Theo đó, Công ty Tài chính đã được định nghĩa đầy đủ tại Điều 2 của Nghị định này: Công ty Tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THU HƯƠNG
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THU HƯƠNG
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN ANH SƠN
Formatted: Font: 7 pt
Formatted: Font: 32 pt
Formatted: Font: 14 pt
Trang 3HÀ NỘI - 2014
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thu Hương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TY TÀI CHÍNH 5
1.1 Khái niệm Công ty Tài chính 5
1.1.1 Sự ra đời của Công ty Tài chính 5
1.1.2 Đặc điểm của Công ty Tài chính 9
1.2 Vị trí, vai trò của Công ty Tài chính 15
1.2.1 Vị trí của Công ty Tài chính 15
1.2.2 Vai trò của các Công ty Tài chính 16
1.3 Các loại hình Công ty Tài chính 17
Kết luận chương 1 21
Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 22
2.1 Những vấn đề lý luận về pháp luật Công ty Tài chính ở Việt Nam 22
2.1.1 Khái niệm pháp luật về Công ty Tài chính 22
2.1.2 Cơ sở pháp lý thành lập và hoạt động Công ty Tài chính ở Việt Nam 23
2.1.3 Nội dung pháp luật về Công ty Tài chính 24
2.2 Thực trạng pháp luật về Công ty Tài chính ở Việt Nam 29
2.2.1 Quy định về thành lập, giải thể, phá sản và thanh lý Công ty Tài chính 29
Formatted: Font: Not Bold Formatted: Justified, Indent: Left: 0", Hanging: 0.58", Right: 0.39", Space After: 0 pt, Line spacing: Multiple 1.3 li, No widow/orphan control Field Code Changed Formatted: Font: 14 pt Formatted [1]
Field Code Changed Formatted [2]
Field Code Changed Formatted [3]
Field Code Changed Formatted [4]
Field Code Changed Formatted [5]
Field Code Changed Formatted [6]
Field Code Changed Formatted [7]
Field Code Changed Formatted [8]
Field Code Changed Formatted [9]
Field Code Changed Formatted [10]
Formatted [11]
Field Code Changed Formatted [12]
Field Code Changed Formatted [13]
Field Code Changed Formatted [14]
Field Code Changed Formatted [15]
Field Code Changed Formatted [16]
Field Code Changed Formatted [17]
Trang 62.2.2 Quy định về tổ chức, quản trị, điều hành và kiểm soát của Công
ty Tài chính 36
2.2.3 Quy định pháp luật về hoạt động của Công ty Tài chính 40
2.2.4 Quy định về chế độ tài chính, hạch toán và báo cáo 52
2.3 Thực trạng về hoạt động của Công ty Tài chính ở Việt Nam 55
2.3.1 Lợi thế của Công ty Tài chính 55
2.3.2 Những mặt tồn tại của Công ty Tài chính ở Việt Nam 5857
Kết luận chương 2 70
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 71
3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về Công ty Tài chính 71
3.2 Xu hướng phát triển các Công ty Tài chính 72
3.3 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về Công ty Tài chính 78
3.3.1 Về điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động 78
3.3.2 Quản trị, điều hành Công ty Tài chính 79
3.3.3 Hoạt động huy động vốn 79
3.3.4 Hoạt động cho vay 80
3.3.5 Tạo hành lang pháp lý đồng bộ và tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước 82
Kết luận chương 3 87
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
MỞ ĐẦU 1
[18]
Formatted [19]
Field Code Changed [20]
Field Code Changed [21]
Formatted [22]
Field Code Changed [23]
Field Code Changed [24]
Formatted [25]
Field Code Changed [26]
Field Code Changed [27]
Formatted [28]
Field Code Changed [29]
Field Code Changed [30]
Formatted [31]
Field Code Changed [32]
Field Code Changed [33]
Formatted [34]
Field Code Changed [35]
Field Code Changed [36]
Formatted [37]
Field Code Changed [38]
Field Code Changed [39]
Formatted [40]
Field Code Changed [41]
Formatted [42]
Field Code Changed [43]
Field Code Changed [44]
Formatted [45]
Field Code Changed [46]
Field Code Changed [47]
Formatted [48]
Field Code Changed [49]
Field Code Changed [50]
Formatted [51]
Field Code Changed [52]
Field Code Changed [53]
Formatted [54]
Field Code Changed [55]
Field Code Changed [56]
Formatted [57]
Field Code Changed [58]
Field Code Changed [59]
Formatted [60]
Field Code Changed [61]
Field Code Changed [62]
Formatted [63]
Field Code Changed [64]
Field Code Changed [65]
Formatted [66]
Field Code Changed [67]
Field Code Changed [68]
Formatted [69]
Field Code Changed [70]
Trang 7Chương 1: NHỮNG MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
CÔNG TY TÀI CHÍNH 5
1.1 Khái niệm Công ty Tài chính 5
1.1.1 Sự ra đời của Công ty Tài chính 5
1.1.2 Đặc điểm của Công ty Tài chính 9
1.2 Vị trí, vai trò của Công ty Tài chính 15
1.2.1 Vị trí của Công ty Tài chính 15
1.2.2 Vai trò của các Công ty Tài chính 16
1.3 Các loại hình Công ty Tài chính 17
Kết luận chương 1 21
Chương 2: PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 22
2.1 Thực trạng về hoạt động Những vấn đề lý luận về pháp luật của của Công ty Tài chính ở Việt nam 22
2.1.1 Khái niệm pháp luật về Công ty Tài chính 22
2.1.2 Cơ sở pháp lý thành lập và hoạt động Công ty Tài chính ở Việt Nam 23
2.1.3 Nội dung pháp luật về Công ty Tài chính 24
2.2 Thực trạng pháp luật về Công ty Tài chính ở Việt Nam 29
2.2.1 Quy định về thành lập, giải thể, phá sản và thanh lý Công ty Tài chính 29
2.2.2 Quy định về tổ chức, quản trị, điều hành và kiểm soát của Công ty Tài chính 36
Trang 82.2.3 Quy định pháp luật về hoạt động của Công ty Tài chính 40
2.2.4 Quy định về chế độ tài chính, hạch toán và báo cáo 52
2.3 Vấn đề áp dụng pháp luật của các Thực trạng hoạt động của Công ty Tài chính ở Việt Nam 55
2.3.1 Lợi thế của Công ty Tài chính 55
2.3.2 Những mặt tồn tại của Công ty Tài chính ở Việt Nam 58
Kết luận chương 2 70
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM 71
3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về Công ty Tài chính 71
3.2 Xu hướng phát triển các Công ty Tài chính 72
3.3 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về Công ty Tài chính 78
3.3.1 Về điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động 78
3.3.2 Quản trị, điều hành Công ty Tài chính 79
3.3.3 Hoạt động huy động vốn 79
3.3.4 Hoạt động cho vay 80
3.3.5 Tạo hành lang pháp lý đồng bộ và tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước 82
Kết luận chương 3 87
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam có những bước phát
triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng GDP luôn ở mức cao của thế giới, trong sự
phát triển vượt bậc ấy, không thể không kể đến công lao của các kênh lưu
chuyển tiền tệ trong nền kinh tế Các kênh tài chính này đóng vai trò to lớn
trong việc phân phối hiệu quả các nguồn lực kinh tế từ đó thúc đẩy nền kinh
tế phát triển
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế cũng kéo theo sự phát triển
của cả hệ thống tài chính nói chung và của thị trường tài chính, trung gian tài
chính nói riêng Tài chính- ngân hàng trở thành một lĩnh vực kinh doanh đầy
tiềm năng, hứa hẹn nhiều thời cơ, lợi nhuận, nhưng cũng chứa không ít rủi ro
Thị trường tài chính đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện của nước ta
thu hút được rất nhiều sự chú ý của các nhà đầu tư, hình thành nên làn sóng
các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước, các Doanh nghiệp, Công ty xin thành
lập các trung gian tài chính Bên cạnh các ngân hàng thương mại, các công ty
chứng khoán, các công ty bảo hiểm…, Công ty Tài chính là một định chế tài
chính được rất nhiều các tổng công ty trong nước và các tập đoàn tài chính
lớn trên thế giới quan tâm đầu tư và xin thành lập Vậy Công ty Tài chính là
gì? Cơ cấu tổ chức hoạt động được vận hành của Công ty Tài chính theo Pháp
luật Việt Nam có gì đặc thù? Những quy định nào cần sửa đổi, bổ sung để
hoàn thiện pháp luật, góp phần với sự phát triển lớn mạnh và bền vững của
các Công ty Tài chính và cả nền kinh tế Việt Nam?
Luật Các tổ chức tín dụng cũng đề cập nhưng với tư cách là một hình
thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng và quy định rất chung chung về hoạt
động của Công ty Tài chính Nghị định số 79/2002/NĐ-CP về “tổ chức và
Formatted: Level 1
Trang 10hoạt động của Công ty tài chính” được Chính phủ ban hành ngày 4/10/2002
và đã được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Thông tư 06/2002/TT-NHNN
ngày 23/12/2002 của Ngân hàng Nhà nước, Nghị định 81/2008/NĐ-CP ngày
29/07/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
79/2002/NĐ-CP là một bước ngoặt để các Công ty Tài chính phần nào đủ sức
cạnh tranh với khối chính ngân hàng Gần đây nhất, Chính Phủ đã ban hành
Nghị định số 39/2014/NĐ-CP về hoạt động của Công ty Tài chính và Công ty
cho thuê Tài chính ngày 07/05/2014 có hiệu lực kể từ ngày 25/06/2014 thay
thể Nghị định 79/2002/NĐ-CP đã có những quy định cụ thể và chặt chẽ hơn
về các hoạt động của Công ty Tài chính đề phù hợp với Pháp luật và tình hình
phát triển của nước ta
Tuy nhiên, mô hình hoạt động của các Công ty Tài chính ở Việt Nam
còn mới mẻ sơ khai chưa có môi trường pháp lý và định hướng rõ ràng Có thể
nói, văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp về Công ty Tài chính có giá trị pháp
lý không cao, đồng thời những quy định trong các văn bản pháp luật về Công
ty Tài chính vẫn chưa thật sự linh hoạt, phù hợp với thực tiễn kinh, thiếu những
văn bản pháp quy hoàn chỉnh và đồng bộ, có một số văn bản pháp quy đến nay
đã không còn phù hợp Những bất cập, vướng mắc này đặt ra yêu cầu phải tiếp
tục nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về Công ty Tài chính, tạo môi trường
pháp lý đầy đủ, an toàn và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc giúp hoạt động
của các Công ty Tài chính diễn ra an toàn, hiệu quả
Việc chọn đề tài "Pháp luật về hoạt động của các Công ty Tài chính ở
Việt Nam” là có ý nghĩa thiết thực cả lý thuyết lẫn thực tiễn góp phần đóng
góp vào sự hoạt động có hiệu quả của các Công ty Tài chính
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở lý luận Pháp luật về
hoạt động của Công ty Tài chính ở Việt Nam, đồng thời xem xét, đánh giá về
Formatted: Line spacing: Multiple 1.47 li
Trang 11thực trạng hệ thống pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động của các Công ty
Tài chính ở Việt Nam, chúng tôi mong muốn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và bản
chất pháp luật của các Công ty Tài chính, từ đó làm tiền đề cho việc bổ sung,
hoàn thiện pháp luật hoạt động của Công ty Tài chính ở Việt Nam
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật về hoạt động của các Công ty Tài
chính ở Việt Nam, về mô hình tổ chức, quản trị, điều hành và kiểm soát
cũng như thực tiễn hoạt động, áp dụng pháp luật của các Công ty Tài chính
ở Việt Nam
- Đề xuất những giải pháp cơ bản để hoàn thiện hơn nữa mô hình
Công ty Tài chính, kiến nghị hướng sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về hoạt
động của các Công ty Tài chính ở Việt Nam để phù hợp hơn với tình hình
phát triển của đất nước và xu hướng hội nhập quốc tế
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Mô hình hoạt động của các Công ty Tài chính ở Việt Nam còn mới mẻ
sơ khai chưa có môi trường pháp lý và định hướng rõ ràng Thiếu những văn
bản pháp quy hoàn chỉnh và đồng bộ, có một số văn bản pháp quy đến nay đã
không còn phù hợp Với thực tế phát triển nền kinh tế và thị trường tài chính
cùng với việc tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế
sâu rộng thì các Công ty Tài chính đều mong muốn có một hành lang pháp lý
rộng rãi sát với thực tiễn trong nước và quốc tế hiện nay Kết quả nghiên cứu
của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật quốc gia về hoạt động
của Công ty Tài chính ở Việt Nam và đề xuất những giải pháp được đưa ra có
tác dụng khuyến khích sự phát triển của các Công ty Tài chính ở Việt Nam
Formatted: Expanded by 0.2 pt
Trang 124 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định hiện hành của pháp
luật điều chỉnh phương thức hoạt động của các Công ty Tài chính, từ đó đề
xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về hoạt động
của các Công ty Tài chính, khuyến khích sự phát triển của các Công ty Tài
chính ở Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Trong luận văn này, chúng tôi không đi sâu vào tìm hiểu tất cả các vấn
đề về pháp lý liên quan đến Công ty Tài chính ở Việt Nam, mà chỉ tập trung
nghiên cứu khía cạnh pháp lý, cơ sở lý luận mô hình hoạt động, cũng như
thực tiễn áp dụng pháp luật của các Công ty Tài chính ở Việt Nam Trên cơ sở
phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi khuyến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ
thống pháp luật về hoạt động của Công ty Tài chính ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật Quá
trình nghiên cứu đề tài tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa
học cụ thể, như: Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp
so sánh, diễn giải, suy diễn lôgic
76 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn dự kiến kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
Tài chính
ở Việt Nam
động của công ty ở Việt Nam
Formatted: Level 1
Formatted: Level 1
Formatted: Indent: Left: 0.5", Hanging: 1"
Trang 13Chương 1
TÀI CHÍNH 1.1 Khái niệm Công ty Tài chính
1.1.1 Sự ra đời của Công ty Tài chính
Trên thế giới, thuật ngữ “Công ty Tài chính” không còn gì mới lạ, các nhà tư bản đã quá quen với các hoạt động, cũng như vai trò của nó trên thị trường tài chính, tiền tệ Công ty Tài chính cùng các trung gian tài chính khác
có tầm quan trọng rất lớn và được coi như là xương sống của nền kinh tế
Có thể khẳng định rằng Công ty Tài chính là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường Sự ra đời và phát triển của Công ty Tài chính làm cho hệ thống tài chính trở nên phong phú, đa dạng, linh hoạt và hoàn chỉnh hơn Trong nền kinh tế thị trường cũng như trong bất cứ nền kinh tế nào luôn xuất hiện tình trạng trong cùng một thời điểm, xã hội tồn tại người thừa vốn và người thiếu vốn hoặc kinh doanh không hiệu quả bằng mang vốn cho người khác vay Trong khi người có vốn nhàn rỗi không có khả năng sản xuất, kinh doanh thì người thiếu vốn lại rất mong muốn được đầu tư kinh doanh mà tình trạng tài chính không cho phép Tuy ở hai đầu thái cực song họ gặp nhau
ở một điểm đó là cùng hướng tới sự phát triển quy mô vốn và thu được lợi ích tối đa từ những gì mình nắm giữ Theo các quy luật khách quan của nền kinh
tế hàng hoá, mối quan hệ cung cầu về vốn nảy sinh giữa người cho vay (người thừa vốn) và người đi vay (người thiếu vốn) Sự dịch chuyển ban đầu có tính
tự phát diễn ra trực tiếp giữa hai bên do vậy hiệu quả không cao, tốn kém cả
về chi phí và thời gian Thêm vào đó sự thiếu chuyên nghiệp dễ dẫn tới rủi ro cho người có vốn cho vay Thực tế đòi hỏi một tổ chức hoạt động chuyên nghiệp đóng vai trò trung gian giữa người có vốn và người đi vay Từ yêu cầu khách quan này các trung gian tài chính đã được sinh ra, hoạt động có tổ
Trang 14chức, với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Nó bao gồm các tổ chức nhận tiền gửi
(như: ngân hàng, Công ty Tài chính, quỹ tín dụng nhân dân ), các công ty
bảo hiểm, các công ty đầu tư, quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí Với chức năng luân
chuyển và điều tiết lượng vốn từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn, các trung gian
tài chính đã góp phần khơi thông dòng chảy, giúp nền kinh tế vận động nhịp
nhàng và có hiệu quả cao hơn
Trong các trung gian tài chính các tổ chức tín dụng đóng vai trò quan
trọng với chức năng cơ bản là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền đó để cho
vay Các tổ chức này sẽ trả lãi suất cho người gửi tiền và tính lãi cao hơn
đối với khách hàng cho vay tiền Khoản chênh lệch giữa hai loại lãi suất
này được sử dụng một phần để bù đắp chi phí hoạt động của các tổ chức,
phần còn lại là lợi nhuận
Có thể nói sự ra đời của các trung gian tài chính, trong đó có Công ty
Tài chính là một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường, nó tồn tại và
hoạt động tuân theo các quy luật của nền kinh tế với chức năng luân chuyển
và điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu
Ở Việt Nam, so với hệ thống Ngân hàng thì Công ty Tài chính là một
hình thức trung gian tài chính khá mới mẻ Sự ra đời hệ thống ngân hàng
tại Việt Nam được đánh dấu bằng sắc lệnh số 15/SL ngày 06/5/1951 do
Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ký Kể từ khi thành lập, trải qua
nhiều giai đoạn phát triển, tới nay hệ thống Ngân hàng đã được phân chia
thành Ngân hàng Nhà nước với chức năng quản lý điều tiết nền kinh tế tiền
tệ và các Ngân hàng chuyên doanh khác
Trong khi đó, Công ty Tài chính chỉ mới được chính thức thừa nhận thông
qua Pháp lệnh ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty Tài chính do Hội đồng
Nhà nước ban hành ngày 24/5/1990 Theo đó “Công ty Tài chính, công ty quốc
doanh hoặc cổ phần hoạt động chủ yếu là cho vay để mua bán hàng hóa dịch vụ
Formatted: Expanded by 0.2 pt
Trang 15bằng nguồn vốn của mình hoặc vay trong dân cư” [8, Điều 1]
Cũng giống Công ty Tài chính của các nước trên thế giới, Công ty Tài chính ở Việt Nam cũng được hình thành dưới tác động của điều kiện kinh tế thị trường Nghị quyết Đại hội Đảng VI (1986) đã mở ra hướng đi mới cho toàn nền kinh tế nước ta; chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường,đa dạng hóa các hình thức sở hữu và khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển Từ đó một trong những vấn đề mới nảy sinh là sự gia tăng quá trình điều tiết lượng vốn tiền tệ từ khu vực phi sản xuất vào khu vực sản xuất cũng như giữa các khu vực sản xuất với nhau Những năm cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX cho thấy mức độ khát vốn nghiêm trọng của nền kinh tế Việt Nam Các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô, hình thức, thành phần đều thiếu vốn Nhu cầu điều tiết vốn trên thị trường làm nảy sinh hàng loạt các quỹ tín dụng với rất nhiều điểm tương đồng với Công ty Tài chính là huy động tiền gửi trong dân cư và hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ
Ở thời điểm này cũng đã xuất hiện các tổ chức “hụi” (miền Nam) “họ” (miền Bắc) tồn tại bất hợp pháp, song đã thu hút đông đảo người dân tham gia với lượng vốn lên tới hàng tỷ đồng bởi các tổ chức này đã đáp ứng được một phần nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống của họ Sự tồn tại của các tổ chức này tuy là một hiện tượng khách quan nhưng do tự phát, không có sự quản lý của Nhà nước nên đã gây nên nhiều bất ổn và lộn xộn trong nền kinh tế
Đến những năm 90 của thế kỷ XX hầu hết các quỹ tín dụng, hụi, họ đều
bị đổ vỡ ảnh hưởng mạnh đến các doanh nghiệp cũng như các tầng lớp dân cư trong xã hội
Nền tài chính-ngân hàng sau cú sốc lớn đó cần được tổ chức và quản lý lại một cách chặt chẽ Bên cạnh các ngân hàng, các Công ty Tài chính ra đời
là trung gian tài chính tích cực giúp lưu thông nguồn vốn một cách nhanh
Trang 16chóng, hiệu quả
Cùng sự lớn mạnh của nền kinh tế, sự biến chuyển của thị trường trong
nước và quốc tế năm 1997, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật các tổ chức tín
dụng quy định về tổ chức, hoạt động của các tổ chức tín dụng và hoạt động
ngân hàng của các tổ chức khác ở Việt Nam Tại Luật các tổ chức tín dụng
được xếp vào tổ chức tín dụng phi ngân hàng Tổ chức tín dụng phi ngân hàng
là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân
hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân
và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Tổ chức tín
dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và
loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là
nội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ
hạn, không làm dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm
Công ty Tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân
Công ty Tài chính, năm 2002 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
79/2002/NĐ-CP quy định về tổ chức và hoạt động của Công ty Tài chính
(Nghị định số 79/2002/NĐ-CP) Theo đó, Công ty Tài chính đã được định
nghĩa đầy đủ tại Điều 2 của Nghị định này:
Công ty Tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các
nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về
tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của
pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được
nhận tiền gửi dưới một năm [2, Điều 2]
Formatted: Font: Not Bold
Trang 17Như vậy, Công ty Tài chính là một loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ Công ty Tài chính được thực hiện chức năng huy động vốn từ tiền gửi hoặc từ các nguồn vốn khác của các tầng lớp dân cư hoặc của các tổ chức kinh tế, các định chế tài chính khác trong xã hội để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh của mình Các Công ty Tài chính cũng có thể cho vay vốn dưới hình thức tiền tệ nhưng nghiệp vụ này chỉ hạn chế trong một phạm vi hẹp và không được xem là những nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của một Công ty Tài chính
1.1.2 Đặc điểm của Công ty Tài chính
Hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng ở mỗi quốc gia do nhiều bộ phận hợp thành, mỗi bộ phận lại có vị trí và vai trò khác nhau Ở nước ta hiện nay
hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng gồm: Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng Theo pháp luật hiện hành quy định thì các tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay gồm:
- Ngân hàng thương mại;
- Ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng hợp tác, ngân hàng chính sách;
- Qũy tín dụng nhân dân;
- Tổ chức tín dụng phi ngân hàng (Trong đó có Công ty Tài chính và công ty cho thuê tài chính) [25, Điều 6]
Tuy các Công ty Tài chính được thành lập dưới các hình thức khác nhau với tên gọi và phạm vi hoạt động nghiệp vụ khác nhau nhưng các Công
ty Tài chính đều nằm trong hệ thống tổ chức tín dụng
Công ty Tài chính mang đầy đủ các đặc trưng của một tổ chức tín dụng nói chung thể hiện ở các điểm sau:
- Thứ nhất, Công ty Tài chính là doanh nghiệp có đối tượng kinh
doanh trực tiếp là tiền tệ
Trang 18Tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hoá làm vật ngang giá chung thống nhất Nó được dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của hàng hoá khác, làm phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ Chính do sản phẩm kinh doanh là tiền tệ đã tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa tổ chức tín dụng nói chung và Công ty Tài chính nói riêng với các doanh nghiệp khác Do các chức năng của mình, tiền tệ là một sản phẩm kinh doanh có tính nhạy cảm với thị trường hơn bất cứ một lĩnh vực kinh doanh nào khác Mọi biến động của nền kinh tế ngay lập tức sẽ ảnh hưởng tới giá trị đồng tiền và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ Chính vì các hoạt động của Công ty Tài chính cũng bị biến động theo,thiếu tính ổn định, mang tính nhạy cảm và rủi ro rất lớn
- Thứ hai, Công ty Tài chính là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh
chính, chủ yếu, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Đây là dấu hiệu cơ bản để phân biệt doanh nghiệp là tổ chức tín dụng với các loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác, kể cả các doanh nghiệp có hoạt động ngân hàng không thường xuyên như các công ty bảo hiểm,công ty kinh doanh chứng khoán Đặc điểm này có ý nghĩa quyết định đến cơ chế điều chỉnh của pháp luật đối với tổ chức và hoạt động của các Công ty Tài chính Các hoạt động ngân hàng mà Công ty Tài chính được phép thực hiện phần lớn là các hoạt động kinh doanh có các quan hệ kinh doanh kéo dài (có thời hạn trên một năm) vì thế chúng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro rất cao Những tác động tích cực và tiêu cực của hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng có tính dây chuyền Chẳng hạn khi một Công ty Tài chính cho vay không thu hồi được vốn dẫn tới tình trạng không thể thanh toán cho khách hàng khi đến hạn Điều này có thể gây tâm lý hoang mang cho không chỉ khách hàng của Công ty Tài
Trang 19chính đó mà cả các khách hàng của các tổ chức tín dụng khác, dẫn đến hiện tượng khách hàng đồng loạt tới các tổ chức tín dụng rút tiền gửi, đẩy các tổ chức tín dụng vào tình trạng thiếu khả năng chi trả…gây ra sự mất ổn định cho cả nền kinh tế
- Thứ ba, Công ty Tài chính là loại hình doanh nghiệp chịu sự quản lý nhà
nước của Ngân hàng Nhà nước và thuộc phạm vi áp dụng pháp luật ngân hàng Theo phân cấp quản lý của Nhà nước, các tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực nào sẽ chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ, ban, ngành chuyên trách lĩnh vực ấy Các tổ chức tín dụng và các hoạt đông ngân hàng trong nền kinh tế chịu sự quản lý của của Ngân hàng Nhà nước Đây cũng là dấu hiệu nhận dạng tổ chức kinh tế là Công ty Tài chính Tuỳ thuộc vào các đặc thù trong hoạt động kinh doanh, tính chất sở hữu của từng Công ty Tài chính Nhà nước
có các quy định pháp luật riêng cho từng loại hình Công ty Tài chính
Tuy vậy, Công ty Tài chính có những đặc điểm riêng mà dựa vào đó có thể nhận biết, phân biệt chúng với các loại hình tổ chức tín dụng khác Sự phân biệt này là cần thiết và quan trọng vì trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức tín dụng có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại với nhau Do đó phạm vi hoạt động mà pháp luật quy định cho từng loại hình Tổ chức tín dụng cần rõ ràng để tránh sự chồng chéo, khiến cho hiệu quả mà chúng mang lại cho nền kinh tế bị giảm sút Sự phân biệt ranh giới, phạm vi hoạt động nghiệp
vụ của từng loại hình tổ chức tín dụng cũng giúp Nhà nước dễ dàng hơn trong việc quản lý, có các biện pháp điều chỉnh phù hợp và kịp thời Từ đó đảm bảo cho một hệ thống tài chính lành mạnh, là cơ sở cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế thị trường non trẻ ở nước ta hiện nay
Có thể phân biệt Công ty Tài chính với các loại hình tổ chức tín dụng hiện hành khác ở nước ta hiện nay bởi các đặc trưng cơ bản sau:
- Thứ nhất, trên thực tế các Công ty tài chính không nhận tiền
Trang 20gửi của của tổ chức, cá nhân trong xã hội với thời gian ngắn hạn hoặc không kỳ hạn và dưới hình thức mở tài khoản Nguồn vốn chủ yếu để cấp tín dụng của Công ty tài chính chủ yếu là vốn tự có hoặc vốn huy động thông qua phát hành các công vụ nợ dài hạn hoặc vay
từ các tổ chức khác
- Dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt Tổ chức tín dụng là ngân hàng với Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là hoạt động nhận tiền gửi không kỳ hạn và dịch vụ thanh toán.Với tính chất là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng Công ty Tài chính được pháp luật quy định phạm vi thực hiện các giao dịch ngân hàng hẹp hơn so với Tổ chức tín dụng là ngân hàng
Trong khi Công ty Tài chính chỉ được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như nội dung kinh doanh thường xuyên thì các Tổ chức tín dụng là ngân hàng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác liên quan Tổ chức tín dụng là ngân hàng được huy động vốn bằng tất cả các loại tiền gửi: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm trong khi đó tổ chức tín dụng là Công ty Tài chính chỉ được phép nhận tiền gửi có kỳ hạn trên một năm Công ty Tài chính cũng không được thực hiện dịch vụ thanh toán như Ngân hàng Nghĩa là không được phép cung ứng các phương tiện thanh toán, không được thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng, không được thực hiện các dịch vụ thu hộ và chi hộ
- Thứ hai, hình thức cấp tín dụng
Mỗi loại hình tổ chức tín dụng khi thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng đều có những đặc trưng riêng Các tổ chức tín dụng là Ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng khi thực hiện hoạt
Trang 21động cấp tín dụng thì hình thức cấp tín dụng là không giống nhau Ngay trong các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, các hình thức thực hiện hoạt động cấp tín dụng cũng khác nhau Công ty cho thuê tài chính thực hiện cấp tín dụng thông qua phương thức cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác Các hoạt động này thực hiện trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Trong khi đó, Công ty Tài chính cấp tín dụng dưới hình thức các khoản vốn vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, cho vay tiêu dùng bằng hình thức chi vay mua trả góp…Những khoản tín dụng này đươc Công ty Tài chính cấp cho những khách hàng của mình thông qua các hợp đồng tín dụng
Thứ ba, về mức vốn pháp định
Công ty Tài chính và ngân hàng đều phải có vốn pháp định, song vốn pháp định của Công ty Tài chính thấp hơn ngân hàng Theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành danh mục mức vốn pháp định của các Tổ chức Tín dụng ngày 22/11/2006 (Nghị định 141/2006/NĐ-CP), Công ty Tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày Nghị định này có hiệu lực và trước ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định là
300 tỷ đồng; Công ty Tài chính được cấp giấy phép thành lập và hoạt động sau ngày 31/12/2008 thì phải có mức vốn pháp định là
500 tỷ đồng
Thứ tư, về loại hình hoạt động
Nghị định số 79/2002/NĐ-CP phân chia Công ty Tài chính thành các loại: Công ty Tài chính nhà nước, Công ty Tài chính cổ phần, Công ty Tài chính trực thuộc các tổ chức tín dụng, Công ty Tài chính liên doanh và Công ty Tài chính 100% vốn nước ngoài Thứ năm, Thời hạn hoạt động
Trang 22Theo quy định tại Thông tư số 06/2002/TT-NHNN ngày 23/12/2002 thì thời hạn hoạt động của Công ty Tài chính tối đa là
50 năm Trường hợp cần gia hạn thời hạn hoạt động, phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận, nhưng mỗi lần gia hạn không quá 50 năm Trong khi đó, thời gian hoạt động của các Ngân hàng thương mại thì không hạn chế [30, tr.2]
Thứ sáu, Cơ hội cạnh tranh và lợi ích mang lại
Xét ở khía cạnh nào đó, các Công ty Tài chính sẽ chịu áp lực cạnh tranh ở mức độ thấp hơn so với ngân hàng Theo cam kết WTO, chỉ có ngân hàng thương mại nước ngoài và Công ty Tài chính nước ngoài mới được thành lập Công ty Tài chính liên doanh
và Công ty Tài chính 100% vốn đầu tư nước ngoài Tổ chức tín dụng nước ngoài chỉ được thành lập Công ty Tài chính liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư nước ngoài nhưng phải có tổng tài sản trên
10 tỷ USD vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn
Trong khi ngân hàng hoạt động rộng và huy động vốn chủ yếu từ công chúng thì Công ty Tài chính huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty Vì thế, rủi ro xảy ra đối với các Công ty Tài chính chủ yếu là do nội bộ tập đoàn hay nhóm công ty gánh chịu, rất ít ảnh hưởng tới cộng đồng Khi các quan hệ kinh tế trong tập đoàn là minh bạch và tuân thủ đúng pháp luật thì khả năng xảy ra rủi ro là không lớn
Một trong những hạn chế của các Công ty Tài chính so với các tổ chức ngân hàng là không được làm dịch vụ thanh toán và nhận tiền gửi dưới 1 năm Tuy vậy, các Công ty Tài chính hiện nay
đã khắc phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới như dịch vụ nhận ủy thác vốn, nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán,
Trang 23thu xếp vốn, v.v cho cả ngắn hạn, trung và dài hạn Những dịch
vụ này đã giúp Công ty Tài chính thực hiện được các dịch vụ khác
tương tự như một ngân hàng thương mại
Như vậy, có thể thấy lợi ích của Công ty Tài chính mang lại cho các doanh nghiệp là rất lớn Không phải ngẫu nhiên mà trên thế
giới, các tập đoàn lớn thường có ít nhất một Công ty Tài chính Công
ty Tài chính là công cụ để tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng vốn một
cách có hiệu quả và thuận lợi nhất Trong phạm vi nội bộ tập đoàn
hoặc nhóm công ty có quan hệ lợi ích gắn bó, Công ty Tài chính có
thể dễ dàng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các công ty thành
viên để tập trung vốn đầu tư Với tính nội bộ cao trong hoạt động
nghiệp vụ Công ty Tài chính có thể kiểm soát rủi ro và tập trung vốn
lớn cho các dự án quan trọng trong nội bộ tập đoàn [30, tr.3]
Thứ bảy, mức độ can thiệp của Chính phủ vào hoạt động của Công ty
tài chính ở mức độ không sâu như đối với hoạt động của Ngân hàng thương
mại Điều đó đã có cơ hội cho Công ty tài chính linh hoạt hơn trong hoạt
động của mình
Tóm lại, do nhu cầu của nền kinh tế thị trường đã thúc đẩy sự hình
thành của nhiều loại hình tổ chức tín dụng với tên gọi, phạm vi và mục tiêu
hoạt động khác nhau Mỗi loại hình đều được pháp luật quy định về tổ chức
và hoạt động rõ ràng, tránh sự chồng chéo, tạo nên một hệ thống tín dụng
thống nhất, giúp Nhà nước kiểm soát có hiệu quả các hoạt động tài chính và
các hoạt động kinh tế xã hội
1.2 Vị trí, vai trò của Công ty Tài chính
1.2.1 Vị trí của Công ty Tài chính
Công ty Tài chính là một loại hình trung gian tài chính Cùng với các
loại hình trung gian tài chính khác tạo nên kênh dẫn vốn gián tiếp (hay kênh
Formatted: Expanded by 0.2 pt
Trang 24tài chính gián tiếp) có chức năng dẫn vốn từ người sở hữu vốn sang người sử dụng vốn bằng cách tập hợp các khoản vốn nhàn rỗi lại rồi cho vay Kênh tài chính gián tiếp lại kết hợp với kênh dẫn vốn trực tiếp (thị trường tài chính) tạo nên một khâu quan trọng của hệ thống tài chính Đến lượt nó, khâu tài chính này lại kết hợp với 3 khâu tài chính cơ bản là tài chính công, tài chính doanh nghiệp và tài chính hộ gia đình để tạo nên một hệ thống tài chính hoàn bị Như vậy, Công ty Tài chính là một bộ phận để cấu thành của hệ thống tài chính của một quốc gia
Hoạt động của các Công ty Tài chính đồng thời còn góp phần làm phong phú thêm các dịch vụ tài chính - ngân hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển
đa dạng của thị trường tài chính tiền tệ trong nền kinh tế thị trường Như vậy,
có thể thấy, khi nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của trung gian tài chính càng quan trọng Bên cạnh các trung gian tài chính khác, Công ty Tài chính cũng góp phần tạo thêm một kênh dẫn vốn cho nền kinh tế, đáp ứng được nhu cầu vay vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân
1.2.2 Vai trò của các Công ty Tài chính
Một là, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo vốn cho nền kinh tế
Nó cho phép sử dụng triệt để các nguồn vốn mà các công ty này đang nắm giữ Đồng thời nó còn huy động thêm một lượng vốn quan trọng trong nền kinh tế vào quá trình lưu thông hàng hoá, dịch vụ của nền kinh tế, cùng với các định chế khác hoạt động kinh doanh tiền tệ của các định chế phi tài chính này làm phong phú thêm thị trường tài chính, làm sôi động thị trường tài chính tạo ra nguồn vốn lớn làm cho các doanh nghiệp để mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh
Hai là, thúc đẩy hoạt động các ngân hàng thương mại mở rộng và hiện
đại hóa hệ thống ngân hàng Khi có nhiều định chế khác cùng hoạt động kinh
Trang 25doanh tiền tệ, hệ thống ngân hàng thương mại sẽ mở rộng các dịch vụ thanh toán cho các định chế đó (vì đây là hoạt động độc quyền của ngân hàng thương mại) Cũng như cho các chủ thể khác đặc biệt là tổ chức thanh toán cho cá nhân Hoạt động thanh toán phát triển là điều kiện tiền đề để hiện đại hoá hệ thống ngân hàng Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại cũng
sẽ trở lại với hoạt động truyền thống của nó là cấp tín dụng ngắn hạn bằng các nguồn vốn rẻ nhất, nguồn vốn từ tổ chức thanh toán cho nền kinh tế, ở đó ngân hàng thương mại sẽ là chủ thể có vị trí hàng đầu trong chiết khấu các giấy tờ có giá
Ba là, tạo điều kiện cho việc điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng
trung ương: Chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương luôn hướng về việc làm thế nào tạo ra một thị trường tiền tệ hoàn hảo hơn, trong đó có nhiều chủ thể cung ứng vốn cho nền kinh tế trên cơ sở khai thác các nguồn vốn có sẵn trong nền kinh tế, để cuối cùng có được một chính sách lãi suất hợp lý nhất
Bốn là, công ty tài chính đã thể hiện vai trò của mình trong việc hỗ trợ quản lý tài chính, thu xếp vốn trong và ngoài nước cho các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước Đồng thời, công ty tài chính cũng là một kênh cung cấp vốn trung - dài hạn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư chiều sâu để đổi mới công nghệ, cải tiến
kỹ thuật, song hành cùng các ngân hàng thương mại cung cấp vốn cho nền kinh tế, góp phần thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [29]
1.3 Các loại hình Công ty Tài chính
Theo Thông tư số 06/2002/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện Nghị định 79/2002/NĐ-CP (Thông tư 06/2002/TT-NHNN), Công ty Tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam gồm các loại hình sau:
Công ty Tài chính Nhà nước: là Công ty Tài chính do Nhà
Trang 26nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh Công ty Tài chính Nhà nước được thành lập và hoạt động tại Việt Nam dưới hai hình thức:
+ Công ty Tài chính thuộc tổng công ty Nhà nước, do Tổng công ty Nhà nước cấp 100% vốn điều lệ
+ Công ty Tài chính Nhà nước khác
Công ty Tài chính cổ phần: là Công ty Tài chính do các tổ chức và cá nhân cùng góp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và các quy định khác của pháp luật được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần
Công ty Tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng: là Công ty Tài chính do một tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình, làm chủ sở hữu theo quy định của pháp luật hạch toán độc lập
và có tư cách pháp nhân
Công ty Tài chính liên doanh: là Công ty Tài chính được thành lập bằng vốn góp giữa bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều
tổ chức tín dụng nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh
Công ty Tài chính 100% vốn nước ngoài: là Công ty Tài chính được thành lập bằng vốn của một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam [11, Điều 2]
Đây là cách phân loại dựa trên cơ sở chủ sở hữu vốn Cơ bản với năm loại hình trên, đã đa dạng hoá các Công ty Tài chính, phù hợp với thông lệ quốc tế và nhu cầu thực tiễn ở nước ta
Qua quá trình hoạt động, phát triển trên thị trường, Pháp luật Việt Nam
đã chú trọng đến hơn về các nghiệp vụ của Công ty Tài chính và đã cụ thể hóa các mô hình Công ty tài chính theo nghiệp vụ tài chính của các Công ty tài chính Chính vì vậy, Nghị định 39/2014/NĐ-CP của Chính Phủ về hoạt động
Trang 27của Công ty Tài chính và Công ty cho thuê tài chính (Nghị định CP) đã phân định Công ty tài chính thành hai loại hình: Công ty Tài chính tổng hợp và Công ty Tài chính chuyên ngành
39/2014/NĐ- Công ty Tài chính tổng hợp là Công ty Tài chính được thực hiện các hoạt động quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng và Nghị định 39/2014/NĐ-CP
Công ty tài chính chuyên ngành gồm Công ty Tài chính bao thanh toán, Công ty Tài chính tín dụng tiêu dùng và Công ty cho thuê Tài chính
Công ty Tài chính bao thanh toán là Công ty Tài chính chuyên ngành, hoạt động chính trong lĩnh vực bao thanh toán
Công ty Tài chính tín dụng tiêu dùng là Công ty Tài chính chuyên ngành, hoạt động chính trong lĩnh vực tín dụng tiêu dùng
Công ty Cho thuê Tài chính là Công ty Tài chính chuyên ngành, hoạt động chính là cho thuê Tài chính Dư nợ cho thuê Tài chính phải chiếm tối thiểu 70% tổng dư nợ cấp tín dụng [4, Điều 3]
Ngoài cách phân loại theo loại hình thành lập hoặc theo nghiệp vụ tài chính như đã phân tích ở trên, có một số quan điểm khác phân loại các Công
ty Tài chính theo các tiêu chí sau:
- Căn cứ theo cơ quan thành lập
+ Các Công ty Tài chính chuyên ngành do nhà nước thành lập hoặc cho phép thành lập; bao gồm các tổ chức công, bán công, hoặc cổ phần hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành, tài trợ trung hạn và dài hạn với nguồn vốn từ ngân sách, quỹ kinh doanh của Nhà nước hoặc từ phát hành công cụ nợ, cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ …
+ Các Công ty Tài chính do Ngân hàng hoặc tập đoàn tài chính Ngân
Trang 28hàng thành lập để thực hiện một số nghiệp vụ như: cấp bảo lãnh, đầu tư bất động sản, thuê – mua thiết bị, sản xuất kinh doanh, cung cấp các dịch vụ tài chính tiền tệ
+ Các Công ty Tài chính do các tập đoàn kinh tế, công ty sản xuất, công ty thương mại lập ra để tài trợ cho người mua hàng hóa của công ty mẹ (Công ty Tài chính bán hàng)
- Căn cứ vào mối quan hệ sở hữu
+ Công ty Tài chính độc lập: thực hiện được nhiều hoạt động kinh doanh như hoạt động tín dụng gồm cho vay và bảo lãnh cho các khách hàng trong lĩnh vực thương mại, sản xuất công nghiệp; các hoạt động cho thuê tài sản; bao thanh toán; kinh doanh tiền tệ; cung cấp tín dụng cho khách hàng; tư vấn tài chính …
+ Công ty Tài chính trong tập đoàn kinh tế: tham gia chủ yếu các hoạt động như tạo lập các nguồn vốn đầu tư để cung ứng cho tập đoàn và các đơn
vị thành viên trong tập đoàn; quản lý đầu tư các khoản vốn nhàn rỗi trong tập đoàn; điều hòa vốn giữa các đơn vị thành viên của tập đoàn trong quan hệ với ngân hàng, các tổ chức tín dụng, đối tác đầu tư; quản lý và áp dụng các biện pháp quản trị rủi ro tài chính trong tập đoàn; cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính cho các đơn vị thành viên của tập đoàn và khách hàng ngoài tập đoàn như cho vay để mua hàng hóa do tập đoàn sản xuất kinh doanh, bảo lãnh thực hiện hợp đồng với tập đoàn…
Trang 29Kết luận chương 1
Trong nền kinh tế thị trường, Công ty Tài chính là một loại hình tổ chức tài chính phi ngân hàng, thực hiện một số hoạt động ngân hàng và cung cấp một số dịch vụ tài chính cho thị trường tài chính
Việc ra đời Công ty Tài chính là một tất yếu khách quan khi chuyển sang nền kinh tế thị trường và đã hội tụ đủ các yếu tố pháp lý Tuy nhiên, trong thời gian qua, các Công ty Tài chính hoạt động còn mang tính thử nghiệm Quy mô hoạt động của Công ty Tài chính còn nhỏ bé, phạm vi hoạt động rất hạn hẹp và kết quả kinh doanh chưa cao
Tuy mới ra đời và đi vào hoạt động, nhưng các Công ty Tài chính đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, đặc biệt các Công ty Tài chính trong tổng công ty đã bước đầu tạo lập nguồn vốn đa dạng phục vụ cho việc phát triển sản xuất kinh doanh của Tổng công ty
Tuy nhiên, mô hình này vẫn còn là mới mẻ ở nước ta, do đó trong quá trình hoạt động còn rất nhiều vướng mắc cần tháo gỡ Về pháp luật Công ty Tài chính cũng gặp nhiều khó khăn như: cơ sở pháp lý chưa đồng bộ, vai trò của các Công ty Tài chính chưa được coi trọng và còn nhiều bất cập khác của một nền kinh tế mới được chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường Những nội dung này sẽ được làm rõ hơn khi tìm hiểu pháp luật của Công ty Tài chính được thực hiện ở chương sau
Trang 30Chương 2
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH
Ở VIỆT NAM 2.1 Những vấn đề lý luận về pháp luậtThực trạng về hoạt động của
Công ty Tài chính ở Việt nNam
2.1.1 Khái niệm pháp luật về Công ty Tài chính
Để Công ty Tài chính xuất hiện, tồn tại và hoạt động hiệu quả ngoài
những yếu tố như sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về vốn của các doanh
nghiệp và hộ gia đình, trình độ của đội ngũ cán bộ… thì pháp luật điều chỉnh
tổ chức hoạt động của Công ty Tài chính đóng vai trò hết sức quan trọng Có
thể coi pháp luật là yếu tố quan trọng hàng đầu làm cơ sở để Công ty Tài
chính phát triển một cách ổn định và an toàn, bảo vệ quyền lợi các bên
Có thể hiểu: “Pháp luật về Công ty Tài chính là tổng hợp các quy
phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thành lập, tổ chức, hoạt động và
chấm dứt hoạt động của Công ty Tài chính với các bên chủ thể có liên quan”
Nhà nước bằng các văn bản pháp luật đã định hình nên mô hình tổ chức
của Công ty Tài chính nhưng để mô hình này thực sự đi vào thực tiễn hoạt động
có hiệu quả thì phải quy định cho nó các chức năng nhiệm vụ, phạm vi hoạt
động rõ ràng Sự quy định pháp luật về Công ty Tài chính do đó là vô cùng cần
thiết Nằm trong hệ thống các tổ chức trung gian tài chính, lấy hoạt động Ngân
hàng là hoạt động kinh doanh chủ yếu, Công ty Tài chính là nơi diễn ra quá trình
tích tụ, điều hòa nhiều loại nguồn vốn, góp phần thực hiện chính sách tiền tệ
quốc gia Mặt khác, các quan hệ nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng phần lớn tiềm
ẩn nguy cơ rủi ro cao, tác động có tính dây chuyền đến lợi ích của nhiều loại chủ
thể trong nền kinh tế Do vậy sự ổn định và phát triển của hệ thống các tổ chức
tín dụng trong đó có Công ty Tài chính là một trong những điều kiện cơ bản ảnh
Formatted: Condensed by 0.2 pt Formatted: Condensed by 0.2 pt
Trang 31hưởng tới quá trình phát triển của nền kinh tế - xã hội
Quy định pháp luật về Công ty Tài chính tạo ra môi trường pháp lý tốt
nhất để các Công ty Tài chính hoạt động hợp pháp, an toàn Đồng thời nó còn
là công cụ quản lý giúp Nhà nước kích thích những tác động tích cực, ngăn
ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực trong hoạt động của Công ty Tài
chính, góp phần tạo ra thị trường tài chính lành mạnh
2.1.2 Cơ sở pháp lý thành lập và hoạt động Công ty Tài chính ở Việt Nam
Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và Công ty Tài chính được
Hội đồng nhà nước thông qua ngày 23/05/1990 đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên
cho sự ra đời và hoạt động của Công ty Tài chính ở Việt Nam Khoản 4 điều 1
kiệm của dân cư và không sử dụng vốn vay của dân cư làm phương
tiện thanh toán chức tín dụng phi ngân hàng [8, Điều 20, Khoản 1]
Tại Khoản 3 điều 20 quy định:
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh
doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ
hạn, không làm dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng phi ngân hàng
gồm Công ty Tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức
tín dụng phi ngân hàng khác [26, tr 46]
Đối với các Công ty Tài chính thuộc Tổng công ty, việc ra đời còn dựa
trên quy định của Luật doanh nghiệp Nhà nước ngày 30/04/1995 Tại khoản 3
Formatted: Line spacing: Multiple 1.42 li
Formatted: Font: Not Italic Formatted: Indent: Left: 0.79", Line spacing: Multiple 1.42 li
Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: Line spacing: Multiple 1.42 li
Trang 32Điều 43 Luật doanh nghiệp Nhà nước quy định: “ Tùy theo quy mô và vị trí quan trọng, Tổng công ty Nhà nước có hoặc không có Công ty Tài chính là
Để thực thi các quy định của các luật trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/CP ngày 27/06/1995 ban hành điều lệ mẫu của Tổng công ty Nhà nước, trong đó nêu rõ: Tính pháp lý của Công ty Tài chính trong Tổng công ty
là doanh nghiệp thành viên, hạch toán độc lập, hoạt động theo pháp luật và hướng dẫn của Thống độc Ngân hàng Nhà nước Phạm vi hoạt động của Công
ty Tài chính trong Tổng công ty: Huy động vốn để đầu tư dự án, cho vay phục
vụ nhu cầu đối với Tổng công ty và các đơn vị thành viên Các hình thức huy động vốn của Công ty Tài chính trong Tổng công ty bao gồm vay ưu đãi của Chính phủ, vay thương mại của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước; phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu công trình, phát hành các giấy tờ và chứng từ có giá theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước; huy động vốn nhàn rỗi của công nhân viên trong nội bộ Tổng công ty và các hình thức khác theo điều lệ công ty do Tổng công ty ban hành và quy chế hoạt động của Công ty Tài chính do Ngân hàng Nhà nước ban hành Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước dưới sự chỉ đạo của Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Công ty Tài chính trong các tổng công ty Nhà nước [1]
2.1.3 Nội dung pháp luật về Công ty Tài chính
Tổ chức và hoạt động của Công ty Tài chính chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản, Pháp luật về Thuế, Luật Đầu tư… nhưng trong phạm vi luận văn này chỉ đề cập tới sự điều chỉnh của pháp luật liên quan trực tiếp đến hoạt động của Công ty Tài chính ở Việt Nam bao gồm:
- Thứ nhất, những quy định chung của pháp luật về Công ty
Trang 33Tài chính
Đây là những quy định khái quát nhất Nội dung này cung cấp những hiểu biết sơ lược về loại hình kinh doanh của công ty với các quy định về khái niệm, các loại hình Công ty Tài chính, thời gian hoạt động và các từ ngữ có liên quan
Hiện nay, theo quy định tại Điều 3 Mục 1 của Thông tư số 06/2002/TT-NHNN, Công ty Tài chính tại Việt Nam chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước, có thời hạn hoạt động không quá 50 năm [11, Điều 3] Xét về hình thức thì Công ty Tài chính được tồn tại dưới năm hình thức: Công ty Tài chính Nhà nước, Công ty Tài chính cổ phần, Công ty Tài chính trực thuộc của Tổ chức tín dụng, Công ty Tài chính liên doanh, Công ty Tài chính 100% vốn nước ngoài Xét về nội dung thì Công ty Tài chính được phân định thành Công ty Tài chính tổng hợp và Công ty Tài chính chuyên ngành [11, Điều 2]
- Thứ hai, các quy định về tổ chức, thành lập giải thể, phá sản
Công ty Tài chính
Bất kỳ một chủ thể kinh doanh nào muốn tồn tại và hoạt động được cần phải có thủ tục khai sinh ra nó.Vì là một tổ chức kinh tế kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên các quy định về quy chế thành lập, cấp giấy phép hoạt động, giải thể, phá sản, thanh lý của Công ty Tài chính rất chặt chẽ và cụ thể.Trong đó quy định các điều kiện và thủ tục khi Công ty Tài chính thực hiện việc thành lập, giải thể, phá sản, thanh lý và trách nhiệm pháp lý của Công ty Tài chính trong các tình huống này
- Thứ ba, quy định về tổ chức, quản trị, điều hành và kiểm soát
hoạt động
Bất cứ một tổ chức nào muốn hoạt động tốt đều cần có các
Trang 34quy định cụ thể về tổ chức, quản trị điều hành và kiểm soát hoạt động của mình và Công ty Tài chính cũng không phải là một ngoại
lệ Trong đó quy định về cơ cấu các cơ quan, các yêu cầu về nhân
sự và các biện pháp kiểm soát, hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ của Công ty Tài chính
- Thứ tư, các quy định về hoạt động của Công ty Tài chính
Nội dung pháp luật về Công ty Tài chính cũng quy định về các nghiệp vụ ngân hàng mà Công ty Tài chính được phép thực hiện, các hoạt động kinh doanh mà Công ty Tài chính được phép tiến hành để thu lợi nhuận như:
- Hoạt động huy động vốn
Theo đó Công ty Tài chính được phép huy động vốn từ các nguồn: Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân; Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác để huy động vốn; Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong,ngoài nước và các tổ chức tài chính quốc tế; Tiếp nhận vốn
uỷ thác của Chính phủ,các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước
- Hoạt động tín dụng
Công ty tài chính được cho vay dưới các hình thức
Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Cho vay theo ủy thác của Chính Phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và hợp đồng ủy thác
Cho vay tiêu dùng bằng hình thức cho vay trả góp
Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác
Trang 35 Công ty Tài chính được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác đối với cá tổ chức, cá nhân
Công ty Tài chính và các tổ chức tín dụng khác được tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác cho nhau
Bảo lãnh
Công ty Tài chính được bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh, Việc bảo lãnh của Công ty Tài chính phải được thực hiện theo quy định tại Điều 58, Điều 59, Điều 60 Luật Các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước
Mở tài khoản và ngân quỹ
Mở tài khoản:
- Công ty Tài chính được mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi Công ty Tài chính đặt trụ sở và các Ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Việc mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng ngoài lãnh thổ Việt Nam phải được Nhà nước cho phép
- Công ty Tài chính có nhận tiền gửi phải mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước và duy trì tại đó số dư bình quân không thấp hơn mức quy định của Ngân hàng Nhà nước
Các hoạt động khác
Góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác
Đầu tư cho các dự án theo Hợp đồng
Tham gia thị trường tiền tệ
Thực hiện các dịch vụ kiều hối, kinh doanh vàng
Trang 36 Làm đại lý phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các loại giấy
tờ có giá cho các doanh nghiệp
Được quyền nhận ủy thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và đầu tư, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng
Cung ứng các dịch vụ tư vấn về ngân hàng, tài chính, tiền
tệ, đầu tư cho khách hàng
Cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và dịch vụ khác
Các nghiệp vụ được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép
Hoạt động ngoại hối: Ngân hàng Nhà nước xem xét, cấp giấy phép cho Công ty tài chính được thực hiện một số hoạt động ngoại hối theo quy định hiện hành về quản lý ngoại hối
Hoạt động bao thanh toán: Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm ban hành quy định hướng dẫn việc thực hiện hoạt động bao thanh toán và xem xét cho phép Công ty Tài chính có đủ điều kiện thực hiện hoạt động này
- Thứ năm, các quy định về chế độ tài chính, hạch toán, báo
cáo và quản lý nhà nước đối với Công ty Tài chính
Bên cạnh các quy định đảm bảo quyền tự chủ trong kinh doanh Nhà nước còn ban hành các quy định pháp luật mang tính hạn chế và kiểm soát rất chặt chẽ đó là các quy định về các hạn chế
để đảm bảo an toàn trong hoạt động của Công ty Tài chính Bằng việc phân cấp các cơ quan, bộ phận quản lý, Nhà nước sẽ có những phương thức khác nhau để thanh kiểm tra các hoạt động của Công
ty Tài chính Là một pháp nhân Việt Nam có chế độ hạch toán độc
Trang 37lập các Công ty Tài chính cũng được pháp luật quy định về các chế
độ tài chính hạch toán và công khai báo cáo tài chính như các tổ
chức tín dụng khác [26, tr.18-23]
Như vậy nội dung pháp luật về Công ty Tài chính hiện nay khá đầy đủ và
chi tiết Theo đó tạo nên một cơ sở pháp lý vững chắc cho các Công ty Tài chính
suốt quá trình từ thành lập, hoạt động kinh doanh tới khi chấm dứt hoạt động
2.2 Thực trạng pháp luật về Công ty Tài chính ở Việt Nam
2.2.1 Quy định về thành lập, giải thể, phá sản và thanh lý Công ty
Tài chính
Công ty Tài chính là một trong những loại hình tổ chức tín dụng được
pháp luật thừa nhận và tồn tại ở Việt Nam đã hơn 20 năm (Từ pháp lệnh Ngân
hàng, hợp tác xã tín dụng, Công ty Tài chính do Hội đồng Nhà nước ban hành
ngày 23/5/1990) Đó là kết quả sự đòi hỏi khách quan, đáp ứng yêu cầu của nền
kinh tế Các văn bản pháp luật như Luật các tổ chức tín dụng, Nghị định số
79/2002/NĐ- CP, Thông tư 06/2002/TT-NHNN, Nghị định số 81/2008/NĐ-CP
hướng dẫn thực hiện Nghị định 79/2002/NĐ-CP và gần đây nhất là nghị định
số 39/2014/NĐ-CP về hoạt động của Công ty Tài chính và Công ty Cho thuê
Tài chính đã quy định tương đối đầy đủ, chặt chẽ về thành lập, tổ chức, quản
trị, điều hành và hoạt động của Công ty Tài chính, đã tạo ra một hành lang
pháp lý an toàn cho các Công ty Tài chính đi vào hoạt động hiệu quả, khuyến
khích các Công ty Tài chính thành lập, làm đa dạng hoá các loại hình tín dụng
và đa dạng hoá các thành phần kinh tế ở nước ta
Song sau 10 năm kể từ khi luật các tổ chức tín dụng được ban hành,
trong khi các Ngân hàng thương mại đã phát triển nhanh về số lượng, quy mô
và mạng lưới, thì Công ty Tài chính một chế định tài chính có hoạt động gần
giống ngân hàng (ngoại trừ không được làm dịch vụ thanh toán và chỉ được
nhận tiền gửi có kỳ hạn trên 1 năm) vẫn còn khá hạn chế
Formatted: Condensed by 0.2 pt Formatted: Indent: Left: 0"
Trang 382.2.1.1 Quy định về thành lập Công ty Tài chính
Trước đây theo quy định của Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín
dụng, Công ty Tài chính của Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 24/05/1990
thì quy trình thành lập một Công ty Tài chính ở nước ta gồm hai khâu tách
biệt: cấp giấy phép thành lập và cấp giấy phép hoạt động Để đơn giản hoá
các thủ tục hành chính, tránh sự chồng chéo, phiền hà trong việc cấp giấy
phép thành lập, giấy phép hoạt động cho các tổ chức tín dụng (trong đó có
Công ty Tài chính), Điều 21 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 quy
định “Ngân hàng Nhà nước là cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy
phép thành lập và hoạt động cho các tổ chức tín dụng và cấp giấy phếp hoạt
động ngân hàng cho các tổ chức khác theo quy định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật” [8, Điều 21]
- Do tính phức tạp của các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh và sự cần
thiết phải bảo đảm an toàn cho hệ thống các tổ chức tín dụng nên pháp luật
quy định các điều kiện về cấp giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ
chức tín dụng chặt chẽ hơn so với các quy định áp dụng cho các loại doanh
nghiệp khác Việc thành lập các Công ty Tài chính được quy định rất cụ thể
trong Nghị định số 79/2002/NĐ- CP, Thông tư số 06/2002/TT- NHNN, Luật
Các Tổ chức tín dụng và các văn bản có liên quan Theo đó một tổ chức muốn
được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải đáp ứng các điều kiện:
- Tại địa bàn mà Công ty Tài chính xin hoạt động có nhu cầu về hoạt
động của Công ty Tài chính
- Phải có đủ mức vốn pháp định theo quy định của chính phủ Theo danh
mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Nghị định
số 141/2006/NĐ- CP ngày 22/11/2006 thì các Công ty Tài chính được cấp giấy
phép thành lập và hoạt động phải có biện pháp bảo đảm có số vốn điều lệ thực
góp hoặc được cấp tối thiểu tương đương mức vốn pháp định là 300 tỷ (chậm
Formatted: Condensed by 0.1 pt
Trang 39nhất vào ngày 31/12/2008) và 500 tỷ (chậm nhất vào ngày 31/12/2010)
- Thành viên sáng lập là các tổ chức, cá nhân có uy tín và năng lực tài chính theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Người quản trị điều hành có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và trình
độ chuyên môn phù hợp với hoạt động của Công ty Tài chính và quy định của Ngân hàng Nhà nước
- Có Điều lệ tổ chức, hoạt động phù hợp với quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của Nghị định 79/2002/NĐ- CP
- Có phương án kinh doanh khả thi
Ngoài các điều kiện nêu trên, bên nước ngoài trong Công ty Tài chính liên doanh và Công ty Tài chính 100% vốn nước ngoài phải được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép thực hiện các hoạt động ngân hàng hoặc hoạt động của Công ty Tài chính và được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép hoạt động tại Việt Nam [11, Điều 7]
Tổ chức muốn thành lập Công ty Tài chính sau khi đã đáp ứng đủ các điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải nộp hồ sơ xin cấp phép và lệ phí giấy phép tới Ngân hàng Nhà nước Cụ thể theo hướng dẫn quy định tại Điều 8 Thông tư 06/2002/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện nghị định 79/2002/NĐ- CP [11, Điều 8]
Để cụ thể hóa các quy định về điều kiện hoạt động của Công ty Tài chính, Nghị định số 39/2014/NĐ-CP đã có những quy định rạch ròi về điều kiện mà Công ty Tài chính cần phải đáp ứng để thực hiện các hoạt động: Ngân hàng; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn của tổ chức; vay vốn của Tổ chức tín dụng, Tổ chức Tài chính trong nước và nước ngoài; vay Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn; hoạt động cho vay, bao gồm cả cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng, hoạt động bảo lãnh Ngân hàng; bao thanh toán; phát hành thẻ tín dụng và cho thuê
Trang 40Tài chính [4, Điều 5- Điều 15]
Cần lưu ý về Điều khoản chuyển tiếp được quy định tại Điều 25 Nghị định số 39/2014/NĐ-CP:
1 Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, Công ty Tài chính, Công ty cho thuê Tài chính đã thành lập và hoạt động theo giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành phải chấm dứt các hoạt động không được thực hiện theo quy định tại Nghị định này
2 Trong thời hạn 18 tháng, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, Công ty Tài chính tổng hợp, Công ty Tài chính tín dụng tiêu dùng, Công ty Cho thuê tài chính đã thành lập và hoạt động theo giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành phải chấm dứt các hoạt động không được thực hiện theo quy định của Nghị định này [4, Điều 25] Sau khi Công ty Tài chính đã được cấp giấy phép, muốn tiến hành khai trương hoạt động phải hoàn tất các thủ tục như: có điều lệ được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y, có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, có đủ vốn pháp định và
có trụ sở phù hợp với yêu cầu hoạt động của Công ty Tài chính, phải đăng các báo thông báo các nội dung chủ yếu về việc thành lập công ty…Công ty Tài chính có thể bị thu hồi giấy phép hoạt động nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 28 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, khi:
- Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép có thông tin gian lận để có đủ điều kiện được cấp Giấy phép;
- Tổ chức tín dụng bị chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản;
- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng hoạt động không đúng nội dung quy định trong Giấy phép;