1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam

100 454 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007, đã tạo lập được khuôn khổ pháp lý cao, đồng bộ và thống n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ HUYỀN TRANG

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƢ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN THỊ HUYỀN TRANG

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƢ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo

vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Thị Huyền Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Những dòng đầu tiên trong Luận văn của mình tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giảng viên tại Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, là những người đã truyền thụ kiến thức cho tôi trong suốt khoá học

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Lê Thị Thu Thuỷ, người

đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn Đồng thời, tôi cũng chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã cung cấp những nguồn tư liệu quý giá, giúp tôi hoàn thành Luận văn này

Cuối cùng, xin cảm ơn người thân, bạn bè đã luôn bên cạnh động viên

và cổ vũ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn này

Hà Nội, tháng 11 năm 2013

Học viên thực hiện

Trần Thị Huyền Trang

Trang 5

MỤC LỤC

Danh mục các chữ viết tắt i

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 6

1.1 Khái niệm và đặc điểm Quỹ đầu tư chứng khoán 6

1.1.1 Khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán 6

1.1.2 Đặc điểm Quỹ đầu tư chứng khoán 8

1.2 Vai trò của Quỹ đầu tư chứng khoán 10

1.2.1 Đối với Nhà đầu tư 10

1.2.2 Đối với Doanh nghiệp 13

1.2.3 Đối với thị trường chứng khoán 13

1.2.4 Đối với nền kinh tế 14

1.3 Phân loại Quỹ đầu tư chứng khoán 15

1.3.1 Căn cứ theo mục đích đầu tư 15

1.3.2 Căn cứ theo cơ cấu huy động vốn 16

1.3.3 Căn cứ theo đối tượng đầu tư 18

1.3.4 Căn cứ theo cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý hoạt động quỹ 23

1.3.5 Căn cứ theo vùng, lãnh thổ đầu tư 24

1.3.6 Căn cứ theo quyền sở hữu 27

1.4 Hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 27

1.4.1 Nguyên tắc hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 27

1.4.2 Các hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 30

1.4.3 Những rủi ro tác động tới hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 32

Kết luận chương 1 35

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 36

Trang 6

2.1.2 Quỹ đầu tư chứng khoán 37

2.1.3 Công ty quản lý quỹ 38

2.1.4 Các chuyên gia đầu tư hay các nhà tư vấn đầu tư 41

2.1.5 Nhà bảo lãnh phát hành 41

2.2 Hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 42

2.2.1 Hoạt động huy động vốn 42

2.2.2 Hoạt động đầu tư 44

2.2.3 Hoạt động cung cấp thông tin cho Nhà đầu tư 47

2.3 Vi phạm, chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 47

2.3.1 Các hành vi vi phạm trong hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 47

2.3.2 Chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 51

2.4 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 56

Kết luận chương 2 68

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM 69

3.1 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 69

3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 71

3.3 Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán 78

3.3.1 Về hoạt động huy động vốn 78

3.3.2 Về hoạt động đầu tư 83

3.3.3 Về hoạt động cung cấp thông tin cho Nhà đầu tư 84

3.3.4 Các giải pháp khác 85

Kết luận chương 3 87

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Luật Chứng khoán được Quốc hội ban hành ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007, đã tạo lập được khuôn khổ pháp lý cao, đồng bộ và thống nhất cho hoạt động của thị trường chứng khoán (TTCK), từng bước loại bỏ những mâu thuẫn, xung đột với các văn bản pháp luật khác có liên quan (về cơ bản thống nhất với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư), phù hợp hơn với luật pháp, thông lệ quốc tế, tạo nền tảng cho TTCK Việt Nam khả năng hội nhập với các thị trường vốn quốc tế và khu vực, tăng cường tính công khai minh bạch cho thị trường

và nâng cao khả năng quản lý giám sát thị trường của cơ quan Quản lý Nhà nước

Sự lớn mạnh của TTCK ở nước ta hơn 10 năm qua là cơ sở và nền tảng cho

sự hình thành và phát triển các Quỹ đầu tư chứng khoán (QĐTCK) Trên TTCK, nhất là đối với thị trường còn non trẻ của Việt Nam, có không ít các NĐT có nguồn vốn nhàn rỗi nhưng không có đủ kinh nghiệm, kiến thức cũng như các điều kiện khách quan khác để tự mình tham gia đầu tư chứng khoán Từ đó, có hai vấn đề được đặt ra: thứ nhất, các chủ thể này muốn tham gia đầu tư chứng khoán với mục đích kiếm lời; thứ hai, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh muốn tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi từ những chủ thể này Như một kết quả tất yếu, trong pháp luật về kinh doanh chứng khoán, nhà làm luật thiết lập chế định về QĐTCK Theo đó, các chủ thể có vốn nhàn rỗi nhưng không có các điều kiện khách quan để tham gia đầu tư chứng khoán có một kênh để đầu tư kiếm lời Bên cạnh đó, giúp các chủ thể sản xuất kinh doanh tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi này

QĐTCK là một định chế đầu tư chuyên nghiệp với đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm Sự xuất hiện của các QĐTCK sẽ góp phần thu hút nguồn vốn đầu tư vào TTCK Mặt khác, với mục tiêu đầu tư dài hạn và những ưu điểm vượt trội về năng lực tài chính, sự hình thành của các QĐTCK sẽ góp phần bình ổn và dẫn dắt thị trường, tạo điều kiện để TTCK Việt Nam phát triển, nhanh chóng trở thành một kênh huy động vốn trung – dài hạn có hiệu quả cho nền kinh tế

Trang 9

Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động QĐTCK trên TTCK đối với nền kinh tế Việt Nam, xuất phát từ yêu cầu bức thiết phải hình thành một kênh huy động vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, cũng như mong muốn làm rõ các chính sách pháp luật, hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động các QĐTCK trên TTCK Việt Nam là hết sức cần thiết và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc thúc đẩy

sự phát triển của TTCK Việt Nam Qua thực tế thực thi, các quy định đã ban hành bộc lộ nhiều bất cập làm hạn chế sự phát triển của bản thân các quỹ, ảnh hưởng đến nhà đầu tư, ảnh hưởng đến sự vận hành của TTCK Do vậy, việc đánh giá lại quá trình hình thành, hoàn thiện và phát triển các QĐTCK, tiếp tục nghiên cứu từ góc

độ lý luận, thực tiễn để tìm ra bất cập, có đề xuất hướng sửa đổi, thay thế và bổ sung các quy định của pháp luật có ý nghĩa quan trọng giúp TTCK đi vào quỹ đạo đầu tư chuyên nghiệp và “bắt nhịp” đi chung của TTCK toàn cầu Với ý nghĩa đó mà tôi

chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tƣ chứng khoán ở Việt Nam”

làm luận văn Thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán là vấn đề khá mới trong

hệ thống pháp luật Việt Nam Nó được quy định rải rác trong một số văn bản pháp luật như Luật Chứng khoán, Luật Đầu tư và một số văn bản dưới luật

Một số nghiên cứu về hoạt động của các Quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài ở

Việt Nam trong thập niên 1990 như: “Tổng quan các Quỹ đầu tư ở Việt Nam” của

Bean Stens năm 1997, “Thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam – một nghiên cứu sơ bộ” của Adam Sack và John McKenzie thuộc chương trình phát triển kinh tế

tư nhân MPDF năm 1998 Bên cạnh đó có một số nghiên cứu chuyên sâu về QĐTCK trong nước như “Kinh nghiệm phát triển Quỹ đầu tư” của PGS.TS Lê Thị Thu Thủy năm 2012, “Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ trong thị

trường chứng khoán” của PGS.TS Lê Hồng Hạnh – Tạp chí Luật học số 6/1998 và

một số ít các nghiên cứu khoa học, luận văn Thạc sỹ… khác về QĐTCK như “Tìm

Trang 10

Thiên Trúc Quỳnh năm 2006, “Đánh giá hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Mai Phụng Chiêu năm 2011, “Giải pháp phát triển Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam” của Th.s kinh tế Nguyễn Thị Minh Hằng, đề tài nghiên cứu khoa học của Th.s kinh tế Bùi Viết Thuyên, báo cáo khoa học về Quỹ đầu tư của tác giả Bùi Nguyên Hoàn

Tuy nhiên các công trình nghiên cứu này mới chỉ giải quyết được các vấn đề dưới góc độ kinh tế - tài chính ngân hàng với những giải pháp kinh tế chuyên sâu, minh chứng bằng các chỉ số kinh tế, giải quyết được các bài toán kinh tế trong bối cảnh kinh tế chung về các hoạt động của QĐTCK như huy động vốn, hoạt động đầu

tư, các lợi ích kinh tế khi có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài mà chưa giải quyết được một cách cụ thể và thấu đáo những vấn đề cần được khắc phục, giải quyết và hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam Đây chính là nội dung chính mà tôi tập trung nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ của mình

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu

 Mục đích nghiên cứu của đề tài: phân tích những vấn đề lý luận về hoạt động của các QĐTCK, thực trạng hoạt động của các QĐT trong và ngoài nước trên TTCK Việt Nam dưới góc độ pháp luật Cùng với đó là xem xét và đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của pháp luật về hoạt động của các QĐTCK, chỉ ra đâu là những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó Từ đó, đề ra giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho hoạt động QĐTCK cũng như nâng cao vai trò của các QĐTCK trên TTCK Việt Nam

 Phạm vi đề tài: Luận văn tập trung nghiên cứu các hoạt động chung nhất của QĐTCK (QĐT mô hình tín thác và QĐT mô hình công ty) dưới góc độ pháp luật, những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này cũng như việc thực thi các quy định đó trong thực tiễn áp dụng Từ đó đưa ra những phương hướng cũng như các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý, góp phần phát triển các QĐTCK của

Trang 11

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu và hoàn thiện trên cơ sở phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra có sự kết hợp với một số phương pháp khác như: phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp; phương pháp liên hệ, so sánh; phương pháp logic học và các phương pháp khoa học khác nhằm làm sáng tỏ hơn nữa các vấn đề được đặt ra trong luận văn Thạc sỹ này

5 Những đóng góp mới về khoa học của Luận văn

Về lý luận: làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của

QĐTCK ở Việt Nam Trên cơ sở tổng quan có chọn lọc một số quan điểm cơ bản của các nhà kinh tế học trên thế giới, một số Tổ chức quốc tế và một số học giả của Việt Nam, cũng như các luật gia nổi tiếng kết hợp những kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn, tôi đã làm rõ những khái niệm, định nghĩa, vai trò, cơ cấu tổ chức, cách phân loại QĐTCK, cũng như làm rõ hoạt động của QĐTCK dưới góc độ pháp lý, từ

đó có đề xuất, kiến nghị những phương hướng, giải pháp cụ thể để hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của QĐTCK ở Việt Nam

Về đánh giá thực tiễn: trên cơ sở những nghiên cứu, đánh giá của cá nhân

tôi cũng như tham khảo và chọn lọc nhiều nguồn tài liệu tham khảo khác, Luận văn

đã trình bày tổng quan thực trạng pháp luật về hoạt động của QĐTCK ở Việt Nam, phân tích những ưu điểm – hạn chế và tìm ra những nguyên nhân chủ yếu của hệ thống pháp luật về vấn đề này

Về đề xuất chính sách: Luận văn đã chỉ ra những nội dung cơ bản cần phải

hoàn thiện, từ đó đề xuất những định hướng, quan điểm cơ bản, các giải pháp chủ yếu để hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động của QĐTCK ở Việt Nam Các giải pháp này có giá trị tham khảo tốt trong xây dựng, hoạch định và triển khai các chính sách pháp luật cũng như việc thực thi chúng trong thực tiễn áp dụng

Với việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng

Trang 12

hoàn thiện những nhược điểm, phát huy những ưu điểm, để từ đó nhìn nhận và đánh giá đúng được vai trò của pháp luật về hoạt động QĐTCK trong giai đoạn sắp tới

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Các QĐTCK được quản lý bởi những NĐT giàu kinh nghiệm, có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và có trình độ chuyên môn cao, đây được xem như một trong những phương thức đầu tư mới hiệu quả hơn so với các phương thức đầu tư truyền thống Các QĐTCK với nhiệm vụ của nhà tạo lập thị trường không những góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn mà còn là công cụ giảm thiểu rủi ro tốt nhất cho các NĐT Vì vậy, nâng cao vai trò của pháp luật QĐTCK có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc cho sự phát triển của TTCK Việt Nam trong tương lai

7 Kết cấu của Luận văn

Luận văn gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận

Phần nội dung gồm 03 chương:

Chương 1 Những vấn đề cơ bản về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam

Chương 2 Thực trạng pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam

Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ

CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

1.1 Khái niệm và đặc điểm Quỹ đầu tư chứng khoán

1.1.1 Khái niệm Quỹ đầu tư chứng khoán

Trong hoạt động kinh doanh, đầu tư được hiểu là việc cá nhân, tổ chức sử dụng tài sản để tiến hành hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu thu được lượng tài sản nhiều hơn trong tương lai Khái niệm “đầu tư” trong Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 được hiểu như sau: “đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan” [35, Điều 3, Khoản 1] Lĩnh vực đầu tư rất phong phú, từ việc sản xuất, kinh doanh hàng hoá đến việc góp vốn, mua cổ phần hay đơn giản là việc gửi tiết kiệm tại ngân hàng hoặc tham gia vào một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Một trong những lĩnh vực đầu tư rất hấp dẫn, không những về khả năng sinh lời mà còn ở tính hấp dẫn của nó, đó chính là đầu tư chứng khoán (ĐTCK) ĐTCK được hiểu là việc một chủ thể nắm giữ chứng khoán để kỳ vọng vào lợi nhuận do chứng khoán đó mang lại trong tương lai Lợi nhuận có thể thu được từ lãi chứng khoán đang nắm giữ hoặc chênh lệch từ hoạt động mua, bán chứng

khoán Từ đó khái niệm QĐTCK ra đời

QĐTCK là hình thức quỹ được thiết lập với mục đích tìm kiếm và tối đa hóa lợi nhuận từ nguồn vốn góp thông qua hoạt động ĐTCK Để có thể hiểu đầy đủ và chính xác khái niệm về QĐTCK, cần xem xét những khái niệm sau đây:

Theo Luật Công ty đầu tư năm 1940 của Mỹ , QĐTCK là các tổ chức tài chính được quản lý chặt chẽ và phải tuân theo các điều luật v à quy chế của Liên bang và các tiểu bang

Trang 14

Theo quan điểm về nghiên cứu chứng khoán của Đức trên tạp chí Cadogan Financials, QĐTCK là một đi ̣nh chế tài chính trung gian giữa người có vốn (thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn thông tin khác nhau ) và người cần vốn (sử dụng các khoản tiền đó để đầu tư vào các tài sản khác nhau thông qua công cụ cổ phiếu , trái phiếu và tiền tệ) Tất cả các khoản đầu tư này đều được quản lý chuyê n nghiệp, chặt chẽ bởi CTQLQ, NHGS và các cơ quan thẩm quyền khác

Theo Luật Chứng khoán của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006, QĐTCK là quỹ hình thành từ vốn góp của NĐTCK với mu ̣c đích kiếm lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các da ̣ng tài sản đầu tư khác , kể cả bất động sản , trong đó NĐT không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết đi ̣nh đầu tư của quỹ Khi tham gia vào quỹ, các NĐT

sẽ nhận được CCQ là loại chứng khoán do CTQ LQ đa ̣i diện phát hành , xác nhận quyền và lơ ̣i ích hợp pháp của NĐT đối với tài sản hoặc vốn của quỹ theo tỷ lệ tương ứng với số đơn vị quỹ của NĐT đó trong vốn điều lệ quỹ [36]

Nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán có quy định như sau:

 Quỹ đầu tư mục tiêu là QĐTCK có CCQ là đối tượng của hành vi mua công khai [23]

 Công ty đầu tư chứng khoán là QĐTCK được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần Công ty đầu tư chứng khoán có hai hình thức: (i) Công ty đầu tư chứng khoán riêng lẻ (là công ty đầu tư chứng khoán có tối đa 99 cổ đông, trong đó giá trị góp vốn đầu tư của cổ đông tổ chức tối thiểu phải là 03 tỷ đồng và của cá nhân phải là 01 tỷ đồng; (ii) Công ty đầu tư chứng khoán đại chúng (là công ty đầu

tư chứng khoán thực hiện việc chào mua cổ phiếu ra công chúng) [23]

Trước đây, Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán quy định “QĐTCK là quỹ hình thành từ

Trang 15

vốn góp của NĐT uỷ thác cho CTQLQ quản lý và đầu tư tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ vào chứng khoán” [20, Điều 3, Khoản 19]

Tổng hợp lại, có thể hiểu Quỹ đầu tƣ chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn

góp của các NĐT để đầu tư chủ yếu vào chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận CTQLQ tạo lập QĐTCK bằng cách phát hành CCQ hưởng lợi để thu hút vốn từ nhiều NĐT trên thị trường Tiền của quỹ sau đó sẽ được CTQLQ đem đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ của thị trường tiền tệ và các chứng khoán hoặc tài sản khác phù hợp với mục tiêu đầu tư ghi nhận trong điều lệ của quỹ [44, tr252]

Từ đó, khái niệm pháp luật về hoạt động của QĐTCK được hiểu là tổng

thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động của quỹ, bảo vệ NĐT, xác định cách thức đầu tư trên thị trường, quy định các loại hình QĐTCK cũng như điều kiện hình thành, hoạt động của mô hình này

1.1.2 Đặc điểm Quỹ đầu tƣ chứng khoán

QĐTCK là mô hình đầu tư mà theo đó, nguồn vốn đầu tư của quỹ được đầu

tư chủ yếu vào chứng khoán và các NĐT uỷ thác cho CTQLQ trực tiếp điều hành quỹ Thực tiễn ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển cho thấy QĐT hình thành trong rất nhiều lĩnh vực đầu tư khác nhau như khai thác kim loại quý, dầu mỏ…

So với các phương tiện đầu tư tập thể khác QĐTCK có một số đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, bản thân QĐTCK chỉ thể hiện một lượng tiền do các NĐT đóng

góp chứ không phải là một pháp nhân, không có tổ chức bộ máy riêng, vì vậy toàn

bộ việc huy động vốn thành lập quỹ, quản lý và điều hành hoạt động của quỹ cho tới việc sử dụng vốn của quỹ để đầu tư, thu lời đều do CTQLQ đảm nhiệm

Đến lượt mình, toàn bộ hoạt động của CTQLQ lại chịu sự giám sát của một pháp nhân, thường là ngân hàng, độc lập với quỹ và với công ty quỹ Ngân hàng vừa đóng vai trò là người bảo quản tài sản của quỹ đồng thời vừa là người giám sát toàn bộ hoạt động của CTQLQ để bảo đảm CTQLQ tuân thủ pháp luật và những

Trang 16

Thứ hai, chứng khoán được phát hành để huy động vốn thành lập quỹ không

phải là cổ phiếu mà là CCQ hưởng lợi cho phép NĐT sở hữu chứng khoán được hưởng một phần thu nhập từ hoạt động đầu tư của quỹ tương ứng với tỷ lệ vốn mà

họ đã đầu tư vào quỹ

Lãi từ hoạt động đầu tư của quỹ, sau khi bù đắp chi phí quản lý quỹ, sẽ được phân chia cho các NĐT sở hữu CCQ Giá trị của mỗi CCQ được xác định hàng ngày và bằng tổng giá trị của quỹ chia cho số lượng CCQ đang lưu hành trên thị

trường [44, tr253]

Thứ ba, những NĐT đầu tư vào QĐTCK không phải là cổ đông mà chỉ là

những người hưởng lợi từ hoạt động của quỹ, họ bỏ tiền góp vốn lập quỹ nhưng không trực tiếp quản lý quỹ mà ủy thác toàn bộ việc quản lý, điều hành quỹ cho CTQLQ và NHGS, là những tổ chức có chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực hoạt động này, nhằm tối đa hóa lợi nhuận có được từ khoản vốn góp của mình

Tuy nhiên, cũng có quốc gia, pháp luật trao cho NĐT quyền quản lý gián tiếp đối với quỹ, thể hiện ở quyền biểu quyết của họ trong đại hội NĐT về những vấn đề hệ trọng mà pháp luật hoặc điều lệ quỹ quy định cần được biểu quyết tại đại hội NĐT Những vấn đề này thường liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung điều lệ quỹ, bản cáo bạch, hợp đồng giám sát; thay đổi định hướng trong chính sách đầu tư của quỹ, chính sách phân phối lợi nhuận; giải thể, sáp nhập, hợp nhất quỹ; thay thế CTQLQ hoặc NHGS [44, tr253]

Thứ tƣ, QĐTCK luôn dành đa số vốn đầu tư của quỹ để đầu tư vào chứng

khoán [30, tr178]

Đặc điểm này phân biệt QĐTCK với các loại QĐT khác Quỹ có thể xây dựng DMĐT đa dạng và hợp lý theo quyết định của các NĐT nhằm tối đa hoá lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro Trước đây, Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 quy định QĐTCK phải dành tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ vào lĩnh vực chứng khoán Ngoài việc chủ yếu đầu tư vào chứng khoán, QĐTCK cũng có thể tiến hành đầu tư

Trang 17

Thứ năm, QĐTCK được quản lý và đầu tư một cách chuyên nghiệp bởi

Nói một cách khác, các NĐT đã uỷ thác cho CTQLQ việc quản lý quỹ và tiến hành hoạt động ĐTCK từ số vốn của quỹ CTQLQ có thể cử ra một cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện việc quản lý quỹ gọi là nhà quản trị quỹ Nhà quản trị được chọn thường phải là người có thành tích và được sự ủng hộ của đa số NĐT

Để đảm bảo CTQLQ tiến hành hoạt động đúng như mong muốn của các NĐT, QĐTCK cần phải có một NHGS Ngân hàng này sẽ thay mặt các NĐT để giám sát cũng như giúp đỡ QĐTCK hoạt động đúng mục tiêu mà các NĐT đã đề ra, tránh tình trạng CTQLQ tiến hành các hoạt động đi ngược lại lợi ích của NĐT

Thứ sáu, QĐTCK có tài sản độc lập với tài sản của CTQLQ và các quỹ khác

do công ty này quản lý[30, tr185]

Đặc điểm này đảm bảo việc đầu tư của QĐTCK tuân thủ đúng mục đích đầu

tư, không bị chi phối bởi lợi ích khác của CTQLQ Sự tách bạch về tài sản giữa CTQLQ và QĐTCK nhằm đảm bảo CTQLQ hoạt động quản lý vì lợi ích của các NĐT vào quỹ chứ không vì mục đích của riêng mình Từ yêu cầu tách bạch về tài sản đã chi phối rất lớn đến nội dung những quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của CTQLQ

1.2 Vai trò của Quỹ đầu tƣ chứng khoán

Là một trong các định chế trung gian tài chính phi ngân hàng, QĐTCK có những vai trò nổi bật so với các trung gian tài chính khác

1.2.1 Đối với Nhà đầu tƣ

QĐTCK có vai trò quan trọng đối với NĐT trên TTCK

Thứ nhất, đầu tư tập thể cho phép NĐT có thể tham gia đầu tư vào nhiều

loại thị trường với chủng loại hàng hóa khác nhau, từ đó đa dạng hóa DMĐT và giảm thiểu rủi ro [31, tr234]

Trang 18

đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau NĐT được thu lợi từ việc đầu tư chuyên nghiệp với hiệu quả cao và chi phí thấp Từ những lý do trên NĐT sở hữu những chứng chỉ đầu tư có tính thanh khoản cao, họ có thể rút vốn nhanh chóng bằng việc bán lại các chứng chỉ trên TTCK Với nguồn vốn eo hẹp, từng NĐT riêng

lẻ khó có thể cùng lúc đầu tư vào TTCK, thị trường tiền tệ và cả thị trường bất động sản Như vậy, nguồn vốn eo hẹp của từng NĐT riêng lẻ không cho phép họ đầu tư dàn trải vốn đầu tư vào nhiều loại chứng khoán và tài sản khác nhau để phân tán rủi

ro Tuy nhiên nếu cùng chung vốn để lập QĐT hay góp vốn vào công ty đầu tư, ngay cả những NĐT mỏng vốn nhất cũng có thể tham gia đầu tư trên nhiều loại thị trường Lợi thế này của đầu tư tập thể cho phép các NĐT riêng lẻ sử dụng các phương tiện đầu tư tập thể, đa dạng hóa các DMĐT và cũng chính là phân tán nguồn vốn đầu tư Phân tán nguồn vốn đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với NĐT vì khi nguồn vốn của NĐT được đầu tư vào nhiều loại tài sản khác nhau, nếu rủi ro xảy ra đối với một loại tài sản nào đó, NĐT sẽ chỉ bị mất một phần vốn đầu tư của mình chứ không mất toàn bộ vốn như trong trường hợp bỏ vốn đầu tư vào một loại tài sản Nói cách khác đầu tư tập thể có khả năng phân tán nguồn vốn đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro cho các NĐT, điều mà từng NĐT riêng lẻ khó có thể làm được

Thứ hai, đầu tư tập thể giúp các NĐT có được quyết định đầu tư đúng đắn

Đầu tư tập thể, dù được tiến hành thông qua QĐTCK, thì đều là hoạt động đầu tư mang tính chuyên nghiệp của những NĐT có tổ chức [44, tr261] Tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư của các định chế này thể hiện ở chỗ toàn bộ hoạt động đầu tư của họ được tiến hành bởi tổ chức chuyên doanh trong lĩnh vực ĐTCK (công ty tư vấn đầu tư hoặc CTQLQ theo cách gọi của mỗi quốc gia) hoặc được thực hiện trên cở sở chỉ dẫn của các công ty tư vấn ĐTCK (điều này thường xảy ra đối với công ty ĐTCK) So với NĐT riêng lẻ, các phương tiện đầu tư tập thể này có lợi thế hơn ở chỗ, họ có kiến thức chuyên môn, có kĩ năng nghiệp vụ của một NĐT chuyên nghiệp Với tư cách NĐT chuyên nghiệp, họ có khả năng biết được những thông tin nào là cần thiết cho quyết định đầu tư của mình, và biết tìm những thông

Trang 19

nghiên cứu, phân tích, đánh giá chính xác các thông tin đó Đây là điều mà các NĐT riêng lẻ khó có thể đạt được, đặc biệt trong trường hợp đầu tư vào TTCK ngoài nước Lợi thế này làm cho quyết định đầu tư của các NĐT có tổ chức này mang tính chuyên nghiệp hơn và vì vậy cũng có hiệu quả hơn so với NĐT riêng lẻ Ngay cả khi các NĐT riêng lẻ sử dụng các dịch vụ của công ty tư vấn đầu tư, quyết định đầu tư trên cơ sở tư vấn từ bên ngoài sẽ khó có thể đạt tới mức độ tin cậy và hiệu quả như những quyết định đầu tư được tiến hành trên cơ sở những phân tích đánh giá của bản thân NĐT có tổ chức Điều đó được lý giải bởi tình huống khó tránh khỏi là các công ty tư vấn đầu tư rất có thể bị chi phối bởi sự xung đột lợi ích với khách hàng khi tư vấn khách hàng đầu tư vào một loại chứng khoán nào đó

Thứ ba, tăng tính chuyên nghiệp trong quản lý và đầu tư QĐT gồm các nhà

tư vấn đầu tư chuyên nghiệp, có trình độ và kiến thức chuyên sâu, nguồn thông tin

đa dạng sẽ đem lại hiệu quả cao hơn rất nhiều so với các NĐT riêng lẻ

Thứ tƣ, giảm thiểu chi phí do lợi ích về quy mô Các chi phí về thông tin,

chi phí hành chính, trở ngại lớn nhất của các NĐT riêng lẻ sẽ giảm thiểu khi được

xử lý tập trung Quỹ với tư cách là NĐT lớn luôn nhận được các ưu đãi về chi phí giao dịch cũng như dễ tiếp cận với các dự án hơn Các NĐT tập thể này thường đặt mua hoặc bán tài sản với số lượng lớn, vì vậy nếu đem số phí giao dịch mà họ phải trả chia cho số lượng NĐT bỏ vốn vào quỹ sẽ ra mức phí giao dịch thấp hơn rất nhiều so với phí giao dịch mà từng NĐT riêng lẻ phải trả để thực hiện lệnh mua và bán chứng khoán cho mình Bên cạnh đó, việc sử dụng dịch vụ tư vấn đầu tư còn đòi hỏi NĐT phải trả phí dịch vụ, điều mà các NĐT chuyên nghiệp không phải đối mặt Đành rằng QĐTCK cũng phải bỏ chi phí để thuê CTQLQ nhưng chi phí đó được coi như chi phí quản lý các phương tiện đầu tư tập thể này [25, tr311]

Thứ năm, tăng tính thanh khoản cho tài sản đầu tư Việc chuyển đổi tài sản

thành tiền mặt với chi phí thấp nhất trong thời gian ngắn nhất luôn là tiêu chí hàng đầuđối với mỗi NĐT CCQĐT chính là một loa ̣i chứng khoán, do vậy NĐT hoàn toàn có

Trang 20

Thứ sáu, thuận tiện cho NĐT NĐT có thể mua hoặc bán CCQĐT trực tiếp

hoặc thông qua môi giới , trung gian Việc mua bán có thể thông qua thư tín , điện thoại hay hệ thống mạng máy tính Các NĐT có thể thoả thuận với quỹ để tá i đầu tư tự động (automatic reinvestment) hoặc phân chia lợi nhuận theo từng thời kỳ NĐT còn được quỹ cung cấp các di ̣ch vụ như thông tin và tư vấn [25, tr325]

1.2.2 Đối với Doanh nghiệp

Thứ nhất, nhận được nguồn vốn với chi phí huy động thấp Việc tiếp cận

các nguồn vốn tiết kiệm nhỏ từ các cá nhân qua hệ thống ngân hàng luôn phải đối phó với những thủ tu ̣c rườm rà (đảm bảo khoản vay với các chứng từ tài chính và tài sản ) Thông qua QĐT , việc huy độn g vốn chỉ đơn thuần là phát hành chứng khoán với chi phí giảm đáng kể

Thứ hai, nhận được các thông tin tư vấn qu ản lý , marketing và tài chính

QĐT cung cấp các thông tin tài chính , tư vấn kế hoạch tài chính , marketing và các mối quan h ệ với các tổ chức tài chính , doanh nghiệp khác Lơ ̣i ích này của QĐT được đặc biệt đánh giá cao với các doanh nghiệp mới , doanh nghiệp vừa và nhỏ nhất là trong các nền kinh tế chuyển đổi

Thứ ba, tiếp cận nguồn tài chính dài ha ̣n Lợi ích này thu được do sự kết hợp các

công cu ̣ huy động vốn của quỹ Đó là các loa ̣i chứng khoán do quỹ phát hành, cùng với hoạt động của TTCK cho phép trao đổi, mua bán các loa ̣i chứng khoán đó Sự kết hợp này khuyến khích các NĐT, đặc biệt là các NĐT có khả năng đầu tư dài hạn, cung cấp nguồn tài chính vô cùng cần thiết cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp

1.2.3 Đối với thị trường chứng khoán

QĐTCK góp phần vào sự phát triển của TTCK sơ cấp và ổn định TTCK thứ cấp Các quỹ tham gia bảo lãnh phát hành TPCP và trái phiếu doanh nghiệp, phát hành CCQĐT làm tăng lượng cung chứng khoán trên TTCK, tạo sự đa dạng về hàng hoá cho thị trường Khi QĐTCK mua bán với khối lượng lớn một loại chứng khoán nào đó thường ảnh hưởng lớn tới sự biến động của TTCK; tuy nhiên QĐTCK

sẽ góp phần bình ổn giá cả giao dịch trên TTCK thứ cấp, giúp cho sự phát triển của

Trang 21

đầu tư khoa học Ví dụ, khi TTCK thiếu cung, QĐTCK bán chứng khoán do nó nắm giữ thì sẽ làm tăng đáng kể lượng cung làm giá chứng khoán thấp xuống Ngược lại, nếu lượng cung quá cao, quỹ có thể mua chứng khoán làm cầu tăng lên, kéo theo giá chứng khoán tăng, phản ánh giá trị thực của chứng khoán Với những kĩ năng phân tích đầu tư chuyên nghiệp, nguồn vốn lớn và dài hạn, NĐT có thể tiến hành kiểm soát sự biến động giá chứng khoán do sự mất cân đối cung - cầu tạo sự ổn định cần thiết trên TTCK thứ cấp

QĐTCK góp phần làm xã hội hoá hoạt động ĐTCK Các quỹ tạo một phương thức đầu tư được các NĐT nhỏ ít có sự hiểu biết về chứng khoán yêu thích

Nó góp phần tăng tiết kiệm của công chúng đầu tư bằng việc thu hút tiền đầu tư vào quỹ

1.2.4 Đối với nền kinh tế

Thứ nhất, quỹ góp phần huy động vốn cho việc phát triển nền kinh tế Trên

TTCK sơ cấp, QĐT đóng vai trò tích cực trong việc tham gia, thúc đẩy hoạt động bảo lãnh phát hành, phân phối chứng khoán giúp các chủ thể, phát hành huy động vốn một cách hiệu quả, tạo thêm hàng hoá cho thị trường

Thứ hai, bằng việc tiếp cận với những nguồn thông tin đa dạng cộng với

chiến lược đầu tư khoa học trong hoạt động của QĐTCK khiến cho nguồn vốn đầu

tư gián tiếp của quỹ trở nên an toàn hơn Chức năng chuyển đổi nguồn vốn tiết kiệm trong xã hội thành nguồn vốn đầu tư trên phạm vi rộng làm cho QĐTCK trở thành phương tiện rất hiệu quả trong việc huy động vốn nhàn rỗi rộng rãi trong công chúng, phát huy nội lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế Đồng thời, kỹ năng nghiên cứu, phân tích đầu tư chuyên nghiệp của QĐTCK góp phần hướng dẫn thị trường nâng cao trình độ hiểu biết cũng như kỹ năng đầu tư chuyên nghiệp của công chúng, giúp nâng cao tính xã hội hoá của hoạt động đầu tư

Thứ ba, hoạt động của QĐTCK tăng cường khả năng huy động vốn ngoại

Một mặt các quỹ này thu hút được lượng vốn từ nước ngoài chuyển vào đầu tư

Trang 22

tăng chu chuyển vốn trên thị trường Thông qua hoạt động của QĐTCK nước ngoài, các QĐTCK trong nước sẽ tiếp thu được kinh nghiệm quản lý, phân tích và ĐTCK

1.3 Phân loại Quỹ đầu tƣ chứng khoán

Hiện nay, nhiều nước trên thế giới có nhiều cách phân loại QĐTCK khác nhau với nhiều tên gọi khác nhau Ở Việt Nam cũng có nhiều loại QĐTCK và cũng có khá nhiều cách phân loại Các cách phân loại dưới đây chỉ mang tính chất tương đối, giúp chúng ta có được cái nhìn tổng quan và toàn diện về mô hình và tổ chức hoạt động của QĐTCK Trong thực tế, các QĐTCK thường tổ chức và hoạt động một cách linh hoạt để

phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình kinh tế tại mỗi quốc gia

1.3.1 Căn cứ theo mục đích đầu tƣ

Quỹ thu nhập (Income Fund)

Để có được thu nhập ổn định quỹ dành phần lớn vốn để đầu tư vào trái phiếu

và cổ phiếu ưu đãi, đây là những công cụ đầu tư có thu nhập thường xuyên ổn định

Quỹ tăng trưởng – thu nhập (Growth – Income Fund)

Quỹ này đầu tư chủ yếu vào cổ phiếu thường có giá cao đồng thời có mức cổ tức ổn định Loại quỹ này muốn kết hợp cả hai yếu tố tăng vốn trong dài hạn và dòng thu nhập ổn định trong ngắn hạn

Quỹ tăng trưởng (Growth Fund)

Quỹ này đầu tư vào cổ phiếu của các công ty kinh doanh thành đạt Mục tiêu chính là tăng giá trị của các khoản đầu tư chứ không nhằm vào dòng cổ tức thu được NĐT đầu tư vào các quỹ này quan tâm đến việc giá cổ phiếu tăng lên hơn là

Căn cứ theo mục đích đầu tƣ

Quỹ thu nhập Quỹ tăng trưởng –

thu nhập

Quỹ tăng trưởng

Trang 23

1.3.2 Căn cứ theo cơ cấu huy động vốn

Quỹ đầu tư dạng mở (Open-End Fund)

Quỹ này phát hành chứng chỉ liên tục để huy động vốn và sẵn sàng mua lại

chứng chỉ mà quỹ đã phát hành khi NĐT yêu cầu theo giá trị tài sản ròng với bất cứ

số lượng nào và thời gian nào Việc mua bán CCQ có thể thực hiện trực tiếp giữa NĐT và CTQLQ, không phải thông qua TTCK với giá mua = giá trị tài sản ròng của quỹ + phí bán Nói cách khác, CCQĐT dạng mở không được lưu hành trên TTCK thứ cấp Do cơ cấu vốn không ổn định vì NĐT có thể rút vốn bất kỳ lúc nào nên quỹ mở phải đầu tư vào rất nhiều loại chứng khoán khác nhau Vì vậy, góp vốn vào quỹ mở, NĐT có thể nắm giữ một DMĐT hết sức đa dạng NĐT có thể nhận cổ tức hoặc tái đầu tư vào quỹ bằng cách yêu cầu được mua thêm CCQ mới Quỹ mở thường được gọi phổ biến là quỹ hỗ tương (Mutual Fund) [47, tr 317]

Trong loại hình đầu tư này chỉ có duy nhất CTQLQ mua lại CCQ do mình phát hành, do đó CCQ không cần phải niêm yết giá trên thị trường Như vậy, CTQLQ sẽ giữ vị trí độc quyền trong lĩnh vực này, điều này sẽ dẫn đến tình trạng CTQLQ lạm dụng vị trí độc quyền để ép giá, gây thiệt hại cho NĐT

QĐT dạng mở được chia làm hai loại tuỳ theo quỹ có tính phí giao dịch hay cho miễn phí

Căn cứ theo cơ cấu huy động vốn

Quỹ đầu tư dạng mở Quỹ đầu tư dạng đóng

Quỹ tính phí Quỹ không tính phí

Trang 24

Quỹ tính phí (Load Fund) là QĐT mà khi muốn mua cổ phần của nó

phải trả một số tiền sở phí được gọi là lệ phí bán (Sales Charge) từ 7% ½ đến 9% và

số tiền này được thu ngay từ lúc đầu cho cả việc mua bán sau này

Quỹ không tính phí (No – Load Fund) là QĐT mà lúc mua cổ phần

cũng như lúc trả cổ phần cho quỹ, NĐT không phải mất tiền sở phí (lệ phí bán hoặc

lệ phí mua lại) Sở phí của quỹ được trừ vào lợi tức do việc mua bán chứng khoán

Quỹ đầu tư dạng đóng (Closed-End Fund)

Quỹ này không mua lại các CCQ mà quỹ đã phát hành, quỹ đóng huy động vốn thông qua phát hành CCQ từng lần một Hay nói cách khác, loại quỹ này thường chỉ tạo vốn qua một lần bán CCQ cho công chúng với một số lượng nhất định, không được phát hành thêm để huy động vốn và cũng không được mua lại các CCQ đã phát hành NĐT muốn rút vốn sẽ không bán lại được cho CTQLQ mà phải chuyển nhượng cho NĐT khác trên thị trường theo giá thị trường Giá thị trường cổ phiếu của QĐT dạng đóng phụ thuộc vào lượng cung cầu như khi áp dụng đối với các loại chứng khoán khác, ít phụ thuộc nhiều vào giá trị tài sản thuần Quỹ dạng đóng dùng số vốn của mình đầu tư vào các doanh nghiệp hay TTCK Sau đó dùng vốn và lãi thu được để đầu tư trực tiếp Do đó, có thể thấy rằng quy mô vốn của loại quỹ này chỉ có thể tăng lên từ các khoản lợi nhuận thu được [47, tr231]

Như vậy, sau khi đầu tư vào CCQĐT dạng đóng, NĐT chỉ có thể thu hồi các loại chứng khoán khác mà không có quyền yêu cầu quỹ mua lại CCQ mình đang sở hữu Khi NĐT không mua được CCQ ở các lần phát hành tập trung thì chỉ

có thể mua lại ở TTCK thứ cấp từ những cổ đông hiện tại giống như giao dịch các

cổ phiếu Quỹ không có liên quan gì tới những giao dịch này Vì vậy, quỹ đóng còn

có tên là quỹ giao dịch công cộng (Publicly-Traded Fund) Chứng chỉ quỹ đóng có thể được niêm yết trên SGDCK hoặc chỉ được giao dịch trên TTCK phi tập trung

OTC (Over The Counter) và được giao dịch giống như cổ phiếu thường

Trang 25

Quỹ đóng có cơ cấu vốn ổn định nên có lợi thế trong việc đầu tư vào các dự án dài hạn và các chứng khoán có tính thanh khoản thấp Vì vậy, chứng chỉ quỹ đóng không

có tính thanh khoản cao nên thị giá thường thấp và thời gian thu hồi vốn lâu

QĐT dạng đóng và QĐT dạng mở có những điểm khác nhau cơ bản sau:

Loại chứng khoán phát hành là cổ phiếu

Quỹ sẵn sàng mua lại các cổ phiếu đã

phát hành theo giá trị tài sản thuần

Quỹ không mua lại các chứng khoán

đã phát hành

Cổ phiếu được phép mua trực tiếp từ

QĐT, người bảo lãnh phát hành hay môi

giới thương gia

Cổ phiếu được giao dịch trên TTCK chính thức hay thị trường OTC

Giá mua là giá trị tài sản thuần cộng với lệ

phí bán (Giá trị tài sản thuần được xác định

bằng giá trị chứng khoán trong hồ sơ)

Giá mua được xác định bởi cung và cầu Do đó, giá mua có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị tài sản thuần

Lệ phí bán được cộng thêm vào giá trị

tài sản thuần Mọi phí tổn mua lại phải

được công bố rõ trong bản cáo bạch thị

trường

Tiền hoa hồng được trả cho giao dịch thực hiện do 1 đại lý Sự tăng giá và giảm giá được tính trả cho giao dịch thực hiện trên số vốn gốc

Ngoài ra, căn cứ vào mục đích về cấu trúc vận động vốn, QĐTCK còn có

một số dạng khác xuất phát từ hai hình thái trên:

Trang 26

 Quỹ bán mở: có sự hạn chế hơn so với quỹ mở Nhà quản lý quỹ đồng ý

mua cổ phiếu từ các cổ đông tại mức giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu tại các

thời gian định trước

 Quỹ tín thác đơn vị UIT (Unit Investment Trust): được thành lập theo một

chứng thư uỷ thác hay một công cụ tương đương về tính pháp lý Vốn đóng góp cũng như mọi đầu tư bằng vốn đóng góp sẽ do cá nhân hoặc tổ chức được uỷ thác giữ Ban đầu, khi thành lập quỹ, nhà tư vấn đầu tư thu xếp gộp vào trong một DMĐT rồi phân ra thành các đơn vị (giống như các cổ phần thường) để bán cho NĐT qua môi giới Các đơn vị thường được bán theo giá trị tròn số (Mỹ: 1.000USD) trong lần phát hành đầu tiên Các nhà môi giới, bảo lãnh phát hành sẽ đồng thời là người duy trì hoạt động mua bán các đơn vị đó Giá các đơn vị sẽ tuỳ thuộc vào giá các chứng khoán trong DMĐT của quỹ Người mua các đơn vị đầu tư này phải trả một khoản phí ban đầu cho người môi giới bán, thường là 4% Chính khoản phí cao như vậy mà các NĐT ngắn hạn thấy không có lợi khi đầu tư vào loại quỹ này

1.3.3 Căn cứ theo đối tƣợng đầu tƣ

Quỹ đầu tư cổ phiếu (Stock Fund):

 QĐT tăng trưởng (Growth Fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn, thu nhập

cổ tức không phải là yếu tố chính yếu Các quỹ này đầu tư vào cổ phiếu thường của

các công ty có chiều hướng tăng trưởng cao [46, tr37]

Căn cứ theo đối tƣợng đầu tƣ

QĐT

cổ phiếu

QĐT trái phiếu

và thu thập

QĐT thị trường tiền tệ

Một số QĐT khác

Trang 27

 QĐT vốn mạo hiểm (Venture Capital Fund or Hedging Fund) theo đuổi

sự tăng trưởng tối đa về vốn, thu nhập cổ tức không phải là yếu tố chính yếu Các quỹ này đầu tư vào các cổ phiếu của công ty mới, công ty đang gặp khó khăn hay thuộc các ngành tạm thời không được ưa chuộng Các quỹ này có thể sử dụng các

kỹ thuật đầu tư đòi hỏi mức rủi ro cao hơn trung bình [46, tr37]

 QĐT tăng trưởng và thu nhập (Growth and Income Fund) theo đuổi sự

tăng trưởng vốn dài hạn và thu nhập hiện tại Các quỹ này đầu tư vào cổ phiếu thường của các công ty có giá trị cổ phần tăng lên và có một tiền sử trả cổ tức vững chắc [46,

tr38]

 QĐT vàng và kim loại quý (Precious Metals/Gold Fund) theo đuổi sự

tăng trưởng vốn DMĐT của các quỹ này gồm chủ yếu các chứng khoán kết hợp với

vàng và các kim loại quý khác [46, tr38]

 QĐT chọn vốn (Capital Selection Fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn

Các quỹ này lựa chọn đầu tư cổ phiếu theo quy mô vốn của công ty, có thể là công

ty vốn lớn, trung bình hoặc vốn nhỏ [46, tr38]

 QĐT chọn ngành (Industry Selection Fund) theo đuổi sự tăng trưởng

ngành Các quỹ này lựa chọn đầu tư cổ phiếu theo vị thế của ngành hoặc theo một

số tiêu chuẩn riêng của quỹ Hình thức đầu tư này đi ngược lại nguyên tắc đa dạng

hoá DMĐT, nó tạo những rủi ro không thể lường trước [46, tr38]

 QĐT chỉ số (Index Fund) theo đuổi mức thu nhập hiện tại cao Danh mục

quản lý của các quỹ này được quản lý theo một chỉ số chứng khoán nhất định Danh mục chứng khoán của quỹ luôn giữ một tỷ lệ theo sự thay đổi của chỉ số đó [46,

tr39]

 QĐT quốc tế (International Fund) theo đuổi tăng trưởng trong giá trị các

khoản đầu tư DMĐT gồm chủ yếu các cổ phiếu của các công ty nằm ngoài nước

[46, tr39]

Trang 28

 QĐT toàn cầu (Global Equity Fund) theo đuổi tăng trưởng trong giá trị

các khoản đầu tư Các quỹ này đầu tư vào các cổ phiếu được giao dịch trên toàn thế

giới, kể cả các cổ phiếu trong nước [46, tr40]

 QĐT thu nhập - vốn cổ phần (Income-Equity Fund) theo đuổi mức thu nhập

cao bằng việc đầu tư chủ yếu vào các cổ phiếu và công ty có tiền sử trả cổ tức tốt [46, tr40]

Quỹ đầu tư trái phiếu và thu nhập (Bond and Income Fund):

 QĐT trái phiếu chuyển đổi (Convertible Bond Fund) theo đuổi mức thu nhập

hiện tại và sự tăng trưởng vốn trong tương lai Các quỹ này đầu tư vào các trái phiếu kèm

theo quyền được chuyển đổi sang cổ phiếu thường theo các điều kiện cam kết [46, tra 40]

 QĐT thu nhập - trái phiếu (Income-Bond Fund) theo đuổi mức lợi nhuận hiện

tại cao Các quỹ này đầu tư vào một tập hợp các trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ

[46, tr41]

 QĐT thu nhập Chính phủ (Government Income Fund) theo đuổi lợi

nhuận hiện tại Các quỹ này đầu tư vào nhiều loại chứng khoán Chính phủ bao gồm

trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu thế chấp [46, tr41]

 QĐT trái phiếu toàn cầu (Global Bond Fund) theo đuổi một mức thu

nhập cao DMĐT của các quỹ này chủ yếu gồm các chứng khoán nợ của các công

ty và các quốc gia trên toàn thế giới, kể cả các chứng khoán nợ quốc gia [46, tr42]

 QĐT trái phiếu công ty (Corporate Bond Fund) theo đuổi một mức thu

nhập cao DMĐT của các quỹ này chủ yếu gồm các trái phiếu công ty và một tỷ lệ

trái phiếu kho bạc nhất định [46, tr42]

 QĐT trái phiếu lợi suất cao (High-Yield Bond Fund) theo đuổi một lợi

suất cao nhưng chứa đựng một mức rủi ro cao hơn các quỹ trái phiếu công ty DMĐT của các quỹ này gồm chủ yếu các trái phiếu của các công ty bị đánh giá thấp

[46, tr43]

Trang 29

 QĐT trái phiếu địa phương dài hạn (Municipal Bond Fund-Long-Term)

theo đuổi thu nhập không bị đánh thuế bởi Chính phủ Các quỹ này đầu tư vào các trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành nhằm cung cấp vốn cho các công trình địa phương như trường học, bệnh viện, cầu đường [46, tr44]

Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ (Money Market Fund):

 QĐT thị trường tiền tệ chịu thuế (Taxable Money Market Fund) theo đuổi

việc duy trì một giá trị tài sản thuần bền vững Các quỹ này đầu tư vào các chứng khoán hảo hạng, ngắn hạn được bán trên thị trường tiền tệ như tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng lớn và thương phiếu Kỳ hạn trung bình của

DMĐT các quỹ này thường được giới hạn từ 3 tháng trở xuống [46, tr43]

 QĐT thị trường tiền tệ miễn thuế (Tax-Exempt Money Market Fund) theo

đuổi thu nhập không bị đánh thuế bởi Chính phủ với mức rủi ro thấp nhất Các quỹ

này đầu tư vào các chứng khoán địa phương với kỳ hạn tương đối ngắn [46, tr43]

Một số quỹ đầu tư khác:

 QĐT danh mục linh hoạt (Flexible Portfolio Fund) cho phép các nhà

quản lý tham gia hoặc phản ứng với các thay đổi điều kiện thị trường bằng việc đầu

tư vào cổ phiếu, trái phiếu hay các công cụ của thị trường tiền tệ Nói cách khác thì QĐT sẽ đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hoặc các công cụ trên thị trường tiền tệ tuỳ thuộc vào điều kiện của thị trường Người quản lý quỹ có quyền được thay đổi linh

hoạt DMĐT để đáp ứng những biến động trên thị trường [46, tr44]

 QĐT cân bằng (Balanced Fund) theo đuổi mức thu nhập hiện tại và đạt tăng

trưởng dài hạn DMĐT của các quỹ này là tập hợp các trái phiếu, cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường Nhìn chung, DMĐT cân bằng phải cố gắng để đạt được ba mục tiêu: thu nhập, tăng trưởng vốn đều đặn và bảo toàn vốn Các quỹ thực hiện điều này bằng cách đầu tư vào các trái phiếu, các chứng khoán chuyển đổi và thêm một vài cổ phiếu ưu tiên cũng như cổ phiếu thường Nhìn chung các DMĐT này đầu tư từ 40% đến 60%

Trang 30

 QĐT ngành (Sector Fund) tập trung vào các cổ phiếu của một ngành

công nghiệp cụ thể nào đó Do hoạt động của các ngành thường có tính bất ổn định rất cao nên các ngành này đều có thể mang đến cho NĐT cơ hội có những khoản lợi nhuận lớn nếu NĐT đầu tư đúng hướng [46, tr44]

1.3.4 Căn cứ theo cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý hoạt động quỹ

Quỹ đầu tư theo mô hình công ty (Corporate)

Với mô hình công ty, QĐT có tư cách pháp nhân đầy đủ, được thành lập dưới hình thức công ty Đầu tư Cổ phần, có điều lệ hoạt động, vốn huy động từ các NĐT bằng cách phát hành cổ phiếu [47, tr341] Cổ phiếu của quỹ có thể được giao

dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC Những người góp vốn vào quỹ sẽ trở thành

những cổ đông được quyền hưởng cổ tức và biểu quyết bầu HĐQT cũng như các

vấn đề cơ bản của quỹ như các cổ đông trong một công ty Cổ phần truyền thống

Điểm đặc trưng của công ty đầu tư là HĐQT đại diện cho các cổ đông đứng

ra thuê CTQLQ và NHGS HĐQT sẽ giám sát hoạt động của 2 tổ chức này theo kiểu “tam quyền phân lập” HĐQT đề ra chính sách và giám sát, CTQLQ thực hiện

đầu tư còn NHGS nắm giữ tài sản Việc phân quyền như vậy nhằm đảm bảo việc tài

sản không thuộc quyền định đoạt hoàn toàn của bất kỳ ai CTQLQ với vai trò của NĐT chuyên nghiệp, sẽ tối ưu hoá hiệu quả đầu tư Bên cạnh đó, việc bảo đảm an toàn và lưu giữ các tài sản, đặc biệt là chứng khoán, một cách khoa học cũng như việc tiến hành thu - chi, thanh toán thì không ai khác ngoài một ngân hàng có thể

Căn cứ theo cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý hoạt động quỹ

QĐT theo mô hình công ty

QĐT theo mô hình tín thác

Trang 31

các NĐT vì các QĐT được bắt đầu từ con số “0” và khối lượng vốn huy động là không hạn chế trong khi các ngân hàng hay các loại hình công ty khác luôn phải có

mức vốn tự có tối thiểu để hoạt động

Tuy là một công ty cổ phần nhưng công ty đầu tư không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp mà còn phải chịu sự điều chỉnh khá phức tạp của các Luật liên quan tới tín thác ĐTCK

Quỹ đầu tư theo mô hình tín thác (Contractual)

Với mô hình tín thác, QĐT không có tư cách pháp nhân Với mô hình này, QĐT chỉ được coi là một khối lượng tiền do các NĐT góp vốn để sử dụng dịch vụ quản lý đầu

tư chuyên nghiệp nhằm thu lợi nhuận [47, tr353] Quỹ không có HĐQT mà hoạt động trên cơ sở chứng thư tín thác (Trust Deed) được ký kết giữa CTQLQ và NHGS Chứng thư tín thác được sự phê chuẩn của Bộ Tài chính hoặc cơ quan chức năng, quy định mọi

vấn đề đối với hoạt động của quỹ nhằm đảm bảo quyền lợi cho các NĐT

CTQLQ khi thành lập phải chuẩn bị Bản cáo bạch phát hành để cung cấp những thông tin cần thiết về CTQLQ và các thông tin về việc phát hành CCQĐT,

giá bán, phương tức định giá, số lượng phát hành, thuế và các thủ tục hành chính

NĐT đầu tư vào QĐT theo mô hình tín thác không được gọi là cổ đông vì họ chỉ có quyền nhận lợi tức từ số vốn góp mà không có quyền bầu cử và các quyền khác như mô hình công ty Vì thế, NĐT lúc này được gọi là người thụ hưởng

(beneficiary) và CCQĐT được gọi là chứng chỉ hưởng lợi

Do không có HĐQT, chức năng giám sát và đề ra chính sách sẽ được san sẻ cho CTQLQ và NHGS Cụ thể là CTQLQ nắm quyền quản lý và đề ra chính sách còn ngân hàng sẽ nắm quyền giám sát và bảo quản tài sản

1.3.5 Căn cứ theo vùng, lãnh thổ đầu tƣ

Các QĐT đầu tư vào các thị trường nước ngoài đã trở thành phổ biến trong những năm gần đây Bên cạnh việc đa dạng hoá sự quản lý chuyên nghiệp và dễ

Trang 32

các thị trường mà riêng các NĐT nhỏ bị hạn chế Các QĐT đầu tư ra nước ngoài được gọi là quỹ quốc tế

Căn cứ theo vùng, lãnh thổ đầu tư thì QĐTCK có bốn loại đặc biệt sau:

Quỹ đầu tư quốc tế

Các QĐT quốc tế chỉ đầu tư bên ngoài quốc gia bản xứ Các quỹ này đầu tư vào các thị trường cổ phiếu, trái phiếu nước ngoài Các quỹ quốc tế thường phân bố đầu tư khắp thế giới nên có thể bù đắp các khoản thất thoát rủi ro do nền kinh tế trì trệ bằng các khoản lợi nhuận ở các nước có sự phát triển cao [45, tr22]

Quỹ đầu tư toàn cầu

Các quỹ này đầu tư và kinh doanh trên cả hai loại trị trường nội địa lẫn thị trường ngoại địa QĐT toàn cầu đầu tư vào bất kỳ nơi nào trên thế giới, bao gồm cả quốc gia bản xứ Các nhà quản lý loại quỹ này sẽ điều chuyển tài sản của quỹ vòng quanh thế giới tuỳ thuộc vào vùng thị trường nào có lợi nhất Điều này có nghĩa là

tỷ lệ đầu tư vào chứng khoán trong nước sẽ thay đổi tuỳ theo lợi tức so sánh với các lợi tức ở các nước khác [45, tr24]

Nhận thấy rằng cũng thật khó có thể kết luận là các quỹ loại này (QĐT quốc

tế và QĐT toàn cầu) có mức độ rủi ro đầu tư cao hơn hơn hay an toàn hơn các QĐT trong nước Chúng không ổn định và chứa đựng những rủi ro về chính trị, hay tập tục của từng quốc gia Tuy nhiên, cũng là một bộ phận thuộc DMĐT cân bằng, quỹ

Căn cứ theo vùng, lãnh thổ đầu tƣ

QĐT quốc tế

QĐT toàn cầu

QĐT khu vực

QĐT quốc gia

Trang 33

Mặc dù các nền kinh tế trên thế giới ngày càng có sự liên hệ mật thiết với nhau hơn, nhưng có vẻ như là ở một nơi nào đó vẫn có một quốc gia khác có hoạt động kinh tế hiệu quả hơn quốc gia bản địa

Quỹ đầu tư khu vực

Các QĐT này tập trung đầu tư ở các khu vực chủ yếu như Châu Âu, Châu

Mỹ La Tinh, Đông Bắc Á, Đông Nam Á và vành đai Thái Bình Dương Các QĐT này tập trung đầu tư vào các vùng và khu vực có sự phát triển cao

Cũng giống như các loại hình QĐT như đã đề cập ở trên, các QĐT khu vực

sẽ đầu tư vào nhiều quốc gia để tránh bớt các rủi ro vì một quốc gia nào đó có rủi ro

do nền kinh tế suy giảm nhưng ở các quốc gia khác vẫn có thể phát triển [45, tr27]

Quỹ đầu tư quốc gia

Các QĐT loại này tập trung đầu tư riêng vào một quốc gia Điều này đặc biệt quan trọng vì có một số quốc gia hạn chế các NĐT riêng lẻ không phải là công dân của nước họ, riêng các QĐT quốc gia có thể thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài và đem đầu tư tại các quốc gia đó Hầu hết các quỹ quốc gia loại này là các dạng quỹ đóng Các cổ phiếu chỉ phát hành gọi vốn một lần lúc thành lập

Các NĐT tham gia mua bán cổ phiếu của một QĐT quốc gia ở một nước này

có thể thu lợi từ sự phát triển của các quốc gia khác khi họ mới bắt đầu quá trình công nghiệp hoá hoặc đang mở rộng thị trường xuất khẩu Điều này xảy ra đối với các nước Đông Nam Á và Châu Mỹ La Tinh từ những năm 1980 đến nay Đây chính là yếu tố làm cho các QĐT quốc gia trở nên rất phổ biến Tuy nhiên, rủi ro của việc đầu tư vào các loại quỹ này là các khoản đầu tư có thể mất do các rối loạn hoặc biến cố về chính trị [45, tr30]

Trang 34

1.3.6 Căn cứ theo quyền sở hữu

Quỹ đầu tư Cổ phần (Joint Stock Investment fund)

Là dạng QĐT được hình thành trên cơ sở góp vốn của nhiều thành viên trong

xã hội, thực chất là một công ty Cổ phần chuyên môn hoá trong lĩnh vực đầu tư (do

đó còn gọi là công ty đầu tư – Investment Company)

Những người nắm giữ cổ phần trong quỹ có thể hoàn toàn là công chúng nhưng cũng có thể có mặt Nhà nước với tư cách cổ đông để điều chỉnh hoạt động của quỹ theo những định hướng nhất định [45, tr34]

Quỹ đầu tư Nhà nước (State – Owned Investment Fund)

Là QĐT mà Nhà nước bỏ vốn hoàn toàn để thành lập và toàn quyền quản lý Khi có nhu cầu huy động vốn, QĐT chỉ phát hành trái phiếu hoặc vay tín dụng các thành phần khác trong nền kinh tế Loại quỹ này được thành lập sẽ giúp Nhà nước toàn quyền sử dụng phục vụ cho mục đích riêng của mình như huy động vốn, đầu tư

và trọng điểm nền kinh tế theo chính sách quốc gia, quản lý đầu tư, đối tượng liên doanh [45, tr37]

1.4 Hoạt động của Quỹ đầu tƣ chứng khoán

1.4.1 Nguyên tắc hoạt động của Quỹ đầu tƣ chứng khoán

 Nguyên tắc huy động vốn

Việc huy động vốn của QĐT thông qua phát hành chứng khoán Tuy nhiên các quỹ chỉ được phát hành một số loại chứng khoán nhất định để tạo thuận lợi cho

Căn cứ theo quyền sở hữu

QĐT Cổ phần QĐT Nhà nước

Trang 35

chủ yếu để đầu tư vào chứng khoán chứ không phải trực tiếp đem vào đầu tư mở rộng sản xuất Quỹ không thể phát hành trái phiếu tức đi vay để đầu tư vào chứng khoán vì như thế sẽ tạo nên môi trường chứng khoán ảo Do vậy, nguyên tắc chung

là quỹ chỉ phát hành cổ phiếu (mô hình công ty) và chứng chỉ hưởng lợi (quỹ dạng tín thác) Ngoài ra, quỹ không được phép phát hành trái phiếu hay đi vay vốn để đầu

tư Quỹ chỉ được phép vay vốn ngắn hạn để trang trải các chi phí tạm thời khi quỹ chưa có khả năng thu hồi vốn

 Nguyên tắc bảo quản tài sản và giám sát tài sản của quỹ

Tài sản của quỹ phải được kiểm soát bởi một tổ chức bảo quản tài sản Tổ chức này chịu trách nhiệm bảo vệ quyền lợi đối với tài sản của các NĐT Chức năng giám sát tuỳ từng mô hình quỹ mà pháp luật các nước giao cho một tổ chức tín thác hay HĐQT Theo quy định của Mỹ thì tài sản của quỹ có thể được bảo quản bởi một ngân hàng, một nhà kinh doanh môi giới chứng khoán được đăng ký hay do chính quỹ đó quản lý Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay thì các tổ chức bảo quản tài sản thông thường là ngân hàng Nguyên tắc chung của hầu hết các nước là tổ chức bảo quản tài sản trong quá trình giám sát không có quyền quyết định hoàn toàn mà phải cùng bàn bạc, biểu quyết với các chủ thể khác như CTQLQ…Riêng đối với HĐQT thì các tổ chức này có quyền tự quyết định nếu như nó không liên quan tới chuyên môn của HĐQT Để đảm bảo an toàn cho tài sản của quỹ cũng như sự ổn định của TTCK, một số nước nghiêm cấm QĐT bán khống chứng khoán

 Nguyên tắc định giá phát hành và mua lại chứng chỉ của quỹ

Khi các NĐT đầu tư hoặc rút vốn của họ từ một quỹ, việc xác định giá phải dựa trên nguyên tắc công bằng giữa các NĐT hiện tại với các NĐT mua hoặc bán chứng chỉ Điều này được thể hiện trong cách thức xác định giá trị tài sản của quỹ

khi mua bán chứng chỉ

Đối với quỹ mở do chủ yếu đầu tư vào chứng khoán được niêm yết trên TTCK nên giá trị tài sản được xác định theo giá trị của chứng khoán đó tại thời

Trang 36

cho số cổ phiếu hoặc CCQ đang lưu hành để xác định giá trị cho mỗi chứng chỉ Giá bán và giá mua lại sẽ bằng giá trị của mỗi chứng chỉ cộng thêm một số chi phí cho việc mua bán đó

Thông thường tại TTCK các nước phát triển rất ít QĐT được giao dịch có mức Premium, mà phần lớn ở mức Discount từ 15% đến 20% Chỉ số này không ổn định mà biến động theo các điều kiện của thị trường Thường những quỹ được giao dịch có chỉ số ở mức Discount đều có thể đạt được mức Premium cao trong tương lai và ngược lại

 Nguyên tắc cung cấp thông tin cho Nhà đầu tư

Việc cung cấp thông tin vừa có ý nghĩa là tạo cơ hội cho quỹ thu hút vốn đầu

tư vừa để góp phần bảo vệ lợi ích của NĐT Do được cung cấp thông tin mà NĐT đánh giá đúng về thực trạng của các khoản đầu tư, khả năng chuyên môn của những người quản lý quỹ để có thể quyết định đầu tư đúng đắn Việc cung cấp thông tin phải tuân thủ các quy định của Cơ quan Quản lý Nhà nước nhằm tạo sự thống nhất

dễ hiểu cho các NĐT Các nước thường quy định QĐT khi gọi vốn từ công chúng phải làm Bản cáo bạch (Prospectus) để công bố toàn bộ thông tin về công ty quản

lý, tổ chức bảo quản giám sát về chính sách, mục tiêu đầu tư của quỹ…

 Nguyên tắc hạn chế một số giao dịch liên quan đến tài sản của quỹ

Hầu hết các nước đều ngăn cấm các giao dịch giữa các chủ thể có liên quan với quỹ Giao dịch giữa các chủ thể có liên quan là các giao dịch liên quan tới tài sản của quỹ giữa một bên là QĐT và một bên là chủ thể khác như CTQLQ, NHGS, người bảo lãnh phát hành, nhà tư vấn…mà việc giao dịch này có khả năng ảnh hưởng đến lợi ích của NĐT hiện tại của quỹ Các trường hợp được coi là giao dịch

có liên quan như:

 Việc mua bán tài sản của quỹ với người có liên quan (nhân viên,

người quản lý, đối tác, người làm thuê, cổ đông…)

 Các khoản vay nợ của quỹ với chủ thể liên quan

Trang 37

 Một người có liên quan hành động như một đại lý đối với tài sản của

quỹ trong việc mua bán CCQĐT

 Người có liên quan cam kết với người thứ ba tham gia giao dịch với quỹ

Có thể thấy mỗi quốc gia đều có quy định cụ thể riêng để ngăn chặn hiện tượng này nhằm đảm bảo hoạt động của quỹ được lành mạnh, công bằng, bảo vệ lợi ích của tất cả những NĐT

1.4.2 Các hoạt động của Quỹ đầu tƣ chứng khoán

Hoạt động huy động vốn từ Nhà đầu tư

Thứ nhất, phát hành CCQ và niêm yết trong nước

Việc chào bán CCQ đa ̣i chúng da ̣ng đóng bao gồm phát hành CCQ lần đầu ra công chúng và phát hành CCQ để tăng vốn Việc phát hành CCQ lần đầu thì giá tri ̣ CCQ đăng ký chào bán ít nhất 50 tỷ đồng Việt Nam Việc phát hành CCQ để tăng vốn cho các lần đầu t ư tiếp theo phải được quy định trong điều lệ quỹ , được Đa ̣i hội NĐT thông qua và được thực hiện cho các NĐT hiện hữu của quỹ thông qua phát hành quyền mua CCQ Quyền mua CCQ này được phép chuyển nhượng Trường

hơ ̣p NĐT hiện hữ u không thực hiện quyền mua CCQ , phần CCQ còn dư có thể

được chào bán cho các NĐT khác

Sau khi nhận được giấy chứng nhận chào bán CCQ cấp bởi UBCKNN về việc hồ

sơ đã đủ điều kiện chào bán thì việc chào bán CCQ sẽ được thực hiện thông qua các đa ̣i

lý chào bán CCQ Các tổ chức này phải đảm bảo CCQ được phân phối công bằng, công khai và đảm bảo thời ha ̣n mua CCQ cho NĐT tối thiểu trong vòng 20 ngày

CTQLQ trong thời ha ̣n 45 ngày kể từ ngày diễn ra Đa ̣i hội NĐT đầu tiên phải

tiến hành hoàn tất hồ sơ đề nghi ̣ niêm yết CCQ đến SGDCK

Thứ hai, phát hành CCQ và niêm yết tại nước ngoài

Vốn cho QĐT được huy động từ nước ngoài dưới các hình thức sau:

 Lập quỹ tại Việt Nam theo Luật Chứng khoán và chào bán toàn bộ CCQ

Trang 38

 Lập quỹ ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài , niêm yết CCQ trên SGDCK ở nước ngoài Huy động vốn dưới hình thức này cần đáp ứng các điều kiện sau: (i) có quyết đi ̣nh thông qua việc hu y động vốn ở nước ngoài và phương án sử dụng vốn thu được của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty (ii) Có phương án phát hành nêu rõ quốc gia và loa ̣i hình NĐT mà công ty dự kiến thực hiện c hào bán CCQ đã được Đa ̣i hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty phê duyệt , chấp thuận Phương án phát hành và phương án đầu tư phần vốn huy động phải phù hợp với các quy đi ̣nh pháp luật Trong trường hợp này, CTQLQ tối thiểu mười (10) ngày trư ớc khi gửi hồ sơ đăng ký chào bán CCQ, hồ sơ đăng ký lập quỹ, hồ sơ đăng ký niêm yết CCQ cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài , phải gửi cho UBCKNN các tài liệu: bản sao

hơ ̣p lệ của hồ sơ đăng ký chào bán , hồ sơ đăng ký lập quỹ, hồ sơ đăng ký niêm yết CCQ đã được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài chấp thuậ n; cùng với bản sao

hơ ̣p lệ giấy chứng nhận chào bán CCQ, giấy đăng ký lập quỹ, giấy chấp thuận niêm yết CCQ hoặc các tài liệu tương đương do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp Sau khi hoàn tất phát hành CCQ và niêm yết CCQ ở nước ngoài thì trong vòng

10 ngày phải gửi toàn bộ hồ sơ liên quan theo quy đi ̣nh của pháp luật và yêu cầu

của UBCKNN

Ngoài ra , phải đáp ứng các đi ều kiện chào bán , thành lập q uỹ và niêm yết CCQ theo quy đi ̣nh của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi CTQLQ dự kiến chào

bán để huy động vốn và niêm yết CCQ

Luật Chứng khoán năm 2006 của Việt Nam chỉ mới quy định cách thứ c huy động vốn cho quỹ đại chúng dạng đóng và quỹ thành viên, tuy nhiên quỹ tương hỗ

có thể dùng bất kỳ phương pháp nào để bán cổ phiếu của mình ra công chúng

Hoạt động đa dạng hoá danh mục đầu tư

Cơ cấu DMĐT của quỹ đóng được CTQLQ thiết lập trên cơ sở các điều khoản đã quy đi ̣nh rõ ta ̣i Điều lệ q uỹ và Bản cáo ba ̣ch để đa da ̣ng hóa DMĐT nhằm

Trang 39

 Cổ phiếu của công ty đa ̣i chúng

 TPCP, trái phiếu chính quyền đi ̣a phương và trái phiếu công ty

 Công cu ̣ thi ̣ trường tiền tệ bao gồm chứng chỉ tiền gửi tại tổ chức tín dụng, tín phiếu kho ba ̣c và thươn g phiếu với thời gian đáo ha ̣n tính từ ngày phát

hành không quá một (01) năm

 Các loa ̣i tài sản tài chính khác theo quy đi ̣nh của pháp luật và được Đa ̣i

hội NĐT chấp thuận bằng văn bản

Đa da ̣ng hóa là một kỹ thuật quản lý rủi ro k ết hợp và tiếp cận đầu tư Công

ty đầu tư được đánh giá l à đa da ̣ng hóa theo Luật Công ty đầu tư năm 1940 của Mỹ

là đáp ứng được yêu cầu 75-5-10 như sau: (i) 75% tổng tài sản phải được đầu tư vào chứng khoán c ông ty, không phải của chính c ông ty đầu tư hay chi nhánh của nó Tiền mặt và các khoản đầu tư tươ ng đương tiền (chứng khoán Chính phủ ngắn ha ̣n

và chứng khoán trên thi ̣ trường tiền tệ ) được tính một phần của yêu cầu đầu tư 75% ngoài công ty (ii) Không được đầu tư quá 5% tổng tài sản của quỹ vào một công ty cổ phần (iii) Công ty đầu tư không được đầu tư quá 10% số cổ phiếu thường có quyền bầu cử của một công ty cổ phần

1.4.3 Những rủi ro tác động tới hoạt động của Quỹ đầu tƣ chứng khoán

Bất kể khi đầu tư dưới hình thức nào hay đầu tư vào loa ̣i tài sản nào thì bao

giờ cũng có những rủi ro tiềm ẩn nhất đi ̣nh Vì vậy, NĐT cần phải nghiên cứu , cân

nhắc trước khi thực hiện các quyết đi ̣nh đầu tư Một số rủi ro chủ yếu mà NĐT nên

quan tâm khi đầu tư vào quỹ như:

 Rủi ro thị trường: rủi ro này phát sinh khi các thị trường tài sản mà QĐT

có sự suy giảm từng phần hay toàn bộ trong một khoảng thời gian dẫn tới sự suy giảm của toàn bộ thi ̣ trường Đây là rủi ro mang tính hệ thống nằm ngoài khả năng

kiểm soát của CTQLQ

Trang 40

 Rủi ro lãi suất : lãi suất làm chi phí đầu vào các doanh nghiệp tăng , mức

lãi suất mong đơ ̣i tăng sẽ làm giảm giá tri ̣ cổ phiếu , giảm giá CCQ cũng như giá trị

đầu tư vào trái phiếu và ngược la ̣i

 Rủi ro lạm phát : lạm phát làm tăng chi phí đầu vào , tăng lãi suất danh

trực tiếp đến hoa ̣t động kinh doanh của các doanh nghiệp mà quỹ đầu tư vào , do vậy

sẽ ảnh hưởng kết quả lợi nhuận, ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp và khoản đầu

tư vào cổ phiếu của doanh nghiệp

 Rủi ro mất khả năng thanh toán của tổ chức phát hành trái phiếu/công cụ

nợ: rủi ro này phát sinh khi các bên phát hành công cụ nợ mất khả năng thanh toán

lãi suất hoặc tiền gốc đối với các khoản vay

 Rủi ro thiếu tính thanh khoản: một trong những yếu tố quan trọng của quỹ là

dành phần lớn tổng tài sản đầu tư vào các DNNN và tư nhân cổ phần hóa Chính vì vậy, các khoản đầu tư này chỉ có tính thanh khoản cao khi cổ phiếu này có khả năng được giao di ̣ch trên TTCK Phần lớn những DNNN sẽ được niêm yết sau khi cổ phần hóa theo quy đi ̣nh của Nhà nước, tuy nhiên khoảng thời gian giữa việc cổ phần hóa và niêm yết là yếu tố khách quan mà CTQLQ khó có thể chủ động được

 Rủi ro pháp lý : dù nhiều văn bản pháp lý về TTCK đã đư ợc Chính phủ

ban hành như Luật Chứng khoán, các Nghị định hướng dẫn , quy chế hoa ̣t động Tuy nhiên, vẫn còn tồn ta ̣i những rủi ro nhất đi ̣nh liên quan đến yếu tố pháp lý như : sự phù hợp với các cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO , các quy đi ̣nh về thuế đối với các NĐT trong lĩnh vực tài chính , ngân hàng và chứng khoán , chế độ kế toán

quản lý quỹ,

 Rủi ro xung đột lợi ích : CTQLQ cũng sẽ gặp phải những xung đột nhất

đi ̣nh về lợi ích giữa các QĐT và các sả n phẩm tài chính khác do CTQLQ điều hành

Rủi ro này thuộc dạng rủi ro không hệ thống, có thể kiểm soát được

 Rủi ro về tiến độ giải ngân : quá trình phân bổ tài sản của quỹ vào các

Ngày đăng: 09/07/2015, 19:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính (2004), Quyết định số 73/2004/QĐ – BTC ngày 03/09 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 73/2004/QĐ – BTC ngày 03/09 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2004
2. Bộ Tài chính (2005), Quyết định số 71/2005/QĐ – BTC ngày 21/10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ (ban hành theo Quyết định số 73/2004/QĐ-BTC ngày 03/9/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 71/2005/QĐ – BTC ngày 21/10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ (ban hành theo Quyết định số 73/2004/QĐ-BTC ngày 03/9/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2005
3. Bộ Tài chính (2006), Quyết định số 30/2006/QĐ – BTC ngày 12/5 về việc bổ sung quy chế và tổ chức hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ (ban hành kèm theo Quyết định số 73/2004/QĐ-BTC ngày 03/9/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 30/2006/QĐ – BTC ngày 12/5 về việc bổ sung quy chế và tổ chức hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ (ban hành kèm theo Quyết định số 73/2004/QĐ-BTC ngày 03/9/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2006
4. Bộ Tài chính (2007), Quy chế thành lập và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (ban hành kèm theo Quyết định số 45/2007/QĐ-BTC ngày 05/6 của Bộ trưởng Bộ Tài chính), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế thành lập và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán (ban hành kèm theo Quyết định số 45/2007/QĐ-BTC ngày 05/6 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2007
5. Bộ Tài chính (2007), Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ (ban hành kèm theo Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC ngày 15/5 của Bộ trưởng Bộ Tài chính), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ (ban hành kèm theo Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC ngày 15/5 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2007
6. Bộ Tài chính (2007), Quyết định số 35/2007/QĐ – BTC ngày 15/5 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 35/2007/QĐ – BTC ngày 15/5 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của công ty quản lý quỹ
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2007
7. Bộ Tài chính (2007), Quyết định số 45/2007/QĐ – BTC ngày 05/06 về việc ban hành quy chế thành lập và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 45/2007/QĐ – BTC ngày 05/06 về việc ban hành quy chế thành lập và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2007
8. Bộ Tài chính (2008), Quyết định số 125/2008/QĐ-BTC ngày 26/12 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty quản lý quỹ (ban hành kèm theo Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC ngày 15/5 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 125/2008/QĐ-BTC ngày 26/12 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty quản lý quỹ (ban hành kèm theo Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC ngày 15/5 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính)
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2008
9. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 183/2011/TT – BTC ngày 16/12 hướng dẫn về việc thành lập và quản lý quỹ mở, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 183/2011/TT – BTC ngày 16/12 hướng dẫn về việc thành lập và quản lý quỹ mở
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2011
10. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 121/2012/TT – BTC ngày 26/7 quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 121/2012/TT – BTC ngày 26/7 quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
11. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 212/2012/TT-BTC ngày 05/12 hướng dẫn về thành lập, tổ chức và hoạt động công ty quản lý quỹ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 212/2012/TT-BTC ngày 05/12 hướng dẫn về thành lập, tổ chức và hoạt động công ty quản lý quỹ
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
12. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 213/2012/TT-BTC ngày 06/12 hướng dẫn hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 213/2012/TT-BTC ngày 06/12 hướng dẫn hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
13. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 224/2012/TT-BTC ngày 26/12 hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ đóng và quỹ thành viên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 224/2012/TT-BTC ngày 26/12 hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ đóng và quỹ thành viên
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
14. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 227/2012/TT-BTC ngày 27/12 hướng dẫn thành lập, tổ chức hoạt động và quản lý công ty đầu tư chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 227/2012/TT-BTC ngày 27/12 hướng dẫn thành lập, tổ chức hoạt động và quản lý công ty đầu tư chứng khoán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
15. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 228/2012/TT-BTC ngày 27/12 hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ đầu tư bất động sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 228/2012/TT-BTC ngày 27/12 hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ đầu tư bất động sản
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
16. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 229/2012/TT-BTC ngày 27/12 hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ hoán đổi danh mục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 229/2012/TT-BTC ngày 27/12 hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ hoán đổi danh mục
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
17. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 5/4 hướng dẫn thi hành về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 5/4 hướng dẫn thi hành về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2012
20. Chính phủ (2003), Nghị định số 144/2003/NĐ – CP ngày 28/11 về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 144/2003/NĐ – CP ngày 28/11 về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
21. Chính phủ (2010), Nghị định số 84/2010/NĐ – CP ngày 02/8 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2007/NĐ – CP ngày 19/01 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 84/2010/NĐ – CP ngày 02/8 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2007/NĐ – CP ngày 19/01 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
22. Chính phủ (2010), Nghị định số 85/2010/NĐ – CP ngày 02/08 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 85/2010/NĐ – CP ngày 02/08 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w