Tính cấp thiết của đề tài Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007, đã tạo lập được khuôn khổ pháp lý cao, đồng bộ và thống n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƢ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƢ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Thị Huyền Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Những dòng đầu tiên trong Luận văn của mình tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giảng viên tại Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, là những người đã truyền thụ kiến thức cho tôi trong suốt khoá học
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Lê Thị Thu Thuỷ, người
đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn Đồng thời, tôi cũng chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã cung cấp những nguồn tư liệu quý giá, giúp tôi hoàn thành Luận văn này
Cuối cùng, xin cảm ơn người thân, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên
và cổ vũ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn này
Hà Nội, tháng 11 năm 2013
Học viên thực hiện
Trần Thị Huyền Trang
Trang 5MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt i
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 6
1.1 Khái niệm và đặc điểm Quỹ đầu tư chứng khoán 6
1.1.1 Khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán 6
1.1.2 Đặc điểm Quỹ đầu tư chứng khoán 8
1.2 Vai trò của Quỹ đầu tư chứng khoán 10
1.2.1 Đối với Nhà đầu tư 10
1.2.2 Đối với Doanh nghiệp 13
1.2.3 Đối với thị trường chứng khoán 13
1.2.4 Đối với nền kinh tế 14
1.3 Phân loại Quỹ đầu tư chứng khoán 15
1.3.1 Căn cứ theo mục đích đầu tư 15
1.3.2 Căn cứ theo cơ cấu huy động vốn 16
1.3.3 Căn cứ theo đối tượng đầu tư 18
1.3.4 Căn cứ theo cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý hoạt động quỹ 23
1.3.5 Căn cứ theo vùng, lãnh thổ đầu tư 24
1.3.6 Căn cứ theo quyền sở hữu 27
1.4 Hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 27
1.4.1 Nguyên tắc hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 27
1.4.2 Các hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 30
1.4.3 Những rủi ro tác động tới hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 32
Kết luận chương 1 35
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 36
Trang 62.1.2 Quỹ đầu tư chứng khoán 37
2.1.3 Công ty quản lý quỹ 38
2.1.4 Các chuyên gia đầu tư hay các nhà tư vấn đầu tư 41
2.1.5 Nhà bảo lãnh phát hành 41
2.2 Hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 42
2.2.1 Hoạt động huy động vốn 42
2.2.2 Hoạt động đầu tư 44
2.2.3 Hoạt động cung cấp thông tin cho Nhà đầu tư 47
2.3 Vi phạm, chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 47
2.3.1 Các hành vi vi phạm trong hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 47
2.3.2 Chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 51
2.4 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 56
Kết luận chương 2 68
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 69
3.1 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 69
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 71
3.3 Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 78
3.3.1 Về hoạt động huy động vốn 78
3.3.2 Về hoạt động đầu tư 83
3.3.3 Về hoạt động cung cấp thông tin cho Nhà đầu tư 84
3.3.4 Các giải pháp khác 85
Kết luận chương 3 87
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007, đã tạo lập được khuôn khổ pháp lý cao, đồng bộ và thống nhất cho hoạt động của thị trường chứng khoán (TTCK), từng bước loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan (về cơ bản thống nhất với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư), phù hợp hơn với luật pháp, thông lệ quốc tế, tạo nền tảng cho TTCK Việt Nam khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực, tăng cường tính công khai minh bạch cho thị trường
và nâng cao khả năng quản lý giám sát thị trường của cơ quan Quản lý Nhà nước
Sự lớn mạnh của TTCK ở nước ta hơn 10 năm qua là cơ sở và nền tảng cho
sự hình thành và phát triển các Quỹ đầu tư chứng khoán (QĐTCK) Trên TTCK, nhất là đối với thị trường còn non trẻ của Việt Nam, có không ít các NĐT có nguồn vốn nhàn rỗi nhưng không có đủ kinh nghiệm, kiến thức cũng như các điều kiện khách quan khác để tự mình tham gia đầu tư chứng khoán Từ đó, có hai vấn đề được đặt ra: thứ nhất, các chủ thể này muốn tham gia đầu tư chứng khoán với mục đích kiếm lời; thứ hai, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh muốn tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi từ những chủ thể này Như một kết quả tất yếu, trong pháp luật về kinh doanh chứng khoán, nhà làm luật thiết lập chế định về QĐTCK Theo đó, các chủ thể có vốn nhàn rỗi nhưng không có các điều kiện khách quan để tham gia đầu tư chứng khoán có một kênh để đầu tư kiếm lời Bên cạnh đó, giúp các chủ thể sản xuất kinh doanh tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi này
QĐTCK là một định chế đầu tư chuyên nghiệp với đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm Sự xuất hiện của các QĐTCK sẽ góp phần thu hút nguồn vốn đầu tư vào TTCK Mặt khác, với mục tiêu đầu tư dài hạn và những ưu điểm vượt trội về năng lực tài chính, sự hình thành của các QĐTCK sẽ góp phần bình ổn và dẫn dắt thị trường, tạo điều kiện để TTCK Việt Nam phát triển, nhanh chóng trở thành một kênh huy động vốn trung – dài hạn có hiệu quả cho nền kinh tế
Trang 9Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động QĐTCK trên TTCK đối với nền kinh tế Việt Nam, xuất phát từ yêu cầu bức thiết phải hình thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, cũng như mong muốn làm rõ các chính sách pháp luật, hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động các QĐTCK trên TTCK Việt Nam là hết sức cần thiết và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc thúc đẩy
sự phát triển của TTCK Việt Nam Qua thực tế thực thi, các quy định đã ban hành bộc lộ nhiều bất cập làm hạn chế sự phát triển của bản thân các quỹ, ảnh hưởng đến nhà đầu tư, ảnh hưởng đến sự vận hành của TTCK Do vậy, việc đánh giá lại quá trình hình thành, hoàn thiện và phát triển các QĐTCK, tiếp tục nghiên cứu từ góc
độ lý luận, thực tiễn để tìm ra bất cập, có đề xuất hướng sửa đổi, thay thế và bổ sung các quy định của pháp luật có ý nghĩa quan trọng giúp TTCK đi vào quỹ đạo đầu tư chuyên nghiệp và “bắt nhịp” đi chung của TTCK toàn cầu Với ý nghĩa đó mà tôi
chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tƣ chứng khoán ở Việt Nam”
làm luận văn Thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán là vấn đề khá mới trong
hệ thống pháp luật Việt Nam Nó được quy định rải rác trong một số văn bản pháp luật như Luật Chứng khoán, Luật Đầu tư và một số văn bản dưới luật
Một số nghiên cứu về hoạt động của các Quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài ở
Việt Nam trong thập niên 1990 như: “Tổng quan các Quỹ đầu tư ở Việt Nam” của
Bean Stens năm 1997, “Thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam – một nghiên cứu sơ bộ” của Adam Sack và John McKenzie thuộc chương trình phát triển kinh tế
tư nhân MPDF năm 1998 Bên cạnh đó có một số nghiên cứu chuyên sâu về QĐTCK trong nước như “Kinh nghiệm phát triển Quỹ đầu tư” của PGS.TS Lê Thị Thu Thủy năm 2012, “Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ trong thị
trường chứng khoán” của PGS.TS Lê Hồng Hạnh – Tạp chí Luật học số 6/1998 và
một số ít các nghiên cứu khoa học, luận văn Thạc sỹ… khác về QĐTCK như “Tìm
Trang 10Thiên Trúc Quỳnh năm 2006, “Đánh giá hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Mai Phụng Chiêu năm 2011, “Giải pháp phát triển Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam” của Th.s kinh tế Nguyễn Thị Minh Hằng, đề tài nghiên cứu khoa học của Th.s kinh tế Bùi Viết Thuyên, báo cáo khoa học về Quỹ đầu tư của tác giả Bùi Nguyên Hoàn
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu này mới chỉ giải quyết được các vấn đề dưới góc độ kinh tế - tài chính ngân hàng với những giải pháp kinh tế chuyên sâu, minh chứng bằng các chỉ số kinh tế, giải quyết được các bài toán kinh tế trong bối cảnh kinh tế chung về các hoạt động của QĐTCK như huy động vốn, hoạt động đầu
tư, các lợi ích kinh tế khi có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài mà chưa giải quyết được một cách cụ thể và thấu đáo những vấn đề cần được khắc phục, giải quyết và hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam Đây chính là nội dung chính mà tôi tập trung nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ của mình
3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài: phân tích những vấn đề lý luận về hoạt động của các QĐTCK, thực trạng hoạt động của các QĐT trong và ngoài nước trên TTCK Việt Nam dưới góc độ pháp luật Cùng với đó là xem xét và đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của pháp luật về hoạt động của các QĐTCK, chỉ ra đâu là những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó Từ đó, đề ra giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho hoạt động QĐTCK cũng như nâng cao vai trò của các QĐTCK trên TTCK Việt Nam
Phạm vi đề tài: Luận văn tập trung nghiên cứu các hoạt động chung nhất của QĐTCK (QĐT mô hình tín thác và QĐT mô hình công ty) dưới góc độ pháp luật, những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này cũng như việc thực thi các quy định đó trong thực tiễn áp dụng Từ đó đưa ra những phương hướng cũng như các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý, góp phần phát triển các QĐTCK của
Trang 114 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu và hoàn thiện trên cơ sở phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra có sự kết hợp với một số phương pháp khác như: phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp; phương pháp liên hệ, so sánh; phương pháp logic học và các phương pháp khoa học khác nhằm làm sáng tỏ hơn nữa các vấn đề được đặt ra trong luận văn Thạc sỹ này
5 Những đóng góp mới về khoa học của Luận văn
Về lý luận: làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của
QĐTCK ở Việt Nam Trên cơ sở tổng quan có chọn lọc một số quan điểm cơ bản của các nhà kinh tế học trên thế giới, một số Tổ chức quốc tế và một số học giả của Việt Nam, cũng như các luật gia nổi tiếng kết hợp những kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn, tôi đã làm rõ những khái niệm, định nghĩa, vai trò, cơ cấu tổ chức, cách phân loại QĐTCK, cũng như làm rõ hoạt động của QĐTCK dưới góc độ pháp lý, từ
đó có đề xuất, kiến nghị những phương hướng, giải pháp cụ thể để hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của QĐTCK ở Việt Nam
Về đánh giá thực tiễn: trên cơ sở những nghiên cứu, đánh giá của cá nhân
tôi cũng như tham khảo và chọn lọc nhiều nguồn tài liệu tham khảo khác, Luận văn
đã trình bày tổng quan thực trạng pháp luật về hoạt động của QĐTCK ở Việt Nam, phân tích những ưu điểm – hạn chế và tìm ra những nguyên nhân chủ yếu của hệ thống pháp luật về vấn đề này
Về đề xuất chính sách: Luận văn đã chỉ ra những nội dung cơ bản cần phải
hoàn thiện, từ đó đề xuất những định hướng, quan điểm cơ bản, các giải pháp chủ yếu để hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động của QĐTCK ở Việt Nam Các giải pháp này có giá trị tham khảo tốt trong xây dựng, hoạch định và triển khai các chính sách pháp luật cũng như việc thực thi chúng trong thực tiễn áp dụng
Với việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng
Trang 12hoàn thiện những nhược điểm, phát huy những ưu điểm, để từ đó nhìn nhận và đánh giá đúng được vai trò của pháp luật về hoạt động QĐTCK trong giai đoạn sắp tới
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Các QĐTCK được quản lý bởi những NĐT giàu kinh nghiệm, có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và có trình độ chuyên môn cao, đây được xem như một trong những phương thức đầu tư mới hiệu quả hơn so với các phương thức đầu tư truyền thống Các QĐTCK với nhiệm vụ của nhà tạo lập thị trường không những góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn mà còn là công cụ giảm thiểu rủi ro tốt nhất cho các NĐT Vì vậy, nâng cao vai trò của pháp luật QĐTCK có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc cho sự phát triển của TTCK Việt Nam trong tương lai
7 Kết cấu của Luận văn
Luận văn gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Phần nội dung gồm 03 chương:
Chương 1 Những vấn đề cơ bản về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam
Chương 2 Thực trạng pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam
Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ
CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và đặc điểm Quỹ đầu tư chứng khoán
1.1.1 Khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán
Trong hoạt động kinh doanh, đầu tư được hiểu là việc cá nhân, tổ chức sử dụng tài sản để tiến hành hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu thu được lượng tài sản nhiều hơn trong tương lai Khái niệm “đầu tư” trong Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 được hiểu như sau: “đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” [35, Điều 3, Khoản 1] Lĩnh vực đầu tư rất phong phú, từ việc sản xuất, kinh doanh hàng hoá đến việc góp vốn, mua cổ phần hay đơn giản là việc gửi tiết kiệm tại ngân hàng hoặc tham gia vào một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Một trong những lĩnh vực đầu tư rất hấp dẫn, không những về khả năng sinh lời mà còn ở tính hấp dẫn của nó, đó chính là đầu tư chứng khoán (ĐTCK) ĐTCK được hiểu là việc một chủ thể nắm giữ chứng khoán để kỳ vọng vào lợi nhuận do chứng khoán đó mang lại trong tương lai Lợi nhuận có thể thu được từ lãi chứng khoán đang nắm giữ hoặc chênh lệch từ hoạt động mua, bán chứng
khoán Từ đó khái niệm QĐTCK ra đời
QĐTCK là hình thức quỹ được thiết lập với mục đích tìm kiếm và tối đa hóa lợi nhuận từ nguồn vốn góp thông qua hoạt động ĐTCK Để có thể hiểu đầy đủ và chính xác khái niệm về QĐTCK, cần xem xét những khái niệm sau đây:
Theo Luật Công ty đầu tư năm 1940 của Mỹ , QĐTCK là các tổ chức tài chính được quản lý chặt chẽ và phải tuân theo các điều luật v à quy chế của Liên bang và các tiểu bang
Trang 14Theo quan điểm về nghiên cứu chứng khoán của Đức trên tạp chí Cadogan Financials, QĐTCK là một đi ̣nh chế tài chính trung gian giữa người có vốn (thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn thông tin khác nhau ) và người cần vốn (sử dụng các khoản tiền đó để đầu tư vào các tài sản khác nhau thông qua công cụ cổ phiếu , trái phiếu và tiền tệ) Tất cả các khoản đầu tư này đều được quản lý chuyê n nghiệp, chặt chẽ bởi CTQLQ, NHGS và các cơ quan thẩm quyền khác
Theo Luật Chứng khoán của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006, QĐTCK là quỹ hình thành từ vốn góp của NĐTCK với mu ̣c đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các da ̣ng tài sản đầu tư khác , kể cả bất động sản , trong đó NĐT không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết đi ̣nh đầu tư của quỹ Khi tham gia vào quỹ, các NĐT
sẽ nhận được CCQ là loại chứng khoán do CTQ LQ đa ̣i diện phát hành , xác nhận quyền và lơ ̣i ích hợp pháp của NĐT đối với tài sản hoặc vốn của quỹ theo tỷ lệ tương ứng với số đơn vị quỹ của NĐT đó trong vốn điều lệ quỹ [36]
Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán có quy định như sau:
Quỹ đầu tư mục tiêu là QĐTCK có CCQ là đối tượng của hành vi mua công khai [23]
Công ty đầu tư chứng khoán là QĐTCK được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần Công ty đầu tư chứng khoán có hai hình thức: (i) Công ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ (là công ty đầu tư chứng khoán có tối đa 99 cổ đông, trong đó giá trị góp vốn đầu tư của cổ đông tổ chức tối thiểu phải là 03 tỷ đồng và của cá nhân phải là 01 tỷ đồng; (ii) Công ty đầu tư chứng khoán đại chúng (là công ty đầu
tư chứng khoán thực hiện việc chào mua cổ phiếu ra công chúng) [23]
Trước đây, Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán quy định “QĐTCK là quỹ hình thành từ
Trang 15vốn góp của NĐT uỷ thác cho CTQLQ quản lý và đầu tư tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ vào chứng khoán” [20, Điều 3, Khoản 19]
Tổng hợp lại, có thể hiểu Quỹ đầu tƣ chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn
góp của các NĐT để đầu tư chủ yếu vào chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận CTQLQ tạo lập QĐTCK bằng cách phát hành CCQ hưởng lợi để thu hút vốn từ nhiều NĐT trên thị trường Tiền của quỹ sau đó sẽ được CTQLQ đem đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ của thị trường tiền tệ và các chứng khoán hoặc tài sản khác phù hợp với mục tiêu đầu tư ghi nhận trong điều lệ của quỹ [44, tr252]
Từ đó, khái niệm pháp luật về hoạt động của QĐTCK được hiểu là tổng
thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động của quỹ, bảo vệ NĐT, xác định cách thức đầu tư trên thị trường, quy định các loại hình QĐTCK cũng như điều kiện hình thành, hoạt động của mô hình này
1.1.2 Đặc điểm Quỹ đầu tƣ chứng khoán
QĐTCK là mô hình đầu tư mà theo đó, nguồn vốn đầu tư của quỹ được đầu
tư chủ yếu vào chứng khoán và các NĐT uỷ thác cho CTQLQ trực tiếp điều hành quỹ Thực tiễn ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển cho thấy QĐT hình thành trong rất nhiều lĩnh vực đầu tư khác nhau như khai thác kim loại quý, dầu mỏ…
So với các phương tiện đầu tư tập thể khác QĐTCK có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, bản thân QĐTCK chỉ thể hiện một lượng tiền do các NĐT đóng
góp chứ không phải là một pháp nhân, không có tổ chức bộ máy riêng, vì vậy toàn
bộ việc huy động vốn thành lập quỹ, quản lý và điều hành hoạt động của quỹ cho tới việc sử dụng vốn của quỹ để đầu tư, thu lời đều do CTQLQ đảm nhiệm
Đến lượt mình, toàn bộ hoạt động của CTQLQ lại chịu sự giám sát của một pháp nhân, thường là ngân hàng, độc lập với quỹ và với công ty quỹ Ngân hàng vừa đóng vai trò là người bảo quản tài sản của quỹ đồng thời vừa là người giám sát toàn bộ hoạt động của CTQLQ để bảo đảm CTQLQ tuân thủ pháp luật và những
Trang 16Thứ hai, chứng khoán được phát hành để huy động vốn thành lập quỹ không
phải là cổ phiếu mà là CCQ hưởng lợi cho phép NĐT sở hữu chứng khoán được hưởng một phần thu nhập từ hoạt động đầu tư của quỹ tương ứng với tỷ lệ vốn mà
họ đã đầu tư vào quỹ
Lãi từ hoạt động đầu tư của quỹ, sau khi bù đắp chi phí quản lý quỹ, sẽ được phân chia cho các NĐT sở hữu CCQ Giá trị của mỗi CCQ được xác định hàng ngày và bằng tổng giá trị của quỹ chia cho số lượng CCQ đang lưu hành trên thị
trường [44, tr253]
Thứ ba, những NĐT đầu tư vào QĐTCK không phải là cổ đông mà chỉ là
những người hưởng lợi từ hoạt động của quỹ, họ bỏ tiền góp vốn lập quỹ nhưng không trực tiếp quản lý quỹ mà ủy thác toàn bộ việc quản lý, điều hành quỹ cho CTQLQ và NHGS, là những tổ chức có chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực hoạt động này, nhằm tối đa hóa lợi nhuận có được từ khoản vốn góp của mình
Tuy nhiên, cũng có quốc gia, pháp luật trao cho NĐT quyền quản lý gián tiếp đối với quỹ, thể hiện ở quyền biểu quyết của họ trong đại hội NĐT về những vấn đề hệ trọng mà pháp luật hoặc điều lệ quỹ quy định cần được biểu quyết tại đại hội NĐT Những vấn đề này thường liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung điều lệ quỹ, bản cáo bạch, hợp đồng giám sát; thay đổi định hướng trong chính sách đầu tư của quỹ, chính sách phân phối lợi nhuận; giải thể, sáp nhập, hợp nhất quỹ; thay thế CTQLQ hoặc NHGS [44, tr253]
Thứ tƣ, QĐTCK luôn dành đa số vốn đầu tư của quỹ để đầu tư vào chứng
khoán [30, tr178]
Đặc điểm này phân biệt QĐTCK với các loại QĐT khác Quỹ có thể xây dựng DMĐT đa dạng và hợp lý theo quyết định của các NĐT nhằm tối đa hoá lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro Trước đây, Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 quy định QĐTCK phải dành tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ vào lĩnh vực chứng khoán Ngoài việc chủ yếu đầu tư vào chứng khoán, QĐTCK cũng có thể tiến hành đầu tư
Trang 17Thứ năm, QĐTCK được quản lý và đầu tư một cách chuyên nghiệp bởi
Nói một cách khác, các NĐT đã uỷ thác cho CTQLQ việc quản lý quỹ và tiến hành hoạt động ĐTCK từ số vốn của quỹ CTQLQ có thể cử ra một cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện việc quản lý quỹ gọi là nhà quản trị quỹ Nhà quản trị được chọn thường phải là người có thành tích và được sự ủng hộ của đa số NĐT
Để đảm bảo CTQLQ tiến hành hoạt động đúng như mong muốn của các NĐT, QĐTCK cần phải có một NHGS Ngân hàng này sẽ thay mặt các NĐT để giám sát cũng như giúp đỡ QĐTCK hoạt động đúng mục tiêu mà các NĐT đã đề ra, tránh tình trạng CTQLQ tiến hành các hoạt động đi ngược lại lợi ích của NĐT
Thứ sáu, QĐTCK có tài sản độc lập với tài sản của CTQLQ và các quỹ khác
do công ty này quản lý[30, tr185]
Đặc điểm này đảm bảo việc đầu tư của QĐTCK tuân thủ đúng mục đích đầu
tư, không bị chi phối bởi lợi ích khác của CTQLQ Sự tách bạch về tài sản giữa CTQLQ và QĐTCK nhằm đảm bảo CTQLQ hoạt động quản lý vì lợi ích của các NĐT vào quỹ chứ không vì mục đích của riêng mình Từ yêu cầu tách bạch về tài sản đã chi phối rất lớn đến nội dung những quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của CTQLQ
1.2 Vai trò của Quỹ đầu tƣ chứng khoán
Là một trong các định chế trung gian tài chính phi ngân hàng, QĐTCK có những vai trò nổi bật so với các trung gian tài chính khác
1.2.1 Đối với Nhà đầu tƣ
QĐTCK có vai trò quan trọng đối với NĐT trên TTCK
Thứ nhất, đầu tư tập thể cho phép NĐT có thể tham gia đầu tư vào nhiều
loại thị trường với chủng loại hàng hóa khác nhau, từ đó đa dạng hóa DMĐT và giảm thiểu rủi ro [31, tr234]
Trang 18đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau NĐT được thu lợi từ việc đầu tư chuyên nghiệp với hiệu quả cao và chi phí thấp Từ những lý do trên NĐT sở hữu những chứng chỉ đầu tư có tính thanh khoản cao, họ có thể rút vốn nhanh chóng bằng việc bán lại các chứng chỉ trên TTCK Với nguồn vốn eo hẹp, từng NĐT riêng
lẻ khó có thể cùng lúc đầu tư vào TTCK, thị trường tiền tệ và cả thị trường bất động sản Như vậy, nguồn vốn eo hẹp của từng NĐT riêng lẻ không cho phép họ đầu tư dàn trải vốn đầu tư vào nhiều loại chứng khoán và tài sản khác nhau để phân tán rủi
ro Tuy nhiên nếu cùng chung vốn để lập QĐT hay góp vốn vào công ty đầu tư, ngay cả những NĐT mỏng vốn nhất cũng có thể tham gia đầu tư trên nhiều loại thị trường Lợi thế này của đầu tư tập thể cho phép các NĐT riêng lẻ sử dụng các phương tiện đầu tư tập thể, đa dạng hóa các DMĐT và cũng chính là phân tán nguồn vốn đầu tư Phân tán nguồn vốn đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với NĐT vì khi nguồn vốn của NĐT được đầu tư vào nhiều loại tài sản khác nhau, nếu rủi ro xảy ra đối với một loại tài sản nào đó, NĐT sẽ chỉ bị mất một phần vốn đầu tư của mình chứ không mất toàn bộ vốn như trong trường hợp bỏ vốn đầu tư vào một loại tài sản Nói cách khác đầu tư tập thể có khả năng phân tán nguồn vốn đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro cho các NĐT, điều mà từng NĐT riêng lẻ khó có thể làm được
Thứ hai, đầu tư tập thể giúp các NĐT có được quyết định đầu tư đúng đắn
Đầu tư tập thể, dù được tiến hành thông qua QĐTCK, thì đều là hoạt động đầu tư mang tính chuyên nghiệp của những NĐT có tổ chức [44, tr261] Tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư của các định chế này thể hiện ở chỗ toàn bộ hoạt động đầu tư của họ được tiến hành bởi tổ chức chuyên doanh trong lĩnh vực ĐTCK (công ty tư vấn đầu tư hoặc CTQLQ theo cách gọi của mỗi quốc gia) hoặc được thực hiện trên cở sở chỉ dẫn của các công ty tư vấn ĐTCK (điều này thường xảy ra đối với công ty ĐTCK) So với NĐT riêng lẻ, các phương tiện đầu tư tập thể này có lợi thế hơn ở chỗ, họ có kiến thức chuyên môn, có kĩ năng nghiệp vụ của một NĐT chuyên nghiệp Với tư cách NĐT chuyên nghiệp, họ có khả năng biết được những thông tin nào là cần thiết cho quyết định đầu tư của mình, và biết tìm những thông
Trang 19nghiên cứu, phân tích, đánh giá chính xác các thông tin đó Đây là điều mà các NĐT riêng lẻ khó có thể đạt được, đặc biệt trong trường hợp đầu tư vào TTCK ngoài nước Lợi thế này làm cho quyết định đầu tư của các NĐT có tổ chức này mang tính chuyên nghiệp hơn và vì vậy cũng có hiệu quả hơn so với NĐT riêng lẻ Ngay cả khi các NĐT riêng lẻ sử dụng các dịch vụ của công ty tư vấn đầu tư, quyết định đầu tư trên cơ sở tư vấn từ bên ngoài sẽ khó có thể đạt tới mức độ tin cậy và hiệu quả như những quyết định đầu tư được tiến hành trên cơ sở những phân tích đánh giá của bản thân NĐT có tổ chức Điều đó được lý giải bởi tình huống khó tránh khỏi là các công ty tư vấn đầu tư rất có thể bị chi phối bởi sự xung đột lợi ích với khách hàng khi tư vấn khách hàng đầu tư vào một loại chứng khoán nào đó
Thứ ba, tăng tính chuyên nghiệp trong quản lý và đầu tư QĐT gồm các nhà
tư vấn đầu tư chuyên nghiệp, có trình độ và kiến thức chuyên sâu, nguồn thông tin
đa dạng sẽ đem lại hiệu quả cao hơn rất nhiều so với các NĐT riêng lẻ
Thứ tƣ, giảm thiểu chi phí do lợi ích về quy mô Các chi phí về thông tin,
chi phí hành chính, trở ngại lớn nhất của các NĐT riêng lẻ sẽ giảm thiểu khi được
xử lý tập trung Quỹ với tư cách là NĐT lớn luôn nhận được các ưu đãi về chi phí giao dịch cũng như dễ tiếp cận với các dự án hơn Các NĐT tập thể này thường đặt mua hoặc bán tài sản với số lượng lớn, vì vậy nếu đem số phí giao dịch mà họ phải trả chia cho số lượng NĐT bỏ vốn vào quỹ sẽ ra mức phí giao dịch thấp hơn rất nhiều so với phí giao dịch mà từng NĐT riêng lẻ phải trả để thực hiện lệnh mua và bán chứng khoán cho mình Bên cạnh đó, việc sử dụng dịch vụ tư vấn đầu tư còn đòi hỏi NĐT phải trả phí dịch vụ, điều mà các NĐT chuyên nghiệp không phải đối mặt Đành rằng QĐTCK cũng phải bỏ chi phí để thuê CTQLQ nhưng chi phí đó được coi như chi phí quản lý các phương tiện đầu tư tập thể này [25, tr311]
Thứ năm, tăng tính thanh khoản cho tài sản đầu tư Việc chuyển đổi tài sản
thành tiền mặt với chi phí thấp nhất trong thời gian ngắn nhất luôn là tiêu chí hàng đầuđối với mỗi NĐT CCQĐT chính là một loa ̣i chứng khoán, do vậy NĐT hoàn toàn có
Trang 20Thứ sáu, thuận tiện cho NĐT NĐT có thể mua hoặc bán CCQĐT trực tiếp
hoặc thông qua môi giới , trung gian Việc mua bán có thể thông qua thư tín , điện thoại hay hệ thống mạng máy tính Các NĐT có thể thoả thuận với quỹ để tá i đầu tư tự động (automatic reinvestment) hoặc phân chia lợi nhuận theo từng thời kỳ NĐT còn được quỹ cung cấp các di ̣ch vụ như thông tin và tư vấn [25, tr325]
1.2.2 Đối với Doanh nghiệp
Thứ nhất, nhận được nguồn vốn với chi phí huy động thấp Việc tiếp cận
các nguồn vốn tiết kiệm nhỏ từ các cá nhân qua hệ thống ngân hàng luôn phải đối phó với những thủ tu ̣c rườm rà (đảm bảo khoản vay với các chứng từ tài chính và tài sản ) Thông qua QĐT , việc huy độn g vốn chỉ đơn thuần là phát hành chứng khoán với chi phí giảm đáng kể
Thứ hai, nhận được các thông tin tư vấn qu ản lý , marketing và tài chính
QĐT cung cấp các thông tin tài chính , tư vấn kế hoạch tài chính , marketing và các mối quan h ệ với các tổ chức tài chính , doanh nghiệp khác Lơ ̣i ích này của QĐT được đặc biệt đánh giá cao với các doanh nghiệp mới , doanh nghiệp vừa và nhỏ nhất là trong các nền kinh tế chuyển đổi
Thứ ba, tiếp cận nguồn tài chính dài ha ̣n Lợi ích này thu được do sự kết hợp các
công cu ̣ huy động vốn của quỹ Đó là các loa ̣i chứng khoán do quỹ phát hành, cùng với hoạt động của TTCK cho phép trao đổi, mua bán các loa ̣i chứng khoán đó Sự kết hợp này khuyến khích các NĐT, đặc biệt là các NĐT có khả năng đầu tư dài hạn, cung cấp nguồn tài chính vô cùng cần thiết cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp
1.2.3 Đối với thị trường chứng khoán
QĐTCK góp phần vào sự phát triển của TTCK sơ cấp và ổn định TTCK thứ cấp Các quỹ tham gia bảo lãnh phát hành TPCP và trái phiếu doanh nghiệp, phát hành CCQĐT làm tăng lượng cung chứng khoán trên TTCK, tạo sự đa dạng về hàng hoá cho thị trường Khi QĐTCK mua bán với khối lượng lớn một loại chứng khoán nào đó thường ảnh hưởng lớn tới sự biến động của TTCK; tuy nhiên QĐTCK
sẽ góp phần bình ổn giá cả giao dịch trên TTCK thứ cấp, giúp cho sự phát triển của
Trang 21đầu tư khoa học Ví dụ, khi TTCK thiếu cung, QĐTCK bán chứng khoán do nó nắm giữ thì sẽ làm tăng đáng kể lượng cung làm giá chứng khoán thấp xuống Ngược lại, nếu lượng cung quá cao, quỹ có thể mua chứng khoán làm cầu tăng lên, kéo theo giá chứng khoán tăng, phản ánh giá trị thực của chứng khoán Với những kĩ năng phân tích đầu tư chuyên nghiệp, nguồn vốn lớn và dài hạn, NĐT có thể tiến hành kiểm soát sự biến động giá chứng khoán do sự mất cân đối cung - cầu tạo sự ổn định cần thiết trên TTCK thứ cấp
QĐTCK góp phần làm xã hội hoá hoạt động ĐTCK Các quỹ tạo một phương thức đầu tư được các NĐT nhỏ ít có sự hiểu biết về chứng khoán yêu thích
Nó góp phần tăng tiết kiệm của công chúng đầu tư bằng việc thu hút tiền đầu tư vào quỹ
1.2.4 Đối với nền kinh tế
Thứ nhất, quỹ góp phần huy động vốn cho việc phát triển nền kinh tế Trên
TTCK sơ cấp, QĐT đóng vai trò tích cực trong việc tham gia, thúc đẩy hoạt động bảo lãnh phát hành, phân phối chứng khoán giúp các chủ thể, phát hành huy động vốn một cách hiệu quả, tạo thêm hàng hoá cho thị trường
Thứ hai, bằng việc tiếp cận với những nguồn thông tin đa dạng cộng với
chiến lược đầu tư khoa học trong hoạt động của QĐTCK khiến cho nguồn vốn đầu
tư gián tiếp của quỹ trở nên an toàn hơn Chức năng chuyển đổi nguồn vốn tiết kiệm trong xã hội thành nguồn vốn đầu tư trên phạm vi rộng làm cho QĐTCK trở thành phương tiện rất hiệu quả trong việc huy động vốn nhàn rỗi rộng rãi trong công chúng, phát huy nội lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế Đồng thời, kỹ năng nghiên cứu, phân tích đầu tư chuyên nghiệp của QĐTCK góp phần hướng dẫn thị trường nâng cao trình độ hiểu biết cũng như kỹ năng đầu tư chuyên nghiệp của công chúng, giúp nâng cao tính xã hội hoá của hoạt động đầu tư
Thứ ba, hoạt động của QĐTCK tăng cường khả năng huy động vốn ngoại
Một mặt các quỹ này thu hút được lượng vốn từ nước ngoài chuyển vào đầu tư
Trang 22tăng chu chuyển vốn trên thị trường Thông qua hoạt động của QĐTCK nước ngoài, các QĐTCK trong nước sẽ tiếp thu được kinh nghiệm quản lý, phân tích và ĐTCK
1.3 Phân loại Quỹ đầu tƣ chứng khoán
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới có nhiều cách phân loại QĐTCK khác nhau với nhiều tên gọi khác nhau Ở Việt Nam cũng có nhiều loại QĐTCK và cũng có khá nhiều cách phân loại Các cách phân loại dưới đây chỉ mang tính chất tương đối, giúp chúng ta có được cái nhìn tổng quan và toàn diện về mô hình và tổ chức hoạt động của QĐTCK Trong thực tế, các QĐTCK thường tổ chức và hoạt động một cách linh hoạt để
phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình kinh tế tại mỗi quốc gia
1.3.1 Căn cứ theo mục đích đầu tƣ
Quỹ thu nhập (Income Fund)
Để có được thu nhập ổn định quỹ dành phần lớn vốn để đầu tư vào trái phiếu
và cổ phiếu ưu đãi, đây là những công cụ đầu tư có thu nhập thường xuyên ổn định
Quỹ tăng trưởng – thu nhập (Growth – Income Fund)
Quỹ này đầu tư chủ yếu vào cổ phiếu thường có giá cao đồng thời có mức cổ tức ổn định Loại quỹ này muốn kết hợp cả hai yếu tố tăng vốn trong dài hạn và dòng thu nhập ổn định trong ngắn hạn
Quỹ tăng trưởng (Growth Fund)
Quỹ này đầu tư vào cổ phiếu của các công ty kinh doanh thành đạt Mục tiêu chính là tăng giá trị của các khoản đầu tư chứ không nhằm vào dòng cổ tức thu được NĐT đầu tư vào các quỹ này quan tâm đến việc giá cổ phiếu tăng lên hơn là
Căn cứ theo mục đích đầu tƣ
Quỹ thu nhập Quỹ tăng trưởng –
thu nhập
Quỹ tăng trưởng
Trang 231.3.2 Căn cứ theo cơ cấu huy động vốn
Quỹ đầu tư dạng mở (Open-End Fund)
Quỹ này phát hành chứng chỉ liên tục để huy động vốn và sẵn sàng mua lại
chứng chỉ mà quỹ đã phát hành khi NĐT yêu cầu theo giá trị tài sản ròng với bất cứ
số lượng nào và thời gian nào Việc mua bán CCQ có thể thực hiện trực tiếp giữa NĐT và CTQLQ, không phải thông qua TTCK với giá mua = giá trị tài sản ròng của quỹ + phí bán Nói cách khác, CCQĐT dạng mở không được lưu hành trên TTCK thứ cấp Do cơ cấu vốn không ổn định vì NĐT có thể rút vốn bất kỳ lúc nào nên quỹ mở phải đầu tư vào rất nhiều loại chứng khoán khác nhau Vì vậy, góp vốn vào quỹ mở, NĐT có thể nắm giữ một DMĐT hết sức đa dạng NĐT có thể nhận cổ tức hoặc tái đầu tư vào quỹ bằng cách yêu cầu được mua thêm CCQ mới Quỹ mở thường được gọi phổ biến là quỹ hỗ tương (Mutual Fund) [47, tr 317]
Trong loại hình đầu tư này chỉ có duy nhất CTQLQ mua lại CCQ do mình phát hành, do đó CCQ không cần phải niêm yết giá trên thị trường Như vậy, CTQLQ sẽ giữ vị trí độc quyền trong lĩnh vực này, điều này sẽ dẫn đến tình trạng CTQLQ lạm dụng vị trí độc quyền để ép giá, gây thiệt hại cho NĐT
QĐT dạng mở được chia làm hai loại tuỳ theo quỹ có tính phí giao dịch hay cho miễn phí
Căn cứ theo cơ cấu huy động vốn
Quỹ đầu tư dạng mở Quỹ đầu tư dạng đóng
Quỹ tính phí Quỹ không tính phí
Trang 24 Quỹ tính phí (Load Fund) là QĐT mà khi muốn mua cổ phần của nó
phải trả một số tiền sở phí được gọi là lệ phí bán (Sales Charge) từ 7% ½ đến 9% và
số tiền này được thu ngay từ lúc đầu cho cả việc mua bán sau này
Quỹ không tính phí (No – Load Fund) là QĐT mà lúc mua cổ phần
cũng như lúc trả cổ phần cho quỹ, NĐT không phải mất tiền sở phí (lệ phí bán hoặc
lệ phí mua lại) Sở phí của quỹ được trừ vào lợi tức do việc mua bán chứng khoán
Quỹ đầu tư dạng đóng (Closed-End Fund)
Quỹ này không mua lại các CCQ mà quỹ đã phát hành, quỹ đóng huy động vốn thông qua phát hành CCQ từng lần một Hay nói cách khác, loại quỹ này thường chỉ tạo vốn qua một lần bán CCQ cho công chúng với một số lượng nhất định, không được phát hành thêm để huy động vốn và cũng không được mua lại các CCQ đã phát hành NĐT muốn rút vốn sẽ không bán lại được cho CTQLQ mà phải chuyển nhượng cho NĐT khác trên thị trường theo giá thị trường Giá thị trường cổ phiếu của QĐT dạng đóng phụ thuộc vào lượng cung cầu như khi áp dụng đối với các loại chứng khoán khác, ít phụ thuộc nhiều vào giá trị tài sản thuần Quỹ dạng đóng dùng số vốn của mình đầu tư vào các doanh nghiệp hay TTCK Sau đó dùng vốn và lãi thu được để đầu tư trực tiếp Do đó, có thể thấy rằng quy mô vốn của loại quỹ này chỉ có thể tăng lên từ các khoản lợi nhuận thu được [47, tr231]
Như vậy, sau khi đầu tư vào CCQĐT dạng đóng, NĐT chỉ có thể thu hồi các loại chứng khoán khác mà không có quyền yêu cầu quỹ mua lại CCQ mình đang sở hữu Khi NĐT không mua được CCQ ở các lần phát hành tập trung thì chỉ
có thể mua lại ở TTCK thứ cấp từ những cổ đông hiện tại giống như giao dịch các
cổ phiếu Quỹ không có liên quan gì tới những giao dịch này Vì vậy, quỹ đóng còn
có tên là quỹ giao dịch công cộng (Publicly-Traded Fund) Chứng chỉ quỹ đóng có thể được niêm yết trên SGDCK hoặc chỉ được giao dịch trên TTCK phi tập trung
OTC (Over The Counter) và được giao dịch giống như cổ phiếu thường
Trang 25Quỹ đóng có cơ cấu vốn ổn định nên có lợi thế trong việc đầu tư vào các dự án dài hạn và các chứng khoán có tính thanh khoản thấp Vì vậy, chứng chỉ quỹ đóng không
có tính thanh khoản cao nên thị giá thường thấp và thời gian thu hồi vốn lâu
QĐT dạng đóng và QĐT dạng mở có những điểm khác nhau cơ bản sau:
Loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu
Quỹ sẵn sàng mua lại các cổ phiếu đã
phát hành theo giá trị tài sản thuần
Quỹ không mua lại các chứng khoán
đã phát hành
Cổ phiếu được phép mua trực tiếp từ
QĐT, người bảo lãnh phát hành hay môi
giới thương gia
Cổ phiếu được giao dịch trên TTCK chính thức hay thị trường OTC
Giá mua là giá trị tài sản thuần cộng với lệ
phí bán (Giá trị tài sản thuần được xác định
bằng giá trị chứng khoán trong hồ sơ)
Giá mua được xác định bởi cung và cầu Do đó, giá mua có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị tài sản thuần
Lệ phí bán được cộng thêm vào giá trị
tài sản thuần Mọi phí tổn mua lại phải
được công bố rõ trong bản cáo bạch thị
trường
Tiền hoa hồng được trả cho giao dịch thực hiện do 1 đại lý Sự tăng giá và giảm giá được tính trả cho giao dịch thực hiện trên số vốn gốc
Ngoài ra, căn cứ vào mục đích về cấu trúc vận động vốn, QĐTCK còn có
một số dạng khác xuất phát từ hai hình thái trên:
Trang 26 Quỹ bán mở: có sự hạn chế hơn so với quỹ mở Nhà quản lý quỹ đồng ý
mua cổ phiếu từ các cổ đông tại mức giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu tại các
thời gian định trước
Quỹ tín thác đơn vị UIT (Unit Investment Trust): được thành lập theo một
chứng thư uỷ thác hay một công cụ tương đương về tính pháp lý Vốn đóng góp cũng như mọi đầu tư bằng vốn đóng góp sẽ do cá nhân hoặc tổ chức được uỷ thác giữ Ban đầu, khi thành lập quỹ, nhà tư vấn đầu tư thu xếp gộp vào trong một DMĐT rồi phân ra thành các đơn vị (giống như các cổ phần thường) để bán cho NĐT qua môi giới Các đơn vị thường được bán theo giá trị tròn số (Mỹ: 1.000USD) trong lần phát hành đầu tiên Các nhà môi giới, bảo lãnh phát hành sẽ đồng thời là người duy trì hoạt động mua bán các đơn vị đó Giá các đơn vị sẽ tuỳ thuộc vào giá các chứng khoán trong DMĐT của quỹ Người mua các đơn vị đầu tư này phải trả một khoản phí ban đầu cho người môi giới bán, thường là 4% Chính khoản phí cao như vậy mà các NĐT ngắn hạn thấy không có lợi khi đầu tư vào loại quỹ này
1.3.3 Căn cứ theo đối tƣợng đầu tƣ
Quỹ đầu tư cổ phiếu (Stock Fund):
QĐT tăng trưởng (Growth Fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn, thu nhập
cổ tức không phải là yếu tố chính yếu Các quỹ này đầu tư vào cổ phiếu thường của
các công ty có chiều hướng tăng trưởng cao [46, tr37]
Căn cứ theo đối tƣợng đầu tƣ
QĐT
cổ phiếu
QĐT trái phiếu
và thu thập
QĐT thị trường tiền tệ
Một số QĐT khác
Trang 27 QĐT vốn mạo hiểm (Venture Capital Fund or Hedging Fund) theo đuổi
sự tăng trưởng tối đa về vốn, thu nhập cổ tức không phải là yếu tố chính yếu Các quỹ này đầu tư vào các cổ phiếu của công ty mới, công ty đang gặp khó khăn hay thuộc các ngành tạm thời không được ưa chuộng Các quỹ này có thể sử dụng các
kỹ thuật đầu tư đòi hỏi mức rủi ro cao hơn trung bình [46, tr37]
QĐT tăng trưởng và thu nhập (Growth and Income Fund) theo đuổi sự
tăng trưởng vốn dài hạn và thu nhập hiện tại Các quỹ này đầu tư vào cổ phiếu thường của các công ty có giá trị cổ phần tăng lên và có một tiền sử trả cổ tức vững chắc [46,
tr38]
QĐT vàng và kim loại quý (Precious Metals/Gold Fund) theo đuổi sự
tăng trưởng vốn DMĐT của các quỹ này gồm chủ yếu các chứng khoán kết hợp với
vàng và các kim loại quý khác [46, tr38]
QĐT chọn vốn (Capital Selection Fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn
Các quỹ này lựa chọn đầu tư cổ phiếu theo quy mô vốn của công ty, có thể là công
ty vốn lớn, trung bình hoặc vốn nhỏ [46, tr38]
QĐT chọn ngành (Industry Selection Fund) theo đuổi sự tăng trưởng
ngành Các quỹ này lựa chọn đầu tư cổ phiếu theo vị thế của ngành hoặc theo một
số tiêu chuẩn riêng của quỹ Hình thức đầu tư này đi ngược lại nguyên tắc đa dạng
hoá DMĐT, nó tạo những rủi ro không thể lường trước [46, tr38]
QĐT chỉ số (Index Fund) theo đuổi mức thu nhập hiện tại cao Danh mục
quản lý của các quỹ này được quản lý theo một chỉ số chứng khoán nhất định Danh mục chứng khoán của quỹ luôn giữ một tỷ lệ theo sự thay đổi của chỉ số đó [46,
tr39]
QĐT quốc tế (International Fund) theo đuổi tăng trưởng trong giá trị các
khoản đầu tư DMĐT gồm chủ yếu các cổ phiếu của các công ty nằm ngoài nước
[46, tr39]
Trang 28 QĐT toàn cầu (Global Equity Fund) theo đuổi tăng trưởng trong giá trị
các khoản đầu tư Các quỹ này đầu tư vào các cổ phiếu được giao dịch trên toàn thế
giới, kể cả các cổ phiếu trong nước [46, tr40]
QĐT thu nhập - vốn cổ phần (Income-Equity Fund) theo đuổi mức thu nhập
cao bằng việc đầu tư chủ yếu vào các cổ phiếu và công ty có tiền sử trả cổ tức tốt [46, tr40]
Quỹ đầu tư trái phiếu và thu nhập (Bond and Income Fund):
QĐT trái phiếu chuyển đổi (Convertible Bond Fund) theo đuổi mức thu nhập
hiện tại và sự tăng trưởng vốn trong tương lai Các quỹ này đầu tư vào các trái phiếu kèm
theo quyền được chuyển đổi sang cổ phiếu thường theo các điều kiện cam kết [46, tra 40]
QĐT thu nhập - trái phiếu (Income-Bond Fund) theo đuổi mức lợi nhuận hiện
tại cao Các quỹ này đầu tư vào một tập hợp các trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ
[46, tr41]
QĐT thu nhập Chính phủ (Government Income Fund) theo đuổi lợi
nhuận hiện tại Các quỹ này đầu tư vào nhiều loại chứng khoán Chính phủ bao gồm
trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu thế chấp [46, tr41]
QĐT trái phiếu toàn cầu (Global Bond Fund) theo đuổi một mức thu
nhập cao DMĐT của các quỹ này chủ yếu gồm các chứng khoán nợ của các công
ty và các quốc gia trên toàn thế giới, kể cả các chứng khoán nợ quốc gia [46, tr42]
QĐT trái phiếu công ty (Corporate Bond Fund) theo đuổi một mức thu
nhập cao DMĐT của các quỹ này chủ yếu gồm các trái phiếu công ty và một tỷ lệ
trái phiếu kho bạc nhất định [46, tr42]
QĐT trái phiếu lợi suất cao (High-Yield Bond Fund) theo đuổi một lợi
suất cao nhưng chứa đựng một mức rủi ro cao hơn các quỹ trái phiếu công ty DMĐT của các quỹ này gồm chủ yếu các trái phiếu của các công ty bị đánh giá thấp
[46, tr43]
Trang 29 QĐT trái phiếu địa phương dài hạn (Municipal Bond Fund-Long-Term)
theo đuổi thu nhập không bị đánh thuế bởi Chính phủ Các quỹ này đầu tư vào các trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành nhằm cung cấp vốn cho các công trình địa phương như trường học, bệnh viện, cầu đường [46, tr44]
Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ (Money Market Fund):
QĐT thị trường tiền tệ chịu thuế (Taxable Money Market Fund) theo đuổi
việc duy trì một giá trị tài sản thuần bền vững Các quỹ này đầu tư vào các chứng khoán hảo hạng, ngắn hạn được bán trên thị trường tiền tệ như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng lớn và thương phiếu Kỳ hạn trung bình của
DMĐT các quỹ này thường được giới hạn từ 3 tháng trở xuống [46, tr43]
QĐT thị trường tiền tệ miễn thuế (Tax-Exempt Money Market Fund) theo
đuổi thu nhập không bị đánh thuế bởi Chính phủ với mức rủi ro thấp nhất Các quỹ
này đầu tư vào các chứng khoán địa phương với kỳ hạn tương đối ngắn [46, tr43]
Một số quỹ đầu tư khác:
QĐT danh mục linh hoạt (Flexible Portfolio Fund) cho phép các nhà
quản lý tham gia hoặc phản ứng với các thay đổi điều kiện thị trường bằng việc đầu
tư vào cổ phiếu, trái phiếu hay các công cụ của thị trường tiền tệ Nói cách khác thì QĐT sẽ đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hoặc các công cụ trên thị trường tiền tệ tuỳ thuộc vào điều kiện của thị trường Người quản lý quỹ có quyền được thay đổi linh
hoạt DMĐT để đáp ứng những biến động trên thị trường [46, tr44]
QĐT cân bằng (Balanced Fund) theo đuổi mức thu nhập hiện tại và đạt tăng
trưởng dài hạn DMĐT của các quỹ này là tập hợp các trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường Nhìn chung, DMĐT cân bằng phải cố gắng để đạt được ba mục tiêu: thu nhập, tăng trưởng vốn đều đặn và bảo toàn vốn Các quỹ thực hiện điều này bằng cách đầu tư vào các trái phiếu, các chứng khoán chuyển đổi và thêm một vài cổ phiếu ưu tiên cũng như cổ phiếu thường Nhìn chung các DMĐT này đầu tư từ 40% đến 60%
Trang 30 QĐT ngành (Sector Fund) tập trung vào các cổ phiếu của một ngành
công nghiệp cụ thể nào đó Do hoạt động của các ngành thường có tính bất ổn định rất cao nên các ngành này đều có thể mang đến cho NĐT cơ hội có những khoản lợi nhuận lớn nếu NĐT đầu tư đúng hướng [46, tr44]
1.3.4 Căn cứ theo cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý hoạt động quỹ
Quỹ đầu tư theo mô hình công ty (Corporate)
Với mô hình công ty, QĐT có tư cách pháp nhân đầy đủ, được thành lập dưới hình thức công ty Đầu tư Cổ phần, có điều lệ hoạt động, vốn huy động từ các NĐT bằng cách phát hành cổ phiếu [47, tr341] Cổ phiếu của quỹ có thể được giao
dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC Những người góp vốn vào quỹ sẽ trở thành
những cổ đông được quyền hưởng cổ tức và biểu quyết bầu HĐQT cũng như các
vấn đề cơ bản của quỹ như các cổ đông trong một công ty Cổ phần truyền thống
Điểm đặc trưng của công ty đầu tư là HĐQT đại diện cho các cổ đông đứng
ra thuê CTQLQ và NHGS HĐQT sẽ giám sát hoạt động của 2 tổ chức này theo kiểu “tam quyền phân lập” HĐQT đề ra chính sách và giám sát, CTQLQ thực hiện
đầu tư còn NHGS nắm giữ tài sản Việc phân quyền như vậy nhằm đảm bảo việc tài
sản không thuộc quyền định đoạt hoàn toàn của bất kỳ ai CTQLQ với vai trò của NĐT chuyên nghiệp, sẽ tối ưu hoá hiệu quả đầu tư Bên cạnh đó, việc bảo đảm an toàn và lưu giữ các tài sản, đặc biệt là chứng khoán, một cách khoa học cũng như việc tiến hành thu - chi, thanh toán thì không ai khác ngoài một ngân hàng có thể
Căn cứ theo cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý hoạt động quỹ
QĐT theo mô hình công ty
QĐT theo mô hình tín thác
Trang 31các NĐT vì các QĐT được bắt đầu từ con số “0” và khối lượng vốn huy động là không hạn chế trong khi các ngân hàng hay các loại hình công ty khác luôn phải có
mức vốn tự có tối thiểu để hoạt động
Tuy là một công ty cổ phần nhưng công ty đầu tư không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp mà còn phải chịu sự điều chỉnh khá phức tạp của các Luật liên quan tới tín thác ĐTCK
Quỹ đầu tư theo mô hình tín thác (Contractual)
Với mô hình tín thác, QĐT không có tư cách pháp nhân Với mô hình này, QĐT chỉ được coi là một khối lượng tiền do các NĐT góp vốn để sử dụng dịch vụ quản lý đầu
tư chuyên nghiệp nhằm thu lợi nhuận [47, tr353] Quỹ không có HĐQT mà hoạt động trên cơ sở chứng thư tín thác (Trust Deed) được ký kết giữa CTQLQ và NHGS Chứng thư tín thác được sự phê chuẩn của Bộ Tài chính hoặc cơ quan chức năng, quy định mọi
vấn đề đối với hoạt động của quỹ nhằm đảm bảo quyền lợi cho các NĐT
CTQLQ khi thành lập phải chuẩn bị Bản cáo bạch phát hành để cung cấp những thông tin cần thiết về CTQLQ và các thông tin về việc phát hành CCQĐT,
giá bán, phương tức định giá, số lượng phát hành, thuế và các thủ tục hành chính
NĐT đầu tư vào QĐT theo mô hình tín thác không được gọi là cổ đông vì họ chỉ có quyền nhận lợi tức từ số vốn góp mà không có quyền bầu cử và các quyền khác như mô hình công ty Vì thế, NĐT lúc này được gọi là người thụ hưởng
(beneficiary) và CCQĐT được gọi là chứng chỉ hưởng lợi
Do không có HĐQT, chức năng giám sát và đề ra chính sách sẽ được san sẻ cho CTQLQ và NHGS Cụ thể là CTQLQ nắm quyền quản lý và đề ra chính sách còn ngân hàng sẽ nắm quyền giám sát và bảo quản tài sản
1.3.5 Căn cứ theo vùng, lãnh thổ đầu tƣ
Các QĐT đầu tư vào các thị trường nước ngoài đã trở thành phổ biến trong những năm gần đây Bên cạnh việc đa dạng hoá sự quản lý chuyên nghiệp và dễ
Trang 32các thị trường mà riêng các NĐT nhỏ bị hạn chế Các QĐT đầu tư ra nước ngoài được gọi là quỹ quốc tế
Căn cứ theo vùng, lãnh thổ đầu tư thì QĐTCK có bốn loại đặc biệt sau:
Quỹ đầu tư quốc tế
Các QĐT quốc tế chỉ đầu tư bên ngoài quốc gia bản xứ Các quỹ này đầu tư vào các thị trường cổ phiếu, trái phiếu nước ngoài Các quỹ quốc tế thường phân bố đầu tư khắp thế giới nên có thể bù đắp các khoản thất thoát rủi ro do nền kinh tế trì trệ bằng các khoản lợi nhuận ở các nước có sự phát triển cao [45, tr22]
Quỹ đầu tư toàn cầu
Các quỹ này đầu tư và kinh doanh trên cả hai loại trị trường nội địa lẫn thị trường ngoại địa QĐT toàn cầu đầu tư vào bất kỳ nơi nào trên thế giới, bao gồm cả quốc gia bản xứ Các nhà quản lý loại quỹ này sẽ điều chuyển tài sản của quỹ vòng quanh thế giới tuỳ thuộc vào vùng thị trường nào có lợi nhất Điều này có nghĩa là
tỷ lệ đầu tư vào chứng khoán trong nước sẽ thay đổi tuỳ theo lợi tức so sánh với các lợi tức ở các nước khác [45, tr24]
Nhận thấy rằng cũng thật khó có thể kết luận là các quỹ loại này (QĐT quốc
tế và QĐT toàn cầu) có mức độ rủi ro đầu tư cao hơn hơn hay an toàn hơn các QĐT trong nước Chúng không ổn định và chứa đựng những rủi ro về chính trị, hay tập tục của từng quốc gia Tuy nhiên, cũng là một bộ phận thuộc DMĐT cân bằng, quỹ
Căn cứ theo vùng, lãnh thổ đầu tƣ
QĐT quốc tế
QĐT toàn cầu
QĐT khu vực
QĐT quốc gia
Trang 33Mặc dù các nền kinh tế trên thế giới ngày càng có sự liên hệ mật thiết với nhau hơn, nhưng có vẻ như là ở một nơi nào đó vẫn có một quốc gia khác có hoạt động kinh tế hiệu quả hơn quốc gia bản địa
Quỹ đầu tư khu vực
Các QĐT này tập trung đầu tư ở các khu vực chủ yếu như Châu Âu, Châu
Mỹ La Tinh, Đông Bắc Á, Đông Nam Á và vành đai Thái Bình Dương Các QĐT này tập trung đầu tư vào các vùng và khu vực có sự phát triển cao
Cũng giống như các loại hình QĐT như đã đề cập ở trên, các QĐT khu vực
sẽ đầu tư vào nhiều quốc gia để tránh bớt các rủi ro vì một quốc gia nào đó có rủi ro
do nền kinh tế suy giảm nhưng ở các quốc gia khác vẫn có thể phát triển [45, tr27]
Quỹ đầu tư quốc gia
Các QĐT loại này tập trung đầu tư riêng vào một quốc gia Điều này đặc biệt quan trọng vì có một số quốc gia hạn chế các NĐT riêng lẻ không phải là công dân của nước họ, riêng các QĐT quốc gia có thể thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài và đem đầu tư tại các quốc gia đó Hầu hết các quỹ quốc gia loại này là các dạng quỹ đóng Các cổ phiếu chỉ phát hành gọi vốn một lần lúc thành lập
Các NĐT tham gia mua bán cổ phiếu của một QĐT quốc gia ở một nước này
có thể thu lợi từ sự phát triển của các quốc gia khác khi họ mới bắt đầu quá trình công nghiệp hoá hoặc đang mở rộng thị trường xuất khẩu Điều này xảy ra đối với các nước Đông Nam Á và Châu Mỹ La Tinh từ những năm 1980 đến nay Đây chính là yếu tố làm cho các QĐT quốc gia trở nên rất phổ biến Tuy nhiên, rủi ro của việc đầu tư vào các loại quỹ này là các khoản đầu tư có thể mất do các rối loạn hoặc biến cố về chính trị [45, tr30]
Trang 341.3.6 Căn cứ theo quyền sở hữu
Quỹ đầu tư Cổ phần (Joint Stock Investment fund)
Là dạng QĐT được hình thành trên cơ sở góp vốn của nhiều thành viên trong
xã hội, thực chất là một công ty Cổ phần chuyên môn hoá trong lĩnh vực đầu tư (do
đó còn gọi là công ty đầu tư – Investment Company)
Những người nắm giữ cổ phần trong quỹ có thể hoàn toàn là công chúng nhưng cũng có thể có mặt Nhà nước với tư cách cổ đông để điều chỉnh hoạt động của quỹ theo những định hướng nhất định [45, tr34]
Quỹ đầu tư Nhà nước (State – Owned Investment Fund)
Là QĐT mà Nhà nước bỏ vốn hoàn toàn để thành lập và toàn quyền quản lý Khi có nhu cầu huy động vốn, QĐT chỉ phát hành trái phiếu hoặc vay tín dụng các thành phần khác trong nền kinh tế Loại quỹ này được thành lập sẽ giúp Nhà nước toàn quyền sử dụng phục vụ cho mục đích riêng của mình như huy động vốn, đầu tư
và trọng điểm nền kinh tế theo chính sách quốc gia, quản lý đầu tư, đối tượng liên doanh [45, tr37]
1.4 Hoạt động của Quỹ đầu tƣ chứng khoán
1.4.1 Nguyên tắc hoạt động của Quỹ đầu tƣ chứng khoán
Nguyên tắc huy động vốn
Việc huy động vốn của QĐT thông qua phát hành chứng khoán Tuy nhiên các quỹ chỉ được phát hành một số loại chứng khoán nhất định để tạo thuận lợi cho
Căn cứ theo quyền sở hữu
QĐT Cổ phần QĐT Nhà nước
Trang 35chủ yếu để đầu tư vào chứng khoán chứ không phải trực tiếp đem vào đầu tư mở rộng sản xuất Quỹ không thể phát hành trái phiếu tức đi vay để đầu tư vào chứng khoán vì như thế sẽ tạo nên môi trường chứng khoán ảo Do vậy, nguyên tắc chung
là quỹ chỉ phát hành cổ phiếu (mô hình công ty) và chứng chỉ hưởng lợi (quỹ dạng tín thác) Ngoài ra, quỹ không được phép phát hành trái phiếu hay đi vay vốn để đầu
tư Quỹ chỉ được phép vay vốn ngắn hạn để trang trải các chi phí tạm thời khi quỹ chưa có khả năng thu hồi vốn
Nguyên tắc bảo quản tài sản và giám sát tài sản của quỹ
Tài sản của quỹ phải được kiểm soát bởi một tổ chức bảo quản tài sản Tổ chức này chịu trách nhiệm bảo vệ quyền lợi đối với tài sản của các NĐT Chức năng giám sát tuỳ từng mô hình quỹ mà pháp luật các nước giao cho một tổ chức tín thác hay HĐQT Theo quy định của Mỹ thì tài sản của quỹ có thể được bảo quản bởi một ngân hàng, một nhà kinh doanh môi giới chứng khoán được đăng ký hay do chính quỹ đó quản lý Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay thì các tổ chức bảo quản tài sản thông thường là ngân hàng Nguyên tắc chung của hầu hết các nước là tổ chức bảo quản tài sản trong quá trình giám sát không có quyền quyết định hoàn toàn mà phải cùng bàn bạc, biểu quyết với các chủ thể khác như CTQLQ…Riêng đối với HĐQT thì các tổ chức này có quyền tự quyết định nếu như nó không liên quan tới chuyên môn của HĐQT Để đảm bảo an toàn cho tài sản của quỹ cũng như sự ổn định của TTCK, một số nước nghiêm cấm QĐT bán khống chứng khoán
Nguyên tắc định giá phát hành và mua lại chứng chỉ của quỹ
Khi các NĐT đầu tư hoặc rút vốn của họ từ một quỹ, việc xác định giá phải dựa trên nguyên tắc công bằng giữa các NĐT hiện tại với các NĐT mua hoặc bán chứng chỉ Điều này được thể hiện trong cách thức xác định giá trị tài sản của quỹ
khi mua bán chứng chỉ
Đối với quỹ mở do chủ yếu đầu tư vào chứng khoán được niêm yết trên TTCK nên giá trị tài sản được xác định theo giá trị của chứng khoán đó tại thời
Trang 36cho số cổ phiếu hoặc CCQ đang lưu hành để xác định giá trị cho mỗi chứng chỉ Giá bán và giá mua lại sẽ bằng giá trị của mỗi chứng chỉ cộng thêm một số chi phí cho việc mua bán đó
Thông thường tại TTCK các nước phát triển rất ít QĐT được giao dịch có mức Premium, mà phần lớn ở mức Discount từ 15% đến 20% Chỉ số này không ổn định mà biến động theo các điều kiện của thị trường Thường những quỹ được giao dịch có chỉ số ở mức Discount đều có thể đạt được mức Premium cao trong tương lai và ngược lại
Nguyên tắc cung cấp thông tin cho Nhà đầu tư
Việc cung cấp thông tin vừa có ý nghĩa là tạo cơ hội cho quỹ thu hút vốn đầu
tư vừa để góp phần bảo vệ lợi ích của NĐT Do được cung cấp thông tin mà NĐT đánh giá đúng về thực trạng của các khoản đầu tư, khả năng chuyên môn của những người quản lý quỹ để có thể quyết định đầu tư đúng đắn Việc cung cấp thông tin phải tuân thủ các quy định của Cơ quan Quản lý Nhà nước nhằm tạo sự thống nhất
dễ hiểu cho các NĐT Các nước thường quy định QĐT khi gọi vốn từ công chúng phải làm Bản cáo bạch (Prospectus) để công bố toàn bộ thông tin về công ty quản
lý, tổ chức bảo quản giám sát về chính sách, mục tiêu đầu tư của quỹ…
Nguyên tắc hạn chế một số giao dịch liên quan đến tài sản của quỹ
Hầu hết các nước đều ngăn cấm các giao dịch giữa các chủ thể có liên quan với quỹ Giao dịch giữa các chủ thể có liên quan là các giao dịch liên quan tới tài sản của quỹ giữa một bên là QĐT và một bên là chủ thể khác như CTQLQ, NHGS, người bảo lãnh phát hành, nhà tư vấn…mà việc giao dịch này có khả năng ảnh hưởng đến lợi ích của NĐT hiện tại của quỹ Các trường hợp được coi là giao dịch
có liên quan như:
Việc mua bán tài sản của quỹ với người có liên quan (nhân viên,
người quản lý, đối tác, người làm thuê, cổ đông…)
Các khoản vay nợ của quỹ với chủ thể liên quan
Trang 37 Một người có liên quan hành động như một đại lý đối với tài sản của
quỹ trong việc mua bán CCQĐT
Người có liên quan cam kết với người thứ ba tham gia giao dịch với quỹ
Có thể thấy mỗi quốc gia đều có quy định cụ thể riêng để ngăn chặn hiện tượng này nhằm đảm bảo hoạt động của quỹ được lành mạnh, công bằng, bảo vệ lợi ích của tất cả những NĐT
1.4.2 Các hoạt động của Quỹ đầu tƣ chứng khoán
Hoạt động huy động vốn từ Nhà đầu tư
Thứ nhất, phát hành CCQ và niêm yết trong nước
Việc chào bán CCQ đa ̣i chúng da ̣ng đóng bao gồm phát hành CCQ lần đầu ra công chúng và phát hành CCQ để tăng vốn Việc phát hành CCQ lần đầu thì giá tri ̣ CCQ đăng ký chào bán ít nhất 50 tỷ đồng Việt Nam Việc phát hành CCQ để tăng vốn cho các lần đầu t ư tiếp theo phải được quy định trong điều lệ quỹ , được Đa ̣i hội NĐT thông qua và được thực hiện cho các NĐT hiện hữu của quỹ thông qua phát hành quyền mua CCQ Quyền mua CCQ này được phép chuyển nhượng Trường
hơ ̣p NĐT hiện hữ u không thực hiện quyền mua CCQ , phần CCQ còn dư có thể
được chào bán cho các NĐT khác
Sau khi nhận được giấy chứng nhận chào bán CCQ cấp bởi UBCKNN về việc hồ
sơ đã đủ điều kiện chào bán thì việc chào bán CCQ sẽ được thực hiện thông qua các đa ̣i
lý chào bán CCQ Các tổ chức này phải đảm bảo CCQ được phân phối công bằng, công khai và đảm bảo thời ha ̣n mua CCQ cho NĐT tối thiểu trong vòng 20 ngày
CTQLQ trong thời ha ̣n 45 ngày kể từ ngày diễn ra Đa ̣i hội NĐT đầu tiên phải
tiến hành hoàn tất hồ sơ đề nghi ̣ niêm yết CCQ đến SGDCK
Thứ hai, phát hành CCQ và niêm yết tại nước ngoài
Vốn cho QĐT được huy động từ nước ngoài dưới các hình thức sau:
Lập quỹ tại Việt Nam theo Luật Chứng khoán và chào bán toàn bộ CCQ
Trang 38 Lập quỹ ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài , niêm yết CCQ trên SGDCK ở nước ngoài Huy động vốn dưới hình thức này cần đáp ứng các điều kiện sau: (i) có quyết đi ̣nh thông qua việc hu y động vốn ở nước ngoài và phương án sử dụng vốn thu được của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty (ii) Có phương án phát hành nêu rõ quốc gia và loa ̣i hình NĐT mà công ty dự kiến thực hiện c hào bán CCQ đã được Đa ̣i hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty phê duyệt , chấp thuận Phương án phát hành và phương án đầu tư phần vốn huy động phải phù hợp với các quy đi ̣nh pháp luật Trong trường hợp này, CTQLQ tối thiểu mười (10) ngày trư ớc khi gửi hồ sơ đăng ký chào bán CCQ, hồ sơ đăng ký lập quỹ, hồ sơ đăng ký niêm yết CCQ cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài , phải gửi cho UBCKNN các tài liệu: bản sao
hơ ̣p lệ của hồ sơ đăng ký chào bán , hồ sơ đăng ký lập quỹ, hồ sơ đăng ký niêm yết CCQ đã được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài chấp thuậ n; cùng với bản sao
hơ ̣p lệ giấy chứng nhận chào bán CCQ, giấy đăng ký lập quỹ, giấy chấp thuận niêm yết CCQ hoặc các tài liệu tương đương do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp Sau khi hoàn tất phát hành CCQ và niêm yết CCQ ở nước ngoài thì trong vòng
10 ngày phải gửi toàn bộ hồ sơ liên quan theo quy đi ̣nh của pháp luật và yêu cầu
của UBCKNN
Ngoài ra , phải đáp ứng các đi ều kiện chào bán , thành lập q uỹ và niêm yết CCQ theo quy đi ̣nh của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi CTQLQ dự kiến chào
bán để huy động vốn và niêm yết CCQ
Luật Chứng khoán năm 2006 của Việt Nam chỉ mới quy định cách thứ c huy động vốn cho quỹ đại chúng dạng đóng và quỹ thành viên, tuy nhiên quỹ tương hỗ
có thể dùng bất kỳ phương pháp nào để bán cổ phiếu của mình ra công chúng
Hoạt động đa dạng hoá danh mục đầu tư
Cơ cấu DMĐT của quỹ đóng được CTQLQ thiết lập trên cơ sở các điều khoản đã quy đi ̣nh rõ ta ̣i Điều lệ q uỹ và Bản cáo ba ̣ch để đa da ̣ng hóa DMĐT nhằm
Trang 39 Cổ phiếu của công ty đa ̣i chúng
TPCP, trái phiếu chính quyền đi ̣a phương và trái phiếu công ty
Công cu ̣ thi ̣ trường tiền tệ bao gồm chứng chỉ tiền gửi tại tổ chức tín dụng, tín phiếu kho ba ̣c và thươn g phiếu với thời gian đáo ha ̣n tính từ ngày phát
hành không quá một (01) năm
Các loa ̣i tài sản tài chính khác theo quy đi ̣nh của pháp luật và được Đa ̣i
hội NĐT chấp thuận bằng văn bản
Đa da ̣ng hóa là một kỹ thuật quản lý rủi ro k ết hợp và tiếp cận đầu tư Công
ty đầu tư được đánh giá l à đa da ̣ng hóa theo Luật Công ty đầu tư năm 1940 của Mỹ
là đáp ứng được yêu cầu 75-5-10 như sau: (i) 75% tổng tài sản phải được đầu tư vào chứng khoán c ông ty, không phải của chính c ông ty đầu tư hay chi nhánh của nó Tiền mặt và các khoản đầu tư tươ ng đương tiền (chứng khoán Chính phủ ngắn ha ̣n
và chứng khoán trên thi ̣ trường tiền tệ ) được tính một phần của yêu cầu đầu tư 75% ngoài công ty (ii) Không được đầu tư quá 5% tổng tài sản của quỹ vào một công ty cổ phần (iii) Công ty đầu tư không được đầu tư quá 10% số cổ phiếu thường có quyền bầu cử của một công ty cổ phần
1.4.3 Những rủi ro tác động tới hoạt động của Quỹ đầu tƣ chứng khoán
Bất kể khi đầu tư dưới hình thức nào hay đầu tư vào loa ̣i tài sản nào thì bao
giờ cũng có những rủi ro tiềm ẩn nhất đi ̣nh Vì vậy, NĐT cần phải nghiên cứu , cân
nhắc trước khi thực hiện các quyết đi ̣nh đầu tư Một số rủi ro chủ yếu mà NĐT nên
quan tâm khi đầu tư vào quỹ như:
Rủi ro thị trường: rủi ro này phát sinh khi các thị trường tài sản mà QĐT
có sự suy giảm từng phần hay toàn bộ trong một khoảng thời gian dẫn tới sự suy giảm của toàn bộ thi ̣ trường Đây là rủi ro mang tính hệ thống nằm ngoài khả năng
kiểm soát của CTQLQ
Trang 40 Rủi ro lãi suất : lãi suất làm chi phí đầu vào các doanh nghiệp tăng , mức
lãi suất mong đơ ̣i tăng sẽ làm giảm giá tri ̣ cổ phiếu , giảm giá CCQ cũng như giá trị
đầu tư vào trái phiếu và ngược la ̣i
Rủi ro lạm phát : lạm phát làm tăng chi phí đầu vào , tăng lãi suất danh
trực tiếp đến hoa ̣t động kinh doanh của các doanh nghiệp mà quỹ đầu tư vào , do vậy
sẽ ảnh hưởng kết quả lợi nhuận, ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp và khoản đầu
tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp
Rủi ro mất khả năng thanh toán của tổ chức phát hành trái phiếu/công cụ
nợ: rủi ro này phát sinh khi các bên phát hành công cụ nợ mất khả năng thanh toán
lãi suất hoặc tiền gốc đối với các khoản vay
Rủi ro thiếu tính thanh khoản: một trong những yếu tố quan trọng của quỹ là
dành phần lớn tổng tài sản đầu tư vào các DNNN và tư nhân cổ phần hóa Chính vì vậy, các khoản đầu tư này chỉ có tính thanh khoản cao khi cổ phiếu này có khả năng được giao di ̣ch trên TTCK Phần lớn những DNNN sẽ được niêm yết sau khi cổ phần hóa theo quy đi ̣nh của Nhà nước, tuy nhiên khoảng thời gian giữa việc cổ phần hóa và niêm yết là yếu tố khách quan mà CTQLQ khó có thể chủ động được
Rủi ro pháp lý : dù nhiều văn bản pháp lý về TTCK đã đư ợc Chính phủ
ban hành như Luật Chứng khoán, các Nghị định hướng dẫn , quy chế hoa ̣t động Tuy nhiên, vẫn còn tồn ta ̣i những rủi ro nhất đi ̣nh liên quan đến yếu tố pháp lý như : sự phù hợp với các cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO , các quy đi ̣nh về thuế đối với các NĐT trong lĩnh vực tài chính , ngân hàng và chứng khoán , chế độ kế toán
quản lý quỹ,
Rủi ro xung đột lợi ích : CTQLQ cũng sẽ gặp phải những xung đột nhất
đi ̣nh về lợi ích giữa các QĐT và các sả n phẩm tài chính khác do CTQLQ điều hành
Rủi ro này thuộc dạng rủi ro không hệ thống, có thể kiểm soát được
Rủi ro về tiến độ giải ngân : quá trình phân bổ tài sản của quỹ vào các