Luận

Trang 14

văn có thể là tài liệu tham khảo có giá trị trong việc nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật, đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện pháp luật về công ty luật, các quy định của Luật Luật sư, Luật Doanh nghiệp cho phù hợp với đặc trưng của nghề luật sư cũng như thông lệ trên thế giới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về công ty luật

Chương 2: Thực trạng pháp luật về công ty luật ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty luật ở

Việt Nam

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY LUẬT

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY LUẬT

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của công ty luật

1.1.1.1 Khái niệm công ty luật

* Khái niệm chung về công ty: Công ty (company) có thể mang

những tên gọi khác nhau như tổ hợp (corporation), hãng (firm), tập đoàn (group), doanh nghiệp hay xí nghiệp (enterprise), nhà máy (factory) hoặc tổ chức (organization)… Trong khoa học pháp lý, khi nghiên cứu, tìm hiểu về

công ty, pháp luật các quốc gia trên thế giới đưa ra không ít khái niệm

Bộ luật Dân sự Công hòa Pháp quy định: “Công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay nhiều người thỏa thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của mình vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó”.[28] Nhà luật học Kubler Cộng hòa Liên bang Đức quan niệm rằng: “Khái niệm công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp lý nhằm tiến hành các hoạt động để đạt một mục tiêu chung nào đó”.[19]

Theo Luật của bang Georgia - Mỹ, thì “công ty là một pháp nhân được tạo ra bởi luật định nhằm một mục đích chung nào đó nhưng có thời hạn về thời gian tồn tại, về quyền hạn, về nghĩa vụ và các hoạt động được ấn định trong điều lệ” Theo luật của bang Lousiana - Mỹ, “công ty là một thực thể được tạo ra bởi luật định bao gồm một hoặc nhiều cá thể dưới một tên chung Những thành viên có thể kế nghiệp lẫn nhau, vì thế công ty là một khối thống nhất Tuy nhiên, sự thay đổi của những các thể trong công ty cho một mục đích cụ thể nào đó được xem xét như một con người cụ thể”

Trang 16

Ở Việt Nam, tuy không đưa ra một khái niệm chung về công ty, nhưng qua định nghĩa chung về công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn được quy định tại Điều 2 Luật Công ty năm 1990 thì: “Công ty… là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty”

Qua một số khái niệm trên cho thấy, các quy định về công ty có những nét tương đồng, bên cạnh đó cũng có những điểm khác nhau, nhưng tổng hợp chung lại có khái niệm tổng quát như sau: “Công ty là sự liên kết của hai hay nhiều người (cá nhân hay pháp nhân) bằng một sự kiện pháp lí trong đó các bên thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của họ nhằm tiến hành các hoạt động để đạt mục tiêu chung”

Với khái niệm này, công ty có ba đặc điểm cơ bản: (i) Sự liên kết của hai hay nhiều người hoặc tổ chức, sự liên kết này thể hiện ở hình thức bên ngoài là một tổ chức; (ii) Sự liên kết được thực hiện thông qua một sự kiện pháp lý (hợp đồng, điều lệ, quy chế), các thành viên bỏ ra một số tài sản của mình để góp vào công ty; (iii) Sự liên kết nhằm mục đích chung

Có nhiều sự liên kết giống công ty nhưng không do luật công ty điều chỉnh như cộng đồng kinh tế, các hiệp hội Theo khái niệm trên, thì có rất nhiều loại công ty với các mục đích khác nhau, trong đó có các loại công ty thương mại hay công ty kinh doanh là phổ biến, ngoài ra còn có các công ty dân sự Có thể phân loại công ty theo các các tiêu chí sau:

- Theo lĩnh vực hoạt động, thường có: Công ty thương nghiệp/thương mại, công ty vận tải, công ty công nghiệp, công ty tài chính, ngân hàng, công

ty luật, công ty bảo hiểm…

- Theo chế độ sở hữu, có: Công ty nhà nước, công ty tư nhân

Trang 17

- Theo phạm vi kiểm soát hay tư cách pháp nhân, có công ty nội địa, công ty nước ngoài, công ty hỗn hợp…

- Theo tính chất giao dịch, thường có công ty môi giới, công ty đại lý, công ty bán buôn, công ty bán lẻ…

- Theo phân định trách nhiệm, có công ty trách nhiệm hữu hạn (các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về phần vốn đóng góp của mình), công ty trách nhiệm vô hạn (một số ít thành viên chính còn phải chịu trách nhiệm về những tài sản khác ngoài phần vốn đóng góp của mình)

* Khái niệm công ty luật: Công ty là chủ thể (subject) tiến hành hoạt

động kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận Theo Perter Drucker, thuật ngữ “kinh doanh” (business) còn có nghĩa “khai thác” (exploitation) Kinh doanh là các hoạt động theo đuổi lợi nhuận Như vậy, bản thân thuật ngữ kinh doanh đã bao gồm các hoạt động thuộc nhiều lĩnh vực như: Tìm kiếm, thăm

dò, khai thác (nguyên liệu, năng lượng), pháp lý (pháp luật), sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp), lưu thông phân phối, tiêu thụ sản phẩm (gọi chung là thương mại) Với quan niệm đó, nếu nói “trong sản xuất và kinh doanh”, thì chưa chính xác, bởi vì bản thân sản xuất cũng là một khâu của kinh doanh Trong kinh doanh, mỗi công ty đương nhiên có chủ sở hữu (owner) Ngược lại, một chủ sở hữu có thể có nhiều công ty hay xí nghiệp khác nhau, ở những lĩnh vực khác nhau (chủ sở hữu công ty có thể tuyển giám đốc điều hành hay người quản lý công ty thay mình bằng quan hệ hợp đồng thoả thuận)

Kinh doanh dịch vụ pháp lý là một ngành, nghề kinh doanh mà cá nhân phải đáp ứng đủ điều kiện luật định, thì mới được phép lựa chọn thành lập các loại hình công ty để tiến hành hoạt động kinh doanh Người muốn thành lập công ty luật để kinh doanh dịch vụ pháp lý phải là luật sư Nghề luật sư rất chú ý đến vai trò cá nhân, uy tín nghề nghiệp của luật sư và tính chất của nghề

tự do trong tổ chức hành nghề luật sư Vì tính chất đặc thù đó, có thể đưa ra

Trang 18

khái niệm về công ty luật như sau: Công ty luật là một loại hình công ty gồm một hoặc hai thành viên trở lên là luật sư, tự bỏ vốn hoặc cùng nhau góp vốn

để thành lập một pháp nhân với mục đích chung là kinh doanh dịch vụ pháp

lý Tùy theo loại hình công ty, thành viên công ty có thể chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty hoặc chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty

Mỗi quốc gia có một hệ thống pháp luật riêng, các hình thức công ty luật phổ biến trên thế giới gồm các loại hình sau: (i) Công ty luật hợp danh; (ii) Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên; (iii) Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công ty luật là một loại hình công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ pháp lý, các nước trên thế giới quy định các loại hình công ty luật khác nhau, nhưng chủ yếu là ba loại hình:

- Công ty luật hợp danh: Là một loại hình công ty đối nhân, có ít nhất hai luật sư là chủ sở hữu chung, cùng nhau kinh doanh dịch vụ pháp lý dưới một tên chung Thành viên hợp danh cùng liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn

bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Tuy nhiên, một số nước như

Mỹ, công ty luật hợp danh bao gồm hợp danh thông thường và hợp danh hữu hạn Công ty hợp danh thông thường do các luật sư cùng nhau thành lập, điều hành công ty cũng như cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi nhuận thu được Các luật sư trong công ty hợp danh thông thường chịu trách nhiệm cá nhân và liên đới đối với các nghĩa vụ của công ty Công ty hợp danh hữu hạn do ít nhất hai luật sư trở lên thành lập, trong đó có ít nhất một luật sư chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty (hội viên nhận vốn), còn các luật sư khác chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp vào công ty (hội viên hùn vốn)

Trang 19

- Công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên: Là một loại hình công ty có ít nhất hai thành viên trở lên là luật sư cùng góp vốn để thành lập một pháp nhân nhằm kinh doanh dịch vụ pháp lý Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn cam kết góp vào công ty

- Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên: Là công ty do một luật sư thành lập và làm chủ sở hữu nhằm kinh doanh dịch vụ pháp lý Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

Ở Đức, còn cho phép luật sư thành lập công ty luật liên doanh Luật về Luật sư năm 1996 của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, sửa đổi ngày 28/10/2007 quy định: Công ty luật có thể được thành lập dưới hình thức công

ty luật tư nhân, công ty luật hợp danh và công ty luật có vốn đầu tư nhà nước Qua nghiên cứu cho thấy, bản chất của công ty luật là hình thức tổ chức hành nghề luật sư, do các luật sư tự thành lập hoặc tham gia thành lập nhằm thực hiên hoạt động nghề nghiệp của luật sư, góp phần bảo vệ công lý và tiến bộ xã hội

1.1.1.2 Đặc điểm của công ty luật

Không có khái niệm chung về công ty luật, do đó đương nhiên không

có những quy định khuôn mẫu, thống nhất về đặc điểm pháp lý của loại hình liên kết này trong các hệ thống pháp luật trên thế giới Luật mỗi quốc gia đưa

ra những quy chế pháp lý riêng cho công ty luật, tuy nhiên tựu trung lại, các quy định đều tương đối đồng nhất với nhau ở một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, thành viên thành lập hoặc tham gia thành lập công ty là luật

sư Đặc điểm này thể hiện tính chất nghề nghiệp của luật sư là hành nghề độc lập và chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động nghề nghiệp của mình

Trang 20

Thứ hai, là hình thức công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch

vụ pháp lý, là công ty đối nhân, chịu trách nhiệm vô hạn

Thứ ba, tính chất đối vốn của công ty không đặt ra, vì việc hành nghề

luật sư không dựa trên nguồn vốn, mà dựa vào kiến thức pháp luật và kỹ năng hành nghề của luật sư

Thứ tư, tư cách pháp lý của thành viên không thể chuyển nhượng hay

thừa kế, điều này xuất phát từ tính chất nghề nghiệp của luật sư, vì thế khi một thành viên ra khỏi công ty hoặc chết nếu không đủ số thành viên theo quy định, công ty phải chuyển đổi loại hình hoặc chấm dứt hoạt động

Thứ năm, công ty luật chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan tư pháp (Sở

Tư pháp) và tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư

Thứ sáu, công ty không được phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy

động vốn

1.1.1.3 Vai trò của công ty luật

Là một trong những loại hình công ty xuất hiện sớm trong lịch sử, có vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội Bên cạnh vai trò chung như các loại hình công ty khác, công ty luật có ý nghĩa riêng khiến cho nó không thể thiếu được trong xã hội

Thứ nhất, công ty luật góp phần quan trọng trong việc tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

Luật sư là một nghề cao quý trong xã hội, người muốn hành nghề luật

sư phải có kiến thức pháp luật chuyên sâu Luật sư trước hết là một chuyên gia pháp luật, một cố vấn pháp luật có những kỹ năng hành nghề thực thụ Hoạt động hành nghề của luật sư tiếp xúc với mọi đối tượng, hỗ trợ về mặt pháp lý cho mọi tổ chức và cá nhân Công ty luật là nơi liên kết của các luật

sư, cùng chung một mục đích hành nghề, thông qua hoạt động hành nghề của

Trang 21

luật sư thành viên, công ty luật góp phần tuyên truyền , phổ biến giáo du ̣c pháp luật cho tổ chức, cá nhân và cô ̣ng đồng xã hô ̣i

Thứ hai, công ty luật có vai trò trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền của bị can, bị cáo và các đương sự trước Toà

Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi công dân thường có nhiều mối quan

hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cơ quan, tổ chức Những mối quan hệ này nhiều khi phát sinh những mâu thuẫn, xâm phạm đến quyền và lợi ích của mỗi bên Đặc biệt là những mâu thuẫn phải giải quyết bằng con đường Tòa án Khi đó những quyền cơ bản của công dân dễ bị xâm phạm, vì có những trường hợp công dân hạn chế về trình độ văn hóa, không hiểu biết pháp luật nên khó có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách đầy

đủ và toàn diện Công ty luật được thành lập để giúp cho công dân về mặt pháp

lý, vì luật sư là người am hiểu pháp luật, có kinh nghiệm trong hoạt động pháp luật, nên sẽ giúp cho công dân về mặt pháp lý có hiệu quả nhất khi có những vụ

việc xảy ra liên quan đến pháp luật, nhất là những vụ việc ở Tòa án

Thông qua công ty luật, luật sư có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá n hân, cơ quan, tổ chức và g óp phần bảo vê ̣ pháp chế xã hội chủ nghĩa Hoạt động hành nghề của luật sư góp phần bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc tranh tụng tại Tòa án và trong việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp Thực tiễn thời gian qua cho thấy, việc tham gia tố tụng của các luật sư không những bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, các đương sự khác, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Thông qua hoạt động bào chữa, tranh tụng tại Tòa án, luật

sư đã góp phần làm giảm thiểu các vụ án oan, sai, đã xuất hiện nhiều tấm gương luật sư xuất sắc trên diễn đàn “Pháp đình”, vị thế của luật sư trong xã hội cũng vì thế mà ngày càng được nâng cao

Trang 22

Thứ ba, công ty luật có vai trò quan trọng trong hoạt động tư vấn pháp luật, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức

Để người dân tuân thủ pháp luật và tin tưởng vào sự công bằng, bình đẳng của pháp luật, thì những người hành nghề luật sư phải tự mình tôn trọng pháp luật Đó là lý do vì sao nghề luật sư phải được pháp luật điều chỉnh chặt chẽ để duy trì lòng tin của toàn xã hội

Thông qua hoạt động tư vấn pháp luật của các luật sư thành viên, công

ty luật có vai trò quan trọng trong việc giải quyết những tranh chấp xảy ra trong đời sống xã hội, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, giảm bớt phiền hà cho cơ quan nhà nước khi người dân thiếu hiểu biết pháp luật

Hoạt động tư vấn pháp luật và dịch vụ pháp lý khác của luật sư là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, lành mạnh theo đúng pháp luật, đồng thời hỗ trợ tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển thị trường dịch vụ, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm; góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp trong và ngoài nước

Thứ tư, công ty luật có vai trò trong việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước

Là người hiểu biết pháp luật, thông qua việc hành nghề, luật sư phải trau dồi kiến thức và sử dụng kiến thức đó để tăng cường giáo dục và phát triển hệ thống pháp luật Thông qua tổ chức xã hội nghề nghiệp của mình, luật

sư tham gia xây dựng chính sách , pháp luật của Nhà nước Một dự án luật muốn đạt chất lượng cần phải có nhiều tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng và đóng góp ý kiến Luật sư là người hiểu biết pháp luật, việc tham gia xây dựng pháp luật của luật sư là một nhân tố quan trọng góp phần đảm bảo cho các đạo luật đạt chất lượng cao

Trang 23

1.1.2 Mối quan hệ giữa công ty luật với luật sư, khách hàng

1.1.2.1 Mối quan hệ giữa công ty luật với luật sư

Công ty luật có mối quan hệ mật thiết với luật sư thành viên Trong mối quan hệ này công ty luật đóng vai trò quan trong, công ty là nơi để các luật sư thành viên hội tụ với nhau để hành nghề Thông qua công ty luật mà

uy tín của các luật sư đối với khách hàng ngày càng được đề cao Trong mối quan hệ này công ty luật đóng vai trò quyết định Khi luật sư ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng, luật sư nhân danh công ty để ký hợp đồng, do

đó nếu khi có tranh chấp xẩy ra thì đương nhiên khách hàng sẽ tranh chấp với công ty Vấn đề trách nhiệm của luật sư đối với công ty đến đâu tùy thuộc vào loại hình công ty luật TNHH hay công ty luật hợp danh hoặc hợp đồng lao động ký giữa luật sư với công ty Ngoài ra công ty luật còn là nơi hội tụ các luật sư học nghề, là môi trường đào tạo nghề luật sư, thông qua đó hình thành các luật sư giỏi Công ty có trách nhiệm mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của công ty theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo

1.1.2.2 Mối quan hệ giữa công ty luật với khách hàng

Trong mối quan hệ giữa công ty luật với khách hàng, công ty luật đóng vai trò là chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng Khách hàng có

Trang 24

quyền lữa chon luật sư của công ty luật để thỏa thuận ký hợp đồng dịch vụ pháp lý Ngoài ra khách hàng có thể thỏa thuận với đại diện của công ty luật

để ký hợp đồng dịch vụ pháp lý, khi đó công ty luật sẽ thỏa thuận, phân công cho các luật sư thực hiện công việc mà công ty đã ký hợp đồng với khách hàng Như vậy trong mối quan hệ này hai công ty luật và khách hàng đều có quyền và nghĩa vụ với nhau Công ty có quyền yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc, thực hiện thanh toán phí dịch vụ pháp lý theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ…

Trong quan hệ với khách hàng công ty luật có nghĩa vụ và trách nhiệm sau: Thực hiện đúng hợp đồng dịch vụ pháp lý đối với khách hàng, giữ bí mật cho khách hàng, bồi thường thiệt hại do lỗi mà luật sư của công ty gây ra cho khách hàng…

Khách hàng có mối quan hệ mật thiết đối với công ty luật Khách hàng

có toàn quyền lữa chọn công ty luật để sự dụng dịch vụ pháp lý, lựa chọn của khách hàng đối với dịch vụ pháp lý của một công ty luật phụ thuộc rất nhiều yếu tố, không chỉ liên quan đến chất lượng dịch vụ mà còn liên quan đến sự tin tưởng, tính bản địa, các mối quan hệ cộng tác trước đó Khách hàng thường chọn công ty luật dựa trên các tiêu chí: (i) Sự tin tưởng (chọn công ty luật của quốc gia mình, có mối quan hệ hợp tác trước đo, có quan hệ hợp tác của công ty mẹ/công ty con đối, ); (ii) Khả năng xuất sắc, kinh nghiệm trong lĩnh vực cần tư vấn; (iii) Mức phí hợp lý có mang lại giá trị cho thân chủ (khác với khái niệm phí rẻ) Khi sử dụng dịch vụ pháp lý, khách hàng sẽ có những đánh giá, nhận xét về sự hài lòng, không hài lòng đối với công ty luật, quá đó công ty luật hoàn thiện dịch vụ pháp lý một cách tốt hơn

Khách hàng của các công ty luật có thể chia thành hai nhóm chính: các khách hàng nội địa và các khách hàng quốc tế Khi xem xét sử dụng dịch vụ pháp lý của một công ty luật trong nước và một công ty luật nước ngoài,

Trang 25

khách hàng trong nước và khách hàng nước ngoài sẽ có những phản ứng khác nhau Các công ty luật nội địa đã có sẵn được sự tin tưởng của khác hàng vì khả năng hiểu và thông thạo các điều kiện về văn hóa, luật pháp, thói quen pháp luật, các mối quan hệ với chính quyền tại chính nước mình Tuy nhiên, vẫn còn những đối tượng khách hàng có tâm lý “sính ngoại” và chọn lựa dịch

vụ pháp lý của một công ty luật nước ngoài, có khi chỉ để gây uy thế với đối tác Điều này cũng có thể ví như việc người Việt Nam tích dùng hàng hiệu nước ngoài [21]

Sự tin tưởng của các khách hàng đối với công ty luật thường được xây dựng lâu dài thông qua các mối quan hệ hợp tác đã có trước đó giữa hai bên, hoặc giữa công ty luật với công mẹ/công ty con cần tư vấn Để giữ gìn và phát triển các mối quan hệ hợp tác này, các công ty luật cần chú ý đến việc kết nối với các công ty khác để tạo mạng lưới cho việc giới thiệu khác hàng

1.1.3 Sự ra đời của các loại hình công ty luật

1.1.3.1 Sự ra đời của các loại hình công ty luật ở các nước trên thế giới

Vào khoảng thế kỷ thứ XIII, ở một số thành phố lớn của các nước châu

Âu có điều kiện địa lý thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán, đã xuất hiện các công ty thương mại đối nhân đầu tiên Sang đầu thế kỷ XVII, các công ty đối vốn ra đời Sự ra đời của các công ty kinh doanh kéo theo đó là nhu cầu cần phải có luật lệ về công ty Lịch sử luật công ty gắn liền với các quy định về liên kết, hợp đồng và các quan hệ nợ nần trong luật La Mã Các công ty hoạt động theo luật tư và chịu rất ít sự giám sát của nhà nước Năm 1807, Pháp ban hành Bộ luật Thương mại, thể chế hóa quan điểm tự do hoạt động kinh doanh, sau đó nhiều nước châu Âu đã ban hành Luật Thương mại Mặc dù vậy, việc thành lập công ty vẫn cần giấy phép của nhà nước Đến năm 1870, hầu hết các nước đều bải bỏ thủ tục cấp giấy phép thành lập, công dân hoàn toàn có

Trang 26

quyền tự do thành lập công ty và tự do hoạt động Nhà nước chỉ đưa ra các quy định bắt buộc công ty có nghĩa vụ đăng ký theo quy định của pháp luật, căn cứ vào kết quả thẩm định của các chuyên gia kiểm toán độc lập Do sự tự

do hóa kinh doanh nên đã xảy ra nhiều vụ lừa đảo trong công chúng, đặc biệt

là trong chiến tranh, vì vậy mà người ta đã hoàn thiện luật lệ Đức là một trong những nước xuất hiện công ty sớm: Năm 1870, ban hành Luật Công ty

cổ phần, sau đó được bổ sung, sửa đổi bởi Bộ luật Thương mại năm 1897, sau này thay thế bằng Luật Công ty cổ phần; từ năm 1937 đến năm 1965 ban hành Luật Công ty cổ phần mới và hiện nay vẫn có giá trị pháp lý; năm 1892 ban hành Luật Công ty trách nhiệm hữu hạn Cùng với việc ban hành các luật công ty nhằm điều chỉnh hoạt động trong lĩnh vực thương mại, các nước đã ban hành luật công ty nhằm điều chỉnh hoạt động hành nghề luật sư, quy định các hình thức tổ chức hành nghề luật sư như: Văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh Có thể khái quát về sự ra đời của các hình thức công ty luật trên thế giới qua một số nước sau:

Ở Mỹ, nghề luật sư ra đời muộn hơn so với các nước ở châu Âu như Anh, Pháp, Đức… Thường là các luật sư một số nước châu Âu khi sang Mỹ làm ăn sinh sống mang theo luật, kiến thức pháp luật của nước mình và áp dụng luôn trong phạm vi lãnh địa mà họ chiếm cứ Nước Mỹ sau khi giành độc lập đã lựa chọn áp dụng hệ thống luật án lệ, nhưng không muốn rập khuôn hoàn toàn như mô hình của nước Anh Ở Mỹ, không có sự phân biệt giữa 2 nghề luật sư như ở Anh Nước Mỹ với chế độ liên bang, tính đa dạng của các bang thành viên, tính đa dạng về sắc tộc đòi hỏi phải có mô hình tư pháp riêng và mô hình một nghề luật sư duy nhất Mô hình một nghề luật sư duy nhất ra đời ở Mỹ trong một môi trường pháp lý và xã hội đặc thù, trong bối cảnh của một nhà nước liên bang, theo chính sách tự do, nhà nước giảm thiểu sự can thiệp vào đời sống xã hội, ở đó quyền tự do kinh doanh được

Trang 27

khuyến khích Hệ thống luật của Mỹ là hệ thống luật không thành văn, là hệ thống luật án lệ làm cho người dân rất khó hiểu vì tính phức tạp của nó Vì không hiểu biết pháp luật cho nên chỉ khi ra Toà, người dân mới biết mình đúng hay sai Số lượng các bản án, quyết định của Toà án mang tính án lệ ngày càng nhiều làm cho việc tìm hiểu pháp luật ngày càng khó khăn hơn Đó

là lý do giải thích tại sao trong một hệ thống pháp luật phức tạp như vậy người dân lại rất cần đến sự giúp đỡ của luật sư Sau những cải cách được tiến hành từ năm 1933, nhà nước liên bang can thiệp nhiều hơn vào đời sống kinh

tế xã hội, chính quyền của từng bang cũng muốn giảm bớt sự tự do quá trớn trong bang của họ Vai trò của luật sư không ngừng tăng lên vì càng có nhiều luật, thì người dân càng khó khăn hơn để biết được hết các luật Xuất phát từ đặc thù riêng của nước Mỹ, nên phạm vi hoạt động của luật sư rất rộng Luật

sư Mỹ được hoạt động trong một khuôn khổ hết sức tự do, có thể can thiệp vào mọi lĩnh vực của pháp luật Từ thực trạng đó, chính quyền Mỹ đã ban hành nhiều đạo luật để điều chỉnh lĩnh vực luật sư Trong các đạo luật đó, quy định cho phép luật sư thành lập các công ty luật hợp danh, văn phòng luật sư hoặc luật sư hành nghề tự do Ngoài ra, luật sư có thể làm công ăn lương cho Chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức Với tư cách là luật sư làm công ăn lương (in house lawyer), luật sư có thể chịu trách nhiệm toàn bộ, một phần hoặc không chịu trách nhiệm gì tuỳ theo hợp đồng được hai bên ký kết Luật sư có thể mở văn phòng luật sư do cá nhân mình làm chủ, tự quản lý điều hành và chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ của văn phòng

“Công ty luật hợp danh bao gồm hợp danh thông thường và hợp danh hữu hạn Công ty luật hợp danh thông thường do các luật sư cùng nhau thành lập, điều hành, cũng như cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi nhuận thu được Các luật sư trong công ty luật hợp danh thông thường chịu trách nhiệm

cá nhân và liên đới đối với các nghĩa vụ của công ty Công ty luật hợp danh

Trang 28

hữu hạn do ít nhất hai luật sư trở lên thành lập, trong đó có ít nhất một luật sư chịu trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty (hội viên nhận vốn), còn các luật sư khác chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp vào công ty (hội viên hùn vốn)”.[5, tr-45]

Cùng với đó, các hội nghề nghiệp của luật sư cũng được thành lập như hội luật sư về luật công ty, hội luật sư trên internet và ở từng bang đều có hội nghề nghiệp của luật sư Một số bang quy định việc gia nhập đoàn luật sự

là không bắt buộc, hoàn toàn do ý nguyện của luật sư (18 bang) Nhưng có bang quy định muốn hành nghề luật sư phải gia nhập đoàn luật sư Luật sư tham gia các hội nghề nghiệp để được cung cấp các thông tin pháp luật, bồi dưỡng về nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp Ở cấp liên bang có Hội Luật gia Mỹ được thành lập năm 1878 tại NewYork Thành viên Hội Luật gia Mỹ bao gồm luật sư, thẩm phán, công tố viên, giáo sư luật, công chức chính phủ có liên quan đến hoạt động pháp luật

Ở Đức, cũng giống như ở các nước khác, hoạt động cơ bản của luật sư

là hoạt động độc lập của mỗi luật sư Các luật sư cũng có thể liên kết với nhau trong các văn phòng hợp danh (tiếng Đức là Sozietọt) (hoặc hợp vốn nhưng ít xảy ra) hoặc trong văn phòng chung (tiếng Đức là Bỹrogemeinschaft) Văn phòng hợp danh là một hình thức pháp lý về mặt tổ chức để nhận và thực hiện các công việc của luật sư dưới danh nghĩa văn phòng, trong khi các luật sư trong văn phòng chung vẫn hoạt động hoàn toàn độc lập Văn phòng chung là địa chỉ chung Văn phòng luật sư phải có ít nhất là một luật sư phụ trách điều hành Thông thường cũng có những văn phòng hợp danh có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau Cho đến đầu những năm 1990, kể từ khi có phán quyết của Tòa án liên bang mở ra khả năng cho việc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn luật

sư cũng như việc thay đổi quy tắc hành nghề, cho phép thành lập các văn phòng hợp danh quốc tế Đến nay, tại Đức có những văn phòng hợp danh có

Trang 29

hàng trăm thành viên Đó là các văn phòng luật sư quốc tế, trong đó luật sư Đức liên danh với các văn phòng luật sư nước ngoài như Anh, Mỹ

Công ty luật trách nhiệm hữu hạn phải đáp ứng đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật, đặc biệt là không được ở trong tình trạng phá sản và phải làm đầy

đủ nghĩa vụ bảo hiểm nghề nghiệp Các cổ đông của một công ty trách nhiệm hữu hạn luật sư chỉ có thể là luật sư hoặc chuyên gia tư vấn về thuế, người được ủy quyền về thuế, kế toán, kiểm toán đã tuyên thệ “Trong xu hướng hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư hiện nay, theo thống kê trong tổng số luật sư hiện đang hành nghề tại Đức, công ty luật là loại hình được ưa chuộng nhất Con số các công ty luật tăng từ 324 lên 401 (hơn 23,8%) Các công ty

hợp danh tăng khoảng 13,6% (lên 2.703 công ty hợp danh)”.[14]

1.1.3.2 Sự ra đời của các loại hình công ty luật ở Việt Nam

Ngày 18/12/1987, Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh Tổ chức luật sư Pháp lệnh cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về chế định luật

sư, tạo cơ sở cho việc hình thành và phát triển đội ngũ luật sư ở Việt Nam Theo quy định của Pháp lệnh, thì đoàn luật sư vừa là tổ chức mang tính xã hội

- nghề nghiệp của luật sư, vừa là nơi hành nghề của luật sư Hình thức tổ chức này không phù hợp với tính chất của nghề luật sư, chưa phát huy được tính năng động, tự chủ của luật sư và chưa đề cao trách nhiệm của cá nhân luật sư Mặt khác, hình thức tổ chức này hạn chế khả năng tiếp cận, lựa chọn luật sư đối với cá nhân và tổ chức Vì vậy, cần phân biệt rõ hình thức tổ chức hành nghề với hình thức tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, đồng thời cho phép các luật sư được lựa chọn hành nghề dưới hình thức văn phòng hoặc công ty là một nhu cầu khách quan và phù hợp với thông lệ quốc tế

Sau khi Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp năm 1999, thì một vấn

đề được đặt ra là liệu luật sư có được hành nghề theo các loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp hay không? Có ý kiến cho

Trang 30

rằng luật sư được lựa chọn các hình thức hành nghề theo quy định của Luật Doanh nghiệp Như có ý kiến khác lại cho rằng do đặc thù của nghề luật sư là phải chịu trách nhiệm vô hạn, nên chỉ có hình thức công ty hợp danh là phù hợp với nghề luật sư Sau khi Pháp lệnh Luật sư năm 2001 được thông qua, công ty luật hợp danh được thừa nhận là một trong các hình thức tổ chức hành nghề luật sư, theo đó luật sư có thể tự mình thành lập văn phòng luật sư của riêng mình, cùng với các luật sư khác thành lập văn phòng luật sư hoặc công

ty luật hợp danh Công ty luật hợp danh là hình thức tổ chức hành nghề luật

sư do ít nhất hai luật sư thành lập và chịu trách nhiện liên đới bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của công ty Công ty luật hợp danh chỉ gồm các thành viên hợp danh Việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công

ty hợp danh được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh Luật sư; trong trường hợp Pháp lệnh Luật sư không quy định thì tuân theo quy định của Luật Doanh nghiệp Để phù hợp với tình hình mới, sau khi Luật Doanh nghiệp đã được ban hành và đáp ứng yêu cầu của hội nhập khu vực và quốc tế về dịch

vụ pháp lý, đồng thời căn cứ vào nguyện vọng của nhiều luật sư, Pháp lện Luật sư quy định công ty luật hợp danh là hình thức hành nghề của luật sư Song vì công ty luật hợp danh là hình thức kinh doanh không phù hợp với hoạt động tham gia tố tụng, đặc biệt với điều kiện của Việt Nam thời điểm đó, nên Pháp lệnh quy định công ty luật hợp danh được thực hiện tư vấn pháp luật, dịch vụ pháp lý khác, nhưng không được thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng (khoản 2 Điều 18 của Pháp lệnh Luật sư), đó là điểm khác nhau cơ bản giữa văn phòng luật sư và công ty luật hợp danh Pháp lệnh chỉ quy định những đặc thù của công ty luật hợp danh với tính chất, đặc điểm của nghề luật sư, còn những vấn đề chung khác được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp

Trang 31

Sau khi Quốc hội ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2005, để phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Luật sư năm 2006 đã mở rộng hình thức hành nghề của luật sư, theo đó luật sư có thể lựa chọn một trong các hình thức hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách

cá nhân Luật Luật sư quy định hai hình thức tổ chức hành nghề luật sư là văn phòng luật sư và công ty luật Công ty luật bao gồm: Công ty luật hợp danh

và công ty luật trách nhiệm hữu hạn Qua nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, nhiều nước trên thế giới hiện đã và đang có xu hướng đa dạng hóa hình thức hành nghề luật sư Do đó, ngoài hình thức hành nghề luật sư mang tính truyền thống như công ty trách nhiệm vô hạn còn quy định hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Việc cho phép luật sư được thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn để hành nghề nhằm đảm bảo sự phù hợp giữa quy định của Luật Luật sư với Luật Doanh nghiệp Theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì kinh doanh dịch vụ pháp lý là một ngành, nghề kinh doanh mà cá nhân phải đáp ứng đủ điều kiện luật định thì mới được phép lựa chọn thành lập các loại hình doanh nghiệp để tiến hành hoạt động kinh doanh Hơn nữa, việc mở rộng hình thức tổ chức hành nghề luật sư cũng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư lựa chọn hình thức tổ chức hành nghề phù hợp với khả năng thực tế của mình Công ty luật bao gồm công ty luật hợp danh và công

ty luật trách nhiệm hữu hạn là các hình thức tổ chức hành nghề luật sư So với Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Luật Luật sư đã quy định thêm loại hình công ty luật trách nhiệm hữu hạn Hơn nữa, để phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Luật sư còn quy định công ty luật trách nhiệm hữu hạn có thể là công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên [20]

Trang 32

Như vậy, theo pháp luật hiện hành, công ty luật ở Việt Nam gồm ba loại hình: Công ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên

1.2 PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY LUẬT

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về công ty luật

1.2.1.1 Khái niệm

Pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính

xã hội Hai thuộc tính này có mối liên hệ mật thiết với nhau Xét theo quan điểm hệ thống, không có pháp luật chỉ thể hiện duy nhất tính giai cấp, ngược lại cũng không có pháp luật chỉ thể hiện tính xã hội Tuy nhiên, mức độ đậm nhạt của hai tính chất đó của pháp luật rất khác nhau và thường hay biến đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, đạo đức, quan điểm, đường lối và các trào lưu chính trị xã hội trong mỗi nước, ở một thời kỳ lịch sử nhất định

Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa: “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội,

là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội”.[23]

Mỗi quốc gia có một hệ thống pháp luật riêng, hiện nay trên thế giới tồn tại hai hệ thống pháp luật đó là hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (Civil Law) và hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Common Law) Nhiều nước trên thế giới có đạo luật riêng điều chỉnh về tổ chức và hành nghề luật sư với tên gọi gắn với thuật ngữ “luật sư” hoặc “hành nghề luật sư”, ví dụ: Đạo luật về hành nghề luật sư năm 1984 (được sửa đổi năm 2011) của Singapore; Đạo luật về luật sư (B.E 2528) năm 1995 của Thái Lan; Luật về luật sư năm 1996 của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, sửa đổi ngày 28/10/2007; Luật về hành nghề luật sư số 205 năm 1949 của Nhật Bản, sửa đổi ngày 24/6/2011; Luật Hành nghề luật sư số 3594 năm 1982 của Hàn Quốc; Bộ luật về hành nghề của

Trang 33

Đoàn luật sư Vương quốc Anh và xứ Wales; Luật về cải cách hành nghề luật

sư năm 1991 của Cộng hòa Pháp; Luật về hành nghề pháp lý số 109 năm

1987 của Bang New South Wales của Australia, sửa đổi ngày 19/8/2000

Qua tên gọi và phạm vi điều chỉnh của lĩnh vực hoạt động hành nghề luật sư, có thể đưa ra một khái niệm chung nhất pháp luật về công ty luật như sau: Pháp luật về công ty luật là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong quá trình thành lập, tổ chức, hoạt động và chấm dứt hoạt động của công ty luật

1.2.1.2 Đặc điểm

Mỗi quốc gia trên thế giới có một hệ thống chính trị riêng, điều này đã dẫn đến hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia là khác nhau Chính hệ thống chính trị quyết định chính sách thông qua pháp luật Tuy mỗi quốc gia có một

hệ thống pháp luật về công ty luật riêng, nhưng tựu chung lại có thể thấy pháp luật về công ty luật có những đặc điểm chung sau:

Thứ nhất, pháp luật về công ty luật chịu sự điều chỉnh trực tiếp của

Luật Doanh nghiệp và Luật Luật sư Luật Doanh nghiệp đưa ra khung pháp lý

về các loại hình doanh nghiệp Luật Luật sư dựa trên Luật Doanh nghiệp, quy định những vấn đề riêng đặc thù cho nghề luật sư

Thứ hai, pháp luật về công ty luật gồm những quy phạm gắn liền với

tính chất hoạt động nghề nghiệp của luật sư là hành nghề độc lập và chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động nghề nghiệp của mình

1.2.2 Thành lập, tổ chức, hoạt động, quản trị công ty luật

1.2.2.1 Thành lập công ty luật

Ở hầu hết các nước phát triển, việc thành lập công ty luật hoàn toàn là quyền của luật sư Đó là quyền tự do lập hội và họ thực hiện quyền này theo quy định của pháp luật Pháp luật chỉ điều chỉnh hoạt động của công ty từ giai đoạn đăng ký thành lập Để công ty luật ra đời và đi vào hoạt động, thì một

Trang 34

trong những vấn đề quan trọng mà các luật sư không thể bỏ để tạo nên tính hợp pháp cho công ty, đó là tiến hành thực hiện thủ tục thành lập công ty

Thành lập công ty luật là một thủ tục pháp lý được thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuỳ thuộc vào loại hình công ty (công ty

đó thuộc sở hữu nhà nước hay sở hữu tư nhân); tuỳ thuộc vào mức độ cải cách hành chính và thái độ của nhà nước đối với quyền tự do kinh doanh của công dân, mà thủ tục pháp lý này đơn giản hay phức tạp Theo đó, thủ tục thành lập công ty luật bao gồm thủ tục cho phép thành lập công ty và thủ tục đăng ký hoạt động hoặc chỉ một thủ tục duy nhất là đăng ký hoạt động Việc đăng ký hoạt động là thủ tục bắt buộc, nó cho phép xác lập tư cách pháp lý của công ty luật

Chủ thể muốn thành lập công ty luật phải đáp ứng một số điều kiện nhất định về mục đích hoạt động, chủ thể, trụ sở và tên công ty

* Về chủ thể

Đa số các nước trên thế giới đều quy định, người muốn thành lập công

ty luật hoặc tham gia thành lập, thì phải là luật sư Điều này xuất phát từ đặc điểm của nghề luật sư là hành nghề độc lập và chịu trách nhiệm cá nhân Ở Việt Nam, ngoài điều kiện trên, luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập công ty luật phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức Một luật sư chỉ được thành lập hoặc tham gia thành lập một công ty luật Trong trường hợp luật sư ở các đoàn luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập một công ty luật, thì có thể lựa chọn thành lập và đăng ký hoạt động tại địa phương nơi có đoàn luật

sư mà một trong các luật sư đó là thành viên

Tuy nhiên, một số nước như Trung Quốc, Đức quy định điều kiện chủ thể thành lập hoặc tham gia thành lập công ty luật có những điểm khác so với

Trang 35

các nước Tại Chương 3 Luật về Luật sư năm 1996 của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, sửa đổi ngày 28/10/2007 quy định về việc thành lập và hoạt động của công ty luật, theo đó, công ty luật có thể thành lập dưới hình thức công ty

tư nhân, công ty luật hợp danh và công ty luật có vốn đầu tư nhà nước Như vậy, có thể thấy, ở Trung Quốc chủ thể tham gia thành lập công ty luật có cả

sự đóng góp vốn của nhà nước

Theo pháp luật của Đức, các cổ đông muốn tham gia thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn luật chỉ có thể là luật sư hoặc chuyên gia tư vấn về thuế, người được ủy quyền về thuế, kế toán, kiểm toán đã tuyên thệ

* Về điều kiện về trụ sở và tên công ty

Luật sư hành nghề và chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của mình, nghề luật sư là một nghề tự do Tuy nhiên, hầu hết pháp luật các nước trên thế giới đều quy định, khi các luật sư liên kết lại với nhau thành lập một công ty luật, thì công ty luật đó phải có địa chỉ và trụ sở làm việc trên thực tế Quy định về điều kiện phải có trụ sở làm việc là nhằm tránh các công ty luật hoạt động động nhỏ lẻ, manh mún, không bảo đảm chất lượng dịch vụ khi cung cấp cho khách hàng Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và tính chuyên nghiệp của nghề luật sư

Ở Đức, “theo khoản 1 câu 1 Điều 3 Luật Công ty TNHH Đức, thì trụ sở công ty phải được ghi trong hợp đồng công ty Việc ghi rõ trụ sở trong điều lệ công ty là nhu cầu tất yếu cho việc xác định cơ quan tòa án có thẩm quyền, cũng như thông lệ tư pháp quốc tế (Điều 7 Luật Công ty TNHH và Luật Tố tụng dân sư Đức) Trụ sở phải là địa điểm trên lãnh thổ Đức, tất cả các trường hợp khác với quy định này tất yếu sẽ không được vào sổ đăng ký hoạt động Việc lựa chọn địa điểm đặt trụ sở không do luật điều chỉnh, mà do lãnh đạo công ty và thông lệ hành chính quyết định Mỗi công ty chỉ có một trụ sở,

Trang 36

những địa điểm khác để thực hiện hoạt động sẽ áp dụng theo các quy định tại Điều 12 Luật Công ty TNHH.”[13]

Tên công ty thể hiện loại hình công ty luật, vì vậy pháp luật các nước trên thế giới quy định công ty luật phải có tên cụ thể Quy định này xuất phát

từ tính chất pháp lý của từng loại hình công ty luật Thông qua tên công ty, khách hàng có thể biết được trách nhiệm pháp lý của công ty đối với khác hành đến đâu Tùy theo hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, quy định về điều kiện về trụ sở làm việc và tên công ty khác nhau Theo pháp luật Việt Nam, thì ngoài điều kiện về chủ thể, luật sư muốn thành lập công ty luật phải có trụ

sở làm việc và tên công ty Trụ sở làm việc phải có địa chỉ rõ ràng trên thực địa, tên công ty phải bao gồm cụm từ "công ty luật hợp danh" hoặc "công ty luật trách nhiệm hữu hạn", không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của

tổ chức hành nghề luật sư khác đã được đăng ký hoạt động

Điều 4 Luật Công ty TNHH của Cộng hòa Liên bang Đức quy định việc đặt tên hãng có thể căn cứ vào đối tượng kinh doanh, tên gọi của các thành viên công ty hay tên tương xứng với mảng quan hệ kinh doanh có ý nghĩa nhất định Song bất luận tên hãng như thế nào, cũng phải kèm theo đuôi

là “chịu trách nhiệm hữu hạn”

Ngoài điều những điều kiện trên, pháp luật một số nước còn quy định người muốn thành lập công ty luật còn phải có một tải sản nhất định Ví dụ như Trung Quốc quy định, người muốn thành lập công ty luật phải có tài sản

từ 100.000 nhân dân tệ trở lên

* Trình tự, thủ tục, thành lập công ty luật

Trình tự, thủ tục thành lập công ty luật là các quy định của pháp luật quy định về hồ sơ, thủ tục và cơ quan có thẩm quyền tiến hành đăng ký thành lập công ty luật

Trang 37

- Về hồ sơ đề nghị thành lập công ty luật, đó là những giấy tờ, văn bản, tài liệu để chứng mình cho chủ thể có đủ điều kiện thành lập công ty luật Tùy theo pháp luật của các nước, mà thành phần hồ sơ đề nghị thành lập công ty luật là khác nhau Hồ sơ đề nghị thành lập công ty luật có thể khái quát một cách chung nhất gồm: (i) Giấy đề nghị đăng ký hoạt động; (ii) Dự thảo điều lệ của công ty luật; (iii) Bản sao chứng chỉ hành nghề luật sư, bản sao thẻ luật sư của luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập công ty luật; (iv) Giấy tờ chứng minh về trụ sở của công ty luật

- Về trình tự thành lập và cơ quan có thẩm quyền đăng ký thành lâp:

Chủ thể muốn thành lập công ty luật phải nộp hồ sơ đề nghị thành lập công ty luật tại cơ quan có thẩm quyền Trong một khoảng thời gian do luật quy định,

cơ quan có thẩm quyền xem xét, nếu đủ điều kiện, thì cấp giấy phép hoạt động cho công ty luật

Pháp luật các nước quy định cơ quan có thẩm quyền cấp giấy đăng ký hoạt động công ty luật là khác nhau Ở Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy đăng ký hoạt động là Sở Tư pháp ở địa phương nơi có đoàn luật sư mà giám đốc công ty luật là thành viên Công ty luật do luật sư ở các đoàn luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập, thì đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp ở địa phương nơi có trụ sở của công ty

Theo Luật về Luật sư năm 1996 của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, sửa đổi ngày 28/10/2007, thì việc cấp giấy phép thành lập công ty luật do Sở

Tư pháp tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện trên cơ sở xem xét các điều kiện: (i) Có tên gọi, trụ sở thường trú, điều lệ hoạt động; (ii)

Có tài sản từ 100.000 nhân dân tệ trở lên; (iii) Có luật sư đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Luật về Luật sư Sở Tư pháp còn có chức năng xử lý

vi phạm đối với luật sư và công ty luật Hình thức xử lý vi phạm đối với luật

sư bao gồm: Cảnh cáo, đình chỉ hành nghề, huỷ bỏ chứng chỉ hành nghề Đối

Trang 38

với công ty luật, hình thức xử lý vi phạm bao gồm: Buộc sửa chữa vi phạm, tịch thu khoản thu bất hợp pháp, phạt tiền, đình chỉ hoạt động, huỷ bỏ giấy phép thành lập Trường hợp không đồng ý với quyết định xử lý vi phạm của

Sở Tư pháp, đương sự có thể khiếu nại lên Bộ Tư pháp Nếu vẫn không đồng

ý với quyết định của Bộ Tư pháp, đương sự có thể khiếu kiện ra Toà án nhân

- Công ty luật hợp danh:

Công ty luật hợp danh là công ty luật đối nhân, chỉ có thành viên hợp danh, không có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn về toàn bộ nghĩa vụ của công ty Công ty luật hợp danh được tổ chức dưới hình thức một hãng luật chung Hãng này thường mang tên của một thành viên hoặc tất cả các thành viên Hầu hết pháp luật các nước đều quy định công ty luật hợp danh không có tư các pháp nhân, một số nước như Việt Nam quy định công ty luật hợp danh có tư các pháp nhân Xuất phát từ đặc trưng này có thể thấy công ty luật hợp danh được tổ chức, quản lý như sau:

Hội đồng thành viên là cơ quan quản lý cao nhất trong công ty luật hợp danh Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm chủ tịch đồng thời kiêm giám đốc hoặc tổng giám đốc (nếu điều lệ công ty không có quy

Trang 39

định khác) Việc tiến hành họp hội đồng thành viên do chủ tịch hội đồng thành viên triệu tập hoặc theo yêu cầu của thành viên hợp danh Trường hợp chủ tịch hội đồng thành viên không triệu tậo họp theo yêu cầu của thành viên hợp danh, thì thành viên đó có quyền triệu tập họp hội đồng Cuộc họp của hội đồng thành viên phải được ghi vào sổ biên bản của công ty Hội đồng thành viên có quyền quyết định tất cả các công việc liên quan đến hoạt động của công ty

Như vậy, trong công ty hợp danh, hội đồng thành viên là cơ quan có quyền hạn cao nhất, trong đó, các thành viên hợp danh nắm giữ mọi quyền hành đối với việc quản lý và điều hành các công việc kinh doanh của công ty Vai trò của người đứng đầu công ty luật hợp danh cũng có sự khác biệt so với

vị trí, vai trò của người đứng đầu trong công ty luật trách nhiệm hữu hạn Nếu chủ tịch, giám đốc hoặc tổng giám đốc của công ty luật trách nhiệm hữu hạn

có một vị trí quan trọng so với các thành viên khác trong công ty, có quyền thực hiện những công việc liên quan đến hoạt động của công ty nhân danh chức vụ của bản thân, thì chủ tịch, giám đốc hoặc tổng giám đốc trong công ty luật hợp danh là một thành viên hợp danh và không có quyền cao hơn các thành viên hợp danh còn lại, không có quyền tự quyết định một vấn đề gì nếu không có sự thông qua của hội đồng thành viên

Chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc của công ty luật hợp danh chỉ có quyền điều phối các hoạt động vạch sẵn, sự thoả thuận

và nhất trí của tất cả các thành viên hợp danh Nói cách khác, người nắm giữ các chức vụ quản lý trong công ty luật hợp danh đơn giản chỉ là một thành viên hợp danh với những quyền và nghĩa vụ như bao thành viên hợp danh khác

Chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc có nhiệm

vụ quản lý và điều hành hoạt động hàng ngày của công ty với tư cách là thành

Trang 40

viên hợp danh; phân công, phối hợp công việc giữa các thành viên hợp danh; đại diện cho công ty trong quan hệ với cơ quan nhà nước; đại diện cho công

ty với tư cách là bị đơn hoặc nguyên đơn trong các vụ kịên, tranh chấp thương mại hoặc các tranh chấp khác

Việc điều hành các hoạt động của công ty, các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động hàng ngày của công ty Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện các hoạt động hàng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó biết được về hạn chế đó Trong khi điều hành, các thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhận các chức danh quản lý và kiểm sát công ty Khi một số hoặc tất cả các thành viên hợp danh cùng thực hiện những công việc hàng ngày, thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số Hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động đã đăng ký của công

ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp đã được các thành viên còn lại chấp thuận

Pháp luật Việt Nam thừa nhận công ty luật hợp danh được thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý, tư vấn pháp luật và cung cấp dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tranh tụng

Ở Anh, luật sư được chia làm hai loại là luật sư tư vấn và luật sư tranh tụng Công ty luật hợp danh ở Anh chỉ hoạt động trong lĩnh vực tư vấn Hiện nay, có khoảng 9.800 hãng luật của luật sư tư vấn được thành lập ở Anh và xứ Wales “Luật sư tranh tụng của Anh không thể hành nghề dưới hình thức hãng luật cá nhân hay hãng luật hợp danh, mà chỉ được hành nghề độc lập với tư cách của chính bản thân họ mà thôi Các luật sư tranh tụng ở Anh có thể cùng nhau làm việc trong một phòng luật sư (chamber) thuộc Toà án, nơi họ đăng

ký hành nghề, nhưng thực chất họ hành nghề một cách độc lập và không có

Ngày đăng: 09/07/2015, 18:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
25. Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) (2010), Cẩm nang quản trị công ty, tr. 6, In tại Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang quản trị công ty
Tác giả: Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC)
Năm: 2010
29. Nguyễn Văn Thảo (2003), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Thảo
Năm: 2003
30. Phan Trung Hoài (2003), Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam
Tác giả: Phan Trung Hoài
Năm: 2003
31. Nguyễn Văn Tuân (2005), Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, thực trạng, nhu cầ và định hướng phát triển, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, thực trạng, nhu cầ và định hướng phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Tuân
Năm: 2005
32. Nguyễn Anh Minh (2009), Luật sư và tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sư và tổ chức hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Anh Minh
Năm: 2009
33. Nguyễn Thị Thùy Giang (2012), Pháp luật Việt Nam về công ty hợp danh, Luận văn Thạc sĩ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về công ty hợp danh
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Giang
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm