1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về hoat động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại ở Việt Nam

94 753 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN MẠNH THƯỜNG

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN MẠNH THƯỜNG

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY

HÀ NỘI – 2011

Trang 3

MỤC LỤC Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

1.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay của NHTM 5

1.3 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của

NHTM

10

1.3.1 Khái niệm về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của NHTM 10

1.6 Nội dung pháp luật về hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM 20

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO

VAY ĐTCK CỦA NHTM Ở VIỆT NAM

vay đầu tư chứng khoán

36

Trang 4

2.3.1 Về chủ thể tham gia hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán 36 2.3.2 Về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động cho vay đầu

tư chứng khoán

40

2.5 Hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán 45

2.5.3 Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng 49 2.6 Quản lý nhà nước trong hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán 56 2.6.1 Vai trò của quản lý Nhà nước đối với hoạt động cho vay ĐTCK 56 2.6.2 Thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước 58 2.6.3 Các biện pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động cho vay ĐTCK 61

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY ĐTCK CỦA NHTM Ở VIỆT NAM

68

3.2.2 Tăng cường việc giám sát thị trường tài chính để tăng tính minh bạch, ngăn ngừa nguy cơ xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính

79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CK : Chứng khoán

TTCK: Thị trường chứng khoán

ĐTCK: Đầu tư chứng khoán

UBCK: Ủy ban chứng khoán

NHNN: Ngân hàng nhà nước

NHTM: Ngân hàng thương mại

TCTD: Tổ chức tín dụng

Quy chế 1627: Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước )

Chỉ thị 03: Chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN ngày 28/5/2007 về kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán

Quyết định 03: Quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN ngày 1/2/2008 về việc cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày 11 tháng 7 năm 1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán Hai năm sau đó, Thị trường chứng khoán Việt Nam mới chính thức thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28 tháng 7 năm 2000 Là một thị trường non trẻ và quy mô khá nhỏ so với các nước nhưng qua mười năm hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã chứng tỏ vai trò là một kênh dẫn vốn rất quan trọng cho hoạt động đầu tư, sản xuất Tuy nhiên, bản thân những kênh thu hút vốn cho thị trường chứng khoán, trong đó có hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của các ngân hàng thương mại Việt Nam thì chưa phải đã thực sự được khai thông

Thực tiễn hoạt động của thị trường chứng khoán trong thời gian qua cho thấy, nhu cầu vay và cho vay đầu tư chứng khoán ở Việt Nam là khá lớn Đơn cử như năm 2007, thời điểm trước khi hạn mức cho vay đầu tư chứng khoán được

áp dụng, hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán diễn ra rất sôi động và là động lực quan trọng đối với sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam Chỉ

số Vn Index đã đạt tới mức đỉnh cao nhất là 1.170,67 điểm vào ngày 12 tháng 3 năm 2007 Tháng 10 năm 2010, thời điểm mà thị trường chứng khoán được hỗ trợ mạnh bởi các đòn bẩy tài chính, có những phiên thanh khoản đạt mức kỷ lục lên tới hơn 9000 tỷ đồng/phiên trên cả hai sàn Điều đó chứng tỏ, sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam phụ thuộc khá lớn vào các đòn bẩy tài chính Bản thân khả năng tài chính của các nhà đầu tư chứng khoán là hữu hạn,

vì vậy, họ có nhu cầu vay tiền của ngân hàng để đầu tư Về phía ngân hàng thì hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán cũng là một kênh có thể thu nhiều lợi nhuận.Tuy nhiên, không phải lúc nào cung và cầu trong lĩnh vực cho vay đầu tư chứng khoán cũng có thể gặp nhau một cách dễ dàng do gặp phải những rào cản

Trang 7

pháp luật Ngày 28/5/2007, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN về kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán Chỉ thị này đã khống chế dư nợ vốn cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở mức dưới 3% (ba phần trăm) tổng dư nợ tín dụng của tổ chức tín dụng Quy định này

đã gặp rất nhiều phản ứng của các nhà đầu tư và cả các ngân hàng thương mại vì

nó đã ngăn chặn một nguồn tiền quan trọng cung cấp cho thị trường chứng khoán Ngày 01/02/2008, Thống đốc Ngân hàng nhà nước tiếp tục ban hành Quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN về việc cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán Theo quyết định mới, tổng dư nợ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán không vượt quá 20% (hai mươi phần trăm) vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Quyết định này tiếp tục bị coi là một rào cản khiên cưỡng của pháp luật đối với hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã phản ứng tiêu cực với quy định ở hai văn bản pháp luật kể trên Chỉ số Vn Index mất điểm, thanh khoản trên cả hai sàn đều sụt giảm Trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm

2008 - 2009, các quy định về hạn chế cho vay đầu tư chứng khoán được coi là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm của thị trường chứng khoán Việt Nam trong một thời gian khá dài

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu pháp luật về hoạt động cho vay chứng khoán của ngân hàng thương mại ở Việt Nam nhằm phân tích những điểm hợp lý cũng như những bất cập của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực này và đưa ra những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật là một vấn đề cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài này ở Việt Nam

Liên quan đến đề tài này, hiện có một số công trình nghiên cứu sau đây:

Trang 8

- TS Lê Thị Thu Thủy (2002), Pháp luật về cầm cố tài sản vay vốn ngân

hàng, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (số 11);

- TS Lê Thị Thu Thủy (2004), Tài sản cầm cố vay vốn ngân hàng, Tạp

chí khoa học pháp lý (số 4);

- PGS.TS Trần Ngọc Thơ (2007), Chỉ thị 03 làm cho thị trường chứng

khoán ảm đạm - Báo điện tử laodong.com.vn ngày 5/7;

- Nguyễn Hà (2007), Khống chế cho vay chứng khoán – Cú sốc mang tên

hành chính, báo điện tử vietnamnet vn ngày 12/9;

- ThS Nguyễn Thị Anh Đào (2009), Sự tham gia của các ngân hàng

thương mại cổ phần vào thị trường chứng khoán Việt Nam – Đề tài cấp trường -

Đại học Quốc gia Hà Nội

Những công trình nghiên cứu, bài viết trên chỉ đề cập đến một vài khía cạnh của hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán chứ không phải là những công trình nghiên cứu khoa học mang tính hệ thống Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu pháp luật chuyên sâu và mang tính tổng thể về vấn đề này Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này một mặt đảm bảo tính cấp thiết, mặt khác đảm bảo tính mới cho một luận văn khoa học

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt

động cho vay đầu tư chứng khoán của NHTM , có đối chiếu với pháp luật nước ngoài; trên cơ sở đó , đề tài phân tích những bất cập , hạn chế của pháp luật hiện hành và đề xuất phương hướng h oàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM ở Việt Nam

4 Mục đích nghiên cứu

Trang 9

Đề tài có mục đích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn pháp luật về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay và đưa ra những kiến giải khoa học về vấn đề này

5 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận của đề tài là phép biện chứng duy vật Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài bao gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, lịch sử, xã hội học v.v…

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại;

- Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động cho vay đầu tư chứng

khoán của ngân hàng thương mại ở Việt Nam;

- Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại

ở Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay của NHTM

Cho vay là hoạt động phổ biến trong đời sống thương mại Một số tài liệu

có định nghĩa về khái niệm “cho vay” nhưng giữa các tài liệu, nội hàm của khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau

Từ điển Bách khoa toàn thư định nghĩa: “cho vay là sự chuyển vốn dưới

hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức hoặc cá nhân (gọi chung là chủ nợ hay người cho vay) cho một tổ chức hoặc cá nhân (gọi chung là con nợ hay người đi vay) sử dụng trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả vốn

và phải trả thêm một khoản lãi gọi là lợi tức” [25]

Định nghĩa này chưa hoàn toàn chính xác khi cho rằng hoạt động cho vay luôn có yếu tố lãi suất Trên thực tế , lãi suất chỉ áp dụng trong đa số chứ không phải trong tất cả các trường hợp cho vay , ví dụ như trong hoạt động cho vay giữa các cá nhân thì có thể không có lãi suất

Theo từ điển Wikipedia, khái niệm “cho vay” được đồng nhất với khái

niệm “tín dụng” Từ điển này định nghĩa: “Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc

một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ” [29]

Đây cũng là định nghĩa chưa chính xác, bởi lẽ nội hàm của khái niệm “cho vay” hẹp hơn so với nội hàm của khái niệm “tín dụng” Theo khoản 14 – Điều 4

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ

chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản

Trang 11

tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”

Như vậy, cho vay chỉ là một nghiệp vụ của hoạt động cấp tín dụng nên không thể đồng nhất khái niệm “cho vay” với khái niệm “tín dụng”

Khoản 16 – Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa: “ Cho vay

là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”

Với việc xác định tài sản cho vay là “một khoản tiền” thì định nghĩa này chỉ thích hợp với hoạt động cho vay của NHTM Đối với hoạt động cho vay ngoài ngân hàng thì ngoài việc cho vay tiền , các chủ thể còn có thể cho vay bằng các tài sản khác

Theo tôi, khái niệm “cho vay” có thể được định nghĩa như sau : Cho vay là

việc một bên (gọi là bên cho vay hay chủ nợ ) chuyển nhượng quyền sở hữu một khoản tiền hoặc tài sản khác cho bên kia (gọi là bên đi vay hay con nợ) trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (nếu có)

Hoạt động cho vay của NHTM có những đặc thù nhất định Để có thể đưa

ra khái niệm chính xác về hoạt động này , chúng ta cần xem xét các đặc điểm của hoạt động cho vay của NHTM Theo tôi, hoạt động này có những đặc điểm cơ bản sau:

- Về chủ thể : chủ thể của hoạt động cho vay thường bao gồm hai bên là bên cho vay (là các NHTM ) và bên đi vay (là các tổ chức , cá nhân có nhu cầu vay vốn) Trong một số trường hợp, có thể có sự tham gia của bên thứ ba , ví dụ như bên bảo lãnh

- Về tài sản cho vay : tài sản cho vay là một khoản tiền , số tiền vay nhiều hay ít là do thỏa thuận giữa NHTM với khách hàng căn cứ vào nhu cầu củ a các

Trang 12

bên, khả năng cho vay của NHTM , khả năng trả nợ của khách hàng và quy định của pháp luật Đây là sự khác biệt giữa hoạt động cho vay của NHTM so với các hoạt động cho vay khác , đối với các hoạt động cho vay khác thì tài sản cho vay không nhất thiết là một khoản tiền mà có thể là một tài sản khác

- Về lãi suất : NHTM là một chủ thể kinh doanh hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, vì thế, khi cho vay , NHTM luôn yêu cầu bên đi vay phải trả l ãi suất cho khoản tiền vay Mức lãi suất do các bên thỏa thuận căn cứ vào quy định của pháp luật tại thời điểm cho vay Đây là một sự khác biệt nữa giữa hoạt động cho vay của NHTM với các hoạt động cho vay ngoài ngân hàng , hoạt động cho vay ngoài ngân hàng có thể có lãi suất hoặc không

- Về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng : để bảo đảm an toàn cho hoạt động của mình , khi cho khách hàng vay tiền , các NHTM thường yêu cầu khách hàng phả i thực hiện các biện pháp bảo đảm việc trả lại tiền vay Trong đó , phổ biến nhất là biện pháp cầm cố , thế chấp và bảo lãnh , ngoài ra , trong một số ít trường hợp thì biện pháp tín chấp cũng có thể được áp dụng Trong khi đó , đối với các hoạt động cho vay ngoài ngân hàng thì không nhất thiết phải có các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng

Với những đặc điểm đã phân tích ở trên , có thể đưa ra khái niệm về hoạt

động cho vay của NHT M như sau: Hoạt động cho vay của NHTM là hoạt động

mà trong đó, bên cho vay là các NHTM chuyển nhượng quyền sở hữu một khoản tiền cho bên đi vay trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

1.2 Phân loại cho vay của NHTM

Hoạt động cho vay của NHTM khá đa dạng Việc phân loại cho vay của NHTM có thể căn cứ vào các tiêu chí như phương thức, mục đích, thời hạn cho vay… Cụ thể như sau:

Trang 13

- Căn cứ vào phương thức cho vay

Theo Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hà ng (Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ), tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng vay việc áp dụng các phương thức cho vay , bao gồm:

+ Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định

và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định

+ Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống

+ Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một

dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác + Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định

Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng

+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy

Trang 14

rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

+ Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm

- Căn cứ vào thời hạn cho vay:

Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng Thời hạn cho vay được chia làm nhiều mức :

+ Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng; + Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng;

+ Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên

- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay

Mặc dù mục đích sử dụng vốn vay rất đa dạng nhưng có thể chia làm hai loại cơ bản :

+ Vay tiền để kinh doanh : Chủ thể vay vốn là các doanh nghiệp , nhà đầu

tư, họ vay tiền để phục vụ cho hoạt động kinh doanh Đây là một hành vi thương mại vì mục tiêu lợi nhuận Để có thể vay tiền của NHTM , họ phải đưa ra phương

Trang 15

án kinh doanh cụ thể để các ngân hàng thẩm định Ngân hàng chỉ cho vay nếu họ thấy rằng , phương án kinh doanh của khách hàng là khả thi Trường hợp ngược lại, ngân hàng sẽ từ chối cho vay

+ Vay tiền để tiêu dùng : Chủ thể vay tiêu dùng chủ yếu là các hộ gia đình

và các cá nhân Họ vay tiền không vì mục đích kinh doanh mà vì mục đích tiêu dùng như mua nhà ở , mua xe ô tô, đi du học…

Trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường , để thu hút khách hàng, các ngân hàng luôn nghiên cứu để đưa ra các sản phẩm tín dụng cụ thể phù hợp với từng đối tượng khách hàng Việc kết hợp các phương thức , mục đích , thời hạn vay tiền bằng nhiều cách khác nhau sẽ cho ra đời những sản phẩm tín dụng khác nhau

1.3 Khái niệm , đặc điểm của hoạt động cho vay đầu tƣ chứng khoán của NHTM

1.3.1 Khái niệm về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của NHTM

Hiện nay chưa có một định nghĩa riêng về hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM Căn cứ vào khái niệm “cho vay” và các đặc điểm của hoạt động cho vay ĐTCK, có thể đưa ra định nghĩa về hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM như sau:

Cho vay đầu tư chứng khoán là một hoạt động tín dụng , theo đó , các NHTM chuyển nhượng quyền sở hữu một khoản tiền cho các nhà ĐTCK với mục đích đầu tư chứng khoán trong một thời hạn nhất định trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

Để tránh nhầm lẫn, cần phân biệt hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM với nghiệp vụ repo CK, cho vay CK và giao dịch mua CK ký quỹ của các công

ty CK

Trang 16

- Repo CK (repurchase order) là giao dịch mua hoặc bán lại chứng khoán

có kỳ hạn được sử dụng trên thị trường tài chính Đây là loại hình giao dịch mà nhà đầu tư có thể mua và bán CK của chính mình trong một khoảng thời gian thỏa thuận nhất định với công ty CK Hiểu một cách đơn giản, giao dịch repo là việc nhà đầu tư đi vay tiền và dùng CK để thế chấp

Việc Repo CK được thực hiện như sau: Nếu nhà đầu tư có cổ phiếu chưa được niêm yết trên sàn và đang cần tiền thì có thể mang đến công ty CK để repo

Cổ phiếu mang đi repo phải có tên trong danh sách cổ phiếu mà công ty CK chấp nhận repo Nếu cổ phiếu của nhà đầu tư được chấp nhận thì công ty sẽ làm một hợp đồng có thời hạn 3 tháng, 6 tháng, hoặc một năm, đồng thời nhà đầu tư phải làm giấy chuyển nhượng cổ phiếu này sang tên công ty CK theo đúng thời hạn ghi trên hợp đồng Điều này có nghĩa là nhà đầu tư sẽ bán số cổ phiếu cho công

ty CK trong thời hạn đó Khi hết hạn, nhà đầu tư mang tiền đến thanh lý hợp đồng, công ty CK sẽ làm giấy chuyển nhượng sang tên lại cho nhà đầu tư Nhà đầu tư phải trả lại số tiền bằng giá công ty mua ban đầu cộng với lãi suất cho vay tùy theo thời hạn repo [30]

- Cho vay CK của CTCK - hay còn gọi là bán khống (short sales) - là một nghiệp vụ do các công ty CK thực hiện Theo đó, nhà đầu tư vay CK của công

ty CK để bán Sau một thời gian, khách hàng sẽ phải mua loại CK đã vay trên TTCK để trả lại cho công ty CK

Khi thực hiện giao dịch này, nhà đầu tư mong đợi giá sẽ giảm trong tương lai, khi đó họ sẽ mua được chứng khoán với giá thấp hơn và trả cho công ty CK Khoản chênh lệch là lợi nhuận của nhà đầu tư, song nếu CK tăng giá thì sẽ bị lỗ Bán khống có thể gây ra tình trạng giảm giá CK trong ngắn hạn và tăng giá trong dài hạn Vì khi đến hạn, nhà đầu tư phải mua CK để hoàn trả số chứng khoán đã bán khống trước đó [27]

Trang 17

Trên thế giới, việc bán khống chứng khoán được thực hiện khá phổ biến ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển Ở Việt Nam hiện nay , các công

ty chứng khoán chưa được phép thực hiện nghiệp vụ này do chưa có văn bản quy định cụ thể

- Mua ký quỹ (margin purchase ) là một nghiệp vụ của giao dịch ký quỹ (margin trading ) Theo đó , khi mua chứng khoán , nhà đầu tư chỉ cần có một phần tiền trong tổng giá trị số chứng khoán đặt mua, phần còn lại do công ty chứng khoán cho vay Sau khi giao dịch được thực hiện, số chứng khoán đã mua được công ty chứng khoán giữ lại làm tài sản thế chấp cho khoản vay Khi nhà đầu tư có nhu cầu bán chứng khoán , công ty chứng khoán sẽ thực hiện lệnh bán chứng khoán và thu về phần vốn đã cho nhà đầu tư vay gồm cả gốc lẫn lãi Nhà đầu tư tiến hành giao dịch mua ký quỹ trong trường hợp họ kỳ vọng giá chứng khoán sẽ tăng lên trong tương lai [26]

Ở Việt Nam , các công ty CK đã cho nhà đầu tư CK mua ký quỹ t ừ khá lâu, cho dù nhà nước chưa có văn bản quy định cụ thể về nghiệp vụ này Ngày 1 tháng 6 năm 2011, Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 74/2011/TT-BTC

hướng dẫn về giao dịch chứng khoán , trong đó có quy định : “Công ty chứng

khoán được thực hiện giao dịch ký quỹ sau khi đã báo cáo với UBCKNN”

Nhưng hiện tại , chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về nghiệp vụ này Ủy ban Chứng khoán đã công bố dự thảo quy chế hướng dẫn thực hiện giao dịch mua ký quỹ chứng khoán và sẽ chính thức ban hành quy chế này trong một tương lai không xa

Sự khác biệt giữa hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại với các hoạt động Repo chứng khoán , cho vay chứng khoán và giao dịch mua ký quỹ chứng khoán thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây :

Trang 18

Do các công ty

CK thực hiện

2 Mục đích

Để đầu tư CK

Sử dụng tiền bán CK để đầu

tư CK hoặc vì

mục đích khác

Để đầu tư

CK Để đầu tư CK

3 Thời hạn

Hiện tại, các NHTM chỉ cho vay ngắn hạn (tối đa là 1 năm)

Ngắn hạn (tối

đa là 1 năm)

Chưa có quy định

Chưa có quy định (theo dự kiến của UBCK thì thời hạn tối đa là 6 tháng)

4 Tài sản

bảo đảm

Các loại chứng khoán, giấy tờ

có giá hoặc các tài sản khác

Các loại CK chưa niêm yết

Các loại CK đã niêm yết Các loại CK đã

Trả nợ vay (tiền vay) Bảng so sánh trên cho thấy , mặc dù có nhiều nét tương đồng , nhưng hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM cũng có nhiều đặc đi ểm khác biệt , giúp phân

Trang 19

biệt nó với các hoạt động repo CK , cho vay CK và mua ký quỹ của các công ty

CK

1.3.2 Những đặc điểm của hoạt động cho vay ĐTCK

Ở Việt Nam, cho vay ĐTCK là một hoạt động tín dụng bình thường của các NHTM Hoạt động này có những đặc điểm cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, về đối tượng của hợp đồng : Đối tượng của hợp đồng cho vay

ĐTCK là một khoản tiền Số tiền vay phụ thuộc vào số lượng CK , giá trị CK mà nhà đầu tư muốn mua trên TTCK

- Thứ hai, về mục đích vay tiền: Khi đưa ra một sản phẩm tín dụng, các

NHTM luôn hướng tới một nhóm đối tượng khách hàng nào đó và gắn với mục đích nhất định trong việc sử dụng tiền vay Đối với hoạt động cho vay ĐTCK, nhà đầu tư chỉ được sử dụng tiền vay để mua CK Tất nhiên, các nhà đầu tư cũng

có thể cầm cố CK để vay tiền của NHTM và sử dụng vào các mục đích khác, nhưng hoạt động đó không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này

- Thứ ba, về tài sản bảo đảm tiền vay: Để đảm bảo an toàn cho hoạt động

của mình, trong đa số trường hợp, các NHTM đều yêu cầu khách hàng khi vay tiền thì phải có tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ Cho vay ĐTCK là hoạt động chứa đựng rủi ro cao nên tất cả các NHTM đều yêu cầu khách hàng phải

có tài sản bảo đảm tiền vay Tài sản bảo đảm tiền vay có thể là các loại CK, giấy

tờ có giá hoặc các tài sản khác

- Thứ tư, về lãi suất: Cho vay ĐTCK luôn luôn có lãi suất Đây là một

hành vi thương mại, người đi vay và người cho vay đều vì mục tiêu lợi nhuận, vì thế, khi vay tiền đầu tư CK, các nhà đầu tư phải trả một khoản lãi suất cho ngân hàng Trong hầu hết các trường hợp, các NHTM không dành bất kỳ một sự ưu đãi đáng kể nào về lãi suất cho các nhà đầu tư CK Thậm chí, lãi suất cho vay ĐTCK còn cao hơn so với mặt bằng lãi suất cho vay trong các lĩnh vực khác

Trang 20

- Thứ năm, về hạn mức cho vay: Do giá cả của các loại CK, đặc biệt là các

cổ phiếu công ty và chứng chỉ quỹ thường xuyên biến động, có thể giảm giá khá nhanh, khi tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ là các loại CK thì để hạn chế rủi ro, các NHTM thường chỉ cho vay thấp hơn thị giá của các loại CK được mang ra cầm cố Mỗi NHTM có một quy định về giới hạn cho vay tối đa khác nhau Vào những năm 2006 - 2007 - thời kỳ bùng nổ của TTCK và cũng là thời kì hoàng kim của hoạt động cho vay ĐTCK - có NHTM cho vay tới 60% thị giá của loại

CK thế chấp Trong thời điểm hiện tại , tỷ lệ này chỉ còn khoảng 30% đến 40%

- Thứ sáu, về thời hạn cho vay: Cũng vì lý do TTCK thường biến động,

giá các loại CK có thể thay đổi trong một thời gian ngắn, vì vậy, các NHTM không cho vay trung , dài hạn đối với các khoản vay ĐTCK Hiện nay , các NHTM thường cho vay với thời hạn tối đa là 12 tháng Thời hạn cho vay như vậy là tương đối ngắn , chỉ thích hợp với các nhà đầu tư thích “lướt sóng” , theo đó, họ chỉ nắm giữ CK trong một thời gian ngắn rồi sẽ bán đi khi đạt được lợi nhuận kỳ vọng Đối với những nhà đầu tư dài hạn , việc đi vay tiền của NHTM

để đầu tư CK không phải là một giải pháp tối ưu

1.4 Vai trò của hoạt động cho vay ĐTCK

Cho vay ĐTCK là một nghiệp vụ được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước Ở những quốc gia có thị trường tài chính phát triển, đây là nghiệp vụ không thể thiếu Hoạt động này đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của TTCK, tuy nhiên, hoạt động này cũng chứa đựng nhiều rủi ro mà nếu không không có các biện pháp dự phòng thì nó có thể ảnh hưởng tiêu cực tới TTCK và nền kinh tế đất nước Vai trò của hoạt động cho vay ĐTCK thể hiện trên một số phương diện sau:

- Đối với TTCK: Việc NHTM cho các nhà đầu tư vay tiền để ĐTCK đã góp phần tăng tính thanh khoản cho thị trường và giúp thị trường tăng trưởng

Trang 21

Hoạt động cho vay ĐTCK đặc biệt quan trọng đối với thị trường sơ cấp Khi các doanh nghiệp chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO) hoặc phát hành thêm chứng khoán để thu hút vốn thì chính các nhà đầu tư CK là người mua các loại chứng khoán đó Trong khi vốn tự có của các nhà đầu tư là hữu hạn, nếu không được hỗ trợ bởi nguồn vốn vay từ các NHTM, các nhà đầu tư khó có khả năng hấp thụ được hết các loại CK do doanh nghiệp phát hành Khi

đó, việc phát hành CK của các doanh nghiệp có nguy cơ bị thất bại Thực tế TTCK Việt Nam cho thấy, vào những thời điểm thị trường được hỗ trợ bởi các đòn bẩy tài chính (chủ yếu là cho vay đầu tư chứng khoán) thì thị trường tăng trưởng mạnh và ngược lại, mỗi khi NHNN đưa ra các quy định hạn chế cho vay ĐTCK thì đều làm thị trường mất điểm, thanh khoản giảm sút Vì thế, ở một khía cạnh nhất định, có thể nói rằng hoạt động cho vay ĐTCK có vai trò kích thích TTCK phát triển

- Đối với các NHTM : Là một chủ thể kinh doanh , các NHTM sẵn sàng

“mở hầu bao” cho khách hàng vay tiền nếu như họ thấy rằng việc cho vay là

tương đối an toàn và mang lại lợi nhuận Hoạt động cho vay ĐTCK có thể mang lại cho các NHTM một khoản lợi nhuận đáng kể Trên thực tế, lãi suất cho vay ĐTCK thường cao hơn so với lãi suất cho vay trong các lĩnh vực khác nên các NHTM cũng mong muốn được thực hiện nghiệp vụ này

- Đối với các nhà đầu tư: Khi tham gia vào TTCK, họ kỳ vọng sẽ thu được lợi nhuận Một số nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư cá nhân, có nhiều hạn chế về năng lực tài chính Với mong muốn tối đa hóa lợi nhuận, các nhà đầu tư sẵn sàng

sử dụng các đòn bẩy tài chính, trong đó có nghiệp vụ repo, mua ký quỹ, bán khống chứng khoán và phổ biến nhất là đi vay tiền để ĐTCK Vào những năm

2006 – 2007, rất nhiều nhà đầu tư vay tiền để ĐTCK và thu được nhiều lợi nhuận Mặc dù sau đó có một số nhà đầu tư bị phá sản do TTCK suy giảm trong

Trang 22

một thời gian dài, nhưng nhìn chung, các nhà đầu tư vẫn rất cần đến sự hỗ trợ tài chính của các NHTM

Vai trò tích cực của hoạt động cho vay ĐTCK ở các NHTM đối với sự phát triển của TTCK là không thể phủ nhận, tuy nhiên, nếu để hoạt động này phát triển một cách tự do không có kiểm soát thì nó có thể dẫn đến một số tác động tiêu cực, đó là:

- Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát Khi các NHTM và các nhà đầu tư chạy theo lợi nhuận trước mắt , hoạt động vay và cho vay ĐTCK diễn ra một cách thái quá dẫn tới TTCK phát triển nóng Từ đó, hệ thống doanh nghiệp và các ngân hàng dễ dàng huy động được vốn dẫn tới nhu cầu đầu tư và tiêu dùng tăng đột biến , lượng tiền mặt cung cấp ra thị trường nhiều hơn nhu cầu của nền kinh tế sẽ làm lạm phát tăng cao Tỷ lệ lạm phát cao

ở nước ta trong những năm gần đâ y chính là hệ quả tất yếu của tình trạng cấp tín dụng dễ dãi của các ngân hàng trong thời gian trước đó

- Hoạt động cho vay ĐTCK có thể gây ra những rủi ro làm cho TTCK bất

ổn định và phát triển thiếu bền vững Thời điểm năm 2006, 2007, nhiều nhà đầu

tư chạy theo phong trào mang tài sản đi cầm cố, thế chấp vay tiền của NHTM để ĐTCK gây ra tình trạng “bong bóng chứng khoán”, giá các loại cổ phiếu công ty

bị đẩy lên quá cao so với giá trị thực tế Khi NHNN ban hành chính sách hạn chế cho vay ĐTCK, cộng với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới đã làm cho TTCK Việt Nam giảm sâu, các loại cổ phiếu mất giá thảm hại (có loại giảm giá đến hơn 10 lần như mã SSI của Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn, mã S99 của Công ty cổ phần Sông Đà 909 ) Hệ quả là nhiều nhà đầu tư bị phá sản,

tỷ lệ nợ xấu của NHTM gia tăng gây áp lực đối với nền kinh tế vĩ mô

Giống như bất kỳ một hành vi thương mại nào, hoạt động cho vay ĐTCK luôn mang tính hai mặt Vấn đề đặt ra cho nhà nước là phải ban hành chính sách

Trang 23

phù hợp để phát huy tối đa những tác động tích cực, hạn chế tối thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động cho vay ĐTCK đối với sự phát triển của TTCK

1.5 Các nguyên tắc của hoạt động cho vay ĐTCK

Với tính chất là một hoạt động tín dụng của các NHTM, hoạt động cho vay ĐTCK phải dựa trên các nguyên tắc chung của tín dụng ngân hàng Ngoài

ra, do có những đặc thù nhất định, hoạt động cho vay ĐTCK cũng có những nguyên tắc riêng, đó là:

- Nguyên tắc hoàn trả tiền vay (cả gốc và lãi) đúng hạn:

Đây là nguyên tắc hàng đầu và quan trọng nhất của tín dụng ngân hàng nói chung và cho vay ĐTCK nói riêng

Nội dung của nguyên tắc này là: Khi đến hạn trả nợ, nhà đầu tư phải hoàn trả cho ngân hàng đầy đủ số tiền đã vay để ĐTCK và cả tiền lãi phát sinh

Việc tuân thủ đúng nguyên tắc này có một ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi

lẽ, chỉ khi thu hồi được nợ gốc và tiền lãi của khách hàng thì ngân hàng mới có thể bảo toàn và phát triển vốn, duy trì được tính thanh khoản để tiếp tục hoạt động bình thường Nếu các khoản nợ không thu hồi được chiếm tỷ lệ lớn, ngân hàng có thể bị mất thanh khoản và rơi vào phá sản

- Nguyên tắc vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả:

Đối với các nhà đầu tư vay vốn để ĐTCK, họ phải dùng số tiền vay của các NHTM để ĐTCK chứ không được sử dụng vào mục đích khác Trong trường hợp các nhà đầu tư cầm cố cổ phiếu để vay tiền của NHTM vì một mục đích khác thì đó không phải là hoạt động cho vay ĐTCK

Trên thực tế, không phải lúc nào ngân hàng cũng kiểm soát được khách hàng trong việc sử dụng vốn vay có đúng mục đích hay không Nhiều người thế chấp tài sản để vay tiền của NHTM với mục đích (ghi trong hồ sơ vay vốn) là vay tiêu dùng hoặc vay để sản xuất, kinh doanh, nhưng sau đó lại dùng số tiền đã

Trang 24

vay để ĐTCK Như đã phân tích ở phần 1.1.4, những hành vi đó bị coi là vi phạm hợp đồng tín dụng

Việc sử dụng vốn vay để ĐTCK phải đảm bảo tính hiệu quả Tính hiệu quả của hoạt động ĐTCK phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của công ty mà nhà đầu tư nắm giữ CK Nhà đầu tư nên mua cổ phiếu của các công ty có kết quả kinh doanh tốt, hệ số an toàn cao

Việc sử dụng vốn vay có hiệu quả một mặt giúp nhà đầu tư bảo toàn và phát triển vốn, mặt khác, giúp ngân hàng có thể thu hồi nợ để bảo đảm an toàn cho hoạt động của mình

- Nguyên tắc cho vay có tài sản bảo đảm:

Hoạt động cho vay ĐTCK được coi là “nghiệp vụ chứa đựng rủi ro cao trong số các nghiệp vụ chứa đựng rủi ro” của các NHTM Khi cho khách hàng vay tiền, ngân hàng đã chuyển giao quyền sở hữu số tiền đó cho khách hàng Việc khách hàng có hoàn trả tiền gốc và lãi cho ngân hàng hay không phần lớn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan và khả năng tài chính chủa khách hàng Trong khi đó, hoạt động của các NHTM lại đòi hỏi sự an toàn cao, bởi vì đây là một tổ chức trung gian chuyên “đi vay để cho vay”, nếu NHTM bị phá sản những người gửi tiền sẽ bị mất tiền gửi và có thể gây ra phản ứng dây chuyền rất nguy hiểm đối với nền kinh tế Vì thế, trong phần lớn các trường hợp, các NHTM đều yêu cầu khách hàng phải áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh

Trước kia, mặc dù NHNN không quy định cho vay ĐTCK phải có tài sản đảm bảo nhưng tất cả các NHTM đều yêu cầu khách hàng muốn vay tiền ĐTCK thì phải có tài sản đảm bảo Khi Quyết định số 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/1/2007 của NHNN sửa đổi, bổ sung Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 và sau đó là Thông tư 13 ra đời, NHNN đã chính thức yêu cầu

Trang 25

các NHTM không được cho vay không có bảo đảm đối với các khoản cho vay ĐTCK

Ba nguyên tắc nêu trên có vị trí, vai trò khác nhau đòi hỏi các chủ thể của hoạt động cho vay ĐTCK phải tuân thủ đầy đủ Thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc này sẽ góp phần bảo vệ lợi ích của các NHTM, các nhà đầu tư và của toàn xã hội

1.6 Nội dung pháp luật về hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM

Pháp luật về ho ạt động cho vay ĐTCK của NHTM là một bộ phận của pháp luật về tín dụng ngân hàng điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý và hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM Những mối quan hệ này bao gồm quan hệ quả n lý nhà nước (trong đó chủ yếu là quan hệ giữa NHNN và các NHTM ), quan hệ giữa NHTM và khách hàng vay vốn để ĐTCK Pháp luật về cho vay ĐTCK của NHTM bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh về chủ thể , điểu kiện, trình tự thủ tục cho vay ; về hợp đồng tín dụng , mục đích và giới hạn cho vay , các biện pháp bảo đảm trong hơạt động cho vay ĐTCK Các quy phạm pháp luật này phần lớn là các quy phạm trao quyền nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tiếp cận nguồn vốn tín dụng để đầu tư vào CK , trên cơ sở đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của TTCK

TTCK Việt Nam ra đời từ năm 2000 nhưng hoạt động cho vay ĐTCK của các NHTM chỉ được triển khai vào cuối năm 2005 và phát triển mạnh mẽ vào những năm 2006, 2007 Từ đó đến nay, các cơ quan Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh hoạt động cho vay ĐTCK Dưới đây là một số văn bản trực tiếp điều chỉnh hoạt động này:

- Điểm 3 văn bản số 20/TB-VPCP ngày 29/1/2007 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và giám

Trang 26

sát hoạt động của TTCK có nêu: NHNN chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK), chủ động ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định và chỉ đạo, giám sát hoạt động của các NHTM trong hoạt động repo, huy động, cho vay, cầm cố để đầu tư chứng khoán

- Điểm 5 Thông báo số 51/TB-VPCP ngày 20/3/2007 của Văn phòng Chính phủ về ý kiến kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với UBCK có nêu: NHNN có trách nhiệm kiểm soát cho được các hoạt động của các NHTM có ảnh hưởng đến TTCK, đặc biệt là kiểm soát đối với việc sử dụng nguồn vốn ngân hàng để đầu tư chứng khoán cũng như hoạt động cho vay cầm

cố

- Công văn số 7318/NHNN-CSTT ngày 25/8/2006 của NHNN chỉ đạo các TCTD thực hiện một số biện pháp để kiểm soát việc cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở mức hạn chế và đảm bảo an toàn, như: (i) Các NHTM cổ phần thực hiện việc công khai báo cáo tài chính theo quy định của Thống đốc NHNN; (ii) Thực hiện các giải pháp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng; (iii) Tổ chức bộ phận chuyên trách về cho vay mua cổ phiếu tại Hội sở chính, theo dõi hàng ngày diễn biến giá cổ phiếu để dự báo và đánh giá rủi ro thị trường, trên cơ

sở đó có biện pháp thu hồi đúng hạn các khoản cho vay; (iv) Chấp hành nghiêm túc các quy định của Luật Các TCTD về việc không được cho vay trên cơ sở cầm cố bằng cổ phiếu do chính TCTD phát hành; (v) Có các biện pháp kiểm tra, giám sát, phòng ngừa rủi ro vốn cho vay, quy định cụ thể về giới hạn mức cho vay đối với một khách hàng, giới hạn khối lượng vốn cho vay mua cổ phiếu ở mức độ thấp so với vốn điều lệ và tổng dư nợ cho vay, áp dụng loại cho vay ngắn hạn; (vi) Việc cho vay mua cổ phiếu chưa được niêm yết cần được hạn chế

và chỉ cho vay khi có khả năng kiểm soát được rủi ro tín dụng …

Trang 27

- Quyết định số 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/1/2007 của NHNN sửa đổi,

bổ sung Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 quy định các TCTD không được cấp tín dụng cho các doanh nghiệp thuộc quyền kiểm soát hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, không được cho vay không

có bảo đảm đối với các khoản vay nhằm đầu tư, kinh doanh chứng khoán Các TCTD phải nâng hệ số rủi ro lên mức 150% đối với các khoản cho vay để đầu tư chứng khoán, các khoản cho vay đối với CTCK nhằm kinh doanh, mua bán chứng khoán

- Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của NHNN sửa đổi,

bổ sung Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 quy định hạ thấp giới hạn tối đa thị giá chứng khoán được xác định khi loại trừ dư nợ trích lập dự phòng rủi ro, qua đó nâng mức trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản tín dụng

có bảo đảm bằng chứng khoán

- Chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN ngày 28/5/2007 của NNHH về kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán nhằm kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công văn số 7021/NHNN-CSTT ngày 28/6/2007 về việc thực hiện điểm a khoản 1.3 mục 1 Chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN Theo đó, Thống đốc NHNN yêu cầu các TCTD: từ ngày1/7/2007 (ngày Chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN có hiệu lực thi hành), các TCTD thực hiện việc khống chế tỷ lệ dư nợ vốn cho vay và chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán so với tổng dư nợ tín dụng của TCTD ở mức dưới 3%; đối với các TCTD có tỷ lệ dư nợ vốn cho vay và chiết khấu giấy

tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán so với tổng dư nợ tín dụng của TCTD ở mức từ 3% trở lên, thì thực hiện việc thu hồi nợ và giảm dư nợ, chậm nhất đến ngày 31/12/2007 phải đảm bảo tỷ lệ theo quy định

Trang 28

- Quyết định số 03/2008/QĐ-NHHH ngày 01 tháng 02 năm 2008 của

Thống đốc NHNN về việc cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh CK Theo quy định tại khoản 2- điều 5 của Quyết định này, tổng dư nợ cho vay, đầu tư kinh doanh CK không vượt quá 20% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng

Thoạt tiên, có ý kiến cho rằng, NHNN đã nới lỏng quy định về hạn mức cho vay ĐTCK nhưng thực chất thì không phải như vậy Việc Ngân hàng Nhà nước sửa đổi nội dung Chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN, đổi hạn mức cho vay kinh doanh chứng khoán từ 3% tổng dư nợ cho vay thành 20% vốn điều lệ của ngân hàng đã làm giảm nguồn cung tiền dành cho việc cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán Theo quy định mới thì số tiền dành cho vay kinh doanh chứng khoán sẽ ít hơn Bởi vì, nếu tính bình quân vốn điều lệ của một NHTM là 2.000

tỷ đồng thì số tiền tối đa mà mỗi NHTM có thể sử dụng để cho vay ĐTCK theo quy định của Quyết định 03 là 400 tỷ đồng Trong khi đó, dư nợ tín dụng bình quân ở các NHTM là khoảng 20.000 tỷ đồng, do đó, nếu tính theo quy định ở Chỉ thị 03 thì số tiền tối đa có thể cho vay ĐTCK lên tới 600 tỷ đồng Sự khác biệt giữa nội dung cũ của Chỉ thị 03 và nội dung mới của Quyết định 03 là khoảng 7.500 tỷ đồng, theo ước tính của công ty CK VinaSecurities dựa trên số liệu của các ngân hàng thu thập được, nhưng nếu tính cả các ngân hàng mới thành lập thì mức chênh lệch này chỉ khoảng 4.400 tỷ đồng [5]

Tuy nhiên , nếu xét về lâu dài thì quy định mới của Quyết định số

03/2008/QĐ-NHHH sẽ tốt hơn cho thị trường bởi trong thời gian tới các ngân hàng sẽ tăng vốn điều lệ nhanh hơn mức tăng dư nợ cho vay Điều này cho phép nguồn cung tiền dành cho cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán theo nội dung quy định mới tăng nhanh hơn so với quy định cũ

Trang 29

Một điểm mới ở Quyết định 03 là đã liệt kê các loại chứng khoán bao gồm các loại chứng khoán quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán, kể cả cổ phiếu, trái phiếu của công ty đại chúng theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật Chứng khoán Tuy nhiên, Quyết định này vẫn không có sự phân biệt giữa trái phiếu của các công ty với trái phiếu kho bạc và trái phiếu chính phủ

- Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 quy định về tỷ lệ an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng Theo các khoản 7, 8, 9 - Điều 8 của Thông tư 03, các hạn chế đối với hoạt động cho vay ĐTCK bao gồm:

+ Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng cho công ty trực thuộc là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán

+ Tổ chức tín dụng không được cho vay không có bảo đảm để đầu tư, kinh doanh chứng khoán

+ Tổng dư nợ cho vay và chiết khấu giấy tờ có giá đối với tất cả khách hàng nhằm đầu tư, kinh doanh chứng khoán không vượt quá 20% vốn điều lệ của

tổ chức tín dụng

Như vậy, Thông tư 13 đã khẳng định lại nội dung của Quyết định số 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/1/2007 và Quyết định số 03/2008/QĐ-NHHH ngày 01/02/2008 của Thống đốc NHNN về việc các NHTM không được cho vay không có bảo đảm đối với các khoản vay nhằm đầu tư, kinh doanh CK, cũng như khống chế tổng dư nợ cho vay và chiết khấu giấy tờ có giá đối với tất cả khách hàng nhằm đầu tư, kinh doanh chứng khoán không vượt quá 20% vốn điều lệ của

tổ chức tín dụng

Bên cạnh đó, Thông tư 13 đã đưa thêm một hạn chế mới, đó là: tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng cho công ty trực thuộc là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh CK

Trang 30

Lý do khiến NHNN ban hành quy định mới này là để hạn chế tình trạng cấp tín dụng mang tính chất nội bộ giữa NHTM với các công ty CK trực thuộc,

vì thông thường, việc cho vay nội bộ như vậy là khá dễ dãi và có thể không đảm bảo các nguyên tắc an toàn Tuy nhiên, ngay khi Thông tư 13 được ban hành và chưa có hiệu lực thì nhiều nhà phân tích đã đưa ra được cách thức mà các NHTM có thể “lách luật”, đó là cách “cho vay chéo” Theo đó , Ngân hàng A không được cho vay đối với công ty chứng khoán trực thuộc của mình thì sẽ chuyển sang cho công ty chứng khoán của ngân hàng B vay Ngược lại ngân hàng B sẽ cho công ty chứng khoán của ngân hàng A vay

Trước đây với quy định ngân hàng không được cho vay đầu tư chứng khoán quá 20% vốn điều lệ, các ngân hàng hết hạn mức cũng đã sử dụng cách này để bơm vốn cho các công ty con Theo đó, ngân hàng “mẹ” gửi tiền tại ngân hàng nào đó để nhờ ngân hàng này cho công ty chứng khoán vay lại nhằm hợp thức hóa quy định của NHNN

Theo một số ngân hàng, quy định của ngân hàng Nhà nước là cần thiết và việc cho vay chéo giữa các ngân hàng cũng không có gì sai vì thông qua cho vay chéo, ngân hàng cho vay sẽ kiểm soát chặt chẽ hơn Dù sao cho người ngoài vay khác với cho “người nhà” vay

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1 của luận văn , tác giả đã trình bày các nội dung cơ bản sau:

- Khái niệm , đặc điểm, vai trò, nguyên tắc của hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM ở Việt Nam ; sự khác nhau giữa hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM và các hoạt động repo CK, mua ký quỹ và bán khống CK

- Các văn bản pháp luật đã ban hành điểu chỉnh hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY

ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT

NAM 2.1 Tổng quan về hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM ở Việt Nam

TTCK Việt Nam chính thức hoạt động vào năm 2000 Khi ấy, Việt Nam vẫn là một nước nghèo với thu nhập quốc dân vào khoảng 400USD/người/năm

Đa số các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, vốn điều lệ rất ít Nhìn chung, các doanh nghiệp, nhà đầu tư đều có nhu cầu huy động thêm vốn để kinh doanh TTCK ra đời đóng vai trò là một kênh thu hút vốn cho nền kinh tế Nếu như các công ty đại chúng niêm yết trên TTCK nhằm mục đích huy động vốn để mở rộng quy mô đầu tư, sản xuất thì các nhà đầu tư chứng khoán cũng mong muốn có thể huy động thêm vốn, ngoài nguồn vốn tự có để đầu tư vào TTCK nhằm kiếm được nhiều lợi nhuận hơn nữa

Hoạt động cho vay ĐTCK ở Việt Nam được các NHTM bắt đầu triển khai vào cuối năm 2005 Từ đó đến nay, hoạt động này đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển gắn liền với những thăng trầm của TTCK Việt Nam Có thể phân chia lịch sử của hoạt động cho vay ĐTCK của các NHTM làm hai giai đoạn chính:

- Giai đoạn từ 2005 – 2007: Đây là giai đoạn bùng nổ của TTCK, trong giai đoạn này, hoạt động cho vay ĐTCK có những đặc điểm cơ bản sau:

+ Nhiều nhà đầu tư đi vay tiền để ĐTCK Hầu như tất cả các công ty chứng khoán đều đi vay tiền ngân hàng để phục vụ cho việc kinh doanh chứng khoán, ngoài việc dành phần lớn khoản tín dụng cho nhà đầu tư, các CTCK cũng dùng một khoản tiền vay đáng kể để hoạt động tự doanh Bên cạnh đó, đa số các nhà đầu tư cá nhân trong nước cũng đi vay tiền để đầu tư chứng khoán dưới nhiều hình thức Trước tình hình đó, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, hầu hết

Trang 32

các NHTM đều cung cấp dịch vụ cho vay ĐTCK với những điều kiện, thủ tục cho vay khá dễ dàng

+ Hoạt động tín dụng đầu tư chứng khoán phát triển ở thị trường OTC, thị trường giao dịch tập trung và thị truờng đấu giá cổ phần các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá

Trong giai đoạn này có lẽ mọi nhà đầu tư đều tìm cách gia tăng các khoản tín dụng vì cứ có tiền là gặt hái được lợi nhuận dễ dàng mà ít người nghĩ tới

những tình huống nguy hiểm sẽ xảy ra Kết quả là dư nợ tín dụng chứng khoán không ngừng tăng lên Khi Ngân hàng nhà nước chưa ban hành Chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN thì cơ quan quản lý chưa nắm được tình hình dư nợ chứng khoán Tuy nhiên, theo ước lượng của Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) và một vài công ty CK thì có thời điểm dư nợ tín dụng CK lên tới 60.000 tỷ đồng [28]

Việc sử dụng đòn bẩy tài chính đã làm cho nhiều nhà đầu tư và một số công ty chứng khoán thu được khá nhiều lợi nhuận, nhất là trong các năm từ

2005, 2006, 2007, bởi vì khởi đầu cho giai đoạn này VN INDEX ở mức rất thấp, cộng với nhiều sự thay đổi có tính buớc ngoặt về chính sách cho môi trường đầu

họ cũng nhanh chóng bị mất đi, một số nhà đầu tư mới chưa có kinh nghiệm đã lâm vào hoàn cảnh tiền bán chứng khoán không đủ trả ngân hàng đã buộc phải bán nhà để trả nợ

Trang 33

- Cho vay ĐTCK trong giai đoạn hiện nay:

Sau thời kỳ hoàng kim của phong trào tín dụng đầu tư chứng khoán, việc cho vay đầu tư trở lại vào tháng 7/2008 khi tiến trình xử lý nợ vay kết thúc, đồng thời lạm phát đã được kiểm soát, đi cùng với TTCK phục hồi từ 360 điểm đến

570 điểm, tuy nhiên hoạt động cho vay chứng khoán nhanh chóng bị ngừng trệ

từ tháng 9/2008 do VN bắt đầu chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu

Sau quí 1/2009, TTCK đã xuống ở mức thấp và bắt đầu phục hồi đi lên thì hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán khởi động trở lại, tuy nhiên đã có nhiều đặc điểm khác biệt căn bản so với thời kỳ hoàng kim:

+ Các công ty chứng khoán đã cơ cấu lại nguồn vốn đầu tư theo hướng dành một tỷ trọng vốn đáng kể đầu tư vào trái phiếu hay dùng tiền mặt để chi tiêu hoạt động hay phục vụ hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán dưới nhiều hình thức, chỉ dành một khoản tiền tự có phục vụ cho công tác đầu tư tự doanh ngắn hạn và dài hạn;

+ Các tổ chức tín dụng, công ty tài chính, công ty chứng khoán đã có kinh nghiệm xương máu nên nhìn chung đều tính toán tăng giá trị tài sản cầm cố, lựa chọn danh mục cổ phiếu hay thời hạn cho vay Các NHTM không còn dễ dàng trong việc cho vay ĐTCK, các nhà đầu tư cũng không lao vào vay tiền để ĐTCK bằng mọi giá

Sau cuộc khủng hoảng, nhiều ý kiến cho rằng: hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM chứa đựng khá nhiều rủi ro, vì thế, nên cấm hẳn hoạt động này Trong một số dự thảo của Luật các tổ chức tín dụng mới, hoạt động cho vay ĐTCK được đưa vào các trường hợp không được cấp tín dụng (điều 126) Tuy nhiên, vẫn có nhiều ý kiến bảo vệ cho hoạt động này nên cuối cùng, trong Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2010, hoạt động cho

Trang 34

vay ĐTCK đã không được đưa vào danh sách các trường hợp không được cấp tín dụng

Hiện nay , hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM vẫn được tiến hành bình thường Tuy nhiên số tiền cho vay ĐTCK đã gi ảm nhiều so với thời kỳ đỉnh điểm ở năm 2007 Theo số liệu từ báo Đầu tư chứng khoán ngày 9/3/2011, tổng

dư nợ các loại tín dụng mà các NHTM cấp cho hoạt động đầu tư chứng khoán đến cuối năm 2010 ước khoảng gần 10.000 tỉ đồng

2.2 Thƣ̣c trạng các quy định pháp luật về hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM ở Việt Nam

2.2.1Về điều kiện cho vay đầu tư chứng khoán

- Điều kiện đối với bên cho vay (các NHTM)

Theo quy định ở Điều 2 – Quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN, NHTM chỉ được cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

+ Thứ nhất, Ban hành Quy định về nghiệp vụ cho vay, chiết khấu giấy tờ

có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán, trong đó có nội dung:

* Giới hạn mức cho vay, chiết khấu đối với một khách hàng;

* Giới hạn mức cho vay, chiết khấu đối với một nhóm khách hàng liên quan;

* Tỷ lệ dư nợ cho vay, chiết khấu so với tổng dư nợ tín dụng;

* Thời hạn cho vay tối đa, thời hạn chiết khấu có kỳ hạn tối đa;

* Tài sản bảo đảm tiền vay;

* Biện pháp để kiểm soát và phòng ngừa rủi ro tín dụng;

+ Thứ hai, gửi Quy định này cho Thanh tra Ngân hàng Nhà nước ngay

sau khi ban hành để làm cơ sở cho việc thanh tra, giám sát hoạt động cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán

Trang 35

+ Thứ ba, đảm bảo các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức

tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

+ Thứ tư, có tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ tín dụng dưới 5%

+ Thứ năm, thực hiện việc hạch toán, thống kê chính xác các khoản cho

vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán; gửi báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đúng thời hạn và theo đúng biểu mẫu quy định

Trong số năm điều kiện nói trên, có tới ba điều kiện (điều kiện thứ nhất , thứ hai và thứ năm ) chỉ mang tính thủ tục và ngân hàng nào cũng có thể đáp ứng Điều kiện thứ ba nhằm bảo đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng Điều kiện thứ tư có tác dụng phân biệt khả năng quản trị rủi ro giữa các ngân hàng và khuyến khích các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn 5% tổng dư nợ tín dụng Theo đó, NHNN cho phép các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp hơn 5% tổng dư nợ tín dụng được cho vay ĐTCK , đồng thời ngăn cấm các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu từ 5% trở lên không được tham gia vào hoạt động này

- Điều kiện đối với bên đi vay (các nhà ĐTCK)

Điều kiện đối với bên đi vay bao gồm điều kiện chung và điều kiện riêng Điều kiện chung là những điều kiện luật định Theo điều 7 của Quy chế 1627, Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau:

1 Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật:

a) Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam:

- Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự;

- Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;

Trang 36

- Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;

- Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;

- Thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự;

b) Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định

2 Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

3 Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết

4 Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật

5 Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Điều kiện riêng do các NHTM đưa ra căn cứ vào quy định của pháp luật

và các tiêu chí kinh doanh của mình

Theo quy định của Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam

(VIB), khách hàng vay vốn để ĐTCK phải đảm bảo các điều kiện sau :

+ Có trụ sở chính (đối với pháp nhân ) hoặc có hộ khẩu thường trú hoặc KT3 (đối với cá nhân) tại địa bàn có điểm giao dich của VIB;

Trang 37

+ Có kinh nghiệm kinh doanh và ĐTCK tối thiểu ba năm , hoạt động kinh doanh có hiệu quả;

+ Mở tài khoản chứng khoán tại công ty chứng khoán mà VIB ký Hợp đồng hợp tác (đối với cầm cố chứng khoán niêm yết , chứng khoán đăng ký giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán) [16]

Nhìn chu ng, các điều kiện luật định và các điều kiện riêng do từng ngân hàng đưa ra đối với bên đi vay khá chặt chẽ Nhưng không phải lúc nào các điều kiện này cũng được thực hiện đầy đủ , chính xác , nhất là đối với những điều k iện

thiên về định tính Ví như điều kiện : “Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh

doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật” Việc đánh giá dự án

đầu tư , sản xuất , kinh doanh có “khả thi” hay không phụ thuộc phần lớn vào đánh giá chủ quan của các NHTM Thực tế cho thấy , không ít trường hợp , các dự án được đánh giá là “khả thi” và được cho vay tiền đã thất bại , trong khi có nhiều dự án , mặc dù rất khả thi trên thực tế nhưng không được NHTM cho vay tiền Có trường hợp, khách hàng không đáp ứng đủ điều kiện nhưng vì một lý do nào đó , vẫn được NHTM cho vay và cũng có không ít các trường hợp khách hàng có đủ điều kiện nhưng vẫn không được vay tiền

Việc áp dụng đầy đủ , nghiêm túc các điều kiện đối với bên đi vay có ý nghĩa rất quan trọng , giúp phòng ngừa rủi ro cho cả NHTM và khách hàng Nếu các bên khôn g tuân thủ nghiêm túc các quy định này dẫn đến việc người không đủ điều kiện mà vẫn được vay tiền thì rủi ro có thể sẽ đến với cả bên cho vay và bên đi vay Đó là khi bên đi vay sử dụng vốn vay không hiệu quả và không thể trả lại vốn vay cho ngân hàng

2.2.2 Về trình tự, thủ tục cho vay đầu tư chứng khoán

Điều 14, 15 - Quy chế 1627 quy định về trình tự , thủ tục cho vay như sau :

Trang 38

Điều 14 Hồ sơ vay vốn

1 Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho tổ chức tín dụng giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện vay vốn như quy định tại Điều 7 Quy chế này Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

về tính chính xác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho tổ chức tín dụng

2 Tổ chức tín dụng hướng dẫn các loại tài liệu khách hàng cần gửi cho tổ chức tín dụng phù hợp với đặc điểm cụ thể của từng loại khách hàng, loại cho vay và khoản vay

Điều 15 Thẩm định và quyết định cho vay

1 Tổ chức tín dụng xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc bảo đảm tính độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay

2 Tổ chức tín dụng xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu

tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục

vụ đời sống và khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng để quyết định cho vay

3 Tổ chức tín dụng quy định cụ thể và niêm yết công khai thời hạn tối đa phải thông báo quyết định cho vay hoặc không cho vay đối với khách hàng, kể từ khi nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn và thông tin cần thiết của khách hàng Trường hợp quyết định không cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản, trong đó nêu rõ căn cứ từ chối cho vay

Hoạt động cho vay ĐTCK của NH TM cũng phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục được quy định như trên , bao gồm các bước sau đây:

- Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn

Trong bước này , khách hàng là các nhà đầu tư CK phải lập hồ sơ vay vốn theo quy định của NHTM Nhìn chung , các loại giấy tờ trong hồ sơ vay vốn do

Trang 39

các NHTM quy định thường khá giống nhau Dưới đây là Hồ sơ vay vốn theo quy định của VIB :

+ Bản sao chứng minh nhân dân và hộ khẩu của người vay (đối với cá nhân), bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (đối với tổ chức);

+ Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ;

+ Giấy tờ chứng minh khả năng tài chính và nguồn trả nợ;

+ Giấy tờ chứng minh mục đích sử dụng vốn vay;

+ Giấy ủy quyền cho VIB bán chứng kho án khi khách hàng không thực hiện đúng cam kết và /hoặc Thỏa thuận gán nợ chứng khoán cho VIB trong trường hợp phải xử lý tài sản bảo đảm;

+ Hồ sơ tài sản bảo đảm: Thông báo kết quả giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán, Xác nhận số lượng chứng khoán do Công ty chứng khoán cấp, chứng khoán, Sổ cổ đông, Giấy chứng nhận cổ đông

+ Các giấy tờ liên quan khác (nếu có) [16]

- Bước 2: Thẩm định và phê duyệt hồ sơ vay vốn

Dựa trên hồ sơ vay vốn mà khách hàng đã lập , ngân hàng tiến hành thẩm định về các nội dung như : tính xác thực của các loại giấy tờ trong hồ sơ , tính khả thi của phương án kinh doanh (nếu vay vốn để kinh doanh ), khả năng trả nợ của khách hàng

Việc thẩm định hồ sơ vay vốn được ngân hàng giao cho một bộ phận chuyên trách Quá trình thẩm định phải được thực hiện một cách minh bạch theo quy trình chặt chẽ để đảm bảo kết quả thẩm định là khách quan Nếu việc thẩm định được tiến hành qua loa , đại khái hoặc có khuất tất nào đó thì nguy cơ rủi ro

sẽ đến khi ngân hàng dựa trên một kết quả thẩm định sai lầm mà quyết định cấp tín dụng cho khách hàng không đủ điều kiện

Trang 40

Sau khi thẩm định, nếu ngân hàng nhận thấy hồ sơ vay vốn của khách hàng đáp ứng đủ các tiêu chí mà ngân hàng đưa ra thì sẽ ký hợp đồng tín dụng với khách hàng, trường hợp ngược lại, ngân hàng có quyền từ chối cấp tín dụng

Để đảm bảo tính khách quan , theo quy định ở khoản 2, điều 94 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì tổ chức tín dụng phải tổ chức xét duyệt cấp tín dụng theo nguyên tắc phân định trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng Người thẩm định hồ sơ và người q uyết định cấp tín dụng cho khách hàng không thể là một Thông thường , thẩm quyền phê duyệt thuộc về Ủy ban tín dụng của NHTM

- Bước 3: Ký hợp đồng tín dụng và tiến hành giải ngân

Trong bước này , người đại diện của NHT M sẽ ký hợp đồng tín dụng với khách hàng Việc giải ngân được tiến hành theo thỏa thuận trong hợp đồng cấp tín dụng

- Bước 4: Kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay và thu hồi nợ

Sau khi đã giải ngân , ngân hàng có quy ền giám sát khách hàng trong việc thực hiện các thỏa thuận trong hợp đồng cấp tín dụng như việc sử dụng tiền vay

có hiệu quả và đúng mục đích hay không Trong trường hợp tài sản bảo đảm tiền vay là các lại chứng khoán thì ngân hàng còn theo dõi cả sự biến động của thị giá các loại CK mà khách hàng đã cầm cố để vay tiền Nếu giá các loại CK đó giảm xuống có nghĩa là tài sản bảo đảm tiền vay giảm sút giá trị thì ngân hàng có thểyêu cầu khách hàng bổ sung tài sản bảo đảm tiền vay

Việc thu hồi nợ được tiến hành khi hết hạn hợp đồng Ngoài ra, ngân hàng

có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng và thu hồi nợ trước thời hạn nếu phát hiện khách hàng vi phạm các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng

Dưới đây là quy trình vay vốn có cầm cố chứng khoán theo quy định của VIB:

Ngày đăng: 10/07/2015, 10:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ (2008), Quyết định số 34/2008/QĐ-TTg ngày 3/3 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 34/2008/QĐ-TTg ngày 3/3 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
2. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Q uốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Q uốc gia
Năm: 2006
3. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
4. Minh Đức (2007), Cho vay đầu tư chứng khoán: các ngân hàng bày tỏ quan điểm, báo điện tử vneconomy .vn ngày 29/6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cho vay đầu tư chứng khoán: các ngân hàng bày tỏ quan điểm
Tác giả: Minh Đức
Năm: 2007
5. Minh Đức (2008), Cho vay chứng khoán: Cơ chế mới sẽ tốt cho trung và dài hạn, báo điện tử vneconomy .vn ngày 6/2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cho vay chứng khoán: Cơ chế mới sẽ tốt cho trung và dài hạn
Tác giả: Minh Đức
Năm: 2008
6. Nguyễn Hà (2007), Khống chế cho vay chứng khoán – Cú sốc mang tên hành chính, báo điện tử vietnamnet .vn ngày 12/9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khống chế cho vay chứng khoán – Cú sốc mang tên hành chính
Tác giả: Nguyễn Hà
Năm: 2007
7. Lan Hương (2011), Doanh nghiệp chứng khoán lỗ hàng loạt, báo điện tử vneconomy.vn ngày 14/7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp chứng khoán lỗ hàng loạt
Tác giả: Lan Hương
Năm: 2011
8. Nguyễn Đại Lai (2010), Cơ chế lãi suất thỏa thuận trung và dài hạn sẽ đi vào thực tiễn ra sao, Tạp chí chứng khoán tháng 4, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế lãi suất thỏa thuận trung và dài hạn sẽ đi vào thực tiễn ra sao
Tác giả: Nguyễn Đại Lai
Năm: 2010
9. Ngân hàng Nhà nước (2007), Chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN ngày 28/5 của NHNN về kiểm soát quy mô , chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư , kinh doanh chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN ngày 28/5 của NHNN về kiểm soát quy mô , chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư , kinh doanh chứng khoán
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2007
10. Ngân hàng Nhà nước (2009), Công văn số 8883/ NHNN-CSTT ngày 12/11 của Thống đốc NHNN về việc cho vay lãi suất thỏa thuận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 8883/ NHNN-CSTT ngày 12/11 của Thống đốc NHNN về việc cho vay lãi suất thỏa thuận
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2009
11. Ngân hàng Nhà nước (2001), Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12)
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2001
12. Ngân hàng Nhà nước (2008), Quyết định số 03/2008/QĐ-NHHH ngày 1/2 của Thống đốc NHNN về việc cho vay , chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 03/2008/QĐ-NHHH ngày 1/2 của Thống đốc NHNN về việc cho vay , chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2008
13. Ngân hàng Nhà nước (2010), Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5 của NHNN quy định về tỷ lệ an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5 của NHNN quy định về tỷ lệ an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2010
14. Ngân hàng Nhà nước (2010), Thông tư số 07/2010/TT-NHNN ngày 2/2 của NHNN quy định về cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2010/TT-NHNN ngày 2/2 của NHNN quy định về cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng đối với khách hàng
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2010
15. Ngân hàng Nhà nước (2010), Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4 của NHNN hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4 của NHNN hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận
Tác giả: Ngân hàng Nhà nước
Năm: 2010
16. Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam (2009), Hạn mức cho vay theo từng đối tượng khách hàng Ban hành kèm theo Quyết định số 173/2009/QĐ-VIB ngày 22/01, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hạn mức cho vay theo từng đối tượng khách hàng Ban hành kèm theo Quyết định số 173/2009/QĐ-VIB ngày 22/01
Tác giả: Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam
Năm: 2009
17. Dương Thị Phượng (2010), Giám sát thị trường chứng khoán – Những bài học đúc kế t được từ cuộc khủng hoảng thị trường tài chính , Tạp chí chứng khoán Việt Nam tháng 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát thị trường chứng khoán – Những bài học đúc kế t được từ cuộc khủng hoảng thị trường tài chính
Tác giả: Dương Thị Phượng
Năm: 2010
18. Quốc hội (1997), Luật các tổ chức tín dụng, Hà Nội 19. Quốc hội (2010), Luật các tổ chức tín dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật các tổ chức tín dụng", Hà Nội 19. Quốc hội (2010), "Luật các tổ chức tín dụng
Tác giả: Quốc hội (1997), Luật các tổ chức tín dụng, Hà Nội 19. Quốc hội
Năm: 2010
21. Quốc hội, (2010), Luật chứng khoán sửa đổi, Hà Nội 22. Quốc hội (2005), Bộ luật dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật chứng khoán sửa đổi", Hà Nội 22. Quốc hội (2005), "Bộ luật dân sự
Tác giả: Quốc hội, (2010), Luật chứng khoán sửa đổi, Hà Nội 22. Quốc hội
Năm: 2005
23. Hồ Sỹ Thụy (2010), Ngân hàng nhà nước đang phạm luật , báo điện tử vietnamnet .vn ngày 24/7Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng nhà nước đang phạm luật
Tác giả: Hồ Sỹ Thụy
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Hạn mức cho vay đối với từng đối tƣợng khách hàng - Pháp luật về hoat động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Bảng 3.1 Hạn mức cho vay đối với từng đối tƣợng khách hàng (Trang 79)
Bảng 3.2: Hạn mức cho vay từng loại chứng khoán   STT  Tên tổ chƣ́c phát hành  Mã - Pháp luật về hoat động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Bảng 3.2 Hạn mức cho vay từng loại chứng khoán STT Tên tổ chƣ́c phát hành Mã (Trang 80)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w